Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phần văn xuôi Chương 6-10

13/05/201319:28(Xem: 4084)
Phần văn xuôi Chương 6-10

NHẬP BỒ TÁT HẠNH

Nguyên tác Phạn ngữ Bodhisattvacharyavatara

Nguyên tác: Tịch Thiên (Shantideva)

Hoa dịch: Trần Ngọc Giao

Việt dịch: Thích Nữ Trí Hải

--- o0o ---

Phần văn xuôi

CHƯƠNG SÁU

NHẪN NHỤC

1- Tất cả những thiện hành như lễ Phật, bố thí,… đã được tích luỹ trên ngàn kiếp đều bị phá hủy trong phút chốc vì giận dữ.

2- Không có điều ác nào bằng sân hận, không có điều lành nào bằng nhẫn nhục. Bởi thế ta nên nỗ lực bằng nhiều cách để tu hạnh nhẫn nhục.

3- Tâm ta sẽ không tịch tịnh nếu nuôi dưỡng những ý nghĩ hận thù. Ta sẽ không tìm thấy niềm vui hay hạnh phúc, phải mất ngủ và cảm thấy bất an.

4- Một người chủ nổi sân có thể bị giết bởi chính những người nhờ lòng tốt của ông ta mà có tài sản và hạnh phúc.

5- Vì ta giận dữ mà bạn bè thân quyến đâm chán, mặc dù ta bố thí rộng rãi, họ cũng không nương ta. Tóm lại, không ai sống hạnh phúc được khi ôm lòng sân hận.

6- Chính sự giận dữ - kẻ thù địch ấy - tạo nên những đau khổ như trên. Người nào tinh cần khắc phục giận dữ sẽ tìm thấy hạnh phúc trong đời hiện tại và những đời sau.

7- Được nuôi dưỡng bằng nỗi bất mãn do phải làm những việc ta không muốn, còn những gì ta muốn thì bị cản trở, sự thù hận tăng trưởng trong ta và cuối cùng hủy diệt ta.

8- Bởi thế ta nên trừ diệt thức ăn nuôi dưỡng kẻ thù sân hận này, vì nó chỉ có làm hại ta mà thôi.

9- Dù bất cứ gì xảy đến cũng chớ để nó quấy động niềm hỷ lạc trong tâm ta. Vì dù có bực tức ta cũng chẳng làm được điều mình mỏi, mà còn mất công đức.

10- Cần gì phải khổ sở về một sự việc nếu còn có biện pháp cứu vãn ? Nhưng nếu không còn biện pháp nào nữa, thì đau khổ cũng đâu có ích gì ?

11- Ta không muốn sự khổ đau, khinh miệt, lời thô ác khiếm nhã đến với bản thân và bằng hữu. Nhưng với kẻ thù thì ngược lại.

12- Trên đời hiếm hoi thay những nguyên nhân tạo nên hạnh phúc, nhưng nguyên nhân đem lại đau khổ thì rất nhiều. Nếu không có khổ đau, thì không có sự từ bỏ. Bởi thế này tâm ta ơi, ngươi hãy dũng cảm mà chịu khổ đi !

13- Nếu có một số người tu khổ hạnh và ngoại đạo Karnapa(Nam Ấn) vô cớ chịu đựng những đau đớn xẻ cưa và nung đốt, thì tại sao ta không can đảm chịu khổ vì mục đích giải thoát ?

14- Không có gì không hóa ra dễ dàng nhờ tập quán. Bởi thế, nhờ dần quen với những hại nhỏ, ta có thể nhẫn chịu những hại lớn.

15- Ai cũng thấy vậy, với những nỗi khổ tầm thường như khi bị rắn rết sâu bọ cắn, bị đói khát và những ung nhọt vặt vãnh.

16- Ta không nên mất kiên nhẫn vì những khổ như nóng, lạnh, gió, mưa, đau ốm, cột trói, đánh đập… Vì nếu mất kiên nhẫn thì ta càng đau khổ thêm thôi.

17- Có người khi thấy máu mình chảy thì đâm ra dũng cảm và cương quyết hơn, nhưng cũng có ngươi khi thấy máu kẻ khác thì thì té xỉu, bất tỉnh nhân sự.

18- Những phản ứng khác nhau ấy là do tâm quả cảm hay nhát gan. Bởi thế ta nên xem thường những tai hại đến với mình, đừng để bị khổ đau quật ngã.

19- Bậc trí dù trải nghiệm đau khổ, tâm vẫn minh mẫn không tán loạn. Vì khi đánh giặc phiền não, dù phải gặp nhiều tai họa trong trận chiến,

20- Những chiến sĩ vinh quang vẫn xem thường để chiến thắng địch thủ. Những chiến sĩ tầm thương thì chỉ đâm vào những thây chết.

21- Hơn nữa, đau khổ có nhiều đức tính : nhờ đau khổ mà ta phát sinh tâm chán lìa sinh tử, kiêu căng tan biến, ta phát tâm thương xót những chúng sanh trong cõi luân hồi, hổ thẹn về việc ác và hoan hỷ làm điều lành.

22- Nếu ta không giận những căn bệnh như bệnh đau gan, và những thống khổ to lớn khác của nhân loại thì sao lại giận dữ với hữu tình, khi tất cả đều do nhân duyên (điều kiện)sinh ra.

23- Mặc dù không ai muốn, những bệnh tật vẫn sinh khởi. Cũng vậy, mặc dù không ai muốn, những phiền não vẫn nổi lên.

24- Người ta nổi giận không cưỡng được, không nghĩ trước rằng “ta sẽ nổi giận”. Cũng thế, cơn giận tự phát, không nghĩ rằng “ta sẽ phát sinh”.

25- Tất cả lỗi lầm và tội ác đủ loại đều do duyên sinh (do hoàn cảnh thúc đẩy), không tự phát vô duyên cớ.

26- Những duyên này khi nhóm họp lại đều không có ý định “ta sẽ nổi sân”, và những tham, sân… do đấy mà sinh cũng không nghĩ “ta vừa được sinh ra”.

27- Nếu cho rằng có một “nguyên lý” (Ski.Prakrti, thần ngã, căn bản bất biến của vạn pháp theo Số luận)và có một chủ thể gọi là “Ngã” (atman, linh hồn hay ngã trường cửu theo Số luận) thì cả hai đều không nghĩ “ta sẽ xuất hiện” (để làm hại) rồi mới xuất hiện.

28- “Nguyên lý” đã là thường, nên không có quả. Sự hại cũng không có. Cái ngã muốn hưởng quả cũng trường cửu nên mãi mãi chấp trước cảnh không bao giờ ngưng.

29- Hơn nữa, nếu Ngã là thường, thì nó sẽ bất động như hư không. Bởi thế, dù nó có gặp gỡ những duyên khác, bản chất bất động của nó cũng không biến đổi.

30- Dù có bị tác động bởi ngoại duyên, Ngã vẫn như trước thì tác động để làm gì ? Vậy, nói các duyên tác động lên ngã, hai thứ có tương quan gì đâu.

31- Do vậy tất cả pháp đều do các duyên khác sinh ra, không pháp nào tự dưng mà có. Khi hiểu được điều này, ta không nên tức giận về những hiện tượng chỉ như huyễn như hóa.

32- “Nếu mọi sự là không thực, như huyễn, thì ai là người chế ngự cơn giận ? Vậy nói trừ sân là vô lý”. Không vô lý đâu, vì trên phương diện tục đế phải nhận rằng, nhờ chế ngự giận dữ mà cắt đứt được các khổ đau.

33- Bởi thế, khi thấy một kẻ thù hay người bạn vô cớ làm hại mình, thì hãy nghĩ việc này cũng do duyên sinh, rồi vui vẻ mà chấp nhận.

34- Nếu khổ là do tự chọn(không phải duyên sinh), thì đáng lẽ không hữu tình nào đau khổ cả, vì không ai chọn lựa khổ đau.

35- Có kẻ không cẩn thận mà tự làm mình bị thương vì gai nhọn và các vật khác. Hoặc vì ham muốn nữ sắc.v.v… người ta có thể quá sầu khổ đến nỗi tuyệt thực.

36- Có người tự hại mình bằng những việc phi phước như treo cổ, nhảy xuống vực, ăn độc dược và thực phẩm không lành.

37- Nếu vì phiền não người ta có thể tự đoạn dứt cái ngã mà họ rất yêu quý, thì làm sao họ có thể không tác hại đến thân người khác ?

38- Dù ta không thể phát tâm thương xót những người do phiền não mà giết hại ta, ít nhất ta cũng không nên tức giận họ.

38- Với những kẻ bản chất ngu muội chuyên làm hại kẻ khác, thì nổi giận với họ cũng phi lý như giận ngọn lửa vì nó đốt cháy.

40- Nếu lỗi lầm chỉ ngẫu sinh nơi người vốn hiền lành thì giận họ cũng vô lý như giận hư không đã để cho khói vươn lên mù trời.

41- Khi tự thân bị đánh bằng gậy, ta thường oán ghét người sai sử cây gậy. Nhưng chính người ấy cũng bị cơn giận sai sử, vậy đáng nên ghét cơn giận thay vì ghét người.

42- Trước kia có lẽ ta đã từng tác hại chúng sanh như thế, nên bây giờ ta - kẻ đã tổn hại hữu tình - đáng chịu sự tổn hại.

43- Vũ khí của kẻ kia và thân của ta, cả hai gây sự đau đớn. Kẻ kia tạo ra vũ khí, còn ta tạo ra cái thân, vậy ta nên giận ai đây ?

44- Thân thể cũng như một vết thương to lớn có hình dạng con người, dù một xúc chạm nhỏ cũng đau đớn không chịu nổi. Chỉ vì ngã ái mù quáng mà ta ôm giữ nó, vậy khi nó bị hại thì nên tức giận ai ?

45- Kẻ ngu dù không muốn khổ đau mà vẫn tạo những nguyên nhân đau khổ. Khi bị hại vì những gì mình đã tự tác tự thọ (vì những lỗi lầm của chính mình) thì tại sao lại ghét giận người ?

46- Ví như quỷ canh giữ địa ngục núi đao rừng kiếm đều do nghiệp mình sinh ra, vậy nên oán giận ai ?

47- Vì bị nghiệp quá khứ kích động mà kẻ khác gây não hại cho ta. Nếu do ác nghiệp này mà họ đọa địa ngục, thì có phải chính ta đã hại họ không ?

48- Nhờ những kẻ hại ta, mà ta tu nhẫn nhục, tiêu trừ được nhiều tội lỗi. Ngược lại, vì sự nhẫn nhục của ta mà họ phải sa địa ngục chịu khổ lâu dài.

49- Rốt cuộc, chính ta mới là kẻ làm hại họ, trong khi họ làm lợi ích cho ta. Vậy tại sao ngươi trở lại giận tức họ, hỡi cái tâm thô bạo hồ đồ ?

50- Nhờ công đức nhẫn mà ta sẽ không sa xuống địa ngục. Phần ta như vậy đã được bảo đảm, nhưng kẻ hại ta thì được cái gì ?

51- Nếu ta ăn miếng trả miếng thì ta cũng chẳng che chở được tội lỗi cho họ, mà còn thối thất hạnh nhẫn nhục của ta, cái hạnh khó làm sẽ bị hủy hoại.

52- Tâm ý vốn không có hình thể tướng trạng gì, nên bất cứ ai cũng không thể tổn hại nó được. Nếu tâm chấp trước cái thân, thì tâm sẽ bị tổn hại(do thân gây nên).

53- Những lời khinh miệt thô ác và những lời tiếng khó nghe khác không hại gì cho cái thân cả. Vậy thì này tâm, tại sao chúng khiến ngươi nổi giận (vì những lời ấy) lâu đến thế ?

54- Ngươi bảo “Vì người khác không ưa tôi”, nhưng dù ở đời này hay đời sau, sự “không ưa” ấy cũng chẳng thể làm gì ngươi được, thì sao lại ghét thái độ ấy ?

55- Ngươi bảo “vì (những lời bôi bác kia)trở ngại lợi lộc”, nhưng dù không muốn chịu tổn thất, cuối cùng ta cũng phải bỏ lại tất cả lợi lộc, chỉ còn những ác nghiệp thì vẫn tồn tại lâu dài.

56- Thà nay chết sớm còn hơn sống bằng nghề ác, vì nếu làm ác để mưu sinh thì dù sống lâu cuối cùng cũng phải chết.

57- Giả sử người thì mộng thấy mình hưởng vui trăm năm, người khác mộng thấy mình hương vui chỉ trong khoảnh khắc, nhưng cả hai đều phải tỉnh lại.

58- Khi tỉnh, cái vui trong cả hai giấc mộng đều không trở lại. Cũng thế, dù tuổi thọ có dài ngắn, song lúc chết đều giống nhau.

59- Dù có được nhiều lợi dưỡng, hưởng vui thú lâu dài, thì khi chết cũng phải ra đi tay không, mình trần thân trụi như bị giặc cướp sạch.

60- Nếu nói : “Có tài sản mới sống được, mới tránh ác làm lành được”, nhưng nếu vì tài sản (lợi dưỡng) mà giận dữ thì hết phước mà lại sinh tội.

61- Nếu vì mưu cầu sự sống mà làm toàn việc ác để rồi phải đọa thì đời sống ấy đâu có ích gì ?

62- Ngươi nói : “Vì lời phỉ báng kia khiến người ta mất niềm tin nơi tôi, nên tôi tức giận người phỉ báng”. Vậy sao không tức giận người nào phỉ báng kẻ khác ?

63- Nếu ngươi kham nhẫn được sự mất niềm tin đối với kẻ khác (vì không dính líu đến mình), thì tại sao ngươi không nhẫn được những lời khó chịu do phiền não (nơi người kia)sinh ra (cũng không dính gì đến mình)?

64- Sân giận những người phá hại tượng, tháp, và chánh pháp cao thượng là vô lối, vì những bậc giác ngộ không bao giờ bị tổn hại về điều ấy.

65- Đối với những người làm hại bậc thầy và thân hữu, nên nghĩ sự tổn hại ấy đều do nhân duyên sinh khởi, biết vậy nên đình chỉ sân hận.

66- Người ta bị hại do vật hữu tình cũng như vô tình, tại sao ta chỉ tức giận loài hữu tình ? Bởi thế, ta nên nhẫn chịu tất cả mọi tai hại (do hữu tình cũng như vô tình gây ra).

67- Có người do ngu si mà làm hại, có người do ngu si mà nổi sân, vậy thì ai có lỗi, ai không lỗi ?

68- Tại sao xưa kia ta đã tạo nghiệp để bây giờ chịu quả báo bị hại ? Mọi sự đều do nghiệp ta đã gây ra, sao lại tức giận kẻ khác ?

69- Khi đã thấy biết như vậy, thì ta nên nhất tâm tinh tấn làm lành và đem tình thương đối đãi với mọi người.

70- Ví dụ khi một ngôi nhà bốc lửa cháy, lan qua nhà khác, thì đáng nên mau rút bớt cỏ tranh hay bất cứ gì khiến ngọn lửa cháy lan.

71- Cũng vậy, khi ngọn lửa sân cháy lan đến những gì tâm ta ái luyến, ta nên mau trừ khử sự ái luyến ấy, nếu không ngôi nhà công đức sẽ bị thiêu rụi.

72- Như người bị trói tay chờ chết, chịu chặt bàn tay để thoát, nếu nhờ cái khổ trong lúc tu hành mà thoát địa ngục, không phải sung sướng hay sao ?

73- Nếu hiện tại ta không chịu đựng được những khổ nhỏ nhặt, thì tại sao không trừ khử sân hận, cái nhân của những thống khổ lớn trong địa ngục ?

74- Vì tham dục, ta đã ngàn lần chịu khổ ở địa ngục, lợi ích gì cho bản thân hay người khác.

75- Cái khổ này không đáng kể, nhưng lại có thể đem lại lợi ích lớn là trừ tổn hại cho tất cả chúng sanh. Vậy ta nên hoan hỷ chịu đựng nỗi đau khổ này.

76- Nếu có người sung sướng ca tụng công đức kẻ thù ngươi, thì hỡi tâm ý, tại sao ngươi không cùng ca tụng để làm cho mình sung sướng ?

77- Sự hoan hỷ phát sinh kiểu ấy sẽ là suối nguồn an lạc vô tội, được chư Phật khen, và là cách hay để thu phục người.

78- Ngươi nói : “Khi được khen như thế, người kia sung sướng, nhưng tôi không muốn nó sung sướng”. Nếu vậy ngươi cũng nên chấm dứt trả thù lao cho tôi tớ ngươi (vì điều ấy làm chúng sung sướng), và ngươi sẽ bị khổ sở trong đời hiện tại cũng như những đời sau.

79- Khi người khác ca tụng công đức ngươi, ngươi mong cho họ được an vui. Nhưng khi họ ca tụng công đức kẻ thù, thì sao ngươi không vui ?

80- Lúc đầu ngươi phát tâm Vô thượng Bồ-đề, mong đem an lạc cho tất cả hữu tình, nay hữu tình được an vui tại sao ngươi lại tức giận ?

81- Lúc đầu, ngươi phát tâm mong tất cả hữu tình thành Phật, được cung kính cúng dường, nay sao ngươi lại sầu khổ khi thấy kẻ khác được chút ít lợi dưỡng cung kính ?

82- Tất cả hữu tình đều là cha mẹ, đáng lẽ ngươi phải lo cấp dưỡng chu đáo. Nay họ đã tự túc được, sao ngươi không mừng mà lại nổi sân ?

83- Nếu không mong cho chúng sanh được những mối lợi nhỏ nhặt (trong sinh tử) thì làm sao mong họ thành Chánh giác ? Còn đâu tâm Bồ-đề nơi một kẻ ghét người khác được giàu sang ?

84- Dù lợi dưỡng đã được hiến cho kẻ thù hay còn ở trong nhà thí chủ thì cũng không phải phần của ngươi, đâu can hệ gì đến ngươi khi thí chủ đem cúng hay không ?

85- Tại sao tự từ bỏ hạnh phúc và công đức của mình cùng tín tâm của người khác ? Không khéo gìn giữ gia tài công đức của chính mình, sao ngươi không tự giận mình đi ?

86- Chẳng những ngươi không lo sợ về những ác hành mình đã tạo, mà còn muốn cạnh tranh với những kẻ đã tô bồi phước đức hay sao ?

87- Giả sử kẻ thù ngươi gặp khổ thì có gì làm cho ngươi vui ? Đương nhiên không phải chỉ vì ngươi mong cho kẻ thù đau khổ mà kẻ ấy bị tổn hại.

88- Dù kẻ thù bị khổ sở như ngươi mong muốn, thì có gì để vui mừng ? Nếu ngươi nói “thế là tôi mãn nguyện” thì không gì khiến người ta đọa lạc cho bằng thái độ ấy.

89- Đó là một lưỡi câu sắc nhọn vô cùng mà ông câu là vô minh phiền não đã tung ra, và khi đã cắn câu thì ta chỉ còn nước bị ngục tốt nấu nhừ trong chảo đồng sôi ở địa ngục.

90- Sự vinh quang, lời ca tụng mà ta nhận được không đem lại công đức, trường thọ hay vô bệnh, cũng không khiến cho thân thể được khinh khoái an vui.

91- Nếu ta biết phân biệt thế nào là thực sự lợi ích cho bản thân, thì sự khen ngợi ca tụng đâu ích gì ? Nếu chỉ muốn cầu vui chốc lát thì nên trang sức và uống rượu cũng đủ.

92- Nếu chỉ vì muốn được nổi danh mà phải mất cả tài sản, tính mạng, thì lúc chết, tiếng tăm ấy có ích gì, ai là người vui ?

93- Khi lâu đài bằng cát sụp đổ, kẻ ngu và trẻ nít khóc lóc thảm thiết ; cũng vậy, khi bị tổn thương danh tiếng, tâm ta giống như trẻ ngu.

