Phần 12

03/05/201316:19(Xem: 5078)
Phần 12


CÁC BẬC ÐẠO SƯ CỦA ÐẠI THỦ ẤN
Những bài đạo ca và lịch sử hành trạng của
tám mươi tư vị Thánh Tăng Phật Giáo
Masters of mahamudra Of the Eighty-Four Buddhist Siddhas

Nguyên tác : KEITH DOWMAN
Minh họa :
Hugh B.Downs
Chuyển ngữ: Nguyên Thạnh Lê Trung Hưng

---o0o---

Phần 12

Ðại sư thứ 56

LUCIKAPA

(Kẻ đào tẩu)

Từ vô thuỷ đến vô chung

Ta đắm mình trong bể trầm luân

Lời của chân sư là con tàu vửng chải

Giúp ta vượt qua bao đại dương

Ðến bên kia bờ giải thoát

Lucikapa là một người thuộc giai cấp bà-la-môn.Vì thấy cảnh chết chóc của những người chung quanh,ông sinh ra chán nãn không muốn sống ở chốn phồn hoa đô hội mà ẩn cư nơi xa xôi hẻo lánh.Lucikapa rất muốn tu tập phép Phật nhưng chưa tìm được cho mình một chân sư.Một hôm nhìn thấy một vị tăng đi ngang qua chổ ở,ông vội ra vái chào và đảnh lễ rất cung kính.Sư hỏi:

-Vì sao ngươi vái chào ta?

-Thưa,bấy lâu tôi mong được tu tập phép Phật nhưng chưa gặp được chân sư.Nay duyên may đưa đến,xin thầy xót thương truyền cho diệu pháp.

Sư hoan hỷ làm phép quán đảnh và khai tâm cho Lucikapa.Y pháp tu tập,sau mười hai năm thì Lucikapa đắc pháp.Ông dọc bài kệ ngắn nói lên sự giác ngộ của mình:

Luân hồi và niết bàn là hai

Riêng ta thấy ấy hai mà một

Giải thoát chính là niềm an lạc

Chẳng dựa vào một vật gì,thời

Khó khăn máy cũng qua được bờ kia

^

Ðại sư thứ 57

NIRGUNAPA

(Trẻ thơ giác ngộ)

Giáo pháp của chân sư

Dẫn đường ta đi đến chốn bình an

Nơi ấy,

Không có chổ cho cảm xúc dữ dội hay

Tư tưởng mâu thuẩn trú ngụ

Lời dạy của một chân sư

Làm tan những cơn sóng dữ

Những cơn sóng quấy rầy ta trong thiền định

Nirgunapa sinh trưởng ở vùng Purvadesa.Sự ra đời của ông thật sự là một niềm vui sướng lớn đối với cả gia đình.Ðiều không may là khi lớn lên, Nirgunapa không thể ngồi dậy được hay làm các cử động bình thường như bao đứa trẻ khác.Ðiều này khiến bố mẹ của Nirgunapa thất vọng.Hơn nữa,tuy lớn tuổi nhưng trí óc của cậu chẳng khác nào của trẻ lên năm.Họ bảo:

-Thằng Nirgunapa nhà ta thật là vô tích sự. Lẻ ra,chúng ta chẳng nên sinh nó ra làm gì.

Tuy khờ khạo nhưng nghe những lời bố mẹ than phiền, Nirgunapa buồn tủi lắm.Cho đến một hôm Nirgunapa tự lăn mình ra khỏi nhà đến một nơi vắng vẻ.Ở đấy,cậu gặp một nhà sư du-già.Sư bảo:

-Ngươi hảy đứng dậy,vào thành mà kiếm cơm.Cớ sao cứ nằm ì ra đấy?

-Tôi không thể ngồi dậy dược.

Thương hại cho hoàn cảnh của Nirgunapa,sư nhường cho cậu một ít thức ăn,và hỏi:

-Ngươi có biết làm nghề gì không?

-Thưa thầy,tôi không biết làm gì cả.

-Nhưng ngươi còn phải ăn.Không sợ chết đói à?

-Thưa có, nhưng tôi biết phải làm gì đây?

-Nếu ngươi có thể gắng công tu tập thiền định,ta sẽ dạy cho.

-Thưa thầy,nếu nằm mà thiền định được thì tôi xin vâng.

Sư làm phép khai tâm cho Nirgunapa và dạy:

-Người-ngộ và pháp-được-ngộ đều là vô minh cả.kẻ nào không chấp nhận chân lý ấy thời sẽ bị phiền não sai xử.Khi tâm thức vắng lặng thì phiền não ấy không có chổ trụ.Không có sự tách biệt giữa các pháp và tánh không.Nếu nắm bắt được chân lý này, ngươi có thể đi lại tự tại.

Nirgunapa tuân theo lời dạy của sư,vừa khất thực độ thân vừa tu tập thiền định cho đến khi ngộ được các pháp và tánh không là sự hợp nhất của ánh sáng tự tâm.Những ai gặp ngài hỏi han lai lịch xuất thân của ngài, Nirgunapa thường nhìn chằm chằm vào mắt họ với ánh mắt từ bi khiến kẻ đó phải động lòng rơi lệ và khóc theo ngài.

^

Ðại sư thứ 58

JAYANADA

(Ðiểu sư)

Vào đại định,ta náu mình trong thanh tịnh

Thoát khỏi bủa vây của sự phân biệt tư lương

Nhận biết rằng ta đã thoát tai ương

Vì vọng tưởng đã không còn theo đuổi kịp

Jayanada là một quan nhân ở xứ Bengal theo đạo Bà-la-môn.Ðức vua xứ này cũng là người của Bà-la-môn giáo.Tuy vậy, Jayanada rất hâm mộ đạo Phật và ngài bí mật cải đạo,tu tập pháp môn mật-tông.Ngài có những sở đắc tâm linh mà không một ai biết được điều bí ẩn này.

