Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Phần 16

22/04/201317:30(Xem: 3449)
Phần 16

NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2001

TOÀN TẬP

TÂM NHƯ TRÍ THỦ

--- o0o ---

TẬP 3

HIỆP CHÚ

CHƯƠNG NĂM

BA DẬT ĐỀ

I. TỔNG TIÊU:

A. CHÁNH VĂN:

Thưa các Đại đức, đây là 90 pháp ba dật đề, xuất từ Giới kinh, nửa tháng tụng một lần.

B. LƯỢC GIẢI:

Về ý nghĩa của từ ba dật đề, xem giải thích trong phần sau, Sám hối và Trị phạt.

ĐIỀU 1. Cố ý vọng ngữ(Cố ý nói dối).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào cố ý nói dối, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Cố vọng ngữ:Nói dối một cách có ý thức. Định nghĩa của Luật nhiếp 8 (tr. 572c): “Cố, chỉ cho tâm xác quyết, biểu thị sự không nhầm lẫn. Vọng ngữ: đối trước một người có thể lãnh hội mà nói lời dối gạt, lời nói trái ngược với sự suy nghĩ trong tâm”. Nói cách khác, cố ý nói khác đi những điều mình suy nghĩ hay hiểu biết, tâm tưởng và ngôn ngữ không nhất như; đây là định nghĩa cơ bản của sự nói dối. Trái lại, dù nói không đúng sự thật, nhưng tâm tưởng và ngôn ngữ nhất như, thì không gọi là nói dối.

Vọng nữ hay nói dối là một trong 7 nghiệp đạo bất thiện; thứ nhất trong bốn nghiệp đạo thuộc ngôn ngữ. Tùy theo mức độ khinh trọng của nhiễm tâm, trong các học xứ của Tỳ kheo, điều học về vọng ngữ có mặt trong tất cả tụ của giới bổn Tỳ kheo.

1) Ba la di, điều 4: thật sự không chứng đắc pháp Thượng nhân mà nói dối là mình tự chứng đắc.

2) Tăng già bà thi sa, điều 8: vu khống Tỳ kheo khác bằng pháp ba la di không căn cứ.

3) Thâu lan giá: mức độ gần thành tựu ba la di hoặc tăng già bà thi sa.

4) Ba dật đề: các điều học được nêu rõ trong chương này. Cụ thể là điều 1 ở đay và điều 80 ở sau.

5) Đột kiết la: ngoài bốn bộ tội kể trên. Mặt khác, có tội mà che giấu, tức phú tàng; hoặc biết mình có tội nhưng im lặng khi Tăng thuyết giới, như được nói rõ trong bài tựa thuyết giới của chương mở đầu; các trường hợp này đều phạm đột kiết la.

Ngoài ra, Căn bản tỳ nại da 25 và Luật nhiếp 8 còn phân chia nhiều chủng loại khác nhau của sự vọng ngữ.

Luật nhiếp 8 (tr. 572c), cũng như Căn bản 25, liệt kê các chủng loại này thành tám nhóm:

a. Nhóm thứ nhất, chín chủng loại: gồm 5 bộ như vừa kể trên, và 4 phá hành. Bốn phá hành là phá giới, phá kiến, phá oai nghi và phá chánh mạng.

b. Nhóm thứ hai, tám chủng loại: cũng gồm 5 bộ đã kể, cộng thêm ba căn là kiến, văn và nghi.

c. Nhóm thứ ba, bảy chủng loại: bốn phá hành và ba căn, như trên.

d. Nhóm thứ tư, sáu chủng loại: ba căn và ba thời. Ba căn, như đã nói. Ba thời: đã nói dối, đang nói dối và sẽ nói dối.

e. Nhóm thứ năm, năm chủng loại tức 5 bộ.

f. Nhóm thứ sáu, bốn chủng loại: bốn phá hành.

g. Nhóm thứ bảy, ba chủng loại: ba căn, hoặc ba thời.

h. Nhóm thứ tám, hai chủng loại: đang nói dối và đã nói dối.

Cả Căn bản và Luật nhiếp đều kết luận về sự phân loại này rằng: không có trường hợp nào mà sự nói dối chỉ gồm một chủng loại. Theo đó, sự nói dối cực thiểu bao gồm cùng lúc hai loại, và cực đa cùng lúc 9 loại. Nhưng đây chỉ nêu lý thuyết chứ không thấy dẫn thí dụ cụ thể.

Về nội dung của sự nói dối, các bộ đều căn cứ theo kinh. Nội dung này, kinh nói là tám phi thánh ngôn: 1. Đối với điều được thấy bởi mắt mà nói là không thấy. - 2. Đối với điều được nghe bởi tai nhưng nói là không nghe. - 3. Với những gì được cảm xúc bởi mũi, lưỡi và thân, cũng vậy. - 4. Với những gì được nhận thức bởi thức, cũng vậy. Trái lại, không thấy mà nói là thấy, v.v..., là bốn phi thánh ngôn tiếp theo.

Căn cứ trên tám phi thánh ngôn này, các bộ đưa ra nhiều phân tích chi tiết khác nhau. Tổng hợp, có ba trường hợp xảy ra với tám phi thánh ngôn: xác quyết, nghi ngờ và quen. Đối với điều xác quyết thấy nhưng nói là không thấy, hoặc trái lại. Đối với điều nghi ngờ là có thấy nhưng nói không thấy, hoặc trái lại. Đối với điều đã được thấy và đã quên, nhưng lại nói là còn nhớ rõ là không thấy; v.v... Tất cả các trường hợp như vậy, liên hệ đến tám phi thánh ngôn, đều thành phạm ba dật đề. Theo đó, yếu tố cơ bản để thành phạm không phải là nhận thức đúng hay sai với các đối tượng thấy, nghe, cảm, biết; nhưng cơ bản là nhận thức, và hiểu biết không phù hợp với lời được nói ra.

Ngoài ra, trong phạm vi tư tưởng học thuật, nếu trình bày, giải thích hay phổ biến bằng ngôn ngữ khác với những sở kiến, quan điểm, xu hướng, thị hiếu, tư duy v.v... của chính mình, thảy được thuộc ba dật đề về vọng ngữ này.

+ Từ các phân tích chánh văn trên, ở đây có thể đi đến các yếu tố cần hội đủ để thành phạm trong điều luật này như sau:

1) Có chủ ý nói dối

2) Nói thành lời những điều khác với nhận thức và hiểu biết của mình.

3) Đã nói xong một vấn đề.

4) Người nghe hiểu rõ.

Luật nhiếp 8, nêu 4 chi thành phạm, và nói thêm rằng 4 chi này áp dụng cho tất cả các học xứ liên hệ ngữ nghiệp:

1) Người nói là Tỳ kheo.

2) Khởi vọng tâm.

3) Nói rõ ràng.

4) Người nghe lãnh hội.

Luật nhiếp cũng nói rằng, nếu Tỳ kheo ăn bận như thế tục, hay khoác y phục ngoại đạo, phạm đột kiết la; và nếu có người hỏi: Ông là ai? Tỳ kheo ấy trả lời: Tôi là ngoại đạo. Hoặc: Tôi là người tục, phạm ba dật đề.

+ Duyên khởi của điều luật này, đại khái các bộ tường thuật giống nhau.

Tứ phần 11: Phật tại Ca Tỳ La Vệ. Tỳ kheo Tượng Lực, bản tính ưa tranh luận, và cũng được nhiều người khen là giỏi biện luận. Trong khi tranh luận, để tránh né khỏi bị đuối lý, nhiều trường hợp Tượng Lực phải áp dụng kỹ thuật nói dối. Với quan điểm mà mình đã thừa nhận lại nói là không thừa nhận; những điều có hiểu biết thì nói là không hiểu biết v.v... Nhân khi tranh luận với một luận sĩ ngoại đạo nổi tiếng, kỹ thuật này bị khám phá, và tiếng xấu đồn lan. Do vậy, Phật chế giới.

Tăng kỳ 12 dẫn duyên khởi khác. Phật tại Xá Vệ. Tỳ kheo Thi Lị Da Bà, được Tăng cử tội; trước thì chấp nhận là có, rồi sau lại chối là không, và dựng chứng nói dối. Sự việc ấy gây phiền trong Tăng. Do đó, Phật chế giới.

Căn bản tỳ nại da 25 tường thuật hai duyên khởi. Nguyên nhân xa, là bản tính ưa nói dối mà chơi của La Hầu La. Có người hỏi: Thế Tôn ở đâu? La Hầu La biết rõ Phật đang ở Linh Thứu, nhưng dối gạt chơi là Ngài ở Trúc Lâm. Nhiều lần như vậy, và mọi người nhiều bực tức. Phật trực tiếp giáo giới La Hầu La, về những nguy hại của sự nói dối, nhưng ở đây Ngài chưa chế giới.

Sau đó, nhân sự việc này, Tỳ kheo Pháp Thủ, mà Tứ phần nói là Tượng Lực; Ngài bèn chế giới này.

Tường thuật duyên khởi của Tăng kỳ nhấn mạnh bản chất phá giới của sự nói dối. Bởi vì, người hay nói dối thì không trọng sự thành tín, tìm cách che giấu những sai lầm của mình, cho rằng không ai hay biết, và do vậy không có tâm tàm quý.

Tường thuật của Tứ phần cũng như của các bộ khác, nhấn mạnh bản chất phá kiến của sự nói dối. Đây là khía cạnh đặc biệt của điều học này. Tỳ kheo có thể vì danh dự hay vì lợi dưỡng, chìu theo thị hiếu của thế tục, nên nói quanh co; nhưng điều mình tin tưởng thì nói là không tin tưởng; những điều mình hiểu biết, nói là không hiểu biết. Đấy là con đường dẫn đến chỗ tà vạy, không tôn trọng sự thực. Nó là nguyên nhân chủ yếu hay nền tảng của sự phá kiến.

ĐIỀU 2. Hủy thụ ngữ.

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào nói lời bôi bác bằng các chủng loại, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Hủy thụ ngữ: Nói lời bôi bác. Hành sự sao, quyển trung, gọi tiêu đề là mạ giới. Tứ phần hàm chú gọi là hành mạ giới. Cơ bản của điều học này là sự mắng nhiếc người khác nhưng sự mắng nhiếc là biểu thị ý định hạ nhục người khác bằng ngôn ngữ chê bai, biếm nhẽ; còn điều học này bao gồm cả ngôn ngữ tán dương, nhưng với ý định xấu là khiến người xấu hổ, và do đó mà mất tinh thần, thối chí. Do đó, ở đây không chỉ nói đơn giản là sự mắng nhiếc người hay nhục mạ người bằng các chủng loại. Trong tiếng Việt, nói bôi bác bao gồm cả cách nói xấu và tốt; nhưng nói xấu hay tốt, với chủ ý bôi bác, đều khiến người nghe cảm thấy như bị nhục mạ.

+ Các chủng loại, Tứ phần 11 (tr. 635b) liệt kê sáu thứ:

1) Ty tánh, chủng tộc hay dòng họ thấp kém. Tức hạ nhục người bằng cách lôi dòng họ thấp kém ra mà nhiếc mắng.

2) Ty nghiệp: nghề nghiệp thấp kém. Như nói: hạng con buôn, hạng đồ tể, hạng chài lưới, săn bắn v.v...

3) Ty kỹ, kỹ thuật kém: chỉ các tiểu thủ công nghệ, như thợ rèn, thợ gốm, thợ thuộc da, thợ cạo v.v...

4) Phạm, phạm các tội ba la di, tăng già bà thi sa, ba dật đề, thâu lan giá v.v...

5) Kết, tức kết sử, chỉ các phiền não: tham, sân, si v.v...

6) Manh hạt: đui mù. Ở đây bao gồm những hình tướng xấu xí của người: đui, điếc, câm, ngọng, què, cụt v.v...

Các chủng loại theo Tứ phần như thế đều bao hàm ý nghĩa nói xấu. Do điều này, các nhà giải thích Tứ phần gọi điều học là hành mạ giới.

Tăng kỳ 12 (tr. 325c), 7 chủng loại:

1) Chủng tánh, chủng tộc hay dòng họ, như Tứ phần. Nhưng không chỉ dòng họ thấp kém như Tứ phần, mà ở đây gồm cả ba bậc, thượng, trung và hạ. Thượng chủng tánh, giai cấp cao như Bà la môn, Sát đế lị. Hạ chủng tánh, giai cấp thấp hèn, như Chiên đà la. Khoảng giữa hai giai cấp này là trung gian chủng tánh.

2) Nghề nghiệp, cũng gồm có ba bậc. Nghề nghiệp thấp hèn như đồ tể, buôn heo, cai ngục v.v... Nghề trung lưu như buôn hương, làm ruộng, trồng rau, coi cửa tiệm. Nghề nghiệp cao như thợ vàng, thợ bạc, chủ tiệm.

3) Tướng mạo, cũng gồm ba bậc. Bậc hạ, như đui, gù, què. Bậc trung như mà da quá đen, quá trắng, quá đỏ v.v... Bậc thượng như 32 tướng tốt, màu da sáng láng v.v...

4) Bịnh, không có cấp bậc. Chỉ tất cả các thứ bịnh, như cùi hủi, ghẻ chốc, ho lao v.v...

5) Tội, không phân biệt thượng hạ; nội dung như Tứ phần.

6) Mạ: chửi bới, mắng nhiếc.

7) Kết, tức kết sử, như Tứ phần, đã dẫn.

Trong mỗi chủng loại, Tăng kỳ phân tích mức độ khinh trọng tùy theo đối tượng bị bôi bác. Đối tượng là bản thân người ấy, hoặc cha mẹ người ấy: ba dật đề. Đối tượng là Hòa thượng, hay A xà lê của người ấy: thâu lan giá. Đối tượng là bạn bè ngang lứa người ấy: đột kiết la.

Thập tụng 9, gồm 8 chủng loại. Bảy chủng loại như Tăng kỳ; nhưng trong đó, nghề nghiệp được chia làm tác và kỹ, tức cũng như nghiệp và kỹ được nói trong Tứ phần. Các chủng loại này cũng bao gồm cấp bậc cao thấp như Tăng kỳ, duy có điều Thập tụng không phân tích rõ rệt như Tăng kỳ.

Luật nhiếp 8 (tr. 573a), cũng nói 8 chủng loại, nhưng có vài điểm khác biệt với trên:

1) Thị tộc, tức chủng tánh, như đã nói trên. Bao gồm cả bốn giai cấp. Bôi bác bằng giai cấp Bà la môn, Sát đế lị: đột kiết la. Bôi bác bằng giai cấp Phệ xá, Thủ đà la: ba dật đề.

2) Công xảo, chỉ các kỹ thuật, nghề nghiệp, tiểu thủ công nghệ: thợ săn, thợ cạo, ca kỹ, làm thuê v.v...

3) Hình tướng, hay tướng mạo: còm, gù, què v.v...

4) Tật bịnh, như các bộ đã dẫn.

5) Phá giới, phạm các thiên tụ, như các bộ đã dẫn.

6) Phiền não, hay kết sử, như trên.

7) Vô giới: các trường hợp già nạn, không được thọ Cụ túc, như phạm biên tội, tặc trú, hoàng môn v.v...

8) Phi loại, đối Tỳ kheo mà bôi bác: Nhà ngươi là Tỳ kheo ni, là Thức xoa ma na, là Sư di ni v.v... trường hợp cuối cùng này không phạm ba dật đề; chỉ phạm đột kiết la.

+ Về chánh văn của giới, một số khác biệt giữa các bộ được ghi nhận như sau:

- Ngũ phần, Thập tụng, Căn bản giống nhau, đều không có chi tiết bằng cách chủng loại. Riêng Thập tụng, chánh văn trong Quảng luật thì nói: hình tướng ta (trêu ghẹo người bằng hình tướng), nhưng trong Giới bổn (tr. 474a) thì nói: hủy thụ ngữ. - Tăng kỳ: chủng loại hình tướng ngữ. Như thế, Thập tụng và Tăng kỳ đều làm nổi bật ý nghĩa bôi bác, hơn là mắng nhiếc. Trong khi, Tứ phần thiên trọng hẳn khía cạnh mắng nhiếc.

+ Về hình thái trì phạm, cùng thuộc ngữ nghiệp như vọng ngữ, nên cũng gồm những yếu tố căn bản như vọng nnữ. Duy chỉ thay vọng ngữ bằng hủy thụ ngữ.

+ Về duyên khởi, Tứ phần 11 (tr. 634c): Phật tại Xá Vệ. Nhóm sáu Tỳ kheo, trong khi giải quyết tranh chấp, mắng nhiếc Tỳ kheo khác bằng các chủng loại, khiến họ mất tinh thần, quên lẫn trước sau, không nói năng gì được.

Tường thuật của các bộ khác cũng không có gì đặc biệt.

ĐIỀU 3. Ly gián ngữ(nói ly gián).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nói lời ly gián, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ly gián ngữ, cũng thường nói là lưỡng thiệt ngữ: nói hai chiều, nói đâm thọc. Tuy nhiên, trong điều học này, không cần thiết phải nói hai nơi, đem lời người này nói người kia rồi đem lời người kia nói người này; nhưng nếu, với chủ ý gây chia rẽ hai người hay hai nhóm, dù chỉ nói một phía mà đã thành chia rẽ, cũng gọi là ly gián ngữ.

Hữu bộ tỳ bà sa 6 (tr. 540c) phân tích mối quan hệ giữa vọng ngữ, ác ngữ và ly gián ngữ như sau:

- Ly gián ngữ, gồm cả vọng ngữ và ác ngữ: đặt điều gây chia rẽ, không căn cứ nên thuộc vọng ngữ; nội dung bịa đặt là những điều xấu xa, thuộc ác ngữ.

- Ly gián, gồm vọng ngữ, nhưng không phải ác ngữ: đặt điều gây chia rẽ, thuộc ly gián và vọng ngữ; nhưng nói lời dịu ngọt, nên không thuộc ác ngữ.

- Ly gián độc nhất, nói gây chia rẽ nhưng nội dung là sự thật chứ không phải bịa đặt; nói lời dịu ngọt, nên cũng không phải ác ngữ.

- Ly gián, gồm ác ngữ, nhưng phi vọng ngữ: như trên, nhưng ở đây nói lời xấu xa, thô lỗ, thuộc ác ngữ.

+ Đối tượng ly giánđể thành phạm ba dật đề là Tỳ kheo với Tỳ kheo. Luật nhiếp 8 (tr. 573c): nếu chia rẽ Tỳ kheo với người thọ học pháp, hoặc với Sa di, cư sĩ: chỉ phạm đột kiết la. Chia rẽ giữa những người chưa thọ Cụ túc, cũng chỉ phạm đột kiết la. Nếu chia rẽ để tách rời bạn xấu, vì ích lợi cho đối tượng bị chia rẽ: hoàn toàn vô phạm.

+ Duyên khởi, kể tổng hợp: Phật tại Xá Vệ. Nhóm sáu Tỳ kheo muốn gây chia rẽ, hiềm khích giữa các Tỳ kheo, lấy đó làm trò đùa vui chơi. Các Tỳ kheo sau đó tìm hiểu, và biết rõ do sự phá phách ly gián của nhóm sáu Tỳ kheo ấy, họ bạch Phật. Phật khiển trách sáu Tỳ kheo và chế giới.

ĐIỀU 4. Cọng nữ đồng thất túc(ngủ chung nhà với người nữ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo ngủ đêm chung nhà với người nữ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ngủ đêm chung nhà, theo định nghĩa chung của các bộ, nhà ở đây gồm một trong bốn hình thái:

1) Có lợp kín và che chắn, tức có mái và có bốn vách nhưng không có các cửa hay cửa sổ.

2) Lợp kín, che hơi kín; như trên, nhưng bốn vách có cửa sổ, hoặc có lỗ trống đủ cho một con chồn lẻn vào.

3) Lợp kín, che không kín; có bốn vách, nhưng mái hoặc che phân nửa, hoặc bị thủng, dột v.v...

Ngoài bốn hình thức nhà vừa kể, ngủ đêm chung không phạm. Tức, dù gọi là nhà, nhưng bốn phía không có vách ngăn, hoặc không có lợp mái.

Tăng kỳ 19: cùng nhà nhưng khác cửa, không phạm. Nghĩa là, trong cùng chung một nhà, nhưng phòng được ngăn hai, và không thông qua bằng một cửa chung. - Khác phòng, nhưng không ngăn cách, thành phạm. Tức, cùng chung trong một nhà, và nhà có nhiều phòng; Tỳ kheo ngủ một phòng và người nữ ngủ trong phòng khác, mà cả hai có thể qua lại. Điều này, Luật nhiếp 12 nói: cả hai phòng có lối thông qua, dù chỉ là một lỗ trống đủ cho con chồn chui qua, thành phạm. - Nếu cùng chung một phòng, dù có ngăn lại, cũng thành phạm.

Căn bản tỳ nại da 41 và Luật nhiếp 12: nhà có tầng gác, Tỳ kheo ngủ đêm gác trên, người nữ gác dưới, hoặc trái lại; nếu cầu thang được cất đi, không phạm.

Về sự ngủ, Tứ phần nói, cả hai, Tỳ kheo và người nữ, cùng nằm, lưng cùng sát chiếu hoặc đất mới thành phạm.

Về điểm này, Tăng kỳ cũng nói rõ: trường hợp bất đắc dĩ phải chung nhà, Tỳ kheo phải ngồi suốt đêm. Có thể là ngồi mà ngủ. Nếu không thể ngồi suốt đêm, khi cần nằm xuống nghỉ, phải gọi người nữ ngồi dậy.

+ Với người nữ, Tăng kỳ và Thập tụng kể gồm cả người nữ loài người, loài phi nhơn và súc sanh. Trong số đó, Tăng kỳ nói rõ, nữ loài người, kể cả mẹ và chị em ruột. Về súc sanh nữ, tùy theo cách ngủ mỗi loài. Khi chúng ngủ thực sự, Tỳ kheo phạm ba dật đề. Tăng kỳ nói: lừa, bò, lạc đà các thứ, khi chúng còn ngẩng đầu thì chưa thành tội; nếu chúng gục đầu, tức đã ngủ, Tỳ kheo phạm ba dật đề.

Ngũ phần: ngủ đêm chung với nữ phi nhân, nữ súc sanh, hoàng môn: chỉ phạm đột kiết la. Tứ phần cũng đồng quan điểm.

Căn bản quy định chính xác: với bất cứ loại nữ nào có thể hành dâm, đều phạm ba dật đề; trái lại, chỉ phạm đột kiết la.

+ Trong điều học này, có bốn yếu tố làm nền tảng cho sự trì phạm: đối tượng là người nữ có thể hành dâm; không gian là cùng chung nhà; và thời gian là ban đêm. Do đó, Luật nhiếp 12 quy định, trước khi minh tướng xuất hiện, phạm đột kiết la; minh tướng đã hiện, phạm ba dật đề. Và thứ tư là yếu tố oai nghi: chỉ khi nào đã nằm xuống, hông đã sát đất hoặc chiếu.

Trong bốn yếu tố căn bản này, Hữu bộ tỳ bà sa 8 phân tích: với đối tượng nữ, một người nữ là một tội ba dật đề; cùng chung với mười người nữ, phạm 10 ba dật đề. Về bốn oai nghi, một lần nằm, lưng sát chiếu hoặc đất là 1 tội ba dật đề. Nằm một lần, rồi ngồi dậy, hoặc đứng dậy, sau đó nằm lại, lưng sát chiếu hoặc đất, phạm thêm một tội ba dật đề. Trong một đêm, nằm bao nhiêu lần, bấy nhiêu tội ba dật đề.

Ngoài ra, Căn bản cũng nói rằng, mặc dù ngủ đêm chung nhà với người nữ, nhưng có hiện diện của đàn ông có trí, hoặc người nữ có phu chủ, có người giám hộ, thảy đều không phạm.

+ Về duyên khởi, trừ Tăng kỳ, các bộ đều đề cập nguyên do từ tôn giả A Na Luật. Ngài tá túc tại nhà một người nữ chung với một nhóm đàn ông. Tôn giả vốn xuất thân từ giai cấp quý tộc, và lại là người đẹp trai, nên người nữ ấy sanh nhiễm tâm. Cô khuyến dụ ngài vào nhà trong, bảo rằng ở nhà ngoài chung với bọn đàn ông ầy ồn ào không hợp với sự ưa nhàn tĩnh của tôn giả. Khi tôn giả vào nhà trong, ngài ngồi ngay ngắn, tập trung tư tưởng. Cô nàng buông lời quyến rũ, cho đến thoát y khêu gợi, nhưng tôn giả hoàn toàn bất động, vì ngài là bậc đại A la hán, đã chứng câu phần giải thoát. Trước thái độ ấy, cô sanh tâm cung kính. Nhân đó, tôn giả thuyết pháp và nàng chứng quả Dự lưu. Sau sự vụ này, ngài tường thuật lại với Đức Phật. Nhân đó, Phật chế giới.

Tăng kỳ 19 không đề cập tôn giả A Na Luật, mà là trường hợp một Tỳ kheo thường, lỡ đêm, tá túc trong nhà hai mẹ con người nữ nọ. Nàng sanh nhiễm tâm với Tỳ kheo, đợi khi mẹ nàng ngủ say, bèn lén đến lôi Tỳ kheo. Tỳ kheo thức dậy, ngồi ngay ngắn. Cô nàng vốn thể chất yếu đuối, nên không cưỡng hành được, bèn bỏ đi. Đợi khi Tỳ kheo ngủ, lại mò đến nữa. Nhưng Tỳ kheo ngồi dậy, và cũng gạt đi như lần trước. Trải qua nhiều lần trong đêm, cho đến hết sáng, nàng không thực hiện được ý định. Tỳ kheo trở về tinh xá gặp Phật, trong tình trạngmệt mỏi. Phật biết rõ nguyên do, Ngài bèn chế giới.

ĐIỀU 5. Cọng vị thọ cụ đồng thất túc(ngủ chung nhà với người chưa thọ Cụ túc).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo ngủ đêm chung nhà với người chưa thọ đại giới, qua hai đêm, đến đêm thứ ba, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ngủ chung nhà với người chưa thọ Cụ túc, nội dung điều luật này cũng giống như điều 4 ở trên. Nhưng yếu tố đối tượng và thời gian có khác. Về đối tượng, điều 4 là người nữ, còn trong điều 5 này là tất cả những người chưa thọ Cụ túc giới.

Nguyên do Phật chế điều luật này, theo tường thuật của các bộ, trừ Tăng kỳ, là khi các cư sĩ ở lại suốt đêm trong Tăng viện để nghe các Tỳ kheo thuyết pháp; các Tỳ kheo trẻ tuổi ngủ ngay trong phòng có sự hiện diện của các cư sĩ. Do vì niên thiếu, khí lực cường tráng, các Tỳ kheo này khi ngủ không hộ ý chánh niệm, nên chiêm bao mộng mị, hoặc ngáy, hoặc nói mớ, hoặc lộ hình, nam căn khởi lên; nhân thế, các cư sĩ trêu ghẹo, chê cười, biếm nhẽ.

Theo tường thuật của Tăng kỳ 17 (tr. 365b), các Tỳ kheo chấp sự thuê các nhân công làm việc cho Tăng viện. Những người thợ này ngủ lại trong các phòng của Tỳ kheo, họ phóng uế, khạc nhổ bừa bãi, gây trở ngại cho sự hành đạo tọa thiền của các Tỳ kheo. Do đó, Phật chế giới, cấm Tỳ kheo ngủ chung đêm với người chưa thọ Cụ túc.

Tường thuật duyên khởi của Tăng kỳ mang cho điều luật này một ý nghĩa đặc biệt. Đó là, Tỳ kheo không được phép sống chung đụng giữa những người chưa thọ Cụ túc. Lý do các bộ khác nêu ra, theo đó, sự chung đụng như vậy thảng hoặc trong khi ngủ, cố nhiên mất ý thức cảnh giác, Tỳ kheo có thể có những khuyết điểm, khiến những người chưa thọ Cụ túc sanh tâm bất kính; lý do này chỉ có tính chất thứ yếu. Lý do quan trọng, phải nói là sự chung đụng ấy gây trở ngại cho phận sự hành đạo, tọa thiền của Tỳ kheo.

Về thời hạn, các bộ không đồng nhất. Ngũ phần, Thập tụng, Căn bản đều nói rõ là quá hai đêm. Về điểm này, Luật nhiếp 12 (tr. 592a) có giải thích: qua hai đêm, đến đêm thứ ba, cùng nằm xuông, phạm đột kiết la; khi minh tướng xuất hiện, phạm ba dật đề.

Tứ phần, như quy định được thấy trong chánh văn: quá hai đêm, đêm thứ ba, ba dật đề. Và bộ này giải thích: cùng ngủ đêm chung hai đêm; đến đêm thứ ba, trước khi minh tướng xuất hiện, cần phải bảo người chưa thọ Cụ túc đi ra chỗ khác. Đêm thứ tư, hoặc tự mình đi chỗ khác, hoặc bảo người chưa thọ Cụ túc đi chỗ khác. Như vậy, không nói đến tội đột kiết la trong đêm thứ ba như Luật nhiếp.

Riêng Tăng kỳ thì nói: quá ba đem, và chỉ giải thích đơn giản: trong thời hạn chỉ ba đêm mà thôi.

Thiện kiến 15 (tr. 779b) giải thích gần giống Tứ phần: đến đêm thứ ba, trước khi minh tướng xuất hiện, nên tránh đi. Nhưng nếu không tránh đi, mà ngủ chung trọn của ba đêm cũng không phạm. Đến đêm thứ tư, kể từ khoảng đầu hôm, nếu nằm hông sát chiếu hoặc đất, phạm ba dật đề.

Nhìn chung mà nói, Tứ phần, Thiện kiến và Tăng kỳ không khác nhau.

Nguyên do Phật tùy khai được phép ngủ đêm chung hai hoặc ba đêm, các bộ đều tường thuật hoàn toàn nhất trí. Do vì Phật kết giới, các Tỳ kheo không được phép ngủ chung nhà với người chưa thọ Cụ túc, do đó, La Hầu La không được các Tỳ kheo cho ngủ chung. Lúc bấy giờ, trong Tăng viện có Tỳ kheo mới đến, La Hầu La phải nhường phòng, và không còn phòng trống nào khác, nên phải ra ngoài nhà xí, suýt bị rắn độc cắn chết, nếu Phật không đến kịp thời. Phật khiển trách các Tỳ kheo thiếu tình cảm trong nhận thức về điều luật. La Hầu La, xuất thân vương giả, nhưng vì mục đích cao thượng mà từ bỏ đời sống vương giả và sống đúng với đức tính khiêm nhượng của người xuất gia. Nhưng không phải vì vậy mà các Tỳ kheo coi như là trẻ con côi cút, không người chăm sóc. Phận sự các Tỳ kheo là phải chăm sóc đời sống các Sa di nhỏ bé như vậy. Rồi nhân đó, Ngài tùy khai cho điều luật này.

+ Về hình thái trì phạm, cũng được phân tích giống như điều 4. Nghĩa là, cũng gồm các yếu tố: đối tượng, thời gian, không gian và oai nghi. Trong bốn yếu tố này, về đối tượng, phạm vi rộng hơn điều 4. Tứ phần còn nói rằng: nếu ngủ chung với tám bộ quỷ thần, với các loại súc sanh có khả năng biến hình hoặc không biến hình, thảy đều phạm đột kiết la. Các yếu tố còn lại, xem giải thích điều 4.

ĐIỀU 6. Dữ vị thọ cụ đồng tụng(tụng chung với người chưa thọ Cụ túc).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo cùng tụng đọc với người chưa thọ đại giới, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Cùng tụng đọc chung, nếu tổng hợp chánh văn của các bộ khác, câu này phải nói đủ là: cùng tụng đọc kinh pháp chung. Kinh pháp ở đây chỉ cho Pháp và Luật, do chính Phật giảng thuyết; hoặc các vị khác, như các đệ tử Phật, các đạo sĩ, các người có trí... thuyết, và được Phậtp ấn chứng là phù hợp với giáo pháp của Ngài.

Đối tượng tụng đọc chung ở đây bao gồm nội dung và hình thức. Nội dung là kinh pháp, như đã nói. Về hình thức, có ba thể tài: cú, vị và tự.

1) Cú là một chân trong thể thơ của tiếng Phạn. Một bài thơ có thể gồm nhiều chân, mỗi chân gồm nhiều âm tiết. Tùy theo thể thơ mà số chân và số âm tiết được quy định. Thể thông dụng trong kinh Phật, gọi là kệ, thường một bài thơ gồm 4 chân, và mỗi chân gồm 8 âm tiết. Quy tắc này cố nhiên không thể áp dụng trong các bản Hán dịch, vì âm vận Hoa Phạn bất đồng. Nhưng có thể lấy thí dụ, như dẫn chứng của Tứ phần, bài kệ sau đây có 4 chân:

Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành,

Tự tịnh kỳ ý,

Thị chư Phật giáo.

Trong đó, mặc dù mỗi chân không đủ 8 âm tiết, vì không thể áp dụng luật thơ của tiếng Phạn cho tiếng Hán; nhưng cũng có thể coi là đủ yếu tố để thành một chân của bài kệ.

Mỗi chân như thế có hai cách đọc để gọi là tụng đọc chung.

a. Đồng cú: Tỳ kheo và người chưa thọ cụ cùng xướng một lần với chữ chư; rồi cùng đồng loạt đọc chung hết một chân; sau đó, cùng đồng loạt đọc sang chân kế, cho đến hết bài kệ.

b. Tùy cú (Tứ phần dịch là phi cú nghĩa): Tỳ kheo đọc chân thứ nhất trước; người chưa thọ cụ nối chân thứ hai, và cả hai cùng đồng loạt đọc cho đến hết bài.

2) Vị, Tứ phần dịch là cú vị. Vị ở đây cũng còn được dịch là văn như trong các bản dịch thuộc A tỳ đàm của Huyền Tráng. Nhưng ý nghĩa trong A tỳ đàm có hơi khác với đây. Tứ phần cho thí dụ: nhãn vô thường, là một cú vị; nhĩ vô thường, là một cú vị. Vị cũng có hai cách gọi là tụng đọc chung giống như cú:

a. Đồng vị: cả hai cùng bắt đầu một lượt từ chữ nhãn, và cùng đồng tụng nhãn vô thường, v.v...

b. Tùy vị, Tứ phần gọi là phi cú vị. Người thứ nhất bắt đầu bằng câu nhãn vô thường; người thứ hai nối vào câu kế, và cả hai đồng tụng một lượt từ nhĩ vô thường, tỉ vô thường, v.v...

3) Tự, tức chữ. Trong tiếng Phạn, vì là ngôn ngữ đa âm, nên một tự là một âm, và nhiều tự như vậy hợp thành một từ ngữ. Một nguyên âm đủ để thành một tự; nhưng một phụ âm, nếu không phối hợp với nguyên âm, không thể đọc lên được, nên không thành tự. Trong Hán, nó được gọi là bán tự. Tứ phần cho thí dụ, từ a ba giá la; từ ngữ này gồm 4 âm tức 4 tự. Cách đọc của nó cũng có hai:

a. Đồng tự: cả hai cùng bắt đầu từ âm a, cùng đọc tiếp cho hết một từ ngữ.

b. Tùy ngữ, Tứ phần gọi là phi tự nghĩa. Người thứ nhất bắt đầu với âm a; người thứ hai nối vào từ âm ba, và cả hai cùng đọc cho hết một từ.

Cả sáu cách đọc trên đều được gọi là đồng tụng đọc.

Hữu bộ tỳ bà sa 6 (tr. 541c) nêu bốn chủ đích của điều luật này: để khác với ngoại đạo, để phân biệt thầy và trò, để nội dung được nghe và hiểu rõ, và vì y vào thật nghĩa chứ không phải y vào âm thanh.

Trong bốn chủ đích trên, tất cả các bộ đều nhấn mạnh đích thứ nhất. Trong tường thuật duyên khởi của các bộ, các Tỳ kheo khi dạy kinh pháp cho đệ tử xuất gia hoặc tại gia, cả người dạy và người học cùng tụng đọc một lượt. Khi cùng tụng đọc hòa âm hòa điệu nhau, thì giống như một ban hợp xướng. Hoặc khi không hòa âm điệu gì cả, thì lại lộn xộn, gây náo động. Các cư sĩ phiền trách những người này tụng đọc kinh Phật giống như các người Bà la môn đọc kinh điển Vệ Đà. Đây là điều đáng lưu ý. Các bài kinh Vệ Đà, ngoài ý nghĩa tư tưởng triết học và tôn giáo được dùng làm cơ sở tư duy và chiêm nghiệm, trong thường nhật chúng được tụng đọc để cầu nguyện thần linh. Kinh pháp của Phật là những cách ngôn chân lý; tuyệt đối không phải là những bài văn cầu nguyện, do đó sự tụng đọc cần chú trọng nội dung ý nghĩa, chứ không nên đọc như hát hoặc xướng theo tính cách bài kinh cầu nguyện.

Các bộ đều giải thích một cách nghiêm khắc điều luật này. Tuyệt đối trong mọi trường hợp, Tỳ kheo không được đồng tụng đọc với người chưa thọ Cụ túc, ngay cả khi cần phải dạy cho họ. Khi dạy, Tỳ kheo phải dặn người học biết là phải đợi mình dứt lời mới được lặp lại. Không dặn như vậy, Tỳ kheo phạm đột kiết la. Tuy vậy, giải thích của Căn bản tỳ nại da có phần bớt nghiêm khắc hơn. Theo đó, khi cần dạy người học đọc cho đúng, đồng tụng không phạm. Ngoài ra, các trường hợp nói cà lăm, nói láu, thảy đều không phạm.

ĐIỀU 7. Hướng vị thọ cụ thuyết tha thô tội(nói thô tội người khác cho người chưa thọ Cụ túc).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào biết rõ tội thô ác của Tỳ kheo khác, mà đem nó với người chưa thọ Cụ túc, trừ Tăng yết ma, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Tội thô ác,chỉ các tội danh thuộc các thiên ba la di và tăng già bà thi sa.

+ Biết rõ, biết rõ hành vi phi pháp của Tỳ kheo khác thuộc tội danh gì, trong thiên tụ nào.

+ Nói với người chưa thọ Cụ túc: sự nói này hoặc tội danh, hoặc tội sự, hoặc cả hai. Nói tội danh, tức chỉ kể tên thiên tụ của tội, như ba la di, hay tăng già bà thi sa hoặc thâu lan giá, nhưng không kể chi tiết dữ kiện hành vi. Nói tội sự, không nói tội danh, là chỉ kể dữ kiện hành vi mà Tỳ kheo đã phạm, chứ không nêu rõ tên của thiên tụ.

Về chủ đích của điều học này, các bộ nhấn mạnh hai điểm: Thứ nhất, đối với người chưa thọ Cụ túc, khiến họ mất tin tưởng, hoặc đối riêng với Tỳ kheo ấy, hoặc đối chung cả đoàn thể Tăng. Thứ hai, và điều này thực sự quan trọng, là khiến cho Tỳ kheo bị tố giác công khai ấy có mặc cảm tội lỗi đối với mọi người, do thế, có thể sanh tâm thối thất; hoặc khiến các Tỳ kheo khác, khi phạm tội, sợ bị tố giác công khai, không dám thú nhận để sám hối cho thanh tịnh.

Theo tinh thần chấp trì các học xứ, nếu Tỳ kheo nào đã lỡ phạm, và sau khi đã như pháp sám hối, vị ấy hoàn toàn được coi là thanh tịnh như các Tỳ kheo khác. Tội phạm đã được sám hối không còn là một ấn tượng xấu theo dõi vị ấy suốt đời, gây thành mặc cảm tội lỗi, và như thế khó có thể có những tiến bộ tâm linh trong việc chấp trì các học xứ. Nhưng đối với tâm lý phổ thông, quên đi thói xấu của mình thì dễ, nhưng quên thói của người khác thì thật là khó. Do vậy, nói cho một người chưa thọ Cụ túc biết tội lỗi của một Tỳ kheo, chính là gián tiếp treo bản án chung thân vào Tỳ kheo ấy trước mọi người.

Tường thuật duyên khởi của các bộ đều làm rõ ý nghĩa này. Một Tỳ kheo Thượng tọa phạm tăng già bà thi sa, được Tăng tác pháp cho hành ba lị bà sa, hoặc đang hành ma na đỏa, nên mỗi khi Tăng thọ thực, phải ngồi ở vị trí thấp kém. Các cư sĩ quen biết Tỳ kheo này, vì đã từng rõ vị trí của vị ấy trong Tăng chúng, nên thắc mắc. Một số Tỳ kheo, hoặc chính nhóm sáu Tỳ kheo, nói cho các cư sĩ biết, cách ngồi như vậy là thích hợp, vì Tỳ kheo ấy phạm tăng già bà thi sa, đang hành biệt trú, hoặc đang hành ma na đỏa. Sự kiện này khiến các cư sĩ, hoặc mất sự tin tưởng và kính trọng đối với Tỳ kheo phạm thô tội, hoặc khiến họ mất tin tưởng lấy sang các Tỳ kheo khác. Cũng có Tỳ kheo Thượng tọa, trong khi đang hành sám tăng già bà thi sa, cần chấp lao phục dịch các Tỳ kheo khác. Nhóm sáu Tỳ kheo bèn dẫn giải ý nghĩa các hành vi chấp lao phục dịch này cho các Sa di vốn là đệ tử của Tỳ kheo đang hành sám. Sau khi được Tăng xuất tội, Tỳ kheo ấy trở lại đời sống bình thường, nhưng các Sa di đệ tử không chịu nghe lời chỉ bảo cho rằng thầy không xứng đáng. Tỳ kheo ấy phải giảng cho biết là Tỳ kheo dù phạm tội, trừ ba la di, sau khi đã như pháp sám hối, không còn được coi là không thanh tịnh hay không xứng đáng là Tỳ kheo.

Trên đây là tường thuật tổng hợp, lấy mỗi chi tiết từ một bộ khác nhau.

Nhân các sự việc xảy ra như vậy, Phật bèn chế giới này.

+ Trừ Tăng yết ma: trong trường hợp cần có biện pháp chế tài đối với Tỳ kheo phạm thô tội; hoặc để ngăn ngừa ảnh hưởng xấu mà Tỳ khro phạm thô tội gây ra nơi các người chưa thọ Cụ túc; hoặc để loại bỏ trách nhiệm về những hành vi có thể xảy ra từ Tỳ kheo phạm thô tội, gây tổn thương danh dự hay đời sống của các Tỳ kheo khác, Tăng có thể tác pháp yết ma, sai một Tỳ kheo tuyên bố thô tội của Tỳ kheo phi pháp trước công chúng.

Nguyên do của sự công bố này, theo tường thuật của đa số các bộ, là vì sự kiện phá hòa hợp Tăng và chống lại sự can gián, hòa giải của Tăng đối với Đề Bà Đạt Đa, như đã đề cập trong điều 10, chương Tăng già bà thi sa, Phật khiến tăng tác yết ma sai ngài Xá Lợi Phất công bố hành vi phá Tăng của Đề Bà Đạt Đa cho dân chúng trong thành Vương Xá biết.

Riêng Tăng kỳ 14 (tr. 337c) kể một nguyên nhân khác. Một Tỳ kheo khất thực, bị một nữ cư sĩ khước từ bố thí, vì nàng biết rõ hành vi phi pháp của Tỳ kheo Ca Lô (tức Ca Lưu Đà Di). Vì đã có điều cấm của Phật, nên Tỳ kheo khất thực này không nói gì về sự phi pháp của Ca Lô, đành phải nhịn đói. Phật hay biết sự vụ, khiến Tăng yết ma cho phép Tỳ kheo nói tội thô ác của Ca Lô với người chưa thọ Cụ túc.

Văn yết ma Tăng sai này đã được dẫn trong điều 10 thuộc chương Tăng già bà thi sa ở trước.

Tuy nhiên, Thập tụng 10 và Căn bản tỳ nại da 9 kể một số trường hợp khó khăn của người được Tăng sai công bố. Tường thuật của Căn bản kể rằng, một Tỳ kheo được Tăng sai bị Tỳ kheo phạm hăm dọa, nên trình cho Tăng biết không kham nổi sứ mạng. Trong trường hợp này, Tăng tác pháp đơn bạch để cho tập thể công bố.

Khi phân tích nội dung của yết ma công bố tội thô ác này, Thập tụng và Căn bản đều gợi cho biết cần quy định rõ sự hạn chế: hoặc hạn chế tội và đối tượng, nghĩa là, trong số các tội, chỉ được phép công bố tội nào đó thôi; và trước những gia đình cư sĩ, hay những người chưa thọ Cụ túc, phải quy định rõ, chứ không thể công bố cho bất cứ ai. Hoặc chỉ hạn chế tội, không hạn chế đối tượng, hoặc không hạn chế cả hai.

Tổng chung, theo Thập tụng và Căn bản, có hai pháp Tăng yết ma cho trường hợp công bố này. Pháp thứ nhất, yết ma bạch nhị, Tăng sai một Tỳ kheo đi công bố. Tứ phần không nêu văn yết ma trong điều 7 của ba dật đề này, vì đã nêu trong điều 10 của chương Tăng già bà thi sa.

Về nội dung văn bạch nhị yết ma Tăng sai, Thập tụng và Căn bản đại thể giống nhau. Dưới đây trích dịch từ Thập tụng 10 (tr. 72c):

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo mỗ giáp có khả năng làm người công bố tội, có thể công bố trước cư sĩ mỗ giáp tội của Tỳ kheo mỗ giáp. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận sai Tỳ kheo mỗ giáp làm người công bố tội, có thể công bố trước cư sĩ mỗ giáp tội của Tỳ kheo mỗ giáp. Đây là lời tác bạch.

Văn yết ma, chuẩn theo trên đây.

Về yết ma Tăng tập thể công bố, Tứ phần, Ngũ phần và Tăng kỳ đều không đề cập. Thập tụng quy định là pháp bạch tứ; Căn bản nói là pháp đơn bạch.

Văn bạch tứ của Thập tụng 10 (tr. 73a):

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo mỗ giáp đã được Tăng tác yết ma công bố tội, nhưng vẫn gây phiền nhiễu Tăng. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận, hết thảy Tăng đều tùy ý, tùy thời, tùy xứ công bố tội của Tỳ kheo mỗ giáp. Đây là lời tác bạch.

Ba lần yết ma, văn chuẩn theo tác bạch trên.

Dưới đây dẫn thêm văn đơn bạch của Căn bản tỳ nại da 27 (tr. 773b) để tiện đối chiếu:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo… đối với các tục gia làm điều phi pháp, khiến nhiều người không sanh kỉnh tín. Nay không có ai kham năng đến nhà thế tục công bố tội ấy. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận. Nếu Tăng thấy Tỳ kheo đối với các tục gia làm điều phi pháp tại chỗ nào, tại chỗ ấy Tăng sẽ nói với tục gia ấy rằng: “Nhân giả, nên biết, tội xấu Tỳ kheo này gây tổn hại thánh giáo. Nên biết, người ấy tự gây tổn hại cho mình, như hạt giống đã hư không còn sanh chồi được nữa, nay ở trong pháp và luật của thánh giáo không thể tăng trưởng. Nhân giả hãy nên quan sát sở hành của Đức Như Lai, bậc Ứng cúng, Đẳng chánh giác, và sở hành của các Thượng tọa A Nhã Kiều Trần Như v.v… Đây là lời tác bạch.

Cũng cần lưu ý rằng, trong các văn bạch dẫn trên, chỉ công bố tên Tỳ kheo phạm tội, chứ không nói rõ tội danh thuộc thiên tụ nào cả.

ĐIỀU 8: Hướng vị thọ cụ thuyết thật sở chứng(nói sở chứng cho người chưa thọ cụ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo đối với người chưa thọ Cụ túc, tự nói mình chứng ngộ pháp thượng nhân rằng: “Tôi biết điều này. Tôi thấy điều này”. Nếu đây là sự thật, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Nguyên nhân của điều luật này với điều 4 của ba la di là một. Trong ba la di, là trường hợp của các Tỳ kheo thật sự không chứng ngộ mà tuyên bố là mình đã chứng ngộ. Đây là tội đại vọng ngữ. Trong điều 8 ba dật đề này, là trường hợp các Tỳ kheo thật sự có chứng ngộ.

Tăng kỳ 13 (tr. 337a) ghi lời khiển trách các Tỳ kheo tuyên bố này rằng: “Chẳng khác nào những dâm nữ bán sắc đẹp của mình để tự nuôi sống. Các ngươi cũng vậy, đem pháp thượng nhân vi diệu mà mình đã thật sự chứng ngộ đi bán để đổi lấy nhu cầu của miệng và bụng”.

Về cơ bản, điều luật này giống điều 4 ba la di, nhưng có hai điểm khác biệt:

a. Nói với người chưa thọ Cụ túc. Tứ phần 11 phân tích: nếu nói với Tỳ kheo khác, mà vị này không đồng ý, phạm đột kiết la. Nếu đồng ý, không phạm. Nếu nói với 8 bộ quỷ thần, các loại súc sanh có khả năng biến hình, phạm đột kiết la.

Luật nhiếp 9: nếu Tỳ kheo hiện thần thông trước các người thế tục, phạm đột kiết la. Nhưng nếu hiện với mục đích hiển dương thánh giáo, không phạm.

Nói tổng quát, trường hợp nào mà trong điều 4 ba la di là phạm ba la di, thì ở đây phạm ba dật đề; trường hợp nào mà trong điều 4 ba la di nói phạm thâu lan giá hoặc đột kiết la, thì ở đây phạm đột kiết la. Như vậy, các chi tiết khác, đối chiếu trong điều 4 ba la di để rõ thêm.

Ngoài ra, cũng nên nhắc lại, vì đây là hành vi thuộc ngữ nghiệp, nên cũng cần hội đủ 4 yếu tố cơ bản để thành tựu nghiệp đạo về ngữ, như đã giải trong điều 1 ba dật đề đoạn trước. Các trường hợp nói gián tiếp, như hiện thân tướng, ra dấu, chứ không trực tiếp nói thành lời, thảy đều phạm đột kiết la.

ĐIỀU 9. Dữ nữ nhân thuyết pháp quá ngũ lục ngữ(Nói pháp cho người nữ quá năm sáu lời).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nói pháp cho người nữ quá năm, sáu lời, trừ có mặt người nam có trí, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Điều học này liên hệ đến một chi tiết trong kinh Đại Bát Niết Bàn.Theo đó, A Nan hỏi Phật về thái độ của Tỳ kheo đối với các người nữ nên thế nào, Phật đáp, tốt hơn không nên nói chuyện với họ. Cũng có thể chính chi tiết ấy là cơ sở của điều học này. Nhưng các bộ đều nêu những duyên khởi mà không cho thấy có liên hệ gì với đoạn kinh vừa kể.

Theo Tứ phần 11 (tr. 640a), nguyên do đầu tiên là Ca Lưu Đà Di rỉ tai nói pháp với một nàng dâu, bị mẹ chồng của nàng nghi ngờ và chỉ trích. Phật chế giới: Tỳ kheo nói pháp cho người nữ, ba dật đề. Tiếp theo sau là hai trường hợp tùy khai. Trường hợp thứ nhất, nhân khi các người nữ có tín tâm muốn nghe pháp, nhưng các Tỳ kheo vì đã có Phật chế nên không thuyết. Phật tùy khai, cho phép được nói năm hoặc sáu lời. Và thứ hai, sau nữa, các Tỳ kheo tuân theo điều Phật chế, chỉ nói đến năm, sáu lời rồi dứt, dù được yêu cầu nói thêm cho rõ. Nhân đấy, Phật lại tùy khai: trừ khi có sự hiện diện của người nam có trí.

Tường thuật của Ngũ phần 6 giống như Tứ phần. Chỉ thay đổi nhân vật: Tỳ kheo Bạt Nan Đà nó pháp cho bà mẹ chồng, khi nàng dâu đến thì im lặng; hoặc khi thuyết cho nàng dâu, mẹ chồng đến thì im lặng; khiến hai người nghi ngờ nhau. Các diễn tiến tiếp theo để Phật tùy khai, đại thể như Tứ phần.

Tường thuật của Tăng kỳ 13 cũng giống như Tứ phần, nhưng chi tiết khác hơn một chút.

Thập tụng 9 và Căn bản tỳ nại da 26 giống nhau: Tỳ kheo Ô Đà Di vốn thiện nghệ coi tướng, có thể đoán biết những ẩn tướng tại các chỗ kín trong thân phụ nữ. Gặp mẹ chồng thì nói ẩn tướng của nàng dâu, và gặp nàng dâu thì nói ẩn tướng của mẹ chồng. Cả hai người nghi ngờ lẫn nhau có tư thông với Tỳ kheo. Nhưng sau đó họ biết rõ đấy chỉ là sự đoán tướng chơi của Ô Đà Di.

+ Trong điều học này, có ba yếu tố căn bản của hình thái trì phạm:

1) Đối tượng là người nữ. Cụ thể là người nữ có thể hành dâm. Về sự phân biệt, hạng nữ nào là đối tượng để thành ba dật đề, hạng nào thành đột kiết la, cũng giống như đã giải thích trong điều 4 của ba dật đề ở trên; hoặc như trong điều 1 của ba la di, trong đó, đối tượng của ba la di thì ở đây thành ba dật đề; đối tượng của thâu lan giá hoặc đột kiết la thì ở đây thành đột kiết la

2) Nội dung là kinh pháp, nhưng chỉ được phép nói trong giới hạn năm hoặc sáu lời. Các bộ đều giải thích, năm lời chỉ các đề tài liên hệ năm uẩn; sáu lời, liên hệ sáu xứ. Tuy nhiên, Tứ phần 11 cũng phân biệt thêm rằng những bài pháp liên hệ Tam quy, Ngũ giới, Bát quan trai giới, Bát thánh đạo, Thập thiện nghiệp đạo và Bất thiện nghiệp đạo đều được phép nói. Nếu nói vượt ngoài phạm vi của các đề tài ấy, gọi là phạm ba dật đề.

Thiện kiến 15 nêu một giải thích khác về ý nghĩa năm, sáu lời, nhưng sự giải thích không được rõ ràng: “Một bài kệ một chân mà âm thanh liên tiếp không dứt, là một tội ba dật đề. Nếu ngắt từng câu, mỗi câu là một ba dật đề. Nếu một câu kinh văn với năm chân nghĩa sớ, cộng thành sáu câu, không phạm… Nếu có người nữ hỏi các sự việc trong Trường a hàm, Tỳ kheo tùy theo câu hỏi mà trả lời, cho đến trọn cả bộ A hàm cũng không phạm”.

Trong đây, nói người nữ, không hạn chế một hay nhiều. Tất cả, nếu là nữ, cùng nghe một lần, đều là đối tượng để thành ba dật đề. Điều này, Tăng kỳ 13 giải thích: nếu nói cho một người nữ, được phép nói một bài kệ rưỡi; cho hai người nữ, được ba bài kệ. Nếu cho nhiều người nữ, Tỳ kheo phải lần lượt nói từng đối tượng một, còn những người còn lại được coi là dự nghe, không kể là đối tượng nghe chính thức. Mỗi đối tượng được phép nói sáu câu kệ. Lần lượt nói cho từng người xong, khi đi ra, nếu nói lời chú nguyện mang ý nghĩa: mong cho đoạn tận biên tế sự khổ, như vậy là nói pháp quá hạn: ba dật đề. Nhưng nếu chú nguyện: sống an lạc, không bịnh, vì nội dung này không liên hệ gì đến kinh pháp, nên không phạm.

Thập tụng 9 (tr. 70c) giải thích ngược lại: Tỳ kheo nói pháp cho một người nữ đủ giới hạn năm sáu lời; một người nữ khác đến, Tỳ kheo nói thêm cho người mới đến, và cả hai cùng nghe, phạm ba dật đề.

Căn bản tỳ nại da 26 (tr. 770b): giả sử Tỳ kheo ở trên gác thuyết pháp cho người nữ, đủ năm sáu lời, sau đó xuống gác dưới, người nữ yêu cầu nữa, có thể nói thêm lần nữa, cũng trong giới hạn năm sáu lời; ra ngoài thềm, ngoài đường v.v… cũng vậy. Nghĩa là, dù vẫn đối tượng cũ, nhưng thay đổi thế phần của không gian, có thể nói thêm.

Các giải thích của các bộ đưa ra có vẻ rắc rối. Tựu trung, nội dung phải là đề tài liên hệ kinh pháp. Các lời trao đổi, thăm hỏi bình thường, hay những câu hỏi không liên hệ nội dung kinh pháp, không giới hạn năm sáu lời. Phải chăng bản ý của các bộ trong những giải thích của họ cho rằng nếu nói nhiều quá số hạn ấy khiến người nữ có thể sanh nhiễm tâm đối với Tỳ kheo chăng?

3) Sự hiện diện của người nam có trí. Người nam có trí, tức có hiểu biết phải quấy, có thể hiểu nội dung những điều Tỳ kheo nói. Tăng kỳ 13 phân biệt bốn loại người nam này: chỉ thấy chứ không nghe, nghĩa là điếc; nghe chứ không thấy, tức mù; vừa thấy vừa nghe; và không thấy cũng không nghe. Trong đó, thấy nhưng không nghe hoặc nghe nhưng không thấy, chỉ được gọi là một nửa người nam. Nếu hoàn toàn không nghe cũng không thấy, không gọi là có sự hiện diện của người nam.

Nếu có sự hiện diện của người nam, dù đối tượng nghe pháp chủ yếu là các người nữ, Tỳ kheo nói bao nhiêu lời, bao nhiêu câu, thảy đều không phạm.

Điểm chung nên lưu ý rằng, điều học này chỉ áp dụng cho đối tượng là nữ cư sĩ. Đối với các ni, vì Tỳ kheo có bổn phận giáo giới như luật đã quy định, do đó, không hạn chế lời nói, không bắt buộc có sự hiện diện của người nam.

ĐIỀU 10. Hoại sanh địa(phá hoại đất sống).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo tự tay mình đào đất, hoặc khiến người đào, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Sanh địa, hay đất sống. Tứ phần nói là quật địa: đất đã được đào. Đất sống chỉ cho đất có khả năng làm sanh trưởng các loại cây cỏ. Luật nhiếp 13 (tr. 600c): “Sanh địa, nghĩa là đất chưa từng được đào xới. Nếu đã bị đào xới, nhưng được trời mưa ướt, hoặc được nước tưới, qua ba tháng, đất ấy trở thành sanh địa”. Thập tụng 16 (tr. 117b): Ở xứ mưa nheièu, qua 8 tháng; ở xứ mưa ít, qua 4 tháng, đất được đào xới trở thành sanh địa. Trái lại, gọi là phi sanh địa, hoặc bất sanh địa, hoặc nói theo Tứ phần: vị quật địa.

Thiện kiến 15 (tr. 780b) phân biệt chân địa: đất thuần túy, và phi chân địa. Chân địa là đất không trộn hoặc trộn lẫn cát, sạn, sỏi, đá; hoặc có trộn lẫn nhưng ít. Phi chân địa thì trái lại. Trong đó, nếu chỉ có một phần là đất, ba phần còn lại là các thứ cát sạn dá sỏi đều gọi là phi chân địa. Đất bịt hiêu đốt cũng gọi là phi sanh địa; nhưng nếu qua 4 tháng, do trời mưa nước thấm, nó cũng trở thành chân địa.

Nói tóm, trong điều học này, đối tượng để thành ba dật đề đều có mầm sống, mà các thứ cây cỏ có thể sanh trưởng.

Tường thuật duyên khởi của các bộ đều nói rằng, khi các tỳ kheo đào đất, lấy đất làm nhà v.v…, các cư sĩ có người tin rằng đất có mạng căn, tức có linh hồn, cho rằng các Tỳ kheo phạm sát sanh, do đó Phật chế giới. Tăng kỳ 19 có ghi nhận xét của Phật rằng: Mặc dù trong đó không có mạng căn, nhưng đào xới đất đai là việc Tỳ kheo không nên làm.

+ Tỳ kheo tự tay đào, khiến người đào sanh địa, đều phạm ba dật đề. Chánh văn của các bộ Ngũ phần, Tăng kỳ, Thập tụng đều có thêm yếu tố: chỉ định chỗ đào. Trong chánh văn của Tứ phần và Căn bản không có chi tiết này, nhưng trong phần giải thích có ghi rõ: Tỳ kheo không trực tiếp chỉ định chỗ đào. Nếu cần đất để tô trét vách, hay tu tạo chùa tháp các thứ; cần chỗ nào thì chỉ chỗ ấy mà nói gián tiếp::”Hãy nhận biết cái này. Hãy xem xét cái này”. Nói như thế, nếu tịnh nhân vẫn không hiểu ý, có thể nói: “Tôi cần đất”.

Điều luật này chỉ cấm đào sanh địa; nếu không phải là sanh địa, Tỳ kheo dù tự đào cũng không phạm.

ĐIỀU 11. Hoại sanh chủng(phá hoại mầm sống).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào phá hoại mầm sống cây cối, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Mầm sống cây cối, chánh văn Tứ phần nói: quỷ thôn, nghĩa đen là “xóm làng của quỷ thần”. Nguyên tiếng Phạn được phiên âm là bộ da, thường dịch là quỷ thần, nhưng nghĩa rộng của nó là bao gồm tất cả mầm sống, cũng gọi là tố chất của sự sanh trưởng hay tồn tại. Do đó, quỷ thần thôn bao hàm hai ý nghĩa chính. Nghĩa căn bản là mầm sống cây cối; nghĩa hàm ý tín ngưỡng là xóm làng của quỷ thân. Theo tín ngưỡng này, các quỷ thần thường nương ngụ trên các cây cối, nhất là các đại thọ. Vả lại, cây cối còn là chỗ nương náu của nhiều loại côn trùng, cầm thú; do đó, Căn bản và Luật nhiếp còn dịch là hữu tình thôn, nghĩa đen là chỗ nương tựa của các hữu tình.

+ Duyên khởi của điều luật này cũng giống như của điều 10 trên. Các Tỳ kheo, cần doanh tạo, nên chặt phá cây cối. Hoặc khi chặt cây lớn, chỗ nương náu của quỷ thần. Thần cây đến thưa Phật về sự phá hoại của Tỳ kheo. hoặc các cư sĩ, ngoại đạo chỉ trích các Tỳ kheo sát sanh, vì họ quan niệm, cây cối cũng như đất đai, đều có linh hồn. Tăng kỳ 14 (tr. 339) ghi nhận xét của Phật: “Mặc dù trong đó không có mạng căn (linh hồn), nhưng các ngươi không nên chặt phá”. Nhưng, điều luật này, xét bên ngoài, có chủ đích tránh những cơ hiềm của thế tục, những người tin tưởng rằng đất sống cũng như cây sống đều có linh hồn; còn xét về bản chất, mục đích chủ yếu có lẽ ngăn các Tỳ kheo quá chuyên những việc doanh tạo mà bỏ phế phận sự chính là tu tập Thánh đạo.

Theo giải thích của Hữu bộ tỳ bà sa 6 (tr. 543b), điều luật này cũng như điều 10 trên được thiết lập vì ba mục đích lợi ích cho Tỳ kheo: thứ nhất, không gây não hại các loại hữu tình; thứ hai, ngăn ngừa sự chê bai; thứ ba, đại hội Phật pháp. Chủ đích thứ ba được coi là chính yếu. Vì do đó mà các quốc vương sẽ bắt các Tỳ kheo phải sưu dịch.

Dù sao, ở đây có thể xác định rằng, duyên khởi của điều luật này là do từ những tín ngưỡng về phiếm thần đương thời. Nhưng thâm ý của sự chế giới của Phật thì vượt ngoài phạm vi tín ngưỡng ấy.

+ Đối tượng ngăn cấm phá hoại trong điều luật này bao gồm hai loại: cây cỏ sống và các loại mầm sống. Chánh văn của Tứ phần gọi chúng là quỷ thôn, và giải thích thôn chỉ chó tất cả các loại thảo mộc, và có 5 loại: loại sanh từ rễ hay củ, từ nhánh, từ mắt, từ phú la và từ hạt. Chánh văn của Tăng kỳ và Căn bản ghi rõ cả hai: chủng tử thôn và hữu tình thôn. Về chủng tử thôn, tức các loại mầm sống, cũng được chia thành 5 loại: 1. Mầm sống từ rễ hay củ, như gừng, hương phụ tử v.v… 2. Mầm sống từ cọng hay nhánh, như bồ đề, thạch lựu v.v… 3. Mầm sống từ mắt, như mía, tre các thứ. 4. Mầm sống từ hạt, như thóc, lúa mạch v.v…

+ Các hình thức phá hoại là chặt, đốn bằng dao, búa v.v…, hoặc đập nát bằng đá, hoặc đốt cháy, hoặc đổ nước sôi v.v… Nói chung, bất cứ bằng cách nào, khiến cho cây cối đang sống bị khô chết, hoặc mầm sống bị hủy hoại không sanh trưởng, đều gọi là phá hoại.

+ Về phạm tướng, theo phân tích của Thập tụng và Căn bản, mỗi một hành động phá hoại là một đột kiết la; trong một hành động phá hoại, có bao nhiêu đối tượng bị hủy hoại là bấy nhiêu ba dật đề.

+ Trong đây, còn có thêm nhiều khoản phụ. Đối với các loại rau, trái hay hạt mà mầm sống chưa bị hủy diệt, trước khi dùng, phải tác tịnh. Hữu bộ tỳ bà sa 6 nói: Tỳ kheo ăn trái cây có hạt mà không tác tịnh, nếu nuốt trôi khỏi cổ: đột kiết la; nếu cắn cho vỡ: ba dật đề.

Tác tịnh, tức làm phép, để coi như rau trái v.v… các thứ này đã hết mầm sống rồi, Tỳ kheo có thể dùng. Luật nhiếp 9 (tr.577b) ghi có 5 cách tác tịnh: 1. Hỏa tịnh, đưa ngang qua lửa một lần. 2. Đao tịnh, gọt hay rạch bằng dao cho có dấu cắt. 3. Tiễn tịnh, thú vật đã cắn. 4. Điểu tịnh: chim chóc đã mổ vào. 5. Trảo tịnh: bấm móng tay cho có dấu. Sự tác tịnh này cố nhiên do tịnh nhân làm. Nếu Tỳ kheo tự mình tác tịnh bằng lửa hay dao v.v… phạm ba dật đề; nhưng khi ăn thì không phạm gì cả.

Trường hợp tác tịnh các loại rau trái như vậy là cách giải thích rộng rãi cho phạm vi áp dụng của điều luật này mà thôi.

ĐIỀU 12. Dị ngữ não Tăng. (nói quanh co gây phiền Tăng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào nói quanh và gây phiền vị khác, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Dị ngữ là nói lời khác, nói quanh; người hỏi một đường, đáp một nẻo, mục đích đánh trống lảng, hay cố xoay cho lạc hướng đề tài.

Bản chất điều học này cũng giống như điều 13 của tăng già bà thi sa nhưng mức độ nhẹ hơn. Có lẽ dịch giả không tìm ra từ Hán chính xác, nên dịch mà như là giải vậy.

Chánh văn của Căn bản nói: vi não ngôn giáo, chống trái và gây phiền đối với lời khuyên bảo.

Các bộ còn lại, đại thể như Tứ phần.

+ Trong đây, chánh văn tuy một, nhưng thực tế bao gồm hai ba dật đề: một thuộc dị ngữ, và một nữa thuộc não Tăng.

1) Dị ngữ: Trưởng lão Xiển Đà phạm tội. Các Tỳ kheo hỏi, bèn kiếm lời nói quanh: Các ngài nói với ai? Nói chuyện gì? Đang thảo luận điều gì? v.v… Do đó, các Tỳ kheo không thể tác pháp cử tội được. Phật khiến các Tỳ kheo nên tác pháp yết ma dư ngữ đối với Xiển Đà. Văn đơn bạch yết ma theo Tứ phần 12 (tr. 642b) như sau:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo Xiển Đà này phạm tội. Các Tỳ kheo hỏi: “Đại đức nay có tự biết phạm tội chăng?”. Tỳ kheo Xiển Đà bèn đem sự việc khác trả lời các Tỳ kheo rằng: “Các Đại đức đang nói với ai? Nói chuyện gì? Đang thảo luận điều gì? Nói với tôi chăng? Nói với người khác chăng? Ai phạm tội vậy? Tội đó đâu sanh vậy? Tôi không thấy tội”. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận xác định Xiển Đà nói dư ngữ. Đây là lời tác bạch.

Thập tụng gọi đây là ức thức pháp, và yết ma bạch nhị chứ không phải đơn bạch.

Căn bản gọi đây là yết ma ha trách, và bạch tứ chứ không phải bạch nhị hay đơn bạch.

Trước khi Tăng tác yết ma, Tỳ kheo nói quanh phạm tội đột kiết la. Sau khi Tăng tác yết ma thành tựu như pháp, Tỳ kheo ấy phạm ba dật đề.

2) Não Tăng: Sau khi được Tăng tác yết ma dư ngữ, Xiển Đà cố tình gây phiền nhiễu cho Tăng bằng cách khi được Tăng gọi thì không đến. Hoặc đến, nhưng khi Tăng hỏi thì im lặng. Phật khiến các Tỳ kheo tác yết ma xúc não. Văn đơn bạch của Tứ phần:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo Xiển Đà sau khi đã được Tăng tác pháp xác định dư ngữ, bèn xúc não Tăng bằng cách, khi gọi thì không đến, khi không gọi thì đến; khi cần đứng dậy thì không đứng, khi không cần đứng dậy thì đứng; khi cần nói thì không nói, khi không nên nói thì nói. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận xác định Xiển Đà xúc não. Đây là lời tác bạch.

Thập tụng cũng gọi đây là ức thức pháp, và cũng bạch nhị như trên. Căn bản cũng gọi là yết ma ha trách, và cũng bạch tứ như trên.

Trước khi Tăng tác yết ma xúc não, Tỳ kheo gây phiền nhiễu Tăng phạm đột kiết la; sau khi Tăng đã tác yết ma như pháp thành tựu, Tỳ kheo ấy phạm ba dật đề.

Về hiệu lực hai pháp yết ma trên, Hữu bộ tỳ bà sa 6 (tr. 544a) dẫn giải: trừ việc làm Hòa thượng truyền giới Cụ túc, làm y chỉ sư và nhận đệ tử Sa di, còn lại tất cả các yết ma khác, Tỳ kheo bị cử bởi hai yết ma này đều được tham dự như các Tỳ kheo khác. Khi nào Tỳ kheo này phục tùng, nhận tội, Tăng tác pháp giải, nhưng không thấy ghi văn giải. Trước khi được tác pháp giải, nếu Tỳ kheo ấy hoàn tục, rồi sau đó trở lại thọ Cụ túc, hai yết ma trong đây vẫn còn hiệu lực.

Nói tóm lại, điều học này có mục đích chế tài các Tỳ kheo có tánh ngoan cố, không chịu phục tùng các biện pháp xử lý của Tăng đối với hành vi phi pháp mà mình đã phạm.

ĐIỀU 13. Khinh hủy tri sự nhơn(chê bai và nói xấu chấp sự của Tăng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào chê bai và nói xấu (chức sự của Tăng), ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Chê bai và nói xấu, chánh văn của Tứ phần nói là hiềm mạ: chê bai và nhiếc mắng. Các chữ trong ngoặc, không có trong chánh văn, ở đây thêm cho rõ nghĩa.

Theo định nghĩa của Tứ phần 12 (tr. 643), hiềm là nói xấu ở chỗ mà người bị nói xấu thấy chứ không nghe; mạ là nói ở chỗ nghe nhưng không thấy.

Chánh văn của Tăng kỳ nói hiềm trách: chê bai và trách móc; không phân biệt trước mặt hay sau lưng.

Chánh văn của Ngũ phần nói: vu thuyết Tăng sở sai nhơn, nói lời vu khống đối với Tỳ kheo được Tăng sai.

Căn bản tỳ nại da: hiềm hủy khinh tiện, và giải thích (tr. 777): đối diẹn, gọi đích danh mà nói xấu; khinh tiện, giả thác người hay vật khác mà nói xấu, tức chửi cạnh.

Thập tụng gọi hai cách nói xấu này là đối diện cơ, chê bai ngay mặt, và diêu cơ, chê bai sau lưng.

Trong điều luật này gồm cả hai tội ba dật đề: nói xấu hay chê bai trước mặt, và nói xấu hay chê bai sau lưng; hoặc, nói trực tiếp hay gián tiếp.

Nguyên do, nội dung sự việc giống như điều 8 và 9 trong thiên Tăng già bà thi sa. Hai Tỳ kheo Từ và Địa bất mãn, cho rằng tôn giả Đạp Bà, được Tăng sai làm người phân xử, nhưng sắp đặt chỗ ngồi và phân chia vật thực không công bằng. Thay vì vu khống bằng pháp ba la di không căn cứ như trong thiên Tăng già bà thi sa, ở đây chỉ nói xấu.

Theo phân tích của Thập tụng 10 và Căn bản tỳ nại da 6, đối với Tỳ kheo được Tăng sai làm người chấp sự mà chê bai hay nói xấu, khi yết ma Tăng sai chưa xả: ba dật đề; đã xả: đột kiết la.

Tứ phần 12 cũng phân biệt rõ rằng, chỉ đối với Tỳ kheo Tăng sai là người đủ 5 đức mà chê bai hay nói xấu mới phạm ba dật đề. Nếu lời nói xấu là sự thật, nghĩa là Tỳ kheo Tăng sai không đủ 5 đức: tùy ái, tùy sân, tùy bố, tùy si và không biết thứ tự nên phân hay không nên phân, nói tóm, là người thiên vị, bất công, làm việc Tăng theo tùy hứng: với Tỳ kheo ấy, dù có chê bai hay nói xấu, thảy đều không phạm.

ĐIỀU 14. Lộ xứ bất cử phu cụ(không cất vật dụng nằm ngồi).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào mang giường dây, giường gỗ, ngọa cụ, đệm ngồi, tự mình hoặc bảo người dọn trải ở chỗ trống, khi bỏ đi không tự mình hoặc không bảo người dọn cất, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Giường dây, chỉ chung các loại giường để nằm.

+ Giường gỗ, chỉ chung các loại ghế dùng để ngồi.

+ Ngọa cụ, các vật được trải ra để nằm hoặc ngồi.

+ Đệm ngồi, chỉ chung các thứ đệm hay nệm được lót để nằm hoặc ngồi. Ngọa cụ là nệm ngồi, Căn bản gọi chung là phu cụ. Vì ý nghĩa phu cụ, xem chương bốn, ni tát kỳ 11.

+ Của Tăng, chỉ bốn thứ vật dụng nằm ngồi ở trên là Tăng vật. Tăng ở đây chỉ bốn phương Tăng.

Vật dụng tứ phương Tăng, là sở hữu tập thể. Tỳ kheo sử dụng mà không biết cất dọn để bảo trì, như thế là phá hoại của chung. Thập tụng (tr. 77a) dẫn lời Phật: “Các ngươi sử dụng ngọa cụ của Tăng, tại sao không biết bảo trì mà chà đạp cho hư hoại? Các cư sĩ vắt cạn máu thịt của mình, vì cầu phước nên bố thí cúng dường, các ngươi phải biết thọ dụng và bảo trì cho tốt”. Đây là ý nghĩa chính của điều học này.

+ Ở chỗ trống, ở chỗ không có ngăn che, mưa gió có thể xâm hại.

+ Trong đây, có 4 yếu tố căn bản cấu tạo thành điều học này:

1) Đối tượng: các Tăng vật như được kể trong chánh văn. Nếu là sở hữu cá nhân, chỉ phạm đột kiết la.

2) Tác giả, trong đây cần phân biệt trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể. Trách nhiệm cá nhân là tự mình hay bảo người dọn trải nhưng không tự mình hoặc bảo người dọn cất. Chánh văn của Tứ phần, Tăng kỳ và Căn bản chỉ nêu trách nhiệm cá nhân này. Ngũ phần cũng vậy, nhưng thêm yếu tố: không dặn bảo người cất. Riêng chánh văn của Thập tụng còn theo yếu tố trách nhiệm liên đới: ngồi hoặc nằm trên đó; nghĩa là, mặc dù không tự mình dọn trải ra, nhưng đã có ngồi hay nằm trên đó mà không dọn cất, cũng chịu trách nhiệm.

Về trách nhiệm tập thể, là mặc dù không tự mình hay bảo người dọn trải ra, cũng không ngồi nằm trên đó, nhưng nếu là Tăng vật phơi bày ở chỗ trống, vì trách nhiệm bảo trì chung, Tỳ kheo nào thấy, phải cất dọn.

Về trường hợp này, giải thích của Tăng kỳ 14 (tr. 342a) khá độc đáo. Bộ này trong khi giải thích vẫn dựa sát chánh văn, nhưng hướng vào trách nhiệm tập thể bằng một thí dụ đặc biệt: giường ghế để tại chỗ trống chưa có ai dọn cất, ban đêm, một Tỳ kheo dậy đi ngoài, nếu đụng phải, mà không tự mình, không bảo người, cũng không dặn dò người khác cất, phạm ba dật đề. Ngoài ra, bộ này cũng nói thêm, các thứ giường ghế thuộc Tăng vật, được dọn trải ra hoặc vì mục đích thuyết pháp, hoặc vì bất cứ một mục đích gì, mà không ai dọn cất, nếu Tỳ kheo tri sự không dọn cất, Tỳ kheo này phạm ba dật đề.

Trong trách nhiệm cất dọn, kể chung cả trách nhiệm cá nhân và tập thể, Tứ phần, Tăng kỳ và Thập tụng chỉ nếu hai trường hợp: tự mình hoặc bảo người khác. Ngũ phần và Căn bản thêm: dặn lại người khác. Bảo hay dặn người khác, theo giải thích chung của các bộ, ở đây cần theo một thứ tự quy định: nếu không có Tỳ kheo thì Sa di, nếu không có Sa di thì tịnh nhân, nếu không có tịnh nhân thì nhờ nhà cư sĩ gần đó. Về việc dặn lại người khác, luật Căn bản còn thêm: nếu trường hợp khẩn cấp, có thể không cần dặn bảo. Nguyên do là một Tỳ kheo, trước khi xuất gia, có kẻ thù muốn hãm hại. Sau khi ông đã xuất gia, kẻ thù vẫn tìm kiếm, và ông phải lánh đi từ nơi này sang nơi khác. Vì việc phải dặn dò người cất giường ghế, nên lộ hành trình và kẻ thù đuổi kịp, đánh cho gần chết. Nhân đó, có trường hợp tùy khai này.

Cũng trong trách nhiệm cất dọn, nếu hai Tỳ kheo cùng ngồi hay nằm, vị nào rời chỗ sau, vị ấy có trách nhiệm cất dọn. Nếu cả hai cùng rời, vị nào nhỏ hạ có trách nhiệm cất dọn. Nếu không như thế, ba dật đề.

3) Thời gian, theo phân tích của Hữu bộ bà sa 6, có hai giới hạn thời gian: minh tướng xuất hiện và mặt trời lặn. Trong khoảng từ sau khi mặt trời lặn cho đến khi sáng rõ tức minh tướng hiện, bất cứ khi nào Tỳ kheo dọn trải các Tăng vật ấy ra, đến khi đã sáng rỡ mà chưa cất: ba dật đề. Về thời phần ban ngày cũng vậy; khoảng từ sáng rõ cho đến tắt mặt trời, trong khoảng đó, Tỳ kheo dọn trải, sau khi đã tắt mặt trời mà chưa dọn cất: ba dật đề. Nhưng yếu tố này phải lệ thuộc yếu tố không gian, tức Tỳ kheo đã rời khỏi chỗ. Còn như nếu vẫn nằm hay ngồi trên đó, không hề có trường hợp vi phạm gì cả, nên yếu tố thời gian bất thành.

4) Không gian, đây là yếu tố quan trọng nhất. Vì rằng, theo định nghĩa, không dọn cất nghĩa là tự thân di chuyển sang chỗ khác mà vật dụng vẫn còn nguyên chỗ cũ. Nhưng, khoảng cách giữa người và vật là bao nhiêu đủ để thỏa mãn định nghĩa ấy? Tứ phần nói: bước ra cổng chùa mà còn chân trong và chân ngoài, đột kiết la; nếu khỏi cả hai chân, ba dật đề. Đối chiếu với Thập tụng, điều này phải hiểu là hành vi bỏ đi vượt quá thời phần của ngày và đêm. Theo đó, nếu dọn ra trong thời phần ban đêm, và bỏ đi trong thời phần này mà chưa khỏi cổng chùa, phạm đột kiết la; đến khi trời sáng rõ, ba dật đề. Nếu việc dọn ra và bỏ đi trong cùng thời phần, bước ra khỏi quá cổng chùa 49 bước, ba dật đề.

Tăng kỳ 14 xác định khác: người và vật cách nhau 25 khủyu, ba dật đề. Cách quy định này tương tợï Căn bản tỳ nại da 28 (tr.780), nhưng khác nhau về số lượng. Theo Căn bản, thế phần tự nhiên của vật là 49 tầm; tự thân ở ngoài thế phần đó, ba dật đề.

Cũng nên nhắc lại rằng, không gian ở đây là chỗ trống. Nếu chỗ dù có che lợp, nhưng không tránh khỏi ảnh hưởng hư hại bởi nắng, gió và mưa, cũng không gọi là chỗ trống.

ĐIỀU 15. Tăng phòng phu cụ bất cử(trải vật dụng nằm ngồi trong Tăng phòng mà không cất).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, ở trong Tăng phòng, tự mình hoặc bảo ngưòi dọn trải ngọa cụ của Tăng để nằm hay ngồi, khi đi không tự mình hay bảo người dọn cất, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ngọa cụ: dụng cụ để nằm, nhưng ở đây bao gồm cả ngồi. Gọi chung là phu cụ. Phu cụ này có thể làm bằng cỏ, bằng lá, bằng lông thú, bằng bông gòn v.v… Chi tiết ý nghĩa, xem giải thích ở chương bốn, ni tát kỳ 11, và tham chiếu điều 14 ba dật đề trên.

+ Trong Tăng phòng, chỉ phòng Tỳ kheo. Đây là yếu tố căn bản phân biệt điều học này với điều 14.

+ Về phạm tướng, cũng được phân tích với 4 yếu tố như điều 14, nhưng nội dung và thể thức áp dụng có một số chi tiết khác biệt.

1) Về đối tượïng, chánh văn của các bộ chỉ nói là ngọa cụ của Tăng, không nói các giường và ghế như điều 14. Riêng luật Căn bản, nói cụ thể là phu cụ bằng cỏ hay lá. Nguyên do được kể như sau: Hai Tỳ kheo khách đến ngụ trong một Tăng phòng. Một vị ngủ giường gỗ, một vị ngủ đệm cỏ. Sáng hôm sau, cả hai cùng rời chùa trọ, không ai cất dọn phần mình. Sâu kiến bò vào phá hoại đệm cỏ, rồi lan sang các vật dụng khác trong Tăng phòng. Thế Tôn theo lệ thường, khi các Tỳ kheo đi thọ trai tại nhà một cư sĩ, Ngài ở lại tinh xá, đi xem xét các phòng, thấy rõ sự việc này. Ngài khiển trách Tỳ kheo ngủ giường cây mà không cất. Vị này, theo điều học 14, phạm ba dật đề. Với vị còn lại, Phật chế thêm điều học này. Thập tụng 10 (tr. 76c) kể duyên khởi đại thể giống như Căn bản, nhưng trong nội dung của chánh văn kết giới, cũng chỉ nói là ngọa cụ của Tăng như các bộ khác. Còn về duyên khởi các bộ còn lại, chi tiết hầu như lặp lại điều 14, chỉ có khác là thay vì Tỳ kheo dọn ra chỗ trống rồi bỏ đi mà không cất, ở đây dọn trong Tăng phòng.

2) Tác giả, Thập tụng, theo như duyên khởi được kể, nên phân biệt hai trường hợp Tỳ kheo cựu trú và Tỳ kheo khách khác nhau. Nếu là Tỳ kheo khách, khi đi mà không cất dọn, bước chân ra khỏi phạm vi trú xứ là thành phạm. Nếu là Tỳ kheo cựu trú, đi nhưng ước hẹn sẽ trở về nội trong ngày, nhưng do duyên sự khẩn cấp không về kịp, khi minh tướng xuất hiện, phạm đột kiết la; nếu đi mà không nghĩ sẽ về nội trong ngày, đến sáng hôm sau, minh tướng hiện, ba dật đề.

Luật Căn bản, rời khỏi thế phần của vật: ba dật đề, như trong điều 14. Không phân biệt cựu hay khách Tỳ kheo.

Các bộ khác cũng như điều 14, không phân biệt cựu hay khách. Riêng Tứ phần nêu một chi tiết khác biệt: Tỳ kheo xuất giới qua hai đêm, đến đêm thứ ba, trước khi minh tướng hiện, nếu không về kịp, cũng không bảo hay nhắn nhờ người cất dọn, ba dật đề. Mặc dù không nói rõ, nhưng đối chiếu với Thập tụng, có thể nói, đây muốn chỉ Tỳ kheo cựu trú. Và như vậy, Tỳ kheo khách khi đi không cất dọn, bước ra khỏi phạm vi trú xứ, thành phạm ba dật đề như Thập tụng.

Về các thể thức tự mình, nhờ bảo người, hay dặn dò người khác, hoàn toàn được phân tích như trong điều 14.

3) Thời gian, cũng như điều 14. Ngoại trừ những điểm khác biệt do liên hệ đối tượng và tác giả, thì đã đề cập đoạn trên.

5) Không gian, là phòng của Tỳ kheo. Về thể thức trì phạm, cũng được phân tích như điều 14, trừ những khác biệt do liên hệ đối tượng và tác giả, đã nói ở đoạn trên.

ĐIỀU 16. Phu cụ xúc não(Dọn chỗ ngủ, phá phách).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, đã biết đó là chỗ nghỉ của Tỳ kheo khác, mình đến sau, cố chen vào giữa trải ngọa cụ để ngủ nghỉ, với ý nghĩa rằng: “Vị ấy nếu hiềm chật, sẽ tự tránh đi chỗ khác”. Hành động với mục đích như vậy chứ không gì khác, không phải oai nghi, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Theo giải thích của Hữu bộ tỳ bà sa 6 (tr. 544c), bản chất của điều học này là cố tình phá phách không cho các Tỳ kheo khác ngủ nghỉ. Căn bản tỳ nại da cũng đồng quan điểm, do đó, đặt tiêu đề của giới này là “Cưỡng xúc não tha”, cố tình phá phách Tỳ kheo khác. Tường thuật duyên khởi của Căn bản 29 (tr. 768) nói: “Ô Đà Di về chùa khuya, gọi mở cửa. Mọi người không chịu mở. Ô Đà Di dùng chân đạp cửa, làm rung chuyển cả nhà ngủ. Người trong chùa sợ sập chùa, phải mở cửa. Khi vào phòng, bất biết chỗ ngủ của ai, Ô Đà Di gieo mình, đè luôn cả người đang nằm. Có người bị tức bụng, có người bị trặc khớp xương, sái tay sái chân v.v... Mọi người bỏ ra ngoài trời, chịu gió rét suốt đêm. Nhân đó, Phật kết giới. Tiếp theo, bộ này kể thêm một số hành động phá phách khác của Ô Đà Di: nếu các Tỳ kheo trẻ ăn không tiêu, bắt ngồi tụng kinh suốt đêm, ăn đầy đủ lại bắt ngồi tọa thiền không cho ngủ, trời lạnh, khiến ra ngoài trời ngồi múc nước lạnh dội, lại còn cầm quạt quạt cho lạnh thêm... Như vậy, bất cứ hành vi nào khiến Tỳ kheo khác không ngủ được, như cố tình đóng cửa, mở cửa, đốt đèn hoặc tắt đèn, cố đọc kinh lớn tiếng, cố làm bộ ngáy. Nói tóm, những gì mà Tỳ kheo khác không thích, không chịu đựng được, đều phạm ba dật đề.

Giải thích của Tứ phần 12 không nêu rõ bản chất của giới này. Trong phần duyên khởi, luật kể nhóm Tỳ kheo trẻ 17 vị nhường sáu Tỳ kheo tìm và chọn chỗ nghỉ trước, vì họ là hàng Thượng tọa. Nhưng sáu Tỳ kheo bảo các Tỳ kheo trẻ hãy cứ chọn chỗ trước. Các Tỳ kheo trẻ chọn chỗ, dọn trải vật dụng ngủ nghỉ xong, sáu Tỳ kheo đuổi họ đi. Các Tỳ kheo trẻ không chịu đi, vì cho là đã nhường các Thượng tọa chọn trước rồi. Sáu Tỳ kheo dùng sức mạnh lấn chen vào giữa, dọn trải ngọa cụ ra. Do đó, gây thành cảnh huyên náo. Phật nhân đó kết giới.

Trong phần giải thích phạm tướng, Tứ phần nói: “Đến sau, cố tình chen vào giữa, dọn trải ngọa cụ để ngủ nghỉ, nếu hông đã dính sát ngọa cụ, ba dật đề”. Theo tinh thần của giải thích này thì câu nói của chánh văn rằng: “Hành động với mục đích ấy chứ không gì khác” sẽ có nghĩa là: chỉ mục đích chiếm đoạt chỗ ngủ chứ không gì khác. Hiểu như thế có lẽ không sát ý nghĩa của chánh văn. Căn cứ chánh văn, điều học này bao gồm 5 yếu tố căn bản để thành phạm ba dật đề.

1) Chỗ ngủ dọn sẵn của Tỳ kheo đến trước.

2) Biết rõ như vậy.

3) Mình đến sau.

4) Cố chen vào giữa.

5) Mục đích đuổi Tỳ kheo khác rời chỗ.

Vậy, câu nói của chánh văn: “Vị ấy nếu hiềm chật sẽ tự tránh đi chỗ khác”, xác định bản chất của điều học này.

+ Câu cuối của chánh văn: không phải oai nghi, không thấy trong các bộ khác. Nếu xét theo bản chất của điều học, có lẽ phải đọc đảo ngược lại, “Các hành động phi oai nghi ấy, chỉ với mục đích như vậy (nghĩa là, phá phách không cho Tỳ kheo khác ngủ), chứ không gì khác”.

Sau hết, còn một yếu tố quan trọng khác. Chánh văn của Căn bản có thêm chi tiết này: tại trú xứ của Tăng. Theo giải thích của Luật nhiếp 10 (tr. 580): điều học này chỉ áp dụng trong phạm vi trú xứ của Tăng. Ngoài phạm vi đó ra, Tỳ kheo nào làm như vậy, phạm đột kiết la.

ĐIỀU 17. Khiên tha xuất Tăng phòng(Lôi người khác ra khỏi Tăng phòng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, đối với Tỳ kheo khác, do giận hờn, bất mãn, ở trong phòng xá của Tăng, mà tự mình lôi ra, hoặc khiến người khác lôi ra, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Theo nội dung chánh văn, cũng theo như duyên khởi, điều học này đáng lẽ được đặt trước điều phu cụ xúc não ở trên.

Tứ phần 12 (tr. 645c-46a): duyên khởi cũng là việc sáu Tỳ kheo giành chỗ ngủ với nhóm 17 Tỳ kheo, như trong điều 6. Nhưng ở đây, họ nổi giận, dùng sức mạnh lôi các Tỳ kheo trẻ ấy ra khỏi phong.

+ Do giận hờn, bất mãn: Đây là bản chất của điều học này.

+ Ở trong phòng xá của Tăng: Căn bản: tại trú xứ của Tăng, với giải thích của Luật nhiếp như trong điều 16, nghĩa là, ngoài những nơi không trú xứ của Tăng, phạm đột kiết la.

Bất cứ ở chỗ nào trong trú xứ của Tăng, nếu dùng bạo lực lôi Tỳ kheo khác rời khỏi vị trí, như từ trên giường lôi xuống đất, từ trong phòng lôi ra khỏi phòng, từ ngoài phòng lôi ra khỏi cửa, từ khỏi cửa lôi ra sân v.v… tất cả đều phạm ba dật đề.

+ Đối với Tỳ kheo khác, nêu rõ đối tượng bạo hành. Đối tượng này là Tỳ kheo thanh tịnh. Nếu với các Tỳ kheo đang hành ba lị bà sa, ma na đỏa, với Sa di v.v…, phạm đột kiết la. Nhưng đối với các Tỳ kheo phá giới, phá kiến, bị diệt tẩn, bị yết ma tẩn xuất: không phạm; vì trong trường hợp này, không do yếu tố giận hờn và bất mãn.

+ Chánh văn của các bộ khác có thêm yếu tố: ngoại trừ mục đích khác, nghĩa là, đuổi Tỳ kheo khác ra khỏi bằng bạo lực không phải vì lý do giận hờn hay bất mãn, mà vì mục đích khác, như đối với Tỳ kheo bịnh cần được khiêng đi chỗ khác, hoặc đuổi như thế chỉ là một phương tiện giáo giới v.v… Tuy nhiên, theo Luật nhiếp, áp dụng biện pháp trừng giới như vậy có khi cũng quá đáng. Biện pháp được áp dụng tốt đẹp hơn là không nói chuyện, không nhận các sự thừa phụng, hoặc xả y chỉ v.v…

Tổng quát có 4 yếu tố căn bản trong điều học này:

1) Tại trú xứ của Tăng.

2) Do bởi sự giận hờn hay bất mãn.

3) Đối với Tỳ kheo thanh tịnh.

4) Tự mình lôi hoặc bảo người khác lôi.

Trong đây, kết hợp các yếu tố để phân tích phạm tướng: lôi một Tỳ kheo khỏi một vị trí, phạm ba dật đề, lôi đi qua bao nhiêu vị trí là bấy nhiêu ba dật đề. Lôi một Tỳ kheo, một ba dật đề; bao nhiêu Tỳ kheo, bấy nhiêu ba dật đề. Nếu lôi không nổi, Tỳ kheo bị lôi chưa rời khỏi vị trí: đột kiết la. Hai Tỳ kheo cùng lôi, cùng phạm ba dật đề. Cùng lôi, nhưng không đủ sức, cùng phạm đột kiết la. Ngoài ra, do giận hờn hay bất mãn, quăng liệng các vật dụng của Tỳ kheo khác ra khỏi phòng: đột kiết la.

ĐIỀU 18. Tọa thoát cước sàng(Ngồi trên giường bằng chân lắp).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, tại Tăng phòng, trên tầng gác, nằm hay ngồi trên giường dây hoặc giường gỗ bằng chân lắp, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Thoát cước sàng, giường hay ghế bằng chân lắp, một trong 5 loại giường hay ghế. Định nghĩa của Tứ phần 12 (tr. 646b): “Thoát cước sàng, giường có chân được tra vào thành giường”. Nhưng phải nói thêm cho rõ: khi cần có thể rút chân ấy ra dễ dàng, để làm thành giường kê. Các bộ khác đều dịch là tiêm cước sàng: giường có chân nhọn. Luật nhiếp 10 gọi nói là loại sáp cước sàng, tức nói rõ là giường có chân lắp.

Nguyên loại thoát cước sàng hay tiêm cước sàng là một trong 5 loại giường hay ghế mà Tỳ kheo được phép sử dụng chứ không cấm. Nhưng phải dùng nó với sự chú tâm để không gây tai nạn cho người khác. Do vậy, chánh văn của Ngũ phần, Thập tụng và Căn bản đều có thêm chi tiết: dùng sức mà ngồi, nghĩa là gieo mình lên loại giường ghế này một cách cẩu thả.

+ Tại Tăng phòng, trên tầng gác, nguyên chánh văn của Tứ phầp nói: nhược phòng nhược trùng các, hoặc trong phòng hoặc trên tầng gác, như là hai yếu tố riêng biệt. Nhưng xét theo ý nghĩa của điều luật, phải nói là ở trong phòng của Tỳ kheo trên tầng gác, hoặc nói cách khác: trên tầng gác, tại trú xứ của Tăng. Chủ yếu ở đây là trên tầng gác, vì đề phòng tai nạn cho người nằm dưới. Do đó, Tăng kỳ 15 (tr. 344c) nói, nếu tầng dưới không người, không phạm.

Tổng quát, trong đây có 3 yếu tố căn bản:

1) Giường hay ghế có chân lắp; dù chỉ một chân là loại chân lắp, ba chân còn lại không phải, cũng thành phạm; vì nó không ổn cố.

2) Trên tầng gác, tại trú xứ của Tăng; tức trong phòng của Tỳ kheo. Luật nhiếp 10 (tr. 581), ngoài đây ra, phạm đột kiết la.

3) Ngồi hoặc nằm trên đó. Theo ba bộ khác, đây còn thêm chi tiết: dùng sức mà ngồi, như đã nói. Hữu bộ tỳ bà sa 6 (tr. 545a): “Dù là giường có chân nhọn (tiêm cước sàng), nếu ngồi mà không dùng sức, không phạm”.

ĐIỀU 19. Dụng trùng thủy(Dùng nước có trùng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào biết nước có trùng mà tự mình hoặc bảo người rưới lên bùn hoặc cỏ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Hữu bộ sớ 7 (tr. 545a) nói: có tất cả 4 giới sát, trong đó, điều học này được kết đầu tiên. Ba giới kia là điều 3 ba la di, và các điều 41, 61 thuộc ba dật đề. Và cũng theo phân tích của Hữu bộ sớ (đã dẫn), có ba động cơ tủ niệm của sự sát sanh. Thứ nhất, do tham, như sát hại thú để lấy lông, lấy da v.v... Thứ hai, do sân, như giết người. Và thứ ba, do si, là điều học này.

+ Trùng, theo định nghĩa của Ngũ phần 7 (tr. 45a), Căn bản 30 (tr. 789b), chỉ các loại sinh vật vi tiểu mà mắt có thể thấy, hoặc có thể lọc qua vải.

+ Rưới lên bùn hoặc cỏ. Thập tụng: rưới lên cỏ, hoặc trộn với đất bùn. Căn bản: rưới len cỏ, lên đất, hoặc trộn phân bò.

+ Biết nước có trùng, đây là điểm quan trọng trong điều học này. Các bộ tường thuật duyên khởi giống nhau. Theo đó, Tỳ kheo Xiển Đà trộn đất bùn để trét vách, dùng nước có trùng. Các Tỳ kheo khác khiển trách. Xiển Đà nói: Tôi dùng đất bùn chứ có dùng trùng đâu? Căn bản diễn tả câu trả lời của Xiển Đà độc đáo: “Tôi có gọi chúng đến đâu? Sông ngòi, ao hồ, biển cả, thiếu gì chỗ mà chúng không đến đó?...”. Diễn tả này cốt nêu rõ ý nghĩa rằng, biết nước có trùng, dù cố ý hay không cố ý sát hại chúng, nếu sử dụng, phạm ba dật đề.

Bản chất của điều học này cùng với điều 62 ở sau là một, đó là sát hại các sinh vật nhỏ, dù cố ý hay vô tình. Nhưng điều 62 chủ yếu là uống. Điều 19 này, trừ việc dùng để uống ra, bao gồm bất cứ hành vi nào có thể khiến cho các sinh vật vi tiểu vì thế mà chết.

Ngũ phần tổng hợp cả hai điều ấy thành một điều học duy nhất, do đó chánh văn nói: dùng nước có trùng để rưới đất bùn hoặc ăn uống. Và bộ này phân biệt có hai trường hợp dùng nước có trùng: nội dụng và ngoại dụng. Nội dụng, là dùng cho các việc ăn uống, tức kể cả sự dùng để nấu nước. Ngoại dụng, dùng cho các việc ngoài như rưới để trộn đất bùn v.v...

Trong đây, chánh văn nói dùng nước có trùng, nhưng phạm vi áp dụng rộng rãi hơn thế. Tức là, ngoài nước ra, các chất lỏng khác như sữa, giấm v.v... nếu có trùng, mà đem rưới lên cỏ hay bất cứ đâu, khiến trùng chết, cũng phạm ba dật đề. Và ngược lại, đất, bùn hoặc cỏ, hay bất cứ chỗ nào, nếu có trùng đang sống, rưới nước sôi, hay bất cứ nước gì, khiến chúng chết, cũng đều phạm ba dật đề cả.

ĐIỀU 20. Phú ốc quá lượng(Đắp nhà quá lượng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo làm phòng xá lớn, cánh cửa, khung cửa sổ, và các đồ trang sức khác, chỉ điểm lợp tranh ngang bằng hay ba tiết, nếu quá, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Chánh văn của Tứ phần ở đây khá tối nghĩa. Mà chánh văn trong các bộ khác, so ra cũng không mấy sáng tỏ hơn. Dưới đây, tưởng cần dẫn các chánh văn ấy để làm cơ sở cho sự giải thích tổng hợp, tìm một ý nghĩa chung.

Ngũ phần: “Từ đất bằng đắp lên, chừa lại chỗ cửa sổ và cửa ra vào, để cho hết sức vững chắc, lợp (phú) hai ba lớp”.

Tăng kỳ: “Đặt khung cửa sổ, trông coi lợp (phú) ngang mức hai ba lớp, nên ở tại đất có ít cỏ”.

Thập tụng: “Nên đắp vách, đặt rường, cửa ra vào, cửa sổ, đất nhồi nên lợp (phú) hai ba lớp”.

Căn bản: “Ở hai bên bệ cửa nên đặt then ngang và các khung cửa sổ, ống nước; nếu khi dựng tường, mà đấy là bằng đất bùn ướt, chỉ nên hai ba lớp ngang mức chỗ có then ngang”.

Giải thoát: “Tự mình trông coi, lợp hai lớp, là lớp ngang đến khung cửa sổ)”. (Đoạn cuối có lời phụ chú: Ở ngoại quốc, nhà ngang đầu trở lên trổ cửa sổ, lợp ngang hai ba bản thì đến khung cửa sổ).

Tỳ nại da 7 (tr. 880b): “Trước hết, trổ khung cửa sổ để thông ánh nắng, rồi lợp hai ba lớp bằng đất bùn nhuyễn”.

Vấn đề ở đây là như vầy: hai ba lớp ấy, thật sự là đắp vách hay lợp mái. Các bản Hán đều nói phú, và theo nghĩa thường dùng nhất của từ này, đáng hiểu là lợp mái.

Luật Căn bản không dùng đến chữ phú. Chánh văn của bộ này không dùng đến chữ phú. Chánh văn của bộ này được giải thích như sau: Khi dựng tường, cần đặt các khung cửa ra vào và khung cửa sổ; nếu tường làm bằng đất bùn ướt, chỉ nên đắp hai hoặc ba lớp đến mức then ngang. Sở dĩ có quy định này, vì đây làm trong thời hạn một ngày, đất chưa kịp khô, nên tường có thể sấp. Trong phần duyên khởi, bộ này dẫn trường hợp nhóm sáu Tỳ kheo vận động xây cất đại tinh xá, và họ làm xong trong một ngày. Chùa cao ba tầng. Nhưng bên dưới họ không đặt ống thoát nước, bên trong không đặt khung cửa sổ hay cửa ra vào, mà chỉ chừa một lối ra vào nhỏ. Tối hôm đó, trời mưa lớn, nhà sập. Bao nhiêu tài sản tín thí bỏ vào đó đều tiêu tan.

Xét chánh văn của Giải thoát thì cũng đồng ý nghĩa này. Nếu diễn rõ ý của Giải thoát, có thể nói, đây chỉ việc đắp vách chứ không phải lợp mái, mặc dù chánh văn của bộ này cũng dùng chữ phú.

Cứ theo đó mà loại suy, thì ý của Ngũ phần, Thập tụng cũng đồng như vậy.

Thập tụng cũng có nói đến việc lợp (phú) bằng các loại cỏ, và cố nhiên chữ phú ở đây có thể hiểu là lợp mái. Nhưng trong đó, bộ này quy định nếu từ lớp thứ ba trở lên mà dùng bất cứ thứ gì để lợp, kể cả lông cánh chim, nghĩa là vật rất nhẹ, thảy đều phạm ba dật đề.

Điểm khiến tối nghĩa trong văn Tứ phần là nói phú chiêm, tức lợp bằng cỏ tranh. Và trong giải thích nói hoặc lợp ngang (hoành phú) hoặc lợp dọc (tung phú). Đây là hai cách đắp vách, bằng đất bùn, mà Thiện kiến 15 gọi là viên phú: đắp tròn, tức đắp vòng tròn theo chu vi của nhà; và tung phú, đắp ngang theo chiều cao. có lẽ Tư trì ký, quyển trung (tr. 312) không hiểu như vậy nên giải thích là lợp theo chiều ngang hay chiều dọc của tấm tranh. Nếu hoành phú và tung phú hoàn toàn đồng nhất với viên phú và tung phú của Thiện kiến, thì khó có thể nói là phú chiêm. Hoặc giả, do tự dạng mà có sự nhầm lẫn giữa chữ chiêm là cỏ tranh và chữ điếm là then ngang? Như vậy, văn Hán sẽ đọc là chỉ thọ phú điếm tề nhị tam tiết, nên hiểu là: “chỉ điểm cho người khác đắp ngang then cửa hai hoặc ba tiết”.

Ở đây, giả thiết có sự nhầm lẫn ấy, chánh văn của Tứ phần có thể được diễn rộng như sau: Tỳ kheo làm phòng xá lớn, chỉ điểm (cho người khác) đắp quanh khung cửa, khung cửa sổ và các đồ trang sức khác hai ba lớp ngang đến then cửa, nếu quá, ba dật đề.

+ Chánh văn nói: các đồ trang sức khác, và được giải thích là các thứ có chạm trổ vẽ vời. Có lẽ đây muốn chỉ các vật phụ tùng của cửa sổ.

+ Chánh văn nói: chỉ điểm. Đây là điểm quan trọng trong điều học này. Nó bao gồm ba sự việc: tự mình đắp, chỉ dẫn người khác đắp, và không cả hai. Ba sự việc này tạo thành yếu tố căn bản xác định hình thái trì phạm. Thập tụng 11 nói: tự mình đắp cho đến hết lớp thứ nhất; lớp thứ hai, phát đầu; tức chỉ dẫn trực tiếp cho người khác đắp. Đến lớp thứ ba, nên dặn dò là đắp như thế nào đó rồi bỏ đi. Tứ phần 11 không đề cập thể thức đắp hai lớp trước, mà chỉ đề cập lớp thứ ba. Trong khi đắp lớp thứ ba, nếu Tỳ kheo không đi khỏi chỗ đó, đến chỗ không thấy và không nghe; lớp thứ ba đắp xong, Tỳ kheo phạm ba dật đề. Nếu chỉ đi đến chỗ không nghe, nhưng có thể thấy, hoặc ngược lại: đột kiết la.

+ Trong đoạn dẫn các bộ trên, chánh văn của Tăng kỳ có một yếu tố mà các bộ khác không có: nên xây dựng trên chỗ đất ít cỏ, nhưng trong giải thích cũng như trong duyên khởi của bộ này không nêu ý nghĩa đặc biệt gì của điều này. Trái lại, chánh văn của Ngũ phần không có, nhưng trong phần duyên khởi có đề cập. Bộ này kể: Tỳ kheo Xiển Đà, sau khi vận động được sự yểm trợ vật liệu của các thí chủ, và tìm được một khoảnh đất tốt, bèn khởi công xây cất. Nhưng ông đắp tường bằng gạch chưa nung chín cao và nặng quá, khiến nhất thời sụp đổ, và gây thiệt hại cho đám lúa mạch của một người Bà la môn ở đó.

Duyên khởi được kể trong các bộ khác đại thể cũng giống như trong điều 7 của tăng già bà thi sa, trường hợp làm nhà lớn có thí chủ.

ĐIỀU 21. Triết giáo thọ ni(Giáo thọ ni không được Tăng sai).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào không được Tăng sai mà giáo thọ ni, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Giáo thọ ni: Một trong tám kỉnh pháp mà Tỳ kheo ni phải suốt đời tôn trọng không được trái phạm, đó là mỗi nửa tháng phải đến giữa Tăng cầu thỉnh giáo thọ sư. Các Tỳ kheo có bổn phận giáo giới các Tỳ kheo ni.

Duyên khởi của điều học này là (Tứ phần 12, tr. 647b) do sự thỉnh cầu của bà Cù Đàm Di, nhưng Phật không tự thân giáo giới, Ngià khiến các Tỳ kheo theo thứ tự thay nhau giáo giới Tỳ kheo ni. Trước hết, tôn giả Châu Lị Bà Đà Già được ngài A Nan nhắc cho biết đã đến lượt của tôn giả. Nhưng Bàn Đà, tuy là bậc đại A la hán, nhưng vì căn tánh ám độn nên chỉ thuộc được một bài kệ duy nhất, do đó ban đầu từ chối, tự cho là bất kham. Sau ba lần thỉnh cầu, Bàn Đà vui lòng nhận lời. Ngay hôm ấy, tôn giả Bàn Đà sang giáo thọ các Tỳ kheo ni. Và duy chỉ nói được một bài kệ, rồi im lặng nhập đệ tứ thiền. Các Tỳ kheo ni thực chứng biết rõ tôn giả là bậc đại Thanh văn, nên vẫn nhất tâm cung kính. Nhóm sáu Tỳ kheo ni lấy sự ám độn của tôn giả ra châm biếm. Tuy vậy, do uy lực của sự thực chứng, tôn giả cũng đã khiến một số Tỳ kheo ni chứng đắc các đạo quả Niết bàn.

Tiếp đến là lượt nhóm sáu Tỳ kheo. Các Tỳ kheo này không giảng giải gì chánh pháp, mà chỉ nói những đề tài thế sự. Nhóm sáu Tỳ kheo ni lấy thế làm vui thích và khen ngợi. Các Tỳ kheo thực chứng khác không hài lòng. Bà Cù Đàm Di bạch Phật về sự giáo giới ấy. Phật khiến các Tỳ kheo từ nay trở đi, nên tác pháp yết ma cử Tỳ kheo đi giáo thọ Ni. Văn yết ma bạch nhị của Tứ phần như sau:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay sai Tỳ kheo mỗ giáp giáo thọ Tỳ kheo ni. Đây là lời tác bạch.

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tăng nay sai Tỳ kheo mỗ giáp giáo thọ Tỳ kheo ni. Các trưởng lão nào chấp thuận Tăng sai Tỳ kheo mỗ giáp giáo thọ Tỳ kheo ni, thì im lặng. Ai không chấp thuận hãy nói.

Tăng đã chấp thuận sai Tỳ kheo mỗ giáp giáo thọ Tỳ kheo ni, vì im lặng. Tôi ghi nhận như vậy.

Nhóm sáu Tỳ kheo không được Tăng sai, bèn rủ nhau ra ngoài giới tác yết ma, sai nhau giáo thọ ni. Bà Cù Đàm Di bạch Phật sự việc ấy. Phật khiển trách họ và kết giới.

+ Trong đây, Tứ phần nói rằng Phật quy định Tỳ kheo được Tăng sai giáo thọ ni phải là người đủ 10 đức tính: 1. Giới luật đầy đủ. - 2. Học rộng. - 3. Thông suốt hai bộ giới kinh. - 4. Quyết đoán không nghi ngờ. - 5. Thuyết pháp khéo léo. - 6. Xuất thân từ chủng tộc cao. - 7. Dung mạo đoan chính, khiến Tỳ kheo ni thấy liền sanh tâm hoan hỷ. - 8. Có khả năng thuyết pháp khiến các Tỳ kheo ni sanh tâm hoan hỷ. - 9. Không vì theo Phật xuất gia, bận pháp phục mà phá các trọng cấm. - 10. Đã đủ hai mươi hạ.

Tăng kỳ 13 nêu 12 đức tính: 1. Trì giới thanh tịnh. - 2. Học rộng A tỳ đàm. - 3. Học rộng Tỳ ni. - 4. Học giới. - 5. Học định. - 6. Học tuệ. - 7. Có khả năng dứt trừ sự tà ác cho người khác. - 8. Có khả năng tự điều phục và điều phục người khác. - 9. Giỏi từ biện. - 10. Không làm hoen ố phạm hạnh. - 11. Không phá trọng cấm của Tỳ kheo ni. - 12. Đã đủ hai mươi hạ.

Ngũ phần 7 nêu 10 đức: 1. Thành tựu giới, oai nghi, hằng e sợ trong những lỗi nhỏ nhặt. - 2. Học rộng, thông hiểu lời Phật, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có văn, có nghĩa, đầy đủ hình thái của phạm hạnh thanh bạch. - 3. Thông suốt giới luật của cả hai bộ. - 4. Nói năng thông suốt, diễn giải phân minh. - 5. Xuất gia từ dòng họ cao. - 6. Đối trong Phật pháp chưa từng có sự uế trược. - 7. Cử chỉ khoan thai, đi đứng ngay thẳng, y phục gọn gàng, thanh khiết. - 8. Được các Tỳ kheo ni kính trọng. - 9. Có khả năng tùy thuận khiến họ sanh tâm hoan hỷ. - 10. Đã đủ mười hạ.

Thập tụng 11 nêu 5 đức: 1. Đã đủ mười hạ. - 2. Khéo trì giới. - 3. Khéo học rộng. - 4. Khéo thuyết pháp. - 5. Không phạm 13 tăng tàn và không ô nhiễm ba chúng.

Căn bản 31 nêu 7 đức, trong đó 5 đức như Thập tụng, thêm hai là khéo phân biệt giải thích tám ba la di, và khéo giải rõ tám kỉnh pháp.

+ Về thể thức Tăng sai, Tứ phần chỉ nêu văn yết ma, và chỉ dẫn thể thức các Tỳ kheo ni tiếp đón vị Tăng sai. Căn bản nói rõ là yết ma giáo thọ ni chỉ được tác pháp trong lúc Tăng tác yết ma thuyết giới. Điều này nhấn mạnh ý nghĩa về trường hợp nhóm sáu Tỳ kheo ra ngoài giới tác pháp. Dùng theo nguyên tắc, nếu đủ túc số 5 Tỳ kheo, có thể tác yết ma Tăng sai. Nhưng yết ma Tăng sai giáo thọ ni là một phần của yết ma thuyết giới và tự tứ, cho nên, tác pháp riêng biệt như vậy là phi pháp. Mặt khác, giả dụ các Tỳ kheo ấy kéo nhau ra ngoài để thuyết giới và nhân đó tác pháp Tăng sai giáo thọ; điều này cũng là phi pháp. Vì Tỳ kheo ở tại trú xứ có Tăng đang thuyết giới, mà các Tỳ kheo nào tách ra ngoài giới, dù không phạm tội phá tăng, nhưng sự thuyết giới ấy cũng phi pháp, và như vậy yết ma thuyết giới cũng phi pháp. Nói tóm, theo tinh thần trên đây, có 4 yếu tố căn bản nếu không hội đủ thì yết ma Tăng sai giáo thọ ni bất thành.

1) Giới thành tựu, tác pháp trong phạm vi của đại giới bố tát, nghĩa là tại giới trường thuyết giới, như yết ma thuyết giới.

2) Nhân thành tựu, tức số Tăng, bao gồm toàn thể Tăng trong đại giới bố tát, như điều kiện túc số của yết ma thuyết giới.

3) Sự thành tựu, đối tượng Tăng sai phải là Tỳ kheo đủ 5 hay 10 đức.

4) Pháp thành tựu, tác pháp phụ theo yết ma thuyết giới nghĩa là không có tiền phương tiện riêng biệt ngoài yết ma thuyết giới; và ở đây, tác pháp bạch nhị.

+ Trong chánh văn của Căn bản có thêm một yếu tố mà các bộ khác không có. Đó là, trừ vị chứng đắc thắng pháp. Nghĩa là, Tỳ kheo đã chứng đắc các pháp thù thắng, dù không được Tăng sai, có thể tự động đi giáo thọ Tỳ kheo ni mà không vi phạm ba dật đề. Yếu tố này liên hệ trường hợp tôn giả Châu Lị Bàn Đà Già.

Trong các bộ khác, nhân duyên Bàn Đà được kể trước khi Phật kết giới này. Căn bản, ngược lại tường thuật sau khi Phật đã kết giới. Theo ý nghĩa mà bộ này muốn nhấn mạnh trường hợp các đại Thanh văn như ngài Bàn Đà, chỉ thuộc duy nhất một bài kệ, đương nhiên không hội đủ 5 đức hay 10 đức để được Tăng sai giáo thọ ni. Và như vậy là thiệt thòi cho các Tỳ kheo. Do đó, sau khi tôn giả Bàn Đà thành tựu địa vị vô học, và chứng đắc các pháp thù thắng, chính Đức Phật tự thân bảo A Nan cử Bàn Đà giáo thọ ni. Và kết quả của sự giáo thọ ấy rất tốt đẹp. Vì mặc dù Bàn Đà không hiểu biết gì rành rẽ về tám ba la di hay tám kỉnh pháp của Tỳ kheo ni, nhưng bằng sự giáo giới của tự thân, ngài đã khiến rất nhiều Tỳ kheo thành tựu những lợi ích lớn trong chánh pháp. Do nhân duyên này, Phật thêm vào chánh văn yếu tố không cần được Tăng sai này.

ĐIỀU 22. Nhật một giáo thọ(Giáo thọ Tỳ kheo ni sau mặt trời lặn).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, tuy được Tăng sai, nhưng giáo thọ ni cho đến mặt trời lặn, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Điều học này tiếp theo sự việc giáo thọ ni của điều 21 trên.

Nguyên do, Nan Đà được Tăng sai giáo thọ ni; với tài thuyết giáo thiện xảo, Nan Đà khiến các Tỳ kheo ni ưa thích nghe mãi, cho nên, dù đã hết một bài pháp, họ yêu cầu thuyết nữa. Nan Đà thuyết cho đến sau mặt trời lặn. Bấy giờ, cổng thành Xá Vệ đã đóng. Các Tỳ kheo ni không vào thành được để trở về trú xứ của mình, phải ngủ ngoài trời. Sáng hôm sau, vào thành rất sớm. Mọi người hỏi và biết các cô từ rừng Kỳ Đà về. Họ bàn tán: các sư cô này ban đêm ngủ chung với các Tỳ kheo, ban ngày thì trở về. Do tiếng đồn không tốt ấy, Phật chế giới.

+ Theo giải thích của Tứ phần 13, ngoài việc giáo giới; những việc khác liên hệ đến Tỳ kheo ni, nếu quá mặt trời lặn, Tỳ kheo phạm ba dật đề. Đối với các hạng nữ khác, cố nhiên không có sự giáo giới, nhưng Tỳ kheo thuyết kinh, tụng kinh v.v.... nếu sau mặt trời lặn, ba dật đề. Đối với các người nam, không phân biệt thời phần, thảy đều không phạm.

+ Ngũ phần 7, thay vì kể nhân duyên Bàn Đà trong điều 21 trên, thì kể ở đây. Ngài không nói pháp được gì, ngoài bài kệ duy nhất, sau đó hiện các thần biến. Các Tỳ kheo ni ham coi, quên về để bị đóng cửa thành.

+ Tăng kỳ có chánh văn hơi khác, mặc dù nội dung đồng nhất: giáo giới từ sau mặt trời lặn cho đến trước khi mặt trời mọc. Tức nói Tỳ kheo giáo giới vào thời phần ban đêm, ba dật đề.

Bộ này cũng giải thích rằng, vào thời phần ban đêm, nếu khi có Tỳ kheo ni đến chào, Tỳ kheo nói lời chúc liên hệ kinh pháp, như nói: Khổ tận giải thoát, ba dật đề. Ngoài ra, nếu nói lời chào hỏi bình thường hay những điều không liên hệ kinh pháp, không phạm. Thêm nữa, vào thời phần ban đêm, Tỳ kheo thăng tòa thuyết pháp, thính giả gồm bốn chúng, nếu Tỳ kheo nói: “Tất cả hãy lắng, phạm ba dật đề. Những phân tích này hình như đi quá xa chánh văn. Vì trong chánh văn đã nói rõ: trường hợp Tỳ kheo được Tăng sai giáo thọ Tỳ kheo ni. Như vậy, các trường hợp không phải Tăng sai không liên hệ gì đến điều luật này. Đương nhiên, nếu không được Tăng sai mà giáo thọ ni, thì sự việc thuộc điều luật 21 rồi.

+ Phụ luận: Nhân điều học này, có thể luận thêm một chi tiết liên hệ đến tám kỉnh pháp. Một trong tám kỉnh pháp là Tỳ kheo ni không được an cư tại trú xứ không có Tỳ kheo Tăng. Như vậy, có phải rằng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni cùng an cư chung trong một đại giới cộng trú? Dứt khoát là không. Các dẫn chưng ssau đây thấy rõ:

1) Tứ phần 13 (tr. 649c): Các Tỳ kheo ni bị các cư sĩ đồn xấu: “Các sa môn họ Thích thật là hạng không biết liêm sỉ... Hạng ấy mà có chánh pháp gì? Các bạn hãy xem, các Tỳ kheo ni này suốt đêm ngủ chung với các Tỳ kheo đến sáng ngày mới trở về”.

2) Tăng kỳ 13 (tr. 364), ghi lời đồn đãi người đời về việc các Tỳ kheo ni nghe giáo giới quá giờ giấc: “Các sa môn họ Thích mang các Tỳ kheo ni này về chỗ mình mà đùa giỡn, cho đến mặt trời lặn mới cho về. Thương thay phận gái, không được tự do. Nhưng các hạng người như vậy thì có đạo lý gì?”.

3) Căn bản 32 (tr. 804), ghi lời đồn xấu: “Sa môn họ Thích có pháp rất vi diệu. Đó là nam nữ ở chung để tịnh tu”.

Vậy, trú xứ mà trong kỉnh pháp ấy nói có nghĩa là gì? Nó không phải là trú xứ của đại giới cộng trú, mà đơn giản chỉ một phạm vi thành ấp hay tụ lạc. Trong phạm vi ấy, không có Tỳ kheo Tăng an cư, ni không được phép an cư, vì sẽ thiếu cơ hội để được thường xuyên giáo thọ hàng nửa tháng.

ĐIỀU 23. Báng tha giáo thọ ni(Nói xấu Tỳ kheo giáo thọ ni).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào nói với các Tỳ kheo khác rằng: “Tỳ kheo vì sự ẩm thực mà giáo thọ Tỳ kheo ni”, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi: các Tỳ kheo ni, do tâm cung kính, dâng hiến các thứ vật thực mỹ diệu cúng dường Tỳ kheo giáo thọ. Nhóm sáu Tỳ kheo vì không được Tăng sai giáo thọ, nên ganh ghét, và nói xấu, khiến các Tỳ kheo giáo thọ ấy xấu hổ. Do đó, Phật chế giới.

+ Vì sự ẩm thực, bao gồm các loại đồ ăn cứng và mềm. Trong đây, giải thích của Tăng kỳ 15 (tr. 347c) phân tích có hai yếu tố căn bản: người nghe và nội dung. Nếu người nghe nói xấu là Tỳ kheo, và nội dung nói là các thứ ẩm thực: ba dật đề; nếu nội dung là các thứ thuốc men: việt tỳ ni. Người nghe không phải là Tỳ kheo, mà các chúng khác, như Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, cho đến cư sĩ, nếu nội dung liên hệ các sự ẩm thực: việt tỳ ni; nếu nội dung liên hệ các thứ thuốc men: việt tỳ ni tâm bối.

Các bộ khác đều không có sự phân tích này.