94- Âm thanh là vô thường, vô tâm (không có ý ca tụng ta), vậy nhận lời khen thì có gì vui ? Ngươi bảo : “Nó làm cho người khen vui, còn danh tiếng của tôi làm tôi vui”

95- Nhưng dù khen ta hay khen kẻ khác thì với ta có ích gì ? Vì cái vui thuộc về bản thân người khen, ta không được một chút gì.

96- Nếu nhân người vui mà ta vui, thì đáng lẽ phải vui với tất cả mọi người, chứ tại sao khi họ vui vẻ khen ngợi kẻ thù ta thì ta lại không vui ?

97- Vậy khi nghĩ rằng mình được ca tụng mà tâm sinh vui mừng, thì thái độ vui mừng ấy không thích đáng, chỉ là cách hành xử của trẻ ngu.

98- Sự ca tụng, danh dự làm cho tâm tán loạn, phá hoại tâm chán lìa sanh tử, khiến ta ganh ghét với những người có đức, và hủy hoại những việc lành.

99- Nếu hiện tại có người muốn phá hủy danh tiếng ta, thì không phải họ đang cứu ta khỏi đọa vào các ác đạo đấy sao ?

100- Người chỉ tìm cầu giải thoát thì không cần bị lợi lộc, cung kính trói buộc. Sao ta lại tức giận người cở mở cho ta những dây trói ấy ?

101- Nếu khi ta muốn đi đến một nơi đầy dẫy những thống khổ, mà nhờ ơn Phật gia bị, (kẻ hại ta)đã đóng cửa không để ta đi. Vậy sao ta lại tức giận họ ?

102- Nếu nói : “Kẻ thù làm trở ngại công đức” thì giận họ cũng vô lý. Vì không có hạnh tu nào khó cho bằng nhẫn nhục, tại sao không nhẫn kẻ ấy đi ?

103- Nếu vì những lỗi lầm phiền não của chính mình mà ta không chịu nổi kẻ thù, vậy là ta tự trở ngại sự tu hạnh nhẫn nhục, cái nhân của phước đức.

104- Nếu không bị hại thì hạnh nhẫn nhục không sinh khởi. Có bị oán thù mới sinh cái phước của sự kham nhẫn. Kẻ thù đã là cái nhân cho ta tu phước, thì sao ta lại bảo họ trở ngại phươc ?

105- Người đến xin đúng lúc thì không phải là chướng ngại cho sự bố thí, cũng như không thể nói các thầy truyền giới là trở ngại cho việc xuất gia.

106- Trên đời, những người ăn xin - cơ hội cho hạnh tu bố thí - thì rất nhiều, nhưng kẻ thù, cơ hội cho hạnh tu nhẫn nhục thì rất hiếm. Vì nếu ta không ra ngoài để gây thù kết oán với ai, thì cũng chẳng ai đến hại ta cả.

107- Bởi thế, kẻ thù nghịch cũng như báu vật vào nhà, ta không nhọc sức mà bỗng dưng có được. Họ giúp ta thực hành hạnh giác ngộ, vậy ta nên ưa thích kẻ thù nghịch với mình.

108- Vì kẻ thù nghịch và ta cùng hợp tác mới viên thành hạnh tu nhẫn nhục, nên cái quả báo công đức của hạnh ấy trước hết hãy nên phụng hiến cho kẻ thù, vì họ là cơ hội cho ta tu nhẫn.

109- Ngươi bảo : “Kẻ thù đâu có ý muốn giúp cho ta, nên không đáng cung phụng”, nhưng nếu vậy cũng không nên cúng dường chánh pháp giúp ta tu thiện(vì Pháp cũng vô tư, không có ý định gì)

110- Nếu nói : “Kẻ thù nghịch chỉ nghĩ chuyện làm hại tôi, nên không đáng cung dưỡng”. Nhưng làm sao tu nhẫn được, nếu kẻ thù toàn như y sĩ hết trọi ?(nghĩa là tuy gây khổ đau nhưng có thiện ý)

111- Bởi thế, nhờ một người sân si tột độ, ta mới có thể tu hạnh nhẫn nhục kiên cố, chỉ có kẻ thù mới làm nhân cho hạnh nhẫn, nên đáng cúng dường họ như cúng dường chánh pháp.

112- Do vậy, đức Mâu Ni đã dạy : “Chúng sanh và Phật đều là hai ruộng phước thù thắng. Hãy thường kính trọng hai ruộng phước ấy thì hoàn tất được các hạnh Ba-la-mật” .

113- Trong các đối tượng ta nương vào để tu hành thì chúng sanh có giá trị ngang với chư Phật. Nếu kính Phật, không kính chúng sanh, đâu có lời kinh nào nói thế ?

114- Dĩ nhiên không phải Phật, chúng sanh tương đương về phương diện trí và đức, mà do hiệu quả từ hai đối tượng ấy phát sinh ra. Vì chúng sanh giúp ta thành Phật, nên cả hai (Phật và hữu tình)bình đẳng.

115- Cúng dường chúng sanh với tâm từ bi thì có phước vô biên, vì chúng sanh là nhân đem lại sự tôn quý, phước đức do sự kính Phật đem lại là ruộng phước rộng lớn, cũng vì sự tôn quý của Phật.

116- Vì cả hai đều giúp cho cái nhân thành Phật, nên Phật và chúng sanh đều bình đẳng. Nhưng chúng sanh không thể nào bằng Phật về phương diện biển công đức vô biên.

117- Đầy đủ công đức tối thắng quy tụ lại nơi một thân thể, thì chỉ có Phật mà thôi. Đối với người chỉ có một ít phần của công đức thù thắng ấy, dù có cúng cả ba cõi cho họ cũng chưa đủ.

118- Vì hữu tình có tham dự trong sự phát sinh những công đức thù thắng của Phật pháp, chỉ vì một phần công đức phù hợp nhau ấy, ta nên cúng dường chúng sanh.

119- Chư Phật không dua dối đã thành thân hữu của chúng sanh, ban vô lượng lợi lạc cho hữu tình. Vậy còn cách nào khác để báo ân Phật hơn là làm cho chúng sanh an vui ?

120- Chỉ có làm lợi ích chúng sanh mới đủ báo ân đức chư Phật đã xả thân vào địa ngục Vô gián để cứu độ hữu tình. Bởi thế, dù có chịu tổn hại vì những chúng sanh này, ta cũng nên làm các thiện hành lợi lạc cho chúng.

121- Chư Phật vì hữu tình còn không tiếc thân mạng, thế thì sao ta còn ngu si kiêu mạn không chịu phục vụ chúng sanh, tự xem mình như tôi tớ ?

122- Chúng sanh vui thì chư Phật vui, chúng sanh bị tổn hại thì chư Phật thương xót. Do vậy, nếu ta làm cho hữu tình hoan hỷ thì Phật sẽ hoan hỷ, mạo phạm chúng sanh cũng là làm Phật tổn thương.

123- Khi thân thể đang bị lửa vây thì dù ai đem đến đủ thứ dục lạc cũng không khoái. Cũng thế, nếu làm tổn hại chúng sanh thì không cách gì khiến chư Phật hân hoan.

124- Trong quá khứ con đã tổn hại chúng sanh, khiến Phật với tâm đại bi rộng lớn không được hoan hỷ. Tất cả những tội lỗi ấy con nay đều xin sám hối. Xin Phật đại từ bi tha thứ hết cho con.

125- Vì muốn làm đức Như Lai hoan hỷ, từ nay trở đi con sẽ chấm dứt tác hại chúng sanh, làm lợi lạc cho tất cả. Dù chúng sanh có đạp lên đầu con, thà chết con cũng rán làm vui lòng Phật, đấng Chúa tể thế gian.

126- Phật với tâm đại bi vô ngại, xem chúng sanh không khác chính mình, xem hữu tình vốn có Phật tính. Như vậy sao ta không kính trọng chúng sanh ?

127- Làm chúng sanh vui chẳng những khiến Như Lai hoan hỷ, mà còn thành tựu được lợi ích cho bản thân và xóa tan đau khổ trên đời. Bởi thế, ta nên thường tu tập hạnh ấy.

128- Ví như có vị đại thần của vua làm tổn hại nhiều người, nhưng kẻ nhìn xa trông rộng dù có khả năng cũng không làm hại vị ấy.

129- Vì họ biết đại thần kia không cô thế, sau ông ta còn có thế lực của vua. Kẻ làm tổn hại ấy tuy sức yếu nhưng không nên coi thường.

130- Chính đức Phật đại bi và ngục tốt hung ác ở địa ngục là những chỗ dựa cho kẻ thù ta. Bởi thế, ta nên làm cho chúng sanh hoan hỷ như bề tôi hầu bạo chúa.

131- Dù bạo chúa có nổi trận lôi đình cũng không thể lôi ta xuống địa ngục để chịu khổ, như quả báo của sự mạo phạm hữu tình.

132- Và dù bạo chúa ấy có hoan hỷ cũng không thể biếu cho ta Phật quả Niết-bàn, quả báo của sự đem lại an vui cho chúng sanh.

133- Sao không thấy : làm hữu tình an vui đem lại kết quả là đời này được vinh quang, tương lai thành Chánh giác.

134- Trong vòng sinh tử luân hồi, nhờ nhẫn nhục ta sẽ được sắc đẹp, không bệnh, tiếng tốt, sống lâu, hạnh phúc như vua Chuyển luân.

CHƯƠNG BẢY

TINH TẤN

1- Sau khi tu nhẫn, cần tu tinh tấn. Có tinh tấn thì mới có thể an trú tâm Bồ-đề. Cũng như không có chuyển động nếu thiếu gió, phước đức không sinh nếu không tinh tấn.

2- Tinh tấn là hăng hái đối với điều lành. Những chướng ngại cho tinh tấn là biếng nhác, tham đắm những chuyện thấp hèn, tự khinh mình, nản chí thối lui.

3- Vì tham hưởng thú vui làm biếng, ưa ngủ nghỉ , không chán khổ luân hồi, mà ta càng ngày càng giải đãi.

4- Đã bị vướng vào lưới mê, kế tiếp lại mắc cái bẫy thọ sinh. Sao ta không biết mình sẽ sa vào miệng thần chết ?

5- Không thấy tử thần đã tuần tự giết đồng loại ta sao ? Thế mà những kẻ tham ngủ vẫn bất động như trâu thấy đồ tể.

6- Sau khi niêm phong tất cả lối thoát, tử thần đang rình rập, sao người có thể ham ăn và ngủ ?

7- Tử vong sẽ đến rất nhanh, hãy sớm trữ lương thực cho kịp. Nếu chờ tử thần đến bên hông mới hết lười biếng thì đã quá muộn, còn ích gì ?

8- Có khi việc chưa làm, hoặc mới khởi sự, hoặc còn dang dở, tử thần đột nhiên xuất hiện : Ôi, mạng ta hết rồi !

9- Khi thân thuộc bằng hữu ta đã tuyệt vọng, đau buồn sưng mắt, hai dòng lệ chảy dài trên má, đấy là lúc ta thấy sứ giả thần chết đến.

10- Kinh sợ nhớ lại tội lỗi mình, hãi hùng nghe những âm thanh ở địa ngục, ta hoảng hốt vùi thân trong phẩn uế, lúc ấy còn làm được gì ?

11- Hiện tại, cái khổ chết đã khiến ta sợ hãi như con cá lăn lộn trên cát nóng, nói gì cái khổ khó nhẫn ở địa ngục, quả báo tội lỗi ta đã làm ?

12- Như thịt da trẻ sơ sinh chạm phải nước sôi thì đau đớn kinh khủng, kẻ đã tạo nghiệp địa ngục là ta làm sao có thể an nhiên được ?

13- Kẻ yếu đuối không nỗ lực mà muốn được kết quả, thì phải chịu nhiều tai hại. Khi cái chết đến, họ kêu trời, tôi đau khổ chết mất.

14- Nhờ nương vào chiếc bè là thân người này, ta có thể vượt qua biển khổ lớn. Chiếc bè này khó có lại, hỡi kẻ ngu, đừng ham ngủ !

15- Sao lại bỏ pháp hỷ thù thắng, nguồn gốc của tối thượng an lạc, mà vui với những thói hèn hạ chỉ đưa đến tán loạn lăng xăng ?

16- Đừng khiếp sợ, hãy tích lũy hai thứ hành trang là thiền định khiến thân tâm được tự chủ, và quán bình đẳng ta người. Hãy siêng tu pháp đổi địa vị, xem người như mình.

17- Không nên khiếp nhược tự thối lui, cho rằng “chắc mình không thể nào đạt giác ngộ”. Đức Như Lai đã nói lời chân thật (trong kinh Diệu Tý Thưa Hỏi)rằng :

18- Nếu phát khởi năng lực tinh tấn thì cả đến những côn trùng như ruồi muỗi cũng chứng được Vô thượng Bồ-đề.

19- Huống nay ta được sinh làm người, có khả năng phân biệt lợi hại, nếu không xả giới Bồ-tát, thì sao lại không chứng đạo ?

20- Nếu bảo “tôi sợ phải xả bỏ tay chân.v.v…” đó là kẻ ngu lo sợ vô lối khi chưa phân biệt được nặng nhẹ.

21- Vì trải qua vô số kiếp, ta đã từng cả ngàn lần bị đâm, đốt, cưa xẻ mà đến nay vẫn chưa thành Chánh giác.

22- Nay những khổ ta phải chịu để giác ngộ thì có giới hạn, như vì muốn chữa bệnh mà ta phải chịu cái đau giải phẫu.

23- Y sĩ khi muốn chữa bệnh cũng phải dùng những biện pháp gây đau đớn để trị liệu, vậy ta hãy nhẫn chịu những khổ nhỏ để diệt trừ tất cả khổ.

24- Đấng Vô thượng Y vương thì không cần sử dụng cách chữa trị tầm thường ấy. Bằng một phương thuốc hết sức êm dịu, Ngài chữa trị tất cả các chứng bệnh nan y.

25- Trước hết, Ngài dạy chúng sanh bố thí những thực phẩm như rau rán.v.v…Khi đã tập quen bố thí những vật nhỏ rồi, mới có thể bố thí thịt trên thân mình.

26- Khi đã giác ngộ bản thân mình cũng nhỏ nhặt không khác gì rau cỏ, thì xả thịt trên thân cũng như cho một mớ rau, đâu khó khăn gì ?

27- Bồ-tát đã tận trừ điều ác nên không còn khổ, có trí tuệ nên không lo sầu. Vì chính tà kiến chấp ngã và ác nghiệp làm cho thân tâm sầu khổ.

28- Bồ-tát không bao giờ sinh tâm nhàm chán khi ở lại trong sinh tử để cứu vớt chúng sanh. Nhờ có phước đức, Bồ-tát được thân thư thái, và nhờ có trí tuệ mà tâm an vui.

29- Nhờ năng lực tâm Bồ-đề, Bồ-tát tiêu trừ mọi ác nghiệp quá khứ và gặt hái vô lượng công đức. Do đó mà nói Bồ-tát thù thắng hơn Thanh văn.

30- Vậy, hãy tiêu trừ tất cả chán mệt, ngự trên con tuấn mã là tâm Bồ-đề để đi từ an vui đến an vui. Người có trí sao còn thối thất ?

31- Những điểm tựa (cho Bồ-tát)để siêng làm lợi lạc hữu tình gồm có 4 : Dục (nguyện), Tín, Hỷ và Xả. Dục phát sinh do sợ khổ và do quán sát lợi ích của dục.

32- Vậy, muốn tăng trưởng tinh tấn, ta phải cố từ bỏ những năng lực đối nghịch của nó như giải đãi, khiếp nhược, và tích lũy những năng lực là Dục, Tự tin, Hỷ, Xả.

33- Ta đã phát nguyện diệt trừ lỗi lầm của bản thân và tha nhân, và để trừ diệt mỗi lỗi lầm này cũng cần phải tu trải qua vô số kiếp.

34- Nhưng nếu ta chưa có một phần nhỏ nào của sự tinh tấn cần thiết để tận diệt lỗi lầm, thì nhất định ta sẽ đọa vào vô lượng khổ. Làm sao tim ta không hoảng sợ ?

35- Cũng thế, ta đã nguyện thực chứng vô lượng công đức cần thiết cho ta lẫn người. Và muốn có được chỉ một trong những công đức này, ta cũng đã phải tu vô số kiếp.

36- Thế mà ta lại chưa từng sinh khởi được một phần nhỏ nào của công đức cần tu tập. Thật lạ lùng thay, ta đã lãng phí một cách vô nghĩa tấm thân người khó được này.

37- Tôi chưa cúng dường chư Phật, chưa bày tiệc vui lớn (mời Phật và chúng sanh đến hưởng, xem Chương ba), chưa thực hành theo giáo lý, chưa thỏa mãn mong ước của kẻ nghèo.

38- Tôi chưa ban vô úy cho nững người sợ hãi. Tôi cũng chưa đem vui cho người khổ. Vậy tôi chỉ còn nước phải chịu thống khổ nhập thai, cùng với những khổ già, bệnh, chết.

39- Trong đời hiện tại và các đời trước, những nỗi khổ như trên phát sinh do tôi đã không nhiệt tình học Pháp. Khi đã biết vậy, thì ai còn từ bỏ nhiệt tâm tu hành ?

40- Chính đấng Thiện Thệ đã nói rằng dục (mong cầu)là căn nguyên của mọi đức tính. Gốc rễ của mong cầu Pháp là luôn tư duy về nhân quả nghiệp báo.

41- Tất cả những đau khổ kém vui, những sợ hãi, mong cầu không toại ý đều phát sinh từ tội lỗi quá khứ.

42- Nhờ làm các thiện hành được thúc đẩy bởi thiện dục, đi đâu ta cũng gặp lành do quả báo công đức đem lại.

43- Dù mong cầu hạnh phúc, kẻ làm ác đến đâu cũng gặp toàn quả báo của tội ác hiện ra trước mắt, bị đánh gục bởi khí giới sắc bén của thống khổ.

44- Nhờ những thiện nghiệp về trước, tôi sẽ sinh vào trong lòng mát rượi của một đóa sen thơm tho khoáng đạt. Nhĩ căn tôi được nuôi dưỡng bằng Pháp ngữ vi diệu của đức Như Lai, thân tâm thấm nhuần phát sáng. Khi hào quang Phật chiếu đến, hoa sen trắng nở ra một thân thể thù thắng, tôi sung sướng thành con Phật, đứng trước đức Như Lai.

45- Nhưng hậu quả của bất thiện là tôi sẽ chịu khổ bị ngục tốt Diêm vương lột da rồi dội nước đồng sôi lên thân thể. Tôi lại còn bị đâm bằng những gươm nhọn tóe lửa làm cho thịt nát nhừ, và tôi sẽ ngã quỵ trên nền sắt nóng bỏng.

46- Bởi thế, tôi cần phải ham thích việc lành và cung kính tu thiện nghiệp. Theo quy tắc nói trong kinh Kim Cương Tràng, tôi khởi sự hành thiện và tập đức tự tin.

47- Khi muốn làm việc gì, trước hết hãy tự lượng sức xem mình có khả năng theo đuổi việc ấy không, nếu không thì đừng làm. Nhưng khi đã làm thì không được thối lui.

48- Vì nếu thối lui, thói quen này sẽ tiếp tục trong những đời sau, và sự ác cùng đau khổ sẽ gia tăng. Lại nữa, khi ấy mọi hành vi cùng kết quả hành vi cũng sẽ yếu ớt, không thành tựu.

49- Nên có tâm tự tín đối với sự làm lành dứt ác, và khả năng mình để àm việc ấy, với ý nghĩ : “Tự ta sẽ làm việc này”. Đó là tự tín để hành động.

