Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

7. Về Bát Quan Trai Giới

01/02/201111:44(Xem: 5718)
7. Về Bát Quan Trai Giới

CĂN BẢNPHẬT GIÁO
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, TL. 2005 - PL. 2549
VềBát Quan Trai Giới

BìnhAnson

---*---

Ngoàiviệcthọ trì, tuân giữ 5 điều giới căn bản trong đờisống hằng ngày, thỉnh thoảng, trong các ngày trai giới, cácdịp lễ lớn, hay trong các khóa tu thiền tịnh tâm, ngườiPhật tử cư sĩ chúng ta thường giữ thêm Bát Quan Trai Giới.Tám giới đó dựa vào năm giới căn bản, nhưng được khaitriển thêm để giúp tạo một đời sống tịnh hạnh, đơngiản, giúp tạo các điều kiện thuận lợi để tu dưỡngtâm trí. Đó là:

1)Không sát sanh.
2)Khôngtrộm cắp.
3)Khônghành dâm.
4)Khôngnói dối.
5)Khônguống rượu và dùng các chất say.
6)Khôngăn trái giờ (không ăn sau 12 giờ trưa).
7)Khôngtham gia múa hát, thổi kèn, đánh đàn, xem múa hát, ngheđàn, kèn, và không trang điểm, thoa vật thơm, dồi phấn vàđeo tràng hoa.
8)Khôngnằm ngồi nơi quá cao và nơi xinh đẹp.
Ngàytrai giới còn có tên gọi là ngày Bố-tát, phiên âm từ chữ"Uposatha". "Uposatha" có nghĩa là đi đến và lưu lạitại một ngôi chùa hay một tu viện. Theo phong tục Ấn Độngày xưa, các giáo sĩ Bà-la-môn thực hiện các nghi lễ thanhtịnh hóa, rồi rời gia đình, chọn một nơi thanh vắng đểsống độc cư trọn ngày, vào ngày trăng tròn (ngày rằm) vàngày đầu trăng (mồng 1). Trong bối cảnh đó, Đức Phậtcho phép các vị tu sĩ đệ tử của Ngài hội họp lại vàocác ngày đó để tụng giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa (Patimokkha,giới luật tu sĩ) và thuyết giảng cho hàng đệ tử cư sĩkhi họ đến lưu lại tại chùa. Ngoài ra, cộng đồng Phậttử thời đó còn có 2 ngày trai giới khác là ngày giữa tuầntrăng đầu (mồng 8) và ngày giữa tuần trăng sau (ngày 23).

Đólà bốn ngày trai giới căn bản của truyền thống Phật giáoNguyên thủy, vẫn còn được áp dụng cho đến ngày nay. Tuynhiên, tại Việt Nam, Phật tử cư sĩ thường thọ trì 6 ngàytrai giới trong tháng: 8, 14, 15, 23, 29, 30 (28, 29 cho tháng thiếu),hoặc 8 ngày: 5, 8, 14, 15, 20, 23, 29, 30 (28, 29 cho tháng thiếu).

*

Cácbàigiảng của Đức Phật có liên quan đến tám giới nầyđã được ghi lại trong Tăng Chi Bộ, Chương Tám Pháp, Phẩm"Ngày Trai Giới". Đức Phật giảng rằng người nào thọ trìtám giới nghiêm túc với tâm trong sạch, người ấy sốngtịnh hạnh như một vị A-la-hán. Vì thế, các đệ tử củaNgài phải cố gắng giữ tám giới trong ngày Bố-tát. Ngàigiảng chi tiết cho bà Visakha như sau:

--"Thánhđệ tử ấy, này Visàkhà, suy tư như sau:

1)"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ sát sanh, tránhxa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm, biết tàm quý, có lòngtừ, sống thương xót đến hạnh phúc của tất cả chúngsanh và loài hữu tình. Cũng vậy đêm nay và ngày nay, ta sốngtừ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, bỏ trượng, bỏ kiếm,biết tàm quí, có lòng từ, sống thương xót đến hạnh phúccủa tất cả chúng sanh và loài hữu tình. Về chi phần này,ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".

2)"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ lấy của khôngcho, chỉ lấy những vật đã cho, chỉ mong những vật đãcho, tự sống thanh tịnh, không có trộm cắp. Cũng vậy, đêmnay và ngày nay, ta sống từ bỏ lấy của không cho, chỉ lấynhững vật đã cho, chỉ mong những vật đã cho, tự sốngthanh tịnh, không có trộm cắp. Về chi phần này, ta theo gươngcác vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".

3)"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ tà hạnh, tịnhtu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ.Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ tà hạnh, tịnhtu Phạm hạnh, sống giải thoát, từ bỏ dâm dục hèn hạ.Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thựchành trai giới".

4)"Chođến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ nói láo, tránh xanói láo, nói những lời chân thật, y chỉ nơi sự thật chắcchắn, đáng tin cậy, không lừa gạt, không phản lại lờihứa đối với đời. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sốngtừ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, nói những lời chân thật,y chỉ nơi sự thật chắc chắn, đáng tin cậy, không lừagạt, không phản lại lời hứa đối với đời. Về chi phầnnày, ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành traigiới".

5)"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ rượu men, rượunấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượu nấu làm chođắm say. Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta sống từ bỏ rượumen, rượu nấu làm cho đắm say, tránh xa rượu men, rượunấu làm cho đắm say. Về chi phần này, ta theo gương các vịA-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".

6)"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán ăn một ngày một bữa,không ăn ban đêm, không ăn phi thời. Cũng vậy, đêm nay vàngày nay, ta sống ăn một ngày một bữa, không ăn ban đêm,không ăn phi thời. Về chi phần này, ta theo gương các vịA-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".

7)"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán tránh xa không xem múa,hát, nhạc, diễn kịch, không trang sức bằng vòng hoa, hươngliệu, dầu thoa và các thời trang. Cũng vậy, đêm nay và ngàynay, ta sống tránh xa không xem múa, hát, nhạc, diễn kịch,không trang sức bằng vòng hoa, hương liệu, dầu thoa và cácthời trang. Về chi phần này, ta theo gương các vị A-la-hánvà ta sẽ thực hành trai giới".

8)"Cho đến trọn đời, các vị A-la-hán từ bỏ giường cao,giường lớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Các vị ấynằm trên giường thấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ.Cũng vậy, đêm nay và ngày nay, ta từ bỏ giường cao, giườnglớn, tránh xa giường cao, giường lớn. Ta nằm trên giườngthấp, trên giường nhỏ hay trên đệm cỏ. Về chi phần này,ta theo gương các vị A-la-hán và ta sẽ thực hành trai giới".

"Nhưvậy, này Visàkhà, là Thánh trai giới, thực hành Thánh traigiới, này Visàkhà, có quả lớn, có lợi ích lớn, có chóisáng lớn, có ánh sáng lớn".

TrongTăng Chi Bộ, Chương Mười Pháp, Đức Phật cũng khuyên cáccư sĩ của bộ tộc Thích-ca (Sakya) trong các ngày Bố-tát phảinỗ lực hành trì bát quan trai giới, sống tinh cần, nhiệttâm, không phóng dật trọn ngày và trọn đêm. Những lợilạc do công phu tu tập đó còn to lớn hơn tài sản của cảimà họ có thể tích tụ được để sống sung túc cả trămnăm; vì công phu đó sẽ tạo thiện nghiệp đưa đến táisinh trong các cõi trời an lạc với tuổi thọ cả ngàn năm.Hơn thế nữa, kết quả đó sẽ giúp tạo điều kiện thuậnlợi để phát triển tuệ giác, đưa họ nhập dòng thánh giảithoát, qua các quả vị Dự lưu, Nhất lai, và Bất lai. Ngàinói:

--"Ởđây, này các Thích tử, đệ tử của Ta, trong 10 năm sốngkhông phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như lời Ta giảng dạy.Như vậy, vị ấy thực hành, vị ấy có thể sống trăm năm,ngàn năm, trăm ngàn năm được cảm thọ nhất hướng lạc.Vị ấy có thể chứng được quả Bất lai, quả Nhất laihay quả Dự lưu không có sai chạy.

Nàycác Thích tử, đâu phải là 10 năm! Ở đây, đệ tử củaTa trong 9 năm ... 8 năm, ... 1 năm ... 10 tháng ... 9 tháng ... 8tháng ... 1 tháng ... 10 đêm 10 ngày... 9 đêm 9 ngày... 8 đêm8 ngày ... trong 1 đêm 1 ngày sống không phóng dật, nhiệt tâm,tinh cần như lời Ta giảng dạy. Như vậy, vị ấy thực hành,vị ấy có thể sống trăm năm, ngàn năm, trăm ngàn năm đượccảm thọ nhất hướng lạc. Vị ấy có thể chứng quả Bấtlai, quả Nhất lai, hay quả Dự lưu không có sai chạy".

*

Theotruyềnthống, trong ngày trai giới, người cư sĩ Phật tửthức dậy sớm, sửa soạn thức ăn, rồi cúng dường đếncác vị Tăng sĩ đi khất thực trong xóm làng. Hoặc họ mangthức ăn đến chùa và cúng dường đến chư Tăng ở đó.Đồng thời, các vị Phật tử này xin chư Tăng đọc truyềnTam quy và Bát quan trai giới để được thọ trì trong suốtngày và đêm hôm đó. Có thể là sau đó, họ trở về nhà,sinh hoạt bình thường, nhưng vẫn tuân giữ tám giới cho đếnsáng hôm sau. Có thể là họ thu xếp để ở lại chùa trọnngày và trọn đêm hôm đó.

Tùytheo nếp sinh hoạt của mỗi chùa, chương trình có thể thayđổi. Có những nơi Phật tử lưu lại đó để đọc sách,nghe thuyết pháp, đóng góp vào các công tác Phật sự, làmcông quả tại chùa. Có những nơi chú trọng đến hành thiền,người Phật tử dành trọn ngày và đêm để tập sống quánniệm, tĩnh tâm, xen kẽ các buổi ngồi hành thiền và đi kinhhành, và đến gặp thiền sư để tham vấn riêng về các vấnđề có liên quan đến công phu tu tập của mình.

Cónhững chùa tổ chức đêm thọ đầu đà, với tham dự viênnguyện không ngủ hay nằm, tích cực tham gia vào các buổithuyết pháp và thảo luận về Phật pháp. Trong đêm đầutháng và giữa tháng, nếu tại chùa có trên 4 vị Tỳ-khưu,chư Tăng tụ họp tại chánh điện, nơi có kết giới Sima,để tụng đọc 227 điều giới bổn của hàng Tỳ-khưu, vàcuộc lễ này có thể kéo dài hơn một giờ.

*

Ngàynay,trong môi trường xã hội kinh tế hiện đại, khi chúngta phải sinh hoạt, làm việc theo lịch Tây phương, rất khómà tuân giữ các ngày Bố-tát đúng theo âm lịch. Khuynh hướngthông thường là dời ngày Bố-tát vào những ngày cuối tuần,khi mọi người được nghỉ ngơi, dễ thu xếp để gặp nhau,hay đi đến chùa, đến các thiền viện. Có những nhóm Phậttử đã linh hoạt tổ chức ngày "Tĩnh Tâm" hằng tháng, vàongày cuối tuần kề cận với đêm trăng rằm, thường làngày thứ Bảy và hành trì bát quan trai giới trọn ngày vàtrọn đêm đó cho đến sáng ngày Chủ nhật.

Nếucó chư Tăng Ni hiện diện, chúng ta thỉnh quý ngài truyềnquy giới. Ở những nơi không có Tăng Ni, chúng ta có thể mờimột vị cư sĩ lớn tuổi, có uy tín, tuyên đọc quy giới,mọi người cùng đọc theo, và tự nguyện thọ trì với tâmtrong sạch. Chương trình sinh hoạt thì tùy duyên, có thể làtổ chức các buổi thiền tập, tham cứu kinh sách, xen kẽvới các buổi thuyết pháp hoặc đàm luận về Phật pháp,hoặc cùng tụng đọc các bài kinh căn bản như kinh Từ Bi,Đại Hạnh Phúc, Châu Báu, Chuyển Pháp Luân, v.v., hoặc cùngnghe các bài giảng, các bài kinh tụng thu âm trong băng audio-cassettehay đĩa CD.

Tươngtự trong tinh thần đó, ở những nơi xa xôi, không có nhiềuPhật tử, ta vẫn có thể tự tổ chức một ngày trai giớitại nhà riêng, tự đọc lên lời nguyện quy y Tam Bảo vàhành trì Tám Giới, rồi lập ra một chương trình tịnh tucho riêng mình trong trọn ngày ấy.

Điềuquan trọng là làm sao giữ tâm thanh tịnh, nhu hòa, không bậnrộn, không lo âu tính toán, và lúc nào cũng cố gắng tỉnhgiác, chánh niệm, nhất tâm hướng về Phật Pháp trong suốtthời gian thọ trì bát quan trai giới.

Tháng9-2004


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/201215:10(Xem: 2335)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
28/09/201119:32(Xem: 1593)
Tứ Tất Đàn, tiếng Phạn là catvari siddhanta; catvari có nghĩa là tứ và siddhanta phiên âm là tất đàn, có khi còn được phiên âm là “ Tất Đàm”, và dịch là “Tác Thành Tựu”, có nghĩa là làm cho công việc thuyết pháp của Đức Phật được thành tựu. Chữ siddhanta, Hán dịch là "thành tựu", nghĩalà nhờ dựa vào bốn phương pháp này, mà Đức Phật thuyết pháp và thành tựu được sự nghiệp hoằng hóa, giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh từ mê lầm đến giácngộ, từ sinh tử đến Niết Bàn, từ phàm lên Thánh, từ mê lầm đến sự hiểu biết cao thượng.
14/01/201109:32(Xem: 2294)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người.
23/04/201316:02(Xem: 3123)
Ðây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Con đường đạo của Ðức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm.
27/05/201309:42(Xem: 4299)
Một thời Đức Phật ngự tại vườn Hoàng Lộ,Bệ Lan Nhã, bấy giờ Vua Thần (Vua A Tu La) có tên là Bà La La và Thái Tử Thần tên Mâu Lê Già có tướng sắc uy nghi, ánh sáng chói lọi, vào lúc quá nửa đêm đến chỗ đức Phật đảnh lễ rồi đứng một bên. Khi ấy, đức Phật hỏi: -Này Bà La La, có phải mọi Thần đều không bị suy thoái về tuổi thọ, hình sắc,vui vẻ, sức mạnh, cho nên các Thần thích sống trong biển lớn chăng?
27/03/201321:15(Xem: 1465)
Một vị vua là một người cai trị thuộc dòng dõi hoàng gia. Đức Phật xác định, một vị vua là “vị thủ lĩnh của những người đàn ông”. Các tôn giáo khác nhau có những lý luận khác nhau về nguồn gốc và bản chất của một vị đế vương.
16/02/201323:12(Xem: 2481)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến: Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau: Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla (1). Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên. Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi… Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya-samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.