Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 8: Con Đường Phật

13/05/201316:31(Xem: 7217)
Chương 8: Con Đường Phật

Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh

Chương 8: Con Đường Phật

Pháp Sư Thích Từ Thông

Nguồn: Pháp Sư Thích Từ Thông

1.- Bồ tát Văn thù Sư Lợi nói:

Thưa ngài Duy Ma Cật! Bồ tát phải làm gì để con đường Phật được thông suốt?

Ông Duy Ma Cật đáp: Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ tát muốn con đường Phật được thông suốt, phải đi con đường ngược lại. Đi con đường ngược thì con đường Phật sẽ thông suốt.

Bồ tát Văn Thù hỏi: Đi con đường ngược, Bồ tát phải đi như thế nào?

Ông Duy Ma Cật đáp: Bồ tát đi vào ngũ vô gián mà không buồn rầu giận dữ. Vào địa ngục mà tự tâm không có tội lỗi cấu uế. Đến với súc sanh mà không có vô minh, kiêu mạn. Đến với ngạ quỷ mà đầy đủ công đức lành. Đi vào con đường dục giới, sắc giới, chẳng cho đó là được may mắn hơn.

Giả đi vào con đường tham dục mà xa lìa các sự đắm nhiễm dính mắc.

Giả đi vào con đường sân nhuế mà đối với chúng sanh không giận dữ thù hằn.

Giả đi vào ngu si mà thường dùng trí tuệ điều phục tâm mình.

Giả đi vào con đường xan tham mà xả bỏ thân tâm, của cải cho đến thân mạng cũng không lẫn tiếc. Giả đi vào đường phạm giới mà tâm an trụ tịnh hạnh, dù tội lỗi nhỏ cũng răn sợ không cho sai phạm. Giả đi vào con đường giải đải mà hằng siêng tu công đức thiện.

Giả đi vào đường loạn ý mà thường nhiếp niệm định tâm.

Giả đi vào con đường ngu si mà thông hiểu hết việc thế gian và xuất thế gian một cách đúng đắn.

Giả đi vào con đường siểm trá mà khi kết quả thì đúng với ý nghĩa kinh, hợp lời Phật.

Giả đi vào con đường kiêu mạn mà thực chất là làm cầu đường chuyên chở chúng sanh.

Giả đi vào con đường phiền não mà tâm thường thanh tịnh trong sáng.

Giả đi vào con đường ma mà thuận theo trí tuệ Phật không nghe theo sự cám dỗ của bọn ma.

Giả đi vào đường Thanh văn mà giáo hóa chúng sanh bằng pháp đại thừa.

Giả đi vào đường Bích chi Phật mà đi truyền đạt cho chúng sanh tư tưởng đại bi của Phật.

Giả đi vào hàng nghèo khó mà của báu công đức trong tay vô tận.

Giả đi vào đường trau dồi trang điểm sắc diện như người thường mà đầy đủ các tướng hảo tự trang nghiêm thân.

Giả đi vào đường hạ tiện mà thực chất sanh trong dòng Phật, bên trong có đầy đủ công đức.

Giả đi vào vào đường của hạng người quê mùa, yếu đuối mà thực chất được thân tráng kiện na la diên, chúng sanh đều rất ưa nhìn.

Giả đi vào đường lão bệnh mà dứt hẳn bệnh căn, vượt ra sự sợ sệt chết chóc.

Giả đi vào đường kinh doanh sinh sống mà hằng quán vô thường, không để lòng tham luyến.

Giả có thê thiếp mà thường viễn ly bùn lầy ngũ dục.

Giả hiện như người đần độn mà biện tài vô ngại, nhớ ghi không sót.

Giả đứng vào phe tà mà lấy chánh lý giúp hộ chúng sanh.

Giả hiện đi vào luân hồi mà đoạn hết nguyên nhân sanh tử, ưu bi khổ não.

Giả hiện ở Niết bàn mà không dứt hết hạt giống sanh tử.

Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ tát đi vào con đường trái ngược như thế, Bồ tát sẽ đi một cách thông suốt con đường Phật.

2.- Ông Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng:

- Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Xin ngài cho biết những gì là hạt giống Như Lai?

- Văn Thù Sư Lợi đáp: Thân là hạt giống Như lai. Vô minh, ái là hạt giống Như lai. Tham, sân, si là hạt giống Như lai. Tứ đảo, ngũ cái, lục nhập, thất tình, cửu não, thập bất thiện nghiệp là hạt giống Như lai. Nói tóm lại, 62 thứ kiến chấp và tất cả các phiền não đều là hạt giống Như lai.

- Nói thế nghĩa là gì?

- Nghĩa là những tâm và tâm sở pháp có tánh chất phiền não, vô minh đó là hạt giống Như lai Phật. Ngược lại, nếu người tỏ ngộ vô vi, chứng nhập chánh vị thì không thể phát tâm hướng đến vô thượng Bồ đề. Ví như cao nguyên và đất gò, sen không thể mọc được thì còn mong gì trổ được hoa. Chỉ có đất thấp, bùn lầy, hoa sen mới sanh trưởng. Cũng như vậy, người ngộ vô vi pháp, chứng nhập chánh vị không cần sinh hoạt ở trong Phật pháp nữa. Chỉ có chúng sanh ở trong bùn lầy phiền não, mới phát khởi lòng mong cầu Phật pháp mà thội. Cũng như trồng cây trong hư không, cây không thể sanh trưởng. Phải trồng ở chỗ có đất phân, cây mới tươi tốt sum suê. Cũng vậy người chứng nhập vô vi chánh vị không còn điều kiện để sanh trong Phật pháp, thà kiến chấp to như núi Tu Di mà họ còn có cơ hội phát tâm cầu vô thượng Bồ đề, sanh trong Phật pháp. Thế cho nên phải biết rằng: Tất cả phiền não là hạt giống Như lai. Ví như không lặn xuống biển sâu, không thể có được bảo châu vô giá. Không vào biển lớn phiền não, không thể có nhất thiết trí vô giá Như lai.

3.- Ông Ca Diếp tán thán rằng: Ôi! Tuyệt diệu thay! Tuyệt diệu thay! Những lời nói của ngài Đại trí Văn Thù Sư Lợi! Thật đúng vậy! Bè lũ phiền não là hạt giống Như lai. Hàng Thanh văn chúng tôi không kham nổi việc phát tâm vô thượng Bồ đề. Đến như người thọ tội ngũ vô gián hãy còn có thể phát tâm sanh trong Phật pháp. Nay chúng tôi mất hẳn ý chí cầu vô thượng đạo. Ví như người thui chột các căn, đối với ngũ dục chẳng còn tương quan tiếp thọ được gì. Hàng Thanh văn đoạn hết phiền não kiết sử, trong Phật pháp hết đường nhờ cậy, vì chí nguyện đã dứt mất hẳn rồi. Thế cho nên, thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Người bạc địa phàm phu đối với Phật pháp còn có cơ may trở lại, mà hàng Thanh văn thì đã tuyệt phần. Bởi vì, phàm phu nghe Phật pháp, có thể phát khởi vô thượng đạo tâm, chứ hàng Thanh văn dù có nghe Phật pháp trọn đời, vĩnh viễn không thể phát ý hướng về vô thượng đạo.

4.- Bấy giờ trong pháp hội có Bồ tát tên Phổ Hiện Sắc Thân, hỏi ông Duy Ma Cật:

Thưa cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc, bạn lành tri thức của ngài là những ai? Nô tì, đồng bộc, ngựa, voi, xe, kiệu Ngài để ở chỗ nào?

Ông Duy Ma Cật đáp lời qua bài kệ:

Trí độ làm mẹ Bồ tát
Phương tiện lấy làm cha
Tất cả các đạo sư
Đều do đó mà có.
Lấy pháp hỷ làm vợ
Con gái: từ bi tâm
Con trai: chính tâm lành
Rỗng lặng: nhà thường trú.
Đệ tử: các trần lao
Sai khiến theo ý muốn
Đạo phẩm: thiện trí thức
Do vậy thành chánh giác.
Lục độ pháp: bạn bè
Pháp tứ nhiếp:kỷ nữ
Ca vịnh: tụng pháp âm.
Hoa viên là tổng trì
Pháp vô lậu: rừng cây
Giác ý: hoa tịnh diệu
Trí tuệ giải thoát: trái.
Ao tắm pháp bát giải
Nước định lóng sẳn đầy
Ngâm ướp bông thất tịnh
Tắm gội người vô cấu.
Voi ngựa cỡi: ngũ thông
Đại thừa làm xe kiệu
Xà ích: trụ nhất tâm
Dạo đi đường Bát chánh.
Tướng hảo để đẹp người
Đức tốt làm trang sức
Tàm quí làm xiêm áo
Thâm tâm làm tràng hoa
Thất tài bảo: sự nghiệp
Giáo hóa làm lợi tức.
Việc làm đúng lời nói
Hồi hướng là lợi lớn
Tứ thiền làm giường ngồi
Sống ở đời tịnh mệnh.
Đa văn: tăng trí tuệ
Trí tuệ: tiếng cõi lòng
Pháp cam lộ: thức ăn
Vị giải thoát: giải khát .
Tịnh tâm là tắm gội
Giới phẩm làm hương xoa
Đánh tan giặc phiền não
Mạnh mẽ không ai hơn.
Hàng phục bốn giống ma
Dựng cờ đại chiến thắng
Dù biết không khởi diệt
Dạy dỗ: hiện có sanh.
Xuất hiện khắp cõi nước
Như mặt nhựt trong không
Cúng dường mười phương cõi
Vô lượng ức Như lai.
Chư Phật và bản thân
Không có tướng phân biệt
Dù biết cõi nước Phật
Và chúng sanh đều không
Mà thường tu Tịnh độ
Giáo hóa hết quần sanh.
Bao chủng loại chúng sanh
Hình thành và cử chỉ
Lực vô úy Bồ tát
Một thời đều hiện đủ.
Biết rõ các ma sự
Mà giả hiện tùy thân
Dùng trí phương tiện khéo
Hiện theo ý bọn ma.
Hoặc hiện già, bịnh, chết
Giáo hóa các quần sanh
Rõ biết như huyễn hóa
Việc làm không trở ngại.
Hoặc hiện kiếp thiêu hết
Trời đất đều trống không
Mọi người có tưởng thường
Khiến được biết vô thường.
Vô số ức chúng sanh
Đồng đến mời Bồ tát
Cùng một lúc đến nhà
Dạy họ về Phật đạo.
Kinh sách, chú thuật tà
Thủ công, công kỹ nghệ
Hiện làm hết việc này
Vì lợi ích chúng sanh.
Các đạo pháp thế gian
Xuất gia vào trong đó
Để chỉ rõ chỗ sai
Khiến khỏi rơi tà kiến.
Có lúc làm nhật nguyệt
Làm Thế chủ, Phạm vương
Có lúc làm đất nước
Có khi làm gió lửa.
Trong đời có dịch bệnh
Hiện làm cây cỏ thuốc
Nếu có người được uống
Bệnh khổ được dứt trừ.
Thời kỳ có đói kém
Thân hiện các thức ăn
Cứu đói khát cho người
Sau đem Phật pháp dạy.
Đời sắp nổ binh đao
Đem đạo từ bi thuyết
Hóa độ các chúng sanh
Xóa bỏ lòng tranh chấp.
Nếu chiến tranh bùng nổ
Đứng giữa thế cân bằng
Hiện uy thế Bồ tát
Thuyết phục khiến hòa an.
Trong tất cả quốc độ
Chỗ nào có địa ngục
Liền đến vào nơi đó
Giúp họ khỏi khổ đau.
Trong tất cả cõi nước
Súc sanh ăn nuốt nhau
Hiện sanh vào trong đó
Khiến chúng được lợi lành.
Giả bằng lòng ngũ dục
Lại biểu hiện hành thiền
Khiến tâm ma rối loạn
Không đễ bị lung lay.
Hoa sen sanh trong lửa
Chuyện hi hữu trên đời
Trong ngũ dục hành thiền
Hi hữu cũng như vậy.
Hoặc hiện làm dâm nữ
Dụ những người háo sắc
Trước lấy dục trói lại
Sau kéo vào Phật trí.
Hoặc làm người quốc trưởng
Hoặc làm chủ thương thuyền
Quốc sư, Đại thần tốt
Để giúp ích chúng sanh.
Với những người nghèo khó
Hiện làm kho vô tận
Nhơn đó khuyến hóa người
Phát khởi Bồ đề tâm.
Với hạng người kiêu mạn
Hiện làm đại lực sĩ
Triệt tiêu các cống cao
Khiến trụ vô thượng đạo.
Ai lâm cảnh sợ sệt
Trước họ an ủi cho
Xua tan niềm sợ hãi
Sau khiến phát đạo tâm.
Hoặc hiện ly dâm dục
Làm ngũ thông tiên nhân
Mở lối các quần sanh
Khiến trụ giới nhẫn từ.
Thấy ai cần phụng sự
Hiện làm người tôi tớ
Phục vụ đẹp ý chủ
Sau khuyến phát đạo tâm.
Dùng phương tiện khéo léo
Cung dưỡng mọi nhu cầu
Con đường đạo vô lượng
Sở hành không bến bờ.
Trí tuệ không ngằn mé
Độ vô số chúng sanh
Giả sử tất cả Phật
Trong vô số ức kiếp.
Tán thán công đức kia
Hãy còn không cùng tận
Ai nghe pháp như thế
Không phát tâm Bồ đề!
Trừ người mất giống Phật
Kẻ vô trí quá đần.

TRỰC CHỈ

1.-Để trả lời câu hỏi của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi: "Bồ tát phải làm gì để đi con đường Phật được thông suốt, không bị trở ngại".

Ông Duy Ma Cật đáp: "Bồ tát hành phi đạo thị vi thông đạt Phật đạo". Nghĩa là muốn đi theo con đường Phật được thông suốt thì Bồ tát phải đi ngược lại con đường chúng sanh đi.