50- Người đời vì bị phiền não khống chế nên không thể làm việc để tự lợi cho bản thân. Họ không thể tinh tấn tu lợi tha như tôi, bởi thế tôi sẽ cố gắng hết sức mình.

51- Người khác vì những công việc thế tục thấp hèn mà còn siêng năng cần mẫn, sao tôi lại ngồi không ? Nhưng cũng không nên vì kiêu căng ngạo mạn mà tu hành, tốt nhất là đừng kiêu mạn.

52- Khi những con quạ gặp một con rắn chết, chúng sẽ dũng cảm như chim phượng hoàng. Cũng vậy, nếu đức tự tin nơi tôi (để đối trị phiền não)yếu kém thì một lỗi lầm nhỏ cũng đủ khiến tôi suy sụp.

53- Làm sao những kẻ vì yếu kém đã từ bỏ nỗ lực hành thiện, có thể giải trừ sự nghfo thiếu phước đức ? Nhưng với người có đức tự tin, lại nỗ lực tu hành, thì dù gặp trở ngại lớn cũng không sao.

54- Bởi thế, với một tín tâm kiên cố, tôi sẽ thắng lướt mọi sa đọa, vì nếu tôi để cho tội lỗi sa đọa đánh bại mình, thì cái ước muốn vượt ngoài tam giới của tôi sẽ trở thành chuyện đùa.

55- Tôi sẽ chiến thắng mọi phiền não tội ác, không để cho phiền não thắng lướt tôi. Tôi, đứa con của đấng Chiến thắng, như một sư tử con, sẽ kiên trì đức tự tin này.

56- Người bị ngã mạn khống chế là không đủ đức tự tin. Người có tự tin thì không bị giao động vì giặc phiền não, nhưng người ngạo mạn thường bị đánh gục vì chính phiền não ngã mạn nơi mình.

57- Người bên trong ngã mạn (tự cho mình nhất), bên ngoài lộ vẻ kiêu căng, thì sẽ đi đến các cõi ác, đọa xứ, mất hết phúc lạc đời người, trở thành nô bộc ăn cơm thừa canh cặn.

58- Ngu si, xấu xí, thân thể suy nhược, đến đâu cũng bị khinh rẻ, những kẻ tu khổ hạnh ngạo mạn cũng được kể vào hạng tự tin, thì hạng người thấp kém lại giống gì ?

59- Kẻ nào nắm lấy đức tự tín để khắc phục kẻ thù ngã mạn, chính là người hùng chiến thắng. Hơn nữa, kẻ nào quyết chinh phục sự bành trướng kẻ thù ngã mạn này, thì hoàn toàn đạt được kết quả của một đấng Chiến thắng, viên mãn ước nguyện của thế gian.

60- Nếu tôi thấy mình ở giữa một đám phiền não, tôi sẽ dùng trăm phương ngàn kế để chịu đựng, như một con sư tử giữa đám chồn, không để cho phiền não tác hại.

61- Như người ta giữ gìn đôi mắt mình lúc gặp nguy hiểm lớn, cũng vậy khi lâm nguy tôi sẽ giữ gìn mắt tuệ của mình, không để cho phiền não thao túng.

62- Thà bị thiêu đốt, bị chặt đầu, bị giết hơn là khuất phục giặc phiền não. Dù ở đâu, lúc nào tôi cũng quyết không làm những việc vô nghĩa.

63- Như trẻ con thích thú theo đuổi những trò chơi, ta nên sinh tâm đam mê thích thú đối với việc lành, không bao giờ chán.

64- Tất cả hành động con người đều cốt để đạt đến hạnh phúc,mà chắc gì đãđược. Việc làm vừa tự lợi, lợi tha nhất định đem lại an vui, nhưng nếu không làm thì đâu có được niềm vui ấy ?

65- Người đời tham cầu năm dục không chán, như ong tham hút mật bôi đầu lưỡi dao bén, thế thì sao tôi lại chán làm các công đức đưa đến hạnh phúc an vui của Niết-bàn ?

66- Vì muốn viên thành phước đức, tôi sẽ hoan hỷ dấn thân làm việc lành như một con voi đang bị mặt trời giữa ngọ thiêu đốt, gặp được ao mát vội nhào xuống tắm.

67- Khi thân tâm suy yếu mỏi mệt, tôi nên tạm xả hơi để có thể tiếp tục lâu dài. Sau khi làm tốt một công việc cũng nên xả để hướng đến những thiện sự khác.

68- Như một chiến sĩ lão luyện trên chiến trường phản công trước mũi kiếm kẻ thù, tôi cũng sẽ đánh trả mũi nhọn của phiền não và trói kẻ thù này một cách thiện nghệ.

69- Trong khi đánh nhau lỡ làm rơi kiếm, người ta sợ hãi nhặt lên ngay ; cũng thế, khi mất chánh niệm, tôi sẽ đề khởi lại ngay vì sợ sa địa ngục.

70- Như độc dược lan khắp thân thể do máu tuần hoàn, cũng vậy, nếu phiền não có được cơ hội thì tội ác sẽ hoàn toàn che lấp bản tâm
.

71- Hành giả cần phải chuyên chú giữ tâm như kẻ mang bát dầu bị người đưa gươm kề cổ dọa sẽ giết nếu làm rơi một giọt.

72- Lại như khi con rắn bò lên bụng, ta phải tức tốc đứng bật dậy để hất nó ra ; nếu tình cờ nổi cơn làm biếng hay ưa ngủ, phải nhanh chóng xua tan.

73- Mỗi khi lỡ phạm lỗi ầm, nên tự thống trách, thường nghĩ từ nay về sau ta sẽ không bao giờ tái phạm.

74- Để phòng lỗi lầm phát sinh, vào mọi thời nên tu chánh niệm. Với động lực này ta nên đi tìm minh sư để hoàn tất sự nghiệp chánh đạo.

75- Muốn có năng lực để làm thiện sự, trước khi bắt tay vào việc gì nên nhớ lại lời khuyên trong Chương bốn nói về bất phóng dật, rồi hân hoan khởi sự làm công việc.

76- Như bông tơ mềm nhẹ bay theo làn gió thổi, khi thân tâm phấn chấn thì mọi thiện sự đều dễ thành.

CHƯƠNG TÁM

THIỀN ĐỊNH

(Tịnh lự, lóng sạch)

1- Sau khi phát khởi tinh tấn, hãy để tâm an trú trong thiền định. Người mà tâm tán loạn thì sẽ bị rơi vào nanh vuốt của phiền não mê muội.

2- Nếu cả thân và tâm đều viễn ly (thân viễn ly là ở nơi vắng vẻ, tâm viễn ly là không tham đắm thế tục) thì kể tán loạn không sinh. Bởi thế, cần phải xa lìa trói buộc của đời sống thế tục (gia đình, bè bạn)và từ bỏ những tư tưởng thế tục (liên hệ tài sắc, danh, ăn, ngủ).

3- Vì ái luyến thân bằng quyến thuộc, yêu mến danh lợi nên khó bỏ thế tục. Bậc trí hoàn toàn từ bỏ những thứ ấy đẻ tuần tự thực hành thiền quán theo những nguyên tắc sau đây :

4- Vì biết rõ chỉ có tuệ quán thù thắng (gọi tắt là tuệ, hay chiếu, sáng suốt)nghĩa là có kèm theo tịnh chỉ (định, hay tịch, vắng lặng)mới diệt được mê lầm phiền não, trước tiên nên tu tịnh chỉ. Tịnh chỉ thành tựu là do lìa tham ái.

5- Tự bản thân đã vô thường (nay còn mai mất, chóng thay đổi), lại còn đi tham luyến những kẻ khác cũng vô thường, thì dù có tái sinh trở lại cả ngàn lần cũng không gặp được những người mình yêu mến.

6- Khi chưa tìm thấy họ, đương nhiên ta sẽ sầu khổ không vui, vì không vui nên không thể đi vào chánh định (còn gọi tam ma địa, đẳng chí… làCHỈ). Dù có gặp được cũng không biết đủ(muốn gặp hoài), nên cũng lại sầu khổ vì ái luyến như trước.

7- Tham đắm những người, vật hữu tình là hoàn toàn ngược với thực chất của các pháp (hay hiện tượng, vì thực chất chúng là vô thường, như huyễn). Sự tham đắm ấy cũng huỷ hoại cái tâm cầu đạo hướng đến giải thoát, chán lìa sinh tử, và rốt cuộc phải rước lấy sầu khổ khóc than.

8- Nếu ta cứ nhớ thương những người thân, thì cuộc đời này trôi qua một cách vô nghĩa. Và như vậy là ta để cho những thân bằng quyến thuộc vô thường phá hỏng cơ hội tu chứng đạo lý chân thường.

9- Hành vi đã giống với phàm phu ngu si như vậy, thì chắc chắn ta phải đọa lạc vào ba ác đạo (ba cõi xấu : địa ngục, quỷ đói, súc sanh). Nếu mục đích của ta là hướng đến cảnh giới giải thoát thì cần gì phải thân gần những người phàm phu ngu độn ? (Câu cuối này bản Hoa ngữ làTâm dục phó thánh cảnh/Hà nhu cận phàm phu. Bản dịch Anh Pháp giống nhau nhưng khác với bản Hoa ngữ. Anh dịch :And if I am led there by thoe unequal to the Noble Ones/What is the use of entrusting myself to the childish ? Pháp dịch :Et quand m’y conduisen ceux qui ne ressemblent pas aux être nobles/A quoi bon m’enremettre à eux ? Tự phó thác thân phận cho những kẻ phi thánh làm gì khi chúng chỉ dẫn ta đến ác đạo ?)

10- Mới phút trước bạn bè thân thiết, phút sau đã thành thù địch. Vào dịp vui cũng có thể chuốc oán cừu, ôi, kẻ phàm phu thật khó mà làm cho họ vừa lòng.

11- Khi ta lấy lời thành thật bảo họ, họ nổi giận và lại còn xúi ta từ bỏ việc lành. Nếu ta không nghe lời, họ sẽ nổi sân nà rơi vào đường ác.

12- Ganh ghét với kẻ hơn mình, cạnh tranh với kẻ bằng mình, ngạo nghễ với kẻ thua mình, được khen thì kiêu căng, nói lời trái tai thì nổi giận. Làm bạn với những người ngu như thế đâu có ích gì ?

13- Làm bạn với kẻ ngu chắc chắn sẽ sinh cái lỗi khen mình chê người, ưa bàn chuyện thế tục và những điều không tốt.

14- Bởi thế, gần thân tộc bạn bè chỉ rước lấy tổn hại. Họ không có lợi gì cho ta, ta cũng không ích gì cho họ.

15- Vậy cần phải xa lìa phàm phu ngu si. Khi gặp họ hãy vui vẻ chào đón, nhưng đừng quá thân mật, hãy theo cách giao tiếp của chính nhân quân tử (nghĩa là không vồn vã lắm).

16- Như ong lấy mật hoa, khi vì pháp (sống đúng theo giới luật Phật chế) ra ngoài hóa duyên (khất thực, xin ăn) xong, hãy an nhiên như vầng trăng mới. (Sngon chad ma mthong bzhin,Matics dịch : like the new moon. Dịch giả Hoa ngữ cho rằng rất khó lý giải, và dịch thành như tích vị mưu diện, nghĩa là chưa từng toan tính gặp nhau trước đấy. Bản dịch Anh, Pháp cũng tương tự. Tôi theo cách dịch của Matics trên đây do dịch giả Hoa ngữ cung cấp, vì nó nên thơ và phù hợp với Luận Thanh Tịnh Đạo nói về hạnh khất thực từng nhà, vị khất sĩ như vầng trăng chiếu ngàn nhà, không có thân sơ, luôn mới mẻ).

17- Nếu ôm giữ ý nghĩ kiêu mạn, cho rằng ta đây giàu có, được mọi người cung kính, ai cũng yêu mến ta, người như vậy lúc chết nhất định sẽ đâm ra hãi sợ (sợ sa ác đạo).

18- Này ý thức ngu si kia ơi, bất kể tham luyến vật gì, nhất định ngươi sẽ rước lấy ngàn lần nỗi đau khổ mà ngươi phải chịu trong đời này.

19- Do vậy, kẻ có trí không bao giờ tham luyến, vì tham luyến sẽ đưa đến nỗi sợ đọa vào ba đường ác. Hãy giữ vững sự tin hiểu như sau : những sự vật kia tự bản chất nó là đáng bỏ.

20- Dù ta có nhiều tiền lắm của, nổi danh khắp thiên hạ, thì những danh lợi thâu thập được ấy cũng không thể chiều theo ý muốn của ta.

21- Lời ca tụng đâu đáng để làm ta vui khi cũng có người hủy báng ta ? Lời chê bai đâu đáng làm ta sầu khổ, khi cũng có người khen ta ?

22- Hữu tình chúng sanh có đủ loại tâm linh, ngay đến chư Phật cũng không thể làm cho họ vui lòng, huống chi kẻ hèn kém như ta ? Vậy nên xả bỏ ưu tư ấy.

23- Họ khinh miệt kẻ bần cùng và nói xấu người giàu có. Bản chất họ khó kết thân như thế, thì làm bạn với họ có gì vui ?

24- Đức Như Lai có dạy rằng : Kẻ phàm ngu nếu không được lợi lộc thì sầu não không vui, bởi thế đừng làm bạn với họ.

25- Những chim thú và cây trong rừng không có phát ra những âm thanh châm chích nhĩ căn. Làm bạn với chúng thì ta thường an vui. Đến bao giờ ta mới được ở yên với chim thú trong núi rừng ?

26- Bao giờ tôi mới được ở gốc cây, trong hang động hoặc chùa hoang vắng ? Nhưng tôi nguyện tâm này không còn tơ tưởng đến thân bằng quyến thuộc, cắt đứt ham muốn đối với trần thế.

27- Bao giờ tôi mới được dời đến chỗ thiên nhiên khoáng đạt để khỏi chấp đây là chỗ của tôi, tâm không còn tham đắm, được tự do tự tại ?

28- Bao giờ tôi mới được ở an không sợ hãi, chỉ giữ ít vật dụng cần thiết, y phục thì kẻ trộm không thèm lấy, thậm chí không cần phải che thân ?

29- Bao giờ tôi mới đến được rừng thây, tiếp xúc cảnh ấy mà phát sinh ý nghĩ : Bộ xương của tử thi với thân thể của ta đều là những thứ sẽ đi đến hoại diệt.

30- Thân ta nhanh chóng vữa nát, hôi thối đến nỗi chồn sói cũng không dám đứng ăn ở đầu gió. Sự biến đổi của thân này chung cuộc sẽ như vậy.

31- Chỉ một tấm thân này lúc sống thì xương thịt liên kết nhau, nhưng chết rồi là phân tán mỗi thứ một nơi, huống chi những người thân thuộc.

32- Khi sinh ra đã một mình, lúc chết cũng đơn độc chết, những thống khổ khi tứ đại phân tán không ai san sẻ được với mình, thì thân bằng quyến thuộc có ích gì ?

33- Như lữ khách trên đường dài không tham đắm chỗ tạm dừng chân, kẻ đang đi trên đường ba cõi (cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc)cũng không nên ái luyến gia đình từ đấy mình đã sinh ra.

34- Sao ta phải chờ đến lúc thân thể được bốn người khiêng, với thân bằng quyến thuộc đau đớn khóc lóc đi theo mới chịu vào rừng ?

35- Không cùng người thân hoặc kẻ thù, một mình ở ẩn trong rừng núi xem như đã chết, thì khi chết chẳng còn ai phải khóc than.

36- Khi ấy, vì xung quanh chẳng có người nào để đau buồn cho ta, hoặc để làm hại ta, nên lúc tu các pháp như niệm Phật theo hơi thở.v.v… sẽ không có ai làm cho tâm ta tán loạn.

37- Bởi thế, hãy ở một mình, ít việc, dễ an vui, trong cảnh núi rừng xinh đẹp khiến tâm người hoan hỷ, ngõ hầu đình chỉ tâm tán loạn.

38- Khi đã bỏ hết những lo nghĩ thế tục rồi, tâm ta nên chuyên nhất để có thể đi vào tịnh chỉ, và tinh tấn cắt đứt phiền não (bằng tuệ quán).

39- Đời này và đời sau, sự ham muốn khoái lạc giác quan dẫn đến tai họa, sự bắt trói,chặt giết trong đời này làm cho đời sau bị sa địa ngục.

40- Trước mặt các ông tơ bà mối, tại sao người ta khẩn cầu họ xe duyên nhiều thế ? Sao họ không kiêng kỵ phạm những tội lỗi hay tiếng xấu ?

41- Dù nguy hiểm bao nhiêu cũng lao vào, tài sản khánh tận cũng mặc, chỉ cần ôm gái đẹp vào lòng là khoái chí tiêu hồn.

42- Các cô gái ấy trừ xương xẩu ra, chẳng có gì, thế mà vì luyến ái họ ta đã không còn tự chủ được thân mình. Sao không hướng đến Niết-bàn tịch tịnh ?

43- Luc đầu (những cô gái) phải gan dạ lắm mới thò đầu ra, khi ta kéo voan che mặt của cô thì cô thẹn thùng cúi mặt nhìn xuống. Trước khi đem chôn, cái mặt ấy, dù có người thấy hay chưa ai thấy, đều được che đậy dưới một tấm voan. (Hoa dịch :Táng tiền kiến vị kiến/Tất dĩ sa phú diện. Cả hai bản Anh, Pháp đều không có ý gì ám chỉ việc chết chóc như bản Hoa. Theo mạch văn về quán bất tịnh của tử thi, thì bản Hoa có lẽ đúng hơn, khi nhìn một cô gái đẹp che mặt sau tấm voan theo tục lệ thời ấy, mà tác giả nghĩ đến xác chết của cô cũng sẽ được che mặt y như thế).

44- Cái dung mạo ẩn sau màn che đã mê hoặc ngươi ngày xưa, nay bị chim kên kên tha mất tấm voan, hiện ra trước mặt ngươi, sao ngươi thấy lại bỏ chạy dài ?

45- Ngày xưa có kẻ nào nhìn trộm nó, ngươi vội vàng giữ kỹ, nay chim kên kên ăn thịt nó, sao ngươi không giữ đi ?

46- Khi đã thấy một khối thịt vữa nát bị chim thú tranh nhau ăn ấy, thì sao ta còn khổ công trang sức cho một món ăn được ân cần phụng hiến cho cầm thú ?

47- Nếu trông thấy một bộ xương trắng sạch sẽ nằm bất động cũng đủ khiến ngươi kinh hãi, thì sao không sợ một nữ nhân linh hoạt như một thây ngo ngoe ?

48- Ngày xưa cô gái mặc y phục đàng hoàng ngươi ham thích, sao nay lõa hình lại không ham ? Nếu nói tôi không thích cái thây chết lõa hình, thì tại sao ăn lại thích cái thây sống có áo mặc ?

49- Phân tiểu và nước bọt đều do ăn uống sinh ra, tại sao ngươi chỉ tham nước bọt mà không tham phân hôi ?

50- Những kẻ tham dục không thích xúc chạm cái gối mềm mại sạch sẽ, bảo rằng nó không có mùi thân thể đàn bà. Hóa ra họ mê những thứ ô uế.

52- Kẻ đam mê nhục dục nói : “Cái gối tuy mềm mại thật, nhưng ngủ với cái gối thì đâu có thành giấc ngủ của đôi uyên ương”. Họ còn nổi giận với cái gối.

53- Nếu ngươi bảo : “Tôi không thích những thứ dơ uế”, vậy tại sao lại ôm ấp một phụ nữ gồm bộ xương có gân dính liền, với thịt như bùn đắp lên ?

53- Những dơ uế của tự thân ngày nào ngươi cũng kinh nghiệm, hưởng chưa đủ hay sao mà còn tham cái túi da dơ uế của kẻ khác ?

