Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

08. Bát chánh đạo

19/02/201108:10(Xem: 3329)
08. Bát chánh đạo

PHẬT PHÁPCĂN BẢN
ThíchĐứcThắng
BanTuThư Phật Học 2006

BÁTCHÁNH ĐẠO
(āryāṣṭāṅgika-mārga)

Bátchánhđạo là hành pháp thứ bảy trong Ba mươi bảy phẩmtrợ đạo. Hành pháp Bát Chánh Đạo là pháp môn thật tiễnđại biểu đặc trưng tối quan trọng cho những lời dạycủa đức Đạo sư trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Vìpháp môn này là một phương pháp chính xác để hành giảhướng đến Niết-bàn giải thoát, là một con đường ngắnnhất đưa hành giả đến chỗ an vui tịch tĩnh, là con đườngđược Đạo sư nói ra lần đầu tiên sau khi Ngài thành Đạotại vườn Nai cho năm anh em Kiều Trần Như bạn tu của Ngàitrước đó để tránh xa hai thái độ sống cực đoan giữađau khổ (khổ hạnh) và, khoái lạc (hạnh phúc) đưa hànhgiả đến con đường Trung đạo không vướng mắc hai bên.

BátChánh Đạo tiếng Phạn gọi là āryāṣṭāṅgika-mārga, làcon đường chánh tám ngành đưa đến Niết-bàn giải thóat,còn gọi là Bát Thánh đạo, Bát chi chánh đạo, Bát Thánhđạo phần, Bát đạo hành, Bát trực hành, Bát chánh, Bátđạo, Bát chi, Bát pháp, hay Bát lộ.

Bátchánh đạo gồm có tám chi sau:

- Chánhkiến (skrt: samyag-dṛṣṭi, pāli:sammàditthi), thấy đúng.
-Chánh tư duy (skrt: Samyak-saṁkalpa, pāli: sammàsankappa): suy nghĩđúng.
-Chánh ngữ (skrt: Samyag-vāc, pāli: sammàvàca): nói đúng.
-Chánh nghiệp (skrt: Samyak-karmānta, pāli: samm kammata): làm việcđúng.
-Chánh mạng (skrt: Smnyag-ājīva, pāli: sammààjiva): sống đúng.
-Chánh tinh tấn (skrt: Samyag-vyāyāma, pāli: sammààyàma): siêngnăng đúng.
-Chánh niệm (skrt: Samyak-smṛti, pāli: sammà satti): nhớ đúng.
-Chánh định (Samyak-samadhi, pāli: sammà samàdhi): tập trung đúng.

1/Chánh kiến, còn gọi là chánh đế, tức thấy khổ làkhổ, tập là tập, diệt là diệt, đạo là đạo, có nghiệpthiện ác, có nghiệp báo thiện ác, có đời này đời kia,có cha mẹ, có người chơn đến nơi thiện, bỏ thiện hướngthiện, nơi đời này, đời kia, tự giác tự chứng thành tựu."Khi nào vị Thánh đệ tử biết già chết, tập khởi củagià chết, đoạn diệt của già chết và con đường đưa đếnđoạn diệt già chết, này chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệtử có chánh kiến...” (Kinh Chánh tri kiến,Trung bộ I, p. 49,HT. Minh Châu dịch) hay "Khi một vị Thánh đệ tử biết đượcbất thiện và biết được căn bản của bất thiện, biếtđược thiện và căn bản của thiện, này chư Hiền, khi ấyvị Thánh đệ tử có chánh kiến, có tri kiến chánh trực,có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này".(Kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ I, tr. 47). Đó chính là sự thànhtựu của nhân quả thế gian và xuất thế gian qua như thậttri kiến một cách rõ ràng về sự hiện hữu và biến dịchcủa chúng theo duyên khởi mà hành giả có thể tư duy và nhậnchân được tánh và tướng của tất cả mọi pháp trên thếgian này, đâu là pháp hữu lậu, đâu là pháp vô lậu. Đógọi là chánh kiến.

