2. Nghi Thành phục

05/04/201318:54(Xem: 11773)
2. Nghi Thành phục

Pháp Sự Khoa Nghi
( 3 tập)

Soạn dịch giả: THÍCH GIẢI HÒA

Chùa Quang Thiện, California, USA
Ấn hành 2002

--- o0o ---

TẬP III

DÀNH CHO PHẬT TỬ TẠI GIA

2. NGHI THÀNH PHỤC

* Tiết thứ làm nghi:

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Quí vị thọ tang,

Mời đến linh tiền

Tất cả đều quỳ,

Đốt hương mặc niệm...

- CHỦ LỄ VỊNH KHAI DIÊN:

Nuôi nấng bao năm quá nhọc nhằn,

Công ơn cha mẹ chẳng chi bằng.

Áo hoa ngày trước quên chưa múa,

Tang chế hôm nay nhận áo khăn!

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Dâng hương lên án cúng dường.

Cúi lễ vong linh ba lạy.

Tất cả thứ tự lại quỳ.

Một lòng chí thành làm lễ.

- TÁN HƯƠNG:

Muốn nhờ thần lực đạt niềm Tây,

Trước gởi làn hương đến gió mây;

Ngào ngạt khói xông cùng cõi lạ,

Vong linh nghe được hãy về dây!

Hương Cúng Dường Bồ Tát.

- CHỦ LỄ NÓI VỀ Ý NGHĨA THỌ TANG.

Trăm năm hạnh hiếu là gốc,

Muôn đức hiếu là nguồn.

Nên Nho hay Thích đều tôn thờ,

Thần hay người đều kính trọng.

Bởi vậy,

Chẳng những nay mà xưa đã có,

Nên từ vương tướng đến thứ dân,

Ai ai cũng đều tuân phục mà chẳng dám sai.

Tuy nhiên,

Hiếu là thể, tâm vậy, lý vậy;

Hiếu là dụng, sự vậy, tướng vậy!

Nếu không sự tướng,

Tâm lý nào tường.

Cho nên khi lễ nhạc suy đồi,

Con người bị chê trách là chỉ biết

mặc áo ăn cơm, không biết lễ giáo.

Nay tang chủ đau thương vì vong linh ... (tên Cố phụ ... Cố mẫu ...)

Bỏ thân huyễn hóa

Vội thoát hồng trần.

Hận rằng:

Sanh con khó nhọc,

Tơ tóc chưa đền!

Tiếc bấy:

Kêu trời trách óan,

Ta thán ai hay!

Thôi thì giờ này:

Mong nhờ đạo pháp,

Thiết lập linh sàng,

Theo lễ thọ tang.

Cháu con nội ngoại.

Than ôi!

Đầu xanh khăn trắng ngậm ngùi,

Lòng xót áo gai sùi sụt.

Mong rằng:

Vong giả linh thiêng,

Mặc nhiên chứng giám!

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.

- KỆ TRÀ:

Linh sàng vừa thiết lập,

Linh vị đã cung an.

Nguyện vong linh tọa hạ,

Chứng tri lễ thọ tang!

- CHỦ LỄ XƯỚNG THIẾP:

Âm dương không hai lẽ,

Sanh tử có đôi đường.

Thiếp thành phục một chương,

Đối linh tiền tuyên đọc.

Duy nguyện vong linh,

Yên lặng lắng nghe.

- TUYÊN THIẾP:

Tam Bảo Pháp đàn.

Bổn đàn vì chánh độ cố linh,

Xin gởi thiếp văn triệu thỉnh.

A Di Đà Phật chứng minh.

Sa môn Thích ... phụng hành pháp sự.

Nay có Tang chủ (tên)... cùng cả tang quyến ở xã ... huyện ... tỉnh ...

Đau lòng vì vong linh (tên)một vị hương hồn.

Nguyên sanh năm ... từ trần ngày ... tháng ... năm ...

Vì vậy,

Nay chọn ngày này,

Nhờ Tăng làm lễ,

Y theo chánh pháp,

Tiếp độ cố linh.

Than ôi vong linh!

Núi Hổ (Dĩ)mây che,

Cội Thông (nhà Huyên)sương phủ!

Áo hoa chưa múa,

khóc than tử đạo không tròn;

Gương sáng còn treo,

oán trách hạo thiên chẳng tưởng.

Nay thời:

Lễ theo thường đạo,

Sắm sửa hoa diên;

Tỏ tấc lòng thiềng,

Làm nghi thành phục.

Nhờ Tăng gởi thiếp,

Triệu thỉnh cố linh,

Lặng lẽ về nhà (về chùa),

Chứng tri hiếu sự.

Thiếp này xin chuyển,

Sứ giả âm dương,

Trao đến vong linh,

Cảm thông thâu chấp.

Nay ngày ... tháng ... năm ...

Nay thiếp thỉnh.

Nhất Như Lai tâm.

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Á hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.

- KỆ TRÀ:

Ơn sâu đành khó trả,

Nghĩa cả phải mong đền.

Trước linh sàng thọ phục,

Lòng đau đớn khôn quên! (lặp lại ba lần)

- CHỦ LỄ PHÁT TANG PHỤC VÀ CẢM THÁN:

Mười tháng cưu mang, ba năm nhũ bộ;

(hoặc dìu dắt ba năm, nhọc nhằn dạy dỗ)

Ơn này đức ấy, xương nát khó đền.

Giờ chỉ biết:

Mặc áo trắng hầu tỏ lòng son,

Rơi lệ hồng ngõ thành huyết thắm.

Nghiêng mình cúi lạy,

Ôi thôi thương thay!

Ôi thôi thương thay!

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Chung hiến trà - Lễ ba lạy – Cùng quỳ.

- KỆ TRÀ:

Cha mẹ còn tại thế,

Dâng cam chỉ cúng dường.

Cha mẹ không còn nữa,

Đức hạnh phải noi gương!

- CHỦ LỄ KẾT DIÊN:

Lễ nghi thành phục,

Giờ đã châu long,

Con cháu một lòng,

Lễ thành bốn lạy.

- HỒI HƯỚNG:

Nguyện tiêu ...

Nguyện sanh ...

* Ghi chú:

- Núi Hổ là cha, núi Dĩ là mẹ.

- Cội Thung là cha, nhà Huyên là mẹ.

- Áo hoa: ông Lão Lai tuy tuổi già, mặc áo hoa múa cho cha mẹ xem đỡ buồn.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9302)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 25255)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7337)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 6795)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 14407)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5177)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5083)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20466)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6686)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 10500)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.