54- Nếu bảo rằng chỉ thích nhìn và vuốt ve thịt da mềm mại kia, thế thì sao không muốn da thịt một tử thi hồn đã lìa khỏi xác ?

55- Vậy chính do cái tâm của cô gái làm ngươi ham muốn, nhưng tâm ấy thì không thể thấy hay sờ ; cái có thể thấy, sờ được thì chẳng phải tâm, vậy ôm giữ sự si mê vô lối ấy làm gì ?

56- Không rõ biết sự dơ uế nơi thân người khác cũng chưa phải là điều kỳ lạ, nhưng không biết sự dơ uế nơi chính thân mình mới thực là lạ kỳ.


57- Hỡi cái tâm tham luyến những vật bất tịnh kia, sao ngươi lại bỏ đóa sen non mới nở dưới ánh mặt trời mà đi ham thích cái túi da dơ uế ?

58- Nếu ngươi không muốn sờ một chỗ đất bị trát đầy đồ dơ, thì sao lại muốn sờ cái thân thể từ đó tiết ra đủ thứ uế bẩn ?

59- Nếu nói ngươi không ham dơ uế, thì tại sao lại ôm vào lòng một vật do hạt giống bất tịnh (tinh trùng, noãn) sinh ra, và thoát ra ở chỗ dơ dáy ?

60- Con dòi sinh từ phân tiểu tuy nhỏ nhít ngươi còn không ham, tại sao lại ham thích cái thân thể do bất tịnh sinh ra và đầy những thứ dơ bẩn ?

61- Ngươi chẳng những không coi rẻ cái thân bất tịnh của mình, lại còn vì ham vật bất tịnh mà tham luôn cả túi da dơ bẩn của kẻ khác.

62- Ngay cả những dược phẩm cùng thực phẩm thích hợp khẩu vị con người như băng phiến, gạo, cơm, rau rán,… đã vào cơ thể bài tiết ra thì khiến đại địa cũng ô uế.

63- Thân thể dơ bẩn như vậy rõ ràng ai cũng tự thấy. Nếu còn nghi thì nên quan sát thây chết ngoài nghĩa địa và những vật bất tịnh khác.

64- Khi lớp da ngoài được xẻ ra, người trông thấy phải kinh hãi. Khi đã biết vậy thì tại sao còn có thể ham thích cái thân này ? Vậy nên từ bỏ tư tưởng cho thân là sạch đẹp.

65- Mùi thơm mà kẻ kia thoa vào thân là hương của chiên đàn (hay các hương khác, như nước hoa ngày nay)chứ đâu phải của thân thể. Sao lại vì mùi hương không liên can gì đến thân thể mà tham cái thân của cô nàng ?

66- Nếu thân thể vốn hôi hám, thì đừng ham nó chẳng phải tốt hơn chăng ? Những người tham chuyện vô nghĩa trên đời bôi hương lên thân để làm gì nhỉ ?

67- Nếu mùi hương là của nước hoa (chiên đàn)thì thân thể toát ra mùi gì ? Cần gì nhân một mùi hương chẳng can hệ gì đến cái thân cô gái, mà ham thích thân ấy ?

68- Nếu tóc và móng tay dài ra, răng vàng hôi thối, thân thể như trạng thái tự nhiên của nó, thì phải khiến người ta khiếp sợ. Thế thì sao ngươi còn ham thân ấy ?

69- Tham dục như vũ khí tự hại mình, đã không để cho nó cùn nhụt bớt thì chớ, sao còn mài cho nó sắc bén thêm ? Than ôi, bọn người cuồng si tự mê hoặc mình, thật đầy dẫy trong thiên hạ.

70- Chỉ cần thấy một nắm xương ngoài nghĩa địa ta cũng đủ khởi tâm chán lìa (sinh tử), thế sao lại vui được khi thấy đầy dẫy những bộ xương trắng đang di động trong thị trấn ?

71- Lại nữa, cái thân bất tịnh của nữ nhân nếu không trả một giá rất đắc thì không có được. Đời này phải vì nó mà mệt mỏi chạy theo cát bụi , đời sau chịu khổ nạn ở địa ngục.

72- Tuổi nhỏ không có năng lực kiếm ra tài sản, lớn lên làm sao hưởng thú (cưới vợ)? Khi có được tài sản thì thọ mạng sắp hết, cái già đã đến thì sắc dục mà làm gì ?

73- Những kẻ hạ liệt nhiều ham muốn suốt ngày lao động kiệt sức, buổi tối về nhà bao nhiêu tinh khí tiêu tan, lăn ra ngủ say như thây chết.

74- Có kẻ đi tha hương mưu sinh, trải nhiều gian nan cay đắng, dù có muốn hội ngộ vợ đẹp, suốt năm cũng không thấy nhau.

75- Có kẻ vì tự lợi, ngu si tự bán thân mình, nhưng chưa được lợi lộc gì vào tay mà phải bị gió nghiệp cuốn đi một cách vô định.

76- Có kẻ tự bán thân làm tôi tớ người, tha hồ cho kẻ khác sai sử. Thê thiếp họ sinh nở ở chỗ hoang dã, dưới gốc cây.

77- Những phàm phu bị dục vọng lừa dối, lại nói là vì kiếm sống mưu sinh. Họ ra sa trường mặc dù sợ chết hoặc vì ham lợi mà biến thành nô bộc.

78- Vì dục vọng có người tự sát, hoặc bị giáo nhọn đâm suốt thân, hoặc bị kiếm ngắn đâm thủng, hoặc bị lửa đốt.

79- Trải cho hết những khổ về tom góp, giữ gìn và mất mát, mới thấy tài sản thật đem lại nhiều tai họa. Kẻ vì tham vàng mà tiêu tán tâm lực thì không còn có kỳ hạn nào để thoát ra khỏi khổ sinh tử.

80- Tham dục phát sinh nhiều khổ, hại nhiều, phước lợi ít ; chẳng khác nào những con vật kéo xe chỉ ăn được vài nạm cỏ mà thôi.

81- Cái lợi nhỏ nhoi ấy súc sinh còn dễ kiếm, nhưng những con người thiển cận kia lại vì nó mà bôn ba chịu đủ thứ thống khổ, hủy hoại thân người khó được của mình.

82- Năm đối tượng của dục rốt cùng cũng hoại diệt, nhưng do đam mê chúng mà con người đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Vì cái vui chốc lát mà phải chịu khốn đốn trường kỳ.

83- Vậy mà chỉ cần chịu đựng một phần ngàn, phần vạn của sự khổ ấy để tu hành cũng đủ thành Vô thượng Bồ-đề. So với Bồ-tát tu hạnh giác ngộ thì người tham dục chịu nhiều khổ mà không được quả giác ngộ.

84- Tư duy về những thống khổ ở các ác đạo mới biết tai họa của các dục. Những tại họa do độc dược, lửa, binh khí, vực thẳm hoặc kẻ thù gây ra cũng không thể sánh bằng.

85- Bởi thế nên chán đối tượng năm dục, vui với cảnh nhàn tịnh ở trong núi rừng tịch tĩnh, lìa tranh chấp, không phiền não.

86- Dưới ánh trăng trong sang mát mẻ tợ hương chiên đàn, thư thái trên phiến đá phẳng như trong cung điện, được ngọn gió rừng êm ái quạt mát, bậc thiền giả tốt phước tản bộ nghĩ đến an lạc cho muôn người.

87- Theo thời tiết tha hồ mặc ý ở trong ngôi nhà trống, hoặc nơi hang động, hoặc dưới gốc cây, nhờ đã xả bỏ cái khổ của sự giữ gìn tài vật, vị ấy được tự do tự tại.

88- Lìa tham ái, hành động tự do, không can dự bất cứ ai, vua chúa cũng khó hưởng được cái thú tri túc ở chốn núi rừng tĩnh mịch.

89- Sau khi tư duy về những tai hại của năm dục và công đức của sự xa lánh duyên trần, nên chấm dứt vọïng tưởng phân biệt và tu quán tâm Bồ-đề.

90- Trước tiên nên quán ta với người cũng giống nhau ở chỗ tránh khổ tìm vui, do vậy cần thương chúng sanh như thương chính mình.

91- Chân tay tuy nhiều, nhưng giữ gìn tay chân thì cũng như giữ gìn thân thể. Khổ vui ở mỗi người tuy khác nhau, nhưng sự tìm cầu an lạc thì ai cũng giống ta.

92- Cái khổ mà ta chịu không làm tổn hại thân người khác, nhưng do xem là tôi khổ, vì chấp ngã nên ta khó mà kham nhẫn.

93- Cái khổ của người khác cũng không dính đến thân ta, nhưng nếu xem khổ ấy cũng như tôi khổ, thì cũng khó kham nhẫn.

94- Ta nên xua tan nỗi khổ của người như xua tan khổ của chính ta, và nên làm lợi lạc cho người vì họ cũng là hữu tình như ta.

95- Ta lẫn người, cả hai đều tìm vui nên giống nhau, họ có gì khác ta đâu ? Tại sao chỉ tìm vui cho mình ?

96- Ta lẫn người, cả hai đều ghét khổ nên giống nhau. Mình người có gì khác nhau, sao chỉ tự che chở mình mà không che chở người ?

97- Ngươi bảo : “Cái khổ của người khác không hại gì tôi, thì sao phải che chở họ khỏi khổ ?”. Vậy cái khổ về sau không hại cho bây giờ sao ngươi phải đề phòng ?

98- Nếu bảo : “Tôi chấp nhận chịu khổ tương lai, vì khi chết đi là một thân khác, cái thân tái sinh cũng là một thân khác nữa”. Thấy như vậy gọi là tà kiến, nên bỏ.

99- Nếu bảo “ Ai khổ thì tự lo lấy thân, can chi tôi phải che chở họ”. Thế thì chân khổ không phải tay khổ, sao tay lại che chở chân ?

100- Nếu bảo : nghĩ như trên (98,99) mặc dù phi lý thật, nhưng vì chấp ngã mà ra như thế. Nhưng sự chấp trước thật có ta và người hiện hữu biệt lập là tà kiến, nên bỏ.

101- Vì cái gọi là mình hay người chỉ là tính tương tục (thời gian)và năm uẩn hòa hợp (không gian) chỉ là giả danh, như chuỗi tràng(gồm nhiều hạt kết lại)hay như quân đội (từng binh sĩ họp lại), vốn thật không có người chịu khổ, thì ai là kẻ trừ khổ của ai ?

102- Đã không có người chịu khổ thật sự, thì tuyệt đối không có gì khác nhau giữa khổ mình hay khổ người. Có khổ nhất định nên xua tan, cần gì phân biệt gượng gạo mình và người ?

103- Không nên cãi rằng cần gì phải trừ khổ của người khác, vì không thật có sự khổ và người chịu khổ. Nhưng khi đã xua tan đau khổ của chính mình thì đương nhiên cũng phải xua tan tất cả đau khổ. Nếu không, thì tôi cũng như hữu tình khác, cần gì trừ khổ cho chính tôi ?

104- (Hỏi :) - Tâm thương xót kẻ khác đem lại cho tôi nhiều đau khổ, thì sao phải nỗ lực làm nó phát sinh ? (Đáp :) - Nếu nghĩ đến nỗi khổ của chúng sanh, thì khổ của mình sao lại tăng được ?

105- Nếu nỗi khổ của một người có thể trừ thống khổ của rất nhiều người khác, thì vì tự lợi lợi người, kẻ có tâm từ sẽ rước lấy nỗi khổ kia.

106- Như trong kinh Tam Ma Địa Vương nói : Bồ-tát Diệu Hoa Nguyệt mặc dù biết nhà vua có ý hại mình, song vì muốn chấm dứt thống khổ cho hàng vạn người, Bồ-tát đã chấp nhận khổ đau.

107- Người tu quán mình người bình đẳng như vậy thì ưa trừ diệt thống khổ cho kẻ khác, dù phải vào địa ngục Vô gián cũng vui vẻ như con thiên nga sà xuống ao sen.

108- Khi biết chúng sanh đã được giải thoát thì tâm vui mừng dạt dào như biển lớn. Nỗi vui ấy chưa đủ sao, cần gì phải cầu giải thoát cho riêng mình ?

109- Bởi thế hãy mưu cầu lợi ích cho tha nhân mà đừng kiêu căng tự đắc ; chuyên tâm ham thích làm lợi lạc cho người mà không hy vọng được quả báo lành.

110- Cũng như tôi tự giữ cho mình khỏi bị những khó chịu nhỏ như một lời nói khiếm nhã, tôi nên tu tập tâm thương xót che chở kẻ khác.

111- Đối với tinh huyết của người khác vốn không phải thân tôi, mà vì tập quán tôi đã xem sự kết tụ tinh huyết ấy là tôi ;

112- Vậy sao thân người khác tôi không thể xem là mình ? Do vậy, đem đổi thân mình thành thân người cũng không khó lắm.

113- Tự thương thân thì gặp nhiều tai họa, thương thân người thì được nhiều công đức. Biết vậy nên thường tu tập thương người, từ bỏ ngã chấp.

114- Ai cũng chấp nhận rằng tay chân là những phần tử của thân thể, vậy sao không nhận rằng hữu tình là một phần của sự sống ?

115- Đối với thân thể vốn vô ngã này, mà do thói quen ta xem nó là của ta, vậy sao đối với kẻ khác không thể phát sinh ý tưởng họ là ta ?

116- Nên mưu cầu lợi ích cho tha nhân mà không kiêu căng ngã mạn, như người nuôi thân mình không bao giờ mong ai đền đáp.

117- Dù một khó chịu nhỏ nhặt như một lời khiếm nhã mà ta cũng không muốn xảy đến cho mình và cẩn thận tránh né, hãy có tâm thương xót giữ gìn như vậy đối với chúng sanh.

118- Bởi thế mà đấng Chúa tể của sự cứu hộ là Bồ-tát Quán Thế Âm mạnh mẽ phát nguyện đại bi bằng cách gia trì năng lực vào Thánh hiệu của ngài để trừ nỗi khiếp sợ khi đến giữa chúng đông người.

119- Trước khi nghe tên (một người nào)ta đã tán đởm kinh hồn, nhưng về sau nhờ thân gần lâu, khi mất con người ấy ta lại buồn sầu, ấy là do thói quen. Vậy ta không nên thối chí khi (lúc đầu)thấy khó.

120- Nếu ai muốn nhanh chóng tự cứu và cứu người, thì hãy tu đổi địa vị tự với tha, đấy là bí quyết tốt nhất.

121- Vì tham đắm tự thân, gặp việc nhỏ cũng sinh lo sợ. Đối với thân thể, nguồn gốc phát sinh mọi lo sợ này, ai mà không giận nó như cừu địch ?

122- Người muốn trị bệnh thân thể đói khát thường dùng trăm phương ngàn kế như bắt giết cá, chim, thú, nấp rình giữa đường để cướp bóc.

123- Có kẻ vì cầu danh lợi cung kính mà đi đến chỗ giết cha mẹ, trộm vật Tam bảo, nhân đấy bị đọa vào ngục Vô gián.

124- Ai là người thông minh mà lại còn muốn bảo hộ, cung dưỡng cái thân này, không xem nó như cừu địch, không khinh miệt nó ?

125- Con đường sa làm quỷ đói là ý nghĩ : “Nếu bố thí hết, tôi còn hưởng được gì ?”. Con đường lên cõi trời, người ta có ý nghĩ : “Nếu tôi hưởng hết thì lấy gì để bố thí ?” .

126- Vì bản thân mà hại kẻ khác thì sẽ chịu khổ địa ngục. Hại mình để lợi người thì việc gì cũng thành công.

127- Muốn cho mình ở địa vị cao tột thì sẽ rơi vào những cõi ác ngu si thấp hèn ; đề cao kẻ khác thì sẽ lên các cõi lành cao thượng, được tôn kính.

128- Sai sử kẻ khác phục dịch cho mình thì sẽ chịu cái khổ làm tôi đòi bị sai sử. Chịu nhọc mình để lợi tha thì sẽ được phong tước vương hầu.

129- Bao nhiêu hạnh phúc trần gian đều do lợi tha mà có ; bao nhiêu thống khổ trên đời đều do ích kỷ chỉ muốn lợi mình mà ra.

130- Điều này đã quá rõ không cần nói nhiều lời : Phàm phu ngu si chỉ cầu lợi cho bản thân, còn bậc thánh thì chỉ mong lợi lạc tha nhân. Xem sự khác biệt giữa hai người ấy thì đủ biết.

131- Nếu ta không thật tình đổi hạnh phúc mình lấy khổ đau kẻ khác, thì không những ta sẽ không đạt thành Chánh giác, mà ở trong sinh tử luân hồi ta cũng không được an vui.

132- Tạm gác lại chuyện đời sau, ngay đời này nếu không làm tôi tớ thì chủ không trả thù lao, như vậy cũng khó mà có được cái lợi trong đời hiện tại.

133- Lợi tha khiến được an vui, bỏ lợi tha thì mất vui. Hại người khiến chịu khổ, kẻ ngu chắn chắn gặp tai ương.

134- Tất cả tai hại trên đời như sợ hãi và những thống khổ khác đều do ngã chấp mà ra. Vậy ta còn cần gì con ma chấp ngã đó ?

135- Ngã chấp chưa tận trừ thì không thể trừ hết khổ, cũng như chưa quăng bỏ lửa thì không khỏi bị phỏng tay.

136- Bởi thế hãy đình chỉ tự hại và diệt thống khổ cho kẻ khác bằng cách bỏ bản thân mà cho mọi người tất cả, thương người như chính mình.

137- Này tâm ý, sau khi đổi địa vị mình với người, ngươi nên nhận thức rõ từ nay ta hoàn toàn thuộc về chúng sanh, trừ việc lợi ích hữu tình, ngoài ra ta không nghĩ việc gì khác.

138- Từ nay trở đi, không nên lấy con mắt đã thuộc về hữu tình để mưu lợi cho riêng mình, cũng đừng lấy mắt (tai, mũi, lưỡi, thân) để làm những việc tổn hại chúng sanh.

139- Từ nay nên tôn trọng hữu tình, trong thân có gì đều đem làm lợi ích chúng sanh.

140- Trước tiên chọn ba đối tượng : thấp kém, ngang hàng và cao quý hơn mình, rồi trao đổi địa vị mình với ba người ấy. Dùng tâm xác tín không nghi ngờ mà thiền quán về ganh ghét, cạnh tranh và kiêu mạn (như sau)

141- (Quán người kém mình sẽ nghĩ về mình : )Kẻ ấy được kính trọng, ta không. Tài sản ta không bằng kẻ ấy. Kẻ ấy được khen, ta không. Kẻ ấy hạnh phúc còn ta thì chịu đau khổ.

142- Ta làm lụng nhọc nhằn, kẻ ấy sống an nhàn thoải mái. Kẻ ấy được mọi người ca tụng, còn ta thì thân bại danh liệt.

143- Sao bảo ta không tài cán gì ? Đương nhiên ta có tài. Kẻ ấy so với X, Y thì còn kém xa. Ta cũng còn hơn nhiều người khác.

144- Những sự suy thoái về giới luật và kiến giải (hiểu biết đạo lý)nơi ta là do phiền não chứ không phải ta. Kẻ kia đáng nên tận lực giúp đỡ ta, dù có gặp khó khăn nào ta cũng cam chịu.

145- Vậy mà ta chẳng những không được giúp đỡ, ngược lại còn bị rẻ rúng là sao ? Kẻ ấy dù có đầy đủ công đức, song có ích lợi gì cho ta đâu ?

146- Kẻ ấy không thương xót chúng sanh ngu muội bị kẹt vào cửa khẩu ác đạo, mà chỉ hướng ra ngoài để khoe khoang đức hạnh mình, muốn hơn những bậc trí.

147- (Quán tâm niệm kẻ ngang mình : ) Để thắng vượt kẻ được xem ngang hàng với ta, ta nhất định phải có tài lợi và danh vọng.