Chánhkiến là chi đầu trong tám chi Bát chánh đạo thuộc vào phầntuệ học của ba vô lậu học nhằm trang bị cho một sự nhậnthức đúng về lối nhìn duyên khởi đối với mọi sự vật,không rơi vào cái nhìn méo mó sai lệch giữa có và không,giữa thường và đọan của lối nhìn tà kiến, mà lúc nàocũng phải giữ một cái nhìn khách quan không thiên lệch bênnày hay bên kia để vượt qua khỏi mọi vướng mắc hữu lậuđạt chánh kiến vô lậu giải thóat như trong Kinh Đại TứThập, Trung bộ III. tr. 207 “Phàm cái gì thuộc tuệ căn, tuệlực, trạch pháp giác chi, chánh kiến, đạo chi của một vịthành thục Thánh đạo A-la-hán, có vô lậu tâm, chánh kiếnnhư vậy là chánh kiến vô lậu, siêu thế.”

Lốinhìn này được mệnh danh là kiến giải trung đạo, vượtqua khỏi tà kiến chấp có chấp không của thế gian. Nói chunghành giả xa lìa từ bỏ năm loại kiến giải không chánh kiếnnày: Một là tự chấp cho rằng thân này có ngã nó luôn tồntại không mất, đó gọi là thân kiến hay ngã kiến. Hai làcực đoan chấp chặt kiến giải một bên, như sau khi chúngta mất sẽ tồn tại không mất, đó gọi là thường kiếnhay hũu kiến đối lập lại với quan niệm sau khi ta mất sẽkhông còn nữa, đó gọi là đọan kiến hay vô kiến. Hai quanđiểm có-không này mà chúng ta chấp vào một trong hai thìgọi là biên kiến. Ba là chấp nhận kiến giải cho rằng khôngcó đạo lý nhân quả trên đời này, đó gọi là tà kiến.Bốn là chấp chặt vào những kiến giải sai lầm cho là đúngđắn chân thật, đó gọi là kiến thủ kiến. Năm là cho rằngnhững giới luật cấm chế sai lầm không đưa đến con đườnggiải thóat của ngoại đạo mà cho rằng thực hành chúng sẽđưa đến Niết-bàn giải thóat, đó gọi là giới cấm thủkiến. Nếu hành giả xa lìa không sống theo năm thứ kiếngiải sai lầm lệch lạ này, mà thấy biết được một cáchchắc chắn rằng: “Biết được chánh kiến là chánh kiến,tà kiến là tà kiến. Biết được chánh ngữ và tà ngữ.Biết được chánh nghiệp và tà nghiệp. Biết được chánhmạng và tà mạng. Biết được chánh tinh tấn và tà tinh tấn.Biết được chánh niệm và tà niệm. Biết được chánh địnhvà tà định.” (Kinh Ðại Tứ Thập, Trung Bộ III, tr. 206 -208 bản dịch của HT. Minh Châu) thì đó gọi là thấy biếtnhận thức một cách chân chánh của hành giả về lối nhìnđưa đến con đường trung đạo giải thóat trong thực hànhcủa hành giả.

Chánhkiến, Theo Đại Tỳ-bà-sa luận 97 thì chánh kiến được phânra là hai loại:

- Mộthữu lậu chánh kiến hay còn gọi là thế tục chánh kiến,tức chỉ cho ý thức luôn luôn tương ưng với thiện huệhữu lậu, vì chúng quan hệ với chấp thủ của hữu lậunên phải chuyển hướng về đường thiện chiêu cảm quảdục đáng vui của đời vị lai.

- Hailà vô lậu chánh kiến, còn gọi là xuất thế gian chánh kiến,tức chỉ cho trí vô sinh hòan tòan không còn nhiếp giữ ýthức tương ưng với thiện huệ hữu lậu nữa, mà nó vượtqua khỏi chấp thủ về thiện hữu lậu chánh kiến.

2/Chánh tư duy, còn gọi là chánh chí, chánh phân biệt,chánh giác hay đế niệm, tức là không có dục giác, nhuếgiác và, hại giác, là chi thứ hai trong Bát chánh đạo, tứclà hành giả phải tư duy suy nghĩ về đạo lý chân thật đểxa lìa tham dục, sân nhuế, hại niệm thuộc những cách tưduy tà vạy thiếu chính xác đưa hành giả đến con đườngnuôi lớn tham, sân, si tạo nghiệp ba đường dữ trói buộctrong sinh tử luân hồi. Ngược lại hành giả phải luôn luôntư duy suy nghĩ về con đường giải thóat vô tham, vô sân,vô hại bằng cách không tư duy suy nghĩ đến chúng.

