Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

10. Vài Câu Vấn Đáp Về Hành Thiền

01/02/201111:44(Xem: 4670)
10. Vài Câu Vấn Đáp Về Hành Thiền

CĂN BẢNPHẬT GIÁO
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tổng Hợp TP. Hồ Chí Minh, TL. 2005 - PL. 2549
VàiCâu Vấn Đáp Về Hành Thiền

Tỳ-khưuDhammika
BìnhAnson lược dịch

---*---

VẤN:Thiền là gì?

ĐÁP:Thiền là một nỗ lực có ý thức để làm thay đổi sựvận hành của tâm. Tiếng Phạn Pàli cho chữ Thiền là "Bhavana",nghĩa là "làm tăng trưởng" hay "phát triển".

VẤN:Thiền có quan trọng không?

ĐÁP:Vâng, thiền rất quan trọng. Cho dù chúng ta muốn tốt đẹpbao nhiêu, cũng khó mà thay đổi được tâm ý, nếu chúng takhông thể thay đổi những tham dục vốn đã tạo nên cáchhành xử của chúng ta. Ví dụ, một người có thể nhận rarằng mình hay nóng nảy với vợ, và anh ấy tự hứa "Từđây về sau, tôi sẽ không nóng nảy như thế". Nhưng mộtgiờ sau, anh ấy có thể la mắng vợ mình, đơn giản là vìanh ấy không tự tỉnh thức, sự nóng nảy đã phát khởimà anh không biết được. Hành thiền giúp phát triển sựtỉnh thức và năng lực cần thiết để chuyển hóa các thóiquen đã ăn sâu trong tâm ý.

VẤN:Tôi nghe nói rằng hành thiền có thể rất nguy hiểm. Ðiềunầy có đúng không?

ĐÁP:Chúng ta cần có muối để sống. Nhưng nếu bạn ăn một kílô muối, thì nó sẽ giết bạn. Để sống trong thế giớihiện đại, bạn cần có xe ô tô; nhưng nếu bạn không tuântheo luật giao thông, hay trong lúc lái xe, bạn lại say rượu,thì xe ô tô trở thành cái máy nguy hiểm. Hành thiền cũnggiống như thế, nó cần thiết cho sự an lạc tinh thần, nhưngnếu bạn thực hành một cách sai lạc, nó sẽ tạo ra nhiềuvấn đề. Một số người có vấn đề như buồn nản, sợhãi vô lý hay bệnh tâm thần, họ nghĩ rằng thiền là mộtphương cách điều trị tức thời cho những vấn đề củahọ. Họ bắt đầu hành thiền và đôi khi vấn đề của họtrở nên tồi tệ hơn. Nếu bạn có vấn đề như thế, bạnnên tìm sự giúp đỡ của một chuyên gia tâm lý; sau khi bạncảm thấy khá hơn, bạn mới nên hành thiền. Một số ngườikhác, khi hành thiền, lại cố gắng quá mức, thay vì hànhthiền từ từ từng bước một, họ lại thực hành với quánhiều năng lực, và chẳng bao lâu họ kiệt sức.

Nhưngcó lẽ phần lớn những vấn đề trong khi hành thiền xảyra là do loại "thiền Kăng-ga-ru", hay "thiền chạy nhảy" (Kangaroo,Đại thử, là một loài thú lớn có túi trước bụng, đặcbiệt ở Úc, có thể nhảy xa bằng hai chân sau rất khỏe).Một số người đi đến một vị thầy để học thiền rồiáp dụng phương pháp thiền của vị ấy trong một thời gian;sau đó, họ đọc sách rồi quyết định thực hành theo sựchỉ dẫn trong sách; một tuần sau, có một thiền sư nổitiếng viếng thăm thành phố của họ và họ quyết địnhphối hợp một số lời dạy của vị ấy vào trong việc tuthiền của họ; và chẳng lâu sau đó, họ rơi vào tình trạnghoang mang, thất vọng. Chạy nhảy giống như con Kăng-ga-ru,từ một phương pháp này sang một phương pháp nọ, là mộtviệc làm sai lầm.

Dùsao, nếu bạn không có vấn đề nghiêm trọng về bệnh tâmthần, và bạn hành thiền đúng chừng mực, Thiền là mộttrong những điều tốt nhất mà bạn có thể tự làm cho chínhmình.

VẤN:Có mấy pháp hành thiền?

ĐÁP:Ðức Phật dạy nhiều pháp hành thiền khác nhau, mỗi phápđể đối trị một vấn đề đặc biệt, hay để phát triểnmột trạng thái tâm lý đặc biệt. Tuy nhiên, hai pháp thiềnphổ thông và hữu dụng nhất là quán niệm hơi thở(anapana sati)quán từ bi(metta bhavana).

VẤN:Làm thế nào để hành thiền quán niệm hơi thở?

ĐÁP:Bạn làm theo bốn bước đơn giản: chọn nơi chốn, giữ tưthế ngồi, theo dõi hơi thở, và đối phó những trở ngại.Trướchết, bạn tìm một nơi thích hợp, có thể một căn phòngkhông ồn ào và tại nơi đó, bạn không bị quấy rầy. Thứhai, ngồi trong tư thế thoải mái. Tư thế tốt là ngồi vớichân xếp lại, dưới mông có kê một cái gối, lưng thẳng,hai bàn tay xếp lên nhau đặt trên bắp đùi, và mắt nhắmlại. Cách khác, bạn có thể ngồi trên ghế nhưng cần phảigiữ lưng cho thẳng.

Bướctiếp theo là phần thực hành. Trong lúc ngồi yên tịnh vớimắt nhắm lại, bạn tập trung vào sự chuyển động củahơi thở vào và hơi thở ra. Thực hiện điều này bằng cáchđếm hơi thở hay theo dõi sự phồng xẹp của bụng. Trongkhi hành thiền, vài vấn đề và khó khăn có thể sinh khởi.Bạn có thể thấy ngứa ngáy khó chịu trên cơ thể hay đaunhức ở đầu gối. Nếu điều này xảy ra, hãy cố gắnggiữ cơ thể thư giản, không nhúc nhích, và tiếp tục đểtâm vào hơi thở. Có thể sẽ có nhiều ý nghĩ xuất hiệnở tâm bạn và làm xao lãng việc chú tâm vào hơi thở. Cáchduy nhất để xử lý vấn đề này là kiên nhẫn tiếp tụcđem tâm trở lại với hơi thở. Nếu bạn tiếp tục làm nhưthế, cuối cùng, các ý nghĩ kia sẽ yếu đi, việc định tâmcủa bạn sẽ mạnh hơn, và bạn sẽ có được những giâyphút đi sâu vào sự an lạc và thanh tịnh nội tâm.

VẤN:Tôi nên hành thiền bao lâu?

ĐÁP:Tốt nhất là hành thiền mỗi ngày 15 phút trong một tuầnlễ; rồi gia tăng thêm 5 phút mỗi tuần, cho đến khi bạncó thể hành thiền trong 45 phút. Sau vài tuần lễ hành thiềnđều đặn mỗi ngày như thế, bạn sẽ bắt đầu thấy việcđịnh tâm trở nên tốt hơn, những ý tưởng tán loạn sẽgiảm dần và bạn sẽ có những giây phút an hòa và tĩnh lặngthật sự.

VẤN:Còn quán Từ bi là sao? Phương cách thực hành như thế nào?

ĐÁP:Khi bạn quen thuộc với pháp thiền quán niệm hơi thở vàthực hành đều đặn rồi, bạn có thể bắt đầu hành thiềnQuán Từ bi. Pháp hành này nên được thực hiện hai hay balần mỗi tuần, sau khi bạn hành thiền quán niệm hơi thở.Trước tiên, bạn chú tâm vào chính mình và tự nói nhữnglời như: "Xin cho tôi được khỏe mạnh và hạnh phúc. Xincho tôi được bình an và tĩnh lặng. Xin cho tôi thoát khỏimọi hiểm nguy. Xin cho tâm tôi không còn sân hận. Xin cho tâmtôi tràn đầy tình thương. Xin cho tôi được khỏe mạnh vàhạnh phúc".Sau đó, bạn nghĩ đến những người khác,từng người một, từ người thân thương cho đến nhữngngười bạn bình thường - nghĩa là người mình không thươngmà cũng không ghét, và cuối cùng là đến những người màmình không ưa thích; ước nguyện cho họ an vui như bạn đãước nguyện cho chính mình.

VẤN:Pháp hành thiền quán từ bi này có lợi ích gì?

ĐÁP:Nếu bạn thực hành Thiền Quán Từ bi này một cách đềuđặn và với thái độ đúng đắn, bạn sẽ thấy trong bạncó nhiều thay đổi tích cực. Bạn sẽ thấy mình có thểchấp nhận và tha thứ cho chính mình. Bạn sẽ thấy tình cảmdành cho người mình thương gia tăng thêm. Bạn sẽ thấy mìnhthân thiện hơn với người mà trước đây mình thờ ơ vàkhông quan tâm; và bạn sẽ nhận thấy những ác ý hay sânhận mà bạn đã có với người nào đó nay sẽ giảm đi,và cuối cùng sẽ tan biến. Thỉnh thoảng nếu bạn biết aiđó đang lâm bệnh, buồn khổ hay gặp khó khăn, bạn có thểnghĩ đến họ trong lúc hành thiền từ bi, và thường thìbạn sẽ thấy tình cảnh của họ được cải thiện.

VẤN:Ðiều ấy có thể xảy ra như thế nào?

ĐÁP:Tâm ý, khi được phát triển đúng đắn, là một công cụrất hùng mạnh. Nếu chúng ta biết tập trung năng lực tinhthần và hướng nó đến người khác, nó có thể có ảnhhưởng đến họ. Hẳn bạn đã có kinh nghiệm như thế. Cóthể bạn đang ở trong một phòng đông người và bạn cócảm giác rằng ai đó đang chú ý đến mình. Bạn xoay mộtvòng xem và biết chắc là ai đang nhìn chằm chằm vào mình.Ðiều này đã xảy ra khi bạn bắt được năng lực tinh thầncủa người khác. Thiền quán từ bi cũng giống như vậy. Chúngta hướng năng lực tích cực của tinh thần tới người khácvà dần dần sẽ chuyển hóa được họ.

VẤN:Tôi có cần một vị thầy hướng dẫn hành thiền không?

ĐÁP:Một vị thầy thì không tuyệt đối cần thiết, nhưng cóđược sự hướng dẫn cá nhân của một người có kinh nghiệmhành thiền thì chắc chắn có lợi ích. Tiếc thay, có mộtsố tu sĩ và cư sĩ tự xem mình là thiền sư, nhưng kỳ thực,họ không biết họ đang làm gì. Bạn hãy cố gắng tìm mộtvị thầy có tiếng tốt, có nhân cách thăng bằng và trungthành với những lời Phật dạy.

VẤN:Tôi nghe nói rằng thiền định ngày nay được các chuyên giavề tâm thần và các nhà tâm lý học áp dụng rộng rãi. Ðiềuđó có đúng không?

ĐÁP:Vâng, đúng như thế. Ngày nay, thiền được chấp nhận nhưcó một ảnh hưởng lớn để trị liệu tâm thần, và đượcnhiều chuyên gia về sức khỏe tâm thần sử dụng, để giúplàm thư giản, vượt qua những ám ảnh và mang đến tỉnhthức cho chính mình. Sự hiểu biết thâm sâu của Ðức Phậtvề tâm ý nhân loại đang giúp rất nhiều cho con người hômnay cũng giống như đã từng giúp cho con người thời xưa.

Perth,Tây Úc, tháng 9-2004
(Tríchtừ tập sách "Good Question, Good Answer",

BhikkhuDhammika, ấn bản Internet)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/02/201215:10(Xem: 2508)
Không thể có một bậc Giác Ngộ chứng nhập Niết Bàn mà chưa hiểu về mình và chưa thấy rõ gốc cội khổ đau của mình.
28/09/201119:32(Xem: 1651)
Tứ Tất Đàn, tiếng Phạn là catvari siddhanta; catvari có nghĩa là tứ và siddhanta phiên âm là tất đàn, có khi còn được phiên âm là “ Tất Đàm”, và dịch là “Tác Thành Tựu”, có nghĩa là làm cho công việc thuyết pháp của Đức Phật được thành tựu. Chữ siddhanta, Hán dịch là "thành tựu", nghĩalà nhờ dựa vào bốn phương pháp này, mà Đức Phật thuyết pháp và thành tựu được sự nghiệp hoằng hóa, giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh từ mê lầm đến giácngộ, từ sinh tử đến Niết Bàn, từ phàm lên Thánh, từ mê lầm đến sự hiểu biết cao thượng.
14/01/201109:32(Xem: 2484)
Đây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc sống qua con đường tâm linh. Con đường Đạo của Đức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người.
23/04/201316:02(Xem: 3257)
Ðây là một quyển sách căn bản dành cho người muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Con đường đạo của Ðức Phật rất đơn giản, thích hợp với mọi người. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được tự do, giải thoát cho thân tâm.
27/05/201309:42(Xem: 4372)
Một thời Đức Phật ngự tại vườn Hoàng Lộ,Bệ Lan Nhã, bấy giờ Vua Thần (Vua A Tu La) có tên là Bà La La và Thái Tử Thần tên Mâu Lê Già có tướng sắc uy nghi, ánh sáng chói lọi, vào lúc quá nửa đêm đến chỗ đức Phật đảnh lễ rồi đứng một bên. Khi ấy, đức Phật hỏi: -Này Bà La La, có phải mọi Thần đều không bị suy thoái về tuổi thọ, hình sắc,vui vẻ, sức mạnh, cho nên các Thần thích sống trong biển lớn chăng?
27/03/201321:15(Xem: 1529)
Một vị vua là một người cai trị thuộc dòng dõi hoàng gia. Đức Phật xác định, một vị vua là “vị thủ lĩnh của những người đàn ông”. Các tôn giáo khác nhau có những lý luận khác nhau về nguồn gốc và bản chất của một vị đế vương.
16/02/201323:12(Xem: 2537)
Pháp Duyên khởi, tiếng Phạn là Pratīya-samutpāda. Pratīya, là sự hướng đến: Nghĩa là cái này hướng đến cái kia và cái kia hướng đến cái này. Hán dịch Pratīya là Duyên và Anh dịch là Condition. Trong Māhyamika, Ngài Nāgārjuna giải thích chữ Pratīya như sau: Utpadyate pratītyemān itīme pratyayaḥ kīla (1). Nghĩa là, do làm điều kiện cho cái kia sinh khởi, những cái này người ta gọi là Duyên. Samutpāda có nghĩa là tập khởi, đồng khởi, sinh khởi, tương khởi, cộng khởi… Do những ý nghĩa trên, mà Pratīya-samutpāda được các nhà Hán dịch là Duyên khởi hay Duyên sinh, tức là sự khởi sinh của vạn pháp cần phải có điều kiện (pratīya), nếu không có điều kiện, thì các pháp không thể sinh khởi.