148- Ta sẽ tận lực tuyên dương công đức của mình, làm cho danh tiếng vang khắp thiên hạ, ngoài ra ta nên dìm công đức của kẻ ấy, không để cho mọi người nghe đến.

149- Lại phải nên che giấu những lỗi lầm của ta, để ta được cúng dường, không phải kẻ ấy. Thế là nay ta được lợi lớn, được cung kính, chứ không phải kẻ kia.

150- Ta sẽ sung sướng thấy nó liên miên gặp nạn, trở thành đối tượng cho mọi người trào lộng, quở trách.

151- (Quán sự ngã mạn của kẻ hơn mình : )“Nghe nói cái kẻ điên khùng kia lại muốn tranh với ta, nhưng thử nghĩ tài sản, tướng mạo, trí tuệ, hiểu biết, dòng họ của nó làm so bằng ta được ?”

152- “Bởi thế mà mỗi khi nghe mọi người khác miệng đồng lòng, đều ca tụng công đức ta, thì ta vui sướng ran cả người, lông dựng lên, mình nổi gai ốc.

153- “Dù nó có giàu phất lên, ta cũng sẽ chiếm đoạt tài sản nó. Nếu nó làm công cho ta, ta chỉ cấp lương vừa đủ sống, ngoài ra ta sẽ chiếm hết.

154- “Ta phải làm cho chúng mất sự an vui, luôn luôn bị tai họa…”. Trong sinh tử ngã chấp như vậy đã từng hại ta cả trăm lần.

155- Hỡi tâm ý, vì muốn lợi cho mình, ngươi đã trải qua vô số kiếp chịu đủ thứ nhọc nhằn mà chỉ có tăng thêm đau khổ.

156- Bởi thế, nay ngươi nên tận tâm tận lực làm lợi ích cho chúng sanh. Đấng Đại Thánh (Phật)không nói dối, hãy vâng làm theo giáo lý Ngài thì chắc chắn được lợi ích.

157- Nếu xưa nay ngươi đã tu tập trao đổi địa vị mình với người như thế, thì ngươi đã được viên mãn an vui như Phật, không đến nỗi khổ như ngày nay.

158- Từ một giọt tinh huyết cha mẹ kết tụ mà ngươi có thể chấp làm tôi, thì với người khác ngươi cũng nên tập xem là tôi vậy.

159- Sau khi xét kỹ xem mình có thật đổi địa vị với người, thấy tự thân có vật gì trộm hết đem làm lợi ích cho chúng sanh.

160- Mình an vui, kẻ khác không an vui ; mình ở trên cao, kẻ khác thấp kém ; mình chỉ làm lợi cho mình, không đoái hoài kẻ khác thì làm sao họ không ganh ghét ?

161- Ta nên xa lìa hạnh phúc mình để chịu khổ thay cho người, thường xem cách khởi tâm động niệm của mình để xét những lỗi lầm.

162- Kẻ khác dù phạm lỗi lớn, ta cũng nên vui vẻ chịu tội thay, lỗi mình dù nhỏ nhặt cũng thành thật sám hối trước đại chúng.

163- Nên tán dương tiếng tốt của người mà giấu kín vinh dự của mình ; tự nguyện làm kẻ tôi tớ hạ liệt, nỗ lực mưu cầu lợi ích cho đại chúng.

164- Tự thân ta vốn nhiều lỗi lầm, công đức chẳng đủ để đáng khen, nên hãy che giấu đức mình đừng để ai biết.

165- Tóm lại, xưa nay vì ích kỷ muốn lợi mình nên bao nhiêu việc làm tôi đều phương hại đến kẻ khác, nay vì lợi lạc cho người, bao nhiêu tai hại tôi nguyện lãnh hết về mình.

166- Đừng để cho thân này hiện cái tướng thô bạo cứng cỏi, hãy như cô dâu mới về nhà chồng, hết sức rụt rè cẩn thận.

167- Phải kiên trì hạnh lợi tha, nhất là đừng thương tổn chúng sanh. Nếu tâm khởi lên tham muốn ích kỷ thì chế phục tâm (bằng chánh tri chánh niệm). Nếu tâm vượt qua giới (lợi tha)này, hãy xử phạt nó.

168- Nay tâm ý, đã được răn dạy như thế mà ngươi không thực hành thì những tội lỗi rốt cuộc sẽ về ngươi, chỉ còn nước phải bị đọa.

169- Trước đây ta đã bị ngươi khống chế, nay thì ta đã rõ, bất luận đi đến chân trời góc biển nào ta cũng phải đập cho tan tành thói kiêu mạn của ngươi.

170- Nay thì ngươi nên bỏ cái nghĩ như sau : “Tôi sẽ hưởng quyền lợi cho mình”, vì ta đã bán ngươi cho người khác, chớ bi ai mà hãy tận lực phục vụ người.

171- Nếu ta đã thiếu cẩn thận, lơ đễnh một chút, chưa đem ngươi mà bố thí cho hữu tình, thì chắc chắn ngươi đã bán ta xuống mười cửa địa ngục mất rồi.

172- Quả vậy, ta đã bao phen bị ngươi bán đứng như thế, nay nhớ lại thù xưa, ta phải đập tan cái tâm ích kỷ tự lợi trong ngươi.

173- Nếu còn tiếc cái mạng của ngươi thì ngươi không nên ôm lòng chấp ngã, mà phải thường thương giúp hữu tình.

174- Ngươi càng ân cần che chở, phụng hiến cho tấm thân bất tịnh này bao nhiêu, nó càng đọa vào thống khổ khó nhẫn chịu bấy nhiêu.

175- Thân thể thì suy yếu mà dục ái lại gia tăng, dù tất cả tài sản trên địa cầu này cũng không đủ làm cho nó thỏa mãn. Ai còn có thể làm thỏa mãn dục vọng này ?

176- Chạy theo dục vọng không bao giờ thỏa mãn thì chỉ chuốc lấy não nề thất vọng. Kẻ không cầu mong gì lại được phước vô cùng.

177- Hưởng lạc chỉ tăng thêm lòng tham thân, vậy đừng để cho thân thể có cơ hội hưởng lạc. Không ôm giữ những vật thích ý, tâm thái ấy là tài sản quý báu chân thật.

178- Tấm thân bất tịnh đáng sợ này, tự nó bất động, phải chờ kẻ khác (tâm ý) thôi thúc, chung cục sẽ ra tro bụi, tại sao chấp nó làm cái tôi ?

179- Dù sống hay chết, cái thân này để làm gì ? Nó có khác gì một khối than, cục đất đâu ? Vậy sao không trừ ngã mạn đi ?

180- Do phụng thị hầu hạ cái thân mà ta đã phải tích chứa bao nhiêu khổ đau một cách vô nghĩa. Đối với cái thân chẳng khác khúc cây này, cần gì tham với sân cho mệt ?

181- Dù ta có cẩn thận che chở cho nó, hay bỏ nó cho quạ chồn ăn, nó cũng chẳng nổi tham hay giận, thế thì sao còn ham cái thân này ?

182- Chê thân, nào khiến cái thân giận ? Khen nó, nào khiến nó vui ? Nó đã vô tri vô giác như vậy thì siêng năng lao nhọc vì nó làm gì ?

183- Nếu ngươi bảo : “Ai yêu mến cái thân này, người ấy là bạn tôi”, nhưng mọi người đều yêu mến bản thân mình, sao ngươi không ưa thích họ ?

184- Bởi thế hãy lìa tham, hy sinh bản thân dể làm lợi ích cho đại chúng. Thân này tuy lắm tai họa, nhưng là một lợi khí để làm việc lành.

185- Tôi đã quá chán lối hành xử ấu trĩ của kẻ ngu, nay tôi sẽ hành động theo bậc trí. Nhớ lời giáo huấn về không buông lung, tôi sẽ tinh tấn dẹp lui thói lừ đừ ngủ gà ngủ gật.

186- Như con Phật đại từ bi, tôi sẽ nhẫn nại làm những gì phải làm. Nếu không siêng năng tu tập cho thường, thì đến ngày nào mới ra khỏi khổ ?

187- Muốn trừ các chướng ngại, phải tránh xa nẻo tà, thường theo đường chính, chuyên chú tu tập chánh định.

CHƯƠNG CHÍN

TRÍ TUỆ

DÀN BÀI

I.- Người cầu giải thoát cần có tuệ giác về Không (1)

II.- Triển khai

A.Hai chân lý (2-5)

a) Phá chung các lập trường chấp thật hữu (6-15)

b) Phá Tự chứng phần của Duy thức (16-29)

c) Trả lời chất vấn (30-39)

B.Phá giải thoát cần ngộ Không (40)

C.Bát nhã tánh Không là do Phật thuyết (41-55)

a) Tu nhân vô ngã

- Phá cảnh câu sanh ngã chấp (56-59)

- Phá cảnh biến kế ngã cúng dường

* Phá phái Số luận (60-67)

* Phá phái Lý luận (68-69)

* Trả lời chất vấn (70-77)

b) Quảng thuyết pháp vô ngã

- Từ Bốn niệm xứ : thân, thọ, tâm, pháp (78-105)

- Trả lời chất vấn (106-115)

- Nhân để thành lập pháp vô ngã

* Phá Vô nhân luận (116-117)

* Phá thường nhân (118-137)

* Trả lời chất vấn (138-142)

* Thành lập duyên sinh, phá hữu vô (143-150)

III.- Khuyến tu Không tánh (151-167)

(Trong chương này, phần (trong ngoặc) là những giải thích thêm cho dễ hiểu, tham khảo các bản chú giải Hoa, Anh, Pháp)

1- Tất cả những đề mục quan yếu được đề cập ở đây đều do Phật vì muốn cho người mở mang trí tuệ mà tuyên thuyết. Người muốn chấm dứt khổ, cần phải phát sinh tuệ giác về Tánh Không.

2- Có hai sự thật : thế gian, hay thế tục đế; sự thật tuyệt đối, hay thắng nghĩa đế. Thắng nghĩa đế thì không phải là đối tượng của tuệ (phân biệt), vậy nên tuệ(phân biệt)là tục đế.

3- Trên đời có hai hạng người(kinh nghiệm về nhị đế : )thiền gia và phàm phu. (Quan điểm của)phàm phu bị thiền gia bác bỏ.(Ví dụ, phàm phu xem thân là một, tâm là thường.v.v… Thiền gia nói ngược lại bằng những lý luận như thân không phải một vì nó hay thay đổi)

4- Những thiền gia(thuộc các phái Kinh lượng, Tỳ bà sa, Duy thức, Trung quán)do năng lực tuệ giác khác nhau, cũng bị thiền gia cao hơn bác bỏ quan điểm. Với những ví dụ (về huyễn)mà thiền gia và phàm phu đều chấp nhận, (thiền gia nói những gì tâm thấy chưa chắc đã thật. Phàm phu hỏi, nếu tất cả đều không thật thì tu làm gì ? Trả lời, các pháp không thật có, nhưng)không quán sát kỹ thì vẫn thấy có, nên vẫn phải tu vì muốn đắc quả.

5-(Các pháp đều hiện hữu với thiền gia và phàm phu, tại sao có tranh cãi ? Trả lời : )Người đời thấy mọi sự đều phân biệt cho là thật, không phải như huyễn hóa, nên tranh luận với thiền gia.

6- Những cảnh hiện lượng như sắc, (thanh, hương, vị, xúc do giác quan nhận thức)đều do (người đời)cùng nhau đặt tên, không phải là trí lượng (không thật hữu theo nhận thức có giá trị, nghĩa là theo chân đế). Do vậy chúng toàn là giả, như bất tịnh cho là tịnh,v.v…

7- (Hỏi : Nếu vạn pháp không có thật tánh, thì tại sao Phật dạy các pháp có tính vô thường, chỉ hiện hữu chốc lát ? Đáp : Những lời dạy ấy cần được giải thích. Trong khi vẫn biết giả tướng của vạn pháp)vì muốn dẫn dắt người đời (cho các pháp là thực hữu), Phật dạy vô thường, nhưng kỳ thực các pháp trong sát-na cũng không thật có. (Hỏi : Nhưng vì tính sát-na này, nghĩa là mọi sự chỉ có trong thoáng chốc, phàm phu không thấy được, như vậy) không trái thế tục hay sao (dù bảo nó chỉ là giả)?

8- (Đáp : Mặc dù tính sát-na vô thường ấy không hiện rõ cho phàm phu, song vì có hiện rõ cho các thiền gia mới chứng nhân vô ngã, nên)cái thấy của thiền gia không lầm. Vì so với cái thấy thế gian (cho vạn pháp là thường, thì cái thấy vô thường của thiền gia)được cho là cái thấy chân thật. Nếu không, (nghĩa là nếu bảo người thế tục thấy đúng hơn thiền gia), thì sự quán (thân nữ nhân)bất tịnh cũng trái với cái thấy của thế gian.

9- (Cũng như ông cho) thật có công đức nhờ thờ phụng một đức Phật thật, (thì tôi cũng cho rằng)công đức như huyễn phát sinh từ một vị Phật như huyễn. (Hỏi : )Nếu hữu tình như huyễn, thì chết tái sinh về đâu ?

10- Bao lâu các duyên (điều kiện)huyễn còn phối hợp, thì huyễn cảnh còn sinh khởi. (Mặc dù phi thực, huyễn cảnh giống hữu tình ở chỗ đều khởi lên do các điều kiện hay duyên) Tại sao chỉ vì kéo dài hơn mà hữu tình thành ra thật hơn huyễn cảnh ? (Nếu vậy thì cảnh huyễn kéo dài cũng thật hơn cảnh huyễn ngắn ngủi hay sao ?)

11- Khi người huyễn sát sinh hay bố thí, vì vô tâm nên không có tội hay phước. Đối với hữu tình có cái tâm như huyễn (tạo các nghiệp thiện ác), tội phước như huyễn cũng phát sinh.

12- Những chú thuật,v.v… không có công năng làm phát sinh tâm huyễn, trong khi nhân duyên hòa hợp sẽ sinh ra các dạng huyễn vật.

13- (Có nhiều nhân sinh ra vật huyễn)nhưng không thể có chuyện một nhân mà có thể sinh ra tất cả quả. (Hỏi :)Nếu mọi hữu tình theo chân đế, thực chất là rốt ráo Niết-bàn, chỉ luân hồi sinh tử trên mặt tục đế ;

14- Thế thì Phật cũng luân hồi. Nếu vậy, hành hạnh Bồ-đề có ích gì ? (Đáp :)Nếu các nhân duyên chưa dứt thì huyễn cảnh vẫn chưa diệt. (Cũng thế, vì hữu tình chưa dứt những duyên sinh tử nên chúng vẫn còn ở trong sinh tử).

15- Nhưng (Phật đã)đoạn tuyệt tất cả các duyên (sinh tử)nên Ngài không tái sinh trong sinh tử. (Duy thức :)Nếu vọng thức cũng không, thì lấy gì duyên cảnh huyễn ?

16- (Trung quán :)Nếu theo ông, ngoài tâm không có cảnh, thì tâm thức duyên cái gì ?(Duy thức :)Mặc dù ngoại pháp không thực hữu, nhưng vẫn có cách tồn tại riêng, đó là bóng dáng của tâm thức có thật. Các cảnh tượng xuất hiện chính là tâm thể.

17- (TQ :)Nếu huyễn cảnh và thức là một, thì cái gì thấy cái gì ? Đấng Che Chở thế gian đã nói rằng tâm không thể tự thấy tâm.

18- Như dao không thể tự cắt, tâm cũng không thể tự quán tâm. (DT:)Ví như ngọn đèn tự chiếu, tâm cũng tự biết tâm.

19- (TQ :)Ánh sáng không tự chiếu, vì bóng tối không tự che.(Vì bóng tối không che được ánh sáng). (DT :)Ví dụ màu xanh của thủy tinh thì nương vật khác, còn màu xanh của vật (như lưu ly xanh) thì không nương cái gì khác.

20- Cũng thế, ta thấy vài vật thể (như bình)nương vào các yếu tố khác(như ánh sáng chiếu lên nó, thức nhận biết nó để được thấy)và không nương (như ánh sáng, lạc và khổ thì được nhận thức không cần nương cái gì. (TQ :) Ví dụ trên bất thành, vì)màu xanh của lưu ly (được nhận là xanh vừa khi nó xuất hiện) không phải là vật trước kia không xanh nay tự biến thành xanh.

21-(DT :)Nếu nói tâm thức liễu tri, thì cũng có thể nói đèn chiếu sáng. (TQ : Có thể nói đèn tự chiếu do tâm thức nhận ra điều ấy, nhưng)do cái gì nhận ra mà nói rằng tâm tự chiếu ?

22- Vì không nhận thức nào có thể thấy được tâm, nên chiếu hay không chiếu đều không thành vấn đề, chẳng khác gì bàn vẻ đẹp của con gái của phụ nữ vô sinh.

23- (DT) Nếu tự chứng phần (tâm tự biết tâm)không hiện hữu, thì tâm làm sao nhớ lại được chuyện đã qua ? (TQ :)Tâm cảnh có tương quan, nên do nhớ lại cảnh đã kinh nghiệm (mà có thể khởi lên ký ức. Ví dụ, con gấu ngủ suốt mùa đông không biết bị chuột cắn, nhưng về mùa xuân, khi nghe tiếng sấm nó tỉnh dậy và cảm thọ đau đớn. Từ cảm thọ này, nó) có thể biết đã nhiễm độc chuột. (Cách hồi tưởng của tâm cũng tương tự)

24- (DT)Người đủ tha tâm thông có thể thấy tâm thức người khác, đương nhiên có thể tự thấy rõ tâm của chính mình. (TQ) Không nhất thiết, vì khi bôi vào mắt một thứ nước phép, người ta có thể trông thấy những kho tàng chôn sâu dưới đất, nhưng chính thuốc bôi mắt quá gần thì lại không thấy.

25- (DT:Nếu tự chứng phần không hiện hữu thì các tha phần cũng không hiện hữu, nghĩa là cùng không có sự thấy, nghe.v.v… hay sao). TQ :Đây không phủ nhận những sự thấy, nghe, nhận thức (trên phương diện giả tướng). Cái điều cần ngăn chận ở đây là sự cố chấp chúng có thật, nguyên nhân của khổ.

26- (DT) Huyễn cảnh không phải là những sự vật ngoài tâm, mà cũng không thể được xem là hoàn toàn đồng nhất với tâm. (TQ)Nếu huyễn cảnh có thật thì làm sao nó không khác với tâm ? Nếu không khác tâm thì tất nhiên nó không thật có.

27- Nếu huyễn cảnh không thật, thì tâm năng kiến cũng phi thực. (TQ lập luận : Theo Duy thức, các pháp như huyễn mà vẫn có thể thấy, thì với TQ cũng vậy, tâm không thật có, nhưng trên tục đế có dạng như là năng kiến, chủ thể nhìn). (DT)Hiện hữu sinh tử (trạng thái trong đó chủ thể và khách thể xuất hiện như là có hai sự vật khác nhau một cách căn để)phải nương vào thật pháp (tâm thức thực hữu, không nhị nguyên). Nếu không, nó sẽ giống như hư không(không có tác dụng nghiệp và quả).

28- (TQ :) Nếu cái phi thực phải tùy thuộc vào một vật thể, thì làm sao nó có tác dụng (nghiệp và quả)? Kết quả là tâm thức mà Duy Thức chủ trương sẽ không có ngoại cảnh làm trợ duyên, sẽ thành một thực thể đơn độc.

29- Nếu tâm lìa các đối tượng(có thể tồn tại độc lập)thì tất cả chúng sanh đều thành Phật hết. Vậy thành lập nghĩa Duy thức rốt cuộc có lợi ích gì ?