Chánh văn Ngũ phần nói: vì lợi dưỡng; chánh văn Thập tụng nói: vì tài lợi. Cả hai nhất trí. Nghĩa là, nội dung nói xấu không chỉ giới hạn các thứ ẩm thực, mà bao gồm bất cứ sự lợi dưỡng gì, y phục v.v..., đều phạm ba dật đề cả.

+ Bản chất của điều học này không phải là sự nói xấu, mà là sự vu khống, thuộc nghiệp đạo nói dối. Đây là quan điểm của Tứ phần và Thập tụng. Do đó, hai bộ này giải thích: nếu thật sự Tỳ kheo ấy giáo thọ ni vì các thứ ẩm thực hay tài lợi, không phạm.

ĐIỀU 24. Dữ phi thân lý y ni(Cho y Tỳ kheo ni không phải thân quyến).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào cho y Tỳ kheo ni không phải thân quyến, trừ trao đổi, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Điều học này ngược lại với điều 4 ni tát kỳ: nhận y từ Tỳ kheo ni không phải thân quyến.

Duyên khởi, Tứ phần 13 (tr. 650c): Một Tỳ kheo khất thực trong thành Xá Vệ, oai nghi đầy đủ. Một Tỳ kheo ni thấy thế sanh thiện tâm, nhiều lần cúng dường nhưng Tỳ kheo này thảy đều không nhận. Về sau, khi Tỳ kheo này nhận được một phần y do Tăng chia, muốn trả lại lòng tốt của Tỳ kheo ni kia, nghĩ là sẽ đem y này cho cô và chắc là cô không nhận. Nhưng khi mang cho, cô ấy lại nhận. Do thế, Tỳ kheo này phiền trách cô. Phật khiển trách và kết giới: Tỳ kheo cho y Tỳ kheo ni, ba dật đề.

Sau đó, một số các Tỳ kheo biết rõ các Tỳ kheo ni thân quyến của mình thiếu y nhưng không dám cho. Phật tu chỉnh điều luật: Tỳ kheo ni không phải thân quyến. Sau đó nữa, hai bộ Tăng trong Kỳ Viên phân chia y. Các Tỳ kheo nhận y không thích hợp, muốn đổi cho các Tỳ kheo ni. Họ bạch Phật. Phật tùy khai: trừ trao đổi.

Tăng kỳ 15 (tr. 349b) kể khác: Một Tỳ kheo khi mới thọ giới khoác một chiếc y rất đẹp. Bảy năm sau, Tỳ kheo này đến hầu Phật. Cũng vẫn y cũ. Phật hỏi duyên cớ. Tỳ kheo bạch, có bao nhiêu y mới đều cho Tỳ kheo ni cả. Nhân đó, Phật kết giới.

Về sau, một Tỳ kheo khác đến thành Xá Vệ, thăm các Tỳ kheo ni thân quyến, nhưng y của các cô không được lành nên thẹn không dám ra. Ngài A Nan bạch Phật. Phật tu chỉnh điều học. Trường hợp tùy khai được kể như Tứ phần.

Căn bản 32 (tr. 805a) lại kể khác nữa: Tại Xá Vệ, có hai vợ chồng đều xuất gia. Chồng thọ Tỳ kheo. Vợ thọ Tỳ kheo ni, làm đệ tử bà Cù Đàm Di. Một hôm, Tỳ kheo này đến thăm cô Tỳ kheo ni kia, khoác tăng già lê rất đẹp. Sau khi đảnh lễ Tỳ kheo, cô nhìn chăm chú tăng già lê. Tỳ kheo biết ý hỏi, nếu cần thì nhận. Và Tỳ kheo ni nhận.

Bấy giờ, sau mùa an cư, Phật rời Xá Vệ đi đến Ma Kiệt Đà. Tỳ kheo ấy cũng đi theo, và chỉ khoác có hai y. Phật hỏi và biết rõ nguyên do. Ngài bèn chế giới này. Bộ này kể đến đây, không có duyên khởi tu chỉnh và tùy khai.

+ Các ý nghĩa về thân quyến, về trao đổi, như trong điều 4 ni tát kỳ.

ĐIỀU 25. Dữ phi thân ni tát y(May y cho Tỳ kheo ni không phải thân quyến).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào may y cho Tỳ kheo ni không phải thân quyến, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Duyên khởi, Tứ phần 13 (tr. 651): Một Tỳ kheo ni nhờ Ca Lưu Đà Di may hộ y. Tăng kỳ 15 (tr. 394c) nói là vợ cũ. Thập tụng 12 và Căn bản 33 nói là Tỳ kheo Quật Đa hay Cấp Đa.

Ca Lưu Đà Di nhận và may (Ngũ phần nói là thêu) thành hình tượng nam nữ giao hội. Căn bản nói thêu hình nam nữ ôm nhau. May xong, Ca Lưu Đà Di trao cho cô, và dặn: khi được tự mình giở ra xem, không cho người khác xem. Chỉ khi nào tùng chúng nghe giáo giới mới được khoác, và phải đi sau các Tỳ kheo ni khác. Cô vâng lời dặn. Đến ngày đi nghe giáo giới, cô khoác y ấy. Dọc đường, các cư sĩ trông thấy, vỗ tay cười rộ và chọc ghẹo. Bà Cù Đàm Di quay lại, bắt cô cởi y ấy ra, và hỏi biết duyên cớ. Bà bạch Phật và Ngài kết giới.

Ý nghĩa của chánh văn rất rõ, do đó không cần giải thêm. Tuy nhiên, cũng nên nói rằng, gọi là may, trong từ nghĩa học của luật, là khi kim và chỉ xuyên qua vải. Do vậy, không đợi may nhiều ít, nếu một mũi kim hoặc một đường chỉ đã thành đủ nghĩa của sự may, phạm ba dật đề. Các việc khác liên hệ đến sự may y nhưng không đủ nghĩa may, phạm đột kiết la.

ĐIỀU 26. Độc dữ ni bình phú xứ tọa(Ngồi riêng với ni tại chỗ khuất kín).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào ngồi một mình với một Tỳ kheo ni tại chỗ khuất kín, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Bản chất của điều học này cũng giống như điều 2 của pháp bất định. Nhưng ở đây đối tượng là Tỳ kheo ni.

+ Chỗ khuất kín, chỗ bị ngăn, bị che kín, có thể hành dâm, như đã giải trong điều 2 bất định.

+ Trong điều học này có ba yếu tố căn bản:

1) Đối tượng: với một Tỳ kheo ni độc nhất, không có người thứ hai. Các loại phi nhân, súc sanh, v.v… và trẻ nhỏ chưa biết gì, hoặc dưới 7 tuổi, không coi là có người thứ hai. Ngũ phần, Tăng kỳ và Thập tụng đều nói rõ rằng, nói Tỳ kheo ni là chỉ chung, bao gồm cả Thức xoa ma na và Sa di ni; nghĩa là, với bất cứ ni chúng nào, cũng đều là đối tượng của ba dật đề. Tăng kỳ còn giải thích rõ ý nghĩa một Tỳ kheo ni bằng thí dụ: Tỳ kheo thọ thực, có hai Tỳ kheo ni hầu. Một cô ngồi, một cô bưng dọn. Cứ mỗi lần cô thứ hai đi khuất, Tỳ kheo phạm một ba dật đề. Với hai nữ chúng xuất gia kia cũng vậy.

2) Động tác: trong từ nghĩa học áp dụng ở đây, ngồi là một động tác năng động, nghĩa là đã đặt bàn tọa xuống chỗ ngồi. Thí dụ, từ tư thế đứng, chuyển sang động tác ngồi: đây là một động tác. Từ tư thế ngồi, đứng dậy, rồi ngồi trở lại: đây là động tác ngồi lần thứ hai. Mỗi động tác ngồi là một ba dật đề, không kể thời gian bao lâu. Về yếu tố động tác, Căn bản 33 (tr. 808b) nói, chánh văn nêu động tác ngồi là nói chung, bao gồm cả đi, đứng và nằm. Quan điểm này không được chấp nhận trong các bộ khác.

3) Không gian: phải là chỗ kín khuất. Nếu chỗ trống, hay ngồi trong nhà mà cửa thông ra lộ có bộ hành qua lại thường xuyên, không gọi là chỗ khuất kín. Trong đây, Tăng kỳ còn nêu yếu tố cự ly: ngồi gần chứ không xa; không nói rõ là trong hay ngoài phạm vi thế phần của không gian ngồi.

+ Duyên khởi: Tứ phần 13 (tr. 651c): Tỳ kheo Ca Lưu Đà Di cùng với Tỳ kheo ni Thâu La Nan Đà có tình ý với nhau. Một lúc nọ, Ca Lưu Đà Di đến thăm Thâu La Nan Đà trong khi ni chúng đi vắng, chỉ một lão ni nằm bịnh. Hai người ngồi đối diện, và dục tâm động. Lão ni nhân có việc đi ngang, thấy thế, cho là phi pháp.

Tăng kỳ 15 nói cô ni này là Thiện Sanh. Thập tụng 12 nói là Quật Đa. Căn bản 33 nói là Cấp Đa. Và đều ghi rằng cô là vợ cũ của Ca Lưu.

Ngũ phần 7 (tr. 47a) không nêu tên nhân vật, mà nói chung là các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni ngồi riêng với nhau, họ khởi dục tâm, do đó thậm chí có người hoàn tục.

ĐIỀU 27. Dữ ni cọng hành(Hẹn đi chung đường với ni).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào hẹn và cùng đi chung một đường với Tỳ kheo ni từ một xóm đến một xóm, trừ trường hợp khác, ba dật đề. Trường hợp khác là, đi chung với đoàn buôn, hoặc khi có nghi ngờ, có sợ hãi. Đây gọi là trường hợp khác.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi (tường thuật tổng hợp): giới này được kết thành ba đợt.

Thứ nhất: Các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni đi chung đường. Trong đó, có những người còn trẻ, họ sanh nhiễm tâm với nhau, thậm chí có người hoàn tục. Hoặc khi đi chung như vậy, các tục gia thấy giống như một đoàn gia đình gồm vợ chồng và con cái, bèn châm biếm. Phật kết giới: Tỳ kheo và Tỳ kheo ni không được chung đường.

Thứ hai: Một số các Tỳ kheo đi đường, lỡ gặp các Tỳ kheo ni, bèn tránh. Những người không có đường trường tránh, nghi ngờ không biết mình có phạm hay không, bèn bạch Phật. Phật nói rõ: nếu không hẹn trước, không phạm.

Thứ ba: Sau mùa an cư, một số Tỳ kheo lên đường đi đến nơi khác. Các Tỳ kheo ni xin đi chung, họ không cho. Các cô đi riêng thì sợ gặp nguy hiểm, do đó nhắm chừng phía sau các Tỳ kheo mà đi. Kết quả, họ vẫn bị cướp đón đường. Bà Cù Đàm Di nhân sự này, bạch Phật: các Tỳ kheo ni vốn là thể chất con gái yếu đuối. Do đó, Phật tùy khai cho các trường hợp có nghi ngờ, có sợ hãi.

+ Trong điều học này, gồm có ba yếu tố căn bản: đối tượng, ước hẹn và lộ trình.

1) Đối tượng, chánh văn nói là Tỳ kheo ni. Không thấy giải thích trong một số bộ. Ngũ phần 7 (tr. 48b) nói, nếu không phải đi chung với Tỳ kheo ni, mà là với Thức xoa, Sa di ni: đột kiết la. Nếu đi chung với các người nữ, không phải Tỳ kheo ni, xem điều 30 sau.

2) Ước hẹn, đây là yếu tố quan trọng để thành phạm. Tức là, hai bên có ước hẹn trước, sau đó đi chung. Trong từ nghĩa học đặc biệt của Tăng kỳ 15 (tr. 348c), hẹn là sự thỏa thuận giữa hai người trong đó phải bao gồm động tác đến, và loại trừ động tác đi. Bộ này nêu nhiều thí dụ. Tỳ kheo đi chung xe với mẹ, chị em gái, đều xuất gia cả (không biệt chúng); sau khi xe tạm dừng nghỉ, rồi khởi lên trở lại. Bấy giờ, Tỳ kheo gọi các người ấy đi cho kịp xe; nếu lời gọi bao gồm ý nghĩa: hãy đến, và các người kia nghe theo, khi họ cất một chân, Tỳ kheo phạm đột kiết la; khi họ cất xong hai chân: ba dật đề. Thí dụ khác: Tỳ kheo gọi một Tỳ kheo ni để hỏi đường, mà trong lời gọi hàm ý: hãy đến, và khi cô này giở một bước: đột kiết la; giở hai chân: ba dật đề. Nếu lời gọi hàm nghĩa: hãy đi, không phạm. Đây chỉ là giải thích riêng biệt và đặc sắc của Tăng kỳ, không thấy trong các bộ khác.

3) Lộ trình, chánh văn nêu rõ: Từ một xóm đến một xóm, tức nói rằng đi trên con đường nối liền hai xóm. Trong phần giải thích của Tứ phần, xóm ở đây bao gồm phạm vi của một xóm, tức cương giới tụ lạc. Nếu đi chung trong cương giới tụ lạc, đột kiết la. Nếu có nhiều xóm cùng chung một cương giới tụ lạc, đi chung trên các đoạn đường nối liền hai xóm trong phạm vi này, đột kiết la. Đây là nói về những con đường nối liền các tụ lạc. Trái lại, gọi là lộ trình không xứ hay a lan nhã, tức những con đường không nối liền với tụ lạc nào cả. Thí dụ, đường từ xóm lên rừng hay xuống biển. Trong lộ trình này, phạm vi ấn định là một câu lô xá (Tứ phần dịch là 10 dặm).

Như vậy, trong lộ trình tụ lạc, nếu đã khởi hành nhưng chưa đến phạm vi tụ lạc khác: đột kiết la; đã đến: ba dật đề. Trong lộ trình a lan nhã dưới một câu lô xá: đột kiết la; đủ một câu lô xá: ba dật đề.

+ Các trường hợp tùy khai. Trong đây chỉ có hai trường hợp tùy khai: lúc có nghi ngờ, nghĩa vào thời gian mà bọn cướp có thể đón đường, vì chúng thường chặn đường hành khách tùy theo mùa. Và thứ đến, nếu lộ trình đi ngang qua chỗ bọn cướp thường hành nghề, không kể thời gian nào. Tức trong hai tùy khai, một nhắm vào thời gian và một nhắm vào lộ trình.

Chánh văn nói: đi chung với đoàn buôn; điều này, Ngũ phần và Thập tụng nói: đi chung với nhiều bạn đồng hành. Đây không phải là tùy khai riêng biệt ngoài hai trường hợp kể trên, mà là điều kiện chung. Nghĩa là vào thời gian có nghi ngờ, trên lộ trình có nguy hiểm, cần được an toàn, có thể đi chung, nhưng phải là có nhiều bạn đồng hành; chứ không phải lúc nào có bạn đồng hành nhiều người là có thể đi chung. Vì giải thích như vậy là lạc với ý nghĩa trong duyên khởi, và cũng sai với các giải thích. Vì trong giải thích phạm tướng, Tứ phần đã nói: đi với nhiều chúng (nhiều nhóm Tỳ kheo ni) và qua nhiều giới; mỗi chúng là một ba dật đề, và mỗi giới là một ba dật đề.

Về điều kiện đi chung này, chánh văn Tứ phần đã nêu rõ là đi với khách buôn. Như vậy, nếu hiểu chính xác, trong trường hợp cần đi chung cho được an toàn, phải đi chung trong đoàn khách buôn. Điểm này được Căn bản 33 (tr. 807a) nhấn mạnh: “Nếu có nạn duyên, có thể đi chung theo đoàn buôn. Nếu không có đoàn buôn, không được phép đi chung”.

+ Đoạn chót của chánh văn: đây gọi là trường hợp khác, chỉ rõ rằng, ngoài hai trường hợp tùy khai với một điều kiện chung, không có các trường hợp vân vân nào nữa. Ý nghĩa đúc kết này thường được thấy trong các điều học có sự tùy khai.

ĐIỀU 28. Dữ ni đồng thuyền(Đi chung thuyền với ni).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào hẹn và đi chung một thuyền với Tỳ kheo ni, dù đi ngược dòng hay xuôi dòng, trừ qua ngang, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Bản chất điều học này cũng đồng điều 27 trên; chỉ khác biệt là, ở trên, đi chung lộ trình, bất kể thủy lục và bất cứ với phương tiện gì, còn trong điều này, nói riêng về thủy đạo và đi bằng thuyền. Nếu là lộ trình thủy đạo, mà không đi chung bằng thuyền, điều 27 trên được áp dụng.

+ Duyên khởi, Tứ phần 13, với nội dung sự việc hoàn toàn như điều 27, chỉ nói sự đi chung đường thành đi chung thuyền; và cũng do ba nguyên nhân cho sự kết giới ba đợt như nhau.

Tăng kỳ 15 (tr. 349a): giới này được kết hai đợt. Trước hết, vào ngày hội Cát tường, nam nữ tụ hội trên sông. A kỳ la để du ngoạn. Nhóm sáu Tỳ kheo cùng với sáu Tỳ kheo ni cùng tổ chức du ngoạn. Họ mượn một chiếc thuyền quan, chuẩn bị đủ các thứ ẩm thực, rồi thả thuyền hoặc xuôi dòng hoặc ngược dòng, đùa giỡn với nhau. Như thế, nguyên nhân này đã do sự hẹn hò trước.

Sau đó, có thí chủ bên kia bờ A kỳ la thiết trai thỉnh hai bộ Tăng. Vì hạn chế của điều luật, đợi khi các Tỳ kheo qua sông hết, các Tỳ kheo ni mới lần lượt qua sau, và do vậy quá giữa trưa, các cô không thọ trai được. Phật tùy khai: trừ qua ngang.

Các bộ còn lại, đại khái cũng tương đồng. Một vài chi tiết khác biệt không đáng kể.

+ Hẹn, xem giải thích trong điều 27.

+ Đi chung thuyền…: đây không phải là yếu tố lộ trình, mà là yếu tố phương tiện. Do đó, Tứ phần nói về phạm tướng: nếu cả hai đã cùng ở trong thuyền, ba dật đề. Nếu chỉ mới bước vào một chân: đột kiết la.

Tuy nhiên, luật Căn bản không coi thuyền là yếu tố chủ yếu, mà nhấn mạnh trên câu: dù ngược dòng hay xuôi dòng nên coi lộ trình thủy đạo là yếu tố chủ yếu. Lộ trình thủy đạo cũng như lộ trình a la nhã, nếu đi quá một câu lô xá: ba dật đề; dưới một câu lô xá: đột kiết la.

+ Trừ qua ngang, đây là tùy khai. Từ bờ bên này sang bờ bên kia, không phạm, trong bất cứ trường hợp nào, không nhất thiết phải là khi có nghi ngờ hay có nguy hiểm.

Về sự qua ngang, Căn bản dẫn những trường hợp bất thường: nếu đò bị gãy bánh lái, hoặc gãy chèo, hoặc tài công không nghe lời, thuyền sẽ trôi ngược xuôi dòng. Các trường hợp ngoại ý như vậy, không phạm.

ĐIỀU 29. Ni khuyến hóa thực(Ăn thức ăn do ni khuyến hóa).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào ăn thức ăn được biết là do Tỳ kheo ni khuyến hóa, trừ đàn việt có chủ ý trước, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi (tường thuật tổng hợp): Giới này được kết thành ba đợt. Duyên khởi các bộ đại thể giống nhau, trừ các chi tiết thêm bớt.

Một thí chủ thỉnh các đại Thanh văn về nhà cúng dường. Tỳ kheo ni Thâu La Nan Đà tình cờ đến, được biết là cúng dường các đại Thanh văn. Cô chê thí chủ không biết gì, bỏ những bậc đại long tượng tức nhóm sáu Tỳ kheo (Tứ phần nói nhóm phe đảng Đề Bà Đạt Đa) mà chọn bậc tiểu đức. Khi các đại Thanh văn đến, cô nói ngược lại, khen thí chủ có đại phước nên thỉnh các ngài. Sau đó, các ngài về kể lại Phật nghe sự việc ấy, Phật bèn kết giới.

Đoạn sau, Tứ phần kể vắn tắt: một số Tỳ kheo được thí chủ thỉnh và đã nhận lời, nhưng khi đến, thấy trong nhà có Tỳ kheo ni, không biết sự cúng dường này có phải do Tỳ kheo ni hay không và họ không dám ăn. Nhân đó, Phật thêm yếu tố: được biết là do Tỳ kheo ni khuyến hóa.

Trong đoạn này, Tăng kỳ 15 kể duyên sự đặc biệt. Tỳ kho thọ thỉnh là A Nan. Sau khi thọ thực xong, được một Tỳ kheo khất thực cho biết sự cúng dường ấy do sự khuyến hóa của một Tỳ kheo ni. Nghe vậy, A Nan bèn lấy lông chim ngoạy cổ cho ói ra hết. Nhân đó, Phật quy định rõ yếu tố biết.

Sau cùng, một thí chủ thỉnh các Tỳ kheo cúng dường và được nhận lời. Khi gần đến giờ, ông nhờ một Tỳ kheo ni đi thỉnh. Vì thấy có sự khuyến hóa của Tỳ kheo ni trong này, các ngài không đi. Thí chủ rất buồn, hoặc hận, nhưng sau đó được các Tỳ kheo cho biết lý do.

Do đây, Phật tùy khai: trừ đàn việt có chủ ý trước.

+ Thức ăn, trong điều học này chỉ giới hạn ở các loại thực phẩm. Các thứ ngoài thực phẩm ra, không thấy các bộ đề cập.

+ Tỳ kheo ni, nếu sự khuyến hóa do Thức xoa, hoặc Sa di ni: đột kiết la.

+ Khuyến hóa, yếu tố căn bản của điều học này. Sự khuyến hóa bao gồm các việc khen ngợi Tỳ kheo, chỉ dẫn các loại thực phẩm nên cúng v.v… Nói chung, trong đây có hai đối tượng khuyến hóa: Tỳ kheo và thực phẩm.

Khuyến hóa cho Tỳ kheo, tức tán thán công đức, phẩm hạnh của một Tỳ kheo, và do sự tán thán này, Tỳ kheo ấy được thí chủ cúng dường. Hoặc không tán thán, mà thí chủ hỏi ý kiến Tỳ kheo ni, và một Tỳ kheo được đề nghị. Thí chủ nghe theo. Như thế đã đủ yếu tố để thành phạm.

Về thực phẩm cũng vậy. Hoặc Tỳ kheo đề nghị, hoặc thí chủ hỏi ý kiến. Nếu đề nghị hay ý kiến của Tỳ kheo ni được thí chủ nghe, như thế cũng đủ yếu tố để thành phạm.

+ Tùy khai: trừ đàn việt có chủ ý trước. Ở đây, thí chủ chủ động trong cả hai việc: việc mời Tỳ kheo và việc nên cúng vật thực gì mà không có sự can dự của Tỳ kheo ni. Trong hai việc, nếu Tỳ kheo ni có can dự vào một việc nào, Tỳ kheo nếu thọ thực, phạm ba dật đề.

ĐIỀU 30. Cọng nữ đồng hành(Đi chung đường với người nữ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào hẹn và đi chung đường với người nữ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Điều học này hoàn toàn giống điều 27. Sở dĩ trở thành hai điều khoản, vì đối với các Tỳ kheo ni, họ cần nương tựa các Tỳ kheo, và các Tỳ kheo cần bảo vệ họ trong những trường hợp nguy hiểm, do đó có các trường hợp tùy khai. Đối với các nữ tục gia, các Tỳ kheo không có trách nhiệm bảo vệ họ, do đó hoàn toàn không có trường hợp tùy khai nào cả.

+ Các ý nghĩa, hẹn, đi chung lộ trình và giới hạn lộ trình, thảy đều như trong điều 27 trên.

+ Duyên khởi (tổng hợp): các bộ giống nhau. Một người thợ dệt đánh vợ. Cô sợ bị đánh chết, bỏ nhà đi. Giữa đường gặp một Tỳ kheo. Cô xin đi chung. Người chồng đuổi kiếm, bắt gặp, tưởng Tỳ kheo dụ dỗ vợ mình, bèn đánh.

Trong đây, đa số các bộ đều tường thuật, khi bị đánh, Tỳ kheo hiện thần thông khiến người chồng sợ và sám hối. Riêng Tăng kỳ 19, Tỳ kheo này không hiện thần thông gì cả, mà trái lại, còn bị người thợ dệt trói dẫn trình quan. Quan hỏi tại sao dụ dỗ vợ người. Tỳ kheo cứ thật đáp: Cô ấy có xin đi chung, nhưng đường quan nào phải riêng cho Tỳ kheo, cô muốn đi tự ý. Và quan hỏi người đàn bà. Cũng được trả lời như vậy. Tỳ kheo được thả và người thợ dệt bị quan phạt.

ĐIỀU 31. Thí nhất thực xứ quá thọ(Quá hạn tại phước xá).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào không bịnh, tại trú xứ thí một bữa, chỉ nên thọ thực một bữa; nếu quá, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Trú xứ thí một bữa, nguyên trong quảng luật của Tứ phần 13 (tr. 655a) có hai danh từ cùng chỉ một sự, trong văn kết giới lần đầu thì nói: nhất trú xứ thực, và trong văn kết giới lần hai nói: thí nhất thực xứ. Trong chánh văn của Tăng kỳ 16 cũng gọi là nhất thực xứ, nhưng trong phần duyên khởi gọi nói là phước xá. Ngũ phần chỉ nêu một tên gọi: thí nhất thực xứ. Các tên ngọi này đều là những từ dịch khác nhau của một từ gốc.

Theo duyên khởi của ba bộ vừa dẫn, loại trú xứ này được các đệ tử tại gia dựng cho các Tỳ kheo ở trọ, với quy ước: mỗi Tỳ kheo ngủ trọ một đêm và thọ thực một bữa. Nguyên do mà Tứ phần tường thuật không có gì đặc biệt, ngoài sự kiện sáu nhóm Tỳ kheo ở đây quá hạn bị các cư sĩ chê bai, nên Phật chế giới. Sau đó, tôn giả Xá Lợi Phất, mặc dù đang bịnh nặng, nhưng cũng phải rời trú xứ. Nhân đó, Phật tùy khai. Tăng kỳ cũng không nêu giải thích gì đặc biệt như Tứ phần. Riêng Ngũ phần 7 kể nguồn gốc của loại phước xá này là, vào thời đói kém, các Tỳ kheo tìm đến địa phương khác. Các cư sĩ bèn hợp nhau dựng một phước xá với quy ước như đã nói, để các Tỳ kheo có thể lưu lại.

Như vậy, với giải thích của ba bộ này, loại trú xứ hay phước xá trong đây là một loại nhà trọ đặc biệt dành riêng cho các Tỳ kheo đệ tử Phật. Ý nghĩa này khác hẳn với Thập tụng và Căn bản.

Trong chánh văn của Thập tụng 12 (tr. 89c), nó được gọi là phước đức xá, tức là một loại lữ xá từ thiện, mà phần duyên khởi của bộ này cho biết do một cư sĩ lập ra làm chỗ trọ cho bất cứ tu sĩ nào, bất kể Thích tử hay Bà la môn, với quy ước: bất cứ tu sĩ phái nào trọ tại đây đều được cung cấp đầy đủ các phương tiện nghỉ ngơi và ẩm thực, trong đó không giới hạn một ngày và một bữa như ba bộ đã kể.

Chánh văn của Căn bản 35 (tr. 818a) gọi đây là trú xứ ngoại đạo, với ý nghĩa chính xác là “nhà trọ của ngoại đạo”. Trong phần duyên khởi nói rõ nguồn gốc. Nhà trọ này do một đệ tử ngoại đạo dựng, với quy ước cũng giống như Thập tụng. Do sự khuyến khích của một người bạn vốn là đệ tử Phật, ông bằng lòng đón tiếp các Tỳ kheo. Vị cư sĩ này về Xá Vệ báo tin cho các Tỳ kheo, nhưng lại nhằm vào nhóm sáu Tỳ kheo. Các vị này im lặng mà đi, không nói lại cho các Tỳ kheo khác biết. Khi đến nơi, họ đuổi một tu sĩ lõa hình đi chỗ khác. Tư cách của các Tỳ kheo rất nghiêm trang, khiến vị đệ tử ngoại đạo ấy sanh tâm kính trọng. Nhưng vào lúc ông đi vắng, các Tỳ kheo này đùa cợt nhã với vợ con ông ta. Hay biết như vậy, ông lơ là sự cúng dường khiến sáu Tỳ kheo phải rời nhà trọ. Bấy giờ, người tu sĩ bị đuổi, về rủ thêm các đồng bạn, tất cả 60 người, đến tìm sáu Tỳ kheo để hành hung. Nhưng các Tỳ kheo này vốn xuất thân từ giai cấp võ sĩ, nên sức mạnh và võ nghệ đều cao cường. Họ đánh cho tất cả 60 tu sĩ lõa thể bị thương tích trầm trọng. Khi họ trở về Kỳ Viên, nghe các Tỳ kheo nói tôn giả vừa khuất phục một đại luận sư ngoại đạo, tiếng đồn khắp Xá Vệ. Các Tỳ kheo này nói, Xá Lợi Phất chỉ hàng phục một người, còn nhóm họ bằng thân giáo đã hàng phục tất 60 ngoại đạo. Các Tỳ kheo biết rõ vụ gây hấn ấy, bèn bạch Phật. Nhân đó chế giới.

Để lấy lại uy tín với người đệ tử ngoại đạo mà sáu Tỳ kheo đã làm mất tín tâm, Phật khiến tôn giả Xá Lợi Phất đến nhà trọ, thuyết pháp và hóa độ cho tục gia ấy. Tại đây tôn giả bịnh, nhưng không thể trọ quá một đêm như điều luật Phật đã chế, nên gắng gượng ôm bịnh trở về Kỳ Viên. Do đó, Phật tùy khai.

Nói tóm, nếu chấp nhận tường thuật của Thập tụng và Căn bản, thì phải nói đây là lữ khách phước thiện, cho bất cứ ai, hoặc dành riêng cho các tu sĩ bất cứ thuộc đạo nào, nếu lỡ đường, có thể trọ lại đó.

+ Về trì phạm, trong đây bao gồm ba yếu tố: nhà trọ, thời gian và vật thực. Nhà trọ: mỗi nhà trọ chỉ được phép ở lại một lần. Thời gian: mỗi lần chỉ được phép một đêm. Vật thực: ngủ lại một đêm chỉ được phép thọ thực một lần. Vật thực ở đây là các thực phẩm chính gồm 5 loại như thường kể, ngoài đây ra, các thứ như dầu, khăn v.v…, nếu thọ dụng quá: đột kiết la.

Các bộ nêu giải thích hình thái vi phạm giống nhau. Riêng Tăng kỳ 15 cho một thí dụ đặc biệt rõ ràng nhất. Tại một xóm, các cư sĩ họp nhau làm một nhà trọ gồm 16 gian, mỗi gia đình quản lý một gian, có thể là nhà riêng của họ. Tỳ kheo có việc cần, trọ tại một gian, qua đêm và đã thọ thực một bữa, thế là hết hạn. Nhưng duyên sự chưa xong, đêm sau có thể dời qua gian khác. Lần lượt như vậy, cho đến hết 16 gian. Nếu việc vẫn chưa xong, phải qua xóm khác khất thực và có thể tối về ngủ lại trong xóm đó. Cách một đêm sau, có thể trọ lại nhà trọ đầu và thọ dụng như trước.

Giải thích này có thể bổ túc thêm của Thập tụng 12 như sau: ngủ tại nhà trọ qua đêm thứ hai nhưng không thọ thực: đột kiết la. Ngủ chỗ khác, nhưng về nhà trọ thọ thực lần thứ hai: đột kiết la. Nói tóm, trong ba yếu tố, không điều nào được phép tiến diễn dù riêng biệt đến lần thứ hai. Nếu cả ba đều tiếp diễn chúng đến lần thứ hai: phạm ba dật đề.

ĐIỀU 32. Triển chuyển thực(Ăn nhiều đợt).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào ăn nhiều đợt, trừ trường hợp khác, ba dật đề. Trường hợp khác là, khi bịnh, khi thí y. Đây gọi là trường hợp khác.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ăn nhiều đợt, ăn đúng thời nhưng ăn tại nhiều nơi khác nhau. Đúng thời là từ mặt trời mọc cho đến giữa trưa. Có hai yếu tố căn bản để được gọi là ăn nhiều đợt: thọ thỉnh và thọ thực. Đã nhận lời thỉnh của một thí chủ, sau đó lại nhận thêm một thí chủ khác, và thọ thực cả hai nơi. Nếu cần thọ thực thọ sự thọ thỉnh trước, không được nhận thọ thỉnh thêm. Thọ thỉnh thêm: đột kiết la, và thọ thực thêm: ba dật đề. Nếu cần thọ thực tại thọ thỉnh sau, phải xả thọ thỉnh trước, bằng cách chuyển sang cho một Tỳ kheo khác, gọi là thí thực pháp. Thí thực pháp này chỉ là một cách tác tịnh để Tỳ kheo khi cần có thể thọ thực tại hai nơi thọ thỉnh mà không phạm.

+ Tùy khai: Trong đây chỉ có hai trường hợp tùy khai. Với các Tỳ kheo bịnh, không thể ăn một lần đủ no, cần ăn nhiều lần, có thọ thỉnh và thọ thực tại nhiều nơi.

Trường hợp tùy khai thứ hai là thí y thời. Theo lệ, các thí chủ khi dâng cúng y thường cúng dường thực. Nhưng thời gian cúng y chỉ trong phạm vi của tháng ca đề hoặc có thọ ca thi na (xem ni tát kỳ 1). Nghĩa là, trường hợp tùy khai này chỉ áp dụng trong khoảng hai thời gian đó.

+ Về thọ thỉnh thực và y, Căn bản 34 (tr. 815c) phân tích thành 16 phiên, xếp trong 4 mục và mỗi mục có 4 cú.

a) 1. Thỉnh trước có y, thỉnh sau có y; 2. Thỉnh sau không y; sau có y giá (tiền sắm y); 4. Thỉnh sau không y giá.

b) 1. Thỉnh trước có y giá, thỉnh sau có y; 2. Thỉnh sau không y; 3. Thỉnh sau có y giá; 4. Thỉnh sau không y giá.

c) Thỉnh trước không y, với 4 trường hợp như trên.

d) Thỉnh sau không y giá, cũng với 4 trường hợp như trên.

+ Duyên khởi: giới này được kết thành ba đợt: một lần chánh kết và hai lần tùy khai. Trước duyên khởi của chánh kết Tứ phần 13 (tr. 655c) kể nhân duyên Phật cho phép ăn cháo. Một người Bà la môn có tín tâm muốn cúng dường Phật. Ông chuẩn bị đủ các thứ thực vật, đợi khi nào Phật và chúng Tăng không ai mời sẽ dâng cúng. Nhưng suốt ba tháng mà chưa có dịp. Vì có các việc công và tư cần phải làm, không thể chờ thêm nữa, ông hỏi ngài A Nan, A Nan hỏi Phật. Phật khiến nấu cháo cho các Tỳ kheo dùng.

Phần chánh kết có hai nhân duyên. Thứ nhất, do một đại thần thỉnh các Tỳ kheo thọ thực. Nhưng trước đó các vị đã nhân thọ cháo, và đã thọ thực rồi. Do đã ăn no, nên không thọ thực được nhiều tại nơi vị đại thần. Vị này buồn, đến bạch Phật. Lần này chưa chính thức kết giới, mà Phật chỉ nói các Tỳ kheo đã thọ thỉnh cháo đặc, nghĩa là cháo mà lấy cọng cỏ rạch, cháo không liền lại, sau đó không được thọ thỉnh nữa.

Nhân duyên thứ hai, do một nhạc sư, vào ngày hội, thỉnh các Tỳ kheo thọ thư, có nhiều cư sĩ thỉnh, nên trước đó các vị đã thọ thực, nên cũng không thể thọ thực được nhiều tại nhà nhạc sư. Ông buồn và bạch Phật. Phật kết giới.

Lần tùy khai thứ nhất, vì một Tỳ kheo bịnh, cần ăn nhiều đợt.

Lần tùy khai thứ hai, nhân một cư sĩ muốn cúng dường y cho các Tỳ kheo. Nhưng theo lệ, họ cũng dâng cúng cả vật thực. Các Tỳ kheo nói chỉ có thể nhận y chứ không thể nhận thực. Nhưng như vậy trái với thông lệ của họ, các cư sĩ không chịu. Phật tùy khai.

Các bộ khác không kể nhân duyên Phật cho phép các Tỳ kheo thọ thỉnh cháo.

Riêng Tăng kỳ 16 (tr. 353a) còn kể thêm nhân duyên của thí thực pháp, tức thể thức tác tịnh cho các trường hợp triển chuyển thực này. Vào mùa đại hội của các ngoại đạo, các tu sĩ này đi khuyến hóa cư sĩ đóng góp. Các cư sĩ đệ tử Phật đặt điều kiện, nếu họ cũng thỉnh Phật và các Tỳ kheo. Các tu sĩ này chấp nhận.

Khi thọ thực, một số các Tỳ kheo trước đó đã thọ thực rồi, nghi ngờ phạm tội nên thỉnh ý Phật. Phật khiến làm pháp thí thực. Tỳ kheo thí thực nói: “Tôi nay nhận được vật thực, xin cúng lại cho Tỳ kheo mỗ giáp. Nếu vị ấy không nhận, tôi sẽ dùng”.

Tứ phần 14 không nói thí thực pháp này, mà chỉ nói khi Tỳ kheo có hai chỗ thỉnh, muốn xả sự thọ thỉnh trước, phải chuyển sự thọ thỉnh ấy cho một Tỳ kheo khác, nói rằng: “Tôi cần đi đến chỗ kia. Nay xin chuyển sự thọ thỉnh đến Đại đức”.

ĐIỀU 33. Biệt chúng thực(Ăn chúng riêng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào ăn chúng riêng, trừ các trường hợp khác, ba dật đề. Các trường hợp khác là, khi bịnh, thời gian làm y, thời gian thí y, khi đi đường, khi đi thuyền, khi đại chúng tập hội, khi sa môn thí thực. Đây gọi là các trường hợp khác.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Chúng riêng: Theo định nghĩa cơ bản của các bộ, từ 4 Tỳ kheo trở lên, gọi là một chúng. Nhưng đây không gọi là Tăng, vì không hạn định theo cương giới. Định nghĩa này nhấn mạnh trên chữ chúng. Nhưng Hữu bộ sớ 7 tiến xa hơn định nghĩa căn bản này, với sự nhấn mạnh trên chữ biệt; theo đó, biệt chúng, hay chúng riêng, là một nhóm gồm từ 4 Tỳ kheo trở lên tách ra ngoài Tăng. Do định nghĩa này, Hữu bộ sớ nêu những thể thức hành trì điều học này đặc biệt và phức tạp hơn so với các giải thích của các bộ khác.

Về ý nghĩa của điều học này, Thập tụng 13 (tr. 93c) nói, có hai điểm: 1. Hạn chế sự thọ dụng của các Tỳ kheo để đàn việt không vì sự cúng dường quá đáng mà đi đến chỗ khánh kiệt. 2. Ngăn cản sự cấu kết phe nhóm riêng giữa các Tỳ kheo để đi đến tình trạng phá Tăng.

Ý nghĩa thứ hai được các bộ tường thuật trong phần duyên khởi. Nguyên do Đề Bà Đạt Đa, với chủ đích phá tăng luân, nên thường tụ tập thành nhóm đi khất thực chung. Ngũ phần và Căn bản đều kể sự kiện này xảy ra trong khi Đề Bà Đạt Đa đang tiến hành vận động phá Tăng luân. Tứ phần kể là sau khi nỗ lực phá Tăng thất bại, đồng bọn Đề Bà Đạt Đa sống thành nhóm, chỉ còn 5 người, khất thực chung. Thập tụng cũng kể như Ngũ phần, nhưng thêm chi tiết: sự khất thực thành nhóm, có khi lên tới 60 người, khiến sự cúng dường của thí chủ mòn mỏi, ảnh hưởng đến sự khất thực khó khăn của các Tỳ kheo khác.

+ Giới này có 7 trường hợp tùy khai.

1) Khi bịnh. Nguyên do một số các Tỳ kheo bịnh, nhưng vì không được phép ăn thành chúng riêng, hàng ngày phải tự đi khất thực, nên bịnh khó lành. Phật tùy khai.

2) Thời gian làm y. Thời gian để các Tỳ kheo tìm may y mới thay y cũ. Thời gian này, cơ bản là một tháng ca đề. Nếu có thọ y ca thi na, được kéo dài thêm 4 tháng nữa. Nguyên do, trong thời gian này, các Tỳ kheo vì vừa phải may, vừa phải đi khất thực, nên hoặc khi qua sgiờ không thọ thực được, hoặc khi vì sự khất thực mà phải kiên trì việc may y. Phật tùy khai.

Trường hợp tùy khai này, Căn bản nói là khi lao tác, chỉ chung mọi trường hợp mà Tỳ kheo đang làm các việc nặng nhọc, không thể đi khất thực riêng từng người.

3) Thời gian thí y. Tức một tháng ca đề, hoặc thêm 4 tháng của ca thi na, như đã nói trong điều 32 trên.

4) Khi đi đường. Các Tỳ kheo khi cùng đi chung đường, vì không thể ăn biệt chúng, nên phải chia thành nhóm nhỏ từ ba người trở xuống mà đi khất thực. Vì thế, hoặc có sự thất lạc đồng bạn, hoặc bị giặc cướp. Phật tùy khai. Đi đường ở đây được quy định này đi trên lộ trình ngắn nhất nửa câu lô xá. Dưới đó, không áp dụng trong tùy khai này.

5) Khi đi thuyền. Nguyên do đại khái cũng như khi đi đường bộ. Lộ trình này ngắn nhất cũng phải nửa câu lô xá.

6) Khi đại hội. Khi đại chúng đông Tỳ kheo, hoặc có duyên sự chung, hoặc vào các ngày hội lễ lớn. Nguyên do, khi các Tỳ kheo cùng tụ tập đông đảo tại một trú xứ, có các thí chủ muốn cúng dường. Các Tỳ kheo hạn chế chỉ từng ba người một. Như vậy phải thiết trai thành nhiều đợt, thí chủ bất kham. Phật tùy khai.

Về trường hợp này, Thập tụng 13 (tr. 94c) nêu rõ số lượng Tỳ kheo tối thiểu để có thể được gọi là đại hội hay tụ tập: gồm 8 người, 4 Tỳ kheo cựu trú, và 4 Tỳ kheo khách. Trên số lượng này, các Tỳ kheo có thể biệt chúng thực. Dưới số lượng này, nghĩa là từ 7 Tỳ kheo trở xuống, nếu biệt chúng thực, phạm ba dật đề.

7) Sa môn thí thực. Danh từ sa môn ở đây nghĩa thông dụng là đạo sĩ hoặc tu sĩ. Chỉ tất cả các tu sĩ, không riêng cho các Tỳ kheo. Nguyên do, các bộ kể mỗi khác. Tứ phần 14 kể: Em gái vua Tần Bà Sa La, tên là Ca La, xin phép vua được xuất gia trong phái Ni Kiền Tử. Vua nêu điều kiện, nếu nàng cúng dường các Tỳ kheo, sẽ được phép. Nàng chấp nhận, và thân hành đến thỉnh các Tỳ kheo. Các Tỳ kheo nêu điều kiện: chỉ có thọ thực từng nhóm ba người một. Nàng không chấp nhận. Nhưng vì nàng chưa cúng dường các Tỳ kheo đó, vua chưa cho. Vì vậy Phật tùy khai để nàng được như nguyện. Tường thuật này có chỗ thiếu sót, vì nàng Ca La chưa đủ yếu tố để trở thành sa môn của Ni Kiền Tử.

Ngũ phần 7 kể hơi khác. Nhân vật chính là Ca Lưu không phải em gái mà là em trai của vua Tần Bà Sa La, theo một phái ngoại đạo không được nêu tên, hàng năm tổ chức đại hội mời tất cả tu sĩ các phái thọ thực. Nhưng vì các Tỳ kheo không thọ thực biệt chúng, nên thiếu các sa môn họ Thích. Ca Lưu buồn rầu, nhờ vua thỉnh. Vua đến thỉnh cầu Phật cho em trai mình được như nguyện. Do đó, Phật tùy khai.

Thập tụng 13 kể với một chi tiết đáng lưu ý. Cũng là một thân quyến của vua Tần Bà Sa La, nhưng là cậu ruột, xuất gia theo phái A Kỳ Duy. Vì muốn làm vừa lòng cháu trai vốn là người tin Phật, ông đi khuyến hóa, tổ chức thỉnh các Tỳ kheo thọ thực. Các Tỳ kheo nói: Phật chưa cho phép chúng tôi thọ thỉnh biệt chúng thực của sa môn. Ông này nói: “Cũng là người xuất gia như nhau cả, có gì mà cho với không cho, được với không được? Tôi cũng chẳng kính trọng gì các người, mà chỉ vì muốn làm vừa lòng cháu trai tôi nên thỉnh các người đấy thôi!”. Nhân thế, Phật tùy khai.

+ Về hình thái vi phạm, trong đây có hai yếu tố tạo thành ý nghĩa biệt chúng: nhân số và xứ sở. Nhân số là từ 4 Tỳ kheo trở lên. Với nhân số này cùng tập họp chung tại một chỗ, trong thế phần của một không gian, bấy giờ trở thành biệt chúng. Thọ thực trong trường hợp này gọi là biệt chúng thực. Chủ yếu là thọ dụng các vật thực gồm 5 loại như thường đề cập. Ngoài các loại vật thực ra, không thuộc phạm vi áp dụng điều luật này.

Thể thức áp dụng điều luật này, Tứ phần nêu ba điểm. Thứ nhát, 4 Tỳ kheo cùng tụ hội một xứ sở, không ai có duyên sự để được tùy khai. Một trong 4 người, vị nào muốn ra đi, nên nói: “Tôi không có duyên sự gì để thọ thực trong biệt chúng này, nay muốn đi ra”. Ba người còn lại có thể thọ thực chung. Thứ hai, nếu nhân số từ 4 người trở lên, tại một xứ sở thọ thực, cần phải chỉ làm hai, nhóm này thọ thực xong, đến nhóm khác vào thọ thực. Thứ ba, nếu nhân số 4 Tỳ kheo tại một thực xứ, trong có một vị có duyên sự cần tác bạch rồi mới nhập chúng: “Tôi có duyên sự để thọ thực trong biệt chúng này, nay xin nhập chúng thọ thực”.

Căn bản 36 nêu thêm chi tiết áp dụng trong trú xứ. Trú xứ ở đây gồm hai là trú xứ căn bản và trú xứ ngoài việc, cả hai cùng bao gồm trong đại giới cộng trú. Khi các Tỳ kheo trong trú xứ căn bản thọ thực, cần phải hỏi Tỳ kheo trú xứ ngoài viện có thọ thực hay không; nếu không hỏi, phạm đột kiết la. Tỳ kheo ngoài viện cũng vậy. Nếu không hỏi, biết có sự hiện diện 4 Tỳ kheo và đồng thời thọ thực, phạm ba dật đề. Nếu chỉ ba Tỳ kheo thọ thực, không phạm. Nếu không cùng chung trong một đại giới, không phạm.

Thể thức áp dụng của Hữu bộ sớ phức tạp hơn các điều dẫn giải trên đây rất nhiều. Bản sớ này quan niệm biệt chúng ở đây là một nhớm Tỳ kheo tác thành chúng riêng biệt từ đại Tăng. Theo định nghĩa cơ bản, các Tỳ kheo túc số cùng hiện diện trong phạm vi một cương giới đã được tác pháp quy định mới gọi là Tăng. Nhưng Hữu bộ sớ cũng áp dụng định nghĩa này một cách rộng rãi. Do đó, bất cứ đâu, tự nhiên hay giới tác pháp, nếu túc số, đều thành Tăng. Như vậy, trong phạm vi của giới tự nhiên hay tác pháp, Tỳ kheo nào ăn riêng, phạm ba dật đề.

Thể thức áp dụng trong đây có thể tóm tắt như sau:

Trong một phạm vi đại giới, khi Tăng thọ thực, phải kích hiệu để thông báo, để các Tỳ kheo đều tập hợp, tránh trường hợp biệt chúng thực.

Bấy giờ, giả sử một thí chủ đến, chỉ muốn cúng dường cho chừng 4 Tỳ kheo trong Tăng. Nếu Tăng không cử theo thứ lớp được, cần phải cử một người đưa thức ăn. Tỳ kheo này mang thức ăn từ nhóm này chia sang cho nhóm kia, như vậy cũng gọi là ăn chung.

Đây chỉ nêu một thí dụ điển hình. Trong bản sớ ấy còn nêu nhiều trường hợp khác nữa, không thể dẫn hết.

+ Điểm cuối cùng cần lưu ý là, điều học này, trong giới bổn của Tăng kỳ, thuộc ba dật đề thứ 40, nhưng trong quảng luật của bộ này, điều 40 bị khuyết.

ĐIỀU 34. Thọ quá tam bát thực(Thọ lãnh vật thực quá ba bát).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo đến nhà bạch y, được mời thọ dụng vật thực, hoặc bánh hoặc bột. Tỳ kheo muốn thọ dụng, nên thọ hai ba bát, trở về trong tăng già lam nên chia cho các Tỳ kheo khác. Nếu Tỳ kheo không bịnh, thọ quá hai ba bát, mang về trong tăng già lam không chia cho các Tỳ kheo khác thọ thực, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Xét đại thể, về duyên khởi cũng như giải thích, các bộ đều đồng nhất. Một vài tiểu tiết khác biệt sẽ nói sau.

+ Về duyên khởi: Ngũ phần 7, giới này được kết thành ba đợt, một chánh kết và hai tùy khai cho trường hợp Tỳ kheo bịnh và Tỳ kheo được thí chủ yêu cầu. Tứ phần 14, kết hai đợt, chánh kết và tùy khai cho Tỳ kheo bịnh. Thập tụng và Căn bản, chỉ một đợt chánh kết. Trong chánh văn của hai bộ này không nêu trường hợp tùy khai cho Tỳ kheo bịnh. Tăng kỳ 17 cũng chỉ một lần chánh kết, mặc dù chánh văn nhất trí với Tứ phần.

Về chánh kết, có hai duyên khởi.

Thứ nhất, một gia đình kia gả con gái lấy chồng, bà mẹ chuẩn bị lương thực đi đường để đưa con gái về nhà chồng. Gia đình này vốn tin Phật, nên khi Tỳ kheo đến khất thực, vì nhà nghèo không có gì ngoài lương thực là bánh, bà đem cúng cho Tỳ kheo. Lần lượt nhiều Tỳ kheo đi đến. Bà cúng hết. Như vậy trễ một lần hẹn, nhà chồng sai người thúc giục. Bà lại hẹn ngày, và phải làm lại số bánh khác. Nhưng rồi các Tỳ kheo cũng đến nữa, bà lại cúng hết. Do sự trễ nãi, nhà chồng bãi hôn.

Thứ hai, một thương gia chuẩn bị lương thực đi đường, bằng bột. Ông cũng là người tin Phật, nên cũng cúng hết cho các Tỳ kheo như trường hợp trên. Do vậy, các bạn đồng hành không chờ và ông phải lỡ chuyến đi.

Do hai nhân duyên này, Phật kết giới.

+ Nhà bạch y, ở đây chỉ gia đình có người sắp lên đường, hoặc có con gái sắp về nhà chồng. Ngoài các gia đình này, điều luật không áp dụng.

+ Được mời thọ dụng, nghĩa là được yêu cầu thọ dụng tùy ý. Chánh văn của Thập tụng nói tự tứ thỉnh; của Căn bản nói ân cần thỉnh. Ý nghĩa này trong duyên khởi đã nói rõ. Thí chủ phát tâm cúng dường không hạn chế, nhưng Tỳ kheo thọ dụng phải biết đủ, để không gây những bất hạnh có thể xảy ra cho họ. Trong duyên khởi của Ngũ phần, đây là một trường hợp tùy khai. Theo đây, nếu Tỳ kheo được yêu cầu tùy ý, có thể thọ lãnh quá ba bát. Nhưng quan điểm của các bộ khác, dù được ân cần yêu cầu thọ thỉnh tùy ý, Tỳ kheo cũng không được thọ lãnh quá ba bát.

+ Vật thực hoặc bánh hoặc bột: Hai loại thực phẩm chính dùng làm hành lương đi đường. Tùy theo phong tục, nếu thực phẩm nào được coi là chủ yếu cho hành lương đi đường gồm trong nghĩa này. Về câu này, bản Hán của Tứ phần nói: (…) dữ thực hoặc bính hoặc sao một số bản chép khác: (…) dữ bính sao phạn mà nếu hiểu sát theo văn sẽ có nghĩa: cho bánh, bột và cơm. Nhưng đối chiếu chánh văn của các bộ, chỉ nêu tên hai loại là bánh và bột. Do vậy, đây y theo văn bản thứ nhất đã nói. Trong điều học này, mục đích hạn chế thọ lãnh hành lương quá số lượng, do đó, ngoài các vật thực làm hành lương, các loại vật thực khác không áp dụng, chẳng hạn: cơm ăn liền. Còn cơm khô, tùy địa phương, cũng là loại hành lương, không được thọ quá.

+ Hai ba bát: Theo giải thích của Thập tụng, đây chỉ lượng của cỡ bát nhỏ. Tức trong ba loại bình bát, nếu bát nhỏ, được thọ trong hạn ba bát, bát trung, hai bát và bát cỡ, chỉ một bát. Căn bản cũng đồng quan điểm. Các bộ khác không đề cập cỡ bát nào.

+ Trở về trong tăng già lam chia cho các Tỳ kheo khác: Đây là thể thức áp dụng sự thọ nhận trong hạn hai ba bát và cũng là điểm quan trọng trong điều học này.

Trong chánh văn nói: không được quá hai ba bát. Đây y sự cúng dường của thí chủ chứ y trên số lượng thọ nhận của Tỳ kheo. Vì cứ mỗi Tỳ kheo thọ nhận đủ ba bát, thì thí chủ nhất định sẽ tuyệt lương. Phần duyên khởi đã nêu rõ ý nghĩa này. Do đó, khi Tỳ kheo thọ lãnh đủ ba bát, mang ra ngoài hay về trong tăng già lam, chia cho các Tỳ kheo khác là một hình thức báo cho các Tỳ kheo này biết rằng gia đình nó có người chuẩn bị lên đường. Các vị khác biết đã có Tỳ kheo thọ nhận ba bát rồi, sẽ không ai được phép đến nhà đó khất thực nữa.

Các bộ đều rõ thể thức thọ nhận và báo tin này như sau: Khi thọ lãnh, đã thọ dụng tại đó một bát, và chỉ có thể mang về thêm một bát nữa. Khi về tăng già lam, báo cho các Tỳ kheo khác biết còn dư lại một bát, ai cần dùng có thể đến khất thực. Nếu đã thọ một bát, mang về hai bát, cũng phải báo cho các Tỳ kheo biết đã hết số hạn thọ nhận. Tỳ kheo nào thọ nhận bát thứ tư trong số lượng mà thí chủ đã cúng, dù rằng đối với Tỳ kheo này, đây chỉ là một bát duy nhất, Tỳ kheo ấy cũng phạm ba dật đề.

Nhưng nếu có Tỳ kheo không được báo tin, điều luật không áp dụng. Tỳ kheo nào đã thọ nhận dù chỉ đủ ba bát mà không báo tin, phạm ba dật đề. Trong trường hợp này, Tăng kỳ 17 nêu một thể thức thọ nhận: khi Tỳ kheo thọ dụng tại đó một bát, mang về một bát, nên dặn thí chủ, nếu có Tỳ kheo khác đến, có thể cúng thêm một bát. Cúng các Tỳ kheo quá ba bát sẽ mất phước. Đây là cách báo tin gián tiếp. Vì sợ mất phước, sau khi dâng cúng đủ ba bát trong số hành lương, thí chủ ấy sẽ không cúng bát thứ tư cho bất cứ Tỳ kheo nào nữa. Nếu muốn, họ có thể dâng các thứ khác ngoài lương thực ra.

+ Tổng chi, trong điều học này, trên thực tế áp dụng, có hai trường hợp ba dật đề, một trường hợp thọ nhận bát thứ tư, và một nữa là thọ nhận đã đủ ba bát mà không báo cho Tỳ kheo khác biết.

+ Trường hợp tùy khai: Tỳ kheo bịnh. Nguyên do, các Tỳ kheo bịnh, không dám thọ nhận quá ba bát, nghĩa là bát thứ tư. Do đó, Phật tùy khai. Điều này có nghĩa rằng, vì thí chủ đã cúng các Tỳ kheo đủ ba bát, nếu Tỳ kheo bịnh không thọ nhận bát thứ tư, có thể không khất thực đâu được, như vậy sẽ thiếu ăn. Mà Tỳ kheo bịnh thì cần ăn. Như đã nói, trong chánh văn của Thập tụng và Căn bản, không có tùy khai nào cả, dù cho Tỳ kheo bịnh.

Một trường hợp tùy khai khác chỉ đề cập trong Ngũ phần. Bộ này hiểu rằng, chánh văn nói: được mời hay được yêu cầu tùy ý, như vậy có nghĩa là thể theo sự thỉnh cầu ấy, Tỳ kheo có thể thọ nhận quá ba bát. Điểm này khác hẳn các bộ khác. Mặc dù chánh văn của các bộ cũng nói đến sự được yêu cầu, nhưng Tỳ kheo phải biết đủ trong sự thọ nhận, để thí chủ không đi đến chỗ tuyệt lương.

ĐIỀU 35. Túc thực(Ăn đã đầy đủ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào ăn đã đầy đủ, hoặc có khi thọ thỉnh, không tác pháp dư thực mà ăn nữa, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Cơ bản điều học này là nhất tọa thực, ăn trong một lần ngồi. Trong tiếng Phạn, từ ngữ nhất tọa chỉ một hành động liên tục không gián đoạn. Như nói, Thế Tôn nhất tọa thành Chánh giác: Đức Thế Tôn quyết tâm chỉ ngồi một lần cho đến khi thành Chánh giác. Trong Trung a hàm, Phật đã tán thán sự nhất tọa thực, mà Căn bản 36 (tr. 821a) trích dẫn lại như sau: “Ta do nhất tọa thực nên luôn luôn thiểu dục, không bịnh, đi đứng nhẹ nhàng, khí lực mạnh mẽ, sống an lạc. Các ngươi cũng nên nhất tọa thực”. Thế Tôn bấy giờ chỉ tán thán chứ chưa chế học xứ liên hệ đến nhất tọa thực. Tứ phần 14 kể tất cả 7 trường hợp các Tỳ kheo đã áp dụng không đúng sự nhất tọa thực này, nên Phật chế giới.

1) Do nhất tọa thực, nên một số Tỳ kheo ăn không đủ no, thân thể gầy ốm, bịnh hoạn. Căn bản 36 nêu rõ nguyên nhân các Tỳ kheo ăn không no là trong khi đang ăn, hoặc có Hòa thượng, A xà lê đến, bèn đứng dậy, vì đã rời chỗ ngồi nên không ngồi ăn lại lần thứ hai. Phật dạy: một lần ngồi, hãy ăn đầy đủ rồi đứng dậy.

2) Các Tỳ kheo hoặc khi dùng các thức ăn loại cứng, loại mềm hoặc khi dùng các thứ nước, hay thuốc, cảm thấy đã no đủ, không ăn lại nữa, do đó sự ăn uống vẫn không đầy đủ và lại gầy ốm. Phật quy định rõ: sự ăn gọi là no đủ chỉ đối với 5 loại thực phẩm cứng hay 5 loại thực phẩm mềm. Ngoài ra, các thứ khác không thuộc vào nhất tọa thực.

3) Các Tỳ kheo bịnh, do nhất tọa thực nên gầy ốm. Phật dạy: nhất tọa thực, hay túc thực pháp, không áp dụng cho người bịnh.

4) Thực phẩm của Tỳ kheo bịnh, các Tỳ kheo đã ăn đầy đủ với nhất tọa thực, không dám ăn nữa. Phật dạy: không nên bỏ phí vật thực mà tín thí cúng dường. Ngài khiến các Tỳ kheo nuôi bịnh tác pháp dư thực đối với thực phẩm dư tàn ấy rồi thọ dụng.

5) Thực phẩm dư tàn của người bịnh đã được các Tỳ kheo nuôi bịnh tác pháp dư thực, nhưng họ thọ dụng vẫn không hết và phải bỏ cho chim chóc, vì các Tỳ kheo khác không dám dùng. Phật dạy: vật thực nào đã được các pháp dư thực rồi, các Tỳ kheo khác đều có thể thọ dụng.

6) Một Tỳ kheo mang thực phẩm dư tàn của mình về tăng già lam cho các Tỳ kheo. họ không thọ dụng vì đã ăn đủ rồi. Do đó, phải bỏ cho chim chóc. Phật dạy: không nên lãng phí, và khiến Tỳ kheo tác pháp dư thực mà thọ dụng.

7) Một Tỳ kheo tham ăn. Không cần biết đã ăn đủ hay chưa đủ, nhất tọa hay không nhất tọa, bất cứ lúc nào muốn là ăn. Đây là nguyên nhân trực tiếp Phật kết giới.

