3. Nghi Triều tổ

05/04/201318:55(Xem: 7947)
3. Nghi Triều tổ

Pháp Sự Khoa Nghi
( 3 tập)

Soạn dịch giả: THÍCH GIẢI HÒA

Chùa Quang Thiện, California, USA
Ấn hành 2002

--- o0o ---

TẬP III

DÀNH CHO PHẬT TỬ TẠI GIA

3. NGHI TRIỀU TỔ

* Tiết thứ làm nghi:

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Xin mời tang quyến,

Hãy đến trước đây.

Tất cả đều quỳ,

Đốt hương mặc niệm...

- CHỦ LỄ CỬ TÁN:

Tạm tẫn đến đây đã hết ngày,

Sẽ rời đây!

Triệu thỉnh vong linh về lễ Tổ,

Ngày mai cất bước trở về Tây.

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Dâng hương lên án cúng dường.

Cúi lễ hương linh ba lạy.

Tất cả thứ tự lại quỳ.

Một lòng chí thành làm lễ.

- CHỦ LỄ TUYÊN PHÁP NGỮ:

Thân thể người đời

gốc từ cha ông mà có,

Lễ nghi phép tắc,

cốt để con cháu phải theo.

Đi phải thưa mà về phải trình;

Hiếu mà còn thì đạo mới có.

Nên biết sống thác hai đường,

Thế nhưng âm dương một lẽ.

Hôm nay linh vị đưa đến Từ đường,

Nếu không tới Tổ mà triều,

Sao gọi thờ ông phải lẽ.

Nói đến việc ấy, xúc cảm lòng đây;

Nên theo phép tắc xưa nay,

Xin thỉnh vong linh yết Tổ.

Mong linh nghe rõ,

Xin hãy lên xe;

Kính yết Tổ từ,

Trước khi vĩnh biệt!

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Lễ hai lạy –

Tất cả đứng dậy rước linh vị lên xe.

(Tạm ngừng ít phút để chủ lễ vịnh)

Tạm tẫn đến đây đã hết ngày,

Xe linh sắp đến chốn u đài,

Một mai nghìn thuở âm dương cách,

Tới yết Từ đường tự bữa nay.

(Vịnh xong, chủ lễ đẩy nhẹ xe linh và niệm danh hiệu Đức Địa Tạng hướng dẫn xe linh và tang quyến đến Từ đường. Đến nơi linh vị mặt xoay hướng Bắc, tang quyến thứ tự sắp hàng, con trai cả cầm gậy hỏng đất, con gái cất hết khăn che đầu ...)

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Quí vị tang quyến,

Tất cả cùng quì,

Đốt hương mặc niệm,

Tiên Tổ chứng tri.

- CHỦ LỄ VỊNH:

Sống đã là người, thác ấy hồn,

Tới lui qua lại chốn càn khôn,

Từ đường Tiên Tổ tinh thần tụ,

Xin nhận vong linh lễ Tổ tôn.

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Dâng hương lên án,

Cúi lễ Tổ tôn,

Tất cả lại quì,

Chí thành làm lễ.

- TÁN NGÔ ĐỒNG:

Ngô đồng lá rụng lúc Thu về,

Dạ đê mê.

Triệu thỉnh vong linh về dự lễ,

Vong linh nghe triệu hãy mau về.

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Sơ hiến trà - Lễ ba lạy - Cùng quỳ.

KỆ TRÀ:

Đức ông cha còn mãi,

Con cháu được thơm hương.

Cúi đầu dưới thềm lạy,

Vì cha (mẹ)lễ Tự đường.

CHỦ LỄ XƯỚNG:

Đưa xe linh (hoặc linh vị bóng hình)Yết Tổ, Tang quyến vì vong linh lễ bốn lạy.

- CHỦ LỄ XƯỚNG CÁO VĂN:

Âm dương không hai lẽ,

Sanh tử có đôi đường.

Nay có thiếp yết Tổ,

Xin đọc trước Tự đường.

TUYÊN KHẢI CÁO VĂN:

Tam Bảo Pháp đàn.

Bổn đàn vì chánh độ cố linh,

Xin gởi khải cáo văn yết Tổ,

A Di Đà Phật chứng minh!

Sa môn thích ... phụng hành pháp sự.

Nay có tang chủ (tên)cùng cả tang quyến ở xã ... huyện ... tỉnh ...

Nay chọn ngày này,

Nhờ Tăng làm lễ,

Rước linh yết Tổ,

Cáo biệt lên đường.

Ngửa mong liệt Tổ xót thương,

Dắt dìu vong linh thượng lộ.

Nay tang chủ đau thương vì vong linh cố phụ (mẫu)..., tánh (họ)húy ... một vị thần hồn.

Nguyên sanh năm ... từ trần ngày ... tháng ... năm ...

Than ôi vong linh!

Cảnh tình ly biệt,

Một việc đau lòng.

Cáo biệt Tổ tông,

Lẽ nào quên được.

Vì vậy:

Gần ngày tiễn biệt,

Yết Tổ lễ bày.

Kính khải văn này,

Trước đài tuyên đọc.

Mong rằng:

Liệt vị Tổ Tiên xót thương chứng giám!

Khải văn này xin đệ Bổn Tôn lịch đại tiên linh, cảm thông thâu chấp.