30- (Hỏi :) Dù biết tất cả pháp như huyễn, nhưng làm sao có thể dẹp phiền não ? Ví dụ một nhà huyễn thuật tạo ra một huyễn nữ rồi đâm ra say mê nàng ấy thì sao ?

31- (Đáp :)Người tạo huyễn ấy đối với các pháp sở tri (ví dụ như phụ nữ), chưa hoàn toàn từ bỏ tập quán phiền não(tham dục), tập quán thấy Tánh Không quá yếu ớt, nên khi trông thấy huyễn nữ đâm ra ái luyến.

32- Nếu đã quen tu tập Tánh Không thì sẽ đoạn trừ được cái thói chấp các pháp là thực hữu. Và nhờ quen thuộc (với sự thật rằng) không một pháp nào thực có (dù pháp không - trống rỗng như lôøng rùa sừng thỏ - hay pháp giả, như mọi sự vật khác), sự chấp không cũng sẽ được từ bỏ luôn sau đó.

33- Khi quán sát các pháp, thấy không có pháp nào thực hữu (ta đi đến nhận định rằng)không một pháp nào thật sự tồn tại. Lúc đó, sự phi thực không còn chỗ y cứ(là thật pháp)nên nó cũng không còn ở trong tâm làm gì. (Như con trai của phụ nữ vô sinh không hiện hữu, nên cũng không có chuyện nó chết)

34- Khi trong tâm thực sự không còn tồn tại pháp hay phi pháp, thì vì không duyên các tướng sai khác, tâm hoàn toàn vắng lặng.

35- (Hỏi : Nếu tâm không duyên các pháp, làm sao Phật hành động để lợi ích cho hữu tình ? Đáp :) Những cây ước và ngọc ước dù vô tâm vẫn thỏa mãn được những ước nguyện của chúng sanh. Cũng thế, do phước đức (của chúng sanh)và do nguyện lực (của Phật khi còn tu hạnh Bồ-tát), mà chư Phật (với tâm vô phân biệt)cũng có thể hiện thân thuyết pháp.

36- (Hỏi : Nhưng nguyện Bồ-tát phải chăng đã hết hiệu lực khi Ngài thành Phật ? Đáp :) Như có người (Bà-la-môn)xây tháp chim đại bàng (để khắc phục các chất độc), khi tháp xây xong thì người ấy chết. Tuy người ấy đã chết rất lâu về trước, mà (xá-lợi Garuda do ông đã gia trì)vẫn còn tác dụng kỵ độc.

37- Cũng vậy, tính thiêng liêng của thân thể một đức Phật được thành hình phù hợp với các thiện nghiệp và lời nguyện của Ngài khi Ngài còn là Bồ-tát. Mặc dù Bồ-tát đã nhập Vô dư Niết-bàn, ý muốn lợi tha nơi Ngài đã chấm dứt, song Ngài vẫn còn thành tựu được tất cả những gì có lợi cho hữu tình.

38- (Hỏi :) Cúng dường vật vô tâm như tháp Phật thì làm sao có kết quả được ? (Đáp :) Kinh dạy, công đức cúng dường Phật lúc Ngài còn tại thế, với công đức cúng dường xá-lợi khi Ngài đã nhập Vô dư Niết-bàn, là hoàn toàn giống nhau.

39- Kinh điển đã nói rõ rằng dù trên tục đế hay thắng nghĩa chân đế, sự cúng dường đều được quả báo như nhau. Như ông chấp nhận có quả báo công đức do cúng dường Phật thật, thì chúng tôi cũng chấp nhận có công đức phi thực phát sinh do cúng dường một vị Phật phi thực.

40- (Thắng luận :) Nhờ kiến đế (tu tập mười sáu hành tướng của Bốn sự thật như vô thường.v.v…) cũng đủ giải thoát, cần gì phải thấy rõ Tánh Không hay vô tự tánh của các pháp ? (TQ)Kinh Bát-nhã dạy rằng nếu không có tuệ giác Bát-nhã liễu tri Không, thì không thực sự giác ngộ.

41- (Thắng luận : Giáo lý Đại thừa không do Phật thuyết, chúng tôi không xem đó là bằng chứng kinh điển có thẩm quyền đáng tin cậy. Đáp :)Nếu Đại thừa không đáng tin, làm sao Tiểu thừa lại đáng tin ?(Thắng luận : Kinh điển chúng tôi đáng tin) vì cả hai phái (Đại thừa và Nguyên thủy)đều xác nhận (đúng là lời Phật dạy).(TQ)Thế thì lúc đầu, khi các ông chưa chấp nhận, kinh điển ấy không phải lời Phật sao ?

42- (Thắng luận : Tuy nhiên chúng vẫn đáng tin cậy, vì chúng tôi được học kinh điển ấy từ một hệ truyền thừa thuần túy không gián đoạn. TQ :) Cái lý do khiến các ông tin kinh Tiểu thừa cũng là lý do chúng tôi tin Đại thừa, (vì Đại thừa cũng có một hệ truyền thừa không gián đoạn các vị Tôn sư.)Lại nữa, nếu các ông cho là chân lý vì có hai người chấp nhận, thì đáng lẽ các ông nên nhận luôn các tập Vệ-đà. (và kinh điển phi Phật giáo)

43- (Thắng luận :)Kinh Đại thừa không đáng tin vì bị tranh cãi. (TQ) Nhưng về bộ kinh A Hàm cũng bị ngoại đạo nêu vấn đề, và có vài kinh bị các phái Phật giáo khác tranh luận, vậy cũng nên bỏ luôn kinh A Hàm sao ?

44- Nếu các ông bảo bất cứ kinh nào nhập vào kho tàng kinh điển đều được xem là Phật thuyết, vậy đa số kinh Đại thừa cũng nhập vào ba tạng kinh điển, sao không chấp nhận ?(Vậy ba tăng thượng học cũng được dạy trong hầu hết kinh Đại thừa, đâu có khác gì kinh điển các ông, tại sao ông không nhận là lời Phật ?)

45- Nếu vì không hiểu một bộ kinh (Bát-nhã), mà phủ nhận tất cả kinh Đại thừa, cho là ngụy tạo hết, thì tại sao không vì một bộ kinh(Đại thừa)giống (kinh Tiểu thừa), mà thừa nhận tất cả kinh Đại thừa ?

46- (Thắng luận : Nếu kinh Đại thừa như Bát-nhã là lời Phật, đương nhiên các bậc đại thánh như ngài Đại Ca Diếp phải hiểu được. Nhưng vì các ngài này không hiểu, nên chắc chắn đấy không phải lời Phật dạy. Đáp : Đấy chỉ có nghĩa rằng Đại thừa vô cùng thâm thúy).Cả đến các bậc thánh như Đại Ca Diếp cũng khó thấu triệt lời Phật. Đâu có thể chỉ vì các ông không hiểu mà gạt phăng giáo lý Đại thừa ?

47- Nếu (A-la-hán) Tăng là căn bản của giáo lý (nếu giáo lý Phật cốt dành cho Tỳ-kheo A-la-hán, mà không có tuệ giác về Không)thì thánh Tỳ-kheo cũng khó sống ở đời ; và người mà tâm còn duyên các pháp thì cũng khó mà an trú Niết-bàn.

48- (Thắng luận : Mặc dù không hiểu Tánh Không,)Họ vẫn giải thoát nhờ đoạn trừ các phiền não hiện hành(nhờ tu mười sáu hành tướng của Bốn đế. TQ : Sự thật là)Những vị ấy tuy không còn phiền não (hiện hành, song các chủng tử vẫn còn tồn tại)nên công năng của nghiệp cũ vẫn còn. (Ví dụ A-la-hán như Mục Kiền Liên vẫn thọ khổ)

49- (Thắng luận : Mặc dù tạm thời họ chưa thoát khổ,)song vì không còn ái thủ nên chắc chắn họ sẽ không thọ thân sau. (TQ : A-la-hán vẫn còn một hình thức khát ái vi tế), do khát ái vô nhiễm này cũng như (phi nhiễm ô) vô minh, sao họ lại không (tái sinh với các uẩn bị nhiễm ô)?

50- Do duyên với Thọ, Ái sinh. Những A-la-hán ấy (chỉ đoạn được những phiền não hiện hành, nhưng)vẫn còn thọ. Vì tâm thức còn duyên pháp, nên trong đó còn thọ (khi còn chấp các pháp là thật hữu).

51- Nếu tâm lìa xa tuệ quán về Không, thì(mặc dù những phiền não lộ liễu có thể tạm thời) diệt, chúng vẫn sinh trở lại. Như trong định Vô tưởng, (các phiền não tạm lắng chỉ để khởi lên lại khi xuất định).Bởi vậy, (bất cứ ai muốn chấm dứt khổ đều)phải tu quán Tánh Không.

52- (Khi thiền quán về Không,) Bồ-tát hết tham ái và lo sợ, vận dụng bi và trí ở lại trong sinh tử để cứu độ những người khổ vì vô minh. Đó là kết quả của sự liễu ngộ Tánh Không.(Tức là thành tựu lợi lạc bất khả tư nghì cho kẻ khác bằng cách giải thoát chúng ra khỏi hai cực đoan là tham vui và sợ khổ sinh tử)

53- Chớ nên vì không hiểu Tánh Không rồi tùy tiện bài bác chê bai, mà nên dứt nghi hoặc, tu tập Tánh Không một cách như lý.

54- Tánh Không có thể chữa trị hai chướng ngại, là phiền não chướng và sở tri chướng. Thế thì sao những người mong muốn nhanh chóng thành Phật không chịu thiền quán về Không ?

55- (Phản đối : Tôi không muốn thiền quán về Không, vì nó làm tôi sợ hãi. Trả lời :) Chấp thật hữu mới phát sinh đau khổ, ấy mới là đáng sợ. Nhưng tại sao lại sợ thiền quán Tánh Không, khi nó làm lắng dịu mọi khổ đau ?

56- Nếu thật có một bản ngã, thì còn có lý để sợ một đối tượng nào đó, nhưng vì không có một cái ngã như vậy, thì ai ở đấy mà sợ hãi ?

57- Răng, tóc và móng không phải ngã ; ngã cũng không phải là xương hay máu, đàm, mũi nước, mật, thịt.

58- Ngã không là mỡ, mồ hôi, phổi, gan hay bất cứ nội tạng nào, cũng không là phân hay tiểu.

59- Thịt, da không phải là ngã ; hơi ấm, mạch, khí, không phải ngã ; trăm lỗ hổng trong cơ thể cũng vậy ; sáu thức đều không là ngã. (Lý do là vì cả sáu loại tâm lý đều vô thường, không độc lập)

60- (Phá Số luận :)là một học thuyết phi Phật giáo do Rishi Kapila thành lập vào Ấn Độ thời cổ, tin rằng mọi hiện tượng - trừ cái ngã trường cửu bất biến - được tạo thành từ một thần ngã Prakrti hay là thực chất tối sơ thấm khắp mọi sự. Khi tiếp xúc với thực chất này thì một loạt những biểu hiện như tri thức, cảm quan và đối tượng cảm giác phát xuất từ đấy và được cái ngã cảm thọ. Thực chất tối sơ là một chất liệu trường cửu, phổ biến tạo nên mọi sự và là bản chất của các pháp trong thế giới kinh nghiệm. Ngã là nguyên lý tâm bất biến trở nên liên kết với ngoại giới do sự đồng nhất sai lầm của nó với biểu hiện của thực chất tối sơ.(TQ :)Nếu thanh thức là thường trú thì đáng lẽ phải luôn luôn nghe(dù khi không có âm thanh. Nhưng vì thanh thức tùy thuộc vào âm thanh)nếu không có âm thanh làm đối tượng, thì vì lý do gì (và do nhận thức đối tượng gì) mà nó được gọi là thanh thức ?

61- Nếu khi không có thức (về âm thanh)mà vẫn có thể biết được(âm thanh), thì một khíc gỗ cũng biết (nghe tiếng). Bởi thế, ta có thể khẳng định rằng nếu không có đối tượng, thì cũng không có cái biết.

62-(Số luận : Khi không có âm thanh, thì cái thường ngã lại biết về sắc). (TQ :)Nếu thế thì tại sao lúc đó (cái thức biết về sắc)lại không nghe ? (Số luận : Vì lúc đó không có âm thanh gần kề), (TQ :) Nếu bảo không có âm thanh gần kề, thì nên biết lúc đó thức (về thanh)cũng không.

63- (Số luận : Lúc đó thức biết thanh chuyển ra biết sắc. TQ :)Nhận thức về thanh làm sao thành nhận thức về sắc được ? (Số luận :) Như người thành(con đối với)cha, (thành cha đối với)con. (TQ : Một người vừa là cha vừa là con)Thế là giả danh, không chân thực.

64- Ba đức ưu, hỷ, ám (nguyên lý thực hữu tạo nên mọi sự vật theo Số luận : rajah đây dịch là ưu, sattva dịch là hỷvà tamah dịch là ám. Có nhiều cách dịch khác)thì không thể là cha hay con được. Ngoài ra, ba đức ấy không sẵn có tính chất nhận thức âm thanh, vì (trong ba đức)ta chưa từng thấy tính chất ấy.

65- (Số luận : Như một diễn viên đóng nhiều vai, cái thức về âm thanh cũng làm vai trò biết sắc. TQ :)Nếu được thấy dưới nhiều trạng thái khác nhau như vậy, thì thức không thể là trường cửu (vì nó cứ tiếp tục biến thành cái khác mãi. Số luận : Mặc dù thức xuất hiện theo nhiều cách, bản chất nó vẫn là một và trường cửu.( TQ :)Nếu là nhất thể mà đa dạng, thì điều ấy chưa từng có. (Ông chưa từng xác nhận một sự đồng nhất nào về bản chất như thế trước đây).

66- (Số luận : Thức xuất hiện theo nhiều cách khác nhau, và mặc dù những sắc thái khác nhau ấy không thật, song bản chất của chúng thì đồng nhất và thực hữu. (TQ :) Nếu các sắc thái khác nhau là phi chân, thì bản chất (đồng nhất và chân thực)là cái gì vậy ? (Số luận : Chính cái thức.(TQ :)Nếu thức là bản chất đồng nhất và thực hữu, thì (hóa ra)tất cả chúng sanh thành một.

67- Hơn nữa (như thế thì cái ngã có ý hay thần thức)hữu tâm và (tự tánh)vô tâm (tức nguyên lý tối sơ không có ý)cũng là một, vì cùng là trường tồn, thực hữu, (nhưng)khi những hình thái khác nhau của nó(nhận thức về thanh sắc, v.v...)đã là vọng, thì làm sao chúng lại có cùng một chỗ nương chân thực (là một cái thức ? Không thể có chuyện khía cạnh chung là thật, còn các khía cạnh riêng thì lại giả).

68- (Naiyayika, thường kiến, chấp nhận có một pháp trường cửu bất khả phân trong bản thể con người gọi là tự ngã. Tự ngã này có thể kinh nghiệm các đối tượng vì nó có một tâm thức riêng.) (TQ : Hơn nữa, một pháp) Vô tâm cũng không thể là ngã (kinh nghiệm các đối tượng), vì vô tâm thì cũng như cái bình.(Thường kiến : Mặc dù bản chất là vô tri)khi có đối tượng thì tâm bèn có hay biết. (TQ : Điều này phi lý, vì khi một tự ngã, mà bản chất là vô tri)trở thành hay biết (về sự vật) thì (cái ngã)vô tri diệt mất (không trường cửu như ông chủ trương.)

69- Nếu ngã là thường hằng bất biến, thì tâm có ích gì đối với nó ? Nếu (ngã) vô tri, lìa các tác dụng (không ảnh hưởng gì trên cái tâm hay thay đổi và có hiểu biết), thì hư không cũng là ngã vậy.

70-(Hỏi :)Nếu ngã không thật có, thì tương quan giữa nghiệp và quả thành phi lý, (Thuyết nhân quả cho rằng người tạo nghiệp phải chịu hậu quả của các nghiệp mình đã làm, không thể đứng vững, vì) nghiệp tạo xong đã diệt mất, còn ai chịu hậu quả của nghiệp ?

71- (Đáp : Căn bản để)Tạo nghiệp và thọ quả(tức năm uẩn đời này và các uẩn sẽ thọ quả dị thục về sau), là (những trạng thái hiện hữu)khác nhau, vào lúc thọ báo thì người tạo nghiệp đã mất. Điều này cả ông lẫn tôi đều xác nhận, (khi ông chủ trương có ngã trường cửu không chịu quả báo, và chúng tôi chủ trương vô ngã, không có người tạo nghiệp, cũng không có người chịu quả báo), vậy thì còn gì để tranh luận về điểm ấy ?

72- (Bác : Nhưng còn về những nghiệp hiện báo thì sao ? Chúng không có các uẩn khác nhau, những căn bản tạo nghiệp và thọ báo. Đáp : Tuy thế), Trong lúc gieo nhân, không thể nào đồng thời thấy được quả, (cũng như cha và con không thể sinh ra một lượt. Bác : Nhưng trong kinh có nói : “Làm sao người này tạo nghiệp mà một kẻ khác lại thọ hưởng quả báo của nghiệp ? Hỡi các Tỳ-kheo, các nghiệp ngươi đã tạo và tích lũy sẽ không chín trên những pháp khác như là địa đại bên ngoài, mà chín ngay trên các uẩn tương lai do tâm ngươi chấp thủ, nghĩa là)Phật dạy trên cùng một tương tục ấy, người gây nghiệp phải chịu (quả báo. Vậy phải chăng ông nói trái lời kinh, theo đó thì ai làm nấy chịu ? Đáp : Lời kinh phải được giải thích như sau : Phật khi xét đến dòng tương tục của một người, đã dạy ai làm nấy chịu để ngăn người ấy chối bỏ định luật nhân quả. Nhưng kỳ thực không vậy, vì không có một cái ngã trường cửu. (Hỏi :) Nhưng tại sao không có ngã trường cửu ?)

73- (Đáp :)Tâm quá khứ, tâm vị lai đều không, nên không phải ngã. Nếu tâm sinh khởi trong hiện tại là ngã, thì khi nó diệt ngã cũng mất luôn.

74- (Với luận cứ này, cả năm uẩn đều không phải là ngã, chỉ) Như thân cây chuối khi được lột ra từng bẹ thì không còn gì. Cũng vậy, dùng tuệ quán để tra tìm ngã thì sẽ thấy nó không thật. (Không có một cái ngã nào trong năm uẩn)

75- (Hỏi :)Nếu hữu tình không thực có, thì khởi tâm thương xót ai ? (Đáp :)Người lập thệ thành Phật chỉ vì ngu si nên giả lập ra chuyện hư huyễn đó.

76- (Hỏi :)Nhưng nếu không người (nếu hữu tình không thực có), thì ai chứng quả ? (Đáp : Đúng thế, theo chân lý tối hậu, quả thực không có chúng sanh, không có đại bi và kết quả, nhưng về mặt giả danh)Do cái tâm còn si mà thấy có đắc có chứng. Nhưng vì muốn dứt khổ cho chúng sanh, không nên từ bỏ sự ngu si ấy.

77- (Bác : Vì tâm đại bi đã là một tâm trạng chủ quan, thấy các pháp một cách sai lạc, một tâm thức mê mờ về các pháp, đương nhiên cũng đáng bỏ như bỏ tâm mê muội về bản ngã. Đáp : Cái cần bỏ trước hết là ngã mạn, vì)Ngã mạn là cái nhân của thống khổ, khiến cho sự mê muội về ngã càng tăng. Nếu ông bảo không thể trừ được (ngã mạn) thì quán vô ngã là cách tốt nhất.

78- Thân thể không là bàn chân ; đùi, vế, eo, bụng, lưng, ngực, vai.v.v… cũng chẳng phải thân.

79- Xương sườn, bàn tay không phải thân thể ; nách, gáy, các nội tạng không phải thân thể, đầu cổ đều không phải thân thể. Vậy trong đây có cái gì thực sự là thân ?