Tăng kỳ 16 không dẫn nguyên nhân nhất tọa thực, mà trực tiếp nói ngày nguyên nhân túc thực. Một số các Tỳ kheo thọ thỉnh tại nhà một người Bà la môn. Sau khi ăn đã đầy đủ, họ trở về, và được các thí chủ khác cúng dường các vật thực khác. Vì chưa quá giữa trưa nên các Tỳ kheo ăn thêm. Người Bà la môn này sau khi dâng cúng đã xong, đến tinh xá hầu Phật. Thấy các Tỳ kheo đang ăn, ông hỏi ra biết lý do, bèn phiền trách: Các sa môn họ Thích dối trá, không thành thật. Ăn chưa no nói là no, chưa đủ nói là đủ, nên bây giờ còn ăn thêm nữa. Do nguyên nhân này, Phật cấm các Tỳ kheo ăn đã tỏ ra đầy đủ rồi, đã rời khỏi chỗ ngồi rồi, không được phép ăn lại nữa.

+ Ăn đã đầy đủ: Dấu hiệu cơ bản để xác định nhất tọa thức. Có 5 yếu tố xác định sự ăn đã đầy đủ: 1. Biết rõ loại vật thực, tức 5 loại cứng hay 5 loại mềm. 2. Biết rõ có người đưa đến. 3. Biết rõ đã ngăn. 4. Biết rõ oai nghi, tức biết đang ngồi hay đang đứng v.v… 5. Biết rõ sự xả oai nghi: từ ngồi, đã đứng dậy v.v… Năm yếu tố này là quá trình thọ thực, cho đến khi rời oai nghi cũ.

Trong đây, 5 yếu tố này bao gồm hai trường hợp được gọi là đã ăn đủ: ngăn và xả oai nghi. Ngăn chỉ hành vi khi có người mang thêm vật thực, Tỳ kheo hoặc ra dấu, hoặc nói bằng lời tỏ ý không dùng, dù thực sự chưa no đủ, cũng được gọi là đã ăn đủ. Trường hợp thứ hai, xả oai nghi, trong khi đang ăn, nếu thay đổi tư thế đi, đứng, nằm hay ngồi, dù chưa no vẫn được gọi là đã ăn đủ. Về sự ngăn, Tăng kỳ 16 nếu 8 trường hợp, mà ý nghĩa tổng quát là khi có người mang cho Tỳ kheo thực loại nào thuộc trong 5 loại cứng hay mềm, Tỳ kheo ấy từ chối, hoặc ra dấu hoặc nói bằng lời, sau đó, bất cứ loại nào trong 5 loại được mang đến đều không được phép thọ dụng. Đơn cử thí dụ: có người mang bột mì đến, Tỳ kheo nói “Tôi bịnh phong không ăn bột mì, mang đi chỗ khác”. Đã từ chối, nếu không tác pháp dư thực mà tiếp tục ăn thêm mặc dù không phải bột mì, vẫn phạm ba dật đề.

+ Hoặc khi thọ thỉnh: Nêu trường hợp cần tác pháp dư thực. Đã ăn đủ, hoặc đã ngăn, hoặc đã rời oai nghi, nếu có người mang thức ăn đến, Tỳ kheo cần ăn, vì nể tình người mang đến, hoặc vì các duyên sự khác, có thể ăn thêm nhưng với điều kiện phải tác pháp dư thực. Đây là trường hợp tùy khai, vì không chỉ giới hạn các Tỳ kheo nuôi bịnh hay một số trường hợp, nên chỉ nêu tổng quát như vậy. Chánh văn của các bộ khác không có câu này.

+ Tác pháp dư thực: Cũng gọi là tàn thực, vật thực đã ăn mà còn dư lại, đây chỉ vật thực của Tỳ kheo khác ăn dư chứ không phải của chính mình. Tác pháp này là thể thức tác tịnh vật thực để nó trở thành dư thực hay tàn thực. Nghĩa là, chỉ làm phép tượng trưng.

Tỳ kheo cần tác tịnh tàn thực, để vật thực mình cần ăn vào trong bát, đối diện trước một Tỳ kheo chưa ăn hay đang ăn mà chưa tỏ sự ăn đã đủ, tác bạch rằng: “Đại đức, tôi ăn đã đầy đủ. Đại đức, nên biết cái này, nên nhìn cái này”. Đây là văn theo Tứ phần 14. Văn nói trong Căn bản 36: “Bạch Đại đức, tôi Tỳ kheo mỗ giáp, đã ăn xong, đã ăn đầy đủ, nay lại thọ nhận thêm vật thực loại cứng (hay loại mềm…) này, mà bản ý muốn ăn thêm. Xin Đại đức vì tôi tác pháp dư thực”. Tỳ kheo kia ăn tượng trưng hai, ba miếng, rồi nói: “Đại đức, hãy mang đi. Đây là vật thực của ngài, hãy tùy ý thọ thực:.

Trong đây, Tứ phần 14 nêu 8 trường hợp tác pháp dư thực bất thành, Tỳ kheo phạm đột kiết la: 1. Tự thân đã ăn đầy đủ mà tác pháp cho Tỳ kheo khác. 2. Biết Tỳ kheo khác đã ăn đủ mà đến tác pháp dư thực. 3. Tự tay bốc đồ ăn mà tác pháp. 4. Để đồ ăn xuống đất mà tác pháp. 5. Khiến tịnh nhân bưng thức ăn mà tác pháp. 6. Trước tịnh nhân mà tác pháp. 7. Phủ đồ ăn xấu lên đồ ăn tốt mà tác pháp. 8. Tỳ kheo thọ dư thực pháp của người khác mà mang đi hết.

Căn bản 36, phải hội đủ 5 yếu tố thì sự tác pháp dư thực mới được gọi là thành tựu: 1. Giới nội, trong phạm vi đang ăn. 2. Cự ly: người tác và người thọ không đứng xa nhau ngoài tầm tay. 3. Thạnh khí, vật thực tác pháp phải đựng trong chén bát các thứ. 4. Tự tay bưng. 5. Người tác pháp chưa rời chỗ ngồi.

Thập tụng 13: có 8 trường hợp tác pháp bất thành: 1. Tỳ kheo tác pháp không nhận lấy một chút gì từ vật thực ấy. 2. Để bát xuống đất mà tác pháp. 3. Đứng xa nhau ngoài tầm tay. 4. Vật thực để tác pháp bất tịnh (xem chú thích). 5. Tác pháp với bất tịnh nhục. 6. Muốn dùng 5 loại thức ăn cứng nhưng tác pháp bằng 5 loại thức ăn mềm. 7. Trái với điều trên. 8. Muốn ăn 5 loại tự thực () mà tác pháp với 5 loại thức ăn cứng.

Tổng quát mà nói, có 4 yếu tố căn bản để tác pháp tàn thực: 1. Xứ sở: tại chỗ đang ăn. 2. Đối tượng: vật thực cần ăn. 3. Tác nhân: Tỳ kheo đang ăn. 4. Cự ly: khoảng cách người tác và người thọ không ngoài tầm tay với.

Với các vật thực và sự tác tịnh bất thành, Tỳ kheo nào thọ dụng, ba dật đề.

Các bộ còn nêu một chi tiết để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tác pháp dư thực: nếu tại chỗ mà các Tỳ kheo đều đã tỏ sự ăn đủ, chỉ có một Sa di đủ điều kiện thọ Cụ túc, các Tỳ kheo truyền thọ Cụ túc cho Sa di ấy để vị tân Tỳ kheo này làm tác nhân cho pháp dư thực.

ĐIỀU 36. Khuyến tha túc thực(Khuyến Tỳ kheo đã ăn đủ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào biết Tỳ kheo kia ăn đã đủ, hoặc khi thọ thỉnh, không tác pháp tần thực, ân cần mời mọc, đưa thức ăn, nói: “Trưởng lão nhận thấy thức ăn này”chỉ vì mục đích ấy chứ không gì khác, là muốn người khác phạm giới, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, hai Tỳ kheo vốn huynh đệ, một người tham ăn bị một Tỳ kheo khác chỉ trích, bèn cố tìm cơ hội khiến vị ấy phạm giới. Một hôm, thấy Tỳ kheo kia ăn xong, bèn không tác pháp tàn thực mà ân cần mời ăn thêm. Tỳ kheo kia nhận và ăn. Nhân đó, bèn chỉ trích là vị ấy phạm giới. Phật kết giới. Sau đó, một số Tỳ kheo sau khi ăn xong mang vật thực về đưa cho Tỳ kheo khác, nhưng không biết có phạm hay không. Phật thêm yếu tố biết vào chánh văn.

+ Biết Tỳ kheo khác đã ăn xong, đưa vật thực chưa tác pháp dư thực mời ăn: người đưa phạm đột kiết la; Tỳ kheo ấy ăn: người đưa phạm ba dật đề.

+ Các ý nghĩa khác, xem trong điều 34 trên.

ĐIỀU 37. Phi thời thực(Ăn phi thời).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào thọ nhận thức ăn và ăn phi thời, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ăn phi thời, từ giữa trưa, đứng bóng trở đi cho đến sáng hôm sau trước khi minh tướng hiện, gọi là phi thời.

Bản chất của điều học này và điều 35, túc thực, là một. Điều 35 lấy động tác ăn làm yếu tố căn bản, và điều 37 này lấy thời gian làm yếu tố căn bản cho hình thái trì phạm.

Duyên khởi được kể trong Tứ phần 14 là một phần của các câu chuyện về ăn phi thời mà tôn giả Bạt Đà Lị kể với Đức Phật. Sau khi Phật khuyên các Tỳ kheo nhất tọa thực, Bạt Đà Lị không chấp hành, vì không thể không ăn chiều mà chịu đói được. Suốt ba tháng, tôn giả vì hổ thẹn không gặp Phật. Cuối cùng, nhận định được sự tai hại của việc ăn phi thời, tôn giả đến gặp Phật. Một trong lý do tôn giả nêu lên để nói sự không chấp hành của mình, là theo quan niệm của các Tỳ kheo trẻ: ăn hay không ăn phi thời là sự kiện vụn vặt; buổi tối là bữa ăn chính của mọi người trong thế gian, sao Phật lại cấm? Và, vì sa môn Cù Đàm đã già cả, ăn nhiều không tiêu, nên cũng khuyến khích các Tỳ kheo trẻ nhất tọa thực. Sau đó nữa là câu chuyện khất thực của Ca Lưu Đà Di mà Tứ phần dẫn làm duyên khởi. Vào một buổi trời tối như mực, Ca Lưu Đà Di vào xóm khất thực. Bấy giờ, một người đàn bà đang ngồi rửa chén bát, trông thấy ngỡ là quỷ, bèn la thất thanh. Vì Ca Lưu vốn có nước da rất đen. Ca Lưu trả lời: Không phải quỷ đâu chị ơi, mà là Tỳ kheo khất thực. Bà ấy nghe nói, hoàn hồn và rủa sả: Cha Tỳ kheo không chết đi! Mẹ Tỳ kheo không chết đí! Khất thực gì vào giờ này?

Thập tụng và Căn bản kể nguyên do nhóm 17 Tỳ kheo trẻ ăn phi thời, bị các Tỳ kheo trưởng lão khiển trách.

Riêng Tăng kỳ dẫn gần như toàn bộ các câu chuyện trong Trung a hàm, có chen vài câu chuyện mà các cư sĩ chê bai các Tỳ kheo lại ăn phi thời. Các câu chuyện này chứng tỏ, theo Tăng kỳ, không ăn phi thời là một trong các đặc điểm của các tu sĩ, không riêng gì đạo Phật.

Mặt khác, Tứ phần 42 (tr. 873c) đề cập các đạo sĩ thời cổ, gọi là các vị Vô dục Tiên nhân, họ không ăn phi thời, và buổi chiều chỉ dùng 8 thứ nước trái cây. Như vậy, không ăn phi thời là một thực hành đã có từ lâu trước thời Đức Phật giữa các đạo sĩ Ấn Độ.

Trong các hệ thống học giới của 4 chúng đệ tử Phật, trừ ngũ giới cho cận sự, các hệ thống còn lại đều gồm có một điều khoản về không ăn phi thời.

Không ăn phi thời, ở đây không giới hạn trong bất cứ một loại vật thực nào. Nghĩa là, trừ nước lã ra, tất cả các loại nước được pha chế có gốc từ các loại vật thực, đều gọi là ăn cả, ngoại trừ 8 thứ nước, như đã nêu trong điều 26 của ni tát kỳ.

Tuy nhiên, đại bộ phận của học xứ Tỳ kheo đều có tùy khai cho những người bịnh. Trên mặt hình thức, ăn phi thời không có tùy khai. Nhưng trong thực tế, các Tỳ kheo bịnh được dùng một trong bốn thứ thuốc mà nguồn gốc của chúng phần lớn là thực phẩm. Về bốn loại thuốc này, xem trong điều 26 của chương Ni tát kỳ.

+ Chánh văn trên đây dịch theo quảng luật của Tứ phần, và bản tập Tỳ kheo giới bổn A của Hoài Tố. Bản B và các bản lưu hành hiện tại chỉ nói: Tỳ kheo nào ăn phi thời, ba dật đề. Trong đó không có: thọ nhận thức ăn.

+ Trong Tăng kỳ, duyên khởi cũng như chánh văn và giải thích của điều này và điều 38 tiếp theo được kể chung là một.

ĐIỀU 38. Tàn túc thực(Thức ăn qua đêm).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào cất chứa đồ ăn qua đêm mà ăn, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Tăng kỳ coi điều học này như là một hình thái vi phạm của giới ăn phi thời.

Duyên khởi, các bộ đại khái đồng nhất: Trưởng lão Ca La (Tăng kỳ nói là A Na Luật) khất thực, ăn không hết, để dành phơi và qua ngày sau dùng; vì vậy, trưởng lão không thường xuyên đi khất thực, mà sống một mình trong rừng, chuyên tu thiền định. Dù vậy, hành động cất chứa được coi là phi pháp, cho nên Phật kết giới.

+ Trong đây có hai yếu tố căn bản: tích trữ và thọ dụng. Hành vi tích trữ lại gồm ba yếu tố: 1. Động tác: thọ nhận với ý tưởng là vật thực sở hữu của mình. 2. Thế phần: vật thực được để trong phạm vi không gian mà Tỳ kheo ngủ, nghĩa là người và vật cùng ngủ chung; và 3. Thời phần: qua một đêm.

Tỳ kheo tích trữ thức ăn: đột kiết la; thọ dụng chính thức ăn ấy: ba dật đề.

Trong ba yếu tố tích trữ, cần nói rõ thêm về động tác. Căn bản coi điều này là căn bản và do đó chánh văn của bộ này nói: Ăn thức ăn đã được xúc chạm đến. Theo giải thích, có hai hình thái xúc chạm: thức ăn thọ nhận trước ngọ, và sau ngọ được xúc chạm; thức ăn được nhận sau ngọ, buổi tối xúc chạm đến. Tỳ kheo nào thọ dụng thức ăn được xúc chạm như vậy: ba dật đề. Hữu bộ sớ gọi sự xúc phạm này là ác tróc. Tỳ kheo ác tróc: đột kiết la; cất vật thực ác tróc với ý tưởng của mình đồng túc hay không đồng túc: đột kiết la; thọ dụng vật thực ác tróc: ba dật đề.

Về yếu tố thứ hai của hành vi tích trữ cũng được gọi là nội túc. Điều này có trường hợp tùy khai cho các Tỳ kheo bịnh, và vào lúc mùa màng đói kém. Vào những trường hợp như thế, các Tỳ kheo cần phải tác pháp yết ma kết tịnh trù hay tịnh khố để cất chứa vật thực. Qua thời gian khó khăn ấy, giới tịnh trù hay tịnh khố phải được giải.

Về yếu tố thời gian tích trữ, căn cứ theo bốn loại vật thực được coi là thuốc. Với loại phi thời dược, chỉ được cất trong một đêm; qua đêm phải xả, không được dùng. Với loại thất nhật dược, được pháp cất trong thời hạn 7 đêm; hết đêm thứ bảy phải xả. Với loại tận hành dược, được phép cất cho đến khi nào hết bịnh, hoặc hết thuốc, hoặc trọn đời người. Loại thời dược, không được để quá ngọ. Các điều này đã được đề cập trong điều 26 ni tát kỳ ở trên.

ĐIỀU 39. Bất thọ thực(Vật thực không được trao nhận).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, thức ăn hoặc thuốc không được trao nhận mà để vào miệng, trừ nước và tăm, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Không được trao nhận nghĩa là không được người khác trao cho mình nhận. Nguyên văn: bất thọ: không được tiếp nhận hay thọ nhận. Các bộ đều nhấn mạnh trên ý nghĩa nhận. Căn bản 36, có 5 thể thức thọ nhận: 1. Thân thân thọ: người trao cầm vật trên tay và tự mình nhận. 2. Thân vật thọ: người trao để vật vào bát, hoặc vào khí mãnh, tự tay mình thọ nhận. 3. Vật thân thọ: người trao cầm vật trong tay, mình đưa bát hoặc khí mãnh ra nhận. 4. Vật vật thọ: cả người trao và người nhận đều không chuyển trực tiếp từ tay sang tay, mà qua trung gian các khí mãnh. 5. Trí địa thọ: người trao để vật xuống đất cho người nhận tiếp lấy. Bộ này cũng nói thêm, tại những địa phương mà người thế tục ghét, không muốn gần Tỳ kheo. Tại chỗ thường khất thực, Tỳ kheo làm một đài nhỏ hình tròn, đặt bát lên đó, và đứng gần đó. Tựu trung, sự trao và nhận đều xuất từ hành vi có ý thức. Do đó, Hữu bộ sớ nói: các loài phi nhân, súc sanh, và con nít vô trí trao cho, không gọi là trao. Nhưng Ngũ phần nêu những chi tiết riêng biệt trong các trường hợp này: súc sanh như các loài rồng, có khả năng biến hóa, và loài khỉ có biết chút ít, và loài chư thiên: Tỳ kheo được tiếp thọ vật trao từ các hạng này.

+ Duyên khởi, các bộ đại khái giống nhau: Có một Tỳ kheo (Thập tụng và Căn bản nói là trưởng lão Ca La; Tăng kỳ nói là A Na Luật) tu hạnh đầu đà, thường sống tại các bãi tha ma, lượm giẻ rách làm y phấn tảo, và ăn đồ tế tự ma quỷ mà các thân nhân người chết để lại. Những người này về sau khám phá Tỳ kheo đã ăn đồ cúng của thân nhân quá cố, bèn đồn đãi Tỳ kheo ăn thịt người. Do đó, Phật kết giới.

Trong đây chỉ có một tùy khai: trừ nước và tăm.

Nguyên do, một số các Tỳ kheo vì chấp hành nghiêm chỉnh điều Phật chế, nên khi không có ai trao cho nước hoặc tăm, không dám dùng, và miệng họ trở thành hôi hám.

Riêng Tăng kỳ, trong chánh văn còn nêu một trường hợp tùy khai nữa: trừ việc nếm. Nguyên do, các Tỳ kheo thuê người làm, và soạn thức ăn cho họ. Nhưng vì là vật thực không được trao, do đó không ai dám nếm. Thành thử, mặn lạt vô chừng và các người làm giận hờn, không chịu làm nữa.

+ Về ý nghĩa, Hữu bộ sớ 8 nêu 5 điểm: 1. Để tránh các trường hợp có thể nghi ngờ phạm tội lấy vật không được cho. 2. Để chứng minh; do đây, khi phi nhân dâng, chỉ thành hành vi ăn chứ không thành hành vi chứng minh, nhưng bản sớ này cũng nói, tại chỗ hoang dã không có người, nếu phi nhân trao, Tỳ kheo có thể thọ. 3. Ngăn ngừa sự chê bai, như trong duyên khởi của các bộ. 4. Để thành tựu bản chất thiểu dục tri túc. 5. Khiến người sanh tín tâm.

ĐIỀU 40. Sách mỹ dục(Yêu sách thức ăn ngon).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, đối với các thứ ẩm thực mỹ diệu như sữa, tô, cá và thịt, không bịnh mà tự yêu sách cho mình, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi: Tứ phần 15: Phật tại Xá Vệ. Tỳ kheo Bạt Nan Đà đến nhà một thương gia hỏi xin các thứ tạp thực. Thương gia hỏi có bịnh gì không? Nan Đà đáp không bịnh. Thương gia chỉ trích.

Thập tụng và Căn bản ní, bấy giờ Phật trở về Ca Tỳ La Vệ. Ông Ma Ha Nam, vốn là thân tộc họ Thích, thiết trai cúng dường. Nhóm sáu Tỳ kheo, yêu sách các thứ mỹ vị như sữa, bơ lỏng, bơ đặc, cá thịt các thứ.

Trên đây là nguyên nhân chánh kết. Về sau, một số Tỳ kheo bịnh, cần các thứ ăn ấy, nhưng không dám tự tiện hỏi xin các thí chủ. Do đó, Phật tùy khai.

+ Chánh văn trên đây dịch thoát. Nguyên trong Hán nói: Nhược đắc hảo mỹ ẩm, thực (…). Nhược Tỳ kheo như thị mỹ ẩm thực, vô bịnh tự vị thân sách… Văn Hán hơi lủng củng.

Chánh văn Thập tụng hơi khác: Nếu Tỳ kheo không bịnh, trong nhà bạch y có những vật thực mỹ diệu như…

Chánh văn của Căn bản lại khác nữa: Như Thế Tôn nói, các thứ ẩm thực thượng diệu là… tự vì mình mà đến nhà người khác hỏi xin và nhận…

Thập tụng không nêu ý nghĩa nhà bạch y trong điều học này. Có lẽ muốn nói: nêu xin từ các Tỳ kheo khác thì không thuộc phạm vi học xứ này.

Về ý nghĩa nhà người khác trong chánh văn của Căn bản, được Luật nhiếp 11 (tr. 588c) giải thích: muốn nói là không phải nhà thân quyến.

+ Ẩm thực mỹ vị, đoạn đầu trong chánh văn nói là hảo mỹ ẩm thực: loại ẩm thực vừa tốt vừa đẹp mắt, đoạn sau của chánh văn chỉ nói: mỹ ẩm thực. Nói là ẩm thực nghĩa là đồ ăn và thức uống, nhưng trong liệt kê chỉ gồm thức ăn. Thật sự, điều học này chỉ có đối tượng là các loại vật thực mỹ diệu, không đề cập các loại dùng làm thức uống.

+ Sữa, tô. Trong đây, tô bao gồm của thục tô và sanh tô. Ý nghĩa thục tô và sanh tô, xem giải thích điều 26 ni tát kỳ.

+ Tỳ kheo nào không bịnh, hỏi xin các thứ thực phẩm kể trên: đột kiết la; thọ dụng: ba dật đề.

Trường hợp tùy khai duy nhất là cho người bịnh.

Tứ phần không nói đến các trường hợp hỏi xin từ gia đình thân quyến, hay chỗ quen biết thân tình, điều mà Thập tụng và Căn bản coi là không phạm.

ĐIỀU 41. Dữ ngoại đạo thực(Cho ngoại đạo thức ăn).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào tự tay mình cho thức ăn đến nam ngoại đạo hoặc nữ ngoại đạo, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Giới này được kết thành hai lần. Một lần chánh kết và một lần bổ túc. Chánh kết có hai nguyên nhân.

Về hai lần chánh kết, Tứ phần 15 kể: Phật đi từ Câu Tát La đến Xá Vệ. Dọc đường, các đàn việt dâng cúng vật thực dồi dào. Các Tỳ kheo thọ dụng không hết. Phật khiến A Nan phân phát cho những người ăn xin đi theo. Trong số ăn xin, có một nữ tu ngoại đạo thuộc phái lõa thể, mặt mày xinh xắn. A Nan phát cho một cái bánh như mọi người, nhưng có hai cái dính nhau mà không biết. Cô này mang khoe mọi người. Một người đàn bà nói: Tỳ kheo ấy tư thông với cô nên cho cô hai bánh.

Lại nữa, trong số những người theo xin, có một phạm chí. Rời khỏi đám ăn xin, ông gặp một người Bà la môn coi tướng, là người tin Phật. Người Bà la môn hỏi phạm chí đi từ đâu đến. Phạm chí nói từ Xá Vệ và đã kiếm ăn được từ những cư sĩ trọc đầu. Người Bà la môn bạch Phật biết. Nhân hai chuyện xảy ra, Phật kết giới: Tỳ kheo không cho thức ăn đến ngoại đạo lõa thể, dù là nam hay nữ.

Tường thuật này có một điểm cần nêu: đó là nữ ngoại đạo lõa thể. Điểm này cũng giống Căn bản 37, nhưng Thập tụng và Tăng kỳ đều nói là nữ ngoại đạo xuất gia. Điểm khác nhau này rất quan trọng, vì nó liên hệ đến đối tượng cho của điều học này. Về ngoại đạo lõa thể, cũng thường gọi là lõa hình hay vô y. Trong thời Phật, có hai nhóm lõa thể khác nhau. Một nhóm được nói là thuộc phái Ni Kiền Tử. Theo như trong các kinh điển A hàm, trong thời Phật, địa vị ảnh hưởng của Ni Kiền Tử vượt hẳn các phái khác, và có lẽ gần tương đương với đạo Phật. Họ có một hình thức tổ chức giáo đoàn quy củ, và cũng có những nhân vật lỗi lạc, như cư sĩ Ưu Ba Ly đã từng mở cuộc luận chiến với Đức Phật; hay người có thế lực như vị tướng quân Sư Tử. Các khảo cứu về sau xác nhận rằng giáo đoàn Ni Kiền Tử là tiền thân của Kỳ Na giáo, một trong ba tôn giáo lớn tại Ấn Độ, tồn tại cho đến ngày nay. Giáo chủ Ni Kiền Tử xuất thân là một hoàng tử như Đức Phật, và cũng chống lại đặc quyền của giai cấp Bà la môn. Giáo lý của họ, cũng như quan niệm đạo đức của họ, có những điểm tương đồng rất lớn với đạo Phật. Theo tình hình ấy, các ngoại đạo lõa thể trong đây cần phải bỏ ra ngoài nhóm Ni Kiền Tử. Vả lại, trong các kinh điển A hàm cũng ít khi nói rõ họ sống lõa thể hay không, nhưng điểm chắc chắn là họ chủ trương khổ hạnh cực đoan, một điểm trái ngược với đạo Phật.

Nhóm lõa thể còn lại bao gồm nhiều tín ngưỡng phức tạp. Nhưng hầu hết đều xuất thân từ hai giai cấp dưới: Thủ đà la và Phệ xá ly. Chiên đà la không có giai cấp và không có đặc quyền tôn giáo. Nổi bật nhất trong các nhóm này là phái A Kỳ Tỳ do Mạt Già Lê Câu Xá Lợi. Ông này được đề cập rất nhiều trong các kinh điển thuộc A hàm, được kể là một trong những bậc tôn sư lớn thời bấy giờ. Tiếng Phạn, A kỳ tỳ, Hán thường dịch là tà mạng. Đây là cách gọi khinh rẻ. Nguyên nghĩa của nó là chú trọng đời sống hiện thực, và sự lõa thể là tiêu biểu của thái độ hiện thực của họ. Theo sự hiểu biết từ các bộ A hàm, hình như không có nữ lõa thể trong bất cứ phái lõa thể nào. Theo như tường thuật của Tăng kỳ và Thập tụng thì người ngoại đạo lõa thể trong đây là nam. Chính người này, khi gặp một người bạn, được hỏi là đã kiếm ăn ở đâu, bèn trả lời rằng từ các cư sĩ trọc đầu. Lời nói này biểu lộ thái độ khinh miệt các Tỳ kheo, cho rằng các vị này sống sung túc, với y phục và ẩm thực dồ dào, không hợp lẽ đối với người xuất gia mà đời sống phải khắc khổ như họ. Và chính lõa thể ngoại đạo giải thích cho bạn mình biết rằng các cư sĩ trọc đầu là các sa môn họ Thích. Đàn việt bố thí cho họ làm phước điền, và các Tỳ kheo này cúng dường lại mình để làm phước điền. Thái độ đầy tự hào và khinh miệt này là nguyên nhân chủ yếu để Phật kết giới.

Ngũ phần không nêu nguyên nhân Phật kết giới từ sự tuyên bố đầy tự hào và khinh miệt của ngoại đạo lõa thể, mà nguyên nhân trực tiếp từ lời phiền trách của các cư sĩ. Theo đó, họ phiền trách các Tỳ kheo phân phát thức ăn cho các nam nữ ngoại đạo và những người ăn xin. Họ nói: nếu cần cho hay cần cúng dường các người ấy để làm phước điền, họ sẽ trực tiếp cho, đâu phải đợi các Tỳ kheo thay họ.

Về ngoại đạo xuất gia, trong phần giải thích, Tứ phần có nêu một âm tiếng Phạn: ba tư ba la xà. Nơi khác, từ này cũng được âm là biến xuất. Nó chỉ cho những tu sĩ lang thang. Họ sống biệt lập nhau, không tổ chức thành giáo đoàn, nhưng cũng thường tụ tập với nhau để thảo luận đạo lý. Có một khu vườn của Mạt Lị phu nhân, là nơi tu tập của họ, mà Trung a hàm gọi là Ngoại đạo chúng viên. Nhóm du sĩ lang thang này đủ các thành phần nam và nữ. Trong nhóm họ, cũng có người tự xưng là bậc Nhất thiết trí, như được đề cập trong Trung a hàm. Người nữ xuất gia được nói trong đây hẳn là một trong số những tu sĩ thuộc nhóm lang thang này. Tăng kỳ và Thập tụng đều nói chính A Nan cho bánh lầm một nữ tu sĩ ấy.

Trên đây là nguyên nhân chánh kết. Sau đó, các nhóm tu sĩ vì không được Tỳ kheo phân phát thức ăn, bèn phiền trách là không phải lỗi tại họ, hoặc có người chê bai là sa môn họ Thích bủn xỉn. Do nguyên nhân này, Phật xác định lại chánh văn cụ thể hơn: Tỳ kheo tự tay mình cho…

+ Trong văn dịch của Tứ phần, chánh văn hai lần kết giới không đồng nhất. Lần đầu: nam nữ ngoại đạo lõa thể. Lần sau, chỉ nói chung: nam nữ ngoại đạo. Chánh văn của Thập tụng nói: ngoại đạo lõa hình và nữ ngoại đạo, tức hàm ý, không có nữ ngoại đạo lõa hình. Chánh văn của Căn bản cũng tương tợ: vô y ngoại đạo và các nam nữ ngoại đạo khác.

Tổng hợp các giải thích, trong đây nên nói rõ ràng là: các nhóm ngoại đạo lõa thể và các nhóm du sĩ lang thang. Các nhóm thuộc giáo đoàn Ni Kiền Tử và Bà la môn không thuộc vào đó.

+ Chánh văn nói: tự tay, có nghĩa là Tỳ kheo có thể cho hay phát thực phẩm cho các nhóm ngoại đạo ấy, nhưng không được tự tay mình. Các bộ giải rõ: cho bằng cách để xuống đất.

Các bộ cũng phân biệt rõ ràng: các ngoại đạo là những người thân quyến, hoặc đang tùn chúng dự bị xin xuất gia, Tỳ kheo được phép tự tay phân phát, không cần để xuống đất.

ĐIỀU 42. Thực tiền thực hậu nghệ dư gia(Trước và sau bữa ăn, đến nhà khác).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, trước đã thọ thỉnh, mà trước bữa ăn hay sau bữa ăn đến nhà khác, không nhắn gởi, trừ các trường hợp khác, ba dật đề. Các trường hợp khác là, khi bịnh, thời gian may y, thời gian thí y. Đây gọi là trường hợp khác.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Trước bữa ăn hay sau bữa ăn: duyên khởi và ý nghĩa có một số điểm khác biệt quan trọng giữa các bộ. Hán nói: thực tiền thực hậu, theo giải thích của Tứ phần 15, thực tiền là thời gian từ minh tướng hiện cho đến giờ ăn; thực hậu là từ sau giờ ăn cho đến nhật trung, tức mặt trời đứng bóng. Giải thích này lấy giờ ăn hay bữa ăn làm điểm chính để phân biệt. Căn bản 44: thực tiền là trước giờ ngọ và thực hậu là sau khi quá ngọ; tức lấy nhật trung hay đứng bóng làm chuẩn. Chánh văn của Thập tụng thì dịch rõ là trung tiền trung hậu: trước đứng bóng và sau đứng bóng.

+ Tứ phần, Ngũ phần và Tăng kỳ có mốc chuẩn thời gian trong điều học này giống nhau. Nhưng duyên khởi của họ có điểm khác biệt.

Duyên khởi của Tứ phần, trong đây có 6 lần kết giới: ba lần chánh kết và ba lần tùy khai.

a. Một trưởng giả hào phú tại Xá Vệ, thân hữu của Bạt Nan Đà, thỉnh chư Tỳ kheo và Bạt Nan Đà về nhà cúng dường. Trước giờ ăn, Bạt Nan Đà đến nhà khác. Các Tỳ kheo đến đủ tại nhà ông trưởng giả, nhưng vì ông này chủ yếu là cúng dường Bạt Nan Đà nên phải đợi khi nào Bạt Nan Đà đến mới dọn vật thực lên. Gần đứng bóng, Bạt Nan Đà mới đến, và bấy giờ cơm nước mới được dọn. Nhưng vì gần quá đứng bóng, các Tỳ kheo ăn vội, không đủ no, hoặc có người không ăn được. Phật kết giới: Tỳ kheo trước đã thọ thỉnh, mà sau giờ tiểu thực đến nhà khác, ba dật đề.

b. Một đại thần tại Vương Xá, thân hữu của Bạt Nan Đà, khiến người mang trái cây đến cúng các Tỳ kheo, nhưng phải cho Bạt Nan Đà trông thấy trái cây rồi các Tỳ kheo mới thọ dụng. Nhưng Bạt Nan Đà sau khi ăn xong bèn đến nhà khác, cho đến quá đứng bóng mới trở về. Vì quá đứng bóng, các Tỳ kheo không thọ dụng trái cây được nữa. Phật kết giới: Tỳ kheo trước đã thọ thỉnh, mà trước bữa ăn hay sau bữa ăn…

c. Tại Vương Xá, các Tỳ kheo được thỉnh, nhưng không dám thọ thỉnh. Phật dạy: hãy nhắn gởi lại Tỳ kheo khác rồi vào thành. Phật kết giới, thêm chi tiết: không nhắn gởi.

d., e., f., Các trường hợp tùy khai cho người bịnh, thời gian may y và thời gian thí y. hai tùy khai sau là do hiệu lực của tháng ca đề hoặc của y ca thi na. Xem điều 1 ni tát kỳ.

Ngũ phần, 5 lần kết. Ba lần đầu, duyên khởi gần giống Tứ phần. Lần thứ tư, duyên khởi khác vì chánh văn có thêm yếu tố khác Tứ phần. Phật khiến các Tỳ kheo hãy chúc thọ tức nhắn gởi các Tỳ kheo khác nếu muốn đến nhà khác vì có công việc. Nhưng một số Tỳ kheo tìm người mà mình ưng ý để chúc thọ; cho nên nhiều khi có người bên cạnh lại không chúc thọ, mà chạy kiếm vị khác, kêu réo nhau, gây ồn ào. Phật kết giới: bạch cho Tỳ kheo ở gần.

Kết giới lần chót, tùy khai cho thời gian thí y, không có thời gian may y, vì đã bao gồm trong hiệu lực của ca thi na.

Tăng kỳ: kết một lần, bao gồm luôn cả chánh kết và tùy khai. Về chánh kết, có hai nguyên nhân: Trước giờ ăn, Ưu Ba Nan Đà đến nhà một Ưu bà di bảo hãy nghe pháp. Bà này đang lo nấu nướng và các việc nhà khác, vì bận rộn nên đâm phiền: “Đại đức hãy tự lo lấy sự vô thường cho mình, đừng lo giùm cho người khác”. Và rồi, sau khi ăn xong, cũng lại đến bảo hãy nghe pháp. Bà này vừa lo chồng ăn cơm xong, đang tự mình ăn, vì không rảnh nên lại cũng phiền trách. Với hai nguyên nhân này, Phật hạn chế các Tỳ kheo việc đi lại nhà cư sĩ trước hay sau bữa ăn mà không bạch cho Tỳ kheo đồng thực xứ biết. Nhưng chưa kiết giới. Sau đó, nhân duyên tùy khai cho thời gian của y, và nhân đó, Phật kết giới, với chánh văn có khác Tứ phần: Tỳ kheo nào, đồng thực xứ, trước hay sau bữa ăn, không bạch Tỳ kheo mà đi đến nhà khác… Trong đây, đồng thực được giải thích là: hoặc 4 thăng gạo để thành cơm (…); tức muốn nói: chung ăn một loại thực phẩm như nhau, hay nói rõ hơn: đồng thực xứ nghĩa là cùng ăn cơm chung một mâm.

Thập tụng và Căn bản, với giải thích mốc chuẩn thời gian khác các bộ trên, nên duyen khởi có chi tiết khác biệt. Về nguyên nhân cho yếu tố trước bữa ăn, nhất trí với Tứ phần. Về nguyên nhân cho yếu tố sau bữa ăn hay thực hậu, khác hẳn. Sau bữa ăn trưa, Bạt Nan Đà đi đến nhà khác; bấy giờ, Phật tập Tăng, mà Căn bản nói là để bố tát, còn Thập tụng không nói rõ để làm gì. Vì vắng mặt Bạt Nan Đà, các Tỳ kheo phải đợi, và phải đi tìm kiếm nhưng không biết đi đâu. Do đó, Tăng sự bị trễ nãi.

Sau đó, Căn bản kể nguyên nhân của yếu tố chúc thọ hay bạch Tỳ kheo khác, như Tứ phần. Riêng chánh văn của Thập tụng không nêu yếu tố chúc thọ này.

+ Mặc dù có những khác biệt đã kể, nhưng chủ đích của điều này, đồng nhất trong các bộ, là báo chỗ đi của mình cho Tỳ kheo khác biết, để khỏi có sự tìm kiếm và chờ đợi khiến cho Tăng sự vì thế mà bê trễ.

+ Về phạm tướng, các bộ giải thích giống nhau: chúc thọ cho biết chỗ đến, nhưng không đến đó lại rẽ sang chỗ khác; như vậy không thành chúc thọ, và Tỳ kheo phạm ba dật đề. Chuẩn bị đi, sắp sửa bước ra khỏi giới, không chúc thọ: đột kiết la; đã bước khỏi giới cả hai chân: ba dật đề. Riêng Căn bản xác định thêm: thực tiền, đi quá hai nhà: ba dật đề; thực hậu, đi quá ba nhà: ba dật đề.

+ Sau hết, các bộ đều có kết luận quan trọng này: nếu Tỳ kheo không phải là người chủ yếu trong việc thọ thỉnh, chúc hay không chúc đều không phạm. Đây là giải thích yếu tố trước đã thọ thỉnh của chánh văn.

ĐIỀU 43. Thực gia hữu bảo cưỡng tọa(Cố ngồi trong gia đình đang thọ thực có bảo vật).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, tại gia đình đang thọ thực có bảo vật, cố ngồi lại, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Thực gia hữu bảo: cách dịch của Tứ phần về các từ này khiến cho chánh văn trở thành tối nghĩa. Mặc dù trong phần giải thích, bộ này đã định nghĩa: thực: nam lấy nữ làm thực; nữ lấy nam làm thực. Bảo là xa xừ, mã não… Nguyên trong tiếng Phạn, từ này, thực, có nghĩa gốc là hành vi nhai, chỉ chung các sự ăn, nhưng nó cũng được hiểu theo nhiều nghĩa rộng: sự hưởng thọ (dục lạc), hoặc tài sản. Tăng kỳ nêu bốn nghĩa khác nhau của từ này:

1. Cơm, bột, cá, thịt… gọi là thực. 2. Con mắt nhận thức sắc, khởi ái niệm, sanh dục nhiễm, cũng gọi là thực. 3. Cái nồi lấy cái nắp vung làm thực; cái cối lấy cái chày làm thực. 4. Nam lấy nữ làm thực; nữ lấy nam làm thực. Nói chung, trong đây, thực có nghĩa là đối tượng hưởng thọ. Như vậy, trong chánh văn của Tứ phần, hai từ thực và bảo có thể là hai lối dịch của một từ duy nhất. Tiếng Phạn cũng có một từ khác chỉ riêng bảo vật, như thất bảo của Luân vương. Trong thất bảo của Luân vương, mặc dù có nữ bảo, chỉ vị đệ nhất vương phi; và duy nhất trong trường hợp này mới được gọi là nữ bảo. Điều này sẽ nói rõ trong điều 81 ở sau.

Nguyên nhóm từ trong Tứ phần: thực gia trung hữu bảo, trong chánh văn của Căn bản và Thập tụng nói là hữu thực gia. Định nghĩa của Luật nhiếp 11: “Nữ là thực của nam; nam là thực của nữ; vì rằng, khi nam nữ giao hội, chúng thọ dụng nhau cho nên nói là hữu thực”.

Trong tiếng Phạn, từ hữu thực là một từ được tạo thành theo hữu tài thích, với tiếp đầu là giới từ hữu; nghĩa đen của giới từ này là cùng với, và trong nhiều bản dịch Hán, nó thường được dịch gọn là câu: cùng với, thường gặp nơi các từ câu sanh hay câu hữu. Theo đây suy diễn, từ hữu thực, nếu theo một nghĩa đen, có thể nó: cùng với tài sản, hay loại tài sản luôn luôn có mặt bên cạnh. Trong tập quán đạo đức Ấn thời cổ, phụ nữ như loại tài sản của đàn ông, nhưng loại tài sản đồng hành. Theo một nghĩa khác nữa, suy diễn rộng thêm từ nghĩa trên, như giải thích của Luật nhiếp: nam nữ đang giao hợp, đang hỗ tương trở thành đối tượng thọ dụng của nhau, gọi là hữu thực.

Như vậy, nếu chấp nhận quan điểm của Căn bản và Thập tụng, qua giải thích rõ ràng của Luật nhiếp, chánh văn của điều học này có thể nói: (…) tại gia đình đang có sự giao hoan. Việt dịch trên đây là cố theo sát văn của Tứ phần nên nói là thọ thực với hàm ý thọ dụng dục lạc, và có bảo vật như là một cách giải thích thêm cho ý nghĩa thọ dụng này.

Mặt khác, hữu thực gia, theo ý nghĩa gốc, có thể dịch là: tại nhà đang ăn; nghĩa là đang dùng bữa. Nhưng ý nghĩa này không được báo hiệu trong phần duyên khởi của các bộ. Nó sẽ được nói thêm trong điều 44 tiếp theo sau đây.

+ Duyên khởi theo Tứ phần: Ca Lưu Đà Di có tình ý với một nữ cư sĩ tên là Trai. Hai người ngồi nói chuyện với nhau. Cô này vừa mới tắm xong, trang phục mát mẻ. Ông chồng khởi dục tâm, muốn đuổi khéo Ca Lưu Đà Di, bảo vợ mang thức ăn cho Tỳ kheo. Ca Lưu biết ý, bèn ngồi nán, không chịu đi. Nhắc khéo nhiều lần không được, bèn nổi giận bỏ đi, tìm các Tỳ kheo khác phiền trách thái độ ngồi dai.

Căn bản cũng kể câu chuyện tương tự. Nhưng chi tiết rõ ràng hơn để hiểu chánh văn. Một chàng thanh niên bán hương, mới cưới vợ. Buổi sáng, ra mở cửa hiệu, nhưng đột nhiên dục tâm khởi, bèn đóng cửa hiệu để về nhà. Vừa lúc Ca Lưu Đà Di đi ngang, ngạc nhiên sao đóng cửa sớm thế. Vốn là người giỏi xem tướng, Ca Lưu biết rõ ý anh chàng, nảy ý định phá chơi. Bèn đi nhanh về trước. Vốn là chỗ quen biết cũ, nên Ca Lưu được mời vào nhà. Bấy giờ, Tỳ kheo này bảo cô vợ trẻ nghe pháp. Ông chồng về nhà, thấy Tỳ kheo đang nói pháp cho vợ, muốn đuổi khéo, bảo vợ cúng dường thức ăn. Nhưng, đã nhận, Ca Lưu vẫn không đi, cố ngồi và bắt cô vợ cố nghe. Cho đến khi biết được dục tâm của anh chàng bán hương lắng mất, mới đứng dậy ra về. Do đó có sự phiền trách. Do duyên khởi này, chánh văn Căn bản có thêm yếu tố: biết rõ.

+ Về phạm tướng, Tứ phần nói: cố ngồi, tay với không tới cửa: ba dật đề. Đứng chứ không ngồi: đột kiết la. Hoặc dù ngồi trong phạm vi tay không với tới cửa, nhưng ngồi chung với hai Tỳ kheo đồng bạn khác, hoặc một người có hiểu biết, không mù, không điếc: thảy đều không phạm.

Căn bản và Thập tụng đều nói: nếu đây là gia đình đã đoạn dâm, đang thọ Bát quan trai, có bậc tôn trưởng; nói tóm, nếu Tỳ kheo không phải là yếu tố chủ động cản trở công việc của hai người ấy, dù ngồi nán cũng không phạm.

ĐIỀU 44. Thực gia hữu bảo bình xử tọa(Ngồi chỗ khuất trong gia đình đang thọ thực có bảo vật).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, tại gia đình thọ thực có bảo vật, ngồi chỗ khuất, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Trong Tứ phần và Căn bản, điều học này cùng bản chất như điều trên, chỉ khác vị trí ngồi của Tỳ kheo.

Đoạn đầu duyên khởi, Tứ phần và Căn bản đều lặp lại duyên khởi của điều trên, nhưng khác biệt là trong đây không có sự hiện diện của người chồng. Do Phật chế giới, không ngồi cách cửa ngoài tầm tay, nên Ca Lưu ngồi sát cửa và tiện tay khép lại, bên ngoài không nhìn thấy. Một Tỳ kheo khất thực đi ngang qua, nghe tiếng nói của Ca Lưu, bèn trách cứ: “Ngồi chỗ khuất trong thực gia hữu bảo, ai biết các người đang làm chuyện gì”. Nhân đó, Phật kết giới.

Căn bản: Ca Lưu về trước, lần này đứng núp sau cánh cửa. Chàng bán hương về, nắm tay vợ lôi vào phòng. Nữ tỳ cho biết có Tỳ kheo đứng sau cửa, bị mất hứng, bèn trách cứ Tỳ kheo hành động phi pháp.

Các ý nghĩa và hình thái vi phạm trong hai bộ này như điều trên, với ý nghĩa là chỗ ngồi kín đáo, ngoài đường nhìn vào không thấy.

+ Trong Ngũ phần, điều học trên và điều này kể là một, không chia hai như các bộ. Chánh văn có thêm yếu tố: (…) ngồi với người nữ. Và chủ yếu cũng là cản trở sự thọ dụng của họ. Duyên khởi là một người Bà la môn đi ra ngoài, nửa đường dục tâm khởi, trở về, thấy Tỳ kheo ngồi, đuổi khéo bằng cách bảo vợ cung cấp thức ăn cho Tỳ kheo, còn mình tạm lảng đi ra ngoài. Một lát trở về, Tỳ kheo vẫn còn ngồi. Ba lần như vậy, bèn chỉ trích, Tỳ kheo cản trở công việc gia đình người ta.

+ Chánh văn Thập tụng có chi tiết khác Tứ phần và Căn bản, nhưng gần giống Ngũ phần: Trong hữu thực gia, ngồi một mình với một người nữ trong nhà. Ý nghĩa hữu thực gia ở đây cũng được giải thích như trong điều trên, nhưng phần duyên khởi lại đưa ra một câu chuyện mà nội dung khác hẳn: Bạt Nan Đà ngồi một mình với một người nữ trong nhà, cửa khép kín. Một Tỳ kheo khất thực, đến trước cửa khảy tay làm hiệu. Biết là Tỳ kheo khất thực, Bạt Nan Đà bảo cô mang vật thực ra cho. Khi trở về tinh xá, Bạt Nan Đà kiếm Tỳ kheo khất thực để kể ơn, nhưng vì thế bại lộ hành vi phi pháp nên bị khiển trách. Nếu hữu thực gia có nghĩa là nhà đang có sự thọ dụng nam nữ như chính bộ này giải thích, duyên khởi trên đây có vẻ không liên hệ gì đến điều đó. Theo duyên khởi vừa kể, đáng lẽ hữu thực gia trong đây phải hiểu là nhà đang có thức ăn.

Câu chuyện trên được Căn bản 33 dẫn làm duyên khởi cho ba dật đề 28 của bộ này: ngồi một mình với ngưỡi nữ tại chỗ khuất, điều mà cả Tứ phần và Thập tụng không có.

ĐIỀU 45. Độc dữ nữ lộ địa tọa(Ngồi một mình với người nữ tại chỗ trống).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào ngồi một mình với người nữ tại chỗ trống, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ca Lưu Đà Đi và một nữ cư sĩ tên Trai, có tình ý với nhau, cùng ngồi với nhau tại chỗ trống. Thập tụng cũng tương tợ, nhưng tên nữ cư sĩ là Cấp Đa.

+ Trong chương Bất định, có hai trường hợp ngồi chung với một người nữ tại chỗ khuất, và tại chỗ trống. Đây là một, nhưng không mang tính chất bất định. Tăng kỳ và Căn bản không có ba dật đề về ngồi tại chỗ trống; trái lại, có ba dật đề về ngồi tại chỗ khuất kín, trong khi Tứ phần và Thập tụng không có.

+ Về ý nghĩa tại chỗ trống, xem giải thích trong điều 2 Bất định.

+ Về cự ly giữa hai người để thành phạm, Thập tụng nói: trong khoảng một tầm: ba dật đề; trong khoảng tầm rưỡi: đột kiết la; ngoài 2 tầm: không phạm. Tứ phần không nói đến cự ly. Chỉ nói các trường hợp không phạm: nếu có hai Tỳ kheo đồng bạn cùng ngồi, hoặc có mặt người nam có hiểu biết.

ĐIỀU 46. Cọng chí tục gia bất dữ thực(Rủ Tỳ kheo khác đến tục gia để khiến trễ bữa ăn).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào nói với Tỳ kheo khác như vầy: “Đại đức, hãy cùng tôi vào tụ lạc, tôi sẽ cho Đại đức thức ăn”. Tỳ kheo ấy cuối cùng không bảo cho Tỳ kheo kia thức ăn, nói rằng: “Đại đức hãy đi chỗ khác ở một chỗ với Đại đức, cùng ngồi, cùng nói chuyện, tôi không vui. Tôi ngồi một mình, nói chuyện một mình vui hơn”. Chỉ với mục đích ấy chứ không gì khác, là tìm cách đuổi Tỳ kheo khác đi, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Tứ phần: Phật tại Xá Vệ. Bạt Nan Đà gây lộn với Tỳ kheo khác, sanh tâm cừu hận. Vào một hôm, rủ Tỳ kheo ấy đi vào tụ lạc, hứa sẽ cung cấp thức ăn. Khi vào thành, Bạt Nan Đà dẫn Tỳ kheo ấy đến chỗ không có thức ăn. Đợi cho đến gần đứng bóng, đuổi Tỳ kheo ấy về, với lời nói như được gây lại trong chánh văn.

Thập tụng và Căn bản cũng kể tương tợ, nhưng nói Tỳ kheo bị đuổi tên Đạt Ma, đệ tử của Nan Đà (trong nhóm sáu Tỳ kheo). Nguyên nhân bất hòa này cũng như đã được đề cập trong điều 25 của ni tát kỳ.

Ngũ phần: giới này được kết ba lần; một lần chánh kết và hai lần bổ túc. Lần đầu, duyên khởi như Thập tụng và Căn bản. Lần thứ hai, một số Tỳ kheo rủ bạn đồng hành đến nhà tục gia, nhưng không khất thực được, nghi ngờ có vi phạm. Phật bổ túc chánh văn, xác định thêm yếu tố: vì mục đích gây phiền não. Lần cuối, một số Tỳ kheo dẫn Tỳ kheo nuôi bịnh đến tục gia khất thực, rồi khiến Tỳ kheo nuôi bịnh nhanh chóng mang thức ăn về cho người bịnh, sẽ quá đứng bóng; do đây, họ nghi ngờ sợ có vi phạm. Phật kết giới đầy đủ, thêm nội dung lời Tỳ kheo đuổi làm trường hợp điển hình cụ thể.

+ Bản chất của điều luật này, Hữu bộ sớ 8 nói: cố tình phá khiến Tỳ kheo khác mất bữa ăn. Theo duyên khởi của Ngũ phần, cũng xác định trong phần cuối của chánh văn đã rõ. Tuy nhiên, hình thái vi phạm được căn cứ trên động tác đuổi để phân tích.

Theo phân tích của Tứ phần, đuổi đi bằng lời hay bằng cử chỉ, hoặc tự mình bỏ rơi, lảng đi nơi khác, trong phạm vi mà hai người không còn nghe và thấy nhau nữa: ba dật đề. Nếu cả hai cách nhau trong khoảng còn thấy nhưng không còn nghe, hay trái lại: đột kiết la. Phân tích này chỉ nhấn mạnh trên động tác đuổi, không đề cập hành vi rủ.

Thập tụng căn cứ trên cả hai: rủ và đuổi. Rủ và cả hai cùng đi chưa đến đích, trong khoảng này, đuổi bất cứ lúc nào, kể từ chỗ vừa bước ra khỏi giới, đều đột kiết la. Đến đích, là đến tại nhà đàn việt trong khoảng mà đàn việt có thể nghe; đuổi tại đây: ba dật đề. Hữu bộ sớ giải thích thêm: giả sử đàn việt ngẫu nhiên gặp Tỳ kheo bị đuổi đang bỏ về, bèn gọi lại; Tỳ kheo bị đuổi nghe nhưng không dừng, Tỳ kheo đuổi phạm đột kiết la. Điều này có nghĩa là vì Tỳ kheo bị đuổi chưa ra khỏi phạm vi nhà đàn việt; đã được gọi lại, như vậy yếu tố đuổi bất thành, chỉ phạm yếu tố rủ với mục đích gây phiền não. Nếu Tỳ kheo bị đuổi không nghe gọi, Tỳ kheo đuổi phạm ba dật đề, vì đã ra khỏi phạm vi nhà đàn việt.

Luật nhiếp 11 xác định: đối tượng trong đây phải là Tỳ kheo thanh tịnh. Tỳ kheo dữ học pháp, và các chúng khác, phạm đột kiết la.

ĐIỀU 47. Quá tứ nguyệt thỉnh sách dược(Yêu sách thuốc quá hạn bốn tháng thỉnh).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo được yêu cầu thọ thỉnh thuốc trong bốn tháng, Tỳ kheo không bịnh có thể thọ thỉnh. Nếu thọ quá hạn, trừ thỉnh thường xuyên, thỉnh tiếp tục, thỉnh chia phần, và thỉnh suốt đời, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Trong chánh văn này có một điểm mâu thuẫn: Tỳ kheo không bịnh. Đây được kể là tùy khai thứ nhất, theo nghĩa: Tỳ kheo có bịnh được phép thọ thỉnh quá hạn bốn tháng, còn Tỳ kheo không bịnh chỉ được thọ trong bốn tháng. Nhưng Tỳ kheo không bịnh thì cần gì đến thuốc? Các bộ khác không có trường hợp tùy khai này. Tổng chung, giới này gồm một chánh kết và bốn tùy khai, nếu không kể tùy khai cho Tỳ kheo bịnh. Điểm này sẽ đề cập sau.

+ Duyên khởi của chánh kết, Tứ phần: Phật tại Ca Tỳ La Vệ. Ông Ma Ha Nam yêu cầu được phép cung cấp thuốc cho các Tỳ kheo, không nói thời hạn bao lâu. Nhóm sáu Tỳ kheo vì phải tự thân đến nhà ông để nhận, cho thế là không được ông cung kính, muốn tìm cách hạ nhục. Bèn quan sát thử xem ông thiếu thứ gì. Rồi họ đến yêu sách thứ mà ông hiện không có. Ông hẹn, để sai người đi kiếm. Nhóm Tỳ kheo này lên tiếng chỉ trích ông là người dối trá, không đủ thuốc để cung cấp mà lại thỉnh cầu cung cấp thuốc. Bị chỉ trích, Ma Ha Nam bất mãn, tuyên bố từ nay dứt sự cung cấp thuốc. Nhân đó, Phật kết giới.

Nội dung tường thuật các bộ giống nhau, nhưng đều có nói thêm là Ma Ha Nam êu cầu cung cấp thuốc trong hạn bốn tháng, gồm 3 tháng hạ an cư và một tháng tiếp heo đó. Quá hạn bốn tháng, nhóm Tỳ kheo ấy mới đến làm nhục, do đó trong chánh văn quy định thời hạn thọ thỉnh là bốn tháng.

+ Các tùy khai. Tùy khai thứ nhất của Tứ phần là Tỳ kheo bịnh. Nguyên do, sau thời hạn bốn tháng, các Tỳ kheo bịnh không dám đến nhà thí chủ xin thuốc, nên Phật tùy khai thêm yếu tố: nếu Tỳ kheo không bịnh vào chánh văn, để giản biệt các Tỳ kheo bịnh.

Các tùy khai còn lại, có một số điểm không đồng giữa các bộ. Căn bản: bốn lần tùy khai cho các trường hợp biệt thỉnh, cánh thỉnh, ân cần thỉnh và thường thỉnh. Thập tụng chỉ có ba: thường thỉnh, sác sác thỉnh và biệt tỉnh. Tăng kỳ cũng có ba: cánh thỉnh, trường thỉnh và tự tứ thỉnh. Ngũ phần cũng có ba: cánh thỉnh, tự tống thỉnh và trường thỉnh.

Điểm chung trước hết trong các bộ là cánh thỉnh: thỉnh tiếp tục; sau khi hết hạn bốn tháng mà thí chủ đã phát tâm, nhưng họ yêu cầu thêm nữa. Nếu có lời yêu cầu này, Tỳ kheo được phép tự nhiên đến hỏi xin. Nguyên nhân của trường hợp này, là sau khi Ma Ha Nam bất mãn tuyên bố ngưng cung cấp; rồi ông tự nghĩ: không lẽ vì một nhóm Tỳ kheo mà đoạn tuyệt sự cúng dường đối với Tăng. Bèn đến thỉnh cầu được cung cấp tiếp tục.

Điểm chung thứ hai, là điều mà Tứ phần nói tận hình thỉnh: thỉnh suốt đời; Thập tụng và Căn bản nói là thường thỉnh; Ngũ phần và Tăng kỳ nói là trường thỉnh. Đây là trường hợp thí chủ phát tâm cung cấp thuộc cho đến hết đời mình, bất cứ khi nào Tỳ kheo cần cứ tự nhiên đến hỏi.

Điểm thứ ba, Tứ phần nói thường thỉnh: thỉnh thường xuyên; và giải thích: thí chủ nói là thường xuyên cung cấp thuốc. Không có chi tiết nào thêm. Tuy nhiên, điểm này có thể coi là đồng nhất với điều mà Thập tụng nói là sác sác thỉnh: thỉnh cầu tái diễn nhiều lần; với giải thích: tùy hoàn cảnh gia đình, sau một tháng lại thỉnh 4 tháng; sau 2 tháng lại thỉnh 4 tháng; sau 3 tháng lại thỉnh 4 tháng. Nghĩa là cách một tháng lại thỉnh 4 tháng. Nghĩa là, vì không thể phát tâm cung cấp suốt đời, nên tùy lúc, đủ điều kiện thì thỉnh 4 tháng. Điểm này không tìm thấy tương đương trong các tùy khai của các bộ còn lại. Từ sác sác của Thập tụng được dùng trong Căn bản để định nghĩa cho cánh thỉnh; bộ này nói: cánh thỉnh: sác sác cánh thỉnh. Điểm có thể coi là gần tương đương trong Căn bản, đó là ân cần thỉnh, với giải thích: lại ân cần tận tâm mà thỉnh thêm. Theo duyên khởi của bộ này, sau khi cánh thỉnh, vua Tần Bà Sa La thấy vẫn còn có Tỳ kheo khất thực ngoài đường, bèn hỏi Tỳ kheo lý do. Tỳ kheo đáp: vương pháp sự phiền, hoặc có khi có thể bỏ quên. Vua nói: “Tôi lại ân cần thỉnh thêm, mong Đại đức thọ nhận vật thực của tôi”.

Điểm thứ tư, Tứ phần nói phân thỉnh với giải thích: mang thuốc đến từng già lam mà phân chia cho (phân dữ). Căn bản và Thập tụng còn lại một tùy khai có thể coi tương đương, nhưng ý nghĩa không hoàn toàn giống nhau; biệt thỉnh với giải thích của Thập tụng: biệt thỉnh là không liên hệ đến người khác. Tùy khai cuối cùng của Tăng kỳ là tự tứ thỉnh nhưng không có giải thích của chính bộ này. Tùy khai còn lại trong Ngũ phần là tự tống thỉnh: thỉnh bằng cách tự thí chủ đưa thuốc đến, nhưng không có giải thích của chính bộ này.

+ Trên đây đã có lưu ý về một điểm mâu thuẫn ngay trong chánh văn của Tứ phần, nếu biết đây là sự cung cấp thuốc trong thời hạn bốn tháng. Chánh văn của các bộ chỉ nói: Nếu Tỳ kheo được thọ thỉnh trong thời hạn bốn tháng, chứ không xác định rõ là được thọ thỉnh thuốc như Tứ phần. Điều mà Tứ phần dịch là thuốc, thì Căn bản nói là: khi nào cần thì có thể thọ. Tổng hợp cả hai, có thể nói, đây chỉ chung các loại vật thực được dùng làm thuốc, là những vật thực cần thiết trong trường hợp bịnh. Đối chiếu với điều 40 trên, các vật thực này là những thứ mỹ diệu như sữa, tô, lạc, cá, thịt v.v… Như vậy, điểm mâu thuẫn này do chính dịch giả của Tứ phần tạo ra khi dịch loại nhu yếu này là thuốc, chứ không phải là mâu thuẫn ngay trong bản gốc của Tứ phần. Vậy, chánh văn trên đây còn đổi lại cho hợp lý, có thể nói: Tỳ kheo được yêu cầu thọ thỉnh vật thực nhu yếu trong bốn tháng…

+ Về bản chất hay thời gian tính của sự thọ tỉnh này, Tứ phần phân tích làm bốn: 1. Thời gian hữu hạn, thuốc vô hạn, tức thời gian được cung cấp giới hạn một số ngày hay số tháng nhất định nào đó, còn thuốc thì bất cứ loại gì. 2. Thuốc hữu hạn, thời gian vô hạn: thời gian thỉnh là suốt đời thí chủ, nhưng thuốc thì giới hạn trong một số loại nào đó. 3. Thời gian và thuốc đều hữu hạn. 4. Thời gian và thuốc đều vô hạn.

+ Bản chất điều học này cũng đồng với điều 40 trên. Nhưng trong điều 40 nhắm vào đối tượng yêu sách phi pháp; trong điều này, nhắm vào thời gian phi pháp. Do đó, hình thái vi phạm giống nhau. Tỳ kheo không bịnh, ngoài thời gian ước định, mà yêu sách phi pháp: ba dật đề. Có yêu sách, nhưng không được đáp ứng như ý: đột kiết la.

ĐIỀU 48. Quán quân trận(Xem quân đội xuất trận).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào đến xem quân trận, trừ có nhân duyên, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Quân trận, được giải thích là quân đội bố trận, hoặc chỉ để biểu diễn, hoặc chiến đấu. Căn bản nói: chỉnh trang quân: quân đội đang chỉnh trang và được giải thích là dự bị xuất chinh. Các bộ khác: quân phát hành: quân đội đang khởi hành để chinh phạt.

+ Duyên khởi của Tứ phần: Phật tại Xá Vệ, thủ phủ của Câu Tát La. Bấy giờ, vua Câu Tát La là Ba Tư Nặc đang chỉnh quân để xuất chinh. Nhóm sáu Tỳ kheo đến coi. Vua nhìn thấy và hỏi các vị đi đâu. Các vị này nói đi xem quân đội xuất chinh. Vua không bằng lòng, nhưng không tiện chỉ trích. Vì kính trọng các Tỳ kheo, vua nhờ các vị chuyển lời vấn an đến Phật, và dâng cúng một số phẩm vật. Các vị này về trình Phật. Phật biết rõ các vị này đi xem quân đội đang bố trận, bèn kết giới.

Duyên khởi các bộ khác cũng đồng nhất.

+ Theo duyên khởi của Căn bản, các Tỳ kheo này xem và phê bình những khuyết điểm các binh chủng, vì họ vốn xuất thân từ giai cấp võ sĩ, rành binh pháp. Binh sĩ nghe sự phê bình của họ, một số nhụt chí. Vua Ba Tư Nặc hay được, sai sứ bạch Phật về hành động của các Tỳ kheo này.

Tăng kỳ và Ngũ phần, trong phần duyên khởi, nêu rõ lý do Phật kết giới: binh sĩ xuất chinh, gặp sa môn, cho là điềm xui.

+ Trong điều học này, chỉ Tứ phần và Thập tụng là có tùy khai. Nguyên do, binh sĩ xuất chinh, những người tin Phật, muốn thỉnh các Tỳ kheo đến, hoặc để từ biệt vì chỗ thân tình, thân quyến, hoặc để cúng dường cầu nguyện. Các Tỳ kheo bạch Phật. Ngài tùy khai.

+ Về hình thái vi phạm, chánh văn của Thập tụng có nêu: cố ý đi xem. Các bộ khác không có chi tiết này, nhưng đều công nhận nếu không cố ý, mà tình cờ như đang khất thực giữa đường gặp, vân vân, thảy đều không phạm.

Trong đây, chủ yếu là cố ý xem và đã trông thấy; nếu cố ý nhưng không trông thấy: đột kiết la.

Tứ phần có thêm một điểm: Tỳ kheo giữa đường gặp quân đội, phải bước xuống đường tránh đi; nếu không tránh: đột kiết la.

ĐIỀU 49. Quân trung quá tam túc(Ở trong quân trại quá ba đêm).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào có nhân duyên được phép ở trong quân trại hai, ba đêm; nếu quá, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Điều học này là có sự áp dụng sai trường hợp tùy khai của điều trước. Duyên khởi trong Tứ phần, nhóm sáu Tỳ kheo không duyên sự vào ở lại trong quân trại nhiều đêm, các Tỳ kheo khác thấy thế chỉ trích và Phật kết giới.

Thập tụng, Tăng kỳ và Căn bản đều kể tiếp sự việc xảy ra trong điều học trước. Do Phật tùy khai, các Tỳ kheo vào ở lại đêm trong quân trại, hoặc thăm viếng hoặc thuyết pháp trước khi họ xuất chinh. Một số Tỳ kheo ở lại quá lâu, các binh sĩ ít tin Phật cho sự hiện diện của các Tỳ kheo là điềm xui. Hoặc do nhóm sáu Tỳ kheo xem quân đội chỉnh trang trước khi xuất chinh, và cũng lên tiếng phê bình các ưu, khuyết điểm; nhân đó, vua Ba Tư Nặc yêu cầu Phật không nên cho các Tỳ kheo ở trong quân trại quá lâu.

+ Riêng Ngũ phần 8 kể khác. Vua Ba Tư Nặc và các vị tướng quân đều xuất chinh. Thừa cơ hội, các người dị đạo bèn khai thông ngòi nước Kỳ Viên để làm khốn các Tỳ kheo. Các vị này vì không có phép Phật cho vào quân trại nên không ai dám đi báo tin cho vua hay. Nhân lúc vua và các vị tướng quân, lâu ngày nhớ tưởng chúng Tăng, cho người đến thỉnh các Tỳ kheo vào doanh trại để cúng dường. Phật tùy khai điều học trước. Các Tỳ kheo đến và nhân tiện báo tin vua biết sự việc nguy khốn của Tăng ở Kỳ Viên. Vua ra lịnh cấm đào thông ngòi nước trong Kỳ Viên. Các Tỳ kheo đến quân trại, do sự cúng dường nồng hậu nên ở lại quá lâu, quân sĩ không hài lòng.

+ Thời hạn, phân tích của Tứ phần và Thập tụng: ở hết hai đêm; đêm thứ ba, trước khi minh tướng hiện, phải rời khỏi ngoài tầm thấy và nghe; nếu minh tướng hiện mà chưa rời quân trại, ba dật đề.

Tăng kỳ nói là ở hết đêm thứ ba, đến đêm thứ tư là phạm ba dật đề; không phân biệt mốc thời gian của đêm ngày. Bộ này cũng nói, đây là kể chung toàn thể quân trại, cho nên dù ở trong binh chủng này một đêm, binh chủng khác một đêm, nhưng phải kể chung tất cả, nếu quá ba đêm, ba dật đề.

ĐIỀU 50. Quán quân trận chiến đấu(Xem quân đội tập trận).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào ở lại trong quân trại hai, ba đêm, hoặc có khi xem quân đội diễn tập, hoặc xem thế lực quân bộ, quân voi, quân ngựa, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Điều này cũng là do sự áp dụng sai điều học trước. Nguyên do, Tứ phần 16 kể, nhóm sáu Tỳ kheo ở lại trong quân trại hai ba đêm như Phật đã tùy khai. Nhưng thừa cơ hội, họ đi xem quân đội diễn tập trước khi xuất chinh. Trong đó, có một Tỳ kheo bị trúng tên, các vị khác phải khiêng về tinh xá. Vì vậy, Phật kết giới.

Căn bản 37 kể tiếp câu chuyện trong điều 49. Ở đây, trong nhóm sáu Tỳ kheo có người giỏi binh pháp, họ bèn tổ chức quấy phá chơi. Các vị chọn những điểm ách yếu, phân người mai phục. Khi các binh sĩ tập trận giả, vừa tới điểm mai phục, các Tỳ kheo bèn hô lên, làm như có quân địch tập kích. Binh sĩ tưởng bị phục kích thật, bỏ chạy tán loạn. Sau đó, các vị này chỉ cho họ biết các nhược điểm trong sự diễn tập để đến nỗi bị phục kích giả đã bỏ chạy. Các binh sĩ bèn đồng ý cho họ đi xem xét các binh chủng để biết. Nhưng vì họ chỉ trích quá nhiều nhược điểm khiến binh sĩ mất tinh thần không muốn xuất chinh nữa. Nhân đó, vua Ba Tư Nặc sai sứ đến bạch Phật biết để Ngài cản các Tỳ kheo xen vào sự diễn tập của quân đội.

Các bộ khác thì ghi lời phẫn nộ của các binh sĩ trong lúc họ diễn tập để xuất trận, mà lại gặp sa môn, là điềm gở.

+ Sự vi phạm do xem cũng được phân tích như trong điều 48. Chỉ khác là ở đây xem trong trường hợp được tùy khai, nhưng vượt quá giới hạn tùy khai là chỉ ở lại để thăm viếng hoặc thuyết pháp, chứ không được xen vào các việc khác của quân đội.

ĐIỀU 51. Ẩm chư tửu(Uống rượu).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào uống rượu, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, các bộ giống nhau. Phật tại Xá Vệ. Nhóm Tỳ kheo niên thiếu 17 người, xuống tắm dưới sông A Kỳ La, đùa giỡn với nhau. Vua Ba Tư Nặc, có lẽ lúc này chưa tin Phật, trông thấy, bèn chỉ cho phu nhân Mạt Ly và nói: “Những người mà phu nhân kính trọng là như thế đấy!”. Bà bèn sai sứ gởi đến cúng Phật một gói đường phèn. Phật biết ý, gọi các Tỳ kheo niên thiếu đến khiển trách và kết giới.

+ Trong giải thích của các bộ, điều học này không chỉ giới hạn trong việc đùa giỡn dưới nước, mà bất cứ sự đùa giỡn gì bằng nước, dù là trên đất liền, đều phạm, tùy theo mức độ nặng nhẹ: múc nước tạt Tỳ kheo khác, hay trong mâm có nước bèn vẽ vời chơi, thảy đều ba dật đề. Các trường hợp nhẹ như lấy nước vẽ hay viết tên lên bình bát v.v…

Tường thuật duyên khởi của các bộ không thấy có dấu hiệu có ý nghĩa nào cho sự áp dụng rộng rãi này. Tuy nhiên, ở đây có thể nói, bản chất của điều học này là sử dụng nước một cách phi pháp, cũng như điều 56 sẽ thấy sau. Trong tín ngưỡng tôn giáo phổ thông bấy giờ, nước được coi là vật linh thánh cũng như lửa nhưng sự thờ phụng không được bằng lửa. Vì người ta quan niệm nước có khả năng rửa sạch tội lỗi của con người, và nhất là nước sông Hằng. Cho đến, vị hoàng đế tức vị cũng dùng nước để làm lễ thánh. Trong tâm ý tín ngưỡng ấy, Tỳ kheo sử dụng nước phi pháp, và nhất là đùa giỡn với vật được coi là linh thánh, cố nhiên không có đủ tác phong đạo đức. Có lẽ đây là điểm chủ yếu của điều học này.

ĐIỀU 52. Thủy trung hý(Đùa giỡn trong nước)

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào đùa giỡn trong nước, ba dất đầ

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, các bộ giống nhau. Phật tại Xá vệ. mhóm tỳ kheo thiếu niên 17 người xuống tắm dưới sông A kỳ la, đùa giỡn với nhau. Vua Ba tư nặc, có lẽ lúc này chưa tin Phật, trông thấy, bèn chỉ cho phu nhân Mạt lỵ và nói: “Những người mà phu nhân kính trọng là như thế đấy.” bà bèn sai sứ gởi đến cúng Phật một gói đường phèn. hật biết ỳ, bèn gọiu các tỳ kheo niên thiếu đến khiển trách và kiết giới.

+ Trong giải thích của các bộ, điều học này không chỉ giới hạn trong việc đùa giỡn dưới nước, mà bất cứ sự đùa giỡn gì bằng nước, dù là trên đất liền đều phạm tùy theo mức độ nặng nhẹ: múc nước tạt tỳ kheo khác, hay trong mâm có nước bèn vẽ vời chơi, thảy đều ba dật đề. Cá trường hợp nhẹ như lấy nước vẽ hay viết lên bình bát, v.v...

Tường thuật duyên khởi của các bộ không thấy có dấu hiệu có ý nghĩa nào cho sự áp dụng rộng rãi này. Tuy nhiên, ở đây có thể nói, bản chất của sự học này là sử dụng nước một cách phi pháp, cũng như điều 56 sẽ thấy sau. Trong tín ngưỡng tôn giáo phổ thông bấy giờ, nước được coi là vật linh thánh cũng như lửa nhưng sự thờ phụng không được như lửa. Vì người ta quan niệm nước có khả năng rửa sạch mọi tội lỗi của con người, và nhất là nước sông Hằng. Cho đấn vị Hoàng đế tức vị cũng dùng nước để làm lễ thánh. Trong tâm ý tín ngưỡng ấy, tỳ kheo sử dụng nước phi pháp, và nhất là đùa giỡn với vật được coi là linh thánh, cố nhiên không có đủ tác phong đạo đức. Có lẽ đây là điểm chủ yếu của điều học này.

ĐIỀU 53. Kích lịch tha(Thọc cù nôn, hay thọc lét).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào lấy ngón tay thọc cù nôn nhau, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Thọc cù nôn, hay thọc lét, là đụng vào những chỗ nhột khiến người khác cười mà không kềm chế được. Nguyên do, nhóm Tỳ kheo niên thiếu đùa giỡn, thọc cù nôn cho người khác cười. Họ đùa quá mức, khiến người ấy cười đến đứt hơi mà chết.

Theo duyên khởi ấy, điều học này hình như liên hệ đến trường hợp đoạn nhân mạng, nhưng vì không phải là cố tâm sát, nên được phán quyết là ba dật đề.

+ Theo giải thích chung của các bộ, trừ Tăng kỳ, bất cứ dùng ngón tay hay ngón chân của mình đụng vào thân thể người khác khiến người ấy cười, đều ba dật đề. Nếu dùng một ngón tay, một tội ba dật đề; dùng cả năm ngón, năm tội ba dật đề. Các ngón chân cũng vậy. Nhưng Căn bản phân biệt thêm chi tiết: nếu cả bàn tay nắm thành một quyền, chỉ thành một tội ba dật đề. Theo Tứ phần, tội ba dật đề này chỉ giới hạn trong việc dùng các ngón tay hay ngón chân; nếu dùng các vật vô tình ngoài thân thể ra, như gậy, que v.v…, đột kiết la.

+ Chánh văn và duyên khởi của Tăng kỳ mang nội dung khác hẳn các bộ khác. Trong đó, chánh văn nói: dùng ngón tay chỉ trỏ lẫn nhau (Hán: dĩ chỉ tương chỉ). Duyên khởi của bộ này nói: Nhóm Tỳ kheo niên thiếu nhìn thấy một Tỳ kheo ni và một Sa di ni có cử chỉ thiếu oai nghi bèn chỉ trỏ và cười đùa với nhau. Bấy giờ, một người Bà la môn tướng rất xấu xí đi đến với một người vợ rất xinh đẹp, tưởng các Tỳ kheo này cười nhạo mình nên tỏ thái độ bất mãn. Vì vậy Phật kết giới.

+ Ngoài các điều đã kể, các bộ không cho chi tiết đặc biệt nào khác về ý nghĩa của điều học này, ngoài ý nghĩa đùa giỡn trí mạng. Nhưng cũng có thể đây là một lối tiêu khiển phổ thông thời bấy giờ giữa các nhóm ngoại đạo được coi là bất chánh.

ĐIỀU 54. Bất thọ giáo(Không nghe lời khuyên).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào không chịu nghe lời khuyên can, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Trong đây, chánh văn cũng như duyên khởi, các bộ khác biệt nhau rất nhiều.

+ Tứ phần, bản chất của điều học này là không chịu nghe lời khuyên can, giống như điều 13 của tăng già bà thi sa. Duyên khởi, cũng do thái độ ương ngạnh của Xiển Đà. Ý nghĩa ở đây được giải thích đơn giản rằng, nếu Tỳ kheo có điều phạm luật, được khuyên bảo, nhưng không nghe mà vẫn có phạm điều cũ: ba dật đề; nếu nghe lời không cãi lại, nhưng vẫn tái phạm: đột kiết la. Nếu người khuyên can là vô trí, không đúng pháp mà không nghe theo, thì không phạm.

+ Khác với Tứ phần, các bộ còn lại coi bản chất của điều học này là thái độ bất kính. Dù có quan điểm chung như vậy, nhưng duyên khởi và giải thích lại cũng không đồng nhất.

Ngũ phần, chánh văn nói: Tỳ kheo khinh thầy, ba dật đề, và được giải thích: khinh một trong ba vị thầy của mình, tức Hòa thượng, A xà lê và Giáo thọ, không chịu nghe với thái độ bất kính về những chỉ bảo liên hệ các học xứ: ba dật đề; nếu liên hệ đến các việc thường như quét tước v.v…, đột kiết la. Trừ ba vị thầy của mình, nếu có thái độ khinh khi bất kính đối với Tỳ kheo khác: đột kiết la. Duyên khởi trong đây là do nhóm sáu Tỳ kheo không kính trọng Hòa thượng, A xà lê, không kính trọng giới.

Tăng kỳ, chánh văn nói: khinh Tỳ kheo khác, và được giải thích: có thái độ bất kính đối với các Tỳ kheo khi được chỉ bảo liên hệ các oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi. Như khi cần ngồi, bảo ngồi thì không chịu ngồi; bảo không nên ngồi lại ngồi; khi các Tỳ kheo đang tác yết ma, mà Tăng sự ấy không can dự gì đến mình, các Tỳ kheo bảo nên đi ra thì không đi; hoặc khi các Tỳ kheo cần gọi đến để tác yết ma lại không đến; hoặc bảo hàng trưởng thượng đi chỗ khác, hoặc không cho vị ấy ngồi: ba dật đề. Nếu chỗ ngồi dơ, bảo đừng ngồi: không phạm. Hoặc khi Tăng hỏi thì không trả lời, khi không hỏi lại nói v.v…, các sự việc bất kính, không nghe lời với thái độ ngoan cố như vậy đều là ba dật đề cả.

Căn bản, chánh văn chỉ nói: có thái độ bất kính, không phân biệt là đối với bậc thầy của mình hay với các Tỳ kheo khác. Nhưng bộ này cũng phân biệt có hai trường hợp bất kính: 1. Đối với đại chúng, khi Tăng có điều sai khiến bảo đi thì không đi, bảo ngồi lại không ngồi; gọi đến thì không đến, v.v… 2. Đối cá nhân khác, chủ yếu là đối với Hòa thượng và A xà lê. Ở đây, Luật nhiếp giảng giải thêm: Hòa thượng hoặc A xà lê có lời khuyên, nghe theo nhưng vẫn tái phạm: đột kiết la; không nghe và tái phạm: ba dật đề. Ngoài ra, với các đối tượng khác như pháp sự tức không có sự cung kính đối với giới, hoặc đối với Phật, như tượng, tháp; hoặc đối các bậc tôn trưởng, v.v… mỗi mỗi tùy theo nặng nhẹ hoặc ba dật đề hoặc đột kiết la. Duyên khởi theo bộ này là hai Tỳ kheo gây nhau, được Tăng gọi đến để phân xử; một vị tuân lời, một vị không tuân.

Thập tụng, chánh văn đồng nhất với Căn bản, nhưng duyên khởi cũng phạm tướng lại khác hẳn. Về duyên khởi, do Xiển Đà, khi các vị trưởng thượng đang thảo luận Phật pháp, bèn chen vào nói chuyện khác với thái độ bất kính. Hoặc khi được khuyên bảo thì hỏi ngược lại cũng với thái độ bất kính. Về phạm tướng, bộ này phân tích hai trường hợp nặng nhẹ của thái độ bất kính, căn cứ trên yết ma bạch tứ của Tăng. Yết ma này được gọi là ký bất cung kính: Tăng ghi nhận thái độ bất kính. Khi một Tỳ kheo có thái độ bất kính quá mức bất trị, Tăng sẽ tác pháp bạch tứ để ghi nhận. Văn tác bạch nói:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo mỗ giáp này, khi các Thượng tọa đang nói đây là pháp, đây là luật, đây là lời Phật dạy, không đợi nói xong mà chen vào nói chuyện khác, trả lời Thượng tọa với tâm bất kính. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay chấp thuận ghi nhận sự bất kính của Tỳ kheo mỗ giáo này. Đây là lời tác bạch.

Văn yết ma cũng chuẩn theo đây. Nếu khi Tăng chưa tác yết ma ghi nhận thái độ bất kính, Tỳ kheo có trái phạm, được chỉ điểm, bấy giờ có hai trường hợp luận tội. Thứ nhất, nếu quả thật có phạm, sẽ tùy theo thiên tụ mà Tăng xử trị như pháp việc tái phạm ấy; và thêm tội đột kiết la nếu có thái độ bất kính khi được khuyên bảo hay cử tội. Thứ hai, quả thật không phạm, nhưng có thái độ bất kính, chỉ phạm riêng tội đột kiết la. Nếu, sau khi Tăng đã tác yết ma bất kỉnh sự, Tỳ kheo được khuyên bảo về các điều trái phạm, ở đây cũng có hai trường hợp như khi chưa tác pháp: nếu quả có phạm sẽ được xử trị tùy theo thiên tụ, và thêm tội ba dật đề nếu có thái độ bất kính khi được khuyên hay được cử tội; trường hợp không có trái phạm gì, nhưng khi được hỏi hay cử tội mà trả lời với thái độ bất kính: ba dật đề.

Giải thích quan điểm của Thập tụng, trong đây Hữu bộ sớ xác định bản chất điều học này là não tha: làm phiền các Tỳ kheo khác, và nói rằng trong các học xứ của Tỳ kheo, gồm bốn trường hợp não tha tất cả. Tức, một thuộc tăng già bà thi sa, và ba điều còn lại thuộc ba dật đề, như đã thấy trong điều 12 ở trên và sẽ thấy trong điều 71 ở sau. Tất cả đều do thái độ ngoan cố của Xiển Đà.

ĐIỀU 55. Khủng bố tha(Dọa cho Tỳ kheo khác sợ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào dọa nhát Tỳ kheo khác, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, Tứ phần và Thập tụng giống nhau: Phật tại Ba La Lê Tỳ. Bấy giờ, tôn giả Na Ca Ba La làm thị giả Phật. Vào một đêm, Phật đi kinh hành ngoài trời. Vì đã khuya và bấy giờ trời có mưa và lạnh, Tỳ kheo này muốn Phật thôi kinh hành để mình được đi nghỉ, bèn tìm mọi phương tiện, nhưng Phật vẫn kinh hành. Cuối cùng, Tỳ kheo bèn giả làm quỷ hiện để nhát ma với ý nghĩ Phật sẽ sợ ma mà vào nghỉ.

Duyên khởi trong các bộ khác nói là do nhóm sáu Tỳ kheo, hoặc muốn phá chơi, hoặc muốn đuổi nhóm Tỳ kheo niên thiếu ra khỏi phòng, bèn bày cách nhát ma. Các Tỳ kheo trẻ ấy kinh hãi và la ó om sòm.

+ Về giải thích, các bộ đều nói chung các đề tài được dùng để nhát ma gồm trong sáu hoặc năm cảnh; riêng Ngũ phần không đề cập gì đến đề tài dọa nhát này. Tuy nhiên, trong đây, Tứ phần và Thập tụng cũng có giải thích gần giống nhau. Các đề tài là sáu cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp. Năm cảnh trước, hai bộ giống nhau về định nghĩa đối tượng nhưng khác nhau về hình thái vi phạm. Tứ phần: hoặc với sắc, như làm các hình tượng ma quỷ, voi ngựa, các thứ đáng ghê sợ, để dọa nhát; người bị dọa nhát sợ hay không sợ đều ba dật đề; Thập tụng, nếu người không sợ, chỉ phạm đột kiết la. Sự dọa nhát không nhất thiết là ma quỷ, mà kể cả việc dọa trước tai họa xảy ra, như đoán sắc diện nói người sắp chết, hoặc nói trong thức ăn có thuốc độc mà người đã ăn phải; cho đến đối tượng xúc gồm các cảm giác cứng, ẩm, nóng, động, nặng, nhẹ, trơn, nhám, lạnh, đói và khát. Tất cả đều là sự bịa đặt chứ không phải sự thực. Về đối tượng thứ sáu: đoán trước điềm dữ, đoán mộng, v.v…, cũng là giải thích bịa đặt cố gây cho người sợ; người sợ hay không sợ, đều ba dật đề. Đối tượng thứ sáu này, Thập tụng giải thích khác. Đây là các đề tài liên hệ giáo pháp. Như thấy một Tỳ kheo đại tiểu tiện trên cỏ, dọa là sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; nếu Tỳ kheo ấy quả sợ, ba dật đề; nếu không sợ, đột kiết la. Ý nghĩa này muốn nói rằng bịa đặt những điều không được nói trong Kinh Luật chỉ vì mục đích khiến người khác sợ chơi, phạm ba dật đề. Điểm này khác với Căn bản, theo đó, nếu bịa đặt với mục đích hóa đạo, không phạm, dù người nghe quả có kinh sợ thật. Năm đối tượng trước, Căn bản không đề cập, nhưng nêu chung là dọa nhát mà người sợ thì phạm ba dật đê; nếu không sợ: đột kiết la.

Tăng kỳ giải thích năm đối tượng trước, người sợ hay không sợ, đều ba dật đề, như Tứ phần; nhưng không đề cập đối tượng thứ sáu.

+ Trong chánh văn đã nói rõ: dọa nhát Tỳ kheo. Đây là đối tượng ba dật đề. Ngoài Tỳ kheo, các chúng khác: đột kiết la. Nhưng Tăng kỳ nói, dọa Tỳ kheo ni, phạm thâu lan giá.

ĐIỀU 56. Phi thời dục(Tâm phi thời).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nửa tháng tắm một lần. Tỳ kheo không bịnh có thể thọ, không được quá, trừ các trường hợp khác, ba dật đề. Các trường hợp khác là, thời gian nóng, khi bịnh, khi làm việc, khi gió mưa, khi đi đường. Đây gọi là các trường hợp khác.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, các bộ giống nhau, riêng Ngũ phần có thêm chi tiết quan trọng, sẽ nói sau.

Phật tại Vương Xá. Vua Tần Bà Sa La có suối nước nóng, một dành riêng vua và hoàng hậu, hai dành cho thái tử và các cung nhân, ba dành cho dân chúng. Do sự kính trọng, vua để cho các Tỳ kheo được tắm trong con suối riêng của mình. Một hôm, nhóm sáu Tỳ kheo tắm lâu quá, vua đợi không được, bèn sai người múc nước tắm riêng. Mọi người phiền trách các Tỳ kheo chăm sóc thân thể quá kỹ để khiến vua phải chờ và trễ việc. Trong các bộ khác, chính vua trực tiếp đề nghị Phật hạn chế sự tắm rửa của các Tỳ kheo. Tứ phần không đề cập điểm này.

+ Trong chánh văn của Tứ phần, điều học này gồm một chánh kết và năm trường hợp tùy khai.

1) Thời gian nóng, chỉ mùa nóng, bao gồm một tháng rưỡi cuối mùa xuân và một tháng sau mùa hạ, tất cả có hai tháng rưỡi. Đây là thời tiết nóng bức theo khí của xứ Ấn. Nếu tính theo Luật tạng, đó là một tháng rưỡi trước ngày tiền an cư và một tháng sau ngày tiền an cư. Về điểm tùy khai này, chánh văn của Tăng kỳ và Thập tụng xác định rõ số ngày tháng thuộc thời tiết nóng bức này. Sự xác định như vậy không có trong chánh văn của Tứ phần như thấy trên, và trong các bộ còn lại.

2) Khi bịnh: trường hợp tùy khai thông thường cho nhiều học xứ; không có duyên khởi và giải thích gì đặc biệt.

3) Khi làm việc: tức khi lao tác, cho đến quét nhà, quét sân, mồ hôi tháo, cần phải tắm. Cũng không có duyên khởi và giải thích gì đặc biệt.

4) Khi gió mưa, mặc dù chánh văn gọi chung, nhưng được giải thích là hai trường hợp khác nhau. Nhưng Căn bản và Tứ phần vừa hợp hai điều này thành ba tùy khai: khi gió, khi mưa và khi vừa gió vừa mưa. Khi gió, Tứ phần và Căn bản giải thích gần giống nhau: dù chỉ một cơn gió nhẹ, hoặc chỉ thổi bay tà áo, đều đợc gọi là có gió đủ để hưởng sự tùy khai này.

Riêng về trường hợp mưa, các bộ đều nói duyên khởi tùy khai như các trường hợp khác, đều do các Tỳ kheo yêu cầu, hoặc do một số Tỳ kheo không tắm được mà phát sinh một số vấn đề. Riêng Tăng kỳ nói, trường hợp mưa là do chính Phật tự động tùy khai. Gặp lúc trời mưa, Ngài bảo các Tỳ kheo nên tắm mưa, vì có thể trừ được một số bịnh ghẻ ngứa. Duyên khoiử này giống như được kể trong điều 27 ni tát kỳ về áo mưa. Về tùy khai này, Căn bản cũng như Tứ phần đều nói, du mưa lắc rắc vài hột đủ thấm áo, cũng được gọi là mưa, và được hưởng tùy khai này.

5) Khi đi đường: cũng như các điều học khác liên hệ đến việc đi đường, ở đây cũng vậy, lộ trình tối thiểu phải là một nửa do tuần mới đủ ý nghĩa và hưởng được tùy khai. Riêng Tăng kỳ nói, lộ trình nhẫn đến chỉ một câu lô xá cũng được.

+ Về phạm tướng, ngoài các tùy khai trên mà tắm là phạm. Không có phân tích gì đặc biệt. Riêng Căn bản và Thập tụng có thêm một chi tiết. Căn bản nói: dù đưọc tùy khai, khi tắm, Tỳ kheo phải tác pháp tâm niệm thọ; tâm niệm và miệng nói: Vi trường hợp (gì đó), tôi nay cần tắm. Không tác pháp thọ, lội xuống nước chưa đến rốn: đột kiết la; xuống đến rốn: ba dật đề. Thập tụng cũng gần giống: có duyên sự tùy khai, nhưng khi tắm phải nói cho một Tỳ kheo khác biết; không nói mà tắm: đột kiết la.

+ Nay xét đến bản chất và ý nghĩa của điều học này. Trong duyên khởi của các bộ, như đã thấy, chỉ là sự tắm quá lâu, hay quá nhiều lần trong suối nước nóng của vua, khiến hoặc bị dân chúng chê cười, hoặc vì gây trở ngại công việc của vua, do đó Phật chế. Nhưng Ngũ phần, ngoài sự tường thuật như các bộ khác, còn có thêm chi tiết rất quan trọng. Một nhà hciêm tinh báo cho vua Tần Bà Sa La biết, vào ngày ấy sẽ có một ngôi sao xấu xuất hiện, nhà vua cần phải đi tắm để giải trừ tai ách, nếu không có thể nguy hại đến vương quốc. Vua đi tắm, và đợi các Tỳ kheo quá lâu, cho đến gần hết ngày. Vì kính trọng, vua không sai người đuổi, mà tự mình đi xuống bên dưới giòng để tắm. Các quan viên, do thế, chỉ trích cung cách tắm rửa của các Tỳ kheo. Chỉ nêu câu chuyện như thế, nhưng bộ này không có bình luận ý nghĩa gì. Tuy vậy, ở đây có thể nói, điều học này, do thế, có thể có nguyên nhân từ sự tin tưởng của người đương thời rằng nước là vật linh thánh, rửa sạch tội lỗi, giải trừ tai họa. Rải rác trong các kinh thuộc bộ A hàm, nhiều nhóm tu sĩ tín ngưỡng nước được đề cập. Họ tắm nhiều lần trong ngày với thái độ cung kính. Để các Tỳ kheo hoặc không bị nhầm lẫn với các loại tín ngưỡng mà giáo pháp của Phật gọi là tà kiến ấy, hoặc cũng để các Tỳ kheo không bị ảnh hưởng bởi tín ngưỡng đó, nên nhân sự việc xảy ra mà Phật kết giới. Đây là điều có ý nghĩa, và có thể nói chính là bản chất của điều học này, tức là hành theo tà kiến về nước. Điều học khác liên hệ đến việc đùa giỡn nước cũng đã được thấy đoạn trên, điều 52.

Mặt khác, trong tường thuật của Căn bản và Tăng kỳ thì Tỳ kheo không được phép tắm rửa là chánh kết. Mỗi nửa tháng được tắm một lần là tùy khai. Hai bộ này, sau khi tường thuật duyên khởi, bèn ghi lời chế của Phật: sự tắm của các Tỳ kheo có những quá thất như vậy, các Tỳ kheo không nên tắm rửa. Nhưng vì không được tắm rửa, thân thể các Tỳ kheo dơ, hôi hám, không ai chịu được, nên Phật kết giới với chánh văn là quy định nửa tháng tắm một lần.

ĐIỀU 57. Lộ địa nhiên hỏa(Nhóm lửa tại chỗ trống).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào không bịnh, vì để tự sưởi, nhóm lửa ở chỗ trống, hoặc bảo người khác nhóm, ba dật đề. Trừ có duyên sự.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, trừ Tăng kỳ sẽ nói chi tiết sau, các bộ đại khái đồng nhất, chỉ có kể nhiều hay ít chi tiết khác nhau thôi. Dưới đây tường thuật tổng hợp.

Trên đường đi, Phật và chúng Tỳ kheo nghỉ đêm tại một khu rừng. Nhóm sáu Tỳ kheo đốt lửa chỗ đất trống để sưởi. Một con rắn, vì hơi khói và vì nóng, từ trong hang bò ra. Các vị này hoảng sợ, bèn hô hoán, khiến các Tỳ kheo khác cũng thất kinh theo. Nhân đó, Phật kết giới.

Chánh văn trên đây gồm một chánh kết và hai tùy khai. Tùy khai cho trường hợp có duyên sự có phạm vi rất rộng rãi. Nói đơn giản là, trừ trường hợp tự sưởi ấm, hay các hành vi đùa giỡn, những việc đốt đèn đốt lửa có mục đích chính đáng đều được cho phép.

+ Về phạm tướng, giải thích chung của các bộ là bất cứ Tỳ kheo nhóm lửa với hình thức nào: đốt cỏ, hoặc cho thêm cỏ vào lửa; đốt cây hoặc củi, cũng vậy; cho phân bò vào lửa cũng vậy. Trừ các tùy khai đã quy định trong chánh văn, thảy đều ba dật đề cả. Riêng Tăng kỳ nói thêm: nhóm lửa để tự sưởi, ngọn lửa cao quá bốn ngón tay, ba dật đề. Về các tùy khai, Luật nhiếp 12 nói, dù được tùy khai, nhưng khi đốt lửa phải tác pháp tâ, niệm thọ. Vừa đốt, vừa nghĩ trong tâm rằng: Tôi đốt lửa vì duyên sự (gì). Nếu không thế, đột kiết la. Nói rằng, không vì để tự sưởi, tức đa phần các việc đốt lửa, đốt đèn có lý do, thảy đều được phép. Tuy nhiên, cần phải nhận định rõ bản chất của điều học này để có thể hiểu rõ hình thái vi phạm của nó.

+ Về bản chất của điều học này, ngoài duyên khởi đã kể, không thấy các bộ nêu ý nghĩa gì đặc biệt. Nếu Tỳ kheo không được đốt lửa chỉ vì sợ có hỏa hoạn, thì thật chẳng có gì đáng nói.

Điểm có thể lưu ý ở đây là tường thuật duyên khởi và cách trình bày của Tăng kỳ. Trước câu chuyện Tỳ kheo nhóm lửa cho rắn bò ra, bộ này còn kể thêm hai chuyện khác. Chuyện đầu, nếu chỉ đọc thoáng qua, thì không thấy có liên gì với điều học này cả. Chuyện kể, một nhóm ngoại đạo tại Xá Vệ, nhân thấy sự kính trọng của mọi người đối với họ không bằng đối với Phật và các Tỳ kheo. Sau khi thảo luận, họ biệt phái một tu sĩ sang xuất gia để học từ Phật và các Tỳ kheo những điều có thể khiến được kính trọng. Vị tu sĩ này xuất gia với tặc tâm; tức chỉ vì mục đích ăn cắp giáo pháp. Nhiều lần thảo luận với các Tỳ kheo, và có lần, hỏi thẳng Phật một số vấn đề liên hệ 12 duyên khởi. Được Phật giải thích, tu sĩ này tỏ ngộ, và thú nhận sự tặc tâm xuất gia của mình. Bộ này chỉ kể đến đây.

Chuyện thứ hai, Phật tránh sự náo nhiệt của thành Xá Vệ, vào sống một mình trong rừng Ba Lị Da Sa La. Tại đây, một con voi đã hầu hạ Ngài. Sau một thời gian, các Tỳ kheo muốn được hầu Phật, phái A Nan đi xin phép. Được Phật cho phép, các vị đến rừng hầu thăm. Tại đây, Phật giảng cho các Tỳ kheo về uẩn, xứ, giới và 12 duyên khởi. Câu chuyện cũng chỉ đến đây, chưa có liên hệ đến việc nhóm lửa.

Tiếp đó, Phật sống chung với các Tỳ kheo. Bấy giờ là mùa thu, trời mưa nhiều. Các Tỳ kheo tìm một bộng cây để đốt lửa sưởi ấm. Một con rắn từ trong bò ra, cắn chết một Tỳ kheo. Nhân đó, Phật giảng cho các Tỳ kheo về 7 điều hại của việc đốt lửa. Đó là những thiệt hại cho nhãn lực, cho dụng sắc, thân thể, y phục, giường đệm; và hai điều sau: nguyên nhân phát sanh sự phạm giới, và làm tăng trưởng ngôn luận thế tục.

Hai điểm chót, một liên hệ sinh hoạt nội bộ của các Tỳ kheo, và một liên hệ bên ngoài. Cả hai đều không thấy được giải thích.

Ở đây cần bàn điểm tai hại cuối cùng: tăng trưởng ngôn luận thế tục. Điều này có nghĩa rằng, việc đốt lửa là góp phần cho sự tăng trưởng tà kiến. Đốt lửa và thờ lửa là một hiện tượng tín ngưỡng tôn giáo có từ lâu đời và trong nhiều nền văn minh cổ, không riêng gì tại Ấn. Riêng tại Ấn, tín ngưỡng này cũng có ảnh hưởng quan trọng. Một số lớn các đại đệ tử của Phật, như tôn giả Ma Ha Ca Diếp vốn xuất thân là một đạo sĩ thờ lửa. Trong các kinh thuộc bộ A hàm, rải rác ghi chép nhiều tu sĩ đạo này đến thảo luận với Đức Phật. Tín ngưỡng thờ phụng lửa bắt nguồn từ những tán ca về thần Lửa của Lê Câu Phệ Đà. Vị thần này về sau giữ một vai trò ngoại hộ kim cang rất quan trọng trong Mật tông Phật giáo.

Như vậy, việc đốt lửa, nếu không có mục đích chính đáng, cần thiết, thì cũng như việc sử dụng nước đã thấy trong hai điều học 52 và 56 trên, là hành vi phi pháp; hoặc sự đốt lửa ấy khiến các Tỳ kheo có thể bị hiểu lầm là có tín ngưỡng thờ lửa; hoặc chính các Tỳ kheo sẽ bị ảnh hưởng bởi tín ngưỡng ấy. Cho nên, như quan điểm của Tăng kỳ, bản chất của điều học này là sự đốt lửa, gồm luôn cả việc đốt đèn; còn việc sưởi, hay bịnh, là những tùy khai. Nói tóm, tự bản chất, các Tỳ kheo là người không hề xúc chạm đến lửa.

+ Về phạm tướng, chung các bộ, trong đây không chỉ đốt để tự sưởi, mà các hành vi đùa giỡn liên hệ đến lửa, như quay lửa thành vòng tròn, v.v…, thảy đều phạm ba dật đề cả. Thả một cọng cỏ vào lửa, dù chỉ để mà chơi, cũng phạm ba dật đề. Nhưng chỉ khi nào việc đốt lửa mà lửa bốc thành ngọn mới phạm ba dật đề. Bốc cao bao nhiêu, các bộ không ấn định, trừ Ngũ phần như đã nói: cao từ bốn ngón tay trở lên. Ngoài ra, Tứ phần nói, đốt than, phạm đột kiết la, vì than không bốc thành ngọn.

ĐIỀU 58. Tàng tha y bát(Giấu y bát của người káhc).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào giấu y, bát, tọa cụ, ống đựng kim của Tỳ kheo khác, hoặc tự mình giấu, hoặc bảo người khác giấu, cho đến chỉ để đùa giỡn, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Các bộ đại khái giống nhau. Phật tại Xá Vệ. Nhóm sáu Tỳ kheo giấu y, bát, tọa cụ, ống đựng kim của nhóm 17 Tỳ kheo, khiến các vị này đi phó trai trễ. Ngũ phần kể là khiến cho các vị này đuổi theo các cư sĩ để hỏi, nhưng họ nói là họ đến nghe pháp chứ không phải đến để ăn trộm.

+ Chánh văn của Tăng kỳ giống như Tứ phần, và giải thích, y chỉ ba y: ba dật đề; các loại y khác: đột kiết la; bát chỉ bình bát khất thực, gồm cả ba cỡ thượng, trung và hạ, đều ba dật đề; các loại chén bát thông thường khác: đột kiết la; tọa cụ hay ni sư đàn: ba dật đề; các loại phu cụ khác: đột kiết la; ống đựng kim, nếu có cả kim trong ống: ba dật đề, không có kim: đột kiết la; kim có chỉ: ba dật đề, không có chỉ: đột kiết la.

Chánh văn của Ngũ phần sau khi nêu các vật như Tứ phần, còn nói thêm: mỗi mỗi sinh hoạt cụ như thế; theo đây, giấu bất cứ vật dụng tùy thân nào, đều phạm ba dật đề cả.

Chánh văn Thập tụng kể: hoặc bát, hoặc y, hoặc chìa khóa cửa, dép da, các loại vật dụng vần thiết như thế. Như vậy cũng là chỉ chung các thứ vật dụng tùy thân.

Căn bản: giấu y bát và các tư cụ khác.

Nói tổng chung, Tứ phần và Tăng kỳ hạn định trong bốn loại vật dụng thiết yếu; các bộ khác, bất cứ vật dụng tùy thân thiết yếu nào, nếu giấu, thảy đều ba dật đề cả. Luật nhiếp 12 nói thêm: vật dụng nào đã tác pháp thọ, hay đã tác tịnh, mà đem giấu, phạm ba dật đề; ngoài ra, phạm đột kiết la.

+ Về sở hữu chủ của vật bị giấu, chánh văn của các bộ đều nêu là Tỳ kheo. Điều này có nghĩa rằng, nếu giấu vật dụng của các chúng khác: đột kiết la.

Riêng chánh văn của Căn bản nói khác: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni; như vậy, bao gồm cả năm chúng xuất gia. Nhưng, giải thích điểm này, Luật nhiếp 12 nói: của người dữ học pháp, của các sa môn Bà la môn khác, và bộ này giấu của bộ kia: đột kiết la. Bộ ở đây chỉ bộ chúng Tỳ kheo, và bộ chúng Tỳ kheo ni. Sa di thuộc bộ chúng Tỳ kheo, Thức xoa ma na và Sa di ni thuộc bộ chúng Tỳ kheo ni.

+ Về động cơ giấu để thành phạm, chánh văn đã nói: dù chỉ để đùa giỡn, điều này bao gồm các động cơ hoặc thù hiềm, hoặc đùa giỡn. Ngoài ra các trường hợp ấy, nếu giấu của người khác vì để bảo vệ thì không phạm. Nói một cách chính xác như Hữu bộ sớ 8, giấu mà người khác tìm không ra: ba dật đề; nếu họ tự tìm được: đột kiết la.

+ Về bản chất, tuy các bộ không rõ, nhưng điều học này là một hình thái sai biệt của hành vi lấy vật không được cho, duy có điều động cơ lấy không phải là với tâm trộm cắp.

ĐIỀU 59. Dữ tha y bất ngữ thủ hoàn(Y đã cho người khác tự động lấy dùng mà không hỏi chủ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào đã cho y đến Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Thức xoa ma na, Sa di, Sa di ni, về sau không nói với chủ mà lấy lại dùng, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Điều học này, giữa các bộ, có ba nội dung khác biệt nhau rất lớn.

Ba bộ, Tứ phần, Tăng kỳ và Ngũ phần đều có nội dung tương tợ: đây là y tịnh thí. Với Thập tụng: y được cho người khác với tâm trá ngụy. Với Căn bản, đây là y được người khác gởi nhờ cất hộ.

1) Trước hết, hãy nói là nội dung y tịnh thí. Các loại y dư, để tránh phạm tội cất chứa y dư phi pháp, các Tỳ kheo tác tịnh bằng cách cho đến người khác. Có hai loại tịnh thí: chân thật tịnh thí và triển chuyển tịnh thí. Chi tiết các ý nghĩa này, xem trong Yết ma yếu chỉ, chương VIII. Trong hai loại y được tịnh thí này, với triển chuyển tịnh thí, tùy ý thọ dụng khi nào cần, hỏi hay không hỏi tịnh thí chủ đều không phạm. Đối với y chân thật tịnh thí, mỗi khi muốn dùng, phải nói với tịnh thí chủ; không nói mà dùng: ba dật đề.

Trong đây, về duyên khởi, Tứ phần kể rất đơn giản: Nhóm sáu Tỳ kheo đã tác pháp chân thật tịnh thí y, sau đó tự tiện lấy dùng mà không nói với tịnh thí chủ. Các Tỳ kheo thiểu dục tri túc cho thế là phi pháp. Và Phật kết giới.

Ngũ phần có nội dung như Tứ phần, nhưng duyên khởi khác, và chánh văn cũng có chi tiết hơi khác: đã tịnh thí y sau đó giật trở lại. Duyên khởi của bộ này nói: Tỳ kheo Đạt Ma, người bị Bạt Nan Đà nhiều lần gây phiền nhiễu, như đã thấy trong các điều 25 của ni tát kỳ, và 46 Ba dật đề ở trên. Để đáp lại, nhân khi Bạt Nan Đà tác pháp tịnh thí y với mình bèn giữ luôn không trả, do đó Bạt Nan Đà cưỡng đoạt lại. Việc gây gổ đưa đến trước Phật. Phật khiển trách Đạt Ma, y được chân thật tịnh thí mà giữ luôn không trả cho người dùng. Phật cũng khiển trách Bạt Nan Đà ngu si, tác pháp chân thật tịnh thí với người không đáng tin cậy. Sau khi giảng các phép tịnh thí, Phật kết giới.

Với Tăng kỳ, nội dung cũng là y tịnh thí, nhưng chánh văn lại khác: đã cho y đến Tỳ kheo… về sau không xả mà thọ dụng. Duyên khởi được kể là nhóm sáu Tỳ kheo lúc nào cũng thay đổi, khoác nhiều y khác nhau. Phật khiển trách: y đã tịnh thí cho người khác, không xả mà thọ dụng làm ba y. Điều này được giải thích là, Tỳ kheo có y dư nên tịnh thí; nhưng nếu muốn thọ dụng y tịnh thí ấy, phải xả y cũ và tác pháp thọ y mới. Như vậy, lúc nào Tỳ kheo cũng chỉ thọ trì có ba y mà thôi. Nếu Tỳ kheo có nhiều y tịnh thí, không nhớ hết cái nào thuộc y tịnh thí, cái nào không, cần phải dặn một người ở chung nào đó nhắc nhở hộ, để khi muốn thọ dụng một trong các y tịnh thí ấy đều phải tác pháp xả và thọ. Nếu không có ai nhắc nhở hộ, có thể làm dấu vào chéo y. Về phạm tướng, bộ này phân tích: nếu tự thân đối diện tịnh thí, không xả mà thọ dụng: ba dật đề; không đối diện mà tự nói tịnh thí, không xả mà thọ dụng: ba dật đề. Trong đây, trừ tâm niệm thuyết tịnh, còn lại dù là chân thật hay triển chuyển tịnh thí, nếu không xả mà thọ dụng, thảy đều ba dật đề cả.

2) Thập tụng, chánh văn nói: cho y đến Tỳ kheo… người không trả lại, mà cưỡng đoạt lấy. Xác định bản chất của điều học này, Hữu bộ sớ 8 nói: cho y đến người khác với tâm dối gạt, mục đích là dụ dỗ để nhờ vả, khiến họ tưởng là vật của họ, rồi sau đó bèn đoạt lại. Với ý nghĩa như vậy thì điều học này không liên hệ gì đến y tịnh thí. Tuy nhiên, trong phần giải thích, Thập tụng cũng nêu các thể thức tịnh thí đối với y dư, và nói rõ ràng y tịnh thí không phải cho thật sự, mà chỉ mục đích làm cho hợp pháp để thọ dụng; người được tịnh thí phải trả y lại; đòi mà không trả, có thể cưỡng đoạt lại. Tức xác định rằng với y được cho bằng tâm dối trá mà cưỡng đoạt lại, phạm ba dật đề; còn đối với y tịnh thí, người nhận tác tịnh không chịu trả, Tỳ kheo được phép cưỡng đoạt lại. Và điều này như thế hoàn toàn ngược lại với nội dung của Ngũ phần như đã thấy trên.

3) Căn bản, chánh văn nói: Tỳ kheo nhận y người khác gởi, về sau không hỏi chủ mà tự động lấy dùng, ba dật đề. Duyên khởi, là do trường hợp Ô Ba Nan Đà, bấy giờ già cả, suy yếu, lại không có đệ tử hầu hạ, nên các y không được giặt giũ, thành cáu bẩn. Khi được một đệ tử gởi nhờ cất hộ y đã giặt sạch, Ô Ba Nan Đà bèn lấy y đó dùng. Vị đệ tử kia, khi cần y, lại chỉ thấy y dơ của thầy, do đó vẫn phải khoác y cũ rách. Nhân thế, Phật kết giới. Về phạm tướng, ngoài ý nghĩa đã rõ trong chánh văn của bộ này, không có phân tích gì đặc biệt; ngoại trừ thêm rằng nếu người gởi là đắc ý tương tri, hoặc biết chắc nếu mình lấy dùng, người gởi sẽ hoan hỷ. Luật nhiếp 12 cũng không có phân tích gì đặc biệt thêm, ngoại trừ điểm nói nếu y được gởi là của Tỳ kheo dữ học pháp, hoặc y bất tịnh, dùng mà không hỏi mượn, phạm đột kiết la.

ĐIỀU 60. Bất hoại sắc y(Khoác y không hoại sắc).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào có được y mới, phải làm hoại màu sắc bằng ba thứ; tùy ý hoại bằng một trong ba màu, hoặc xanh, hoặc đen, hoặc mộc lan. Nếu Tỳ kheo không làm hoại sắc bằng thứ, hoặc xanh, hoặc đen, hoặc mộc lan, mà khoác các y mới khác, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Hoại sắc, cơ bản của điều học này, các bộ giống nhau, là làm cho hư hoại màu sắc của y mới. Nhưng thể thức làm hoại sắc, không được áp dụng đồng nhất giữa các bộ. Nhưng trước hết, ở đây cần lưu ý rằng, từ hoại sắc của Hán văn trong đây không phải dịch từ chữ ca sa của tiếng Phạn, mặc dù thông thường ca sa cũng được dịch là hoại sắc. Hoại sắc trong điều học này chỉ có nghĩa là làm cho xấu đi. Do đó, nội dung của ba dật đề này không phải quy định những màu nào được gọi là màu của ca sa. Chính vì ý nghĩa như vậy mà các bộ không đồng nhất nhau về thể thức làm cho xấu đi. Tổng quát, thể thức áp dụng giữa các bộ gồm một trong ba cách: hoặc nhuộm, hoặc điểm tịnh, hoặc cả hai.

1) Nhuộm. Đây là thể thức làm hoại sắc của Tứ phần và Căn bản. Y mới phải nhuộm bằng một trong ba màu. Các loại y ở đây chỉ cho ba y. Các y hoặc vải hoặc khăn, hoặc túi đựng, túi xách, dải thắt, v… phải điểm tịnh, nếu không, phạm đột kiết la. Duyên khởi được kể trong Tứ phần rất đơn giản: Phật tại Xá Vệ. Nhóm sáu Tỳ kheo khoác y để nguyên màu trắng, bị các cư sĩ chê cười. Căn bản cũng tường thuật sự việc như vậy, nhưng chi tiết ly kỳ hơn nhiều. Nguyên vào ngày hội tế Long vương tại nước Ma Kiệt Đà, một nhóm nhạc sư đến trình diễn. Để thu hút khán giả, họ hát các tuồng về sự tích Đức Phật. Các tuồng này tuy thu hút một số đông, nhưng một số không tin Phật vẫn chưa tán thưởng cho lắm. Các nhạc sĩ này đến thăm dò và quan sát các Tỳ kheo. Họ bắt gặp lúc Ô Ba Nan Đà đang tác pháp dư thực. Họ nhân đó soạn thành kịch bản rồi trình diễn. Kết quả là thu hút đến những khán giả khó tánh. Nhóm sáu Tỳ kheo hay việc hình ảnh họ được đưa lên sân khấu, bèn đến yêu cầu các nhạc sĩ hủy bỏ, và hăm dọa nếu không hủy, họ sẽ phá. Các nhạc sĩ này tự thị tài năng nên thách thức. Nhóm sáu Tỳ kheo bèn dựng một rạp hát tại miễu thờ Long vương, rồi tự mình hóa trang làm diễn viên. Họ diễn xuất hay đến độ khán giả bỏ hẳn nhóm nhạc sĩ kia và kéo sang đây xem. Do thế, các nhạc sĩ oán trách Tỳ kheo phá hỏng sự mưu sinh của mình. Nhân vì các Tỳ kheo này khi hóa trang, họ bận áo người đời, do đó Phật chế điều luật này.

2) Điểm tịnh. Đây là thể thức áp dụng của Ngũ phần. Chánh văn của Ngũ phần nêu rõ: dùng một trong ba màu tác chí tức làm dấu. Nguyên do, một số Tỳ kheo bị giặc cướp lột hết y. Lính tuần tra về sau bắt được bọn cướp cùng với y. Họ mời các Tỳ kheo đến nhận. Các vị này vì không nhận ra cái nào là y của mình, và sợ phạm phải tội bất dữ thủ, nên cuối cùng không ai nhận được y của mình trở lại. Ngoài ý nghĩa được hàm thụ trong duyên khởi, và những điểm được nêu trong chánh văn, bộ này không có giải thích gì đặc biệt. Chỉ nói: y mới không làm dấu một trong ba màu ấy, nếu khoác, cách mỗi đêm là một tội ba dật đề. Y mới đã được tác chí rồi thì khỏi phải tác nữa.3

3) Cả nhuộm và điểm. Đây là quan điểm của Tăng kỳ. Chánh văn của bộ này hoàn toàn giống Tứ phần, nhưng duyên khởi khác hẳn. Tôn giả Tôn Đà La Nan Đà, em khác mẹ với Phật, có tướng mạo gần giống Phật, vì có đến 30 tướng tốt. Các Tỳ kheo thường hay nhầm lẫn tôn giả với Phật. Do đó, Phật phán: từ nay trở đi, các Tỳ kheo phải làm dấu để hoại sắc y.

Về giải thích, bộ này nói: các y mới, gồm ba y, y tắm mưa, y che ghẻ, và ni sư đàn, nếu không tác tịnh mà dùng, ba dật đề. Trong đây, thể thức tác tịnh gồm ba việc: nhiễm tịnh, tác tịnh bằng cách nhuộm theo màu như pháp; điểm tịnh, làm dấu chấm; và triệt lũ tịnh, tác tịnh bằng cách vạch một đường dao lên y mới cho có dấu đứt.

Trong các loại y kể trên, loại nào thuộc điệp y tức được may gấp thành hai hoặc ba, bốn lớp, hoặc có y tài là các thứ vải xô ma, xá na, vải gai, vải khu mâu đề; các loại này phải tác tịnh bằng cả ba việc. Trong ba việc, nếu thiếu điểm tịnh: ba dật đề; các việc kia, thiếu mỗi việc là một đột kiết la.

Ngoài điệp y và các y tài kể trên, còn lại, phải làm hai việc: điểm tịnh và triệt lũ tịnh. Không điểm tịnh, một ba dật đề; không triệt lũ tịnh: đột kiết la; không cả hai: một ba dật đề và một đột kiết la.

Về cách điểm tịnh, dùng một trong ba màu làm thành các dấu tròn lên y mới; lớn nhất là bằng bốn ngón tay, nhỏ nhất bằng hạt đậu. Có thể làm một, hoặc ba, hoặc năm, hoặc bảy, hoặc chín dấu; không được làm thành hình đóa hoa. Nếu y mới, khi giặt và phơi, bị dính bùn hay bị chim đậu lên thành dấu, như vậy đã gọi là tịnh, không cần phải tác tịnh nữa. Khi vá y cũ, nếu được vá chung lại thành một chỗ, điểm tịnh tại một chỗ ấy; vá riêng nhiều chỗ, mỗi chỗ mới vá thêm đều phải điểm tịnh. Tăng già lê được điểm tịnh ở một góc. Khi rách, điều nào được vá mới, phải điểm tịnh lên điều ấy. Các y khác cũng vậy.

Nói tóm, bản chất của điều học này là phải tác tịnh y mới; và trong ba việc tác tịnh, chủ yếu để phạm ba dật đề là không điểm tịnh; hai việc còn lại, nếu không làm, đột kiết la.

Thập tụng cũng tương đồng với Tăng kỳ, nhưng có một ít khác biệt. Về duyên khởi, bộ này kể cả chuyện trong Căn bản và chuyện trong Ngũ phần. Tức gồm cả hai nguyên nhân: y mới không nhuộm, và y mới không làm dấu.

Sở dĩ nói thể thức của Thập tụng tương đồng với Tăng kỳ là căn cứ ý nghĩa được hàm ngụ trong duyên khởi. Còn nếu căn cứ theo giải thích của chính bộ này, thì xét về văn tự khó có thể xác địh dứt khoát như vậy.

Giải thích của bộ này có mấy điểm nêu như sau:

a) Với y mà màu sắc không hư pháp, tức không thuộc một trong ba màu nêu trong chánh văn, phải tác tịnh với cả ba màu. Nếu y đã thuộc sẵn trong ba màu, thì tác tịnh với hai màu còn thiếu. Như vậy, trong đây, một màu thuộc nhiễm tịnh và hai màu còn lại được dùng để điểm tịnh. Tuy bộ này không nói cách điểm như thế nào, nhưng theo lý thì phải hiểu như vậy; tức là, không thể nói y của Tỳ kheo được nhuộm với ba màu riêng biệt. Cũng không thể nói ba màu này hòa chung lại thành ra hoại sắc.

b) Nếu y đã nhiễm tịnh với màu xấu như pháp mà được đắp vá với một hay nhiều mảnh vải không như pháp, trong đây có hai trường hợp. Vá theo kiểu khước thích phùng thì tác tịnh bằng một chấm; nếu là trực phùng thì mỗi mỗi tác tịnh. Khước thích, được giải thích là may bằng cách đâm lộn ngược kim. Bộ này nói, khước thích được coi là tịnh, vì như pháp; trực phùng là kiểu của thế gian, không như pháp.

+ Ba màu: xanh, đen và mộc lan không có giải thích trong Tứ phần. Chánh văn Thập tụng dịch là thanh: màu xanh, nê: màu bùn, và thiến: màu ráng đỏ. Cũng không có giải thích của chính bộ này. Nhưng Hữu bộ sớ 8 nói: thanh là màu xanh, hoặc màu lam đại tức nốt ruồi lam; còn các màu khác thì được ghi nhận là chưa rõ loại gì.

Ba màu này, Căn bản dịch là thanh, nê và xích; trong đây, nê tức màu bùn được giải thích là màu xích thạch: đá đỏ; xích, màu đỏ của vỏ cây.

Chánh văn của Tăng kỳ cũng dịch như Tứ phần, nhưng có giải thích kỹ. Màu xanh gồm các loại xanh đồng: úp khí cụ bằng đồng lên vò rượu trắng, màu xanh hiện lên nơi khí cụ ấy: hoặc xanh trưởng dưỡng: màu xanh của nước trong; hoặc xanh đá tức màu xanh da trời. Màu đen trong đây là màu bùn, gồm có thật bùn, tức bùn dưới đáy ao, đáy giếng, v.v..., và giả bùn là các thứ trái ha lê lặc, bệ lê lặc, am ma lặc hiệp chung trong một khí cụ (không rõ muốn nói gì). Cuối cùng, màu mộc lan là các thứ trái cây như ha lê lặc, bệ hê lặc, am ma lặc, đem mài trên sắt sống (sanh thiết) rồi dùng để điểm tịnh.

Nói tóm lại, điều luật này không phải quy định màu y của Tỳ kheo, mà quy định việc Tỳ kheo dùng y mới phải tác tịnh; nếu không tác tinh, phạm ba dật đề. Điểm chung trong các bộ là tác tịnh đối với cả hai thứ: đối với màu sắc, có mục đích làm cho có ấn tượng là nó đã xấu đi, như là đã dùng lâu thành phai màu; và đối với thể tài, có mục đích gây ấn tượng là nó đã cũ, đã sờn do đã dùng nhiều rồi. Các ấn tượng này phải tác động lên sở hữu chủ, do đó mỗi khi có y mới, dù đối với người khác nó đã được dùng nhiều, nhưng với người ấy vẫn là mới nên cần phải tác tịnh. Riêng với Ngũ phần và Tăng kỳ thì các mục đích ấy còn có thêm tác dụng là tác tịnh để xác nhận tư cách sở hữu chủ, phân biệt đó là y nay đã thuộc về sở hữu của mình.

Như vậy, trong ba yếu tố để gọi là y như pháp: thể tài, màu sắc và kích thước, bao gồm trong việc tác thành và thọ dụng, điều học này quy định thể thức thọ dụng như pháp về màu sắc.

ĐIỀU 61. Đoạn súc sanh mạng(Giết hại súc sanh).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào cố ý làm dứt sanh mạng loài vật, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Súc sanh, tiếng Phạn nguyên gọi là loài đi ngang, mà Hán thường dịch là bàng sanh, chỉ chung tất cả các loài động vật, trừ loài người. Các loại rồng, tức rắn thần, thuộc động vật mà tín ngưỡng cổ thời đó cho là có khả năng biến hóa; loài ấy không được kể trong phạm vi điều học này, nhưng thuộc tội thâu lan giá của Ba la di thứ hai.

+ Cố ý, giết hại có chủ tâm, để phân biệt các trường hợp vô tình khác, như đã phân biệt trong điều 3 Ba la di. Trong đó, giết hại có chủ tâm, ba la di; giết nhưng không chết, thâu lan giá; ngộ sát, không tội. Trong đây cũng vậy, cố ý sát, ba dật đề; giết nhưng không chết, đột kiết la; ngộ sát, vô tội.

Trong đây cũng nên phân biệt thêm các trường hợp cố sát và ngộ sát. Các hệ thống thuộc biệt giải thoát, luật nghi có mục đích phòng hộ căn môn để cho nhiễm pháp không làm vẩn đục tâm; do đó, hành vi nào được thực hiện một cách có chủ ý, được hướng dẫn bởi tâm, hành vi ấy mới thành tựu nghiệp đạo. Tuy nhiên, diễn tiến của tâm lý qua quá trình hành động không đơn giản như vậy. Trong giai đoạn gia hành của nghiệp đạo, tức giai đoạn chuẩn bị phương tiện để hành động, có thể không có chủ ý; thế nhưng, sau khi đã thành tựu căn bản nghiệp đạo, tức đã hoàn tất một hành động, sự thích thú, hoan hỷ đối với hành vi ấy có thể khởi lê; sự hoan hỷ ấy là sự nhiễm ô của tâm, nó sẽ tạo động lực cho hành động có chủ ý sắp tới. Vì thế, trong nhiều trường hợp, sự sát hại loài vật vốn không do chủ ý nhưng vẫn có những điều luật cấm, như các điều liên hệ việc đào cuốc đất đai, chặt phá cây cối, dùng nước có trùng. Trong các trường hợp ấy, đối tượng hay chủ đích của hành động không phải là nhằm đến các sinh vật với tâm muốn sát hại chúng, nhưng vì biết trong nước có trùng mà vẫn dùng, sự hiểu biết ấy là một tác động mở cửa cho nhiễm pháp ngang qua căn môn mà đi vào làm ô nhiễm tâm. Như vậy, không thể gọi các trường hợp ấy là hoàn toàn ngộ sát.

Những tác dụng phức tạp và tế nhị như vậy của các yếu tố tâm lý đòi hỏi sự lý giải và phân tích rộng mà trong phạm vi lược giải này không thể nói hết, do đó, chỉ nêu những điểm căn bản của vấn đề để rộng đường suy luận về các hình thái trì phạm liên hệ điều luật này.

+ Làm dứt sinh mạng, trong đây gồm cả thân căn và mạng căn; thân căn là sở y của các căn, thuộc sắc pháp. Nhưng sự phát triển các căn tùy theo loài; ở loài người, đủ cả sáu căn; một số loại vật có đủ năm căn, và một số chỉ có một hoặc hai căn. Mạng căn tức yếu tố sự sống. Bất kể loài thành tựu bao nhiêu căn, nói chung là có thân căn và mạng căn, nếu cố ý dứt trừ, phạm ba dật đề.

Hành vi sát hại trong đây bao gồm động tác và phương tiện. Chuẩn bị phương tiện với chủ tâm để sát hại, đột kiết la; đã sát hại và sinh mạng đã bị dứt, ba dật đề. Tất cả những điều này hoàn toàn giống như trong điều 3 của Ba la di; chỉ khác, trong đó đối tượng là sinh mạng loài người, còn ở đây là sinh mạng các động vật khác. Phạm tướng nặng h ay nhẹ cũng tùy theo đó mà suy luận và xác định.

+ Duyên khởi, theo Tứ phần, điều luật này được kết thành hai lần. Lần đầu, do Ca Lưu Đà Di vốn ghét loài quạ, nên con quạ nào lảng vảng vào tinh xá tức thì bị giết. Do đó, Phật kết giới. Sau đó, một số các Tỳ kheo trong khi đi đứng, tới lui, vô tình dẫm đạp côn trùng, họ nghi ngờ và hỏi Phật. Phật bổ túc điều luật, xác định yếu tố có chủ ý.

Các bộ khác cũng đều kể việc giết quạ của Ca Lưu Đà Di. Nhưng mỗi bộ có mỗi chi tiết ly kỳ hơn nhiều. Như Căn bản, kể chuyện vào một sáng đi khất thực, Ca Lưu gặp một nhóm người đang học bắn cung. Ca lưu chế họ bắn dở, và trổ tài. Bấy giờ, một con quạ đang bay ngang qua. Ca Lưu lấy 5 mũi tên. Bắn 4 phát chặn đầu, bắt buộc con chim phải bay thẳng đứng lên; rồi bắn phát thứ 5 xuyên qua miệng. Ông thầy dạy bắn lo ngại Ca Lưu sẽ tranh mất nghề, bèn tuyên truyền việc bắn độc đáo này, và tiếng xấu đồn lan. Do đó, Phật cấm.

Tăng kỳ cũng kể chuyện Ca Lưu bắn quạ. Một nhóm thợ săn chim có sẵn cung tên, vào tinh xá nghỉ chân. Ca Lưu mượn và bắn thử một con quạ. Lối bắn cũng độc đáo và tài tình như được kể trong Căn bản. Nhưng ở đây lại kể thêm rằng, sau đó Ca Lưu cầm con quạ bị bắn đến khoe với Phật, cho rằng bỏ nghề đã lâu, tưởng quên, nhưng nay vẫn còn thiện nghệ như trước. Phật chẳng những đã không tán thưởng mà còn khiển trách nặng nề, và nhân đó, Ngài kết giới.

ĐIỀU 62. Ẩm hữu trùng thủy(Uống nước có trùng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào biết nước có trùng mà dùng và uống, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Giới này, theo Tứ phần, được kết hai lần. Lần đầu, do nhóm sáu Tỳ kheo uống và dùng nước có trùng, bị các cư sĩ chỉ trích. Phật nhân đó kết giới. Sau đó, một số Tỳ kheo khi dùng nước thì không biết là có trùng, dùng xong mới biết, họ sợ phạm tội, đến bạch Phật. Kết bổ túc yếu tố: biết có trùng.

Các bộ khác giới này chỉ kết một lần.

Duyên khởi của Tăng kỳ có hai chuyện. Chuyện thứ nhất, Ưu Đà Di đi đường, khát nước, hỏi xin nước uống. Thấy trong nước có trùng, nghĩ rằng mình chỉ uống chỗ không có trùng; nhưng khi uống vẫn uống phải trùng. Nghi ngờ không biết có phạm hay không, Ưu Đà Di đến bạch Phật. Phật khiển trách, đã biết có trùng mà vẫn còn uống.

Chuyện thứ hai. Ba Tỳ kheo trên đường dài đi đến hầu Phật. Giữa đường khát nước, họ bắt gặp một giếng nước, nhưng rất nhiều trùng. Một Tỳ kheo nhất định chịu chết khát chứ không uống. Và Tỳ kheo này chết khát thật. Hai vị kia cho rằng việc phạm tội này nhỏ, việc gặp được Phật quan trọng hơn, nên họ uống. Khi gặp Phật, họ tường thuật người bạn đồng hành bị chết khát. Phật khiển trách hai Tỳ kheo, và tán thánh chính Tỳ kheo chết khát kia là người đã gặp Phật trước tiên. Rồi nhân đó, Ngài kết giới.

Thập tụng và Căn bản kể như trong điều 19.

Ngũ phần, cả điều này và điều 19 được nhập chung làm một, luôn cả chánh văn và duyên khởi.

+ Bản chất điều này và điều 19 như nhau, chỉ khác là ở đây chủ yếu uống, còn trong điều 19 chủ yếu dùng để trộn bùn hay rưới lên cây cỏ.

Chánh văn Tứ phần trong điều 62 này mặc dù nói là ẩm dụng: uống và dùng, nhưng chú trọng sự uống. Dùng trong đây là các việc như rửa tay, rửa chân, đun nấu v.v... như đã nói trong điều 19.

+ Biết, yếu tố này cũng như trong điều 19, tức nhìn bằng con mắt tức thì thấy liền, hoặc sau khi lược rồi mới thấy. Ở đấy, Tăng kỳ còn thêm một số chi tiết. Sự thấy con mắt này lấy mắt thịt của loài người mà nói, chứ không áp dụng cho thiên nhãn. Hữu bộ sớ 8 kể rằng, tôn giả Xá Lợi Phất dùng thiên nhãn để quan sát trong khi uống, vì vậy không thể uống được vì bao giờ cũng thấy có trùng. Do đó, Phật dạy, không nên khởi thiên nhãn để quan sát.

Để chấp hành điều luật, luật quy định các Tỳ kheo mỗi khi đi đâu, ngoài ba y, bình bát, tọa cụ, phải mang theo đãy lọc nước. Trong trường hợp không có đãy lọc nước, gặp lúc cần dùng mà nước lại được biét là có trùng, có thể lấy vạt áo mà lược.

Các ý nghĩa còn khác, xem điều 19 ở trên.

ĐIỀU 63. Cố não tha nghi hối(Cố ý khiến Tỳ kheo khác nghi hối).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào cố ý gieo nghi ngờ cho Tỳ kheo khác, dù chỉ khiếùn cho không được yên tâm trong chốc lát, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, Tứ phần, gồm hai lần kết. Về chánh kết, do nhóm sáu Tỳ kheo cố tình gieo rắc nghi ngờ và hoang mang cho nhóm 17 Tỳ kheo niên thiếu, khi họ hỏi các vị này về tứ thiền, bát định, v.v..., các vị này nói: đó là pháp thượng nhân, các ngươi hỏi như vậy tức tự cho là mình đã chứng đắc; các ngươi phạm ba la di. Các Tỳ kheo niên thiếu do trình độ hiểu biết còn nông cạn, nên nghe thấy lấy làm sợ sệt, hoang mang, bèn tìm các vị khác để hỏi. Các vị ấy biết nhóm sáu Tỳ kheo muốn phá chơi, bèn đến bạch Phật. Phật kết giới. Sau khi kết giới, một số Tỳ kheo quả có nói những điều làm người khác hoang mang, lo sợ, nhưng không có chủ tâm như vậy. Họ không rõ mình có phạm điều luật Phật cấm hay không, bèn đến bạch Phật. Phật bổ túc giới văn, thêm yếu tố: cố ý... dù chỉ khiến cho không an tâm trong chốc lát.

Các bộ khác cũng tường thuật sự chọc phá của nhóm sáu Tỳ kheo đối với các Tỳ kheo niên thiếu ấy, nhưng nội dung gồm các việc thọ giới không như pháp nên không phải là Tỳ kheo.

+ Nghi hối, nghi ngờ và hoang mang. Thập tụng nêu sáu đề tài gây người khác nghi ngờ và hoang mang: 1. Sanh, tuổi sanh hay năm sanh; cố tình phân tích ngày tháng sanh để kết luận: thiếu tuổi thọ Cụ túc; như vậy, thọ Cụ túc không như pháp, không thành Tỳ kheo, phải thọ lại, v.v... 2. Thọ cụ: cố phân tích các yếu tố căn bản thọ cụ để kết luận, hoặc yết ma không thành tựu, hoặc giới sư không thanh tịnh, Hòa thượng không như pháp, Tăng không hòa hiệp, v.v..., như vậy, không thành thọ cụ phải thọ lại. 3. Phạm: phân tích hành vi Tỳ kheo khác, quanh co cho tới kết luận, như vậy phạm tăng già bà thi sa, ba dật đề, đột kiết la, v.v... 4. Vấn: hỏi Tỳ kheo khác đi đâu, làm gì, rồi phân tích quanh co và kết luận: như vậy, không phải sa môn Thích tử, v.v... 5. Vật: ba y, bình bát, phi thời dược, thất nhật dược, v.v..., cố phân tích cho Tỳ kheo kia tưởng là phạm hoặc ni tát kỳ, hoặc ba dật đề, v.v... 6. Pháp: thí dụ Tỳ kheo đã thọ ca thi na, được phép biệt chúng thức, nhưng lý luận phân tích như thế này như thế kia là vẫn phạm ba dật đề, khiến Tỳ kheo ấy tưởng mình phạm thật, sinh nghi ngờ và hoang mang.

Căn bản nêu hai đề tài tổng quát, nhưng nội dung vẫn như Thập tụng, nghĩa là vẫn khiến Tỳ kheo khác hoang mang đối với tư cách Tỳ kheo hay các sự phạm giới của mình. Hai đề tài chung này là vấn biệt sự, hỏi những sự việc riêng như ngày tháng sanh, nơi sanh, và cũng đi đến kết luận: như vậy chưa đủ điều kiện thọ Cụ túc; thọ cụ bất thành, và vấn luật tương ưng, hỏi những điều liên hệ luật, như hỏi thọ Cụ túc do ai làm Hòa thượng, giới trường tại dâu, và cố tình kết luận: thọ cụ bất thành.

Ngũ phần, có 4 đề tài: 1. Sanh xứ nghi, khiến hoang mang về nơi sanh của mình; 2. Thọ giới nghi, và 3. Phạm giới nghi; như Thập tụng trên; 4. Y nghi, nghi ngờ về y, như điều mà Thập tụng gọi là vật.

Tăng kỳ 7, đề tài gây hoang mang: 1. Sanh, tức đủ tuổi để thọ Cụ túc. 2. Yết ma, chỉ yết ma thọ Cụ túc, tức gây nghi ngờ về sự thọ cụ không như pháp. 3. Hình tướng, nêu hình tướng của một Tỳ kheo rồi phân tích, theo luật, tướng như vậy không được thọ cụ; dù có thọ cũng bất thành. 4. Bịnh, nêu chứng bịnh để phân tích là theo luật không được phép thọ cụ. 5. Tội: nêu các hành vi trước khi Tỳ kheo đó chưa thọ cụ, và phân tích hành vi ấy là ba la di, là tăng già bà thi sa, v.v... Phật chế, không được thọ cụ. 6. Mạ lỵ: phân tích rằng trong khi thọ cụ, người nói như vậy tức là mạ lỵ; thọ giới không đắc giới. 7. Kết sử: xuyên tạc rằng, người có kết sử như vậy Phật không cho thọ cụ, nay ngươi có kết sử như vậy, thọ cụ bất thành.

Tứ phần, có 6 đề tài: 1. Sanh thời, khiến nghi ngờ về ngày tháng sanh. 2. Niên tuế, nghi ngờ về tuổi tác. Hai đề tài này, trong giải thích của Tứ phần, chỉ nêu là nghi ngờ hoang mang một cách tổng quát, không đề cập sự liên hệ đối với việc thọ giới như Thập tụng và Tăng kỳ. Ba đề tài tiếp theo, 3. Thọ giới, 4. Yết ma, 5. Phạm, được giải thích như Thập tụng. Sau hết, 6. Pháp, điều này được kể trong duyên khởi, tức những nghi ngờ liên hệ tứ thiền, bát chánh đạo, v.v...

+ Qua các dẫn chứng trên, bản chất của điều học này là gây nghi ngờ, hoang mang cho Tỳ kheo khác liên hệ đến sự thọ giới và trì giới. Mặc dù trong văn giải của Tứ phần, hai đề tài 1 và 2 có vẻ như là những nghi ngờ hoang mang thông thường, nhưng xét bản ý của điều chế, nên hiểu trong liên hệ văn mạch với các đề tài sau.

+ Về phạm tướng, các bộ nói, nếu người nghe quả thật có hoang mang và nghi ngờ, ba dật đề; nếu không ảnh hưởng gì, đột kiết la. Nhưng Tăng kỳ phân tích khác: dù người nghe có bị ảnh hưởng hay không, nghĩa là hoang mang hay khôn ghoang mang, người cố tình gây thảy phạm ba dật đề. Bộ này cũng nói kỹ thêm: trước hay trong khi truyền thọ Cụ túc, Tỳ kheo nào biết rõ trong đó có yếu tố bất thành, bấy giờ không nói, đột kiết la. Sau khi Tăng đã tác pháp xong, nói lại với cố ý khiến người khác hoang mang: ba dật đề.

+ Bản chất của điều luật này như vậy có mục đích ngăn cản sự tố giác bừa bãi của các Tỳ kheo. Sự tố giác hay buộc tội như vậy sẽ tạo tình trạng bất ổn trong đời sống của Tăng; các Tỳ kheo nhiệt thành nhưng thiếu hiểu biết sâu sắc sẽ rất dễ bị ảnh hưởng bởi những kết tội xuyên tạc, và do đó lúc nào cũng có mặc cảm mình phạm tội, và điều này trở ngại cho sự tiến bộ không ít của vị ấy trong những nỗ lực tu tập và học hỏi Thánh đạo.

ĐIỀU 64. Phú tàng tha thô tội(Che giấu tội thô ác của Tỳ kheo khác).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào biết rõ Tỳ kheo khác phạm tội thô ác mà phú tàng, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Có hai trường hợp phạm phú tàng của một Tỳ kheo. Nếu tự che giấu tội lỗi của mình, bát kỳ tội nặng nhẹ, ngoài tội căn bản ấy ra, còn phạm thêm tội đột kiết la. Tự che giấu qua một đêm là một đột kiết la. Chỉ riêng đột kiết la của phú tàng về tăng già bà thi sa có thể thức trị phạt riêng, nhưng ngoài thể thức đó ra, còn phải sám đột kiết la như phú tàng các thiên khác.

Trong điều học này, là phú tàng hay che giấu thô tội, hay tội thô ác của Tỳ kheo khác. Tội thô ác ở đây thuộc hai thiên, ba la di và tăng già bà thi sa. Che giấu tội thuộc các thiên khác, đột kiết la.

Tất cả các tội thuộc phú tàng đều mang tính chất thời gian. Trong chánh văn của Tăng kỳ và Thập tụng có nêu rõ: phú tàng nhẫn đến một đêm. Tứ phần, cũng như các bộ khác, không nói như vậy trong chánh văn, nhưng trong phần giải thích, thảy đều có phân tích rõ. Tứ phần nói: biết lúc tiểu thực, sau ngọ thực mới nói: đột kiết la. Biết vào lúc sau ngọ thực, đến đầu hôm mới nói: đột kiết la. Biết vào lúc đầu hôm, vào lúc giữa đêm, cũng vậy. Thời gian trong đây phân chia theo ngày và đêm gồm tất cả sáu thời phần. Biết trong thời gian này, để sang thời phần khác mới nói, phạm đột kiết la. Nhưng dù bất cứ thời phần nào, hết một ngày, tức khi mà minh tướng xuất hiện, vì đã thời phần của ngày khác, bấy giờ thành tội ba dật đê.

+ Biết rõ, đây là yếu tố rất quan trọng của điều học này. Về duyên khởi, theo Tứ phần, giới này được kết hai lần. Yếu tố biết rõ được thêm vào lần kết thứ hai để xác định bản chất của sự phú tàng.

Biết rõ, tức là biết có căn cứ của sự thấy, nghe và nghi. Cử tội một Tỳ kheo mà thiếu một trong ba căn cứ này, nếu sự cử tội nhằm đến thiên ba la di, người cử phạm tăng già bà thi sa, như đã thấy trong hai điều 8 và 9 trong chương II ở trên. Sự cử tội không căn cứ liên hệ thiên tăng già bà thi sa, phạm ba dật đề, điều 80 ở sau. Tỳ kheo cử tội phải nêu rõ tội danh và tội chủng, nếu không như vậy, không thành cử. Trường hợp của hai pháp bất định là trường hợp đặc bieệt.

+ Về đối tượng được bao che, chánh văn các bộ dã nêu rõ: Tỳ kheo khác. Tăng kỳ phân tích rõ thêm: nếu phú tàng tội thô ác của Tỳ kheo ni, phạm thâu lan giá; thô tội của các chúng khác: đột kiết la.

+ Duyên khởi, theo Tứ phần, như đã nói, gồm hai nguyên nhân cho hai lần kết giới. Lần đầu, Bạt Nan Đà và một Tỳ kheo khác giao tình thâm hậu. Tỳ kheo này biết những thô tội của Bạt Nan Đà, nhưng vì là chỗ chí thân nên không cử tội. Về sau, hai người bất mãn, Tỳ kheo này mới tố giác. Sự vụ được biết là xỷ ra đã lâu, nhưng Tỳ kheo ấy bây giờ do oán hận mới cử tội. Tỳ kheo ấy bị khiển trách, và Phật kết giới. Sau khi Phật kết giới, một số Tỳ kheo biết được hành vi phi pháp của Tỳ kheo khác, nhưng không dứt khoát là tội gì, vì không xác định đủ yếu tố để kết luận là thô tội. Trong trạng thái lưỡng lự ấy, các vị này nghi mình có thể phạm tội phú tàng, bèn bạch Phật. Phật bổ túc giới văn, thêm yếu tố biết rõ như đã nói.

ĐIỀU 65. Dữ vị mãn nhị thập thọ cụ(Cho người chưa đủ hai mươi tuổi thọ Cụ túc).

A. CHÁNH VĂN:

Người đã đủ hai mươi tuổi nên cho thọ đại giới. Tỳ kheo nào biết người chưa đủ hai mươi tuổi mà cho thọ đại giới, ba dật đề. Người ấy không đắc giới; các Tỳ kheo kia đáng khiển trách, vì là si.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, tường thuật tổng hợp: Nhóm 17 Tỳ kheo, nguyên là thiếu niên, có người mới 12 tuổi. Tỳ kheo cho thọ giới Cụ túc. Ban đêm, đói, các vị thiếu niên này đòi ăn và khóc lóc. Phật nghe tiếng con nít khóc, hỏi các Tỳ kheo. Rồi Ngài khiển trách: Người chưa đủ tuổi hai mươi, không kham nổi mưa nắng, muỗi mòng, đói káht, không đủ ý thức để nhẫn chịu những hành vi hay ngôn ngữ của người khác; vì thế, không nên cho thọ Cụ túc.

+ Tuổi đủ hai mươi, có bốn cách tính được áp dụng.

1) Lấy mùa mưa làm chuẩn. Người sinh mùa đông, đến tháng đông, tuy đủ hai mươi tuổi, nhưng chưa qua mùa mưa; cụ thể là chưa qua ngày tự tứ, không được gọi là đủ hai mươi. Đây là cách tính riêng biệt của Tăng kỳ, không thấy nói trong các bộ khác.

2) Lấy năm làm chuẩn. Một năm gồm 12 tháng hoặc 13 tháng. Đủ hai mươi chu kỳ như vậy gọi là tuổi đủ hai mươi. Đây là cách tính chung của nhiều bộ, trừ Tăng kỳ không áp dụng.

3) Lấy tháng làm chuẩn. Cứ 12 tháng kể là một năm, bất kể năm nhuận hay không nhuận. Trong trường hợp này, cố nhiên người chưa đủ hai mươi tuổi cũng được gọi đủ hai mươi.

4) Tính luôn cả ngày đầu tiên, thọ thai. Cách này cũng lấy tháng làm chuẩn, và người tuy chưa đủ hai mươi tuổi nhưng cũng được kể là đã đủ hai mươi.

Hai cách tính sau, tất cả các bộ, trừ Tăng kỳ, nhưng chỉ trong trường hợp đặc biệt. Trường hợp đặc biệt ở đây, theo Ngũ phần, dành cho những người có tư cách đặc biệt. Trong duyên khởi, bộ này kể, đồng tử Ca Diếp thọ Cụ túc khi chưa đủ hai mươi. Sau khi Phật chế giới, bèn nghi ngờ sự đắc giới của mình, đến bạch Phật. Phật hỏi các Tỳ kheo: Đồng tử ấy như thế nào? Các Tỳ kheo đáp: Đã đắc quả Tu đà hoàn. Phật nói: Người như vậy được gọi là đệ nhất thọ Cụ túc, nhưng như thế chưa đủ để gọi là thọ giới như pháp do bạch tứ yết ma. Và nhân đó, Phật tùy khai, cho tính luôn cả tuổi trong thai, và nếu vẫn chưa đủ, cho tính luôn cả tháng nhuận.

Tứ phần và Căn bản đều nêu sự áp dụng cách tính gồm tháng trong thai và tháng nhuận này là do trường hợp sau khi đã thọ rồi, cha mẹ hay những người thân thuộc của người thọ giới mới cho hay là chưa đủ tuổi. Vì vậy, phải áp dụng cách tính đặc biệt như vậy để thừa nhận tính cách như pháp.

Tứ phần chỉ dừng lại ở đây, đối với trường hợp vừa kể. Nhưng Căn bản còn dẫn giải thêm. Nếu đã tính như vậy mà vẫn chưa đủ, bắt người ấy phải trở lại làm Sa di, chơ fđủ rồi thọ trở lại. Nhưng nếu sự phát hiện này xảy ra trong lúc người ấy đã đủ tuổi hai mươi, mặc dù lúc thọ chưa đủ, thì vẫn coi là đắc giới.

+ Về phạm tướng, trong luật đã nêu rõ yếu tố căn bản là biết. Sự biết này có hai nguồn gốc chính: do giới tử xác nhận hoặc cha mẹ, thân quyến của giới tử nói. Nguồn gốc bổ sung khác, khi giới tử cũng như thân quyến đều nghi ngờ, không thể xác định, có thể căn cứ sự phát triển của thể chất và tâm lý mà xác định.

Nhưng vì sự truyền thọ Cụ túc phải với túc số Tăng hoặc mười hoặc năm, và do đó phát sinh trách nhiệm trong việc truyền thọ không như pháp không giống nhau giữa các Tỳ kheo. Trong chánh văn đã nêu rõ ba phạm vi trách nhiệm: Hòa thượng, các Tỳ kheo khác, và giới tử. Riêng điểm các Tỳ kheo khác, trong phân tích của Thập tụng và Căn bản bao gồm hai phạm vi: các Tỳ kheo giới sư, ngoại trừ Hòa thượng; và các Tỳ kheo sống chung, thọ dụng chung với người không đắc giới. Sau hết, là trách nhiệm của chính giới tử. Như vậy, tổng quát, có bốn phạm vi trách nhiệm. Tuy nhiên, trong giải thích của Tứ phần, chỉ có hai phạm vi được nêu là Hòa thượng và chúng Tăng, tức các giới sư.

Dù phạm vi trách nhiệm có được phân tích là hai, ba hay bốn, tất cả đều dựa trên một yếu tố chung, đó là sự biết. Trong ba nguồn gốc của sự biết đã kể, Thập tụng và Căn bản chỉ căn cứ trên nguồn gốc giới tử, tức giới tử tự trả lời khi Tăng hỏi già nạn. Tứ phần dựa cả ba. Các bộ còn lại, không phân tích rõ.

Phân tích của Căn bản như sau:

1) Thật tế chưa đủ, và giới tử tự biết rõ chưa đủ, nhưng khi được các Tỳ kheo hỏi thì tự xác nhận là đủ. Nếu vẫn cứ truyền, Hòa thượng: ba dật đề; giới sư và các Tỳ kheo sống chung với người đó: đột kiết la. Riêng giới tử, không đắc giới, và được gọi là tặc trú. Trong đây, căn cứ thái độ trả lời của giới tử, Căn bản phân tích thành hai trường hợp: hoặc trả lời bình thường: “Đã đủ”. Hoặc trả lời quả quyết: “Tôi tự nhớ, tự biết, không nghi ngờ, là đã đủ hai mươi”.

2) Thực tế không đủ, nhưng giới tử tưởng là đủ, và khi được hỏi thì trả lời: “Đã đủ”. Giới tử đắc giới, các Tỳ kheo không ai phạm gì cả. Trong đây, cũng dựa trên thái độ trả lời của giới tử mà phân tích thành hai.

3) Thực tế chưa đủ, nhưng không biết rõ, cũng không nghi ngờ, mà các Tỳ kheo không hỏi, hoặc được hỏi nhưng trả lời không dứt khoát. Giới tử đắc giới. Nhưng Hòa thượng và giới sư, phạm như trường hợp một. Các Tỳ kheo cọng trú, không phạm.

4) Thực tế đủ hai mươi, nhưng tưởng là chưa đủ, và khi được hỏi cũng trả lời chưa đủ. Nếu truyền, Hòa thượng phạm ba dật đề; các giới sư khác: đột kiết la. Các Tỳ kheo cọng trú, không phạm. Và giới tử đắc giới. Trong đây cũng được phân tích thành hai trường hợp do thái độ trả lời như trên.

5) Thực tế đủ, nhưng giới tử không tự biết, cũng không nghi ngờ gì, mà các Tỳ kheo lại không hỏi, hoặc có hỏi nhưng trả lời không dứt khoát. Giới tử đắc giới. Hòa thượng và giới sư phạm như trên. Các Tỳ kheo cọng trú, không phạm.

6) Thực tế đủ hai mươi, tự biết đủ hai mươi, khi được hỏi cũng trả lời rõ ràng đã đủ. Trong trường hợp này, không có ai phạm gì cả, và giới tử đương nhiên đắc giới.

Về phân tích của Tứ phần, không căn cứ lời tuyên bố của giới tử, mà căn cứ sự hiểu biết của chính Hòa thượng và các giới sư, theo các nguồn gốc mà các vị tự thu thập được. Sự hiểu biết ở đây bao gồm bốn tính cách: thực tế chưa đủ, biết rõ chưa đủ, tưởng là đủ, nghi ngờ đã đủ, và hoàn toàn không biết. Trong bốn tính cách, bất kể thái độ hay nội dung trả lời của giới tử, bất kể Tăng hỏi hay không hỏi, trừ trường hợp chưa đủ nhưng tưởng là đủ, ba tính cách còn lại, nếu vẫn truyền, Hòa thượng phạm ba dật đề, các giới sư khác, đột kiết la. Mỗi vị tự chịu trách nhiệm riêng về sự hiểu biết của mình. Do đó, cùng một lần truyền, có thể Hòa thượng phạm hay không phạm, và trong khi đó các giới sư khác đồng thời có người phạm, có người không phạm.

Hình thái vi phạm được phân tích như sau:

- Một lần tác bạch và ba lần yết ma xong: Hòa thượng phạm 1 ba dật đề, 3 đột kiết la.

- Một lần tác bạch và hai lần yết ma xong: Hòa thượng ba tội đột kiết la.

- Một lần bạch và một lần yết ma xong: Hòa thượng hai tội đột kiết la.

- Một lần tác, xong hay chưa xong, gồm tất cả các giai đoạn về trước, kể từ khi có ý định và đã chuẩn bị thực hiện ý định cho thọ: tất cả đều đột kiết la.

Về sự đắc hay không đắc của giới tử, chánh văn chỉ nêu tổng quát, và Tứ phần không có giải thích. Vấn đề này có thể tham chiếu Căn bản như đã dẫn trên.

+ Vì là si, các bộ khác đều không có câu này. Văn mạch Hán ở đây có tính cách lập lờ; nó có thể nói, Hòa thượng vì si nên phạm ba dật đề; cũng có thể nói, các Tỳ kheo khác vì si nên phạm đột kiết la; và cũng có thể nói, người kia vì si nên không đắc giới; và nó cũng có thể chỉ chung cho cả ba hoặc hai trường hợp phi pháp khác.

Vì câu văn không có trong các bộ khác, không thể có căn cứ văn bản để giải thích chính xác, ở đây tạm thời đề nghị ba giải thích khác nhau:

a. Si, chỉ cho sự không thông hiểu luật. Giải thích này hoàn toàn không thể chấp nhận. Bản chất của điều luật này là biết tuổi. Tỳ kheo nếu không thông luật mà làm Hòa thượng truyền giới, không thuộc phạm vi trong đây.

b. Si, chỉ sự không biết rõ tuổi của người thọ giới. Giải thích này cũng không thể chấp nhận. Phân tích của Tứ phần đã nêu rõ: nếu biết chưa đủ, hoặc nghi chưa đủ mới phạm; còn hoàn toàn không biết thì không phạm. Do đó, yếu tố biết được thêm trong lần kết giới thứ hai.

c. Đồng nghĩa với nghi, tức nghi ngờ giới tử chưa đủ tuổi hai mươi. Đây là yếu tố phụ thuộc sự hiểu biết để Hòa thượng phạm ba dật đề và các Tỳ kheo khác phạm đột kiết la. Yếu tố này không áp dụng cho sự không đắc giới của giới tử.

d. Si, đồng nghĩa với con nít. Trong tiếng Phạn, si hoặc con nít đều được gọi chung một từ; tùy văn mạch mà hiểu ý nghĩa nào cần chọn. Nếu giải thích này được chấp nhận, trong đây thay vì trả lời: vì là si, có thể nói, vì là con nít, nghĩa là còn ấu trĩ, chưa đến tuổi trưởng thành tức tuổi hai mươi. Với nghĩa này, nó chỉ sự không đắc giới của giới tử. Vì mặc dù được tác pháp bạch tứ yết ma như pháp, Hòa thượng như pháp, Tăng hòa hiệp như pháp, và giới trường cũng như pháp, nhưng bản thể của người thọ chưa phát triển đến trình độ để giới thể phát sanh, do đó không thể đắc giới. Nhưng sự trưởng thành này không nhất thiết phải là yếu tố thời gian, mà còn có thể xét về sự phát triển của thể chất, hoặc khả năng trí tuệ. Điều này có thể giải thích lý do cho phép căn cứ sự trưởng thành về thể chất đến xác định tuổi như trong trường hợp nghi ngờ về tuổi; hoặc cho phép tính sụt tháng trong trường hợp những người có tư chất đặc biệt.

Nói tóm, với ý nghĩa vì là ấu trĩ, câu này áp dụng luôn cho cả ba phạm vi trách nhiệm trong việc truyền thọ Cụ túc này. Hòa thượng, vì biết rõ người còn ấu trĩ mà truyền nên phạm ba dật đề. Các Tỳ kheo khác, cũng biết rõ như vậy, nên phạm đột kiết la. Giới tử, vì tự bản chất là ấu trĩ, nên không đắc giới.

ĐIỀU 66. Phát cử dĩ đoánsự( Khơi lại việc đã được giải quyết).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, biết rõ tránh sự đã như pháp diệt về sau còn khơi trở lại, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

Tránh sự, cơ bản hay đề tài tranh chấp hay tranh luận giữa Tăng. Có bốn tránh sự như vậy: bình luận tránh sự, phi ngôn tránh sự, phạm tội tránh sự và tác sự tránh sự. Ý nghĩa bốn tránh sự này, cũng như sự giải quyết được gọi là như pháp sẽ nói rõ trong chương Diệt tránh sau. Trong đây, với bốn tránh sự này, Căn bản và Thập tụng phân tích thành 16 trường hợp ba dật đề. Tức với bình luận tránh sự có 4 trường hợp: có ý tưởng đó là bình luận tránh sự, có ý tưởng đó là phi ngôn, có ý tưởng đó là phạm tội hay có ý tưởng đó là tác sự. Với ba tránh sự còn lại cũng vậy. Mỗi một trường hợp đều có hai phạm tướng: biết và nghi, đối với sự giải quyết như pháp hay không như pháp. Với chánh sự đã giải quyết như pháp, biết hay nghi, nếu khiến phát khởi trở lại, thảy đều ba dật đề. Với tránh sự không được giải quyết như pháp, mà có ý tưởng là như pháp hoặc nghi, khơi dậy trở lại, đột kiết la.

+ Duyên khởi trong các bộ không có gì đặc biệt ngoài việc thực tế hóa nội dung chánh văn: Phật tại Xá Vệ, nhóm sáu Tỳ kheo ưa chuyện tranh chấp, đối với các tránh sự đã được Tăng giải quyết như pháp, bèn cố phân tích để kết luận là tránh sự chưa được giải quyết, Tăng phải họp để giải quyết. Nhưng trong đây, Tứ phần kể giới này được kết hai lần. Lần thứ hai thêm yếu tố biết; Ngũ phần, kết ba lần: lần thứ hai thêm yếu tố biết, lần thứ ba thêm yếu tố như pháp cho việc giải quyết của Tăng. Chánh văn Tăng kỳ phần cuối khác các bộ: khơi dậy trở lại, nói rằng: “Yết ma ấy chưa xong, cần tác pháp trở lại”. Chỉ với mục đích ấy chứ không gì khác, ba dật đề.

ĐIỀU 67. Dữ tặc đồng hành(Đi chung đường với giặc cướp).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào biết đó là giặc cướp mà giao hẹn và cùng đi chung một đường, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, Tứ phần, giới này có ba lần kết. Lần thứ nhất, một số các Tỳ kheo đi chung với bọn buôn lậu, bị quan thuế bắt. Phật kết giới: không được đi chung với giặc cướp. Lần thứ hai, các Tỳ kheo khi cùng đi chưa biết là giặc hoặc nửa chừng biết, bèn tách riêng, bị giặc cướp đánh đập. Do các trường hợp như vậy, Phật thêm yếu tố: biết đó là giặc cướp. Sau cùng, các Tỳ kheo tình cờ đi chung đường, nghi ngờ không rõ mình có phạm không. Phật kết thêm: giao hẹn.

+ Giặc cướp, ý nghĩa căn bản chung là chỉ các hạng cướp giựt. Tăng kỳ và Thập tụng chỉ đề cập nghĩa này. Duyên khởi trong hai bộ này là các Tỳ kheo đi lạc đường nên tháp tùng bọn cướp, bị quân lính tuần tra chặn bắt. Ngũ phần, ngoài ý nghĩa căn bản, còn kể bao gồm cả bọn gián điệp. Duyên khởi nói: Xá Vệ và Tỳ Da Ly gây chiến tranh với nhau; người nước này qua cướp bóc người nước khác. Một nhóm Tỳ kheo đi chung đường với bọn cướp từ Tỳ Da Ly về Xá Vệ, bị quân lính Xá Vệ bắt được, cho rằng địch gián điệp trá hình làm Tỳ kheo. Căn bản và Tứ phần giống nhau, như đã thấy trong duyên khởi của Tứ phần.

+ Giao hẹn và đi chung đường, các ý nghĩa này đều hoàn toàn giống như các điều 27, hẹn đi chung với ni và điều 30, hẹn đi chung với người nữ, đã giải thích ở trên.

ĐIỀU 68. Bất xả ác kiến(Không bỏ ác kiến).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào nói như vầy: “Theo sự hiểu biết của tôi về pháp mà Phật giảng dạy, sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo”. Các Tỳ kheo nên can gián Tỳ kheo này rằng: “Đại đức, chớ nói như vậy. Chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt. Thế Tôn không nói như vậy, mà Thế Tôn bằng vô số phương tiện nói rằng sự hành dâm dục là pháp chướng đạo”. Khi Tỳ kheo này được các Tỳ kheo can gián như vậy mà kiên trì không bỏ, các Tỳ kheo nên can gián ba lần cho bỏ sự ấy. Cho đến ba lần can gián, bỏ thì tốt; nếu không bỏ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi của điều học này, đồng nhất trong các bộ, là do Tỳ kheo A Lê Tra phát khởi ác kiến liên hệ đến pháp được gọi là chướng đạo. Sự việc này được đề cập chi tiết trong Trung A hàm, mà các bộ chỉ lặp lại, và ấn định thêm các hình thức xử trị theo luật.

+ Sự hành dâm dục, văn dịch của Tứ phần nói rõ như vậy. Các bộ khác chỉ gọi tổng quát là dục. Định nghĩa của Ngũ phần và Tăng kỳ: ở đây chỉ ngũ dục, tức dục lạc được hưởng thụ phát sinh từ năm căn và năm cảnh. Trong tiếng Phạn, dục của ngũ dục cũng hàm nghĩa dâm dục; khi dịch, tùy văn mạch mà hiểu. Tứ phần giới hạn dục này chỉ trong phạm vi dâm dục, tức dục phát khởi từ xúc, một trong năm dục; và giới hạn hơn nữa, vì dâm dục chỉ xúc trong trường hợp ái nhiễm trầm trọng.

+ Chướng đạo pháp, pháp cản trở sự chứng đắc các đạo quả vô lậu. Nhưng giải thích các bộ còn đi xa hơn: chướng ngại kể các hữu lậu thiền như tứ thiền, bát định.

Trong Căn bản, khác với các bộ khác, ác kiến của A Lê Tra chủ yếu đối với các pháp chướng đạo chứ không giới hạn dục là pháp chướng đạo. Theo giải thích của bộ này, ác kiến của A Lê Tra nói rằng: các pháp chướng đạo, dù có tập hành thường xuyên cũng chẳng chướng ngại gì. Các pháp chướng đạo này được nêu rõ là các thiên của Giới bổn Tỳ kheo: ba la di, tăng già bà thi sa, ba dật đề, ba la đề đề xá ni.

+ Các Tỳ kheo nên can gián, đây là yếu tố căn bản xác định phạm tướng. Thể thức can gián cũng như đối với Tỳ kheo phá hòa hiệp Tăng, điều 10 tăng già bà thi sa. Sự can gián chia làm ba giai đoạn. Thứ nhất, cá nhân: một Tỳ kheo can riêng. Kế đó, đa số, từ hai đến ba Tỳ kheo can. Cuối cùng: Tăng can gián, bạch tứ yết ma. Tứ phần chỉ nêu thể thức gồm một giai đoạn là Tăng bạch tứ yết ma; trong khi các bộ còn lại đều nêu cả ba giai đoạn. Tứ phần không nêu văn bạch yết ma. Những điều này có thể tham chiếu các điều 10 cho đến 13 trong chương Tăng già bà thi sa. Chỉ đổi nội dung cần thiết.

+ Phạm tướng. Vì Tứ phần chỉ nêu thể thức can gián của Tăng, cho nên bộ này chỉ căn cứ trên yết ma thành tựu mà luận tội. Nếu đã một lần bạch và ba lần yết ma thành tựu, Tỳ kheo ấy phạm một ba dật đề và ba đột kiết la. Nhưng trong các bộ khác, vì sự can gián diễn ra ba giai đoạn, cho nên khi bạch tứ yết ma thành tựu, Tỳ kheo ấy phạm một ba dật đề và cộng thêm sáu tội đột kiết la nữa. Tức là: khởi ác kiến, tuyên bố ác kiến: 1 đột kiết la. Được khuyên can riêng, không bỏ: 2 tội đột kiết la. Được đa số khuyên không bỏ: 3 tội đột kiết la. Tăng đã tác bạch: 4 tội đột kiết la. Yết ma lần thứ nhất: 5 tội, và yết ma lần thứ hai: 6 đột kiết la. Yết ma lần thứ ba xong: cộng tất cả 6 đột kiết la và 1 ba dật đề. Khi cần sám, phải sám tất cả. Cách phân tích này cũng đã được đề cập trong các điều 10-13 chương Tăng già bà thi sa.

+ Sau hết, khi Tăng đã bạch tứ yết ma can gián, Tỳ kheo ấy vẫn ngoan cố không bỏ, không nhận tội để sám ba dật đề, Tăng phải có biện pháp xử trị thái độ ngoan cố ấy. Tứ phần hoàn toàn không nói đến biện pháp này ở đây, nhưng nói trong điều 69 kế tiếp. Nó được đề cập trong các bộ còn lại thuộc điều kiện này. Biện pháp này, Căn bản gọi là yết ma xả trí; Thập tụng gọi là yết ma tẩn người ác kiến; Tăng kỳ gọi là yết ma cử hay tác cử. Đây là các cách dịch khác nhau của cùng một từ tiếng Phạn. Nghĩa chung của nó như vậy là bị gạt sang một bên. Dịch là cử: đưa lên, hay trí: để xuống, đều hàm một nghĩa dẹp sang chỗ khác, hoặc bỏ mặc đấy. Văn bạch mẫu dưới đây tổng hợp nội dung chung của các bộ:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Tỳ kheo mỗ giáp đã phát khởi ác tà kiến như vầy: “Theo sự hiểu biết của tôi về pháp mà Phật giảng dạy, dục không phải là pháp chướng đạo”. Các Tỳ kheo đã tác pháp can gián cho bỏ ác tà kiến ấy. Nhưng Tỳ kheo mỗ giáp vẫn kiên trì không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay tác pháp xả trí đối với Tỳ kheo mỗ giáp vì sự kiên trì không xả bỏ ác tà kiến ấy. Đây là lời tác bạch.

Tiếp theo, ba lần yết ma, chuẩn theo văn tác bạch.

Yết ma này có hiệu lực chế tài cho đến khi nào Tỳ kheo ấy tuyên bố xả bỏ tà kiến, chấp nhận sám các tội liên hệ, Tăng sẽ tác pháp giải. Các bộ không ghi văn yết ma giải.

Về sự hiện diện của Tỳ kheo này giữa Tăng, cũng như mối quan hệ của Tỳ kheo bị xả trí này với các Tỳ kheo khác trong Tăng, được quy định trong điều luật tiếp theo sau đây.

ĐIỀU 69. Tùy xả tí nhân(Theo Tỳ kheo bị xả trí).

A.CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào biết người nói lời như thế, chưa tác pháp, tà kiến như vậy chưa bỏ, mà cung cấp các nhu cầu, cùng yết ma, cùng ngủ nghỉ chung, cùng nói chuyện chung, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Chánh văn trên đây cố dịch sát. Văn dịch của Tứ phần trong đây rất tối.

- Lời nói như thế, được chính Tứ phần giải thích là tuyên bố tà kiến liên hệ pháp dâm dục, như trong điều 68 trên.

- Chưa tác pháp, dịch sát văn Hán. Nhưng ở đây cần hiểu rằng, Tỳ kheo ác tà kiến, đã được Tăng tác pháp ác yết ma xả trí nhưng vì chưa bỏ tà kiến ấy nên chưa tác pháp giải.

Để cho ý nghĩa rõ ràng hơn, chánh văn có thể dịch lại như sau:

Tỳ kheo nào biết Tỳ kheo ấy là người bị Tăng xả trí vì không bỏ ác tà kiến, và chưa tác pháp giải, với Tỳ kheo ấy, nếu cung cấp nhu cầu… như trên.

+ Điều luật này, như đã nói, quy định mối quan hệ giữa Tỳ kheo xả trí và các Tỳ kheo khác. Yết ma xả trí là biện pháp cô lập người có ác tà kiến. Sự cô lập này bao gồm bốn phạm vi, như trong chánh văn nêu rõ:

1) Cung cấp nhu cầu, trong đây bao gồm nhu cầu về giáo pháp; tức các Tỳ kheo khác không được chỉ dạy hay thảo luận với Tỳ kheo xả trí về bất cứ điều gì liên hệ Phật pháp; và cũng bao gồm các nhu cầu vật chất như y phục, ẩm thực, thuốc men, tọa ngọa cụ các thứ. Nói chung, các Tỳ kheo khác không được cùng thọ dụng hoặc pháp với tài với người đã bị Tăng xả trí, gạt sang một bên.

2) Cùng yết ma, các bộ khác nói là cọng trú tức sống chung. Từ cọng trú trong Luật tạng, ngoài nghĩa đen là không sống chung, tức cùng sống trong phạm vi một trú xứ, nghĩa áp dụng theo luật của nó là cùng chung các Tăng sự, cùng sinh hoạt với những quyền lợi và bổn phận như nhau. Hay nói rõ như Tứ phần: yết ma chung. Do đó, dù cùng sống trong một trú xứ, nhưng không cùng dự các yết ma như các Tỳ kheo khác không được gọi là cọng trú. Trong các thiên có giới bổn, cả ba thiên: ba la di, tăng già bà thi sa và ba dật đề, thảy đều có trường hợp xử trí bất cọng trú. Phạm ba la di, bất cọng trú được thực hiện bằng yết ma diệt tẩn, tức tác pháp không thừa nhận là Tỳ kheo. Sau đó, dù người ấy có vẫn sống chung trong cùng trú xứ, cũng không gọi là cọng trú. Trong Tăng già bà thi sa, nó là sự hành ba lợi bà sa hay biệt trú. Và trong ba dật đề, là trường hợp xả trí ở đây.

3) Cùng ngủ nghỉ chung, tức các bộ khác nói đồng túc hay đồng thất túc, ngủ chung phòng. Với các chúng khác, Tỳ kheo dù bị xả trí vẫn còn bản thể Tỳ kheo, và vẫn được đối xử như các Tỳ kheo khác. Với chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo bị xả trí tuy vẫn được xác nhận là còn Tỳ kheo tánh, nhưng không được đối xử như các Tỳ kheo khác. Do đó, sự không được ngủ nghỉ chung phòng ở đây cũng giống như ngủ chung phòng với người chưa thọ Cụ túc, được quy định trong điều 5 ở trên. Tuy nhiên, trong điều 5 có tùy khai, cho ngủ không quá hai đêm; còn ở đây không có tùy khai. Ý nghĩa ngủ chung và các ý nghĩa liên hệ, xem giải thích trong điều 5 ấy.

4) Cùng nói năng, cùng trao đổi chuyện trò các thứ.

Nói một cách tổng quát, đối với Tỳ kheo bị Tăng xả trí, Tỳ kheo nào có quan hệ qua bốn sự việc nêu trên, phạm ba dật đề. Tuy vậy, cũng có những trường hợp châm chước. Mỗi bộ nêu những châm chước hoặc đồng hoặc khác, nhưng tựu trung, có những trường hợp như sau:

1) Bịnh, Tỳ kheo xả trí bị bịnh, các Tỳ kheo khác trong trường hợp này phải có phận sự chăm sóc. Người nuôi bịnh ngủ chung phòng, không phạm.

2) Thối chí, vì bị Tăng bỏ rơi, bị cô lập, Tỳ kheo xả trí có thể sanh tâm buồn nản, thối chí, muốn bãi đạo hoàn tục. Các Tỳ kheo có trách nhiệm như Hòa thượng hay A xà lê, hay những vị đồng phạm hạnh trước vốn thân thiết; những người này có thể tìm phương tiện khích lệ; các phương tiện này, có thể dùng bất cứ sự nào trong bốn sự cô lập.

3) Khuyến hóa, các Tỳ kheo nào tự biết có khả năng thuyết phục vị ấy xả bỏ ác tà kiến, thuận theo Tăng mà sám hối để tác pháp giải; các Tỳ kheo ấy có thể dùng bất cứ phương tiện nào trong bốn sự cô lập để thuyết phục.

+ Duyên khởi, Tứ phần, tiếp theo chuyện trên. Tỳ kheo A Lê Tra, sau khi Tăng tác yết ma can gián nhưng ngoan cố không chịu từ bỏ ác tà kiến. Các Tỳ kheo bạch Phật để Ngài chỉ dạy biện pháp xử trị. Phật khiến tác pháp yết ma tác cử tức xả trí, như đã giải thích. Sau khi bị tác cử, nhưng nhóm sáu Tỳ kheo vẫn giao tình, vẫn thọ dụng chung các thứ, nên yết ma xả trí của Tăng không hoàn toàn phát huy hiệu lực xử trị của nó. Các Tỳ kheo bạch Phật và Ngài kết giới. Trong đây, có hai lần kết. Lần thứ hai, thêm yếu tố biết.

Các bộ khác, vì đã kể nguyên nhân của yết ma xả trí trong điều 68 rồi, nên không kể lại ở đây. Chỉ nhấn mạnh ở điểm do sự quan hệ của nhóm sáu Tỳ kheo này mà yết ma xả trí của Tăng không gây tác động gì đến A Lê Tra cả. Do đó, Phật kết giới.

ĐIỀU 70. Nhiếp thọ ác kiến bất xả Sa di(Dung chứa Sa di ác kiến không bỏ).

A. CHÁNH VĂN:

Nếu có Sa di nói như vầy: “Theo sự hiểu biết của tôi về pháp mà Thế Tôn giảng dạy, thì sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo”. Các Tỳ kheo can gián Sa di ấy như vầy: “Ngươi chớ nói như thế. Chớ xuyên tạc Thế Tôn. Xuyên tạc Thế Tôn là điều không tốt. Thế Tôn bằng vô số phương tiện, nói sự hành dâm dục là pháp chướng đạo”. Các Tỳ kheo khi can gián như thế, Sa di ấy vẫn kiên trì không bỏ. Các Tỳ kheo nên can gián ba lần cho bỏ sự ấy. Sau ba lần can gián, bỏ thì tốt; nếu không bỏ, các Tỳ kheo nên nói với Sa di ấy rằng: “Ngươi từ nay trở đi, không được nói rằng Phật là Thế Tôn của tôi. Không được đi theo các Tỳ kheo khác. Các Sa di được phép ngủ chung với Tỳ kheo hai ba đem. Nhưng ngươi nay không có sự ấy. Ngươi hãy đi ra, hãy đi mất, không được sống ở đây”. Tỳ kheo nào biết Sa di ấy đã bị đuổi giữa chúng, mà dụ dỗ đem về nuôi dưỡng, cùng ngủ nghỉ chung, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Nội dung điều này cũng như hai điều 68 và 69 trên, nhưng vì người chủ xướng đây là Sa di, chứ không phải Tỳ kheo, nên việc xử trị khác.

Về duyên khởi, Tứ phần nói đây là ác tà kiến của hai ông Sa di đệ tử của Bạt Nan Đà, một tên là Kiết Na và một tên là Ma Hầu Ca. Việc chủ xướng ác tà kiến, cũng như trường hợp A Lê Tra. Căn bản kể với một nội dung rất có ý nghĩa. Hai Sa di Lợi Thích và Trường Đại, thường sống chung với các Tỳ kheo. Trong số này, có những người bị tình dục bức bách nên có khi rờ rẫm mình mẩy các ông ấy. Một số trong những Tỳ kheo ấy về sau hối hận, tự nỗ lực tu tập và có người được tuyên bố là đã chứng đắc A la hán. Do thế, các Sa di này cho rằng sự hành dâm dục không phải là pháp chướng đạo, bằng chứng các Tỳ kheo mà hai Sa di này biết trước đó có hành vi xấu liên hệ pháp dâm dục. Hai Sa di này nói quan điểm của mình. Được các Tỳ kheo khuyến cáo là ác tà kiến, nhưng các Sa di trưng bằng chứng sai lầm của mình.

+ Sự hành dâm dục, giải thích trong các bộ, cũng như đã nói trong điều 68.

+ Về biện pháp xử trị: Các Tỳ kheo can gián, với thể thức như đã áp dụng cho Tỳ kheo. Các bộ đều giữ nguyên giải thích như điều 68. Riêng việc gọi Sa di ác tà kiến đến trước Tăng để can gián, thể thức áp dụng có khác. Vì Sa di không được dự Tăng yết ma, cho nên gọi đến bảo đứng ngoài giới, trong phạm vi chỉ thấy nhưng không nghe. Trước khi tác bạch, mỗi Tỳ kheo đem ý của Tăng ra nói cho Sa di biết, và báo cho biết rằng, nếu không bỏ ác tà kiến, Tăng sẽ tác bạch. Nếu không bỏ, Tỳ kheo này trở vào báo cho Tăng. Tác bạch xong, cũng ra nhắc cho Sa di biết Tăng đã tác bạch, và nếu kiên trì không bỏ, sẽ tác yết ma ngữ lần thứ nhất. Như vậy, cho đến yết ma ngữ lần thứ ba.

Sự phạm tội của Sa di không phân biệt nặng nhẹ theo các thiên tụ. Do đó, không có yết ma Tăng mà phạm ba dật đề như Tỳ kheo. Sám hối ở đây cũng như sám các tội khác của Sa di: ăn phi thời, cầm giữ tiền bạc v.v… Nếu phân tích tính chất của vấn đề, hiệu lực của yết ma không phải nhắm vào Sa di; nghĩa là không phải như Tỳ kheo trong trường hợp này phải do hiệu lực của Tăng yết ma mới thành tội ba dật đề. Hiệu lực của Tăng yết ma ở đây nhắm vào nội dung ác tà kiến. Cho nên, yết ma ha gián của Tăng ở đây là hình thức phán quyết của Tăng rằng các quan điểm của Sa di ấy là ác tà kiến, không phù hợp với Phật pháp.

Văn bạch yết ma can gián này cũng giống như đã làm đối với Tỳ kheo ác tà kiến, chỉ thay đổi những điểm cần thiết, mà trong chánh văn đã nêu.

Sau yết ma ha gián, nếu là Tỳ kheo mà không bỏ thì Tăng tiếp tục tác yết ma xả trí. Đối với Sa di, Tăng tác yết ma diệt tẩn, nghĩa là đuổi hẳn. Trong chánh văn ghi nội dung phán quyết của Tăng, có câu: “Từ nay trở đi, ngươi không được nói Phật là Thế Tôn của tôi”. Như thế tức là gạt Sa di ấy ra ngoài Phật pháp, không coi là đệ tử Phật, không còn là Sa di nữa. Trong các vi phạm nghiêm trọng khác, như phạm sáu trong mười giới Sa di, Sa di bị đuổi hoàn tục mà không cần có Tăng yết ma, vì Sa di không được kể trong Tăng số, nên trách nhiệm không do Tăng, mà do bổn sư. Ở đây, hiệu lực của yết ma cũng không phải nhắm vào Sa di, mà nhắm vào ác tà kiến. Gạt Sa di ra ngoài Phật pháp, tức gạt bỏ tà kiến ấy ra khỏi Tăng.

Văn bạch yết ma diệt tẩn này như sau, theo Tứ phần:

Đại đức Tăng, xin lắng nghe. Sa di mỗ giáp đã được Tăng tác pháp khiển trách về ác tà kiến mà kiên trì không bỏ. Nếu thời gian thích hợp đối với Tăng, Tăng nay đối với Sa di mỗ giáp này tác pháp diệt tẩn vì không bỏ ác tà kiến, với phán quyết rằng: “Ngươi từ nay trở đi, không được nói rằng Phật là Thế Tôn của tôi… như trong chánh văn… cho đến, hãy đi mất, không được sống ở đây”. Đây là lời tác bạch.

Ba lần yết ma ngữ có nội dung cũng tương tợ. Thể thức tác pháp cũng như đã áp dụng cho yết ma ha gián ở trên.

Sau khi Tăng tác yết ma diệt tẩn vì không bỏ ác tà kiến đối với Sa di, Tỳ kheo nào dung chứa, như chánh văn nêu rõ, phạm ba dật đề. Sự dung chứa bao gồm bốn việc như đối với Tỳ kheo bị yết ma xả trí. Các phạm tướng cũng như biện pháp xử trị của Tăng đối với Tỳ kheo đã biết đó là Sa di bị Tăng diệt tẩn mà dung chứa, cũng áp dụng như đối với Tỳ kheo theo người xả trí, đã nói trong điều 69 trên.

ĐIỀU 71. Bất thọ khuyến học(Không chấp nhận sự khuyên bảo học hỏi).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, khi được các Tỳ kheo khác như pháp can gián mà nói như vầy: “Tôi nay không học giới này. Tôi cần hỏi lại các Tỳ kheo trì luật, có trí tuệ khác”, ba dật đề. Nếu vì mục đích hiểu biết, học hỏi, có thể hỏi.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Được… như pháp can gián, Tỳ kheo phạm các học xứ, được các Tỳ kheo khác can gián. Duyên khởi của Tứ phần nói, Tỳ kheo Xiển Đà mỗi khi có điều gì vi phạm trong các học xứ, được các Tỳ kheo khác như pháp can gián, chẳng những không nghe mà còn nói ngược lại: “Tôi nay không học giới này, để tôi cần hỏi lại các Tỳ kheo trì luật, có trí tuệ khác đã”. Duyên khởi của Ngũ phần cũng tương tợ, nhưng người được can khuyên là nhóm sáu Tỳ kheo, và sự trả lời của họ được ghi trong đây cho thấy rõ nội dung của điều học này: “Tôi không học giới này. Trước hết, tôi phải hỏi các Tỳ kheo trì luật, có trí tuệ hơn ngài”. Nội dung này muốn nói rằng, vì người khuyên bảo được coi là ngu si, không chắc gì đã hiểu ý nghĩa của điều học, thì có tư cách gì mà khuyên bảo người khác.

Nói chung, trong hai bộ vừa dẫn, sự can gián được nói ở đây là trong khi hoặc sau khi Tỳ kheo nào đó có vi phạm học xứ. Nội dung này khác với các bộ còn lại. Theo duyên khởi của Tăng kỳ, đây cũng là trường hợp của Xiển Đà, nhưng được các Tỳ kheo nhắc nhở học luật, học các thiên, các điều khoản giới tướng trong giới bổn; không phải do Xiển Đà có vi phạm điều gì, mà nhắc nhở như là phận sự Tỳ kheo phải học luật vậy thôi. Ở đây, Xiển Đà đáp: “Tôi không thể theo lời của ngài được. Chừng nào tôi gặp trưởng lão mà các căn trong sáng, đa văn, trì pháp, thông suốt, tôi sẽ theo học hỏi, và vị ấy nếu có chỉ bảo gì, tôi sẽ vâng lời làm theo”.

Thập tụng và Căn bản kể duyên khởi khác hẳn, mặc dù hàm chứa nội dung cũng giống như Tăng kỳ. Theo đó, khi Phật chế đồng giới tức một điều luật áp dụng chung cho cả hai bộ Tăng, Tỳ kheo và Tỳ kheo ni; mà lúc bấy giờ không có sự hiện diện của ni, nên Ngài khiến các Tỳ kheo mang điều luật ấy sang công bố bên ni bộ. Bấy giờ, Tăng cử trưởng lão Bạt Đề (Căn bản nói là trưởng lão Chu Lị Bàn Đà Già). Khi trưởng lão Bạt Đề công bố điều luật Phật mới kết cho các Tỳ kheo ni biết. Bấy giờ, trong chúng Tỳ kheo ni, cô Thâu La Nan Đà chống lại trưởng lão, nói rằng: “Ngài vốn là người ngu si không hiểu rõ và không biết cái gì một cách chắc chắn. Làm sao chúng tôi có thể theo lời ngài mà trì hay không trì? Chừng nào chúng tôi hỏi lại các Tỳ kheo trì kinh, trì luật, trì ma đắc lặc già, nếu trì chúng tôi sẽ trì, bằng không nên, chúng tôi sẽ không trì”. Căn bản kể như Thập tụng, nhưng có ghi thêm sự phản đối của nhóm sáu Tỳ kheo. Vì là đồng giới, nên bộ này kể trưởng lão Chu Lị không chỉ công bố cho ni bộ, mà khi gặp nhóm sáu Tỳ kheo, ngài cũng báo cho biết điều luật Phật mới kết. Nhóm sáu Tỳ kheo này cũng khinh chê trưởng lão là người ngu si.Vì sự thực, trong các đại Thanh văn, trưởng lão là người tối dạ nhất, suốt đời chỉ học thuộc độc nhất một bài kệ của Phật. Trong hai bộ vừa dẫn này, với Căn bản thì nguyên do là sự chống đối của nhóm sáu Tỳ kheo. Nhưng với Thập tụng, nguyên do từ phía các Tỳ kheo ni. Vì điều ba dật đề 71 này là đồng giới, chung cho cả hai bộ, nên mặc dù duyên khởi từ phía ni, khi Phật kết giới, điều luật này vẫn áp dụng cho cả hai bộ. Đây là ý nghĩa được nhấn mạnh đặc biệt mà trong các bộ khác không đề cập.

+ Tôi nay không học… có trí tuệ khác, ý nghĩa rõ ràng của câu trả lời này được nói trong duyên khởi của các bộ. Tùy theo ý nghĩa mà bộ ấy hiểu về nội dung của điều luật này, cũng một câu này được hiểu hai cách khác nhau. Nếu nội dung được hiểu là thái độ ngoan cố khi được nhắc nhở về điều trái phạm, thì câu này hàm nghĩa chống đối như trong điều 54 ở trên: không chịu nghe lời can gián. Còn nếu nội dung điều luật này là sự nhắc nhở rằng phận sự Tỳ kheo cần học luật, thì câu trả lời này hàm ý chống đối sự học luật.

Câu tôi cần hỏi lại, nguyên Hán văn của Tứ phần là đương nạn vấn. Nếu dịch sát, phải nói là “tôi sẽ nạn vấn”, hoặc “tôi sẽ chất vấn”. Nhưng, theo ý nghĩa, đây không phải là Tỳ kheo chống đối điều luật Phật chế nên nói sẽ cật vấn người khác cho rõ ràng, tức hàm ý điều luật của Phật hẳn có chỗ tối nghĩa hoặc phi lý. Nhưng đây chỉ là sự chống đối về khuyên bảo, với thái độ ngạo mạn, khinh chê người khuyên bảo. Do đó, không thể hiểu nạn vấn ở đây là cật vấn hay chất vấn. Đơn giản, nó có nghĩa là “sẽ hỏi lại cho rõ ràng hơn”.

+ Nếu vì mục đích hiểu biết…, cấu kết này làm nổi bật ý nghĩa của chánh văn. Nội dung điều học này là cấm Tỳ kheo có thái độ khinh thị, ngạo mạn đối với người nhắc nhở mình bất cứ điều gì liên hệ đến giới luật, dù đó là điều mình không phạm. Ý nghĩa này có thể diễn rộng rằng: khi một Tỳ kheo được Tỳ kheo khác khuyên học luật, bèn tỏ thái độ khinh thị Tỳ kheo ấy. Sau đó, nếu đi hỏi lại Tỳ kheo khác nữa, với ý nghĩ làm lộ rõ sự ngu si của người khuyên bảo mình. Với thái độ như thế, các Tỳ kheo sẽ do dự trong việc khuyên bảo lẫn nhau. Nhưng nếu hỏi lại Tỳ kheo cho rõ ý nghĩa, chứ không vì khinh thị, thì đó là điều nên làm. Ý nghĩa của câu kết này là như vậy.

ĐIỀU 72. Khinh hủy giới(Chê bai giới luật).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào khi tụng giới mà nói như vầy: “Đại đức, cần gì phải tụng những giới vụn vặt ấy. Vì khi tụng những giới ấy khiến người ta buồn nản, xấu hổ, nghi ngờ”. Vì khinh chê giới, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Tụng giới, hoặc gọi là thuyết giới, chỉ sự tụng đọc giới bổn Tỳ kheo. Theo duyên khởi cũng như giải thích của Tăng kỳ, thuyết giới trong đây chỉ sự thuyết giới hay tụng giới mỗi nửa tháng một lần. Tỳ kheo nói lời khinh chê này có ba trường hợp. Hoặc trước khi thuyết, bảo Tỳ kheo tụng giới chỉ tụng đến 13 tăng tàn hay hai bất định thôi, vì những điều còn lại vụn vặt, không cần thiết, v.v… Hoặc trong khi đang tụng, khi người tụng vừa sắp qua chương ba dạt đề, bèn cản lại, bảo thôi đừng tụng những điều vụn vặt ấy, v.v… Hoặc sau khi tụng xong, nói với người tụng: vừa rồi Đại đức tụng làm gì luôn cả những điều vụn vặt, khiến tôi nghe vừa chán, vừa đau lưng, v.v…

Duyên khởi của Căn bản, nhóm sáu Tỳ kheo thường phạm những điều thuộc ba dạt đề; khi tụng giới, cảm thấy hối hận, bèn nói với các Tỳ kheo: tụng gì những điều nhỏ nhoi phụ thuộc ấy; như người bị mụt ghẻ lại khơi cho nó lở thêm ra.

Trong Thập tụng, Xiển Đà được các Tỳ kheo khuyên nhắc những điều trái phạm trong các khoản ba dật đề, bèn chê luôn cả việc tụng giới, vụn vặt.

Tứ phần, cũng như Ngũ phần, không hạn định thuyết giới trong đây chỉ cho sự thuyết giới hàng nửa tháng; mà bất cứ khi nào, nghe các Tỳ kheo tụng đọc vì mục đích học cho thuộc, bèn lên tiếng chê bai để họ đừng học. Sự chê bài này, Ngũ phần nói, các Tỳ kheo này sợ các vị kia học thuộc giới bổn, sẽ biết rõ hành vi của mình điều nào là phi pháp, và như vậy họ sẽ đi theo nhắc nhở, rầy rà. Do đó, tìm cách chê bai cho các vị này xấu hổ: tại sao không học các giáo pháp như uẩn, xứ, giới, v.v..., lại đi học các điều vụn vặt ấy? Các vị tụng đọc giới để học thuộc, vì xấu hổ, nên không học nữa. Về Tứ phần, sự chê bai này được nói là do mục đích muốn diệt pháp.

Nói tóm, mặc dù nội dung không khác, nhưng các bộ chia thành hai quan điểm khác nhau về điều luật này. Một phía là Tứ phần và Ngũ phần, điều luật này nhắm vào việc Tỳ kheo học giới bổn. Phía khác, các bộ còn lại, nhắm đến việc chê bai sự tụng giới nửa tháng.

+ Những giới vụn vặt, Hán văn nói tạp toái giới; Căn bản nói tiểu tùy tiểu giới: giới nhỏ và phụ thuộc, không quan trọng. Các bộ đều giải thích như nhau, trừ bốn ba la di, mười ba tăng già bà thi sa, còn lại được coi là tạp toái giới.

ĐIỀU 73. Trá ngôn bất tri( Nói trớ không biết).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào khi nghe tụng giới bèn nói như vầy: “Tôi nay mới biết pháp này được chứa ghi trng giới kinh, xuất từ giới kinh, mỗi nửa tháng tụng một lần”. Các Tỳ kheo khác biết rằng Tỳ kheo ấy đã từng ngồi dự tụng giới hoặc hai hoặc ba lần, huống nữa là nhiều lần. Tỳ kheo ấy không phải do vì không biết mà khỏi tội; nếu có phạm tội, cần như pháp trị, lại còn chồng thêm tội vô tri, bảo rằng: “Trưởng lão, ngài không đạt được lợi ích, không đạt được điều thiện. Trong khi tụng giới, ngài không dụng tâm, không nhất niệm lắng tai nghe”. Vị ấy vì vô tri, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Về duyên khởi, các bộ kể tiếp chuyện như đã xảy ra trong điều 72 trên. Tức là, các Tỳ kheo ấy, sau khi nghe tụng giới, trong đó có những điều mình đã phạm, nhưng sợ các Tỳ kheo thanh tịnh khác biết, bèn tìm cách nói trớ rằng mình không biết những điều như thế; ngụ ý rằng quả có làm như vậy nhưng đó là do không biết. Các Tỳ kheo biết rõ các vị này muốn chạy tội bằng cách viện cớ không biết. Phật nhân đó kết giới.

+ Khi nghe giới tụng, tức dự nghe thuyết giới trong khi bố tát hàng nửa tháng của Tăng.

+ Tôi nay mới biết... nửa tháng tụng một lần, lời nói trớ, viện cớ vô tri để chạy tội.

+ Đã từng dự... nhiều lần, xác định nền tảng của phạm tướng trong điều học này. Bản chất điều học này là vô tri đối với các điều khoản học xứ của Tỳ kheo, nhưng sự vô tri căn cứ trên sự đã từng dự hay chưa dự nghe việc tụng giới. Tỳ kheo dự nghe tụng giới, nếu không chú tâm lóng nghe, phạm đột kiết la. Tính cách phạm ba dật đề được xác định trong đoạn sau của chánh văn.

+ Không phải do vì không biết mà khỏi tội, văn dịch của Tứ phần nói: bỉ vô tri vô giải, không những tối nghĩa mà còn dịch sai. Tối nghĩa do chữ giải, nó không chỉ ý nghĩ liễu giải, tức hiểu biết, mà là giải thoát, tức thoát khỏi tội phạm. Các bộ khác, từ này hoặc dịch là thoát hoặc dịch là miễn. Nhưng nói rằng dịch sai, là vì đặt sai vị trí của phủ định từ trong Hán văn, đáng lẽ phải nói phi vô tri (đặc) giải, không phải vì vô tri mà được giải tội. Ý câu này muốn nói rằng, Tỳ kheo không thể viện cớ vô tri đối với học xứ mà có thể chạy tội được.

Chánh văn lại nói tiếp:

+ Nếu có phạm tội... thêm tội vô tri: phạm tội ở đây là phạm bất cứ điều nào trong tất cả học xứ của Tỳ kheo; phạm thiên nào, cần được xử trị như pháp theo quy định của thiên ấy; không thể viện cớ vì không biết. Nếu vì không biết mà phạm, chồng thêm tội vô tri. Phận sự của Tỳ kheo là phải học luật để biết mà hành trì; nay phạm luật, lại viện cớ là không biết, như thế là chưa làm tròn phận sự căn bản của Tỳ kheo.

+ Bảo rằng... lắng tai nghe, ghi lời nhắc nhở của các Tỳ kheo khác đối với Tỳ kheo không chịu học luật để khiến phải phạm luật vì sự vô tri ấy. Trong đây cũng đồng thời quy định thể thức Tỳ kheo ngồi nghe tụng giới: phải dụng tâm, phải cố gắng hiểu những điều đang tụng; phải nhất niệm: chuyên tâm vào điều đang tụng, không làm các việc khác như tọa thiền, niệm Phật, hay nghĩ tạp loạn; phải lắng nghe: phải chú tâm im lặng nghe không được nói c huyện với người ngồi bên cạnh, v.v... Lời khuyên bảo này cũng nhắc nhở sự lợi ích của việc nghe tụng giới: đạt được lợi ích, đạt được điều thiện. Chánh văn của Căn bản nói về điểm này như sau: Pháp này vốn hy hữu, khó có thể gặp được.

+ Vì vô tri, quy định bản chất vi phạm của điều học này. Điểm này có một ý nghĩa tế nhị, cần phân tích rõ. Trong duyên khởi cho biết, các Tỳ kheo tự thấy mình có tội, nhưng căn cứ theo quan niệm thường tình rằng, điều gì lỡ làm vì không biết, thế là không tội. Nhưng trong thể thức chấp hành luật pháp, dù là luật thế gian, đối với các đạo luật đã ban hành và đã có hiệu lực, không người dân nào khi phạ tội có thể viện dẫn lý do mình không biết điều đó được quy định trong đạo luật đó. Luật sư khi binh vực can phạm, chỉ có thể trưng các bằng chứng rằng sự vi phạm ấy là trường hợp bất khả kháng, hoặc vì lý do gì đó, mà đạo luật đã có ghi biệt lệ, chứ hoàn toàn không thể trưng bằng chứng rằng phạm nhân vì không biết. Cũng thế, khi điều luật được Phật chế, Ngài công bố điều luật ấy trước chúng Tỳ kheo. Người nào vắng mặt, các vị khác có phận sự thông báo, như trường hợp đã thấy trong điều 71 trên. Đó là sự chính thức ban hành luật, và kể từ đó, điều Phật chế, có hiệu lực đối với tất cả Tỳ kheo, ngoại trừ trường hợp bất hồi tố, tức những vi phạm xảy ra trước khi Phật công bố điều luật giữa Tăng. Như vậy, không có sự miễn trừ cho các trường hợp vô tri.

Tuy nhiên, điều luật này cũng được áp dụng một cách linh động. Tính cách linh động được hàm ngụ ngay trong chánh văn. Phạm vi áp dụng điều luật Phật, khác với một đạo luật của thế gian là vì quốc gia có lãnh thổ và mỗi đạo luật đều ấn định khu vực địa lý mà đạo luật được áp dụng. Luật của Phật áp dụng cho toàn thể Tăng già, không giới hạn địa phương, lãnh thổ. Như vậy, trong khi Phật công bố và điều Phật chế có hiệu lực, nhưng những địa phương xa có thể chưa nghe được; hoặc vì đời sống không định cư của Tỳ kheo, có thể không có cơ hội để nghe. Trong các trường hợp này, và tương tợ, sự thuyết giới là một hình thức công bố gián tiếp với người chưa từng nghe. Vả, các điều khoản Phật chế không phải chỉ một hai điều, và nội dung đôi khi cũng phức tạp, một Tỳ kheo bình thường nghe tụng một lần có thể không nhớ và không hiểu hết, do đó tối thiểu phải nghe hai hoặc ba lần mới có thể hiểu.

Từ nhận định căn bản trên, phạm tướng của điều luật này cần được giải thích rõ thêm như sau: Đối với tất cả học xứ mà Phật đã kết, người sau khi thọ Tỳ kheo phải chấp hành. Dù biết hay không biết, nếu trái phạm, đều có tội cả. Đối với người mới thọ Cụ túc cũng vậy, không có miễn trừ vì không biết. Do vậy, trách nhiệm của Hòa thượng và A xà lê đối với tân Tỳ kheo trong đây hết sức quan trọng. Tỳ kheo mới thọ giới phải qua năm năm học luật mới được phép rời y chỉ. Bởi vì, các vi phạm này dù biết hay không biết vẫn là sự ô nhiễm đối với bản thể Tỳ kheo. Đấy là tính cách vi phạm đối với các học xứ khác. Riêng đối với học xứ này, bản chất của nó là vô tri. Tức đã nghe công bố, nhưng không ghi nhớ và chấp hành. Thành ra, vô tri ở đây không đơn giản là hoàn toàn vô tri vì không nghe, không thấy. Nhưng vô tri, vì có nghe, có thấy, trái lại không ghi nhớ để trở thành vô tri. Cho nên, chánh văn kết luận: vì vô tri, ba dật đề...

ĐIỀU 74. Đồng yết ma hậu hối(Đồng tác yết ma về sau xuyên tạc).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào đã cùng Tăng yết ma rồi, về sau lại nói như vầy: “Các Tỳ kheo tùy theo chỗ thân hậu đem tặng vật mà cho”, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi: Tứ phần: Tôn giả Đạp Bà Ma La Tử, tận tụy phục vụ Tăng. Về sau, có thí chủ cúng dường Tăng một tấm y tốt, các Tỳ kheo nghĩ đến sự phục vụ tận tình của tôn giả Đạp Bà, nên cùng thảo luận và cùng đồng ý tác bạch nhị yết ma trao y ấy cho Đạp Bà thọ dụng. Nhóm sáu Tỳ kheo trong khi Tăng yết ma thì mặc nhiên chấp thuận, nhưng sau đó, xuyên tạc rằng các Tỳ kheo chỉ vì cảm tình riêng mà xoay tặng vật cho người khác.

Bản chất điều học này không chủ yếu ở chỗ chống lại yết ma đã như pháp thành tựu của Tăng, mà xuyên tạc về sự xử phân lợi của Tăng. Tuy nhiên, yếu tố để thành tội trong đây là yết ma như pháp thành tựu của Tăng.

Duyên khởi trong các bộ có một chi tiết khác nhau. Như Căn bản, do mối hiềm khích của hai Tỳ kheo Từ và Địa đối với tôn giả Đạp Bà, như đã xảy ra trong điều học 8 và 9 tăng già bà thi sa. Bộ này tường thuật, Tăng tác đơn bạch chứ không phải bạch nhị yết ma. Trong Thập tụng, chính hai Tỳ kheo này đề Tăng tác yết ma để trao cho, nhưng không nói đơn bạch hay bạch nhị. Trong Ngũ phần, chính Phật chỉ định trao cho tôn giả Đại Ca Diếp, người mà nhóm sáu Tỳ kheo không thích. Nhưng họ không dám trực tiếp chống đối, chỉ xuyên tạc Tăng cho vì cảm tình riêng. Bộ này không nói việc Tăng tác yết ma cho. Chánh văn của bộ này chỉ nói: Tỳ kheo nào nói như vầy..., ba dật đề. Tăng kỳ lại kể khác nữa. Chính tôn giả Đạp Bà, do được Tăng sai làm người phân vật, đã trao y ấy cho ngài Đại Ca Diếp, sau tuyên bố ba lần giữa Tăng, vì sợ có người dị nghị. Nhóm sáu Tỳ kheo liền chống đối ngay sau ba lần tuyên bố ấy.

Tuy có một vài khác biệt như vậy, nhưng điểm chung giữa các bộ là, Tỳ kheo trước đã thuận tình với Tăng về việc xử phân, sau đó xuyên tạc. Câu trả lời của Từ Địa khi được các Tỳ kheo hỏi tại sao khi Tăng tác bạch không cản, bây giờ lại tỏ ý không tán thành? Hai Tỳ kheo đáp: Chúng tôi muốn khóc cũng không được sao? Trả lời này ngụ ý rằng: chúng tôi chỉ xuyên tạc như thế thôi, chứ đâu có chống lại quyết định của Tăng?

Tóm lại, về chủ đích của điều luật này, có thể nói, ngăn cản các Tỳ kheo cố ý xuyên tạc thái độ vô tư của Tỳ kheo được Tăng sai phân vật. Trong khi Tăng yết ma sai, nếu không chấp thuận Tỳ kheo ấy, có thể lên tiếng cản. Nếu đã im lặng đồng ý, về sau, tùy sự phân chia của Tỳ kheo Tăng sai, không được nói đi nói lại, khiến Tỳ kheo Tăng sai có thể do lời nói ấy mà không thể sốt sắng phục vụ Tăng; hoặc nếu không như vậy, khó có Tỳ kheo nào dám nhận lời Tăng sai. Điều học này, như vậy, cũng tương tợ như điều 13 ở trên. Trong điều 13, ngăn cấm Tỳ kheo chê bai Tỳ kheo chấp sự do Tăng sai, sự chê bai này nhắm vào khả năng. Còn trong điều này, sự xuyên tạc nhắm vào thái độ công bình của Tăng sai. Cả hai đều có mục đích bảo vệ uy tín cho Tỳ kheo chấp sự do Tăng sai.

ĐIỀU 75. Bất dữ dục mặc nhiên khởi thứ(Không dữ dục, im lặng đứng dậy đi ra).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, trong khi Tăng đoán sự chưa xong, không dữ dục mà đứng dậy đi ra, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi: Tứ phần: giới này được kết hai lần. Lần thứ hai là tùy khai cho các Tỳ kheo có duyên sự như pháp, có thể dữ dục rồi đi ra. Nguyên do, nhóm sáu Tỳ kheo, trong khi cùng Tăng tập họp, thảo luận về pháp, về tỳ ni. Các vị này e ngại Tăng sẽ tác yết ma xử trị gì đối với mình, bèn đứng dậy đi ra. Các Tỳ kheo gọi ở lại, nhưng không nghe. Phật kết giới: trong khi Tăng đoán sự, Tỳ kheo nào đứng dậy đi ra, ba dật đề. Sau đó, một số các Tỳ kheo, nửa chừng vì có duyên sự cấp thiết cần đi ra, nên Phật tùy khai, với điều kiện phải dữ dục.

Tăng kỳ, Thập tụng và Căn bản kể gần giống nhau, nhưng nội dung khác hẳn Tứ phần. Thập tụng kể: các Tỳ kheo cần tác yết ma xả trí đối với Bạt Nan Đà, nhưng luôn luôn bị các vị khác trong nhóm sáu Tỳ kheo ngăn cản, nên yết ma không bao giờ thành tựu. Đợi một dịp khi tất cả sáu người này đồng đi vắng, ra khỏi đại giới cọng trú, các Tỳ kheo bèn nhanh chóng tập họp để tác yết ma xả trí. Trong số các Tỳ kheo tập họp, có vài người là đồng bạn với nhóm sáu Tỳ kheo. Khi các Tỳ kheo tác pháp, họ im lặng đứng dậy đi ra. Khi các Tỳ kheo công bố yết ma đối với Bạt Nan Đà, các vị bỏ đi trước đó lên tiếng cho biết yết ma bất thành vì họ đã đi ra.

Nội dung vừa kể xác định rõ, đi ra trong lúc Tăng đang tác pháp yết ma. Trong Tứ phần, duyên khởi không phải là Tăng họp để tác yết ma, mà để thảo luận. Trong giải thích, về từ đoán sự của chánh văn, bộ này cũng chỉ nói, sự ở đây chỉ 18 sự phá Tăng, như đã kể trong điều 10 tăng già bà thi sa. Tăng kỳ giải thích từ đoán sự: có hai, hoặc thuyết pháp, tỳ ni; hoặc tác các yết ma trị phạt v.v… Thập tụng nói đoán sự là các Tăng sự cần giải quyết bằng đơn bạch cho đến bạch tứ yết ma; nói cách khác, trong khi Tăng đoán sự có nghĩa là trong khi Tăng đang tác pháp yết ma.

+ Dù có giải thích có vẻ như khác nhau ấy, nhưng tựu trung, ở đây có thể nói, bản chất của điều học này là việc không gởi dục mà tự động đi ra trong khi Tăng yết ma. Gởi dục tức tỏ ý cho Tăng biết vì duyên sự cấp thiết mình phải vắng mặt, nhưng sẽ chấp nhận bất cứ quyết định gì của Tăng. Người không hiện diện, không được phép cản yết ma, dù việc quyết định của Tăng trái với ý định của mình. Tỳ kheo được gởi dục, là người đại diện của Tỳ kheo vắng mặt, cũng không có quyền thay vị đó để phủ quyết Tăng sự. Nhưng sau đó, vị này có bổn phận thông báo lại cho Tỳ kheo đã gởi dục cho mình biết rõ quyết định của Tăng.

Việc gởi dục này, Tăng kỳ phân tích thành hai là bạch và gởi dục. Nếu có duyên sự cần đi ra, phải bạch và gởi dục. Bạch là báo cho Tăng biết mình cần phải đi ra. Dữ dục là gởi sự sẵn sàng chấp thuận của mình cho một Tỳ kheo để sau này Tỳ kheo ấy sẽ có phận sự thông báo lại. Bộ này cũng nói, nếu Tăng họp để tác yết ma, chỉ dữ dục chứ không bạch: ba dật đề; bạch nhưng không dữ dục: đột kiết la; không bạch cũng không dữ dục: 1 ba dật đề và một đột kiết la. Trong đây, thành tội ba dật đề là do không bạch Tăng; thành tộioột kiết la là do không dữ dục. Ngoài các trường hợp Tăng họp để tác yết ma, các sự tập họp khác nếu đi ra cần phải bạch; không bạch, đột kiết la.

Sự phân tích trên chỉ thấy riêng trong Tăng kỳ. Các bộ khác chỉ đề cập việc không dữ dục mà thôi.

+ Trong đây, động tác đi ra, theo định nghĩa của Tứ phần, là đi ra khỏi cửa; nếu chỉ mới chân trong chân ngoài: đột kiết la; đã bước ra khỏi hai chân: ba dật đề. Có lẽ cần nói rõ hơn là: đi ra khỏi giới trường, khỏi phạm vi Tăng đang tập hợp tác pháp.

+ Ngoài các trường hợp có duyên sự được đi ra sau khi dữ dục, Thập tụng còn ghi thêm rằng nếu vì sự đại tiểu tiện, cần đi ra một đỗi sẽ trở lại, không cần dữ dục, và đương nhiên không thành tội; hoặc có việc khác đi ra trong phạm vi còn có thể nghe được cũng không cần dữ dục.

ĐIỀU 76. Dữ dục hậu già(Đã dữ dục sau lại bác bỏ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào đã dữ dục, về sau bác bỏ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi: Tứ phần: Nhóm sáu Tỳ kheo tự biết có phạm luật, sợ Tăng tác yết ma xử trị, do đó đi đâu họ cũng đi chung, khi Tăng họp để giải quyết Tăng sự, họ đều đến dự, và có những quyết định vì liên hệ, họ bác bỏ. Các Tỳ kheo không cách nào xử trị. Nhân lúc sáu Tỳ kheo đang giặt y, các vị bèn nhanh chóng tập họp, và khiến người đến gọi. Sáu Tỳ kheo vì đang giặt y nên không thể đến dự, bèn dữ dục. Bấy giờ, các Tỳ kheo tác yết ma đối với một Tỳ kheo thân hậu của nhóm sáu Tỳ kheo. Tỳ kheo bị tác yết ma đến sáu người này than phiền, vì các vị không dự nên không ai binh vực. Sáu vị nói, yết ma bất thành; bản ý họ dữ dục cho việc kia chứ không phải cho việc này. Các Tỳ kheo do thế lấy làm phiền muộn, bèn bạch Phật. Phật khiển trách sáu Tỳ kheo và kết giới.

+ Dữ dục, Tỳ kheo trong cùng trú xứ họp để giải quyết Tăng sự, thực hiện các yết ma từ đơn bạch cho đến bạch tứ; Tỳ kheo nào có duyên sự không đến phải dữ dục, tức gởi phiếu thuận cho một người đại diện mang đến trình trước Tăng. Thể thức gởi và nhận dục cũng như thuyết dục giữa Tăng, xem chi tiết trong Yết ma yếu chỉ.

Trong đây, Tăng kỳ phân tích hai loại dữ dục. Dữ dục có hỏi và dữ dục không hỏi. Dữ dục có hỏi, tức Tỳ kheo muốn gởi dục nên hỏi Tăng họp để làm việc gì, nếu biết việc ấy là như pháp, như luật, phải gởi dục; trái lại, cho rằng việc các Tỳ kheo đang làm là phi pháp, phi luật, và không gởi dục. Tỳ kheo vắng mặt, không gởi dục, yết ma của Tăng bất thành. Còn dữ dục mà không hỏi trước, là khi Tăng họp, tự thân không đến họp, và cũng không hỏi nội dung Tăng sự, nhưng sẵn sàng thuận theo Tăng và gởi dục. Bất cứ loại dữ dục nào, nếu Tỳ kheo đã dữ dục, là đã tỏ ý sẵn sàng thuận theo mọi quyết định của Tăng, về sau không được bác bỏ Tăng sự ấy, mà phải nghiêm chỉnh chấp hành.

+ Về sau bác bỏ, nguyên văn Hán: hậu hối: sau đó hối hận, nghĩa là rút lui sự dữ dục, vì Tăng sự không phù hợp ý muốn của mình. Về điểm này, chánh văn của Tăng kỳ có thêm chi tiết: về sau sân hận, không hoan hỷ, nói rằng: tôi không dữ dục; sự dữ dục ấy không đúng, và yết ma không thành tựu.

Chánh văn Ngũ phần nói: đã như pháp dữ dục, về sau lại chỉ trích.

Chánh văn Thập tụng: đối với Tăng sự như pháp, đã dữ dục, về sau rút lại.

Tổng hợp nội dung các chánh văn vừa dẫn, trong đây có hai điểm căn bản làm nền cho phạm tướng: Tăng sự như pháp và dữ dục như pháp. Đây là hai trong những điểm tất yếu để yết ma của Tăng được thành tựu. Vì chống đối yết ma như pháp thành tựu của Tăng, phạm ba dật đề. Nếu Tăng sự không như pháp, hoặc sử dữ dục không như pháp, mà các Tỳ kheo vẫn tác pháp, yết ma bất thành. Đối với yết ma bất thành, dù Tỳ kheo không cần tỏ sự chống đối, nó vẫn không có hiệu lực.

ĐIỀU 77. Bình thính đấu tranh(Nghe lén cuộc tranh chấp).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, sau khi các Tỳ kheo khác tranh chấp xong, nghe lời bên này sang nói bên kia, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi: Tứ phần: Nhóm sáu Tỳ kheo, sau khi nghe chuyện tranh chấp giữa các ỳ kheo khác, bèn mang lời bên này sang nói bên kia, khiến sự tranh chấp không dập tắt được, và những mầm mống tranh chấp chưa khởi vì thế mà khởi. Trong tường thuật này không ghi rõ là nghe lén hay nghe trực tiếp. Tăng kỳ cũng kể duyên khởi tương tợ, nhưng ghi là sáu Tỳ kheo này nghe lén, rồi nói đi nói lại.

Ngũ phần, Thập tụng và Căn bản đại khái giống nhau. Cũng duyên sự từ sáu Tỳ kheo. Nhưng ở đây, các vị này tranh chấp gây gổ với các Tỳ kheo khác, rồi lập tâm nghe lén thử xem các người kia nói gì về mình; sau khi nghe lén được những thảo luận của các vị ấy, mà nội dung liên hệ đến họ, đang tìm biện pháp để xử trị họ; sáu Tỳ kheo này bèn đến hăm dọa các Tỳ kheo kia vì những ý định đã thảo luận. Các vị này ngạc nhiên về sự bàn kín của mình sao sáu người này biết. Sáu Tỳ kheo cho biết là họ đã đứng nghe lén tại đâu.

+ Chánh văn của Tứ phần đơn giản nhất trong các bộ. Điểm cơ bản nhất của điều học này là nghe lén mà chánh văn Tứ phần chỉ nói gọn là nghe, tuy vậy, trong phần giải thích cũng có ghi rằng: nghe, tức nghe lén.

Những điểm khác biệt khác đối với Tứ phần và các bộ như sau:

Chánh văn Ngũ phần: Tỳ kheo đã (tự mình) tranh chấp với người khác, sau đó nghe lén (mặc thính) với ý nghĩ rằng: Ta sẽ ghi nhớ những gì các Tỳ kheo này nói.

Chánh văn Tăng kỳ: Khi các Tỳ kheo khác đang tranh cãi nhau, đến đứng nghe lén (mặc nhiên lập thính), với ý nghĩ: Ta sẽ ghi nhớ những gì họ nói; chỉ với mục đích ấy chứ không gì khác.

Thập tụng: Tỳ kheo nào (tự mình) đã tranh chấp với người khác, bèn lén đến nghe trộm (đạo vãng lập thính) với ý nghĩ: Ta sẽ ghi nhớ những điều họ nói.

Căn bản: Biết các Tỳ kheo khác phát sanh sự tranh chấp tìm vạch các sai lầm để gây gổ nhưu, bèn lén đến nghe những điều họ nói, nghĩ rằng: Ta cần nghe để khiến cho họ tranh chấp nhau; chỉ vì mục đích ấy chứ không gì khác.

Xét chánh văn các bộ đã dẫn, điểm khác biệt quan trọng với Tứ phần là ở chỗ, Tứ phần nói nghe rồi nói đi nói lại khiến họ đấu tranh nhau không dứt. Tuy chánh văn có ý nghĩa như thế, nhưng trong giải thích, bộ này cũng chỉ nhấn mạnh trên sự nghe lén, chứ không nhấn mạnh sự nói đi nói lại. Như thế, bản chất của điều học này không có gì khác biệt lớn giữa các bộ. Như thế, bản chất của điều học này không có gì khác biệt lớn giữa các bộ. Có lẽ dịch giả Tứ phần đã dịch không sát nghĩa, hay không rõ, do đó giữa chánh văn và giải thích của bộ này có sự bất nhất như vậy.

Về sự nghe lén, trừ Tứ phần, chánh văn các bộ khác đã nêu rõ: nghe lén với dụng tâm, có chủ ý; và riêng Tăng kỳ cũng như Căn bản ghi rõ dụng ý này là sẽ nhân đó mà khiến cho những người tranh chấp nhau sẽ tranh chấp tiếp tục. Chỉ nghe lén với ý nghĩ ấy đã đủ để thành tội ba dật đề, không nhất thiết đợi phải nói đi nói lại. Về điểm này, nếu không phải dịch giả dịch lạc ý, thì nội dung của Tứ phần nhất trí với các bộ.

+ Về phạm tướng, như vậy chánh văn các bộ đã ấn định rõ: nghe lén sự tranh chấp của những người khác có chủ ý. Tứ phần cũng giải thích trong chiều hướng như vậy, dù chánh văn nói khác.

Về thể thức chấp hành điều luật này, Tứ phần dẫn một số trường hợp điển hình như sau: Hai Tỳ kheo đang ngồi nói chuyện riêng tại chỗ kín, mình có việc cần muốn vào, phải búng tay hoặc tằng hắng rồi mới vào; trái lại, đột kiết la. Trên đường đi, hai người đi trước đang nói chuyện rầm rì, mình từ sau trờ tới, phải báo hiệu; nếu không, phạm đột kiết la. Nhiều trường hợp khác tương tợ, theo đó suy diễn. Ngoài ra, biết các người khác đang bàn riêng về chuyện phi pháp, phi luật, hay vì ích lợi chung, mình cần biết và cần can thiệp hay tham dự, đến nghe, không phạm.

Thể thức chấp hành trên, Tăng kỳ cũng nêu tương tợ, nhưng nhiều chi tiết rõ ràng hơn. Hai Tỳ kheo đang ngồi nói chuyện trong nhà, mình từ ngoài bước vào, phải búng tay, hoặc tằng hắng, hoặc dậm chân, gây tiếng động cho họ biết; nếu hai người ấy nghe và im lặng không nói nữa, tự mình phải tránh đi không được bước vào; nếu họ vẫn tiếp tục nói chuyện, có thể vào. Các trường hợp tương tợ theo đó suy diễn. Ngoài ra, nếu tình cờ nghe một người hăm dọa sẽ hành hung người khác, có thể báo tin cho người bị hăm dọa biết nhưng không được nói rõ tên ai hăm dọa. Hoặc nghe Tỳ kheo khách đang bàn nhau sẽ ăn cắp vật gì đó trong tăng, phải báo cho Tăng biết nhưng cũng không nói Tăng đang bàn. Hoặc Hòa thượng, A xà lê, khi cần kiểm soát việc tu học của các đệ tử, đến thăm chỗ họ ở, nghe họ đang bàn luận những đề tài pháp, không nên bước vào khiển trách ngay, mà sau đó, gọi họ đến rồi khiển trách; hoặc nghe họ đang bàn Phật pháp, cũng không nên bước vào tham dự, mà sau đó có thể gọi họ lên để khen ngợi. Như thế, bộ này nêu những chấp hành rất nghiêm chỉnh đối với điều luật này: trong mọi trường hợp, Tỳ kheo không được cố ý nghe lén chuyện người khác, bất kể chuyện tốt xấu.

ĐIỀU 78. Đả tha Tỳ kheo(Đánh Tỳ kheo khác).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào vì sân, không hoan hỷ, đánh Tỳ kheo khác, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, các bộ giống nhau. Tường thuật tổng hợp: Một Tỳ kheo trong nhóm sáu người, vì nổi giận, đánh một trong nhóm 17 Tỳ kheo nhỏ tuổi. Tất cả 17 người đồng loạt khóc ré lên. Các Tỳ kheo nghe náo nhiệt, đến hỏi. Đáp: Bị Tỳ kheo kia đánh. Hỏi: Đánh mấy người? Đáp: Đánh một người. Hỏi: Đánh một người, sao cả 17 người cùng khóc? Đáp: Nếu không khóc hết, ổng đánh hết thì sao?

+ Đánh Tỳ kheo khác; các bộ định nghĩa khác nhau về sự đánh. Thập tụng: đánh bằng tay hoặc bằng chân, ba dật đề; đánh bằng các thân phần khác, đột kiết la. Tứ phần: đánh bằng tay, bằng đá, bằng gậy, ba dật đề; ngoài đó ra, bằng các thứ khác, đột kiết la. Tăng kỳ: đánh bằng thân, thân phần và thân phương tiện; bằng chân, là bằng cả thân thể của mình; thân phần, là tay, hoặc chân, hoặc cùi chỏ, đầu gối, móng tay, v.v…; thân phương tiện, là bằng các thứ dao, gậy, gạch, ngói; hoặc đánh, hoặc ném, hoặc chọi. Căn bản, đánh bằng ba thứ, nội thân, ngoại thân và cả hai; nội thân là tay chân, v.v…, nếu đánh bằng một ngón tay thì một tội ba dật đề, bằng hai ngón thì hai tội, và nhược bằng cả năm ngón nắm thành quyền thì cũng chỉ một tội; ngoại thân là bằng các phương tiện như liệng đất, chọi đá, bắn tên, v.v… cả hai, là tay cầm dao hoặc gậy mà đánh.

Về người bị đánh, chánh văn đều nói: đánh Tỳ kheo. Nghĩa là, trừ Tỳ kheo ra, đánh các chúng khác, đột kiết la. Nhưng về điểm này, Tăng kỳ nói: đánh Tỳ kheo ni, thâu lan giá; đánh các chúng còn lại, đột kiết la; đánh người thế tục, đột kiết la tâm hối. Đối với thú vật, chỉ được phép cầm gậy mà dọa để đuổi đi chứ cũng không được đánh.

+ Vì sân, không hoan hỷ, yếu tố căn bản để thành tội. Đánh người chỉ vì tức giận, vì thù hiềm mới thành tựu. Ngoài ra, không phạm.

ĐIỀU 79. Nghĩ đả tha Tỳ kheo(Dọa đánh Tỳ kheo khác).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào vì sân, không hoan hỷ, giơ tay dọa đánh Tỳ kheo khác, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên sự như trên, chỉ khác ở đây không đánh mà dọa cho các vị ấy sợ và khóc ré lên.

+ Giơ tay dọa đánh, nguyên Hán của Tứ phần: dĩ thủ bác, nghĩa đen là lấy tay vỗ; đây là do dịch chữ không chỉnh, chứ trong giải thích nói rõ là dọa đánh. Cơ bản là định nghĩa về đánh như trong điều 78 trên; mỗi bộ tùy theo định nghĩa về sự đánh của mình mà giải thích sự dọa đánh theo đó. Riêng Tăng kỳ, chánh văn nói: giơ sống tay dọa đánh, và giải thích sát theo văn này: đưa một ngón tay dọa, một tội ba dật đề; cả năm ngón dọa: năm tội ba dật đề; đưa sống tay dọa, một tội ba dật đề. Ngoài ra, không nói thêm các hình thức dọa khác, như bằng dao, gậy, đất, đá.

+ Các ý nghĩa còn lại, như đã giảng trong điều 78 trên. Đánh thật, hay dọa đánh, đồng tội giống nhau: hoặc thâu lan giá, hoặc ba dật đề, hoặc đột kiết la. Dọa thú vật để đuổi đi, không phạm.

ĐIỀU 80. Vô căn tăng già bà thi sa pháp báng(Vu khống Tỳ kheo khác bằng tội tăng già bà thi sa không căn cứ).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, vì giận hờn, vu khống Tỳ kheo khác bằng pháp tăng già bà thi sa không căn cứ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, Tứ phần: Nhóm sáu Tỳ kheo, vì có hiềm khích với nhóm 17 Tỳ kheo nên vu khống là các vị ấy phạm tăng già bà thi sa.

Ngũ phần: Bạt Nan Đà do hiềm khích nên vu khống Đạt Ma phạm tăng già bà thi sa. Mối hiềm khích giữa hai người như đã kể trong điều 25 ni tát kỳ.

Tăng kỳ, Thập tụng và Căn bản đều kể sự bất mãn của hai Tỳ kheo Từ và Địa đối với tôn giả Đạp Bà Ma La Tử, như trong điều 8 và 9 của tăng già bà thi sa. Chỉ khác, ở đây hai Tỳ kheo này không vu khống bằng tội ba la di không căn cứ mà là tội tăng già bà thi sa không căn cứ.

+ Các ý nghĩa: vu khống, không căn cứ, được giải thích như trong điều 8 thiên tăng già bà thi sa. Các hình thái vi phạm cũng chuẩn theo đó mà luận. Trong đó, nếu là phạm tăng già bà thi sa thì ở đây thành tội ba dật đề; trong đó, nếu là thâu lan giá hoặc đột kiết la thì ở đây đều là đột kiết la cả.

ĐIỀU 81. Nhập vương cung(Vào cung vua).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, khi nhà vua quán đảnh thuộc dòng Sát đế lỵ chưa ra, bảo vật chưa được thâu cất, mà vào cung, bước qua khỏi ngạch cửa cung, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Trên đây là chánh văn dịch sát theo Tứ phần. Giữa các bộ có những khác biệt quan trọng như sau:

+ Ngũ phần: Tỳ kheo nào, khi vua chưa ra, bảo vật chưa được thâu cất, mà bước qua giới hạn của hậu cung, ba dật đề.

Ngay trong chánh văn của bộ này, biệt bản của Giới bổn (Đại 22, tr. 204a) cũng khác nhau nữa. Biệt bản này nói: Tỳ kheo nào, khi vua Sát đế lỵ, khi đêm chưa tảng sáng, chưa thâu cất bảo vật, mà bước qua cửa (cung) hoặc ngạch cửa, ba dật đề.

+ Tăng kỳ: Tỳ kheo vào vương cung của nhà vua quán đảnh, khi vương phu nhân chưa thâu cất bảo vật, bước vào qua giới hạn cửa cung, ba dật đề.

Chánh văn trong biệt bản của Giới bổn thuộc bộ này lại cũng khác: Tỳ kheo nào vào vương cung, khi vương phu nhân chưa thâu cất bảo vật, nhẫn đến bước qua giới hạn cửa cung, ba dật đề.

+ Chánh văn Thập tụng: Tỳ kheo nào, nhà cua quán đảnh, thuộc dòng Sát đế lỵ, khi đêm chưa hết, chưa thâu cất bảo vật, nếu bước qua ngạch cửa cung, hay phạm vi ngạch cửa cung, trừ nhân duyên cấp thiết, ba dật đề.

+ Căn bản: Tỳ kheo nào, khi minh tướng chưa hiện, nhà vua quán đảnh thuộc dòng Sát đế lỵ, chưa thâu cất bảo vật và các loại tợ bảo vật, nếu bước vào qua khỏi ngạch cửa cung, trừ có duyên sự đặc biệt, ba dật đề.

+ Giải thoát: Tỳ kheo nào, khi đêm chưa rạng, nhà vua quán đảnh chưa ra, mà bước vào cửa cung, trừ có duyên sự, ba dật đề.

+ Tỳ nại da (Đại 23, tr. 893): Tỳ kheo nào, khi trời chưa sáng, bảo vật chưa được thâu cất, chưa được dọn dẹp, vua chưa khoác y phục, mà bước qua khỏi ngạch cửa thành, trừ khi có quan gọi gấp, ba dật đề.

+ Các điểm khác biệt giữa các bộ có thể ghi lại mấy điểm như sau:

a. Về đế hệ;

b. Về thời phần;

c. Về phạm vi cung vua;

d. Về trường hợp tùy khai.

Các điểm này sẽ lần lượt đối chiếu để có thể kết luận về bản chất của điều học này chung cho các bộ. Nhưng trước hết, cần đọc qua duyên khởi của các bộ, vì sự tường thuật này cũng rất quan trọng; chúng sẽ làm nổi bật những ý nghĩa cơ bản trong chánh văn.

+ Duyên khởi, Tứ phần: Sau khu vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu Mạt Lỵ tin Phật, họ cho phép các Tỳ kheo ra vào nội cung tự do. Trưởng lão Ca Lưu Đà Di, vào lúc sáng sớm, đi vào cung vua. Bấy giờ, vua và phu nhân đang ngủ ngày. Trông thấy trưởng lão từ xa đi đến, phu nhân khoác vội áo choàng ra đón, nhưng sẩy tay làm rơi áo, để thân thể lõa lồ. Bà xấu hổ, ngồi bẹp xuống, và Ca Lưu cũng xấu hổ bỏ ra về. Về đến tinh xá, trưởng lão khoe: “Hôm nay tôi đã trông thấy đệ nhất bảo của vua Ba Tư Nặc”. Phật gọi Ca Lưu đến giữa Tăng để khiển trách.

Trong tường thuật này, có hai điểm đáng lưu ý: Ca Lưu vào cung sau lúc mặt trời đã mọc; và cái trưởng lão này trông thấy được nói là đệ nhất bảo. Chung cần lưu ý, vì lát nữa sẽ được đối chiếu với các bộ.

Tường thuật của Ngũ phần có hai chuyện. Chuyện thứ nhất, các Tỳ kheo năng lui tới cung vua, một số Tỳ kheo thấy các cung nữ đẹp quá, nhiều người hoàn tục. Các đại thần nói: “Sao vua không giấu cung nữ để cho người ngoài thấy?”. Chuyện thứ hai. Trưởng lão A Nan thường thọ thỉnh sự cúng dường của nhà vua. Hôm đó, vào lúc sáng sớm, trưởng lão vào cung, gặp lúc vua và phu nhân đang ngủ, chưa dậy. Thấy trưởng lão đến, phu nhân luống cuống, khoác vội y nhưng để tuột mất và thành khỏa thân. Bà hổ thẹn và trưởng lão cũng hổ thẹn nên bỏ về ngay. Nhân đó, Phật khiển trách các Tỳ kheo vào cung vua, và cũng khiển trách A Nan vào cung quá sớm. Ngài cũng nói mười điều hại của sự đi vào cung vua.

Trong đây cũng có hai điểm đáng ghi lại: giấu kỹ cung nữ, điều này liên hệ đến cái mà chánh văn nói là thâu cất bảo vật; và điểm thứ hai là A Nan vào lúc sáng sớm nhưng sau khi mặt trời mọc.

Thập tụng, giới này có hai lần kết. Lần sau là tùy khai. Nhân duyên lần đầu: Vua Ba Tư Nặc sau khi tin Phật, yêu cầu Phật cho phép các Tỳ kheo vào cung để giảng pháp cho các phu nhân. Mỗi bà thỉnh mỗi vị. Phu nhân Mạt Lỵ thỉnh trưởng lão Ca Lưu Đà Di. Lúc sáng sớm, trưởng lão vào cung để thuyết pháp. Bấy giờ, phu nhân ngủ mới dậy, trên mình còn khoác áo lưới đính kim cương, thân hình lộ liễu như khi đang ngủ với vua. Bà cho thỉnh trưởng lão vào. Khi trưởng lão vào đến, bà sanh hổ thẹn, không đứng dậy đón được. Trưởng lão thấy thế cũng hổ thẹn, lui về. Câu chuyện này gần giống như Tứ phần, nhưng không nói là thấy đệ nhất bảo của vua. Nhân đây, Phật cũng nói về 10 điều tai hại khi Tỳ kheo vào cung vua, và rồi Ngài kết giới.

Sau đó, vua Ưu Điền sau khi tin Phật, các cung nữ yêu cầu vua thỉnh các Tỳ kheo vào cung thuyết pháp. Nhưng bấy giờ, Phật đã kết giới Tỳ kheo không được vào cung vua. Do sự thỉnh cầu thành khẩn của vua và các cung nữ, Phật tùy khai cho trường hợp đặc biệt.

Căn bản cũng kể hai duyên khởi cho hai lần kết giới như Thập tụng và nội dung câu chuyện cũng tương tợ, nhưng có vài chi tiết khác biệt quan trọng. Tôn giả Xá Lợi Phất được thỉnh vào cung thuyết pháp cho phu nhân Hành Vũ. Ca Lưu Đà Di thuyết pháp cho phu nhân Mạt Lỵ, vào lúc vua động binh để chinh phạt, lúc trời chưa tảng sáng. Tôn giả Xá Lợi Phất vì là người cảnh giác, biết là chưa tảng sáng, nên chưa vào cung. Ca Lưu Đà Di nghe tiếng binh mã ồn ào, tưởng đã sáng, bèn vào cung. Phu nhân đang ngủ, được gọi dậy, khoác ngay áo ngủ ra đón. Ca Lưu trông thấy phu nhân ăn bận lõa lồ, bèn ngó sững. Bà mắc cỡ, vào thay áo khác. Các cung nữ chê: Vua và phu nhân tuy kính tin, nhưng thuyết pháp gì mà vào lúc nửa đêm? Sau khi thuyết pháp và thọ thực xong, Ca Lưu trở về tinh xá thì trời vừa sáng. Trưởng lão chê tôn giả Xá Lợi Phất không tinh tấn như mình, chưa hết đêm đã sốt sắng đi thuyết pháp. Phật hay sự việc, gọi Ca Lưu đến khiển trách, nêu 10 tai hại đối với Tỳ kheo vào cung vua, và Ngài kết giới. Câu chuyện thứ hai, nội dung tương tợ Thập tụng, chỉ có chi tiết dài dòng hơn, và không có khác biệt gì quan trọng.

+ Các điểm dị biệt giữa các bộ:

- Vua quán đảnh thuộc dòng Sát đế lỵ: nhà vua thuộc chủng tộc Sát đế lỵ, đã làm lễ đăng quang tức vị, gọi là lễ quán đảnh. Tứ phần dẫn giải nghi thức này như sau: lấy nước trong bốn biển, lấy sừng bên phải của con bò trắng, lấy tất cả loại hạt giống chứa đầy bên trong, rồi đặt trên cái liễn bằng vàng; các tiểu vương khiêng liễn, vua và phu nhân ngự trên liễn; vị đại Bà la môn lấy nước dội lên đầu vua. Vua quán đảnh thống trị một đại quốc bao gồm nhiều tiểu quốc. Như vua Ba Tư Nặc ngự trị nước Câu Tát La, trong đó bao gồm Ca Tỳ La Vệ là tiểu quốc, và Tịnh Phạn là tiểu vương, thần thuộc vua Câu Tát La. Nhưng chỉ khi nào nhà vua ấy thống trị toàn cõi Diêm phù đề, tức toàn bộ lãnh thổ Ấn Độ, như vua A Dục, mới được gọi là Chuyển luân vương, tức đại hoàng đế.

Đế hệ trong điều luật này, Tứ phần đặt trọng tâm ở quán đảnh vương. Bộ này nói, dù người trong các giai cấp khác, nếu đã làm lễ quán đảnh, cũng được gọi là Sát lị quán đảnh vương. Nhưng Tăng kỳ nhấn mạnh cả hai, và còn thêm yếu tố lãnh thổ; vương cung của ba loài vua này, Tỳ kheo bước vào không tội. Điều luật này cấm Tỳ kheo vào vương cung mà nhà vua phải là thuộc dòng Sát đế lỵ, đã làm lễ quán đảnh và có lãnh thổ.

Quan điểm của Thập tụng nhất trí với Tứ phần, Căn bản không có giải thích, nhưng Luật nhiếp 15 đồng quan điểm Tứ phần và Thập tụng.

- Về thời phần, chánh văn của Tứ phần, Tăng kỳ và Ngũ phần không ghi rõ thời phần; duyên khởi trong các bộ này đều kể các Tỳ kheo vào cung sau lúc mặt trời mọc. Các bộ còn lại, trong chánh văn, đều ghi rõ: bước vào cung vua trước khi hết đêm tức trước khi minh tướng hiện. Căn bản nhấn mạnh điểm này cho nên dẫn giải thể thức để phân biệt thế nào là minh tướng hiện. Thập tụng tuy chánh văn ghi rõ như vậy, nhưng trong duyên khởi lại kể các Tỳ kheo vào sau lúc mặt trời mọc. Thế nhưng, điều quan trọng vẫn phải dựa trên chánh văn.

-Bước qua khỏi ngạch cửa cung, đây là yếu tố về phạm vi cung vua: bước vào đến đâu là thành phạm? Cung vua hay hoàng thành bao gồm hai lớp chính là ngoại cung và nội dung. Trong các bộ chỉ nói đơn giản là cung vua, nhưng căn cứ trên các duyên khởi, đây phải hiểu là nội cung, hay nói rõ như Ngũ phần, là hậu cung, nơi các phi tần của vua ở. Trong giải thích của Ngũ phần, hậu cung bao hàm một phạm vi rộng rãi. Bất cứ nơi nào có cung nữ của vua đang ở, dù chỉ đang dạo chơi chốc lát, đều được coi như là hậu cung. Do đó, các hành cung mà vua thường dẫn cung nữ đến chơi, chừng nào có mặt cung nữ, đó là hậu cung mà Tỳ kheo không được phép bước qua giới hạn ấn định. Nếu cung nữ đã đi hết, chỉ còn một mình vua, Tỳ kheo có thể vào.

Về phạm vi cửa cung, các bộ phần lớn nêu rõ là lấy ngạch cửa hay khung cửa làm mốc. Nhưng xét chánh văn của Ngũ phần và Tăng kỳ, gọi là giới hạn của cửa; giới hạn ấy tức thế phần của cửa, nó bao gồm cả trong và ngoài ngạch cửa hay khung cửa. Tuy vậy, trong giải thích, hai bộ này không ấn định cự ly của thế phần này. Nhưng theo giải thích phổ thông, nếu khi cửa đóng, thì thế phần nằm ngay trên cánh cửa; nếu cửa mở, thế phần có thể lan ra ngoài khung cửa hay ngạch cửa chừng một bước.

-(Vua) chưa ra, bảo vật chưa được thâu cất, tức ban đêm nhà vua vào hậu cung ngủ với các phi tần; khi vua chưa ra khỏi hậu cung, và bảo vật chưa được thâu cất. Đây là ấn định thời gian Tỳ kheo không được phép vào hậu cung. Chánh văn các bộ, hoặc nói rõ minh tướng chưa xuất, hoặc không đề cập đến, nhưng câu này cũng đã đủ đề hàm nghĩa. Thời gian của người đời, hoặc nhất là thời gian của Tỳ kheo, có thể lấy mặt trời làm bản chất; nhưng thời gian của vua chúa lấy sự hương thụ làm bản chất, cho nên dù khi mặt trời đã mọc, đối với nhà vua chưa hẳn đã có thể gọi là hết đêm. Thế nhưng, sự ấn định rõ thời phần theo mặt trời như chánh văn của một số bộ không phải không có lý do quan trọng. Khi Tỳ kheo có việc khẩn cấp muốn nói với vua hoặc hoàng hậu, mà thời gian cứ theo sự hưởng thụ của vua thì không thể lấy đâu làm chuẩn.

Về bảo vật, được xác nhận rõ bởi Tứ phần, đó là các loại vàng, bạc, xà cừ, mã não, trân châu, v.v... thông thường các kinh gọi là bảy báu, tức loại châu ngọc thượng giá, không phải là tài bảo thông thường. Đây là xác định của phần giải thích. Nhưng trong phần duyên khởi, khi Ca Lưu Đà Di nói là đã thấy đệ nhất bảo của vua, thì bảo vật đây cũng hàm nghĩa chỉ cho đệ nhất vương phi. Trong duyên khởi của Tăng kỳ, Ca Lưu cũng nói tương tợ: đã thấy bảo vật được cất kín của vua, và bảo vật ấy chính là phu nhân Mạt Lỵ, tức cũng hàm ngụ đệ nhất vương phi là bảo vật.

Ngũ phần giải thích theo một nghĩa rộng rãi: bảo chỉ cho tất cả loại quý giá và các nữ sắc. Như vậy, ngoài bảo vật theo nghĩa cụ thể, không riêng gì đệ nhất vương phi mà tất cả cung nữ được gọi là bảo vật.

Thập tụng chỉ nói đơn giản: bảo vật chỉ các đồ trang sức quý giá. Trong khi, chánh văn của Căn bản nêu bảo vật và loại tợ bảo vật. Trong đó, bảo vật được chỉ rõ các loại châu ngọc quý giá, còn loại tợ bảo là các loại binh khí.

Trong đây, ý nghĩa của câu này: vua chưa ra, bảo vật chưa được thâu cất, theo giải thích của Tứ phần: vua chưa ra và thể nữ chưa lui về chỗ cũ của họ, và các bảo vật chưa được thâu cất. Theo giải thích như vậy thì ý nghĩa của chánh văn đã quá rõ, không có gì uẩn khúc. Nhưng nó vẫn chưa làm sáng tỏ ý nghĩa: thế nào là bảo vật chưa được thâu cất. Điểm này, Ngũ phần nói: các cung nữ còn ở trong cung ấy, tức chỗ vua ngủ, chưa ra khỏi, chưa lánh đi chỗ khác. Theo đây thì dấu vết hoan lạc của vua chưa hoàn toàn dọn dẹp hết.

Thập tụng phân tích câu này thành bốn trường hợp: 1. Vua chưa ra, phu nhân chưa vào, bảo vật chưa cất; 2. Vua đã ra, nhưng phu nhân chưa vào, bảo vật chưa cất; 3. Vua đã ra, phu nhân đã vào, nhưng bảo vật chưa cất; 4. Vua đã ra, phu nhân đã vào và bảo vật cũng đã cất. Trường hợp sau cùng, Tỳ kheo được phép vào vương cung mà không phạm. Trong đây, nói ra hay vào đều lấy tẩm phòng tức chỗ vua và phu nhân làm mốc. Vua ra ngoại cung, phu nhân lui vào hậu cung. Như thế, bảo vật ở đây không chỉ cho bản thân của đệ nhất vương phi, lại càng không phải chỉ cho các cung nữ. Vậy nó chỉ cho cái gì? Hữu bộ sớ 9 nói: Vua đã ra nhưng phu nhân chưa dậy; khi tiến ngự, bà khoác loại áo quý giá, rất nhẹ và mỏng, chiếu sáng rõ suốt thân thể, khiến nhìn thấy liền phát động dục tâm; phu nhân chưa cất áo ấy đi, gọi là bảo vật chưa được thâu cất. Bản sớ này nói thêm: đối với người nam thì người nữ cũng được gọi là bảo.

Sở dĩ câu văn này cần được phân tích và xác định nội dung chính xác, vì nó là yếu tố căn bản tạo thành bản chất của điều luật này. Trước hết, như mười điều tai hại khi Tỳ kheo vào cung vua mà Phật nói cho các Tỳ kheo biết, thì bản chất đích thực của điều luật này là cấm Tỳ kheo vào cung vua. Nhưng để cho điều luật được áp dụng linh động, do đó cần ấn định rõ phạm vi cung vua và thời gian có thể vào. Phạm vi ấn định là nội cung. Nhưng, trong duyên khởi các bộ đã nêu, do sự yêu cầu của cung nữ, Tỳ kheo được phép vào nội cung để thuyết pháp cho họ. Để Tỳ kheo không thể tùy tiện vào bất cứ lúc nào, nên sự ấn định thời gian lại là điều tối quan trọng. Về cơ bản, chỉ được phép vào sớm nhất là sau khi minh tướng hiện. Thế nhưng, nếu không có duyên sự gì cần thiết thì phải đợi thời gian mà cảnh tượng hưởng lạc trong nội cung đã chấm dứt. Vua trở ra lo việc triều đình, phu nhân trở vào lo việc nội cung; ai theo phận sự nấy. Tỳ kheo vào lúc đó là không trực tiếp chứng kiến hay tham dự đời sống riêng tư của họ. Như thế, do phận sự giáo hóa mà Tỳ kheo vào nội cung, nhưng vẫn có khoảng cách trong sự giao thiệp giữa Tỳ kheo và đời sống nội cung.

Cảnh tượng hoan lạc của nội cung được coi là đang tiếp diễn hay đã chấm dứt hoàn toàn, dựa trên ba yếu tố để xác định. Sự hiện diện của vua, của các vương phi, và của các bảo vật vương gia. Do đây, bảo vật vương gia này không nhất thiết chỉ cho các người nữ. Vì rằng, thiếu các bảo vật này, mà Căn bản nói là bảo và bảo loại, tức các thứ ngọc ngà quý giá, luôn cả binh khí, và cũng có thể kể luôn các thứ đàn địch khác nữa.

Vả lại, khi Tỳ kheo được yêu cầu vào nội cung thuyết pháp, thì đối tượng để gặp chính là phu nhân và các cung nữ. Nếu các người này được coi là bảo vật để được cất giấu hết, thì Tỳ kheo vào cung thuyết pháp cho ai?