Nay, ngày ... tháng ... năm ...

Nay cẩn khải.

Nhất Như Lai tâm.

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Á hiến trà - Lễ hai lạy – Cùng quì.

- KỆ TRÀ:

Hưong hoa cùng lễ tiết,

Hiến cúng trước Tổ đường.

Đầy vơi đôi lần hiến,

Xin cáo biệt lên đường.

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Chung hiến trà - Lễ hai lạy – Cùng quì.

- KỆ TRÀ:

Đường mây ôi xa lắm,

Đạ đài tối tăm thay.

Cúi đầu từ Tiên Tổ,

Nghìn thu vẫn chau mày!

- CHỦ LỄ XƯỚNG:

Tang chủ rước linh vị trở lại xe linh.

- CHỦ LỄ VỊNH:

Từ đường lễ tất phải lui về,

Tạm nghỉ một đêm tại chốn quê.

Mai đến tùy ai đưa đón mặc,

Đường qua xứ Phật một mình về.

(Chủ lễ vịnh xong, tay đẩy nhẹ xe linh và niệm danh hiệu Đức Địa Tạng hướng dẫn xe linh và tang quyến, về lại gia đường. Khi đến nơi rước linh vị vào tôn trí tại linh tòa).

- HỒI HƯỚNG:

Nguyện tiêu ...

Nguyện sanh ...

- TẢ BẠCH XƯỚNG:

Lễ nghi yết Tổ,

Giờ đã viên hòan.

Tất cả môn tang,

Lễ thành bốn lạy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
20/09/2010(Xem: 9332)
Nghi lễ biểu hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo: Tín đồ luôn có một niềm tin sâu sắc và thành kính đối với Tam Bảo. Niềm tin đó tạo sự chuyển hóa trong nội tâm...
19/09/2010(Xem: 25479)
Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt, Toát hơi may lạnh buốt xương khô, Não người thay buổi chiều thu, Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
18/09/2010(Xem: 7385)
Nam mô nhất tâm phụng thỉnh, lạc bang giáo chủ, y chánh trang nghiêm, tứ thập bát nguyện độ chúng sanh, cữu phẩm liên đài mông thát hóa
18/09/2010(Xem: 6840)
Từng nghe, pháp không tự khởi, nhờ cảnh mới sanh, đạo chẳng hư hành, gặp duyên liền ứng. Hôm nay, hoa đàn la liệt, Phật sự xiển dương, hương xông triện báu
18/09/2010(Xem: 14534)
Trong Đạo Phật, lòng từ bi được đưa lên hàng đầu. vì thương tưởng đến loài chúng sanh bị đói khát, đau khổ mà đức Phật và chư Tổ đã dạy phương Pháp bố thí cho loài Ngạ quỷ, súc sanh...
15/09/2010(Xem: 5197)
Đấng Pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài. Quy y tròn một niệm, Dứt sạch nghiệp ba kỳ, Xưng dương cùng tán thán, Ức kiếp không cùng tận.
13/09/2010(Xem: 5112)
Quán đảnh đã được định nghĩa một cách khái quát là “hành động hay nghi thức ban ý nghĩa tôn giáo (thánh phước) cho những đồ vật, nơi chốn, hoặc con người; thường bằng năng lực và sự thánh thiện” (Bowker, tr. 234). Trong Phật giáo, quán đảnh đã được miêu tả như một nghi thức biến đổi một pho tượng hoặc một ngôi tháp từ một vật thể thế tục thành tinh tủy của một đức Phật (Bentor 1997).
09/09/2010(Xem: 20518)
5 bài kệ hô canh ngồi Thiền được áp dụng vào mùa An Cư, Kiết Hạ hằng năm của của Chư Tăng, hoặc trong trường hợp khai Đại Giới Đàn của xưa và nay.
08/09/2010(Xem: 6719)
Lễ nghi trong Phật giáo là bày tỏ lòng thành kính đối với các đấng thành kính. Họ là thầy tổ, là ông bà, cha mẹ và tất cả những người thân, kẻ sơ đã qua đời.
07/09/2010(Xem: 10709)
Khi cúng thì chủ gia đình phải bầy đồ lễ cùng với hoa quả theo nguyên-tắc “đông bình tây quả,” rượu, và nước. Sau đó, phải đốt đèn (đèn dầu, đèn cầy, hay đèn điện), thắp nhang, đánh chuông, khấn, và cúng trước rồi những người trong gia đình theo thứ tự trên dưới cúng sau. Nhang (hương) đèn để mời và chuông để thỉnh tổ tiên. Khi cúng thì phải chắp tay đưa lên ngang trán khấn. Khấn là lời trình với tổ tiên về ngày cúng liên quan đến tên người quá cố, ngày tháng năm ta và tây, tên địa phương mình ở, tên mình và tên những người trong gia đình, lý do cúng và lời cầu nguyên, v.v.. Riêng tên người quá cố ta phải khấn rõ nhỏ. Sau khi khấn rồi, tuỳ theo địa vị của người cúng và người quá cố mà vái hay lạy. Nếu bố cúng con thì chỉ vái bốn vái mà thôi. Nếu con cháu cúng tổ tiên thì phải lạy bốn lạy. Chúng ta cần hiểu cho rõ về ý nghĩa của Cúng, Khấn, Vái, và Lạy.