46. Chùa Quảng Đức, Ngôi chùa đầu tiên của huyện miền núi Khánh Vĩnh - Khánh Hoà

30/05/202418:29(Xem: 6220)
46. Chùa Quảng Đức, Ngôi chùa đầu tiên của huyện miền núi Khánh Vĩnh - Khánh Hoà

CHÙA QUẢNG ĐỨC

Ngôi chùa đầu tiên
của huyện miền núi Khánh Vĩnh - Khánh Hoà

 

         Chùa toạ lạc tại thôn Bến Khế, xã Khánh Bình, huyện Khánh Vĩnh trên diện tích đã quy hoạch là 3ha, diện tích sử dụng là 2.000m2.

        Vào năm 1992, khi hay biết tâm nguyện đưa ánh sáng trí tuệ của đạo Phật lên vùng thâm sơn cùng cốc của một vị chơn Tăng để truyền bá chánh pháp, một Phật tử tín tâm đã hiến cúng cả một khu đồi rẫy để Thượng toạ Thích Trừng Thi kiến lập nên ngôi Tam bảo. Khi nhân duyên hội đủ, thầy Trừng Thi đã xúc tiến ngay một cuộc phong quang đầy đạo lực trên mảnh đất hoang liêu gai góc mà dân cư quanh vùng đa số là đồng bào dân tộc thiểu số còn sống trong tăm tối nghèo khó...

        Hoà thượng Thích Trừng Thi, đương vi Viện chủ chùa Tân Long (Diên Khánh), trụ trì Tòng Lâm Lô Sơn Tịnh Độ Tự (chùa Đá Lố ở Vĩnh Phương, Nha Trang), Phó Ban Trị sự GHPGVN Tỉnh Khánh Hoà, kiêm Trưởng BTS GHPGVN huyện Diên Khánh, chính là vị Tổ khai sơn.

        Chùa Quảng Đức chính là ngôi già lam đầu tiên hiển hiện trên vùng rừng núi thâm u Khánh Vĩnh

chua quang duc (71)chua quang duc (69)

        Lúc sơ khai, chùa Quảng Đức chỉ là một ngôi tịnh thất, nhà ngói 3 gian giản dị tạm đủ cho người xuất gia có nơi an trú để tịnh tu, hành lễ. Qua một thời gian dài, ngoài công việc tôn tạo thắp sáng ngôi tiểu tự là biết bao nhiêu công sức để phát hoang, định hình và bài trí sân vườn chung quanh để từng ngày ngôi thờ phụng Tam bảo hiển lộ như một kỳ quan thiêng liêng đặc biệt giữa rừng núi hoang vu… Đã có nhiều vị Tăng trẻ được sư phụ cử về đây thay phiên nhau lao động cật lực để biến đổi phong quang cảnh sắc và giữ sáng ấm hương đăng cho ngôi chùa nhỏ bé sơ khai rất ít người được biết đến. Có thầy về làm giám tự được khoảng 2 năm, là thời gian dài nhất so với các thầy đến trước, nhưng rồi cũng rời đi vì nhiệm vụ hoằng pháp ở nơi khác.

        Năm 2002, vừa mãn khoá tu học tại Đại Tòng Lâm (Bà Rịa - Vũng Tàu) về, được sự giới thiệu và đề cử của Đại đức Thích Tâm Tựu (chùa Phú Phong, Diên Phú, Diên Khánh) là vị đồng tu đồng khoá, Sư cô Thích Nữ Diệu Ánh đã được Hoà thượng khai sơn chấp thuận, cho phép về Bến Khế nhận chùa Quảng Đức để tu hành, hoằng pháp. Sư cô chính là vị trụ trì đầu tiên của ngôi chùa đầu tiên trên đất Khánh Vĩnh từ đó cho đến nay.

chua quang duc (66)chua quang duc (67)chua quang duc (68)chua quang duc (69)chua quang duc (70)


        Là thân nữ chân yếu tay mềm, đơn thân rời bỏ phố thị miền xuôi để lên núi rừng hoang vắng, với tâm nguyện “trú Pháp Vương gia, trì Như Lai tạng”, vừa tịnh tu vừa hoằng pháp, Sư cô trụ trì đã kiên cường và kiên định vượt qua rất nhiều chướng duyên nghịch cảnh, vừa thiếu thốn vật chất lại vừa đương đầu với bao mối hiểm nguy rình rập mà một nam tử vai u thịt bắp có thể phải e dè ngán ngại. Điện thì câu kéo nhờ từ lò đường gần đó của vị tín chủ đã cúng dường mảnh đất xây chùa, nên chỉ thắp tượng trưng một, hai bóng đèn huỳnh quang cho sáng ấm ngôi Tam bảo. Nước dùng để sinh hoạt thì không hề có, phải chở đèo từng can nước lấy từ dòng sông Chò chảy qua ở cách chùa khoảng nửa cây số (nay khúc sông này đã được xây chiếc cầu bắc ngang, có tên Cầu Sông Chò). Xung quanh thưa thớt dân cư, nhà cách nhà cũng vài trăm thước đất, lác đác những căn chòi, nhà sàn tồi tàn của những người láng giềng dân tộc thiểu số, khách không mời thường vào ra chùa nhởn nhơ lại là bò cạp, kỳ đà tắc kè, rắn hổ chúa hổ mang… Đã có nhiều vị Tăng, Ni đồng tu đồng học khuyên Sư cô trụ trì nên rời khỏi chùa để về lại miền xuôi, sẽ không ai quở trách hay khinh chê một người nữ đơn thân đang sống nơi thập phần hung hiểm và quá nhiều khó khăn thử thách như vậy đâu, nhưng Sư cô trụ trì vẫn giữ nguyên vẹn tâm nguyện, ý chí để giữ lấy mảnh đất có ngôi tiểu tự mà Sư cô luôn cảm nhận và cho rằng đây là linh địa.

        Từng tháng ngày trôi qua, thiện duyên đến, phước duyên về, có một tín chủ phát tâm cúng dường đào giếng, giếng sâu gần 20 thước, vào năm 2004. Rồi các vị tín chủ khác xuất hiện, đã phát tâm cúng dường xây dựng trùng tu ngôi Chánh điện vào năm 2012;  thiết trí thánh tượng đức Bồ tát Quán Thế Âm lộ thiên ngoài sân bằng đá, có chiều cao 4,5 thước, vào năm 2014; đúc đại hồng chung và xây tháp chuông vào năm 2015… cùng những công trình phụ thiết yếu dành cho chốn già lam lan nhã. Điều làm cho chúng ta phải kính cẩn ngưỡng mộ là các vị tín chủ cúng dường Tam bảo vô điều kiện, không cần phải lưu tên khắc danh để được tán dương công đức, chỉ có vị trụ trì là biết rõ danh tánh của các vị ấy thôi!

        Qua thời gian trên 20 năm, tính từ ngày về trụ trì (2002-2024), Sư cô Diệu Ánh nay đã là một vị Ni sư, đã hoàn thành tâm nguyện trùng tu kiến tạo ngôi Tam bảo đầu tiên trên vùng rừng núi Khánh Vĩnh được an danh Quảng Đức. Ban đầu, Ni sư định đặt tên chùa là Khánh Viên, lấy chữ Khánh của địa danh Khánh Vĩnh và chữ Viên từ ngôi Tổ đình Diệu Viên ngoài Huế. Khi thỉnh ý Hoà thượng khai sơn, Hoà thượng đã đặt tên cho ngôi chùa nhỏ bé vùng heo hút này là Quảng Đức, vì tâm nguyện muốn nương ân đức của Bồ tát để hoằng pháp lợi sanh, truyền lưu chánh đạo cho hậu thế.

 

        Ni sư trụ trì có pháp danh Quảng Thiện, thuộc dòng thiền Liễu Quán đời thứ 45, là đệ tử của Ni trưởng Thích Nữ Chơn Cẩn ở chùa Diệu Viên (tọa lạc ở xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, trên triền núi Ngũ Phong, Huế).

        Khi vào đến Xứ Trầm Hương – Khánh Hoà để hoằng pháp, Ni sư đã thọ pháp y chỉ nơi Sư trưởng Thích Nữ Lưu Phương ở chùa Liên Hoa (toạ lạc tại số 8 đường Hiền Lương, phường Phước Hoà, thành phố Nha Trang), được Sư trưởng ban cho pháp hiệu Tịnh Quang. Sư trưởng Liên Hoa dù niên cao lạp trưởng vẫn không ngai đường xa trắc trở đã lên đến Khánh Vĩnh, quang lâm bửu điện chùa Quang Đức để chứng minh buổi lễ Quy y Tam bảo dành cho những người con Phật vùng núi rừng hiu quạnh.

chua quang duc (7)

chua quang duc (2)chua quang duc (3)chua quang duc (4)chua quang duc (5)chua quang duc (6)chua quang duc (7)chua quang duc (8)chua quang duc (9)chua quang duc (10)chua quang duc (11)chua quang duc (12)chua quang duc (13)chua quang duc (14)chua quang duc (15)chua quang duc (16)chua quang duc (17)chua quang duc (18)chua quang duc (19)chua quang duc (20)chua quang duc (21)chua quang duc (22)chua quang duc (23)chua quang duc (24)chua quang duc (25)chua quang duc (26)chua quang duc (27)chua quang duc (28)chua quang duc (29)chua quang duc (30)chua quang duc (31)chua quang duc (32)chua quang duc (33)chua quang duc (34)chua quang duc (35)chua quang duc (36)chua quang duc (37)chua quang duc (38)chua quang duc (39)chua quang duc (40)chua quang duc (41)chua quang duc (42)chua quang duc (43)chua quang duc (44)chua quang duc (45)chua quang duc (46)chua quang duc (47)chua quang duc (48)chua quang duc (49)chua quang duc (50)chua quang duc (51)chua quang duc (52)chua quang duc (53)chua quang duc (54)chua quang duc (55)chua quang duc (56)chua quang duc (57)chua quang duc (58)chua quang duc (59)chua quang duc (60)chua quang duc (61)chua quang duc (62)chua quang duc (63)chua quang duc (64)



        Trở lại với dòng truyền thừa, Ni trưởng Thích Nữ Chơn Cẩn là đệ tử của Ni trưởng Thích Nữ Hướng Đạo, vị Tổ khai sơn của chùa Diệu Viên, ngôi chùa Sư Nữ đầu tiên của đất thần kinh cố đô. Gẫm hai từ “đầu tiên” của hai ngôi chùa, có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là có sự sắp đặt của đạo lực, của ân đức thiêng liêng từ các bậc Thầy Tổ tiền bối, chúng ta không khỏi giật mình?! Chùa Quảng Đức không chỉ là ngôi chùa đầu tiên của huyện Khánh Vĩnh, mà còn là ngôi chùa Ni đầu tiên của vùng miền núi xa xôi trắc trở và còn là ngôi chùa duy nhất được mang tên Bồ tát Thích Quảng Đức trên toàn tỉnh Khánh Hoà. Trước năm 1975 đã từng có một ngôi chùa mang tên Quảng Đức ở Đồng Đế - Vĩnh Hoà, nhưng sau này đã mất bóng, chỉ còn lưu lại được tên con đường Quảng Đức, nên không còn được nhắc đến!

 

        Thời gian vừa qua, Ni sư trụ trì đang nhận giáo dưỡng 2 tiểu điệu và một bé trai sơ sinh bị bỏ rơi trước cổng chùa lúc nửa đêm về sáng, chính quyền địa phương đã thỉnh cầu nhà chùa nhận nuôi, hợp thức hoá mọi thủ tục, cháu bé đã được đặt tên là Thiện Phước. Qua những năm dài hoằng pháp lợi sanh, Ni sư đã truyền giới Quy y Tam bảo cho 120 Phật tử, có khoảng 200 hộ dân quanh vùng kính tín Đạo Phật thường về chùa nghe pháp, tụng kinh, làm công quả…

       Nhà chùa vẫn thường tổ chức những ngày lễ lớn trang nghiêm như Phật đản, Vu Lan, hay những ngày vía chư Phật, Bồ tát cũng như các ngày lễ sóc vọng, trai đàn chẩn tế có chư tôn đức Tăng Ni quang lâm chứng minh và hộ trì, để những người con Phật được phước duyên tề tựu nương tựa hồng ân Tâm bảo với ước nguyện tránh làm điều ác dữ, chỉ làm những điều thiện lành, có được cuộc sống tươi sáng, lành mạnh và an vui.

 

Tâm Không Vĩnh Hữu




       

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
19/09/2020(Xem: 7458)
Chùa Huyền Không còn gọi là chùa Huyền Không 1, chùa Huyền Không Sơn Trung để phân biệt với chùa Huyền Không 2, chùa Huyền Không Sơn Thượng ở Huế. Chùa tọa lạc ở thôn Nham Biều, xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, thành phố Huế (cách chùa Thiên Mụ 3 km về phía tây) với diện tích khoảng 6.000 m2. Chùa thuộc Hệ phái Phật giáo Nam Tông (Kinh). Chùa Huyền Không được Sư Viên Minh, Sư Tịnh Pháp, Sư Trí Thâm và Sư Tấn Cănxây dựng vào năm 1973 tại Lăng Cô, bên chân đèo Hải Vân, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngôi chùa bấy giờ nhỏ, dựng bằng tre nứa.
18/09/2020(Xem: 6251)
Chùa Thanh Xuân thuộc địa danh làng Thanh Xuân Xã Triệu An, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, nằm dọc duyên hải miền trung bờ nam biển Cửa Việt; cuối nguồn hai nhánh sông Thạch Hãn, Vĩnh Định đổ ra biển. Theo dân làng kể lại, đời tổ tiên ông bà xuất phát ra lập làng từ đời triều Nguyễn ở Huế, hai họ Phan, họ Trần theo dòng Vĩnh Định ra Quảng Trị xuôi nguồn về đây. Lập tên làng Thanh Xuân, trong đó Xuân là lấy lại từ nguồn gốc thành Phú Xuân, cũng như các làng Xuân Thành, Dương Xuân vậy.
15/09/2020(Xem: 18632)
Chùa tọa lạc ở số 01 đường Sư Liễu Quán, phường Trường An, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Mặt chùa quay hướng Nam. Bên trái chùa, có chùa Linh Quang và đền thờ cụ Phan Bội Châu. Chùa được Thiền sư Minh Hoằng Tử Dung dựng vào cuối thế kỷ 17 tại ngọn đồi thấp Hoàng Long Sơn, có tên thiền thất Ấn Tôn. Năm Nhâm Thìn (1712), ngài Thiệt Diệu Liễu Quán, quê ở Phú Yên là đệ tử đắc pháp của Sơ tổ Minh Hoằng Tử Dung, được ngài truyền tâm ấn, trở thành đệ nhị Tổ. Ngài Thiệt Diệu Liễu Quán đã phát triển dòng thiền Lâm Tế cho đến ngày nay.
13/09/2020(Xem: 20387)
Thiền viện tọa lạc dưới chân núi Bạch Mã, khu vực hồ Truồi, xã Lộc Hòa, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Ở độ cao 1.450m, cách biển Đông 5km đường chim bay, nhiệt độ trung bình 200C, Bạch Mã là nơi có khí hậu mát mẻ, lý tưởng cho việc tu tập của Tăng, Ni, Phật tử và các chuyến tham quan, chiêm bái của du khách. Tên thiền viện lấy theo tên núi Bạch Mã. Chữ “Trúc Lâm” hàm ý đến dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc và mang tính nhập thế.
11/09/2020(Xem: 6401)
Chùa Hà Trung tọa lạc ở làng Hà Trung, xã Vinh Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa cách trung tâm thành phố Huế khoảng 50 km. Chùa được lập vào thời Hậu Lê, gắn với hành trạng Thiền sư Nguyên Thiều. Thiền sư từ Quảng Đông, Trung Quốc sang Quy Nhơn lập chùa Thập Tháp Di Đà, sau ra Thuận Hóa lập chùa Quốc Ân. Năm 1695, chúa Nguyễn Phúc Chu cử ngài đến trụ trì chùa Hà Trung. Ngôi chùa ngày nay được trùng tu năm 1995, đại trùng tu năm 2009. Trụ trì chùa là Hòa thượng Thích Chơn Tế (trụ trì chùa Tường Vân, Huế kiêm nhiệm), Tri sự là Đại đức Thích Quảng Huệ.
11/09/2020(Xem: 6998)
Thông Điệp Của Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Đôn Hậu (Chánh Thư Ký Xử Lý Viện Tăng Thống GHPGVNTN thân gởi Chư Tôn Đức Tăng Ni và Đồng Bào Phật tử Hải Ngoại)
09/09/2020(Xem: 6837)
Chùa Diệu Đế tọa lạc bên bờ sông Hộ Thành (sông Gia Hội) số 110 Bạch Đằng, phường Phú Cát, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa có diện tích hơn 10.000m2. Chùa nguyên là phủ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi. Đây là nơi Hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, con vua Minh Mạng ra đời vào ngày 16/6/1807. Năm 1841, Hoàng tử lên ngôi vua ở kinh thành Huế, lấy niên hiệu là Thiệu Trị.
07/09/2020(Xem: 12624)
Chùa tọa lạc trên đồi Hàm Long (trên đất làng Thụy Lôi xưa, gần xóm Lịch Đợi), đường Báo Quốc, phường Phường Đúc, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Sơn Thiên Thọ Tự, do Thiền sư Giác Phong (du tăng người Quảng Đông, Trung Quốc) dựng vào cuối thế kỷ 17, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần, nơi ngài Liễu Quán đến học đạo và ở lại trong 11 năm. Tổ Giác Phong viên tịch năm 1714. Đến năm 1747, Hiếu Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cho trùng tu chùa và ban cho chùa tấm biển chữ Hán “Sắc Tứ Báo Quốc Tự”, bên trái có ghi hàng chữ Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự đề, bên phải có dòng lạc khoản Cảnh Hưng bát niên hạ ngũ nguyệt cát nhật. Ngoài ra còn có dấu chạm khắc hình bốn cái ấn, một cái triện tròn khắc chữ Quốc Chúa Nam Hà. Trụ trì chùa thời gian này là Thiền sư Tế Nhơn, một trong những cao đệ đắc pháp của Tổ Liễu Quán. Kế thế trụ trì là các ngài Tế Ân, Trí Hải, Đại Trí …
05/09/2020(Xem: 14076)
Chùa Giác Lâm tọa lạc tại số 02 kiệt 56 đường Duy Tân, phường An Cựu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nguyên là một thảo am do Tổ Giác Hải, người làng Trung Kiên, tỉnh Quảng Trị khai sáng vào ngày 16 tháng 3 năm Đinh Dậu (1897) trên một triền đồi, dưới chân núi Ngự Bình, đặt tên Duy Tôn Tự để truyền bá chánh pháp, đem đạo Phật phổ hóa vào những nơi xa xôi, hẻo lánh. Tổ có thế danh là Nguyễn Văn Cẩm, sinh trưởng trong một gia đình tín tâm với đạo Phật. Ngài là đệ tử của Tổ Tâm Tịnh, khai sáng Tổ đình Tây Thiên, Huế. Ngài có pháp danh là Trừng Nhã, tự Chí Thanh, hiệu Giác Hải.
30/08/2020(Xem: 8439)
Chùa Thiên Mụ thường gọi là chùa Linh Mụ, tọa lạc trên đồi Hà Khê, đường Nguyễn Phúc Nguyên, xã Hương Long, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chùa nằm ở bờ bắc sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế 5km. Sách Ô Châu cận lụccủa Tiến sĩ Dương Văn An cho biết chùa Thiên Mụ ở phía nam xã Giang Đạm, huyện Kim Trà, nóc ở đỉnh núi, chân gối dòng sông. Chùa được chúa Tiên - Nguyễn Hoàng cho xây dựng vào năm 1601. Năm 1665, chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu chùa khang trang. Năm 1695, Thiền sư Thạch Liêm, người Trung Quốc, được chúa Nguyễn mời làm trụ trì chùa. Từ chùa Thiên Mụ và chùa Khánh Vân (Huế), Ngài đã truyền bá Thiền phái Tào Động ở đàng Trong.Hòa thượng Thạch Liêm đã tả cảnh chùa Thiên Mụ: “Đêm 15 trời mưa, ra đến chùa Thiên Mụ. Chùa này tức Vương phủ ngày xưa (?) chung quanh có trồng nhiều cây cổ thụ, day mặt ra bờ sông; trước chùa ngư phủ, tiều phu tấp nập sớm chiều qua lại. Trong chùa cột kèo chạm trổ rất tinh xảo …” (1)