80- Nếu nói thân thể ở trong mọi thành phần và ở cùng khắp mọi phương hướng, (thì sai, vì)mỗi phần đều ở vị trí riêng của nó, còn cái thân ở chỗ nào ?

81- Và nói toàn bộ cái thân ta ở trong mỗi phần tử như bàn tay.v.v… thì có bao nhiêu phần tử phải có bấy nhiêu thân.

82- Nếu thực sự không một thân thể nào hiện hữu bên ngoài hay bên trong (các thân phần), thì làm sao bàn tay .v.v… lại có một cái thân được ? Ngoài tay.v.v… không có vật gì khác, thì làm sao có thân thể kia ?

83- Vậy, thân thể không thực hữu, nhưng vì ngu mê mà khởi lên cái thấy sai lầm, chấp tay chân.v.v… là thân thể. Cũng như (trong bóng tối)nhân đống đá hình dạng đặc biệt mà thấy thành con người.

84- Như đống đá vẫn còn trông như người, bao lâu những điều kiện (duyên) còn nhóm họp để làm phát sinh sự nhầm lẫn ấy, cũng thế, bao lâu tay chân.v.v… vẫn còn, thì còn thấy dường như thực có một cái thân.

85- Cũng thế, vì các ngón còn tụ hội mà thành bàn tay(.v.v…), chứ bàn tay (v.v…) là cái gì ? Các vật họp thành (bàn tay.v.v…) này lại cũng là một tập hợp (các yếu tố khác nữa, như : lóng, đốt). Tập hợp này cũng (không thực hữu, vì)còn có thể chia chẻ thành những phần tử.

86- Cũng vậy, khi các phần tử này được chia chẻ cho đến thành những vi trần (hạt nguyên tử), và hạt được chia thành phương phần, thì những phương phần này được thấy là không thực sự tồn tại, như hư không.

87- Bởi thế, người có trí nào lại còn tham cái thân như mộng ảo này ? Cái thân đã không thực có, thì làm gì có tướng nam hay nữ ?

88- (TQ)Nếu khổ thọ là thật, thì tại sao (cũng có lúc)hết sức vui ? Nếu lạc thọ là thật, thì tại sao những người quá lo sầu khổ não (về tâm và thân)không thích thú gì dù được(thực phẩm hay những thứ)ngọt bùi ?

89- Nếu bảo vì khổ đau cường liệt nên không cảm nhận được lạc thọ, (thì không đúng). Vì cái gì chưa được thâu nhận (vào thân tâm, chưa trải nghiệm) thì làm sao gọi là thọ được ?

90- (Đáp :)Nó vẫn là một cảm thọ, như trong khi rất vui vẫn còn có khổ thọ vi tế. Không phải cái vui lớn đã trừ khử sự khổ tương đối nhỏ sao ? Khổ vi tế này cũng thuộc loại vui nhỏ.(TQ) Nếu vậy nó thành ra lạc, đâu còn gọi là khổ ?

91- Nếu bảo khổ thọ không thể sinh (nơi tâm người nào) (trong tâm ấy)đang khởi lên pháp ngược lại, thì điều này thực không đứng vững. (Xem một cái gì chưa xảy ra)là cảm thọ không phải là chấp trước sai lầm sao ?

92- Bởi thế,(muốn trừ diệt sai lầm ấy)cần đào luyện quán tuệ, thấy rõ tánh phi thực của các pháp. Trong thửa ruộng tốt của quán tuệ sẽ có thức ăn nuôi lớn trí tuệ thiền giả.

93- (Tiếp theo là bác bỏ sự phi thực của Xúc, nhân của Thọ. Trong ba đoạn đầu, từ 93 đến 95, luận cứ được chĩa vào những người chủ trương có các hạt nguyên tử không thể phân chia). (TQ)Nếu ở giữa căn và trần cảnh (ví dụ mắt và sắc)có khoảng cách, thì làm sao hai cái có thể gặp nhau ? Nhưng nếu không có khoảng cách thì căn trần thành một, còn cái gì gặp gỡ cái gì ?

94- Vi trần với vi trần (nghĩa là những hạt nguyên tử không phân chia thuộc căn như mắt và hạt thuộc cảnh như sắc,) không thể thâm nhập lẫn nhau vì giữa chúng không có khoảng cách, và vì chúng có kích thước bằng nhau. Không vào trong nhau thì không thể hòa hợp được, và không hòa hợp thì không thể gặp nhau.

95- Nhưng nếu nói một hạt này gặp hạt kia ở một phía nào đó, thì thực vô lý khi đã chủ trương thực có những hạt không thể phân chia(nghĩa là không có phía nào cả. Nếu có một phía gặp nhau được, thì thành ra hạt nguyên tử có một phía có thể gặp gỡ và một phía không thể gặp, thế đâu còn là không thể phân chia). Nếu ông thấy có những hạt nguyên tử không thể phân chia mà vẫn có thể gặp nhau, thì làm ơn chỉ cho xem.

96- Với ý thức không thuộc vật chất cũng vậy, bảo rằng nó có sự xúc tiếp(với căn, thuộc vật lý)là phi lý. Nếu bảo (mặc dù không có sự gặp gỡ vật lý, vẫn có)một nhóm họp (giữa căn, trần và thức để phát sinh nhận thức, thì)như chúng tôi đã phân tích, cái gì do nhóm họp mà thành thì cũng không thật.

97- Nếu Xúc đã không thực hữu, thì (quả của nó là)cảm thọ từ đâu sinh ra ? Cần gì phải nhọc sức theo đuổi (lạc thọ)? Và khổ nào làm hại người nào ?

98- Khi đã thấy không thật có con người cảm thọ, và cảm thọ cũng không thật, thì tại sao tham ái (đối với lạc thọ)không tiêu diệt ?

99- Tất cả những gì được thấy, được chạm xúc đều không thực hữu, bản chất như huyễn như mộng. Cảm thọ là một tâm sở khởi lên đồng thời với tâm, nên tâm không thể thấy nó (một cách khách quan.)

100- Một niệm sinh sau chỉ có thể nhớ lại (các tâm về trước, và mong ước các cảm thọ về sau), nhưng không thể trải nghiệm bản thân cảm thọ hiện tiền (vì chúng hoặc đã diệt, hoặc chưa sinh). Cảm thọ không thể tự trải nghiệm chính nó, cái khác cũng không thể kinh nghiệm cảm thọ.

102- Do vậy, không thật có người kinh nghiệm các cảm thọ và cũng không thật có các cảm thọ. Vậy làm sao cái cảm thọ huyễn hóa đó có thể làm hại các uẩn vô ngã này ?

102- Tâm ý không ở trong căn như mắt, không ở nơi đối tượng như sắc, cũng không ở giữa hai thứ ấy. Nó không ở trong hay ngoài (thân thể), hay bất cứ chỗ nào khác.

103- Tâm này không phải thân thể, cũng không khác thân thể ; nó không lẫn với thân, cũng không lìa thân. Vì nó tuyệt đối không thực hữu, nên bản chất hữu tình vốn đã là Niết-bàn tịch diệt.

104- Nếu lìa cảnh vẫn có các thức, (nếu các thức có trước các đối tượng của chúng)thì thức sinh do cái gì ? Nếu thức cùng sinh một lượt với cảnh (đối tượng) thì nó đã sinh rồi sao còn đợi duyên (cảnh) ?

105- Nếu sau khi cảnh sinh, thức mới sinh (thức sinh sau đối tượng), thì (khi thức sinh, cảnh đã diệt)thức duyên cái gì để sinh ? Vậy cho nên cần biết rằng, không thực có sự sinh khởi các pháp.

106- (Bác :)Nếu (các pháp vốn không sinh, nghĩa là)không có tục đế, làm sao có hai sự thật (trong truyền thống Trung quán)? Nếu tục đế chỉ do đối phương chấp thực hữu mà lập ra, thì hữu tình làm sao đạt Niết-bàn ? (Dù có người đạt, Niết-bàn ấy cũng bị kẻ khác cho là tục đế, có sinh diệt. TQ : Thật có cái Vô sinh (Niết-bàn), nhưng người không hiểu biết có thể xem Niết-bàn là có sinh diệt. Nhưng không phải vì tà kiến cho rằng Niết-bàn là tục đế, mà Niết-bàn không hiện hữu. Không thể vì sự mê lầm của người mà sự thật trở thành giả dối).

107- (TQ :) Tục đế ấy chỉ là phân biệt của người khác (chưa ra khỏi phiền não), không phải tục đế mà chúng tôi muốn nói. Sau (khi liễu ngộ các pháp không tự tánh, có thể dùng cái biết chính xác để)quyết định (là Niết-bàn) hiện hữu, (thì khi ấy Niết-bàn sẽù hiện hữu như thế tục hữu). Nhưng vì quan niệm sai lầm này không hiện hữu trong tâm người đã chứng Niết-bàn, nên Niết-bàn không phải tục đế.

108- (Bác :)Vì tâm năng quán và đối tượng bị quán phụ thuộc lẫn nhau mà tồn tại (nên nếu đối tượng không thì tâm cũng không, và sự phân tích của ông vô lý. (TQ :) Đúng, đối tượng không thật nên tâm cũng không thật, nhưng điều ấy không khiến cho sự phân tích thành vô lý :)Tất cả sự quán sát phân tích đều nương vào tên gọi và nhận thức của thế gian (tức tục đế, còn trên phương diện chân đế thì tâm cũng không thực).

109- Nếu cần một tâm khác để phân tích cái tâm phân tích Tánh Không kia, thì tâm ấy cũng lại phải được phân tích bằng một tâm khác nữa. Quá trình này sẽ không bao giờ chấm dứt, (nên mục tiêu căn để của sự phân tích là thấy được Tánh Không, sẽ không bao giờ được xác định).

110- Khi đối tượng của sự phân tích đã được hiểu rõ (và được xác lập là trống rỗng), thì cái tâm phân tích không còn nương vào cái gì để tồn tại. Vì không đối tượng nên tâm cũng không sinh, đây chính là Niết-bàn.

111- Những người(phái duy thực)chủ trương tâm và cảnh đều thật có, lập trường họ rất khó đứng vững. Nếu cảnh là do thức mà có, thì thức do cái gì mà có ?

112- Nếu thức do cảnh mà có, thì cảnh do đâu mà có ? Tâm và cảnh đã đối đãi nhau mà tồn tại, thì đương nhiên cả hai đều không thực hữu.

113- Như không có con thì không được gọi là cha, không có cha thì con từ đâu sinh ? Trong cả hai trường hợp đều không thể có cha con gì cả. Cũng tương tự, tâm và cảnh đều không thực hữu.

114- (Duy thức : Trái lại, nhờ tùy thuộc mà ta có thể xác định sự vật là thực có). Ví dụ, do mầm cây phát sinh từ hạt giống mà ta có thể hiểu thật có hạt giống. Cũng vậy, từ tâm thức do cảnh (đối tượng) sinh, ta biết thực có cảnh.

115- (TQ : Đấy không phải cùng một chuyện). Nương vào một tâm thức khác với mầm cây để thấy biết mầm cây mà suy ra hạt giống, nhưng khi tâm biết cảnh thì căn cứ vào cái gì để biết có tâm ?

116- (Phái Vô nhân chủ trương rằng tất cả pháp không do nhân gì sinh ra, họ bảo : “Mọi sự vật, như mặt trời mọc, nước chảy xuống núi, hạt đậu tròn, gai nhọn và lông đuôi con công… không do ai làm ra cả, chúng tự nhiên sinh”. TQ : nói vậy là không thể chấp nhận được, vì)Người thế gian cũng có thể thấy rõ mọi sự vật đều có nguyên nhân, như rễ, cọng hoa sen đều do các nhân khác nhau sinh ra.

117- (Hỏi :)Ai làm ra sự khác giữa các nhân như vậy ? (Đáp :)Ấy là do sự sai khác của những nhân trước nữa. (Hỏi :)Nhưng nhân vì sao lại sinh quả ?(Đáp :)Điều này là do năng lực của một nhân trước đấy.

118- (Thường luận tin rằng mọi sự do thần Tự Tại thiên sinh ra, vị này có năm đức là thiêng liêng, trong sạch, đáng kính, trường cửu, độc nhất và là sáng tạo chủ của mọi sự. TQ :)Nếu ông cho thần Tự Tại là nhân của vạn sự vạn vật, thì làm ơn cho biết thần Tự Tại thiên là ai vậy ? (Thường luận : Ngài là các đại chủng đất, nước, lửa, không khí và không gian. TQ :)Quả thực các yếu tố ấy là nhân của mọi sự được sinh thành, nhưng cần gì phải chấp cái tên (Tự Tại thiên)?

119- Lại nữa, các đại chủng (đất, nước,…) đều vô thường, (nhiều loại,) trơ lì, không có gì linh thiêng, là vật không sạch, thường bị dẫm đạp, chắc chắn không thể là trời thần gì cả.

120- Không gian cũng thế, không phải tự tại vì nó bất động, ngã cũng không phải tự tại, vì điều này đã được bác bỏ rồi. Nếu nói (đấng ấy)không thể nghĩ bàn thì nói tới ông để làm gì ?

121- Hơn nữa, (làm ơn cho biết)thần Tự Tại ấy sản sinh ra những quả gì ? (Thường kiến :)Ngài tạo ra tự ngã, các đại chủng và sự tương tục của chính ngài.(TQ :)Nhưng không phải đại chủng là trường cửu sao ? (Nếu bây giờ lại nói chúng được tạo, thì thành mâu thuẫn). Thức tâm (không được tạo bởi thần Tự Tại, một phần của nó)khởi lên từ những đối tượng sở tri.

122- Và (phần kia, bản chất thuần túy của nó), thì do nghiệp từ vô thủy. Nếu nói nhân (trời Tự Tại)không có khởi thủy, thì sao quả (mọi sự vật)lại có bắt đầu ?

123- Đã là Tự Tại thiên thì không nương vào vật gì khác, vậy sao không thường sáng tạo (mọi sự vật)đi ? Nếu bảo tuy tự tại song cũng cần duyên, thì duyên ấy do đâu mà có, (khi tất cả đều do thần tạo)?

124- Nếu nương các duyên nhóm họp mà sinh, thì nhân sinh ra mọi sự vật chính là sự nhóm họp ấy, chứ không phải trời. Nhân duyên tụ hội thì nhất định sinh quả, không tụ thì không có năng lực sinh ra quả.

125- Nếu mọi sự vật không do ý muốn của trời Tự Tại sinh, thì phải do năng lực (nhân duyên) khác sinh. Ngược lại, nếu do ý muốn của trời mới thành, thì vị ấy vô thường, khi muốn vầy, khi muốn khác.

126- (Thắng luận chủ trương)Vi trần nhân thường hằng tạo nên muôn vật, thuyết này đã bị bác trên đây (hạt vi trần cũng không thực hữu). Số luận cho rằng có một chủ thể trường cửu là nhân tạo nên chúng sanh.

127- Chủ thể ấy là trạng thái quân bình của ba đức :(S.triguna)lạc (sattva), ưu (rajah)và ám (tamah), ba đức ấy mất quân bình thì biến thành chúng sanh.

128- Một thể mà có ba tính là điều phi lý, nên chủ thể ấy cũng không tồn tại. Cũng vậy, ba đức không thực có, vì (theo Số luận, cái gì có ra cũng lại phải đủ ba đức)mỗi cái lại phải gồm ba.

129- Nếu không thực có ba đức(nguyên chất)thì (những gì được tạo thành như)thanh, (sắc.v.v…) vĩnh viễn không được nghe, (thấy,v.v…). Lại nữa, những vật vô tâm như y phục.v.v… cũng không có gì là lạc(khổ,v.v…, nghĩa là ba đức).

130- (Số luận :)Những vật ấy(như y phục,v.v…)có đủ bản chất như nhân của chúng (là lạc, khổ…). Nhưng điều này không phải đã bàn qua rồi đấy sao ? (Như trên đã nói, vạn pháp như thân thể, y phục,.v.v…không gì là thực hữu). Lại nữa, theo Số luận, nhân (các pháp)có ba đức (nhưng)ba đức ấy không sinh ra (vật chất như vải vóc,…) y phục.

131- (Ngược lại, theo tục thì chính y phục sinh lạc, khổ.)Nhưng nếu vải (y phục,v.v…) cái nhân sinh ra lạc khổ.v.v… (đã được phân tích)là không, thì (quả của nó là)lạc (v.v…) cũng không. Kết luận, tính thường hằng của ba đức (mà Số luận chủ trương)hoàn toàn không thể có.

132- Nếu lạc,.v.v… là thường hằng, thì tại sao không có lạc nào trong lúc đau khổ ? Ông bảo rằng lúc ấy lạc bị suy giảm, nhưng (một cái đã được ông cho là thường thì)tại sao lại có lúc mạnh lúc yếu ?

133- Một thứ lạc (khổ,v.v… có thể)từ bỏ tình trạng thô (cường liệt)để chuyển thành vi tế (yếu ớt)như vậy, thì đương nhiên là vô thường. Sao không thừa nhận tất cả pháp (hữu vi) là vô thường đi ?

134- (Số luận cãi : Mặc dù các trạng thái thô và tế của lạc là vô thường, nhưng bản chất của lạc là thường hằng. TQ :)Những trạng thái thô(tế,v.v… ấy của lạc)không khác gì với (bản thân của)lạc (tướng và tánh không hai), nên hiển nhiên lạc là vô thường. Ông cho rằng từ cái nhân là không, thì không thể sinh ra cái gì cả.

135- Tuy ông không nhận(quả)rõ rệt được sinh ra (nhưng lại nhận rằng quả ấy)tồn tại (ẩn tàng trong nhân). Nếu trong nhân mà có quả thì ăn thực phẩm cũng thành ăn đồ bất tịnh.

136- Và ông nên mua và mặc những hạt bông vải thay vì mua vải mặc. (Số luận : Mặc dù sự vật quả tình hiện hữu theo cách ấy, người mê trên thế gian không mặc hạt bông vải, vì họ không thấy y phục trong những hạt bông vải. TQ : Nhưng ngay cả Kapila - nhà sáng lập truyền thống Số luận - mà ông cho là bậc thầy chân lý cũng mặc y phục chứ đâu có mặc hạt bông vải.)Ông bảo kẻ ngu chưa khai ngộ không thấy điều này (quả trong nhân), nhưng những gì mà bậc (Tổ sư Số luận)thấy biết chân lý đã lập ra,

137- Thì đáng lẽ người thế gian cũng nên biết qua mới phải. Tại sao họ không thấy quả (trong nhân)? Nếu cái thấy của họ không đúng lý, thì những gì họ thấy biết đều không chân thật.

138- (Số luận :)Nếu (theo Trung quán)mọi nhận thức đều vô giá trị (sai, phi lượng), thì kết quả nhận thức (của Trung quán, là Tánh Không)không phải cũng sai hay sao ? Bởi thế, sự tu tập Tánh Không của các ông đương nhiên là sai lầm.

139- (TQ :)Khi chưa thấy rõ sự thật là có sự bày đặt (hư cấu)của vô minh, thì không thể xem sự thật ấy là không có. (Nhưng khi nào)sự thấy thật có(các pháp)đã được nhận ra là vọng, thì ngay cả ý niệm “không gì thực hữu” cũng giả lập mà thôi. (Bản Anh và Pháp dịch đoạn này như sau : Nếu không nhậnra tính thực hữu mà tâm đã gán cho sự vật, thì ta sẽ không nắm được tánh phi thực, tánh không của nó. Như chưa nghĩ đến đứa con của một phụ nữ vô sinh thì ta không thể xét đến cái chết của nó. Và vì tánh phi thực tùy thuộc vào thực hữu, nên sự phủ nhận cái thấy thực hữu cũng là giả lập. Dù sao, sự quán Tánh Không là hợp lý vì nó chữa trị sự chấp hữu)

140- Ví dụ, mộng thấy con chết, rồi nhớ lại mình chẳng có đứa con nào, ý nghĩ của người chiêm bao về sự không con có thể khiến cho ý nghĩ có con chấm dứt. (Mặc du ý nghĩ về sự phi hữu của đứa con là giả, vẫn có thể nhờ đấy mà từ bỏ ý nghĩ thật có đứa con.)