Đường của chúng sanh là: "thuận lưu sanh tử". Xuôi theo dòng chảy của sanh tử mà đi. Thế cho nên, muốn đi con đường Phật, Bồ tát phải đi ngược dòng sanh tử ấy.

Đi ngược dòng sanh tử nhưng không rời bỏ, tránh né hay trốn chạy. Ý niệm rời bỏ, tránh né, trốn chạy sanh tử hy vọng có được Bồ đề Niết bàn. Với đạo Phật, việc đó không bao giờ có được. Người nông gia sợ bùn, đất, phân nước thấm ướt tay chân chỉ muốn trồng cây gieo giống trong hư không để rồi chờ thời thâu hoạch kết quả. Ý tưởng đó nếu có thì đó là ý tưởng hoang đường của kẻ ngu si vô trí.

Ý tưởng rời bỏ trốn chạy sanh tử, không tu tâm sửa tánh, không cải tạo phiền não vô minh ngay trong cuộc sống sanh tử, ngồi không nằm rỗng đối với thế cuộc xem mình như kẻ ăn xổi ở thì, lơ lững thả hồn hy vọng Bồ đề Niết bàn một ngày nào đó sẽ đến. Ý tưởng đó, ở trong Phật pháp cũng là một ý tưởng hoang đường của chàng nông gia vô trí kia không hơn không kém.

2.-"Những gì là hạt giống Như Lai?". Trả lời câu hỏi đó của ông Duy Ma Cật, Bồ tát Văn Thù nói:

- Thân là hạt giống Như lai.
- Vô minh là hạt giống Như lai.
- Tham sân si là hạt giống Như lai.

- Tứ đảo, ngũ cái, lục nhập, thất tình, bát tà, cửu não, thập bất thiện nghiệp là hạt giống Như lai.

- Nói chung 62 thứ kiến chấp là hạt giống Như lai.

Trước tuệ nhãn của Đại trí Văn Thù Sư Lợi thì tất cả phiền não là hạt giống Như Lai. Có nghĩa là muốn thành Phật thì dựa trên vô minh phiền não mà cải tạo chuyển hóa vô minh phiền não. Chuyển hóa từng phần lượng cho đến khi biến đổi hoàn toàn chất lượng vô minh. Trừ bỏ vô minh phiền não, con người không còn lý do để thành Như Lai Phật. Không xuống biển sâu không thể có được bảo châu vô giá, không thể có nhất thiết chủng trí Như lai vô giá.

3.- Nhân danh hàng định tánh Thanh Văn, ông Đại Ca Diếp thay mặt đại chúng nói lên sự hối tiếc về trí tuệ hẹp hòi kém cỏi của người Tiểu thừa đối với giáo lý vô thượng thậm thâm vi diệu pháp của Đại thừa.

Thà làm hàng bạc địa phàm phu còn có cơ hội phát tâm cầu vô thượng Bồ đề. Còn hàng định tánh Thanh Văn đối với quả Bồ đề vô thượng chẳng khác người tàn phế ngũ căn, không tiếp nhận được gì trước cảnh sắc, thanh, hương, vị xúc.

4.- Trả lời câu hỏi của Bồ tát Phổ Hiện Sắc Thân, ngài Duy Ma Cật nói về gia đình, sự nghiệp, quyến thuộc thân bằng, nô tì, đồng bộc, vườn rừng, ao tắm ,kỷ nữ, ngựa xe v.v...của chính ngài. Từ đó khiến cho người học đạo thấy rằng ngài không phải là một cư sĩ mà gọi là cư sĩ vậy thôi.

Sự thực, cư sĩ Duy Ma Cật là một hình thức dàn dựng ra một người bất tư nghì để trình diễn Phật sự bất tư nghì nhằm giáo hóa chúng sanh về đại thừa diệu pháp bất tư nghì.

"Chiếc áo không làm nên thầy tu". Có phải chăng, người triết gia Tây phương nào đó đã đọc được kinh này?

Chiếc áo thầy tu một khi lọt vào tay thợ săn điêu ngoa xử dụng, chiếc áo đó trở thành một thứ cạm bẫy sát sanh đoạn mạng. Con sư tử có bộ lông vàng hiếm quí, chết một cách oan ức đau thương chỉ vì chiếc áo và lầm tưởng chiếc áo tu sĩ của tên thợ săn độc ác kia là chiếc áo của vị tu sĩ chân tu mà ngày ngày mình thường lân la thân cận.

Dựng lên một trưởng giả Duy Ma Cật bất tư nghì để nhắc nhở cho mọi người đệ tử Phật muốn tiến thân trên đường Bồ đề vô thượng cần phải cảnh giác về chiếc áo...và có thể không cần chiếc áo, lại có thể chính thực thầy tu...

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn