Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

06. Ngũ căn - Ngũ lực

19/02/201108:10(Xem: 3535)
06. Ngũ căn - Ngũ lực

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

NGŨCĂN-NGŨ LỰC
(Pañcānāmindriyāṇām - Pañcānāṃ balānām )

Ngũcănvà ngũ lực là hai hành pháp thứ tư và thứ năm thuộc bảy hành phẩm trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Nămcăn và năm lực ở đây thuộc nền tảng căn bản thúc đẩyđể từ đó phát sinh ra kết quả tùy thuộc vào tác nhântạo ra chúng hoặc thiện hoặc ác, hoặc tốt hoặc xấu …Năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh và tăng thượngcác thiện nghiệp, thì năm lực chính là sức mạnh để chậnđứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiền não bất thiệnvà, tác dụng các khả năng tăng thượng các pháp lành.

- NGŨCĂN (Pañcānām indriyāṇām) ở đây chỉ cho năm vô lậu căn,là năm nền tảng căn để, đưa đến việc sản sinh và, tăngtrưởng thiện nghiệp, là con đường đưa về Thánh đạo,chúng câu hữu với tác dụng tăng thượng giải thóat cho hànhgiả, cho nên gọi là năm căn. Theo Luận Trí Ðộ 10, giảithì: “Năm căn này là nền tảng căn bản để phát sanh ratất cả các thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Và theo luậnCâu-xá 3 thì: “Đối trong pháp thanh tịnh thì năm căn nàycó tác dụng tăng thượng. Vì sao vậy? Vì thế lực của chúngcó khả năng hàng phục tất cả các thứ phiền não, đưahành giả đến Thánh đạo.” Năm căn ấy là:

Tíncăn (Śraddhendriya)
Tấncăn(Vīryendriya)
Niệmcăn(Smṛtīndriya)
Ðịnhcăn(Samādhīndriya)
Huệcăn(Prajñendriya).

1.Tín căn(Śraddhendriya): là lòng tin được đặt trênchiều hướng câu hữu với thiện pháp và đưa đến giảithóat, tức là tin một các vững chắc vào Tam bảo, tin mộtcách như thật vào đạo lý Tứ đế. Lòng tin này được đặttrên nền tảng như thật không giống như lòng tin mù mờ,vô căn cứ, không thấy, không biết, không nghe mà vẫn cứtin, đó gọi là tin mù quán, mê tín dị đoan không có cơ sở,bất chấp sự thật của hầu hết các bộ phái ngoại đạo.Lòng tin ở đây là con đẻ của lý trí, là kết quả củasự suy luận so sánh đối chiếu sáng suốt, của sự quan sáttư duy kỹ càng chứ không phải của tình cảm đam mê lú lẫn.Ðức Đạo sư không bao giờ bắt buộc chúng ta tin một điềugì mà không tìm hiểu suy xét về nó, không giải thích tườngtận rõ ràng về nó. Vì vậy cho nên Ngài thường dạy chocác đệ tử của Ngài là: “Tin Ta mà không hiểu Ta, tứclà hủy báng Ta!” Lòng tin của chúng ta phát khởi từ trítuệ, có xét đoán tìm hiểu một cách rõ ràng minh bạch thì,lòng tin đó nó mới vững chắc, mãnh liệt. Chính nó là nềntảng căn bản phát sinh các hạnh lành, Phật dạy: “Tin làmẹ vô lượng công đức”. Nhưng hành giả chúng ta tin cáigì cho đúng với thiện pháp, đúng với giải thóat? Đó chínhlà tin vào ba ngôi báu:

a)Tin Phật: Chúng ta biết rằng đức Đạo sư là bậc hoàn toàngiác ngộ và, giải thoát tất cả mọi vướng bận của khổđau thế gian. Vì vậy, hành giả chúng ta lúc nào cũng luônluôn tin tưởng về Phật và, hướng mục tiêu hòan thành giácngộ, cũng như giải thoát cuối cùng của chúng ta như chínhđức Đạo sư đã thân chứng.

b)Tin pháp: Hành giả chúng ta tin vào Pháp là chân lý sống, làpháp như thật mà đức Ðạo sư đã thân chứng và, truyềnlại cho những người đi sau như chúng ta. Hay nói một cáchkhác, pháp đó chính là giáo lý chỉ cho bốn sự thật màđức Đạo sư đã thuyết minh lần đầu tiên cho năm anh emKiều Trần Như tại vườn nai. Chúng ta tin tưởng một cáchtuyệt đối vào những giáo lý ấy, vì người nói ra là đứcĐạo sư, Ngài đã tự thân tác chứng và, giác ngộ đượccũng nhờ vào giáo lý ấy.

c)Tin Tăng: Hành giả chúng ta tin tưởng vào Tăng là những ngườithật hành các giáo lý của đức Đạo sư, để tự thanh tịnhba nghiệp thân khẩu ý, giác ngộ mình, giác ngộ người khác,là những vị đại diện cho đức Đạo sư đưa cao ngọn đuốcchánh pháp sáng soi cho mọi người đi theo. Nên hành giả quyếttrọn đời phải tin tưởng và, quy hướng về Tăng để thựchành giải thóat.

2.Tấn căn (Vīryendriya): Là sự nổ lực siêng năng, tinhtấn dũng mãnh trong việc thực hành tu tập các pháp lành màhành giả đã lựa chọn, không bao giờ để cho thối lui. Nếuhành giả đã có lòng tin chắc chắn vào pháp tu mà không nổlực siêng năng tinh tấn thực hiện thì, lòng tin suông trênlý thuyết đó sẽ trở thành vô dụng, không đưa hành giảchúng ta đạt đến cứu cánh giải thóat được.

Nênhành giả nào đã tin tưởng vào Tam bảo, thì phải luôn luônnổ lực siêng năng, tinh tấn thực hành giáo lý của Phậtmà mình đã chọn. Theo Nhiếp đại thừa luận thì, tinh tấncó ba:

a)Bị giáp tinh tấn: Mặc áo giáp tinh tấn, là một trong nhữngthứ vũ khí lợi hại khi chiến đấu với các loại giặc,các loại ma trong đó có nội ma ngoại ma. Trong cuộc chiếnđấu này hành giả bắt buộc phải cần đến áo giáp tinhtấn, nó là một trong những lợi khí khi xông pha vào trậnđịa “phiền não”, nó luôn luôn động viên và thúc giụchành giả tiến lên phía trước một cách cam đãm dũng mãnhmà không còn sợ sệt ma quân hảm hại. Nhờ có áo giáp này,nó là một năng lực khiến chúng ta hùng dũng tiến tới, khôngsợ gian nan nguy hiểm, không lùi bước trước một trở ngạihay một địch thủ nào, nên siêng năng tinh tấn là một trợlực rất có hiệu quả cho hành giả trên bước đường tutập thực hành để đạt giải thóat.

b)Gia hành tinh tấn: Hành giả luôn luôn nổ lực gắng sức khôngbao giờ lười nhác dừng nghĩ trên bước đường tu tập điđến giải thoát. Với thứ tinh tấn này, nổ lực của sứcmạnh tiếp sức này tức là chỉ cho những duyên phụ thuộckích thích hành giả chúng ta càng tiến lên càng tạo thêmsức mạnh càng hăng, càng kích thích phấn chí nhiều hơn và,chúng sẽ làm cho hành giả không còn mệt mỏi biến nhác nữa.

c)Vô hỷ túc tinh tấn: Là không vui sướng tự mãn với thànhquả vừa đạt được trong lúc tu tập thực hành mà cho làvừa đủ không cần cố gắng tiến lên nữa. Hành giả khinào chưa vào được Thánh đạo thì dứt khóat phải còn giacông gắng sức tu tập mãi mãi, chứ không chịu dừng lại,mà hưởng vui với một quả vị thấp kém, tạm thời. Nhưngười đi bộ khi chưa đến đích cuối cùng thì, vẫn cònhăng hái tiến bước mãi càng nhanh càng tốt, chứ không chịuchấm dứt cuộc hành trình của mình với dạng lấy lệ, haycho như vậy là đủ bằng cách an phận nghỉ ngơi mãi trongquán trọ bên đường, làm cho tiến độ càng ngày càng suygiãm tốc độ dần cho đến khi quên mất mục đích nơi đếncuối cùng của mình.

3.Niệm căn(Smṛtīndriya): Mục tiêu của niệm là nhớnghĩ đến những pháp câu hữu với giải thóat, giúp hànhgiả nếu muốn đạt được mục đích thì, cần phải nhờvào những pháp phương tiện trợ duyên pháp hành của mình.Nhớ nghĩ ở đây liên quan đến:

a)Niệm thí: Là nhớ nghĩ đến việc tu tập bố thí. Hành giảở đây ngoài việc tự làm lợi cho chính mình, mà còn phảilúc nào cũng phải nhớ nghĩ đến việc đem tài sản bố thícho người nghèo khổ; đem hùng lực vô úy của chính mìnhcứu giúp cho những người sợ hãi nhút nhát; đem chánh phápchỉ giáo bày vẽ cho người si mê, khiến họ hết khổ đượcvui như mình.

b)Niệm giới: Là nhớ nghĩ đến việc trì tịnh giới để đoạntrừ các phiền não nghiệp chướng mà hành giả đã lỡ tạora trong quá khứ gần hay xa và, ngăn ngừa những nghiệp nhânác bất thiện có thể xảy ra trong hiện tại, cùng làm tăngtrưởng mọi pháp lành trong quá khứ qua những tác nhân tronghiện tại. Hành giả ở đây cũng vậy ngoài việc tự lợicho chính mình trong việc giữ gìn giới cho thanh tịnh mà cònảnh hưởng hỗ tương đến mọi người chung quanh qua việcsống với người trong một cộng đồng cọng hưởng qua baloại Giới:

- Nhiếpluật nghi giới: Những giới điều để ngăn cấm các tácnghiệp thô xấu qua các oai nghi có thể xảy ra trong hiện tại,đồng thời cùng lúc đoạn trừ các nghiệp chướng nơi thântâm có thể xảy ra trong tương lai.

- Nhiếpthiện pháp giới: Những giới điều được đặt ra đúngpháp và lợi ích chúng câu hữu với giải thóat. Hành giảtu tập thực hành giữ gìn theo nó thì, có thể thành tựutất cả mọi pháp lành trong tương lai.

- Nhiêuích hữu tình giới: Những giới điều đưa đến làm lợiích an lạc cho tất cả chúng sinh khi hành giả thực hành tutập giữ gìn chúng. Vì sự tương quan tương duyên sinh khởinên một khi hành giả thành tựu pháp tu thì tất cả đềucùng lúc thành tựu trong sự hiện hữu đồng thời của chúng.

c)Niệm thiên: Lúc nào hành giả cũng nhớ nghĩ đến sự giàusang vui sướng của chư thiên và, bố thí trì giới để tạora các thiện nghiệp cho tương lai thì chắc chắn sẽ hưởngđược mọi thứ công đức này khi thọ thân trời phóng raánh sáng, không đâu là không chiếu tới. như Kinh Tăng NhấtA-hàm 2 phẩm Quảng diễn đức Đạo sư dạy: “Nếu có Tỳ-kheonào, chánh thân chánh ý, ngồi kiết già, cột niệm phía trước,không tưởng nghĩ đến việc khác, chỉ nhớ nghĩ đến trời,thân khẩu ý thanh tịnh không tạo ra các việc xấu. Giữ gìngiới, thành tựu thân giới thì, thân phóng ra ánh sáng, khôngđâu không đến … lúc nào cũng nhớ nghĩ đến trời khôngbao giờ quên thì, sẽ thu được mọi thứ công đức thiệnnày.” Hay Nhiếp Ðại Thừa luận thì nói: “Niệm Thiên làan trụ vào bốn món thiền định”. Vậy niệm thiên là nhớnghĩ đến cách tu tập bốn thiền định, để thanh lọc sạchhết tất cả phiền não mà giải thóat.

4.Ðịnh căn(Samādhīndriya): Ðịnh nói cho đủ là Chánhđịnh dịch nghĩa từ chữ Samādhi phiên âm là Tam-ma-địa.Ðịnh là khiến tâm hành giả trụ vào một nơi, một chỗđể lắng tâm yên tịnh, chuyên chú vào chánh pháp, không chotâm hành giả tán loạn mà quán sát suy đạt thật nghĩa củanó. Còn căn phạn ngữ gọi là indriya bao gồm vừa có nghĩatăng thượng vừa có nghĩa sinh khởi. Do đó định căn cónhiệm vụ khiến cho tâm hành giả dừng lại một chỗ, khôngvì hòan cảnh ngoại tại mà sức thiền định bị dao động;vì sức thiền định này có khả năng sinh khởi ra mọi thứcông đức và làm chúng tăng trưởng lên. Cho nên gọi là căn. Theo Thành duy thức luận 9, trong Thập độ tam hành, độ thứnăm là Thiền độ tam hạnh thì tịnh lự (định) có thểchia làm ba bậc:

a)An trụ tịnh lự: Để tâm an trụ vào định, nên vọng tưởngkhông có cơ hội để khởi lên, nhờ vậy mà hành giả đisâu vào trong thiền định và, từ đó phiền não được diệttrừ.

b)Dẫn phát tịnh lự: Nhờ phiền não đã được đoạn trừnên trí tuệ được hiện hữu phát sinh các thứ công đứcthù thắng.

c)Biện sự tịnh lự: Nhờ đã phát sinh các thứ công đứcviên thành, nên thường làm lợi ích cho tất cả chúng sanh;cứu độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng đắc Niết-bàn.

5.Huệ căn (Prajñendriya): Quán trí phát sinh được nhờ trongđịnh và, cũng từ đó mà hành giả hiểu rõ được chânlý như thật của muôn pháp. Quán đạt chân lý gọi là tuệ;khi trí huệ đầy đủ thì tất cả mọi thứ phiền não tựtiêu trừ và, các năng lực thiện pháp xuất hiện, thành tựutrọn vẹn mọi thứ công đức, cho đến lúc thành đạo. Chonên gọi là Huệ căn. Theo Nhiếp Ðại Thừa, trí huệ có bathứ:

a)Vô phân biệt gia hành huệ: Trí tuệ nầy không còn có sựphân biệt nữa, nhưng còn cần phải thực hành thêm, nghĩalà còn cần sự dụng công tu hành, để thành tựu hoàn toàntrí vô phân biệt. Vì thế, nên gọi là “vô phân biệt giahành huệ”.

b)Vô phân biệt huệ: Trí huệ nầy không còn có sự phân biệtvà, cũng không cần phải thực hành thêm nữa vì nó đã đầyđủ và thuần phục. Nhờ trí huệ này, mà hành giả thểchứng chân như một cách tự tại.

c)Vô phân biệt hậu đắc huệ: Còn gọi là hậu đắc trí,là trí huệ có được sau khi đã chứng được chân như. Tríhuệ này không còn phân biệt nữa hoàn toàn sáng suốt, tỏngộ được thật nghĩa của các pháp. Chư Phật nhờ hậuđắc trí nầy mà thi tác vô lượng công đức, để cứu độchúng sanh. Nói một cách tổng quát giản dị, huệ căn làtrí huệ nhờ thiền định làm lặng sạch có được. Nó thôngđạt được sự thật của các pháp; nó là nền tảng phátsanh ra mọi việc vĩ đại để giải thoát chúng sinh ra khỏikhổ đau.

Tómlại vì Năm căn này là nền tảng có khả năng sinh sản ratất cả các pháp thiện, nên gọi là năm căn. Hơn nữa ‘căn’ở đây nó cũng mang ý nghĩa tăng thượng, như trên chúng tađã biết, năm loại căn này cũng có thể khiến cho con ngườisản sinh ra Thánh đạo vô lậu nên cũng gọi là căn. Theo Đạithừa nghĩa chương 16 nói về ý nghĩa của căn thì, “Vì sứcmạnh của Năm căn này nghiên nặng hơn về việc sản sinhra Thánh đạo xuất thế, nên gọi là căn.” Năm loại cănnày còn có tác dụng dùng để đối trị với những người:không có lòng tin (bất tín), biếng nhác (giải đãi), buônglung (phóng dật), táy máy thân hình (trạo cử), phiền nãovô minh, nên cũng gọi là căn. Ngoài ra theo phần một quyển7 Chỉ Quán bổ hành truyện hoằng quyết thì, người tu hànhtuy mần thiện chưa phát, vì căn chưa sinh, song nay nếu tu tậpnăm pháp này thì, sẽ khiến cho thiện căn sẽ sinh ra, nênnăm pháp này được gọi là căn.

- NGŨLỰC(Pañcānāṃ balānām): tức là năm lực này có đượcnhờ vào năm căn tăng trưởng sinh ra trong lúc hành giả tuhành, chúng chính là sức mạnh duy trì sự liên tục đưa đếngiải thóat cho hành giả. Đó chính là thần lực của nămcăn, chúng có khả năng đối trị thế lực của năm chướng.Nói một cách dễ hiểu: Ngũ căn như năm cánh tay của chúngta, còn ngũ lực như là sức mạnh của năm cánh tay ấy.

1.Tín lực (Śraddhā-bala): Tức là sức mạnh do tín căn sinh ra,với công năng là phá hủy tất cả mọi thứ tà tín.

2.Tấn lực (Vīrya-bala): Tức sức mạnh do tinh tấn căn sinh ra,có công năng phá hủy mọi sự lười biếng nhác nhớm củathân và, lúc nào cũng siêng năng tinh cần trong việc chỉ áchành thiện, trong việc thực hành tu tập tứ chánh cần.

3.Niệm lực (Smriti-bala): Tức là sức mạnh do niệm căn sinhra, hay sức mạnh lớn lao bền chắc của niệm căn, với khảnăng phá hủy mọi thứ tà niệm và, dùng pháp tứ niệm xứđể giữ gìn chánh niệm.

4.Ðịnh lực (Samādhi-bala): Tức sức mạnh do định căn sinhra, với khả năng chống phá các thứ lọan tưởng, bằng vàochuyên tâm thiền định để đọan trừ các dục phiền não.

5.Huệ lực (Prajñā-bala): Tức sức mạnh do huệ căn sinh ra,với khả năng phá hoại các hoặc của ba cõi, bằng vào quánngộ Tứ đế, thành tựu trí tuệ, mà đạt được giảithóat.

Nămlực này vì chúng có công năng phá hủy mọi thứ ác phápnên gọi là năm thứ sức mạnh. Theo Trí độ luận 19 thì:“Năm căn tăng trưởng, không bị phiền não phá hoại, đógọi là lực.” hay: “Thiên ma ngoại đạo không thể làmtrở ngại, đó gọi là lực.” Nội dung ý nghĩa và công dụngcủa chúng cùng với năm vô lậu căn giống nhau, vì Phật giáolà một đạo thực tiễn nên việc thực hành thực tập nhữnggiáo pháp này là cần thiết theo thứ tự từ trước đếnsau từ trên xuống dưới. Những sức mạnh nầy là kết quảđã đạt được từ sự nổ lực tinh tấn siêng năng tu tậpcủa Ngũ căn. Nó như là một ngọn lửa được bật lên saukhi hành giả đã nỗ lực tinh tấn cọ sát hai cây gỗ vàonhau để có kết quả ngọn lửa được sinh ra.

Tómlại, Năm căn là nền tảng có khả năng sản sinh ra và, làmtăng thượng các thiện nghiệp, thì năm lực chính là sứcmạnh để chận đứng, triệt tiêu các thế lực vô minh phiềnnão bất thiện và, tác dụng các khả năng tăng thượng cácpháp lành. Như những trình bày ở trên, Ngũ căn và Ngũ lựcvừa là những nền tảng căn bản phát sinh các thiện phápvà, làm tăng thượng vô lượng công đức thù thắng đưahành giả đến Thánh đạo, vừa có khả năng chận đứngtiêu diệt các pháp ác bất thiện vô minh, giải thóat mọithứ phiền não mà đạt niết-bàn an vui; chúng là những nềntảng cơ bản để hành giả làm nhân tư lương tốt trong việcthực hiện giải thóat đưa về Thánh đạo.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/11/201105:00(Xem: 12940)
Người muốn thấu triệt pháp môn tu tập, xứng lý, hợp cơ, trước hết cần phải tạo cho mình có cái nhìn căn bản tổng quát về tôn giáo mình... HT Thích Bảo Lạc
08/04/201311:45(Xem: 7867)
Quyển Kinh Lời Vàng này nguyên danh là " Phật Giáo Thánh Kinh " do nữ Phật tử Dương Tú Hạc biên trước bằng Hán Văn (người Trung Hoa). Nữ Phật tử đã dày công trích yếu trong ba Tạng giáo điển: Kinh, Luật, Luận, những đoạn cốt yếu cao siêu, thích ứng, thiết thực, rõ ràng và dễ hiểu.
07/03/201303:46(Xem: 1349)
Luận Phật Thừa Tông Yếu là tùy thuận theo thời cơ lược nói về tông bản và cương yếu của Phật pháp. Thế nên bộ luận này cũng có tên là Khái Luận Về Phật Pháp Hiện Đại.
08/04/201312:50(Xem: 19561)
Ðạo Phật truyền vào Việt Nam ta đã trên 15 thế kỷ cho nên phần đông dân chúng nước ta là tín đồ Ðạo Phật. Dân chúng thường nói "Ðạo Phật là đạo của ông bà", hay "Nhà nào có đốt hương, đều là tín đồ đạo Phật cả...".
09/12/201222:52(Xem: 6421)
Người ta thường nói rằng tác giả 14 điều Phật dạy là Hòa thượng Kim Cang Tử. Thực tế không phải như vậy. Hòa thượng Kim Cang Tử chỉ có công phiên dịch 14 điều này ra từ chữ Hán. Vào những năm 1998-1999, ta mới thấy 14 câu này được lưu hành. Gần đây, chúng tôi có đọc được bản nguyên tác chữ Hán có ghi rõ xuất xứ là chùa Thiếu Lâm ở Trung Quốc tặng cho các phái đoàn Việt Nam.
12/10/201100:59(Xem: 1827)
ó bốn cách nghiệp sẽ chín trong những kiếp tương lai: Nghiệp Chín Hoàn Toàn: là loại tái sanh mà tâm thức ta sẽ nhận lãnh khi nó tách rời thân thể ta trong giờ phút lâm chung. Hành Động Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những lời nói, ý nghĩ và hành động ta tạo ra trong bất cứ kiếp sống nào là do những thói quen trong quá khứ. Kinh Nghiệm Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những gì người khác hay các chúng sanh khác đối xử với ta, hay những gì xảy ra cho ta. Nghiệp Quả Qua Môi Trường (Y báo): thế giới xung quanh ta ra sao: ô nhiễm, tươi đẹp, bị động đất v.v..., đều do cộng nghiệp của tất cả chúng sanh sống trong môi trường đó.
25/09/201006:17(Xem: 2611)
Trong kinh Majjhima Nikàya (Trung Bộ), Đức Phật dạy rằng: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sanh ra...Nghiệp là gì? Theo từ nguyên, nghiệp, tiếng Sanskrit gọi là karma, Pàli gọi là kamma, có nghĩa là hành động cótác ý (volitional action). Nói cách khác, nghiệp luôn luôn được bắt nguồn từ những tạo tác của tâm (ý) thông qua những hoạt động của thân, miệng và ý, gọi chung là tam nghiệp. Do đó, một hành động (tạo tác) nếu không phát sinh từ tâm thì không thể gọi là nghiệp, mà hành động ấy chỉ được gọi là hành động hay hành động duy tác (kriyà). Và như vậy, định nghĩa của nghiệp là: hành động có tác ý, hay hành động được phát sinh từ tâm.
28/03/201309:02(Xem: 2672)
Phật dạy chúng sanh trong sanh tử vô minh từ vô thủy kiếp đến nay, gốc từ vô minh, do vô minh nên thấy biết và tạo nghiệp sai lầm. Biểu hiện của thấy biết sai lầm thì rất nhiều, trong đó sự thiếu sáng suốt và lòng tự mãn là biểu hiện nổi bật nhất. Đây cũng là căn bệnh trầm kha của đa phần những con người bảo thủ, sôi nổi, nhưng lại nhìn chưa xa, trông chưa rộng. Từ đó, cuộc sống của họ khung lại trong cái vị kỷ nhỏ hẹp, phiêu bồng trôi giạt theo từng bước vong thân.
08/11/201222:09(Xem: 4260)
Cách đây ít lâu - chính xác là ngày 14 tháng 9 - một bài viết được đăng lên trang Phật giáo Thư viện Hoa sen có nhan đề “Kinh Vu Lan Bồn thực hay giả?”của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Ngay hôm sau đó, bài viết này cũng xuất hiện trên trang Văn hóa Phật giáo và gợi lên một loạt những tranh biện kéo dài đến hơn một tháng sau. Ý kiến cuối cùng được đăng bên dưới bài viết này là vào ngày 20 tháng 10.
15/12/201720:49(Xem: 40990)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.