Cũngnhư chánh kiến chánh tư duy có hai cách Chánh tư duy hữu lậuvà, Chánh tư duy vô lậu:

- Hànhgiả cần phải áp dụng cách tư duy suy nghĩ để một mặthuân tập báo nghiệp thiện cho ý về vô tham, vô sân, vô hạivà, mặt khác thực hành những điều hành giả đã tư duyvề các pháp thiện lợi mình lợi người (tạo nhân tái sinh)của ba nghiệp thân, khẩu và, ý qua thể hiện thiện nhânđưa đến quả sanh y thiện theo nhân quả hữu lậu. Đó gọilà tư duy hữu lậu.

- Hànhgiả tư duy với tâm vô lậu, tâm Thánh thì, sự tư duy đóđược gọi là Chánh tư duy vô lậu, ngược lại với tâmhữu lậu tư duy qua pháp vô tham, vô sân, vô hại.

3/Chánh ngữ, còn gọi là chánh ngôn, đế ngữ, là chithứ ba trong Bát chánh đạo, nghĩa là xa lìa lời nói hư dối,hai lưỡi, ác khẩu, thêu dệt. Vì những lời nói này câuhữu với vô minh sẽ đưa hành giả vào ba đường ác, ngượclại là những lời nói chân thật, lời nói hòa hợp lợimình lợi người, lời nói nhẹ nhàng không thô ác nặng nề,lời nói không thêu dệt phù phiếm, câu hữu với phước báoan vui hạnh phúc. Nói chung những lời nói nào mang lại lợicho mình và có lợi cho mọi người, chúng tạo nhân hướngthiện làm phước báo sanh y cho hành giả trong tương lai thìđó gọi là chánh ngữ. Trong kinh Đại Bát Niết-bàn trướckhi đức Phật nhập diệt, có đệ tử hỏi:

BạchThế tôn, sau khi Phật nhập Niết-bàn rồi, người đời saugặp nhiều sách vở ngoại đạo với kinh Phật không làm saophân biệt.Vậy biết tin theo lời nào để tu? Phật bảo,không luận là lời nói của ai miễn là lời ấy đúng sựthật, hợp chân lý thì cứ tin theo đó mà tu. Đó là chúngta nói đến phước báo hữu lậu của chánh ngữ, ngoài ranếu hành giả từ bỏ bốn cách nói trên vượt qua luật nhânquả và, câu hữu với vô tâm trong lời nói, thì những lờinói này thuộc chánh ngữ vô lậu.

4/Chánh nghiệp, còn gọi là chánh hành, đế hành, là chithứ tư trong Bát chánh đạo, chỉ cho hành động, tạo tácchân chánh (tác nhân thiện nghiệp), tức chỉ thân, khẩu,ý ba nghiệp thanh tịnh; tức xa lìa sát sinh, không cho mà lấy,tà dâm, nói dối … nói chung là hành giả sống từ ý nghĩ,tạo tác hành động, lời nói luôn xa lìa mọi thứ tà vọngthì, gọi đó là chánh nghiệp.

Theokinh Bát chánh đạo thì, không thấy như thật, không tư duynhư thật, không nói như thật, đời sống không như thật,tinh cần không như thật, hành động không như thật, ý nhớkhông như thật, tập trung không như thật gọi là bát đạotà hành, ngược lại tám điều tà hành này thì gọi là chánhhành, hay chánh nghiệp. Hành giả tạo nhân nghiệp thiện hữulậu cho phước báo sanh y trong tương lai thì, đó gọi là chánhnghiệp hữu lậu.