141- Khi phân tích như vậy, thì không thấy một sự vật vô thường nào có ra mà không có nguyên nhân, cũng không thấy một nhân duyên riêng lẻ nào, hay một tập hợp nhân duyên nào (đã hiện hữu từ khởi thủy, nghĩa là không có nguyên nhân đầu tiên).

142- (Các pháp ngoài nhân duyên ra)cũng không sinh từ cái gì khác(không từ đâu đến), không ở lại, không đi về đâu. Cái gì đã do tâm mê muội ngu si chấp là thật hữu, thì có khác gì với vật huyễn ?

143- Những vật được làm xuất hiện do huyễn thuật(như voi, ngựa…)và do nhân duyên (như sắc pháp.v.v…), phải được quán xét kỹ(lúc sinh)chúng từ đâu đến, và (lúc diệt) cuối cùng chúng đi đâu ?

144- Khi còn nhân duyên tụ hội thì thấy có các vật, hết nhân duyên thì hết thấy. (Vì là một sản phẩm của nhân và duyên như thế, nên mọi sự)giả dối hư vọng như bóng trong gương, đâu có vật gì tồn tại chân thật ?

145- (Bác thuyết hữu nhân, vô nhân :)Nếu các pháp thật sự đã hiện hữu thì cần gì tìm nhân. Nếu các pháp vốn không, thì cũng đâu cần tìm nguyên nhân của chúng ?

146- Dù vạn ức nhân cũng không thể biến đổi một cái không thành cái có. Nếu cái Vô giữ nguyên trạng (vô trường cửu)thì làm sao biến thành hữu được ? Nếu Vô (mất nguyên trạng nó), thì cái gì (có thể tách ra từ không để)trở thành hữu ?

147- Nếu vào lúc ở trạng thái Vô, không có Hữu, thì lúc nào mới thành Hữu ? Khi Hữu chưa sinh thì nó chưa tách khỏi Vô.

148- Nếu chưa tách khỏi Vô, thì không có cơ hội để cho Hữu khởi lên. (Ngược lại)Hữu cũng không trở thành Vô được, vì như vậy thành ra nó có hai tính chất(vừa Hữu vừa Vô).

149- (Như vậy), diệt không có thực chất của diệt(hay không), hữu (hay sinh)cũng không có thực chất của sinh. Cho nên tất cả chúng sanh rốt ráo không sinh diệt.

150- Khi quán sát kỹ(thì thấy)chúng sanh chỉ như huyễn, như mộng, như cây chuối. (Chúng không hiện hữu thực thụ)nên Niết-bàn với không Niết-bàn, thực chất không khác nhau. Trong Không, có gì để được và có gì để mất ? Ai là người kính lễ tôi hay phỉ báng tôi ?

151- Vậy nên trong Không, làm gì có được và mất ? Ai là người cung kính ta ? Ai là người khinh miệt ta ?

152- Đau khổ và hạnh phúc xuất phát từ đâu ? Có gì để vui, có gì để lo buồn ? Trong bản chất tối hậu, ai là người tham ái, và có gì để tham ?

153- Xét kỹ trên nhân thế, ai sắp đi khỏi cuộc đời này ? Ai đã sinh ra ? Bằng hữu thân quyến thực chất là gì ?

154- (Hỡi người đi tìm sự thật), xin hãy cùng tôi nhận chân rằng vạn sự như hư không. Những nười đi tìm hạnh phúc do đấu tranh mà sinh ra những vui buồn tán loạn.

155- Họ chỉ có chuốc lấy những lo khổ, cãi cọ nhau, đâm chém, giết hại nhau, và do tạo tội mà phải bị đọa những cảnh sinh hoạt khốn cùng.

156- Mặc dù đôi khi được sinh vào cõi lành, thụ hưởng nhiều hạnh phúc và lạc thú, nhưng khi chết họ lại rơi vào đọa xứ, trong một thời gian dài chịu những khổ khó nhẫn.

157- Ba cõi thật là nơi có quá nhiều nguy hiểm. Người không hiểu biết chân lý tối hậu đưa đến giải thoát thì chẳng khác nào bị cột trói vào đấy. Hơn nữa, mê (thấy thực hữu)và ngộ(liễu tri Tánh Không) trái ngược nhau. Nếu còn ở trong sinh tử, thì ta vẫn không nhận ra được chân lý tối hậu này.

158- Ta sẽ tiếp tục trải qua những thống khổ khó kham, vô biên như biển lớn. Khổ thì nhiều mà năng lực thiện hành quá yếu, mạng sống lại ngắn ngủi.

159- Ta lại phải vì thân mạng mà miễn cưỡng chịu đói khát, mệt nhọc, thống khổ ; chỉ quan tâm đến ăn ngủ, bị kẻ khác làm hại, giao du với kẻ ác và làm những chuyện vô nghĩa.

160- Một đời sống vô nghĩa trôi qua thật nhanh chóng. Thật vô cùng khó để có được tuệ quán về Tánh Không. Trong đời này có phương pháp nào để trừ diệt cái thói quen tán loạn ?

161- Ác ma lại đang nỗ lực dẫn dụ chúng ta rơi vào những cõi bất hạnh lớn lao. Ngày nay có nhiều tà đạo, và thực khó mà vượt qua những hoài nghi về chánh pháp.

162- Thực khó mà được lại (thân người) nhàn rỗi. Phật ra đời lại càng khó gặp. Dòng sông mê không dễ dứt. Than ôi, hữu tình sẽ tiếp tục đau khổ mà thôi.

163- Ôi quả đáng thương xót hữu tình đang trôi giạt trong dòng sông mê, (tuy rơi vào)thống khổ cùng cực như thế, mà do ngu si chúng vẫn hoàn toàn không ý thức.

164- Như có kẻ (tu khổ hạnh)thường xuyên tắm gội, có kẻ lao vào lửa, dù phải chịu nhiều đau đớn như vậy chúng vẫn tự hào, cho là hạnh phúc.

165- Cũng có những chúng sanh sống như thể chúng không bao giờ già chết. Trước hết chúng bị tử thần đoạt mạng sống, sau đó lại đọa vào các ác đạo, chịu các thống khổ.

166- Đến bao giờ tôi mới có thể dập tắt đống lửa khổ cho chúng sanh, bằng trận mưa an lạc trút xuống từ những đám mây công đức tôi đã tích luỹ ?

167- Bao giờ tôi mới có thể vận dụng cái tâm rỗng rang vô ngại - nhờ cung kính tích tập công đức - để khai thị Không Tánh cho những chúng sanh (đau khổ vì)chấp hữu.

CHƯƠNG MƯỜI

HỒI HƯỚNG

1- Có bao nhiêu phước lành phát sinh do tạo (và dịch)Luận Nhập Bồ-tát Hạnhnày, tôi đều hướng về chúng sinh, nguyện cho tất cả đều đi vào đường đi của Bồ-tát.

2-Nguyện nhờ phước của tôi mà những chúng sanh đang bị thân bệnh, tâm bệnh ở khắp nơi được niềm vui như biển lớn.

3- Nguyện cho họ không bao giờ hết an vui trong suốt quá trình sinh tử luân hồi. Nguyện cho họ được hạnh phúc như Bồ-tát, liên tục không gián đoạn.

4- Nguyện cho hữu tình trong các cõi địa ngục ở khắp nơi trong hoàn vũ có được hỷ lạc vô cùng tận.

5- Nguyện cho kẻ rét trong các địa ngục băng lạnh được hơi ấm. Nguyện cho đám mây công đức do Bồ-tát hạnh tích tụ phước và trí sẽ thành mưa cam lồ giáng xuống làm mát dịu nỗi nóng bức của hữu tình.

6- Nguyện cho những rừng lá bằng gươm đao biến thành lạc viên tráng lệ. Nguyện cho những cây cành bằng giáo mác biến thành cây thỏa mãn ước mơ.

7- Nguyện cho địa ngục biến thành vườn chơi được trang hoàng bằng những hồ sen thơm ngát, với những chim thiên nga, chim nhạn vang tiếng hót êm tai.

8- Nguyện cho địa ngục lửa đốt biến thành đống châu báu, nguyện cho nền sắt nóng địa ngục biến thành thủy tinh. Nguyện cho những địa ngục Núi ép biến thành những điện thờ Phật.

9- Nguyện cho những binh khí, đá lửa trong địa ngục đều biến thành những trận mưa hoa, và sự tương tàn tương sát biến thành trò chơi tung hoa cho nhau.

10- Nguyện cho những chúng sanh đang ngụp lặn trong địa ngục sông sắt nóng làm cho da thịt nứt nẻ lộ xương như hoa thủy tiên, nhờ phước của tôi mà được cái thân cõi trời, xuống tắm ao trời và vui chơi cùng các thiên nữ.

11- Nguyện cho những chúng sanh trong địa ngục khởi lên ý nghĩ : “Không biết vì sao mà Diêm vương và những ngục tốt trong đây bỗng dưng đâm ra sợ hãi ? Vị nào có cái năng lực kỳ diệu trừ diệt cho chúng ta những hắc ám, khiến tâm ta sinh vui mừng ?”. Nghĩ thế rồi, chúng ngước nhìn lên không, thấy thần Kim Cương Thủ đang đứng uy nghiêm. Nguyện cho những chúng sanh này nhờ năng lực hân hoan ấy, thường đi theo Bồ-tát, xa lìa tội cũ.

12- Nguyện cho những hữu tình trong địa ngục thấy được mưa hoa cùng nước thơm từ trên trời giáng xuống rưới tắt lửa hừng địa ngục, liền cảm thấy hon hỷ khoan khoái, tự nghĩ do đâu mà được thế này. Chúng liền ngước nhìn lên không trung và vui mừng thấy Bồ-tát Quán Âm tay cầm hoa sen.

13- Nguyện cho hữu tình trong địa ngục mừng rỡ trông thấy đức Văn Thù và kêu lớn : “Các bạn ơi, đừng sợ. Hãy mau đến đây, trên đầu chúng ta có Văn Thù đồng tử tràn ngập ánh sáng. Ngài đã phát tâm từ bi và tâm Bồ-đề, có năng lực diệt trừ đau khổ, đưa chúng ta đến an vui. Ngài giải cứu chúng sanh một cách triệt để, khiến cho tất cả sợ hãi đều tiêu tan. Còn ai muốn từ bỏ ngài ?”

14- “Hãy nhìn ngài ở trong cung điện vang lên những tiếng ca tụng của ngàn thiên nữ ; vương miện do trăm vị trời kết thành được hiến dâng dưới bàn chân như hoa sen của ngài. Vô số hoa trời vi diệu mưa xuống trên đảnh ngài, mà đôi mắt ướt đẫm lệ đại bi”.

15- Lại nguyện cho chúng sanh địa ngục nhờ năng lực thiện căn của tôi mà thấy được những đám mây do năng lực vô ngại của chư Bồ-tát hóa hiện ra, trút mưa thơm xuống khiến hữu tình được an vui mát mẻ. Chúng sanh địa ngục trông thấy cảnh này đều thật sự hân hoan.

16- Nguyện cho những chúng sanh cõi bàng sanh xa lìa nỗi sợ hãi mạnh ăn thịt yếu. Nguyện cho loài quỷ đói được vui như người ở châu Kuru phương Bắc.

17- Nguyện cho tay đức Quán Thế Âm liên tục rưới xuống nước cam lồ khiến cho ngạ quỷ được no đủ, mong chúng thường được tắm mát trong nước cam lộ của ngài.

18- Nguyện cho kẻ đui mù được thấy sắc, kẻ điếc được nghe âm thanh. Nguyện cho tất cả phụ nữ có thai đều được như Ma Gia phu nhân, sinh nở không đau đớn.

19- Nguyện cho kẻ lõa hình được y phục, kẻ đói được no đủ, kẻ khát được những thức uống trong sạch ngon lành.

20- Nguyện cho kẻ nghèo được tài sản, người khổ được an vui. Nguyện cho người tuyệt vọng khôi phục niềm tin kiên cố.

21- Nguyện cho hưu tình bị các bệnh khổ mau thoát khỏi bệnh tật. Nguyện cho tất cả chứng bệnh vĩnh viễn không sinh ra trên đời.

22- Nguyện cho người sợ hãi hết sợ, người bị trói buộc được cởi mở, người yếu được mạnh khỏe. Nguyện cho mọi người nghĩ đến việc làm lợi ích cho nhau.

23- Nguyện cho các thương nhân khắp nơi đến đâu cũng được an lạc, những lợi lộc mà họ mong cầu đều được thành tựu không mệt nhọc.

24- Nguyện cho những người đi buôn bằng thuyền tàu thỏa mãn được những gì họ mong ước, thuyền cập bến bình an, vui vẻ đoàn tụ với người thân và bằng hữu.

25- Nguyện cho những người lữ hành lạc lối may mắn gặp được bạn đồng hành, không bị nỗi sợ đạo tặc và cọp beo, đi đường bình an thuận lợi.

26- Nguyện chư thiên, thiện thần giữ gìn săn sóc cho những kẻ đang gặp nạn, cúng dường,kẻ già yếu không ai giúp đỡ, kẻ ngu si điên cuồng.

27- Nguyện cho hữu tình thoát ly được tám nạn khó tu hành, mong ai nấy đều có đủ đức tin, lòng thương và trí tuệ, thực phẩm và đồ dùng phong phú, thường có khả năng nhớ những đời trước.

28- Nguyện cho chúng sanh không tranh cãi nhau, không tổn hại nhau, ai ai cũng được tự do an hưởng tuổi trời.

29- Nguyện cho những người bần cùng hạ tiện được sắc mặt rạng rỡ phát quang ; nguyện cho những người khổ hạnh tiều tụy được hình thể khỏe mạnh đẹp đẽ.

30- Nguyện cho những cô gái yếu đuối đều thành nam tử hảo hán, những người hàn vi được sang cả, người kiêu mạn trở thành khiêm cung.

31- Nguyện cho tất cả chúng sanh nhờ phước đức tôi mà dứt được tất cả điều ác, thường ưa thích các thiện hành.

32- Nguyện cho tất cả chúng sanh không xả tâm Bồ-đề, lao vào việc làm của Bồ-tát, mong sao họ được chư Phật thường dắt tay nâng đỡ, đoạn tận các nghiệp ma.

33- Nguyện cho tất cả hữu tình sống lâu không giới hạn, sống những ngày tháng vui vẻ, không nghe đến tên cái chết.

34- Nguyện cho khắp mười phương thế giới đầy những rừng cây như ý, trong đó vang lên âm thanh thuyết pháp vi diệu của chư Phật, Bồ-tát.

35- Nguyện cho mười phương đất đai đều mềm mại như lòng tay, không có sỏi đá gai góc.

36- Nguyện cho chư Bồ-tát an trú trong các hội chúng Thanh văn đang nghe Phật thuyết pháp, mỗi vị làm cho các đạo tràng ấy trở thành trang nghiêm, đẹp đẽ bằng công đức vi diệu của mình.

37- Nguyện cho tất cả hữu tình đều nghe được pháp âm bất tuyệt từ rừng cây, chim chóc, ánh sáng, hư không.

38- Nguyện cho tất cả hữu tình thường được gặp Phật, Bồ-tát, đem những vật cúng dường nhiều như mây tụ lại, mà dâng cúng Phật, bậc đạo sư của tất cả chúng sanh.

39- Nguyện cho chúng sanh được trời xối xuống những cơn mưa đúng thời để mùa màng ngũ cốc được dồi dào phong túc. Nguyện cho những nguyên thủ có lòng nhân, cai trị đúng pháp, mọi việc trên đời đều được trôi chảy nhịp nhàng.

40- Nguyện cho thuốc có công hiệu chữa bệnh mau chóng, những lời chú được ứng nghiệm, quỷ la-sát và các loài ở trong không đều có tâm từ bi.

41- Nguyện cho tất cả hữu tình không còn thống khổ, người chưa tạo tội thì không bệnh tật, không sợ hãi, không bị khinh miệt, tuyệt đối không gặp chuyện không vui.

42- Nguyện cho các già lam tự viện nhờ đọc tụng kinh điển mà được hưng thịnh, Tăng chúng hòa hợp, việc của Tăng đều thành tựu viên mãn.

43- Nguyện cho những Tỳ-kheo muốn tu học đều được ở chốn núi rừng, đoạn trừ tán loạn, thân tâm khinh an để tu hành tất cả thiện pháp.

44- Nguyện cho những Tỳ-kheo Ni được lợi dưỡng, dứt tranh cãi, lìa các tổn hại. Nguyện tất cả chúng Tăng, Ni đều được viên mãn giới hạnh không khuyết giảm.

45- Nguyện cho những người phạm giới biết hối cải, thường sám hối tội nghiệp. Nguyện cho họ được sinh vào cõi lành, không bao giờ phạm cấm giới trở lại.

46- Nguyện cho những vị xuất gia có trí được tôn kính, ra ngoài hóa duyên đều được cúng dường đầy đủ. Nguyện cho dòng tâm của họ được trong sạch, tiếng tốt lan khắp mười phương.

47- Nguyện cho họ xa lìa được nỗi khổ ác đạo, không gặp gian nan. Nguyện cho họ mau thành Chánh giác bằng cái thân vượt hơn thân trời Sắc Cứu cánh.

48- Nguyện tất cả hữu tình ân cần cúng dường chư Phật không gián đoạn, và nhờ phước đức vô biên của Phật mà họ thường được an vui.

49- Nguyện cho tất cả Bồ-tát đều thành tựu nguyện làm lợi ích hữu tình. Nguyện cho tất cả chúng sanh đều được đấng Chúa tể đại bi thương xót gìn giữ.

50- Nguyện cho tất cả Độc giác, Thanh văn đều được an lạc như thế.

51- Khi tôi chưa lên đến Cực Hỷ địa, nguyện nhờ ân đức Bồ-tát Văn Thù mà tôi thường nhớ được đời trước, thường được xuất gia làm Tăng.

52- Nguyện tôi có thể ăn uống đạm bạc mà vẫn duy trì được sinh mạng và thể lực. Nguyện tôi đời đời kiếp kiếp được tu hành ở chỗ hoàn toàn tịch tịnh.

53- Nguyện cho tôi bất cứ đời kiếp nào, khi muốn duyệt Tam tạng, muốn thỉnh vấn nghĩa lý Phật pháp đều được diện kiến Bồ-tát Văn Thù không chướng ngại.

54- Vì muốn thành tựu lợi lạc hữu tình trong mười phương hư không, xin cho mọi việc làm của tôi đều giống như hành động viên mãn của Bồ-tát Văn Thù.

55- Dù có một phương trời nào có chúng sanh tồn tại, nguyện cho tôi vẫn ở lại mãi trong thế gian này để nỗ lực tận trừ thống khổ cho chúng sanh.

56- Nguyện cho tất cả thống khổ do ác nghiệp chúng sanh gây nên sẽ có quả báo trên thân tôi. Nguyện cho bao nhiêu thiện đức do hạnh Bồ-tát đem lại sẽ làm cho chúng sanh được thọ hưởng an lạc.

57- Nguyện cho ba ngôi báu, lương dược để trừ khổ và suối nguồn của an lạc tồn tại lâu trên đời.

58- Xin kính lễ Văn Thù Bồ-tát, vị Bồ-tát có ân đức khiến con phát sinh thiện tâm. Kính lẽ những bậc Bạn lành có ân đức làm cho Giới Định Tuệ trong con tăng trưởng.

Hết


--- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn