Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

2. Tám Pháp Thế Gian

01/02/201111:44(Xem: 4999)
2. Tám Pháp Thế Gian

CĂN BẢNPHẬT GIÁO
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, TL. 2005 - PL. 2549
TámPháp Thế Gian

BìnhAnson

---*---

Bàinầy viết dựa theo tập sách "The Eight Worldly Conditions", doHòa thượng Nàrada viết năm 1970, và bác Phạm Kim Khánh dịchnăm 1972 với tựa đề "Những Bước Thăng Trầm".
*

TiếngPalicủa "tám pháp thế gian" là "atthalokadhamma". "Attha"là tám, "loka"là thế gian, và "dhamma"là pháp.Atthalokadhammacòn được dịch là Bát Pháp, hay Bát Phong,là tám ngọn gió làm rung chuyển thế gian. Đó là: được(làbha) và mất (alàbha), danh thơm (yasa) vàtiếng xấu (ayasa), ca tụng (pasamsà) và khiển trách(nindà), hạnh phúc (sukha) và đau khổ (dukkha).

Trongkinh "Tùy Chuyển Thế Giới", Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp,Đức Phật dạy:

Nàycác Tỳ-khưu, có tám pháp thế gian làm tùy chuyển thế giới.Thế nào là tám? Đó là: lợi dưỡng và không lợi dưỡng,danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, an lạcvà đau khổ.

Sauđó, Ngài nói lên bài kệ:

Lợidưỡng, không lợi dưỡng,
Danhvọng, không danh vọng

Tánthán và chỉ trích

Anlạc và đau khổ

Nhữngphápnày vô thường
Khôngthường hằng, biến diệt

Biếtchúng, giữ chánh niệm

Bậctrí quán biến diệt

Phápkhả ái, không động
Khôngkhả ái, không sân

Cácpháp thuận hay nghịch

Ðượctiêu tan không còn.

Saukhi biết con đường
Khôngtrần cấu, không sầu

Chơnchánh biết sanh hữu

Ðiđến bờ bên kia.

Ngàigiảng rằng khi chúng ta gặp phải một trong tám sự kiệnấy (lợi dưỡng, không lợi dưỡng, danh vọng, không danh vọng,tán thán, chỉ trích, an lạc, đau khổ), chúng ta không nênbám theo các điều thuận lợi như: lợi dưỡng, danh vọng,tán thán, an lạc; và chúng ta cũng không nên sân hận vớicác điều bất thuận lợi như: không lợi dưỡng, không danhvọng, chỉ trích, đau khổ. Chúng ta không nên để các điềuđó ngự trị và lấn áp tâm trí. Trái lại, chúng ta nên nhậnbiết rõ ràng rằng: "Sự kiện này đang khởi lên nơi ta. Tuynhiên, sự kiện ấy là vô thường, khổ, biến hoại", đểcó một thái độ bình thản, tỉnh giác. Vị Thánh đệ tửnào đoạn tận thuận ứng, nghịch ứng như vậy, sẽ đượcgiải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, não. Từ đó,vị ấy thoát khỏi mọi ô nhiễm ràng buộc, và tiến đếnbờ giải thoát.

*

1.Ðượcvà Mất (LàbhaAlàbha)

Trênđường đời, chúng ta thường phải gặp cả hai điều: đượcvà mất, hay nói cách khác, lợi lộc và lỗ lã. Dĩ nhiên,khi được lợi thì người ta thỏa thích, vui mừng. Nhưng đếnkhi lỗ lã thì phiền não bắt đầu khởi phát. Nhiều trườnghợp lỗ lã quan trọng làm cho người ta loạn trí, lắm khiđưa đến cảnh quyên sinh mạng sống, nếu không còn chịuđựng được nữa. Chính trong những hoàn cảnh tương tợ,ta phải biểu dương tinh thần dũng cảm và giữ tâm bình thản,không để quá chao động. Trong lúc vật lộn với đời sống,tất cả mọi người đều phải gặp những lúc thăng, lúctrầm, và chúng ta phải sẵn sàng chịu đựng, sẵn sàng đốiphó, nhất là trong nghịch cảnh.

Mấtmột vật gì, tất nhiên ta cảm thấy buồn. Nhưng chính cáibuồn ấy không giúp ta tìm lại được vật đã mất. Ta phảinghĩ rằng ai đó có thể hưởng vật kia, mặc dầu họ hưởngmột cách bất chánh. Ước mong người ấy được vui vẻ,an lành và hạnh phúc. Hoặc giả ta có thể tự an ủi: "Ðâychỉ là một mất mát nhỏ nhen, không quan trọng." Hoặc giảta có thể chấp nhận một thái độ triết lý cao thượng:"Không có gì là 'Ta', không có cái gì là 'Của Ta'".

Taphải dũng cảm chịu đựng những lỗ lã, thua thiệt, mấtmát. Phải đương đầu với nó, và như câu "họa vô đơnchí"diễn tả, nó có thể đến một cách đột ngột,từng đoàn, từng đám đông, chớ không đơn độc. Ta phảiđiềm tĩnh đối phó, với tâm Xả (upekkhà) hoàn toàn,và nghĩ rằng: đây là cơ hội vàng ngọc để thực hành đứctánh Xả ly cao thượng nầy.

*

2.DanhThơm và Tiếng Xấu (YasaAyasa)

Danhthơm và tiếng xấu là cặp thăng trầm khác mà ta phải đốiphó hàng ngày.

Danhthơm, chúng ta hoan hỷ đón mừng. Tiếng xấu thì chúng ta khôngthích. Danh thơm làm phấn khởi tinh thần. Tiếng xấu làm chota phiền muộn, khổ đau. Chúng ta thích được trứ danh. Chúngta rất thỏa thích thấy những hoạt động của mình, dầukhông đáng kể, được tường thuật và được nhiều ngườinhắc nhở, nhiều người biết đến. Lắm khi ta cũng cố gắng,một cách bất chánh, làm cho người ta chú ý đến mình.

Thậtra, chúng ta không cần chạy theo danh thơm, tiếng tốt. Nếuta xứng đáng, ắt nó sẽ đến mà không cần tìm. Khi hoa đượmmật đầy đủ thì ong, bướm sẽ đến. Hoa không cần mờiong, hay mời bướm.

Còntiếng xấu thì sao? Chúng ta không thích nghe, hay nghĩ đến.Chắc chắn là khi những lời nói xấu lọt vào tai, nó sẽlàm cho tâm ta bàng hoàng, khó chịu. Nỗi khổ tâm càng sâuđậm hơn, nếu những lời gọi là tường thuật hay báo cáoấy tỏ ra bất công và hoàn toàn sai lạc.

Nhưngcũng nên nhớ rằng cho dù ta có thể sống đời đạo đứctrong sạch như một vị Phật, ta cũng không thể tránh nhữnglời chỉ trích, tấn công và nguyền rủa. Ðức Phật là vịgiáo chủ trứ danh nhất thời bấy giờ mà cũng thường bịnhững người ác ý tìm cách vu oan, ám hại, nói xấu.

Takhông nên phung phí thì giờ để đính chánh những lời đồnđãi sai lạc, nếu hoàn cảnh không bắt buộc ta phải làmsáng tỏ vấn đề. Kẻ thù nghịch sẽ lấy làm thỏa thíchmà thấy ta bực bội vì lời nói của họ. Ðó chính là điềumà họ mong muốn. Nếu ta thản nhiên, lời vu oan sẽ rơi vàotai điếc.

GiáoPháp có dạy:

"Hãynhư sư tử, không run sợ trước tiếng động.
Hãynhư luồng gió, không dính mắc trong màn lưới.

Hãynhư hoa sen, từ bùn nhơ nước đục mọc lên,

Nhưngkhông bị nước đục và bùn nhơ làm ô nhiễm.

Hãyvững bước, đơn độc một mình, như con tê giác."
Là chúasơn lâm, sư tử không sợ hãi. Bẩm chất thiên nhiên củasư tử là không run rẩy giựt mình khi nghe tiếng gầm thétcủa các loài thú khác. Trên thế gian nầy, chúng ta thườngnghe thuật lại những câu chuyện trái tai, bất lợi, nhữnglời buộc tội giả mạo, những tiếng vu oan phỉ báng đêhèn. Như sư tử, ta không cần để tâm đến.

Chúngtađang sống trong thế gian bùn nhơ, nước đục. Nhiều đóahoa sen đã từ đó vượt lên, tô điểm đời sống, mà khôngbị nước đục và bùn nhơ làm hoen ố. Chúng ta phải cốgắng sống như hoa sen, một cuộc đời trong sạch và cao quý,không màng quan tâm đến bùn nhơ mà người khác có thể némvào ta. Phải sẵn sàng đón nhận bùn nhơ, mà người kháccó thể ném vào mình, thay vì mong đợi những đóa hoa hồngmà người ta có thể tặng. Như thế, ta sẽ không thất vọng.

Mặcdầu là điều khó khăn, chúng ta phải cố gắng trau giồihạnh từ khước, buông bỏ, không luyến ái. Không cần đểý đến nọc độc của những lời nói ác ý. Ðơn độc mộtmình, chúng ta hãy ra đi đó đây, tận lực phục vụ và tạoan lành cho kẻ khác.

*

3.CaTụng và Khiển Trách (PasamsàNindà)

Ðượcca tụng và bị khiển trách là hai hoàn cảnh thăng trầm khác,hằng ảnh hưởng đến nhân loại. Lẽ dĩ nhiên, khi đượcca tụng thì ta nở mặt nở mày, hân hoan thỏa thích. Lúc bịkhiển trách thì tinh thần suy sụp, ủ dột buồn rầu. ÐứcPhật dạy rằng giữa những lời ca tụng hay khiển trách,bậc thiện trí không thỏa thích, cũng không ủ dột ưu phiền,mà tựa hồ như tảng đá vững chắc, không lay chuyển dướicơn bão táp phong ba của đời sống. Nếu chúng ta xứng đáng,những lời khen tặng quả thật êm tai. Nhưng nếu ta khôngxứng đáng, như trường hợp có người nịnh bợ, thì nhữnglời ấy dù có êm tai, cũng sẽ làm cho ta thất vọng, và làmột tai hại.

Ngườithực hành Giáo Pháp thì không tin vào những lời nịnh bợ,cũng không muốn được nịnh bợ. Khi khen tặng ai xứng đáng,người Hiền trí thật lòng khen tặng mà không ẩn ý ganh tị.Khi khiển trách, các Ngài khiển trách mà không ẩn ý khinhkhi. Các Ngài chỉ khiển trách vì lòng bi mẫn, muốn cải thiệnngười lầm đường lạc nẻo.

Cònkhiển trách thì sao? Ðức Phật dạy: "Người nói nhiềubị khiển trách. Người nói ít bị khiển trách. Người lặngthinh cũng bị khiển trách."

ÐứcPhật cũng nói: "Người thế gian phần đông sống khôngkỷ luật. Như voi chiến ở trận địa, hứng lãnh lằn tênmũi đạn từ mọi hướng dồn dập bắn đến, cùng thế ấy,Như Lai hứng chịu mọi nguyền rủa của thế gian."

Kẻsi mê lầm lạc chỉ tìm cái xấu, cái hư của người khácmà không nhìn cái tốt cái đẹp của ai. Ngoại trừ ÐứcPhật, không có ai hoàn toàn tốt lành. Cũng không có ai hoàntoàn xấu ác. Giữa chúng ta, bên trong con người tốt nhất,cũng có phần hư hỏng. Trong con người xấu nhất, cũng cóđiểm tốt đẹp. Ðức Phật dạy rằng người nào biết câmlặng như cái mõ bể khi bị tấn công, nguyền rủa, chửimắng, thì, mặc dầu chưa chứng ngộ Niết Bàn, người ấycũng đã đứng trước Niết Bàn.

*

4.HạnhPhúc và Ðau Khổ (SukhaDukkha)

Hạnhphúc và đau khổ là cặp thăng trầm cuối cùng. Nó cũng cónhiều năng lực nhất, ảnh hưởng đến đời sống nhân loại.

Ðiềugì làm được dễ dàng là hạnh phúc. Cái gì khó chịu đựnglà đau khổ. Thông thường, thỏa mãn điều mong ước là hạnhphúc. Nhưng, liền khi vừa đạt được điều mong ước ấy,ta đã ước mong một loại hạnh phúc khác. Phần đông chúngta thỏa thích trong sự thọ hưởng những lạc thú của đờisống. Nhưng cũng có hạng người thỏa thích trong sự từkhước, buông bỏ các lạc thú ấy. Không luyến ái, hay vượtlên trên mọi khoái lạc vật chất, là hạnh phúc đối vớingười đạo đức. Hạnh phúc Niết Bàn -- tức trạng tháithoát ra khỏi mọi đau khổ -- là hình thức hạnh phúc caothượng nhất.

Chúngta vui vẻ đón mừng hạnh phúc. Nhưng đau khổ thì không đượcniềm nở tiếp nhận. Ðau đớn (vật chất) và phiền muộn(tinh thần) đến với ta dưới nhiều hình thức. Chúng ta đaukhổ khi phải chịu bệnh hoạn, già yếu, đó là lẽ tự nhiên.Phải điềm tĩnh chịu đựng những khổ đau đó.

Lắmkhi chúng ta phải xa lìa thân bằng, quyến thuộc. Cảnh biệtly vô cùng đau khổ. Chúng ta phải nhận thức rằng mọi kếthợp đều phải chấm dứt trong cảnh biệt ly. Đó là luậtVô thường, và đây là cơ hội quý báu để ta thực hànhtâm Xả.

Trênbước thênh thang trong vòng luân hồi, chết là mối ưu phiềntrọng đại nhất mà chúng ta phải đối phó. Ðôi khi cáichết không đến lẻ loi cho một người thân, mà đến trùnghợp cho nhiều người thân trong một lúc. Cái chết không thểtránh, đến với tất cả mọi người, không trừ ai. Và taphải bình thản đối phó.

*

ÐứcPhậtdạy rằng:

"Cũngnhư trên đất, ta có thể vứt bất luận vật gì, dầu chua,dầu ngọt, dầu sạch, dầu dơ. Ðất vẫn thản nhiên mộtmực trơ trơ, không giận cũng không thương. Vậy, cùng thếấy, trong hạnh phúc, trong phiền muộn, lúc thăng lúc trầm,ta phải giữ tâm bình thản như đất."

Trướcnhững thăng trầm của thế gian, tâm của các vị Thánh A-la-hánkhông bao giờ chao động. Vì vậy, noi theo gương các Ngài,giữa những hoàn cảnh được và mất, danh thơm và tiếngxấu, ca tụng và khiển trách, hạnh phúc và đau khổ, chúngta hãy cố gắng giữ tâm bình thản.

Perth,Tây Úc, tháng 8-2004


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/201215:10(Xem: 2498)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
28/09/201119:32(Xem: 1647)
Tứ Tất Đàn, tiếng Phạn là catvari siddhanta; catvari có nghĩa là tứ và siddhanta phiên âm là tất đàn, có khi còn được phiên âm là “ Tất Đàm”, và dịch là “Tác Thành Tựu”, có nghĩa là làm cho công việc thuyết pháp của Đức Phật được thành tựu. Chữ siddhanta, Hán dịch là "thành tựu", nghĩalà nhờ dựa vào bốn phương pháp này, mà Đức Phật thuyết pháp và thành tựu được sự nghiệp hoằng hóa, giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh từ mê lầm đến giácngộ, từ sinh tử đến Niết Bàn, từ phàm lên Thánh, từ mê lầm đến sự hiểu biết cao thượng.
14/01/201109:32(Xem: 2473)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người.
23/04/201316:02(Xem: 3229)
Ðây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Con đường đạo của Ðức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm.
27/05/201309:42(Xem: 4368)
Một thời Đức Phật ngự tại vườn Hoàng Lộ,Bệ Lan Nhã, bấy giờ Vua Thần (Vua A Tu La) có tên là Bà La La và Thái Tử Thần tên Mâu Lê Già có tướng sắc uy nghi, ánh sáng chói lọi, vào lúc quá nửa đêm đến chỗ đức Phật đảnh lễ rồi đứng một bên. Khi ấy, đức Phật hỏi: -Này Bà La La, có phải mọi Thần đều không bị suy thoái về tuổi thọ, hình sắc,vui vẻ, sức mạnh, cho nên các Thần thích sống trong biển lớn chăng?
27/03/201321:15(Xem: 1517)
Một vị vua là một người cai trị thuộc dòng dõi hoàng gia. Đức Phật xác định, một vị vua là “vị thủ lĩnh của những người đàn ông”. Các tôn giáo khác nhau có những lý luận khác nhau về nguồn gốc và bản chất của một vị đế vương.
16/02/201323:12(Xem: 2532)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến: Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau: Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla (1). Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên. Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi… Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya-samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.