Nói tóm, câu văn đang được phân tích phải có nghĩa như vầy: Tỳ kheo tuy không được phép vào cung, nhưng nếu có duyên sự chính đáng, có thể vào, nếu thời gian vào là lúc mà cảnh tượng hưởng thụ của vua và nội cung đã hoàn toàn chấm dứt; hoặc nếu sớm nhất thì cũng không thể trước khi minh tướng hiện.

+ Về mười điều tai hại đối với Tỳ kheo đi vào cung vua, mà các bộ đều có tường thuật trong phần duyên khởi, trừ Tứ phần không nhắc đến, cũng là điều quan trọng. Vì theo nội dung của 10 điều này, có thể xác định rõ thêm bản chất của điều luật này.

Mười điều tai hại được liệt kê sau đây, kể theo Luật nhiếp 13:

1) Phu nhân thấy Tỳ kheo, có thể cười, và vua có thể nghi hai người có sự tư thông.

2) Cung nữ có người có thai, vua có thể nghi cho Tỳ kheo.

3) Trong cung mất bảo vật.

4) Chuyện cơ mật của vua bị lọt ra ngoài.

5) Thái tử có điều bị tổn hại.

6) Vua có điều bị tổn hại.

7) Biếm truất đại thần.

8) Cất nhắc đại thần.

9) Chinh phạt nhiều.

10) Tưởng thưởng công lao chiến tướng không công minh.

Tất cả những điều ấy, vua hoặc các đại thần, hoặc người ngoài đều có thể nghi Tỳ kheo làm, hoặc xúi giục vua làm.

Trong 10 điều này, có một số khác biệt quan trọng đối với các bộ. Như điểm 5 trên đây, Thập tụng thay bằng điều nói là hoặc vua muốn giết thái tử, hoặc thái tử có ý soán đoạt, Tỳ kheo bị nghi ngờ có dính líu vào. Điều quan trọng này đã xảy ra, không phải là chuyện nghi ngờ, mà là sự thực hiển nhiên, đó là sự giao thiệp giữa Đề Bà Đạt Đa và A Xà Thế đi đến chỗ vị hoàng tử này nghe lời xúi giục soán ngôi và cầm tù cha cho đến chết.

Tuy không cần đi sâu vào phân tích những sự khác biệt này, nhưng ở đây có thể kết luận rằng, nếu do sự giao thiệp quá thường xuyên giữa Tỳ kheo và vương gia mà có những tai hại như vậy, thì bản chất của điều học này là cấm Tỳ kheo vào nội cung; các chi tiết trong chánh văn nếu không coi đó là những trường hợp tùy khai, thì cũng phải coi là sự ấn định về những yếu tố căn bản để chấp hành điều luật này cho được vừa nghiêm chỉnh vừa linh động.

Sau hết, trường hợp tùy khai được ghi trong chánh văn của Thập tụng, Căn bản, cũng như Giải thoát. Trường hợp tùy khai này, theo giải thích của Thập tụng: nếu chính vua sai sức đến mời gọi; hoặc phu nhân, hoặc vương tử nói chung các quan thuộc có thế lực trong cung, các người này mời gọi, Tỳ kheo vào cung mà không bị hạn chế bởi các điều ấn định trong chánh văn. Nhưng Căn bản lại giải thích khác: trừ những vị đã chứng đắc phép thù thắng, như tôn giả Xá Lợi Phất.

ĐIỀU 82. Tróc bảo(Cầm nắm bảo vật).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào, đối với các bảo vật hoặc các trang sức bằng bảo vật, tự tay mình cầm hoặc bảo người khác cầm, trừ ở trong tăng già lam hoặc chỗ ngủ trọ, ba dật đề. Nếu ở trong tăng già lam hoặc chỗ ngủ trọ, đối với bảo vật hoặc các trang sức bảo vật, Tỳ kheo tự tay mình cầm hoặc bảo người khác cầm phải có ý nghĩ rằng: “Nếu có chủ nhân biết, sẽ nhận trở lại”. Chỉ với mục đích ấy chứ không gì khác.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, trong giới này có hai phần, chánh kết và tùy khai.

Về chánh kết, Tứ phần chỉ nêu một câu chuyện. Phật tại Xá Vệ. Một cư sĩ đệ tử ngoại đạo, đi đường đánh rơi một túi bạc bên trong đựng 1 nghìn lạng vàng. Một Tỳ kheo từ sau đi đến, trông thấy túi bạc, bèn cầm lấy với ý định sẽ trao lại cho đủ. Người kia đi một đỗi, phát hiện túi bạc bị rơi, quay lại kiếm. Gặp Tỳ kheo, được trao trả lại. Nhưng gã ta có máu tham, vu khống Tỳ kheo đã lấy bớt. Tỳ kheo cứ thật tình nói. Gã đưa Tỳ kheo đến quan kiện. Bấy giờ, gặp lúc vua Ba Tư Nặc ra ngồi xử. Vua hỏi Tỳ khep. Vị này cứ sự thật mà trả lời. Vua bảo quan viên nghiêm xét. Họ bỏ thêm vàng vào túi đề cân. Nhưng sức chứa chỉ đến 1 nghìn lượng thôi. Vua kết luận: gã kia vu khống, phải bị tịch thu tài sản. Các Tỳ kheo khác hay biết chuyện này, khiển trách Tỳ kheo lượm của rơi, để khiến người kia bị lụy. Phật cũng khiển trách Tỳ kheo. Và Ngài kết giới.

Ngũ phần kể hai chuyện. Chuyện thứ nhất, các Tỳ kheo đến nhà người quen chơi, thấy bảo vật, cầm xem chơi. Sau đó, bảo vật bị mất. Có người nói trước đó thấy Tỳ kheo cầm. Chủ nhân hỏi Tỳ kheo. Các vị nói quả thật có cầm xem chơi nhưng đã trả lại chỗ cũ. Người này không tin, và đồn xấu là các Tỳ kheo ăn cắp.

Chuyện thứ hai, cũng như Tứ phần, chỉ khác phần kết. Không phải vua xử đoán, mà một viên quan, vốn ghét các Tỳ kheo, xử Tỳ kheo tội ăn cắp, bắt trói và đưa đi diễu. Vua Ba Tư Nặc ngồi trên lầu trông thấy. Vua là Phật tử, nghi ngờ có sự bất ổn nên tự thân ra công đường gọi đưa sự vụ đến để xét lại. Vua thử nghiệm như đã kể trong Tứ phần, và kết luận cả quan toàn và người kia đều gian trá, bị tịch thu tài sản và bản thân bị cầm tù. Nhưng Tỳ kheo yêu cầu vua tha cho các người ấy. Vua bằng lòng tha. Dù vậy, người ta vẫn phiền trách rằng các Tỳ kheo cầm nắm tiền bạc là hành vi xấu. Phật cũng khiển trách Tỳ kheo ấy và Ngài kết giới.

Thập tụng cũng kể hai chuyện, nhưng khác hẳn. Chuyện thứ nhất, Phật và A Nan trên đường về núi Kỳ Xà Quật, ngang qua một mỏ bảo vật, không nói mỏ gì. Ngài bảo A Nan: “Này A Nan, đây là rắn độc”. Bấy giờ, một người nghèo đang mót lúa dưới đồng, nghe lỏm câu nói, chạy đến thử xem cái gì mà các sa môn này nói là rắn độc. Gã phát hiện một kho tàng bảo vật. Theo luật nước bấy giờ, những gì thuộc hầm mỏ dưới đất thuộc sở hữu nhà vua. Gã này tham tâm, không báo vua, tự mình lên chuyển dần về, rồi xây dựng nhà cửa linh dình. Có người xấu bụng, tâu quan. Quan bèn bắt người ấy, phán rằng, gã bắt được mỏ bảo vật mà không khai báo, chứ không lý gì đương nghèo đột nhiên giàu có. Quan ra lịnh tịch thu tài sản, và đưa người ấy ra cột trên cây nêu để chờ hành quyết. Lúc bị treo trên cây nêu, gã không ngớt than thở: “Này A Nan, đây là rắn độc. Bạch Thế Tôn, đây là rắn độc”. Quân lính mang lời gã đến bẩm vua. Vua cho dẫn người ấy đến hỏi ý nghĩa. Gã tường thuật đầu đuôi tự sự. Vua nghĩ, đó là Phật và A Nan chứ không ai khác. Nhân đấy, sanh tâm hoan hỷ, không những tha cho, mà còn thưởng thêm một số tiền. Nhân đó, Phật giảng cho các Tỳ kheo về sự tai hại của việc cầm nắm tiền bạc, nhưng chưa chế giới.

Chuyện tiếp theo. Một số đồng tử Ly Xa, có ác ý với Bạt Nan Đà, bèn bày trò gài bẫy. Họ đem một vật báu đáng giá nghìn lượng vàng, liệng giữa đường, rồi núp rình. Bạt Nan Đà đi ngang trông thấy, thò tay lượm. Các đồng tử bèn đổ xô ra bắt trói Bạt Nan đà, đưa đến quan, nói là ăn cắp. Quan hỏi, Bạt Nan Đà đáp: Tưởng đồ bỏ nên lượm. Quan nói, vật báu ai lại vất bỏ giữa đường. Nhưng cũng biết các đồng tử này chơi trác, bèn xử huề. Rồi dặn: Lần sau, Thánh giả thấy vật báu nằm giữa đường chớ có lượm mà mang vạ. Nhân đấy, Phật chỉ rõ các Tỳ kheo thấy sự cầm nắm bảo vật có những tai hai như thế, và Ngài kết giới.

Căn bản kể tất cả bốn mẩu chuyện. Chuyện thứ nhất, hoàn toàn giống như Thập tụng. Chuyện thứ hai: Ô Ba Nan Đà trên đường đi khất thực, gặp một nhóm người đi học bắn, thấy họ bắn dở, bèn chê và cầm cung tên bắn biểu diễn. Sau khi Ô Ba Nan Đà đi khỏi, thầy dạy bắn đến. Các học viên tỏ ý không phấn khởi, họ cho biết thầy bắn quá dở, không bằng Tỳ kheo, họ không muốn học. Ông này đến năn nỉ Ô Ba Nan Đà chớ phá sự sinh nhai của mình. Ô Ba Nan Đà ra điều kiện phải chia lời. Ông này vì quá ép phải bằng lòng, nhưng buồn bực, oán hận và đồn xấu. Chuyện thứ ba, cũng tương tợ, nhưng bấy giờ là phá đám nhạc sư, vì Nan Đà này đã từng tấu nhạc trong cung vua Tịnh Phạn nên nhạc sư không sánh bằng. Nhạc sư bị yêu sách như xạ sư, và cũng phải bằng lòng, và oán hận. Chuyện thứ tư: cũng nhóm đồng tử Ly Xa. Chúng vào lạc viên để hòa tấu. Nhóm sáu Tỳ kheo đi ngang, ghé vào, và chia nhau cùng hòa tấu. Các vị này tấu khúc xuất quân. Nguyên cả thành Tỳ Xá Ly nghe như có quân địch đang kéo tới. Mọi người đều hoảng sợ. Quan quân khẩn cấp gươm giáo kéo ra chống cự. Kéo ngang lạc viên, sáu Tỳ kheo ở trong đi ra. Quan quân bảo các Thánh giả hãy gấp rút chạy tránh đi, quân địch sắp kéo tới. Các vị đáp: Địch nào? Quan quân đáp: Chúng vừa gióng trống khua chiêng ầm ĩ đấy. Các vị này đáp: Chẳng có địch nào trống chiêng cả. Chúng tôi tấu khúc nhạc hành quân chơi đấy.

Tăng kỳ không kể riêng chánh kết và tùy khai, mà kể một loạt bốn câu chuyện. Chuyện thứ nhất: A Xà Thế sau khi nghe lời xúi giục của Đề Bà Đạt Đa, giết cha, hại mẹ, bấy giờ hối hận ưu sầu, thỉnh thoảng tìm các đạo sĩ để hỏi han đạo lý, nhưng chưa thỏa mãn. Cuối cùng được Kỳ Bà đề nghị đến gặp Phật. Được Phật thuyết pháp, vua hoan hỷ, cáo về. Nhưng bản tính vua đa nghi, thỉnh thoảng nghe trong thành có tiếng ngựa hí, hoặc chiêng trống là hồi hộp. Khi vừa cáo lui, bất chợt nghe các tiếng ấy, bèn ra lịnh gấp rút kéo về thành. Vì gấp, các phi tần bỏ quên các trang sức của mình. Sáng hôm sau, các bà phát hiện, tâu vua. Có vị quan ghét Phật nói, nhất định bỏ quên tại Trúc Lâm, và nhất định các Tỳ kheo đã lấy rồi. Khi sứ vua đến, thấy Phật và các Tỳ kheo vẫn ngồi im lặng như đầu hôm. Bảo vật của họ vẫn nằm y tại chỗ. Vua rất cảm phục. Phật chỉ cho các Tỳ kheo thấy: Bảo vật còn đó mà tiếng xấu đã phát hiện, huống nữa là cầm lên tay. Và Phật cấm các Tỳ kheo cầm nắm bảo vật.

Chuyện thứ hai. Một đồng tử Ly Xa đi đường, đánh rơi sợi dây nịt bằng bảo vật. Tỳ kheo trông thấy, sợ người khác lấy mất, nhưng tự mình không dám cầm, nên đứng ngay đấy. Đồng tử sau đó phát hiện mất của, trở lại hỏi, Tỳ kheo chỉ cho. Gã này chẳng cám ơn mà còn nổi sân, đánh Tỳ kheo, gã nói: “Nếu ta không trở lại thì nhà ngươi lấy mất rồi còn gì?”. Phật hay câu chuyện, không cầm bảo vật mà tai hại đã thế, huống nữa đã cầm lên tay. Cũng đồng tử Ly Xa đi tắm, bỏ quên hoa tai. Một Tỳ kheo trông thấy, cũng đứng giữ, và cũng bị đánh như trước. Phật cũng kết luận như trước. Chuyện cuối vùng, Phật tại Ca Tỳ La Vệ, các Thích tử thiết trai cúng dường, họ tự tay hành thực. Nhưng vòng vàng nơi cổ tay vướng bít, nên tháo ra, để gần các trưởng lão. Về sau, nhớ lại, đến kiếm trưởng lão. Trưởng lão nói, vẫn để tại chỗ đó, chúng tôi không mang theo. Các thứ ấy rốt cuộc bị mất. Các vị này bạch Phật việc Tỳ kheo giữ đồ ký thác không có trách nhiệm. Ba chuyện cuối sau là nhân duyên của tùy khai.

+ Ý nghĩa các duyên khởi.

Điều luật này cũng tương tợ như điều 18 của ni tát kỳ. Nhưng trong ni tát kỳ, vì cầm nắm với ý nghĩa là sở hữu của mình, nên phải xả. Ở đây, không có ý niệm sở hữu nên không phạm xả, mà chỉ phạm ba dật đề.

Tường thuật duyên khởi khác nhau trên đây cho thấy mỗi bộ có một cái nhìn khác nhau về bản chất của bảo vật và sự cầm nắm nó.

Đại phần tường thuật của các bộ đều nhấn mạnh trên sự tai hại của việc cầm quân. Vì máu tham của con người đối với tài bảo không biết đâu mà lường được; do đó, Tỳ kheo bất cẩn trong khi cầm nắm, có thể gây nhiều nghi ngờ và dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Riêng Thập tụng và Căn bản đã kể một câu chuyện nhấn mạnh tính chất độc hại của chính bảo vật. Do bản chất của tài bảo độc hại như thế, các Tỳ kheo đụng đến chẳng khác nào đụng đén rắn dữ. Cố nhiên sự độc hại ấy do bản chất tham lam của người phản chiếu lên nó.

+ Bảo vật và các trang sức bằng bảo vật, văn Tứ phần trong kết giới lần đầu nói kim bảo nhược bảo trang nghiêm; văn kết giới lần thứ hai nói: bảo cập bảo trang sức. Phần giải thích: bảo, chỉ các thứ kim, ngân, trân châu, hổ phách, xa cừ, mã não, lưu ly, bối ngọc, sanh tượng; bảo trang nghiêm là các thứ đồng, sắt, chì, kẽm, nhôm được trang sức bằng đồ báu.

Chánh văn Tăng kỳ: bảo và danh bảo; phần giải thích nói: bảo là các thứ đã chế tác thành đồ dùng như thiên quan, bảo cái, anh lạc, cán phất, bảo triển; danh bảo là tiền, vàng, bạc, trân châu, lưu ly, kha bối, hổ phách, pha lê, đồng, đồng đỏ, chì, thiếc, kẽm, nhôm, các thứ.

Chánh văn Ngũ phần: bảo và bảo đẳng vật; bảo, chỉ các thứ trân châu, ma ni, lưu ly, kha ngọc, kim, ngân; bảo đẳng vật (vật tương đương như bảo) chỉ tất cả các thứ khác.

Thập tụng: bảo và tợ bảo; không có giải thích.

Căn bản: bảo và bảo loại. Bộ này có một giải thích rất rộng rãi về hai thứ này. Bảo, chỉ cho bảy báu. Bảy loại, các thứ thuộc binh khí, như cung, đao, và kể cả các nhạc cụ. Trong duyên khởi của bộ này, việc Ô Ba Nan Đà bắn cung và chơi nhạc, là nhằm giải thích ý nghĩa bảo loại này, chứ trong đó không nhấn mạnh sự yêu sách của Ô Ba Nan Đà bắt xạ sư và nhạc sư phải chia lợi tức.

+ Trừ ở trong tăng già lam và chỗ ngủ trọ, nêu phạm vi có thể cầm cho các trường hợp tùy khai. Đoạn chót của chánh văn ấn định thể thức áp dụng sự tùy khai này, bao gồm vị trí của bảo vật và thời gian được phép cất giữ.

Trong phần tùy khai này, Tứ phần kể hai duyên khởi. Duyên khởi thứ nhất ấn định sự cho phép cầm nắm bảo vật rơi trong phạm vi tăng già lam. Nguyên do bà Tỳ Xá Khư vào ngày hội, trang sức các thứ quý giá để đi dự hội. Nửa chừng, bà ghé vào Kỳ Viên. Nhưng cảm thấy với sự trang sức thế ấy không thích hợp khi vào hầu Phật, nên bà cởi hết để giấu dưới một gốc cây. Sau khi nghe Phật nói pháp, bà trở về và bỏ quên các trang sức. Sáng hôm sau, bà tự thân hành đến tìm; không sai nữ tỳ vì sợ chúng tìm không thấy sẽ đổ thừa cho các Tỳ kheo đã lấy. Một Tỳ kheo thấy bà đi quanh một gốc cây kia, nhưng cây nọ không đến. Tỳ kheo đến cây, thấy bảo vật còn nguyên, bèn vào bạch Phật. Nếu Phật cho phép cầm lên để cất hộ thì bảo vật ấy chắc sẽ không mất.

Duyên khởi thứ hai cho trường hợp tại chỗ ngủ trọ. Một số các Tỳ kheo lỡ đường vào ngủ trọ tại nhà một người thợ kim hoàn. Buổi tối, ông này có việc đi vắng, các thứ chế tạo bằng vàng còn để la liệt. Các Tỳ kheo sợ sẽ có trộm lấy, và cũng không dám cất giấu hộ, nên ngồi canh suốt sáng. Nhân đó, Phật tùy khai.

Ngũ phần kể hai chuyện cho tùy khai thứ nhất. Chuyện đầu cũng giống như Tứ phần, nhưng có khác là tôn giả Xá Lợi Phất trông thấy, đến bạch Phật. Phật bảo tôn giả đem cất. Sáng mai, bà đến, trả lại. Bà tán thán: Nếu quên tại chỗ khác hẳn đã mất rồi. Và chuyện thứ hai, các cư sĩ đến tăng già lam nghe pháp, có người bỏ quên hoa tai, hoặc nhẫn. Tỳ kheo thấy, không dám lượm cất. Của ấy sau bị mất. Chủ đến kiếm, hỏi các Tỳ kheo. Tỳ kheo nói có thấy, nhưng không dám cầm. Họ không tin, vì đã thấy sao lại không cầm; nhất định các vị này đã cất giấu đi rồi.

Tùy khai thứ hai có một duyên khởi. Tỳ kheo đi đường, có một số người đồng hành. Các người này bỏ quên bảo vật. Tỳ kheo thấy, nhưng cũng không dám lượm cất hộ. Cuối cùng, cũng bị mất và cũng nghi ngờ Tỳ kheo như chuyện vừa kể trên.

Thập tụng chỉ có một duyên khởi cho tùy khai. Cũng chuyện bà Tỳ Xá Khư. Nhưng ở đây chính Phật trông thấy chiếc áo bị bỏ quên. Phật bảo A Nan giở áo ra xem. Thấy bên trong có các bảo vật, Phật bảo gói lại cất, để sau trả lại.

Căn bản cũng chỉ một duyên khởi như Thập tụng, và ở đây chính A Nan trông thấy, bèn mang đến trình Phật và nói: Có thể vì nhân duyên này mà Phật tùy khai. Phật khen ngài A Nan thông minh, và Ngài cho tùy khai.

Về thể thức áp dụng các trường hợp tùy khai, Tứ phần giải thích rất đơn giản: Tỳ kheo cầm lấy, cất giữ, khi có người đến nhận, làm cách nào để xác minh chính người ấy là sở hữu chủ. Ngũ phần cũng chỉ giải thích đơn giản như vậy. Nhưng trong Tăng kỳ, Thập tụng và Căn bản nêu những chi tiết rất quan trọng về mặt pháp luật của vấn đề. Vật mà Tỳ kheo lượm là vật rơi, nhưng bản chất vật rơi là thế nào, để căn cứ theo đó, Tỳ kheo có thể lấy làm của riêng minh, hoặc có thể cất giữ được bao lâu?

Bản chất của vật rơi là thế nào? Có hai trường hợp, vật rơi có chủ và vật rơi vô chủ. Vật rơi vô chủ, là vật nào mà khi còn ở trong thân người đó, thì nó thuộc về người đó; nhưng tách khỏi thân hay khỏi địa phận ấy, nó thành vô chủ. Vật rơi có chủ, trái lại, dù rơi rớt bất cứ đâu, nó vẫn thuộc sở hữu chủ của người đã có nó, trừ phi người ấy bằng lòng chuyển nhượng. Trong duyên khởi mà Thập tụng kể chuyện các đồng tử chơi trác Ô Ba Nan Đà., quan tòa có phán: Bảo vạt sao lại gọi là phấn tảo? Phấn tỏa, tức là những thứ vô giá trị, người ta vất bỏ. Ô Ba Nan Đà viện cớ, thấy của rơi, tưởng là của người vất bỏ. Nhưng pháp quan ấy đã cho một định nghĩa cụ thể thế nào là của rơi hữu chủ và của rơi vô chủ. Trường hợp Ô Ba Nan Đà đáng bị xử phạt về tội ăn cắp, nhưng vì pháp quan là Phật tử, và biết rõ Tỳ kheo không có ý ăn cắp, nên tha và cảnh cáo: lần sau đừng làm như vậy nữa.

Các bộ kia không có chi tiết như vậy, nhưng nội dung phân tích cũng cho thấy có một quan điểm chính xác về bản chất của rơi. Tuy nhiên, các bộ chỉ nêu quan điểm chung là tất cả bảo vật nếu bị đánh rơi, đó là của rơi hữu chủ. Nhưng vì định nghĩa về bảo vật của các bộ quá rộng, không ấn định giá trị đến mức nào mới được gọi là bảo vật.

Nếu kết hợp với định nghĩa về hành vi ăn cắp trong điều 2 của Ba la di, ở đây có thể nói, vật nào có giá trị tương đương 5 ma sa trở lên, được coi là bảo vật.

Như vậy, vật rơi mà giá trị không đáng kể, thì bản chất của nó không tính cách hữu chủ vĩnh viễn. Về tay ai, là của người ấy. Nhưng nếu là vật có giá trị, nó là vật hữu chủ vĩnh viễn; chỉ có vấn đề thay đổi chủ nhân chứ không bao giờ là vô chủ. Sự thay đổi chủ nhân bao gồm các việc chuyển nhượng, ký thác và cho mượn. Chuyển nhượng là chủ nhân này bằng lòng bán hoặc đổi hoặc cho đứt luôn cho người khác làm sở hữu chủ. Ký thác, là nó được gởi cho một người khác; người được gởi là chủ nhân tạm thời, hay chủ nhân giả; người gởi là chủ nhân thật. Cho mượn cũng vậy. Chủ giả là người có bảo vật trong tay, trong phạm vi mình cất giữ, có thể sử dụng tùy theo sự thỏa thuận của chủ nhân thật; nhưng chủ giả cũng phải có trách nhiệm bảo trì như là chủ nhân thật. Nếu có thiệt hại, phải bồi thường theo sự thỏa thuận. Tất cả các ý nghĩa này được nói một cách hàm ngụ trong phân tích các bộ vừa kể, trừ Tứ phần và Ngũ phần.

Nhưng của rơi không nằm trong trường hợp chuyển nhượng, hoặc ký thác, hoặc cho vay mượn, vậy bản chất hữu chủ giả và hữu chủ thật của nó như thế nào? Điều này được xác định bằng yếu tố không gian. Trong chánh văn nói, trừ trong tăng già lam và chỗ ngủ trọ. Hai nơi này là hai nơi mà Tỳ kheo sống dài hạn hay sống tạm thời, dù chỉ qua một đêm. Những gì xảy ra trong phạm vi ấy, Tỳ kheo có trách nhiệm liên đới; cụ thể là trách nhiệm bảo trì những gì hiện hữu trong phạm vi đó. Cho nên, nếu vật gì bị đánh rơi trong phạm vi đó, Tỳ kheo trông thấy, mà không bảo trì, phải chịu trách nhiệm về sự thiệt hại đối với sở hữu chủ. Như khi trông thấy lửa đang bén vách, không ai có thể lấy cớ vì không phải nhà của mình, hay thân thuộc của mình mà bỏ đi lơ. Nếu nhà bị cháy, người ấy bị phát hiện là có trông thấy mà không tìm cách chữa hay thông báo, luật pháp thế gian sẽ xử tội người ấy vì thái độ vô trách nhiệm. Như vậy, sự ấn định về không gian trách nhiệm như trong chánh văn cho thấy luật Tỳ kheo không bác bỏ loại trách nhiệm này.

Ngoài hai phạm vi trên, trách nhiệm của Tỳ kheo trông thấy bảo vật bị đánh rơi là thế nào? Chánh văn không ấn định. Các bộ cũng không đưa ra giải thích riêng biệt nào. Nhưng, vật có chủ luôn ở trong phạm vi có chủ. Phạm vi này đã được định nghĩa rõ ràng trong điều 2 của thiên Ba la di. Trong phạm vi tụ lạc nào, nó là sở hữu của người trong tụ lạc ấy; dù là sở hữu chủ giả hay sở hữu thật. Ngoài phạm vi tụ lạc, là của vua, tức tài sản quốc gia. Như thế thì không có bảo vật bị đánh rơi nào có thể trở thành sở hữu thật của Tỳ kheo được. Tỳ kheo không được có tư hữu về ruộng, vườn, nhà cửa các thứ. Cho nen, nếu Tỳ kheo làm chủ do trách nhiệm phát sinh, thì luôn luôn chỉ là chủ giả.

Tuy nhiên, đối với bảo vật dưới đất, các bộ đều cho một định nghĩa chính xác: chúng là sở hữu của nhà nước.

Nói tổng quát, trừ trường hợp trong phạm vi tăng già lam hay trong phạm vi chỗ ngủ trọ, do trách nhiệm phát sinh, Tỳ kheo trở thành chủ giả. Ngoài đây ra, dù là chủ giả, cũng không. Nghĩa là, trong những trường hợp như thế, Tỳ kheo phải báo cho những người có trách nhiệm; nếu trong phạm vi tụ lạc; trong phạm vi a lan nhã, báo cho quan sở tại hoặc trực tiếp cho nhà vua.

Trên đây là nói về bản chất hữu giả của bảo vật bị đánh rơi; bản chất ấy phát sinh từ phạm vi hay không gian của trách nhiệm.

Thế nhưng, vì là bản chất hữu chủ giả, nên sự hữu chủ ấy có tính cách tạm thời, cho đến một lúc nào đó, bản chất hữu chủ giả biến mất, và bảo vật ấy tự động phát sanh bản chất hữu chủ thật đối với người đang tạm thời sở hữu nó. Nói cách khác, đây là bản chất thời hiệu, hay hiệu lực thời gian của hữu chủ giả. Quan niệm về thời hiệu đối với bản chất hữu chủ của bảo vật bị đánh rơi này cũng là một điểm đặc sắc của các bộ Tăng kỳ, Thập tụng và Căn bản.

Trước hết, Tăng kỳ ấn định hai loại bảo vật, căn cứ trên giá trị bản thân của chúng mà có hai thời hiệu khác nhau. Vật có giá trị kém, như các đồ trang sức thông thường của thế tục, hoặ y bát của Tỳ kheo, trong hạn ba tháng, nếu đã cáo tri mà không ai đến nhận, các vật này mất thời hiệu đối với cố chủ; và tự nhiên bản chất hữu chủ của chúng chuyển sang cho chủ mới. Chủ mới này là sở hữu chủ của không gian mà chúng bị bỏ quên. Nếu đó là tăng già lam, thì chủ nhân là Tăng. Vì tăng già lam không thể là sở hữu riêng của một Tỳ kheo nào.

Loại bảo vật thứ hai, là loại mà tự bản chất có giá trị quý trọng, như anh lạc, vàng bạc các thứ v.v... Thời hiệu của các bảo vật này là ba năm. Sau ba năm, cũng vậy, nếu không có chủ đến nhận, chúng trở thành sở hữu của chủ mới, là người làm chủ không gian mà chúng đã bị đánh rơi.

Cả hai loại trên đều là những vật nằm trên đất. Còn các loại bảo vật khác nữa, chúng nằm trong đất. Tăng kỳ phân biệt có hai loại như vậy. Ở trong tháp hoặc tương tợ, và ở hẳn dưới mặt đất. Có thể nói, loại thứ nhất là các vật nằm trong các di tích lịch sử; và loại thứ hai, mà Hán gọi là bảo tạng, tức các thứ mỏ quý. Cả hai thứ này đều là sở hữu của nhà nước. Khi phát hiện, Tỳ kheo thông báo cho quan viên có trách nhiệm. Sau ba năm, có thể sử dụng; nhưng dù đã sử dụng sau ba năm, nếu vua đòi, phải bồi hoàn y số. Như vậy, thời hiệu ba năm cũng được áp dụng cho các loại này, nhưng chúng chỉ mất thời hiệu tạm thời. Nói tóm, vì bản chất các loại thuộc mỏ quý và các di tích lịch sử, thì chủ nhân vĩnh viễn của nó là nhà nước. Trừ phi được nhà nước chuyển nhượng, còn thì không bao giờ chúng thay đổi sở hữu chủ.

Thập tụng, vì không phân tích bản thân của bảo vật thành hai loại hạ giá và thượng giá như Tăng kỳ, do đó chỉ đề cập một thời hiệu duy nhất. Thời hiệu đó là 5 hoặc 6 năm kể từ ngày lượm được.

Căn bản cũng không phân biệt bảo vật hạ giá và thượng giá, nhưng lại có ấn định hai thời hiệu cho vật bị đánh rơi ấy. Thứ nhất, thời hiệu 7 hoặc 8 ngày. Bộ này nêu thí dụ: Tỳ kheo đi đường, trông thấy một túi vàng trên đường đi; không nói rõ trong phạm vi tụ lạc hay a lan nhã. Khi thấy, không nên bỏ đi ngay, cũng không được phép mang về cất ngay. Phải tìm chỗ kín đáo gần đấy mà giấu, đợi khi chủ nhân đến kiếm sẽ chỉ cho. Quá hạn 7 hoặc 8 ngày, được phép mang về tăng già lam cất giữ trong tăng khố. Thời hiệu nằm trong tăng khố của nó là 5 hoặc 6 tháng. Sau thời hạn đó, nếu chưa có ai nhận, có thể sung dụng làm của Tăng.

Nói tóm lại, để chấp hành điều luật này một cách nghiêm chỉnh, có mấy điểm cần ghi nhận:

a. Cần xác định bản chất vật bị đánh rơi là hữu chủ hay vô chủ.

b. Đối với vật mà bản chất là vĩnh viễn hữu chủ, cần xác định phạm vi không gian phát sinh trách nhiệm bảo trì. Người có trách nhiệm bảo trì, thể nhân hoặc pháp nhân, đều là chủ nhân giả, hay chủ nhân tạm hời, khi thời hiệu cố chủ chưa mất.

c. Khi thời hiệu cố chủ đã mất, chủ nhân giả trở thành chủ nhân thật.

d. Riêng đối với những bảo vật thuộc loại tài sản quốc gia, chúng không có sự đổi chủ; nhưng thời hiệu cố chủ có thể tạm thời bị đình chỉ; khi nào thời hiệu này được đình chỉ, chủ nhân giả tạm thời trở thành chủ nhân thật, cho đến khi nào được cố chủ xác nhận và chuyển nhượng.

ĐIỀU 83. Phi thời nhập tụ lạc(Vào xóm phi thời).

A.CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào phi thời vào tụ lạc mà không dặn lại Tỳ kheo khác, ba dật đề.

B.LƯỢC GIẢI:

- Phi thời vào tụ lạc, kể từ sau đứng bóng, cho đến khi minh tướng hiện, trong khoảng này gọi là phi thời, Tỳ kheo không được vào tụ lạc, tức là xóm làng của dân cư.

Duyên khởi, Tứ phần: Phật tại Xá Vệ. Bạt Nan Đà, sau giờ ngọ thực, khoác y vào xóm, chơi đánh xu bồ với các người thế tục. Những người này thường thua luôn, bèn tức giận, và lên tiếng chê bai: Tỳ kheo buổi sáng vào xóm làng là để khất thực, nhưng còn phi thời thì vào để mà làm gì.

Duyên khởi của Ngũ phần và Tăng kỳ, chuyện hơi khác, nhưng nội dung cũng tương tợ. Tỳ kheo vào xóm, bàn luận mọi thứ chuyện thế tục, cư sĩ chê bai. Riêng Tăng kỳ, chánh văn ấn định rõ là Tỳ kheo sống tại a lan nhã không được phi thời vào tụ lạc. Theo tinh thần này thì Tỳ kheo luôn luôn phải sống ngoài phạm vi tụ lạc, chỉ có thể vào tụ lạc buổi sáng để khất thực, trừ những trường hợp được tùy khai.

Thập tụng và Căn bản kể về một duyên khởi khác hẳn các bộ trên. Bấy giờ, trưởng lão Ca Lưu Đà Di bị một người nữ ngoại đạo vu khống là đã hãm hiếp cô ta. Vì cô này yêu cầu Ca Lưu làm việc bất chính với cô, nhưng Ca Lưu không khứng, cô bèn tự cào rách thân thể, rồi về trình làng. Dân bắt Ca Lưu trói đem quan xử. Vì nhận thấy tính cách nghiêm trọng, vua Ba Tư Nặc và hoàng hậu Mạt Lỵ đích thân đứng ra xét xử. Phu nhân cho đưa cô gái vào cung để các cung nữ khám nghiệm. Kết quả, họ nhận biết rõ là cô này vu khống. Ca Lưu Đà Di tuy được minh oan, nhưng phu nhân cũng thỉnh vào cung và than phiền về tư cách không đứng đắn. Xấu hổ trước sự kiện này, Ca Lưu ăn năn, tìm kiếm tôn giả Xá Lợi Phất nhờ hướng dẫn tu tập. Sau một thời gian nỗ lực, Ca Lưu đoạn tận phiền não, chứng đắc A la hán.

Từ đó, vị trưởng lão một thời vang danh phá phách hoang đàng này trở thành vị đệ nhất giáo hóa trong các đại Thanh văn. Chuyện kể, trưởng lão đã giáo hóa tất cả một nghìn gia dình tối thiểu chứng đắc quả Dự lưu; những gia đình mà chỉ riêng vợ hoặc chồng quy y Tam bảo thì nhiều hơn thế nữa. Trong số những gia đình được giáo hóa, một gia đinàh nọ, sau khi hai vợ chồng chết, di chúc lại người con gái phải kính thờ và phụng dưỡng trưởng lão như cha mẹ. Cô này về sau ngoại tình với một tướng cướp. Trưởng lão biết rõ, bèn giảng về những xấu xa và tai hại của hành vi tà hạnh. Cô nghĩ trưởng lão đã biết, và sợ sẽ nói lại cho chồng mình hay, bèn âm mưu với tướng cướp. Cô giả bịnh, cho người thỉnh trưởng lão đến an ủi. Trưởng lão đến, nói pháp khích lệ xong, đứng dậy định ra về. Nhưng cô nài nỉ trưởng lão ngồi nán lại. Đợi cho khi đêm xuống, cô mới để cho trưởng lão ra về. Đi ngang một đống rác ngoài thành, bọn cướp núp sẵn ở đấy, đón đường giết chét. Ngày hôm ấy là ngày trưởng tịnh. Trong khi thuyết giới, Tăng hành trì, kiểm điểm thấy thiếu trưởng lão Ca Lưu. Không ai biết trưởng lão đi đâu, và nên làm như thế nào, vì trưởng lão không có gởi dục. Họ thỉnh ý Phật. Ngài dạy các Tỳ kheo cứ thuyết giới, vì Ca Lưu Đà Di đã trả món nợ oan nghiệt của mình mà nhập Niết bàn. Sáng hôm sau, Phật dẫn đầu các Tỳ kheo đi đến đống rác, lượm thi thân trưởng lão, khiêng về tinh xá làm lễ trà tỳ. Vua và phu nhân hay tin, rất xúc động, và tung thám tử điều tra. Kết quả, họ tóm gọn cả bọn cướp. nhân câu chuyện bi thảm ấy, Phật cấm các Tỳ kheo phi thời vào tụ lạc.

Trong các tường thuật duyên khởi, có hai quan điểm khác nhau về bản chất của điều luật này. Một quan điểm cho rằng việc Tỳ kheo vào xóm phi thời không thích hợp, vì nó dẫn đến sự giao du quá thân mật giữa Tỳ kheo và các tục gia, khiến các Tỳ kheo có thể bị lôi cuốn vào những việc lặt vặt của thế sự mà phế bỏ phận sự chính yếu của mình là tu tập Thánh đạo. Quan điểm thứ hai, đương nhiên ý nghĩa trên đây là căn bản của đời sống Tỳ kheo nên không thể bác bỏ, nhưng nhấn mạnh trên sự kiện, Tỳ kheo đi vào tụ lạc phi thời chẳng khác nào con chim lạc đàn, sẽ gặp nhiều bất trắc, mà các Tỳ kheo cùng sống chung trong một trú xứ cảm thấy có trách nhiệm liên đới.

Những việc bất trắc này không chỉ là những sự tổn thương tính mạng của Tỳ kheo ấy, mà còn những tổn thương khác như đối với đời sống phạm hạnh, hoặc danh dự, uy tín của Tăng. Vị Tỳ kheo vào tụ lạc phi thời, trong những quan hệ với tục gia, biết đâu có những hành vi bất chánh.

- Không dặn Tỳ kheo khác, đây là thể thức chấp hành các trường hợp tùy khai. Nếu có việc cần, Tỳ kheo có thể vào tụ lạc lúc phi thời, nhưng phải báo cáo cho một Tỳ kheo khác biết. Các bộ giải thích sự báo cáo hay chúc thọ này một cách rất nghiêm túc. Chúc thọ, báo cáo hay dặn dò lại, phải nói rõ chỗ mình đến, và chỉ đi đến chỗ đó, không được tẻ ngang vào những chỗ khác. Sau khi trở về trú xứ, nếu cần đi lại chỗ cũ, phải bạch lại lần nữa, chứ không thể vì đã bạch lần trước rồi. Hiệu lực của một lần bạch cho phép chỉ đi được một lần.

Trừ Tứ phần, chánh văn các bộ khác đều có thêm câu này: trừ trường hợp đặc biệt, tức các trường hợp quá cần thiết, có thể liên hệ đến sự nguy hiểm đến tính mạng, hoặc có thể thất thoát y bát. Trong các trường hợp như thế, Tỳ kheo tự động được phép đi mà không cần bạch hay chúc thọ với ai cả.

ĐIỀU 84. Quá lượng tác sáng(Làm giường cao quá lượng).

A.CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào làm giường dây hay giường gỗ, chân nên cho bằng tầm lóng tay Như Li, trừ khoảng tra mộng trở lên; nếu quá, ba dật đề, phải cắt bỏ.

B.LƯỢC GIẢI:

- Điều luật này ấn định chiều cao của giường, ghế. Về các loại giường, ghế mà Luật tạng thường đề cập, giường dây hay giường gỗ, xem giải thích trong điều 18 chương Ba dật đề ở trên.

- Duyên khởi, Tứ phần: Bạt Nan Đà đoán biết con đường Phật sẽ đi ngang, bèn làm một cái giường rất cao để ở đó; khi Phật đi ngang, bèn chỉ và khoe công trình. Phật khiển trách là dại dột, và Ngài kết giới.

Ngũ phần và Tăng kỳ kể cũng tương tợ, chỉ khác nhân vật làm giường và đối tượng được khoe. Đại khái, thảy đều làm cao quá cỡ, không thích hợp cho sự thọ dụng của Tỳ kheo.

Riêng Căn bản kể duyên khởi có ý nghĩa khác. Một Tỳ kheo tọa thiền trên giường thấp, rửa chân ngay trước giường. Một con rắn ưa lạnh, bò ra và cắn ngay trán, Tỳ kheo này có thể vong mạng. Nhân đấy, Phật dạy các Tỳ kheo không nên nằm ngủ hay ngồi thiền trên giường quá thấp, và cũng không nên rửa chân ngay trước chỗ ngồi. Nhưng bấy giờ, một số Tỳ kheo, theo lời dạy của Phật, họ làm giường quá cao, cư sĩ trông thấy chê cười. Nhân đó, Phật kết giới.

Theo duyên khởi của Căn bản thì trước đó, Tỳ kheo ít sử dụng giường ghế. Nằm hay ngồi phần lớn ngay trên mặt đất. Tại những chỗ ẩm thấp, các vị mới kê chỗ ngồi hay nằm cho cao thêm một chút. Việc làm giường hay ghế như vậy có mục đích tránh tai nạn rắn rết.

+ Chân lên cao bằng tầm lóng tay Như Lai, ấn định chiều cao của chân giường. Về kích thước này, Căn bản nói 8 lóng tay của Phật bằng một khủy tay người thường, tức khoảng từ 45 đến 50cm.

+ Trừ khoảng tra mộng trở lên, trừ khoảng tra mộng để ghép thành giường vào trở lên không kể. Chiều cao nói trên chỉ áp dụng riêng cho chân giường. Trong Căn bản, câu này thuộc kết giới lần thứ hai. Vì sau khi Phật ấn định chiều cao rồi, thân hình của trưởng lão Ô Ba Nan Đà to lớn, ngồi nằm rất bất tiện, nên Ngài nói cụ thể chi tiết, như vậy. Trong Tăng kỳ, thì các Tỳ kheo vẫn làm theo chiều cao mà Phật ấn định, nhưng họ kê thâm chân, nên chiều cao thực tế vẫn không thay đổi.

Theo giải thích của Tăng kỳ thì chiều cao này lấy khoảng cách giữa mặt đất và thành giường làm chuẩn. Do đó, bộ này dẫn một số trường hợp làm thí dụ thể thức áp dụng. Nguyên tắc cơ bản cho điều luật này là Tỳ kheo khi ngồi trên giường hoặc ghế, không được buông thõng chân. Nếu tại nhà thế tục, có giường ghế có mà chân Tỳ kheo ngắn, kiếm vật gì kê lót dưới chân. Nếu thí chủ cúng giường ghế cao quá cỡ, mà ý họ không muốn bị cắt bỏ, khi dùng, Tỳ kheo phải đào đất chôn chân giường xuống cho đúng lượng.

+ Phải cắt bỏ, đây là thể thức áp dụng cho trường hợp vi phạm. Tỳ kheo làm giường cao quá lượng, khi làm xong, phạm ba dật đề; phải cắt bỏ đoạn chân dài ấy cho đúng lượng nhất định. Cắt xong, mới sám hối tội ba dật đề. Chưa cắt bỏ, không cho phép sám hối.

Về đoạn này, văn dịch Tứ phần tối nghĩa, vì đặt sai vị trí các nhóm từ. Văn ấy nói: trừ nhập bệ khổng thượng triệt cánh nhược quá giả ba dật đề; đoạn Hán này, nếu dịch sát, theo văn Hán, phải đọc lại là: trừ lỗ tra thành giường trở lên, sau khi cắt xong, nếu còn quá, ba dật đề. Đúng ra, đây là lối văn cú đảo trang trong tiếng Phạn, khi chuyển sang Hán, nếu không đảo vị trí rất dễ hiểu lầm. Hán văn cần đổi lại như sau: trừ nhập bệ khổng thượng, nhược quá giả, triệt cánh, ba dật đề, nghĩa là: trừ lỗ tra thành trở lên, nếu quá lượng, sau khi đã cắt bỏ rồi mới sám tội, ba dật đề.

ĐIỀU 85. Dụng mộc miên liên ngữ sàng nhục(Dồn bông gòn làm chăn đệm).

A.CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào dùng đâu la miên dồn làm đệm lớn đệm nhỏ đẻ lót giường dây, giường gỗ ; đã dồn thành, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Đâu la miên, chỉ các loại bông gòn. Thập tụng kể một loạt đâu la miên: hoa liễu, hoa bạch dương, hoa a cưu la, hoa ba cưu la, hoa cưu xá la, hoa gian xà, hoa ba ba xà, hoa ly ma. Ngũ phần chỉ kể có bốn loại: hoa liễu, hoa bạch dương, hoa bồ lê, và hoa chiệm bặc. Căn bản bản kể năm loại: thảo miên, mộc miên, kiếp bối, lông dê, và thứ tạp như khác.

+ Dồn làm nệm…, dồn làm các thứ hoặc chăn hoặc đệm để lót giường nằm hay ghế ngồi.

+ Đã dồn thành, ấn định phạm tướng. Đang dồn làm nệm, chưa xong, đột kiết la ; đã dồn thành, có thể dùng để ngồi hay nằm, ba dật đề. Về điểm này, chánh văn của Tăng kỳ và Căn bản còn ấn định thêm thể thức xử trí: sau khi moi ra, sám hối tội ba dật đề. Tức cũng áp dụng cách xử trí tương tợ như sự làm giường quá lượng ở trên.

+ Duyên khởi trong các bộ, không có gì đặc biệt. Tỳ kheo dồn các thứ gòn ấy làm chăn đệm, cư sĩ chê cười, và Phật kiết giới.

Các bộ chỉ giải thích sự áp dụng điều luật này trong việc làm chăn đệm. Riêng Tăng kỳ thì áp dụng luôn cho các trường hợp có liên hệ đến bông gòn. Nói là bông gòn, nhưng bản chất của chúng chính là hoa, được người ta dùng để dồn làm ruột của chăn đệm. Bộ này nói: trong mọi trường hợp, đi đường hay trong nhà cư sĩ, nếu đâu la miên do gió thổi vướng lên áo, mà Tỳ kheo để nguyên vậy, khi ngồi xuống, phạm đột kiết la. Phải phủi đi trước khi ngồi. Điểm này không được đề cập trong các bộ khác.

ĐIỀU 86: Nha cốt giác tác châm đồng(Làm ống đựng kim bằng răng, xương, sừng).

A.CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào dùng răng, xương, sừng làm ống đựng kim, moi khóet làm thành, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ống đựng kim, chỉ chung các thứ để đựng kim ; hoặc bằng ống tròn, hoặc là hộp. Kim chỉ và ống đựng kim là một trong các vật dụng tùy thân thiết yếu của Tỳ kheo, phòng khi các thứ y bị sờn rách có thể cấp thời khâu vá lại. Điều luật này, ấn định các vật dụng chế tạo phi pháp. Răng, và nanh, chỉ chung các thứ răng hoặc nanh thú, như nanh heo rừng, răng cọp, ngà voi, và cũng kể luôn các thứ răng cá. Xương, cũng vậy, của các loại cầm thú, và kể cả xương cá. Sừng, như sừng trâu, sừng bò, gạc nai, v.v…

+ Moi khoét làm thành, nói rõ phạm tướng. Đang moi khoét để làm, nhưng chưa thành, chưa dùng được, phạm đột kiết la ; đã làm thành, có thể dùng được, ba dật đề. Câu này, Tăng kỳ và Căn bản nói, phải đập bỏ. Tức là, đã làm thành, phạm ba dật đề, nhưng phải đập bỏ vật ấy rồi mới sám hối tội ba dật đề. Ở đây, cũng là sự thọ dụng phi pháp như bản chất các tội thuộc ni tát kỳ, nhưng sở dĩ không xả mà đập bỏ, giải thích của Hữu bộ sớ 9, vì là vật nhỏ mọn, nếu trả lại chủ thì chủ cũng không nhận, mà cho người khác cũng gây phiền, còn xả cho Tăng, vì là vật phi pháp nên Tăng không được phép nhận.

+ Duyên khởi, các bộ giống nhau. Một người thợ làm đồ sừng rất khéo. Các Tỳ kheo nhờ làm đựng kim. Vốn là người có nhiều tín tâm, cho nên bao nhiêu vật liệu sẵn có, răng nanh, sừng, xương thú, v.v…, đều làm cho các Tỳ kheo hết, đến nỗi bỏ phế sinh nhai, gia đình lâm cảnh túng quẩn. Ở đây, Ngũ phần kể thêm một duyên khởi nữa. Các Tỳ kheo tìm kiếm các thứ ấy để làm ống đựng kim, các người thế tục chê cười là Tỳ kheo không biết dơ sạch gì, vì những vật ấy vốn bất tịnh. Hoặc co Tỳ kheo muốn có răng nanh heo nên đứng tại lò thịt chờ và sẵn xem người ta giết thú. Các vị này bị chỉ trích là thiếu từ tâm. Do các nguyên nhân ấy, Phật kiết giới.

ĐIỀU 87: Quá lượng tọa cụ(Tọa cụ quá lượng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào làm ni sư đàn, phải làm đúng lượng. Trong đây, đúng lượng à hai gang tay Phật. Rộng một gang rưỡi tay Phật, rồi thêm vào bên dài và rộng nửa gang tay Phật nữa. Nếu làm quá, ba dật đề, phải cắt bỏ.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Ni sư đàn, cũng âm là ni sư đát na, nghĩa đen là cái để ngồi ; Hán thường dịch là tọa cụ, chỉ riêng một loại phu cụ. Về phu cụ, xem điều 11 ni tát kỳ.

Điều luật này ấn định kích thước hợp pháp của tọa cụ. Duyên khởi, Tứ phần, trong đây gồm hai lần kết. Phật tại Xá Vệ. Theo lệ thường, mỗi năm ngày một lần, Phật đi kiểm thám các phòng của Tỳ kheo. Ngài thấy các ngọa cụ để rải rác, phơi trống cho nắng mưa, hoặc bị dính bẩn do các Tỳ kheo nằm ngủ bị mộng tinh. Nhân đó, Ngài cho phép các Tỳ kheo làm ni sư đàn, để vừa che thân, che y, che cả ngọa cụ. Nhưng vì Ngài chưa nói kích thước nên nhiều Tỳ kheo làm lớn quá cở, gần như là bằng ba y thường dùng. Ngài ấn định kích thước. Tuy nhiên, thân hình trưởng lão Ca Lưu Đà Di quá lớn, khi ngồi, tọa cụ che không hết hai đầu gối. Do đó, Phật cho làm thêm một bên một gang rưỡi. Duyên khởi trong các bộ đại khái cũng tương tợ. Riêng Tăng kỳ cho thêm một chi tiết nêu bật ý nghĩa hai lần kiết giới với hai lượng khác nhau. Sau khi Phật ấn định kích thước, các Tỳ kheo họp nhau bàn luận về việc kích thước quá nhỏ, nếu trải ngồi, che được hai đầu gối thì thiếu chỗ ngồi ; hoặc ngồi ngay giữa thì lại thiếu hai đầu gối. Phật hay được sự thảo luận ấy, hỏi các Tỳ kheo trong lúc họp ai là Thượng tọa. Các Tỳ kheo bạch: Trưởng lão Xá Lợi Phất. Phật phạt ngài Xá Lợi Phất ra đứng phơi nắng, vì là Thượng tọa mà khi các Tỳ kheo luận bàn không như pháp lại im lặng không cản. Các Tỳ kheo thỉnh Phật thôi đừng phát Tôn giả phơi nắng, vì thân thể Tôn giả vốn mảnh mai yếu đuối. Nhưng Phật nói, đối với Xá Lợi Phất, điều gì Phật đã nói, thì Trưởng lão làm theo không thể lay chuyển. Nhưng Phật cũng nói thêm, phơi nắng như thế cũng tốt vì Trưởng lão vốn hay bị cảm lạnh. Theo ý nghĩa duyên khởi này, thì lượng đầu tiên Phật ấn định à lượng nhỏ tối thiểu, và lượng sau là lượng lớn tối đa. Các Tỳ kheo phải chấp hành nghiêm chỉnh trong lượng được ấn định ấy, không nên bàn thảo.

+ Theo lượng ấn định lần đầu, tức lượng căn bản, chiều dài hai tay Phật, và chiều ngang một gang rưỡi. Căn bản và Luật nhiếp cho biết kích thước này, nếu tính theo cỡ người trung bình, thì chiều dài như vậy là bằng ba khuỷu. Theo cách tính phổ thông, một khuỷu của người trung bình khoảng 0m45 đến 0m50. Bằng ba khuỷu tay người trung bình thì lượng này dài đã gần bằng 1m50, và chiều ngang đã gần hơn 1 m. với kích thước ấy, dù người to lớn đến đâu cũng khó mà nói là ngồi không lọt hai đầu gối. Nếu hiểu rằng, tuy nói là gang tay Phật, nhưng không lớn hơn tay người trung bình bao nhiêu ; và ở đây tính theo mức trung bình, chiều dài bằng hai gang, tức khoảng 0m45 và ngang một gang rưỡi tức khoảng 0m35. Theo cỡ này, có thể đủ cho một người trung bình ngồi lọt cả hai đầu gối ; nhưng với những người to lớn, có thể nói là thiếu.

Về khoản tăng thêm trong sự ấn định lần thứ hai, chánh văn Tứ phần nói, mỗi bên thêm một nửa gang ; các bộ khác nói thêm một gang. Thật sự không có sai biệt trong các bộ. Tứ phần nói mỗi bên, tức thêm cho cả bốn bên. Các bộ khác nói một gang là thêm cho mỗi chiều. Rút lại, thêm bốn bên, hay thêm hai chiều, lượng ấn định vẫn bằng nhau. Như vậy, tọa cụ có lượng lớn nhất là dài ba gang tay Phật và ngang hai gang rưỡi.

+ Nếu làm quá…phải cắt bỏ, quy định thể thức sám ba dật đề của điều luật này. Trong khi đang may, với lượng quá mức ấn định, mà chưa may xong, đột kiết la ; đã may xong, ba dật đề. Chỗ kích thước quá lượng phải cắt bỏ cho vừa đúng lượng, sau đó sám ba dật đề.

ĐIỀU 88: Phú sang y quá lượng(Y che ghẻ quá lượng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo làm y che ghẻ phải làm y đúng lượng: trong đây đúng lượng là dài 4 gang tay Phật. Nếu quá, phải cắt bỏ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, các bộ giống nhau. Tứ phần: Phật tại Xá Vệ, các Tỳ kheo bị ghẻ, mủ chảy rất dơ. Phật cho phép các Tỳ kheo làm y che ghẻ. Các Tỳ kheo dùng vải thô xấu, có lông, nên ghẻ dính vào vải, khi gỡ khiến đau nhức. Phật cho dùng vải tốt, láng và mềm. Một số Tỳ kheo làm y che ghẻ quá rộng lớn, do đó Phật ấn định kích thước.

Trong đây, nói gang tay Phật, có hai cách tính như đã giải trong điều 87 trên. Nếu theo cách tính bất thường, nghĩa là 1 gang tay Phật bằng 3 gang tay thường, thì cỡ y che ghẻ này chiều dài sẽ hơn 2m70 và rộng gần 1m50. Cỡ này quá lớn đối với một miếng vải che ghẻ, không thể chấp nhận. Cách tính theo bình thường, cỡ trung lớn nhất của y che ghẻ được ấn định trong đây sẽ là dài 0m90 và rộng 0m45. Khó có cách tính nào mà một y che ghẻ có thể lớn hơn thế nữa.

+ Phải cắt bỏ…, cũng như điều 87 trên, nếu làm quá lượng, phải cắt bỏ chỗ dư ấy cho đúng lượng, sau đó sám ba dật đề.

+ Ngũ phần nói thêm: sau khi lành ghẻ, y ấy không dùng nữa, phải tịnh thí, không được để quá hạn ; Tăng kỳ cũng nói như vậy, và lại thêm chi tiết nữa: hoặc có thể dùng làm ba y. Thập tụng đại khái cũng nói như vậy. Nhưng nói rõ ngày được phép chứa sau khi lành ghẻ không dùng nữa. Bấy giờ, nó được coi là y dư, không được chứa quá hạn 10 ngày, như đã ấn định trong điều 1 của ni tát kỳ.

ĐIỀU 89: Vũ dục y quá lượng(Y tắm mưa quá lượng).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo làm y tắm mưa cần phải làm đúng lượng. Trong đây đúng lượng là dai 6 gang tay Phật, rộng 2 gang rưỡi tay Phật. Nếu quá, phải cắt bỏ, ba dật đề.

B. LƯỢC GIẢI:

+Y tắm mưa, công dụng cũng như duyên khởi của y này, xem điều 27 ni tát kỳ. Ở đây, điều luật này ấn định kích thước. Vì sau khi Phật cho phép các Tỳ kheo sắm y tắm mưa theo thỉnh nguyện của bà Tỳ Xá Khư, các Tỳ kheo có người làm lớn quá cỡ, do đó Phật phải ấn định kích thước.

+ Về kích thước, trong đây cũng có hai cách tính, giống như các trường hợp tọa cụ và y che ghẻ trong điều 87 và 88 trên. Theo kích thước mà luật gia các bộ thường đưa ra, 1 gang tay Phật bằng 3 gang tay thường. Vậy, y tắm mưa ở đây dài hơn 4 mét, rộng gần 1m70. Kích thước này không phù hợp thực tế. Nếu tính theo mức thông thường, chiều dài có thể gần 1m40 và rộng gần 0m60. Có lẽ đây là kích thước đúng.

Kích thước ấn định trong chánh văn Ngũ phần khác với các bộ: dài 5 gang tay Phật và rộng 2 gang rưỡi.

+ Về phạm tướng, cũng xử lý như điều 87 và 88 trên. Chỗ dư quá lượng được cắt bỏ, sau đó sám ba dật đề.

ĐIỀU 90: Đồng Phật y lượng(Y bằng lượng y của Phật).

A. CHÁNH VĂN:

Tỳ kheo nào làm y mà lượng bằng hoặc hơn lượng y của Như Lai, ba dật đề. Trong đây lượng y của Như Lai là dài 10 gang tay Phật, rộng 6 gang tay Phật. Đây gọi là lượng y của Như Lai.

B. LƯỢC GIẢI:

+ Duyên khởi, các bộ đại khái giống nhau. Tường thuật tổng hợp. Nan Đà, em khác họ với Đức Thích Tôn. Vì rất giống Phật, nên các Tỳ kheo đã từng lầm tưởng là Phật, được đề cập trong duyên khởi của điều 60 ba dật đề trên. Ở đây cũng vậy, Nan Đà khoác y mà lượng bằng y Phật. Chỗ dài thừa vắt lên vai. Các Tỳ kheo lầm tưởng là Phật, đứng dậy bẩm bạch. Nan Đà đính chính. Để khỏi có sự lầm lẩn ấy, Phật ấn định kích thước y của Tỳ kheo.

+ Lượng y trên đây theo chánh văn trong Quảng luật của Tứ phần. Tứ phần giới bồn A chép: dài 9 gang tay Phật. Giới bổn B lại chép y như Quảng Luật.

Lượng trong các bộ khác, Ngũ phần, Tăng kỳ, Thập tụng đều nói dài 9 gang tay Phật.

Lượng y theo Căn bản cũng đồng như Tứ phần.

Về chiều rộng, các bộ giống nhau.

Có hai cách tính kích thước này, như đã tính trong các điều 87, 88 và 89 trên.

Cách tính thứ nhất, theo Căn bản, 10 gang tay Phật bằng 15 khuỷu tay người thường, tức khoảng gần 7m00 ; chiều ngang 6 gang tay Phật, bằng 9 khuỷu tay thường, tức khoảng gần 4m50. Lượng này quá lớn, khi nào muốn khoác hẳn Phật phải gấp làm đôi. Không đâu nói Phật cao gấp đôi người thường.

Cách tính thứ hai, chiều dai khoảng 2m50 và rộng gần 1m50. Lượng này lại quá ngắn và hẹp.

+ Về phạm tướng. Thành tội ba dật đề cũng như các điều 87- 89 trên. Nhưng Tứ phần không nói cách xử lý y quá lượng này. Thập tụng nêu cách xử lý như các trường hợp quá lượng trên. Nghĩa là chỗ dư quá lượng phải cắt bỏ, còn lại được phép dùng, sau khi sám ba dật đề.

III. KẾT VẤN:

Thưa các Đại đức, tôi đã tụng xong chín mươi pháp ba dật đề. Nay hỏi các Đại đức trong đây có thanh tịnh không ?

Các Đại đức trong đây thanh tịnh, vì im lặng. Việc ấy tôi ghi nhận như vậy.

--- o0o ---


Source:www.phatviet.net

Vi tính: Nguyên Trang, Nhị Tường - Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn