6. Nghi Hạ huyệt

05/04/201319:03(Xem: 12372)
6. Nghi Hạ huyệt

Pháp Sự Khoa Nghi
( 3 tập)

Soạn dịch giả: THÍCH GIẢI HÒA

Chùa Quang Thiện, California, USA
Ấn hành 2002

--- o0o ---

TẬP III

DÀNH CHO PHẬT TỬ TẠI GIA

6. NGHI HẠ HUYỆT

(Đến nghĩa trang, đưa quan tài đến trước huyệt; tang chủ thiết lập hương án nhỏ tạm thời).

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Xin mời tang quyến,

Đến trước quan tài,

Tất cả chí thành,

Đốt hương mặc niệm.

Dâng hương lên án,

Cúi lễ vong linh.

- CHỦ LỄ NGÕ LỜI:

Thiết nghĩ rằng:

Nhất linh chơn tánh,

Vốn không đến cũng không đi;

Tứ đại huyễn thân,

Đã có sanh nên có diệt.

Nay tang chủ đau thương vì vong linh cố phụ (mẫu)tánh (họ)húy (tên)một vị hương hồn.

Thân rời trần cảnh,

Hồn đến rừng dương.

Vì vậy,

Mấy hôm rồi phải dùng:

quan tài cất xác tạm thời.

Giờ đến lúc cần lấy:

mả mồ gởi thân vĩnh viễn.

Ngửa mong Tăng chúng,

đồng vận lòng từ,

Tất cả một lời,

Gia trì mật chú:

Nam mô Đại Bi Hội thượng Phật Bồ Tát.

Thiên thủ thiên nhãn ...

- TIẾP:

A Di Đà Phật thân kim sắc ...

(Quí vị lễ sư nhiễu huyệt 3 vòng, nhiễu xong, trở lại vị trí cũ).

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Vừa rồi,

Thần chú đã gia trì,

Thánh danh vừa tụng niệm;

Nguyện đem công đức ấy,

Soi sáng đường vong đi.

Duy nguyện:

Thể xác khinh an,

Mả mồ êm ấm.

Mong nhờ từ lực,

vượt qua tăm tối ba đường.

Nguyện được dắt dìu,

lên đến sen vàng chín phẩm.

Đời đời tự tại,

Kiếp kiếp tiêu diêu.

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Đưa quan tài hạ huyệt.

- TỤNG:

Nẵng mô tát phạ đát tha, nghiệt đá nẫm, Án dĩ bổ lã nghiệt v.v... (3 lần)

Chủ lễ rải tán sa(Nếu đã luyện trước khi quan tài còn quàn tại nhà thì tang chủ và thân quyến rải hoa và đất cát xuống huyệt).

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Hạ minh sinh xuống huyệt.

Xuống đất – cát.

- HỒI HƯỚNG:

Nguyện tiêu ...

Nguyện sanh ...

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Lễ nghi hạ huyệt,

Việc đã viên hoàn;

Tang chủ họ hàng,

Lễ từ bốn lạy.

(Nhớ nhắc tang chủ có lời cảm ơn và xin lỗi những thiếu sót trong tang lễ).

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Tang chủ và tang quyến rước linh mô (hình ảnh lư nhang)về lại gia đường.

Lễ sư hướng dẫn ...

* Chú thích:

Rừng dương nguyên nó là cây Phong, giống cây Dương; tục truyền cây Phong sống lâu hóa người.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9414)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 27985)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7493)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 6931)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 14871)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5225)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5143)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20611)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6783)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 10988)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.