TheoDu Già Sư Địa luận 64 thì, có ba loại chánh nghiệp (hành)là: Chánh hành đối với Phật bảo, hành giả nên cúng dườngthừa sự. Chánh hành đối với Pháp bảo, hành giả nên lấyDu-già làm phương tiện tu tập. Chánh hành đối Tăng bảo,hành giả nên tu tập cùng thọ tài-pháp thí. Theo Đại thừaTrang nghiêm luận 12 thì, dùng sáu Ba-la-mật: Bố thí, trì giới,nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ (Bát-nhã) làmchánh hành. Theo Biện trung biên luận quyển hạ thì, lấy mườiBa-la-mật làm hành tướng mà phân biệt thành sáu loại chánhhành: Tối thắng, tác ý, tùy pháp, ly nhị biên, sai biệt,vô sai biệt làm chánh hành. Theo Pháp hoa huyền tán 8 thì, lấyviệc thọ trì phẩm Pháp sư trong kinh Pháp hoa 4 như: Độc,tụng, giảng nói, viết kinh và, cúng dường là chánh nghiệpcủa sáu loại pháp sư.

TheoTịnh độ tông thì cũng lấy việc độc tụng, quán sát, lễbái, xưng danh và, tán thán cúng dường đức Phật Di-đà lànăm chánh hành của hành giả tu theo Tịnh độ và, theo Mậtgiáo thì đối với những hành nghiệp tu tập sau những giahành đều gọi là chánh nghiệp. Nói chung tất cả mọi hànhđộng của chúng ta từ lời nói đến việc làm và trong ýnghĩ chúng câu hữu với nhân quả thiện đưa đến giải thóatthì đều gọi là chánh nghiệp thuộc hữu lậu hay là vô lậucả.

5/Chánh mạng, còn gọi là đế thọ, chánh mạng đạochi, là chi thứ năm trong Bát chánh đạo, là chỉ cho cách sốngcủa hành giả, phương pháp sanh nhai hằng ngày mang lại cơmno áo ấm, thuốc thang, và những nhu cầu cần cho cuộc sốngtrong gia đình. Là hành giả tu tập theo chánh pháp của Phậtthì trước hết phải thanh tịnh hóa ý nghiệp trong từng ýnghĩ bằng cách không nghĩ đến những điều ác hại mìnhhại người, mà phải có những ý nghĩ đem lại lợi ích vuivẻ cho chính mình và cho mọi người chung quanh gần nhất lànhững người thân trong gia đình và, xa hơn nữa là xã hội;kế đến là thanh tịnh thân, khẩu nghiệp của mình bằngvào những công việc làm và những lời nói trong công việckhi giao thiệp; hành giả phải tránh xa mọi công việc làmđưa đến hại mình, hại người như học nghề chú thuật,bói tóan … lường gạt kẻ khác, mà ngược lại hành giảphải sống đúng với chánh pháp nghĩa là chúng ta phải lựachọn những nghề nghiệp nào mang lại mọi lợi ích an vuicho mình cho người thì chúng ta chọn nghề đó để sống.Đó gọi là nghề nghiệp sinh sống chánh đáng của một hànhgiả thực hành chánh pháp của đức Phật.

6/Chánh tinh tấn,còn gọi là chánh phương tiện, chánhtrị, đế pháp, đế trị, là chi thứ sáu trong Bát chánh đạo,chỉ cho mọi sự nổ lực siêng năng tinh cần trong bốn việcmà hành giả cần phải hạ quyết tâm phát nguyện trong lúctu tập để thanh tịnh ba nghiệp thân khẩu, ý trong chỉ áchành thiện: Pháp ác nào đã phát sinh hãy nhanh chóng trừ diệtchúng, pháp ác nào chưa phát sinh nổ lực ngăn chận chúngkhông cho khởi sinh; pháp thiện nào chưa phát sinh hãy nhanhchóng làm cho chúng phát sinh, pháp thiện nào đã sinh tiếptục là cho chúng tăng trưởng hơn lên. Nghĩa là lúc nào cũngtìm cầu phương pháp siêng năng nổ lực tinh cần trong việcđề phòng ngăn ngừa những điều phi pháp có thể xảy racùng, nổ lực chận đứng những việc ác đã lỡ phát sinh(phòng phi chỉ ác) qua hai việc hại mình hại người và, luônluôn siêng năng tinh tất trong việc hành thiện qua hai việcthiện lợi mình lợi người như trên chúng tôi đã trình bày.Sựsiêng năng đúng ờ đây chúng cũng được quan niệm như làpháp Tứ chánh cần mà trước đây chúng tôi đã đề cậpqua.

7/Chánh niệm, còn gọi là đế ý, là chi thứ bảy trongBát chánh đạo, dùng cộng tướng của bốn pháp thân, thọ,tâm và, pháp mà quán. Đây là một hình thức khác của Tứniệm xứ, điều mà chúng tôi cũng đã đề cập đến trướcđây. Ở đây chúng tôi cũng xin đề cập vắng tắc một chút,là hành giả chúng ta luôn luôn nhớ nghĩ về tánh tướng củatất cả các pháp một cách như thật mà không để lãng quênmất. Chúng ta có thể phân chánh niệm ra hai loại:

- Nhớnghĩ đúng về pháp hữu lậu thế gian, tức là hành giả chúngta luôn nhớ nghĩ về những thiện niệm, tác ý tương ưngvới pháp hữu lậu.

- Nhớnghĩ đúng về pháp vô lậu xuất thế gian, tức là hành giảchúng ta nương vào chánh kiến vô lậu mà thường tư duy suynghĩ như thật về mọi đối tượng, với sự tác ý tươngưng với pháp vô lậu với những ý niệm ghi nhớ rõ ràngkhông bao giờ quên.

Đólà hai cách nhớ nghĩ chân chánh đúng chánh pháp về thiệnvà thiện giải thóat dành cho hành giả khi tu tập chánh niệm.

8/Chánh định, còn gọi là đế định, là chi thứ támcủa Bát chánh đạo, mục đích của chi này là giúp hành giảxa lìa pháp dục ác bất thiện thành tựu bốn pháp thiền:sơ thiền, nhị thiền, tam thiền và, tứ thiền.

TheoKinh Ðại Tứ Thập, Trung Bộ III, tr. 206 - 208 bản dịch củaHT. Minh Châu đức Phật dạy: "Thế nào là Thánh chánh địnhvới các cận duyên và tư trợ? Chính là chánh kiến, chánhtư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,chánh niệm. Này các Tỷ-kheo, phàm có nhứt tâm nào đượctư trợ với bảy chi phần này, như vậy, gọi là Thánh chánhđịnh cùng với các cận duyên và tư trợ". Sự thành tựucủa chánh định của các bậc hữu học như đức Phật đãdạy là phải câu hữu với bảy chi trên làm trợ duyên, duyênkhởi trong lúc tu tập mới mong đạt đến kết quả. Trongkhi đạo quả giải thóat của các vị A-la-hán của bậc vôhọc gồm có mười chi như kinh Trung bộ III sđd tr. 221 thì:“Do có chánh kiến, chánh tư duy khởi lên; do có chánh tưduy, chánh ngữ khởi lên; do có chánh ngữ, chánh nghiệp khởilên; do có chánh nghiệp, chánh mạng khởi lên; do có chánhmạng, chánh tinh tấn khởi lên; do có chánh tinh tấn, chánhniệm khởi lên; do có chánh niệm, chánh định khởi lên; docó chánh định, chánh trí khởi lên; do có chánh trí, chánhgiải thoát khởi lên. Như vậy, này các Tỷ-kheo, đạo lộcủa vị hữu học gồm có tám chi phần, và đạo lộ củavị A-la-hán gồm có mười chi phần". Do đó sự hiện hữucó được của chánh định chính là sự hiện hữu của chánhkiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánhtinh tấn, chánh niệm và, ngược lại tất cả đều có trongnhau qua duyên khởi. Và ở đây đứng về mặt thời gian nhânquảphân đọan mà nói thì tám chi phần này theo thứ tự làm duyêncho nhau để đưa đến đạt bốn thiền định, nhưng đứngvề mặt sát-na sinh diệt không thời gian thì chúng hiện hữuở trong nhau. Về mặt nhân quả thời gian thì chánh kiến thuộcchi phần quan trọng chủ yếu trong Bát chánh đạo để đưavề chánh định.

Chánhđịnh ở đây chúng tôi chỉ đề cập giới hạn theo chủđề của Bát chánh đạo, nên định ở đây định nghĩa cũngtheo ý nghĩa chủ đề nên định nghĩa này chưa mang tính phổquát và rộng hơn.

Tómlại, Bát chánh đạo là tám chi nhánh cần và đủ để hànhgiả từ đó có thể mượn chúng là con đường đưa đếngiải thóat khổ đau, hay Bát chánh đạo là con thuyền đểnhờ vào đó mà hành giả vượt qua khỏi bờ bên này tứclà bờ đau khổ sang bờ bên kia tức bờ giác ngộ giải thóat.

TrongBát chánh đạo chúng ta nhận thấy có sự liên hệ mật thiếtgiữa hành pháp thứ tám này cùng với bảy hành pháp trợđạo khác như chúng tôi đã trình bày trước đây trong Nguyệtsan Pháp luân này. Sự có mặt trong nhau qua sự phối hợp sauđây để hành giả có cái nhìn tổng quát và hiểu rõ mộtcách cơ bản về sự liên hệ này:

- Chánhniệm trong Bát chánh đạo chính là ý nghĩa nội dung của tứNiệm xứ (trụ); cũng chính là niệm căn, niệm lực của Ngũcăn-Ngũ lực; cũng là niệm giác chi của bảy Giác chi; vàlà tâm thần túc của Tứ thần túc.

- Chánhtinh tấn chính là ý nghĩa nội dung của Tứ Chánh cần; cũngchính là tinh tấn thần túc của Tứ thần túc.

- Chánhtư duy là trạch pháp giác chi; cũng chính là quán thần túccủa Tứ thần túc.

- Chánhkiến là tuệ căn, tuệ lực;

- Chánhđịnh là hỷ, khinh an, định, xả giác chi.

Chínhvì sự quan hệ này nên được đức Đạo sư gọi là pháptrợ đạo cho Đạo đế, con đường trung đạo đưa hành giảithoát ra khỏi khổ để chứng đắc Niết-bàn an lạc giải thoát, phần này chúng tôi đã đề cập đầy đủ trong phầnĐạo đế trong Tứ Đế xin xem lại qua những bài viết trướccũng trong Tập san Pháp Luân này.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/11/201105:00(Xem: 13073)
Người muốn thấu triệt pháp môn tu tập, xứng lý, hợp cơ, trước hết cần phải tạo cho mình có cái nhìn căn bản tổng quát về tôn giáo mình... HT Thích Bảo Lạc
08/04/201311:45(Xem: 8039)
Quyển Kinh Lời Vàng này nguyên danh là " Phật Giáo Thánh Kinh " do nữ Phật tử Dương Tú Hạc biên trước bằng Hán Văn (người Trung Hoa). Nữ Phật tử đã dày công trích yếu trong ba Tạng giáo điển: Kinh, Luật, Luận, những đoạn cốt yếu cao siêu, thích ứng, thiết thực, rõ ràng và dễ hiểu.
07/03/201303:46(Xem: 1401)
Luận Phật Thừa Tông Yếu là tùy thuận theo thời cơ lược nói về tông bản và cương yếu của Phật pháp. Thế nên bộ luận này cũng có tên là Khái Luận Về Phật Pháp Hiện Đại.
08/04/201312:50(Xem: 19800)
Ðạo Phật truyền vào Việt Nam ta đã trên 15 thế kỷ cho nên phần đông dân chúng nước ta là tín đồ Ðạo Phật. Dân chúng thường nói "Ðạo Phật là đạo của ông bà", hay "Nhà nào có đốt hương, đều là tín đồ đạo Phật cả...".
09/12/201222:52(Xem: 6521)
Người ta thường nói rằng tác giả 14 điều Phật dạy là Hòa thượng Kim Cang Tử. Thực tế không phải như vậy. Hòa thượng Kim Cang Tử chỉ có công phiên dịch 14 điều này ra từ chữ Hán. Vào những năm 1998-1999, ta mới thấy 14 câu này được lưu hành. Gần đây, chúng tôi có đọc được bản nguyên tác chữ Hán có ghi rõ xuất xứ là chùa Thiếu Lâm ở Trung Quốc tặng cho các phái đoàn Việt Nam.
12/10/201100:59(Xem: 1884)
ó bốn cách nghiệp sẽ chín trong những kiếp tương lai: Nghiệp Chín Hoàn Toàn: là loại tái sanh mà tâm thức ta sẽ nhận lãnh khi nó tách rời thân thể ta trong giờ phút lâm chung. Hành Động Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những lời nói, ý nghĩ và hành động ta tạo ra trong bất cứ kiếp sống nào là do những thói quen trong quá khứ. Kinh Nghiệm Tương Đương với Nguyên Nhân: tất cả những gì người khác hay các chúng sanh khác đối xử với ta, hay những gì xảy ra cho ta. Nghiệp Quả Qua Môi Trường (Y báo): thế giới xung quanh ta ra sao: ô nhiễm, tươi đẹp, bị động đất v.v..., đều do cộng nghiệp của tất cả chúng sanh sống trong môi trường đó.
25/09/201006:17(Xem: 2680)
Trong kinh Majjhima Nikàya (Trung Bộ), Đức Phật dạy rằng: "Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng mà từ đó con người được sanh ra...Nghiệp là gì? Theo từ nguyên, nghiệp, tiếng Sanskrit gọi là karma, Pàli gọi là kamma, có nghĩa là hành động cótác ý (volitional action). Nói cách khác, nghiệp luôn luôn được bắt nguồn từ những tạo tác của tâm (ý) thông qua những hoạt động của thân, miệng và ý, gọi chung là tam nghiệp. Do đó, một hành động (tạo tác) nếu không phát sinh từ tâm thì không thể gọi là nghiệp, mà hành động ấy chỉ được gọi là hành động hay hành động duy tác (kriyà). Và như vậy, định nghĩa của nghiệp là: hành động có tác ý, hay hành động được phát sinh từ tâm.
28/03/201309:02(Xem: 2746)
Phật dạy chúng sanh trong sanh tử vô minh từ vô thủy kiếp đến nay, gốc từ vô minh, do vô minh nên thấy biết và tạo nghiệp sai lầm. Biểu hiện của thấy biết sai lầm thì rất nhiều, trong đó sự thiếu sáng suốt và lòng tự mãn là biểu hiện nổi bật nhất. Đây cũng là căn bệnh trầm kha của đa phần những con người bảo thủ, sôi nổi, nhưng lại nhìn chưa xa, trông chưa rộng. Từ đó, cuộc sống của họ khung lại trong cái vị kỷ nhỏ hẹp, phiêu bồng trôi giạt theo từng bước vong thân.
08/11/201222:09(Xem: 4337)
Cách đây ít lâu - chính xác là ngày 14 tháng 9 - một bài viết được đăng lên trang Phật giáo Thư viện Hoa sen có nhan đề “Kinh Vu Lan Bồn thực hay giả?”của tác giả Đáo Bỉ Ngạn. Ngay hôm sau đó, bài viết này cũng xuất hiện trên trang Văn hóa Phật giáo và gợi lên một loạt những tranh biện kéo dài đến hơn một tháng sau. Ý kiến cuối cùng được đăng bên dưới bài viết này là vào ngày 20 tháng 10.
15/12/201720:49(Xem: 41780)
Trải hơn 25 thế kỷ, Chánh Pháp của Phật vẫn được tuyên dương và lưu truyền bởi hàng đệ tử xuất gia lẫn tại gia, đem lại giải thoát và giác ngộ cho những ai học hỏi và thực hành đúng đắn. Chánh Pháp ấy là thuốc hay, nhưng bệnh mà không uống thì chẳng phải là lỗi của thuốc. Trong kinh Di Giáo, đức Phật cũng ân cần huấn thị lần chót bằng những lời cảm động như sau: “Thể hiện lòng đại bi, Như Lai đã nói Chánh Pháp ích lợi một cách cứu cánh. Các thầy chỉ còn nỗ lực mà thực hành… Hãy tự cố gắng một cách thường trực, tinh tiến mà tu tập, đừng để đời mình trôi qua một cách vô ích, và sau này sẽ phải lo sợ hối hận.” Báo Chánh Pháp có mặt để góp phần giới thiệu đạo Phật đến với mọi người. Ước mong giáo pháp của Phật sẽ được lưu chuyển qua những trang báo nhỏ này, mỗi người sẽ tùy theo căn tánh và nhân duyên mà tiếp nhận hương vị.