Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

06. Ngũ căn - Ngũ lực

19/02/201108:10(Xem: 3542)
06. Ngũ căn - Ngũ lực

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

NGŨCĂN-NGŨ LỰC
(Pañcānāmindriyāṇām - Pañcānāṃ balānām )

Ngũcănvà ngũ lực là hai hành pháp thứ tư và thứ năm thuộc bảy hành phẩm trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Nămcăn và năm lực ở đây thuộc nền tảng căn bản thúc đẩyđể từ đó phát sinh ra kết quả tùy thuộc vào tác nhântạo ra chúng hoặc thiện hoặc ác, hoặc tốt hoặc xấu …Năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh và tăng thượngcác thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chậnđứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiền não bất thiệnvà, tác dụng các khả năng tăng thượng các pháp lành.

- NGŨCĂN (Pañcānām indriyāṇām) ở đây chỉ cho năm vô lậu căn,là năm nền tảng căn để, đưa đến việc sản sinh và, tăngtrưởng thiện nghiệp, là con đường đưa về Thánh đạo,chúng câu hữu với tác dụng tăng thượng giải thóat cho hànhgiả, cho nên gọi là năm căn. Theo Luận Trí Ðộ 10, giảithì: “Năm căn này là nền tảng căn bản để phát sanh ratất cả các thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Và theo luậnCâu-xá 3 thì: “Đối trong pháp thanh tịnh thì năm căn nàycó tác dụng tăng thượng. Vì sao vậy? Vì thế lực của chúngcó khả năng hàng phục tất cả các thứ phiền não, đưahành giả đến Thánh đạo.” Năm căn ấy là:

Tíncăn (Śraddhendriya)
Tấncăn(Vīryendriya)
Niệmcăn(Smṛtīndriya)
Ðịnhcăn(Samādhīndriya)
Huệcăn(Prajñendriya).

1.Tín căn(Śraddhendriya): là lòng tin được đặt trênchiều hướng câu hữu với thiện pháp và đưa đến giảithóat, tức là tin một các vững chắc vào Tam bảo, tin mộtcách như thật vào đạo lý Tứ đế. Lòng tin này được đặttrên nền tảng như thật không giống như lòng tin mù mờ,vô căn cứ, không thấy, không biết, không nghe mà vẫn cứtin, đó gọi là tin mù quán, mê tín dị đoan không có cơ sở,bất chấp sự thật của hầu hết các bộ phái ngoại đạo.Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả củasự suy luận so sánh đối chiếu sáng suốt, của sự quan sáttư duy kỹ càng chứ không phải của tình cảm đam mê lú lẫn.Ðức Đạo sư không bao giờ bắt buộc chúng ta tin một điềugì mà không tìm hiểu suy xét về nó, không giải thích tườngtận rõ ràng về nó. Vì vậy cho nên Ngài thường dạy chocác đệ tử của Ngài là: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tứclà hủy báng Ta!” Lòng tin của chúng ta phát khởi từ trítuệ, có xét đoán tìm hiểu một cách rõ ràng minh bạch thì,lòng tin đó nó mới vững chắc, mãnh liệt. Chính nó là nềntảng căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy: “Tin làmẹ vô lượng công đức”. Nhưng hành giả chúng ta tin cáigì cho đúng với thiện pháp, đúng với giải thóat? Đó chínhlà tin vào ba ngôi báu:

a)Tin Phật: Chúng ta biết rằng đức Đạo sư là bậc hoàn toàngiác ngộ và, giải thoát tất cả mọi vướng bận của khổđau thế gian. Vì vậy, hành giả chúng ta lúc nào cũng luônluôn tin tưởng về Phật và, hướng mục tiêu hòan thành giácngộ, cũng như giải thoát cuối cùng của chúng ta như chínhđức Đạo sư đã thân chứng.

b)Tin pháp: Hành giả chúng ta tin vào Pháp là chân lý sống, làpháp như thật mà đức Ðạo sư đã thân chứng và, truyềnlại cho những người đi sau như chúng ta. Hay nói một cáchkhác, pháp đó chính là giáo lý chỉ cho bốn sự thật màđức Đạo sư đã thuyết minh lần đầu tiên cho năm anh emKiều Trần Như tại vườn nai. Chúng ta tin tưởng một cáchtuyệt đối vào những giáo lý ấy, vì người nói ra là đứcĐạo sư, Ngài đã tự thân tác chứng và, giác ngộ đượccũng nhờ vào giáo lý ấy.

c)Tin Tăng: Hành giả chúng ta tin tưởng vào Tăng là những ngườithật hành các giáo lý của đức Đạo sư, để tự thanh tịnhba nghiệp thân khẩu ý, giác ngộ mình, giác ngộ người khác,là những vị đại diện cho đức Đạo sư đưa cao ngọn đuốcchánh pháp sáng soi cho mọi người đi theo. Nên hành giả quyếttrọn đời phải tin tưởng và, quy hướng về Tăng để thựchành giải thóat.

2.Tấn căn (Vīryendriya): Là sự nổ lực siêng năng, tinhtấn dũng mãnh trong việc thực hành tu tập các pháp lành màhành giả đã lựa chọn, không bao giờ để cho thối lui. Nếuhành giả đã có lòng tin chắc chắn vào pháp tu mà không nổlực siêng năng tinh tấn thực hiện thì, lòng tin suông trênlý thuyết đó sẽ trở thành vô dụng, không đưa hành giảchúng ta đạt đến cứu cánh giải thóat được.

Nênhành giả nào đã tin tưởng vào Tam bảo, thì phải luôn luônnổ lực siêng năng, tinh tấn thực hành giáo lý của Phậtmà mình đã chọn. Theo Nhiếp đại thừa luận thì, tinh tấncó ba:

a)Bị giáp tinh tấn: Mặc áo giáp tinh tấn, là một trong nhữngthứ vũ khí lợi hại khi chiến đấu với các loại giặc,các loại ma trong đó có nội ma ngoại ma. Trong cuộc chiếnđấu này hành giả bắt buộc phải cần đến áo giáp tinhtấn, nó là một trong những lợi khí khi xông pha vào trậnđịa “phiền não”, nó luôn luôn động viên và thúc giụchành giả tiến lên phía trước một cách cam đãm dũng mãnhmà không còn sợ sệt ma quân hảm hại. Nhờ có áo giáp này,nó là một năng lực khiến chúng ta hùng dũng tiến tới, khôngsợ gian nan nguy hiểm, không lùi bước trước một trở ngạihay một địch thủ nào, nên siêng năng tinh tấn là một trợlực rất có hiệu quả cho hành giả trên bước đường tutập thực hành để đạt giải thóat.

b)Gia hành tinh tấn: Hành giả luôn luôn nổ lực gắng sức khôngbao giờ lười nhác dừng nghĩ trên bước đường tu tập điđến giải thoát. Với thứ tinh tấn này, nổ lực của sứcmạnh tiếp sức này tức là chỉ cho những duyên phụ thuộckích thích hành giả chúng ta càng tiến lên càng tạo thêmsức mạnh càng hăng, càng kích thích phấn chí nhiều hơn và,chúng sẽ làm cho hành giả không còn mệt mỏi biến nhác nữa.

c)Vô hỷ túc tinh tấn: Là không vui sướng tự mãn với thànhquả vừa đạt được trong lúc tu tập thực hành mà cho làvừa đủ không cần cố gắng tiến lên nữa. Hành giả khinào chưa vào được Thánh đạo thì dứt khóat phải còn giacông gắng sức tu tập mãi mãi, chứ không chịu dừng lại,mà hưởng vui với một quả vị thấp kém, tạm thời. Nhưngười đi bộ khi chưa đến đích cuối cùng thì, vẫn cònhăng hái tiến bước mãi càng nhanh càng tốt, chứ không chịuchấm dứt cuộc hành trình của mình với dạng lấy lệ, haycho như vậy là đủ bằng cách an phận nghỉ ngơi mãi trongquán trọ bên đường, làm cho tiến độ càng ngày càng suygiãm tốc độ dần cho đến khi quên mất mục đích nơi đếncuối cùng của mình.

3.Niệm căn(Smṛtīndriya): Mục tiêu của niệm là nhớnghĩ đến những pháp câu hữu với giải thóat, giúp hànhgiả nếu muốn đạt được mục đích thì, cần phải nhờvào những pháp phương tiện trợ duyên pháp hành của mình.Nhớ nghĩ ở đây liên quan đến:

a)Niệm thí: Là nhớ nghĩ đến việc tu tập bố thí. Hành giảở đây ngoài việc tự làm lợi cho chính mình, mà còn phảilúc nào cũng phải nhớ nghĩ đến việc đem tài sản bố thícho người nghèo khổ; đem hùng lực vô úy của chính mìnhcứu giúp cho những người sợ hãi nhút nhát; đem chánh phápchỉ giáo bày vẽ cho người si mê, khiến họ hết khổ đượcvui như mình.

b)Niệm giới: Là nhớ nghĩ đến việc trì tịnh giới để đoạntrừ các phiền não nghiệp chướng mà hành giả đã lỡ tạora trong quá khứ gần hay xa và, ngăn ngừa những nghiệp nhânác bất thiện có thể xảy ra trong hiện tại, cùng làm tăngtrưởng mọi pháp lành trong quá khứ qua những tác nhân tronghiện tại. Hành giả ở đây cũng vậy ngoài việc tự lợicho chính mình trong việc giữ gìn giới cho thanh tịnh mà cònảnh hưởng hỗ tương đến mọi người chung quanh qua việcsống với người trong một cộng đồng cọng hưởng qua baloại Giới:

- Nhiếpluật nghi giới: Những giới điều để ngăn cấm các tácnghiệp thô xấu qua các oai nghi có thể xảy ra trong hiện tại,đồng thời cùng lúc đoạn trừ các nghiệp chướng nơi thântâm có thể xảy ra trong tương lai.

- Nhiếpthiện pháp giới: Những giới điều được đặt ra đúngpháp và lợi ích chúng câu hữu với giải thóat. Hành giảtu tập thực hành giữ gìn theo nó thì, có thể thành tựutất cả mọi pháp lành trong tương lai.

- Nhiêuích hữu tình giới: Những giới điều đưa đến làm lợiích an lạc cho tất cả chúng sinh khi hành giả thực hành tutập giữ gìn chúng. Vì sự tương quan tương duyên sinh khởinên một khi hành giả thành tựu pháp tu thì tất cả đềucùng lúc thành tựu trong sự hiện hữu đồng thời của chúng.

c)Niệm thiên: Lúc nào hành giả cũng nhớ nghĩ đến sự giàusang vui sướng của chư thiên và, bố thí trì giới để tạora các thiện nghiệp cho tương lai thì chắc chắn sẽ hưởngđược mọi thứ công đức này khi thọ thân trời phóng raánh sáng, không đâu là không chiếu tới. như Kinh Tăng NhấtA-hàm 2 phẩm Quảng diễn đức Đạo sư dạy: “Nếu có Tỳ-kheonào, chánh thân chánh ý, ngồi kiết già, cột niệm phía trước,không tưởng nghĩ đến việc khác, chỉ nhớ nghĩ đến trời,thân khẩu ý thanh tịnh không tạo ra các việc xấu. Giữ gìngiới, thành tựu thân giới thì, thân phóng ra ánh sáng, khôngđâu không đến … lúc nào cũng nhớ nghĩ đến trời khôngbao giờ quên thì, sẽ thu được mọi thứ công đức thiệnnày.” Hay Nhiếp Ðại Thừa luận thì nói: “Niệm Thiên làan trụ vào bốn món thiền định”. Vậy niệm thiên là nhớnghĩ đến cách tu tập bốn thiền định, để thanh lọc sạchhết tất cả phiền não mà giải thóat.

4.Ðịnh căn(Samādhīndriya): Ðịnh nói cho đủ là Chánhđịnh dịch nghĩa từ chữ Samādhi phiên âm là Tam-ma-địa.Ðịnh là khiến tâm hành giả trụ vào một nơi, một chỗđể lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, không chotâm hành giả tán loạn mà quán sát suy đạt thật nghĩa củanó. Còn căn phạn ngữ gọi là indriya bao gồm vừa có nghĩatăng thượng vừa có nghĩa sinh khởi. Do đó định căn cónhiệm vụ khiến cho tâm hành giả dừng lại một chỗ, khôngvì hòan cảnh ngoại tại mà sức thiền định bị dao động;vì sức thiền định này có khả năng sinh khởi ra mọi thứcông đức và làm chúng tăng trưởng lên. Cho nên gọi là căn. Theo Thành duy thức luận 9, trong Thập độ tam hành, độ thứnăm là Thiền độ tam hạnh thì tịnh lự (định) có thểchia làm ba bậc:

a)An trụ tịnh lự: Để tâm an trụ vào định, nên vọng tưởngkhông có cơ hội để khởi lên, nhờ vậy mà hành giả đisâu vào trong thiền định và, từ đó phiền não được diệttrừ.

b)Dẫn phát tịnh lự: Nhờ phiền não đã được đoạn trừnên trí tuệ được hiện hữu phát sinh các thứ công đứcthù thắng.

c)Biện sự tịnh lự: Nhờ đã phát sinh các thứ công đứcviên thành, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh;cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng đắc Niết-bàn.

5.Huệ căn (Prajñendriya): Quán trí phát sinh được nhờ trongđịnh và, cũng từ đó mà hành giả hiểu rõ được chânlý như thật của muôn pháp. Quán đạt chân lý gọi là tuệ;khi trí huệ đầy đủ thì tất cả mọi thứ phiền não tựtiêu trừ và, các năng lực thiện pháp xuất hiện, thành tựutrọn vẹn mọi thứ công đức, cho đến lúc thành đạo. Chonên gọi là Huệ căn. Theo Nhiếp Ðại Thừa, trí huệ có bathứ:

a)Vô phân biệt gia hành huệ: Trí tuệ nầy không còn có sựphân biệt nữa, nhưng còn cần phải thực hành thêm, nghĩalà còn cần sự dụng công tu hành, để thành tựu hoàn toàntrí vô phân biệt. Vì thế, nên gọi là “vô phân biệt giahành huệ”.

b)Vô phân biệt huệ: Trí huệ nầy không còn có sự phân biệtvà, cũng không cần phải thực hành thêm nữa vì nó đã đầyđủ và thuần phục. Nhờ trí huệ này, mà hành giả thểchứng chân như một cách tự tại.

c)Vô phân biệt hậu đắc huệ: Còn gọi là hậu đắc trí,là trí huệ có được sau khi đã chứng được chân như. Tríhuệ này không còn phân biệt nữa hoàn toàn sáng suốt, tỏngộ được thật nghĩa của các pháp. Chư Phật nhờ hậuđắc trí nầy mà thi tác vô lượng công đức, để cứu độchúng sanh. Nói một cách tổng quát giản dị, huệ căn làtrí huệ nhờ thiền định làm lặng sạch có được. Nó thôngđạt được sự thật của các pháp; nó là nền tảng phátsanh ra mọi việc vĩ đại để giải thoát chúng sinh ra khỏikhổ đau.

Tómlại vì Năm căn này là nền tảng có khả năng sinh sản ratất cả các pháp thiện, nên gọi là năm căn. Hơn nữa ‘căn’ở đây nó cũng mang ý nghĩa tăng thượng, như trên chúng tađã biết, năm loại căn này cũng có thể khiến cho con ngườisản sinh ra Thánh đạo vô lậu nên cũng gọi là căn. Theo Đạithừa nghĩa chương 16 nói về ý nghĩa của căn thì, “Vì sứcmạnh của Năm căn này nghiên nặng hơn về việc sản sinhra Thánh đạo xuất thế, nên gọi là căn.” Năm loại cănnày còn có tác dụng dùng để đối trị với những người:không có lòng tin (bất tín), biếng nhác (giải đãi), buônglung (phóng dật), táy máy thân hình (trạo cử), phiền nãovô minh, nên cũng gọi là căn. Ngoài ra theo phần một quyển7 Chỉ Quán bổ hành truyện hoằng quyết thì, người tu hànhtuy mần thiện chưa phát, vì căn chưa sinh, song nay nếu tu tậpnăm pháp này thì, sẽ khiến cho thiện căn sẽ sinh ra, nênnăm pháp này được gọi là căn.

- NGŨLỰC(Pañcānāṃ balānām): tức là năm lực này có đượcnhờ vào năm căn tăng trưởng sinh ra trong lúc hành giả tuhành, chúng chính là sức mạnh duy trì sự liên tục đưa đếngiải thóat cho hành giả. Đó chính là thần lực của nămcăn, chúng có khả năng đối trị thế lực của năm chướng.Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay của chúngta, còn ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh tay ấy.

1.Tín lực (Śraddhā-bala): Tức là sức mạnh do tín căn sinh ra,với công năng là phá hủy tất cả mọi thứ tà tín.

2.Tấn lực (Vīrya-bala): Tức sức mạnh do tinh tấn căn sinh ra,có công năng phá hủy mọi sự lười biếng nhác nhớm củathân và, lúc nào cũng siêng năng tinh cần trong việc chỉ áchành thiện, trong việc thực hành tu tập tứ chánh cần.

3.Niệm lực (Smriti-bala): Tức là sức mạnh do niệm căn sinhra, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn, với khảnăng phá hủy mọi thứ tà niệm và, dùng pháp tứ niệm xứđể giữ gìn chánh niệm.

4.Ðịnh lực (Samādhi-bala): Tức sức mạnh do định căn sinhra, với khả năng chống phá các thứ lọan tưởng, bằng vàochuyên tâm thiền định để đọan trừ các dục phiền não.

5.Huệ lực (Prajñā-bala): Tức sức mạnh do huệ căn sinh ra,với khả năng phá hoại các hoặc của ba cõi, bằng vào quánngộ Tứ đế, thành tựu trí tuệ, mà đạt được giảithóat.

Nămlực này vì chúng có công năng phá hủy mọi thứ ác phápnên gọi là năm thứ sức mạnh. Theo Trí độ luận 19 thì:“Năm căn tăng trưởng, không bị phiền não phá hoại, đógọi là lực.” hay: “Thiên ma ngoại đạo không thể làmtrở ngại, đó gọi là lực.” Nội dung ý nghĩa và công dụngcủa chúng cùng với năm vô lậu căn giống nhau, vì Phật giáolà một đạo thực tiễn nên việc thực hành thực tập nhữnggiáo pháp này là cần thiết theo thứ tự từ trước đếnsau từ trên xuống dưới. Những sức mạnh nầy là kết quảđã đạt được từ sự nổ lực tinh tấn siêng năng tu tậpcủa Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa được bật lên saukhi hành giả đã nỗ lực tinh tấn cọ sát hai cây gỗ vàonhau để có kết quả ngọn lửa được sinh ra.

Tómlại, Năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh ra và, làmtăng thượng các thiện nghiệp, thì năm lực chính là sứcmạnh để chận đứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiềnnão bất thiện và, tác dụng các khả năng tăng thượng cácpháp lành. Như những trình bày ở trên, Ngũ căn và Ngũ lựcvừa là những nền tảng căn bản phát sinh các thiện phápvà, làm tăng thượng vô lượng công đức thù thắng đưahành giả đến Thánh đạo, vừa có khả năng chận đứngtiêu diệt các pháp ác bất thiện vô minh, giải thóat mọithứ phiền não mà đạt niết-bàn an vui; chúng là những nềntảng cơ bản để hành giả làm nhân tư lương tốt trong việcthực hiện giải thóat đưa về Thánh đạo.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/05/201106:35(Xem: 6163)
Chương 183: Thời Kỳ Tiền Phật Giáo trên Thế Giới Pre-Buddhism Period in the World Chương 184:Lịch Sử Các Bộ Phái Phật Giáo Cổ History of Ancient Buddhist Sects Chương 185: Tông Phái Phật Giáo—Buddhist Schools Chương 186: Lục Sư Ngoại Đạo—The Six Heretical Masters Chương 187: Phật Giáo Thế Giới—Buddhism in the World Chương 188: Phật Giáo Việt Nam—Buddhism in Vietnam Chương 189: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Việt Nam Vietnamese Famous Buddhist Monks Chương 190: Những vị Cao Tăng Nổi Tiếng của Trung Hoa Chinese Famous Buddhist Monks
03/10/201020:23(Xem: 3683)
Bernard Glassman, Viện trưởng của Cộng đồng Thiền ở New York, và Trung tâm Thiền ở Los Angeles. Tốt nghiệp tiến sĩ Toán Ứng Dụng, ông là kỹ sư không gian của hãng McDonnell-Douglas, trong chương trình gửi người lên Mars những năm 1970. Khi tôi bắt đầu học Thiền, thầy tôi cho tôi một công án, một câu hỏi Thiền để tôi trả lời: “Làm sao đi xa hơn đầu ngọn cờ một trăm thước?” Ta không thể dùng lý trí để trả lời công án này hay bất cứ câu hỏi Thiền nào một cách logic. Tôi quán chiếu một thời gian dài, rồi thưa với thầy: “Câu trả lời là phải sống một cách trọn vẹn”.
19/04/201321:10(Xem: 2260)
Từ Bi Hỷ Xả là những đức tính của một bậc Giác Ngộ: “Đại từ đại bi đại hỷ đại xả chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Như Lai” (phẩm Bồ-tát Sư Tử Rống, kinh Đại Bát Niết Bàn). Trong bài này chúng ta tìm hiểu tâm từ và Phật tánh, y cứ vào kinh Đại Bát Niết Bàn, chủ yếu lấy từ phẩm Phạm Hạnh. Kinh này gắn liền với tâm từ.
31/10/201317:03(Xem: 11415)
Trên bình diện tổng quát thì tất cả các tôn giáo - kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng mang tính cách đại chúng - đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó cho con người bám víu. Ngược lại Dharma tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó gọi là thiền định.
28/10/201009:16(Xem: 1193)
Hỏi:Một lần, tôi có đọc được một đoạn của bài viết trong báo Giác Ngộ như sau “Khi được hỏi con người ở thế giới này từ đâu có, trong một bản kinh Phật trả lời: có những vị Trời sắp hết phước, họ nhìn xuống thế giới này thấy có ánh sáng liền tìm đến. Tới nơi, họ ăn thử trái cây nơi đây thấy ngon, liền mất thần thông nên ở lại luôn, làm tổ tiên loài người…”. Xin cho biết xuất xứ của đoạn kinh trên và tóm tắt ý chính của kinh. Quan điểm của Phật giáo về nguồn gốc loài người có sự khác biệt như thế nào so với các lý thuyết khoa học đương đại?
27/03/201321:09(Xem: 1843)
Phật giáo, giống như những tôn giáo khác, nhấn mạnh vào những giá trị tinh thần hơn là vào những giá trị vật chất; vào việc buông xả những tài vật của thế gian hơn là chấp chặt vào chúng; và vào khía cạnh tâm linh của đời sống hơn là vào khía cạnh trần tục của nó. Tuy nhiên, Phật giáo không hoàn toàn không quan tâm đến phương diện đời sống vật chất và thế tục.
29/09/201806:08(Xem: 3970)
Thái tử Siddhãrtha Gautama (Pãli) hay Siddhattha Gotama (Sanskrist) hoặc Sĩ-Đạt-Ta (Tất-Đạt-Đa) Cồ-Đàm, sau khi thành đạo được các Phật tử tôn kính xem Ngài là một bậc đạo sư vĩ đại, vì Ngài là người đã giác ngộ viên mãn, là người tự biết mình thực sự thoát khỏi vòng quay luân hồi sinh tử, là người hiểu rõ được nguyên tắc vận hành khách quan của hiện tượng thế gian. Sau đó truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người hữu duyên không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dạy họ phương pháp tu tập chấm dứt khổ đau phiền não trong cuộc sống thế gian, hầu kinh nghiệm được hạnh phúc tối thượng.
13/11/201023:26(Xem: 1764)
ánh"không" (S. 'Suunyataa, P. Su~n~nataa) là một trong các học thuyếtquan trọng bậc nhất của Phật giáo và cũng là học thuyếtbị người khác đạo hiểu sai lầm nhiều nhất. Các tác giảchống Phật giáo thường không hiểu rõ hay ngộ nhận ý nghĩacủa hai chữ sắc và không trong đạo Phật. Họ lẫn lộnhoặc lợi dụng vào hiện tượng đồng âm dị tự trong tiếngViệt và Hán Việt, đánh đồng hai khái niệm hoàn toàn khácnội dung làm một, để bôi bác giáo lý của đạo Phật.
31/07/201211:27(Xem: 3702)
Chúng tôi viết quyển sách này cho nhữngngười mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quantrọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khimới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu.Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xâydựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáomột cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.