Trong lúc ngài tu pháp “bi điền” tức pháp tu cúng dường thức ăn bằng cách gia trì mật chú rồi sau đó tung lên trên không trung để hiến cúng cho chư thần.Có người biết được bèn tâu với nhà vua.Ðức vua ra lệnh giam ông vào ngục tối.

-Tâu bệ hạ,cúng dường cho thần thánh đâu phải là tội lỗi.Xin bệ hạ xem xét.

Nhưng nhà vua vẫn không thay đổi quyết định.Ở trong ngục, Jayanada vẫn tu tập và bớt phần thức ăn ném ra bên ngoài cửa sổ để cúng dường.Mỗi lần như thế có một bầy quạ đế để ăn những thức ăn đó.Thấy hiện tượng lạ ấy,vua ra lệnh cho dời Jayanada đến một trại giam khác.Thấy không có thức ăn như thường lệ,đàn quạ kết tụ thành một đàn lớn,đông vô số kể bay đến hoàng cung,cắn mổ tất cả mọi người.Chúng cho rằng đức vua đã cầm tù Jayanada,người nuôi dưỡng chúng.Vua nhận thấy rằng Jayanada vô tội,bèn thả ngài ra và yêu cầu ngài xua đàn chim ấy đi,đồng thời ban cho hai mươi đấu gạo để ngài cho chim ăn hàng ngày

^

Ðai sư thứ 59

PACARIPA

(Thợ làm bánh)

Ðừng nhìn quanh quẩn

Chú mục vào tâm

Thiền định thực hành

Ðược vui thanh tịnh

Pacaripa làm nghề bán bánh mì dạo ở thành Campa.Vì nghèo khổ,ông chỉ có độc một bộ quần áo duy nhất mang trên người.Ông thường nhận bành mì của một chủ hiệu rồi đem đi bán dạo khắp nơi để kiếm sống.Một ngày nọ,ông không hề bán được một ổ bánh nào mà bụng thì đói meo nên đành phải ăn một ổ.Chưa ăn hết phân nữa thì một nhà sư đến khất thực;thực ra đây là hoá thân của Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát, Pacaripa đành nhịn phần mình để cúng dường cho vị sư ấy.Tuy vậy,trước khi trao bánh, Pacaripa cung kính đảnh lễ sư,và thật lòng cho biết bánh ấy không phải của mình.Sư cười nói:

-Vậy,ngươi là đại thí chủ của ta.Có lẽ ta nên truyền pháp của ta cho ngươi.

Pacaripa chuẩn bị một mạn-đà-la và dâng hoa cho sư.Ðáp lại,nhà sư làm lễ qui y,truyền Lục Tự Ðại Minh Chơn Ngôn và Bồ Tát giới cho ông.

Một ngày nọ, Pacaripa tình cờ gặp lại ông chủ hiệu bánh mì.Ông này đòi khoản tiền mà Pacaripa còn thiếu lại.Ông bảo ông không có gì sở hữu đáng giá để trừ vào món nợ cũ khiến người chủ bánh tức giận xông vào đánh đập Pacaripa.Ông kêu lên:

-Ðâu chỉ một mình ta ăn.Cả thầy lẫn trò ta ăn.

Tiếng kêu của Pacaripa vang dội như tiếng sấm khiến ông chủ bánh hoảng sợ dừng tay:

-Ta đánh ngươi như thế đã trừ đủ nợ.Bây giờ,ngươi hảy đi cho khuất mắt ta.

Pacaripa đi vào một ngôi đền thờ Ðức Quán Thế Âm,ông đứng trước tượng đòi tiền nửa ổ bánh mì,lập tức ba mươi lạng vàng hiện ra trước mắt.Pacaripa lấy số vàng này trả nợ cho ông chủ bánh.

Pacaripa thầm nghĩ:” Hẳn đức Quán Thế Âm là thầy của ta.”Vì vậy,ông khởi hành đi về phía núi Potala,là nơi Bồ Tát trú ngụ.Trên đường,Pacaripa phải băng qua một rừng gai,có lúc bị gai nhọn đâm vào da thịt,chân tay đến rướm máu,Ðau đớn,Pacaripa kêu lớn danh hiệu của Bồ Tát,đức Quán Thế Âm bèn hiện ra:

-Ðúng,ta chính là chân sư của ngươi.Ngươi không cần phải đến Potala nữa mà hảy quay về Campa để hoằng dương chánh pháp.

Pacaripa quá đổi vui mừng bay bổng lên không,rồi quay về xứ cũ.

^

ÐẠI SƯ THỨ 60

CAMPAKA

Ðức vua yêu hoa.

Thanh quang hiển hiện

Ðó là sự kết hợp

Của Bi và Trí

Tuyệt đối bẩm sinh (Sahaja)

Là cây Như Ý

Hoa trái của nó

Là Ba thân Phật.

Sở dĩ đức vua xứ Campa lấy vương hiệu là Campaka là vì xứ này có một loài hoa gồm hai màu vàng trắng rất thơm va đẹp. Nhà vua rất yêu loài hoa đặc biệt này ngoài nỗi vui thú quyền lực.

Trong vườn Thượng uyển của cung điện mùa hè luôn luôn có một chiếc ngai kết bằng hoa Campaka vàng. Một hôm nhà vua đang ngự trên chiếc ngai đặc biệt ấy thì một nhà sư đến để khất thực. Vua rửa chân cho Sư và cho người mang đến một chiếc đệm để Sư an toạ, đoạn cúng dường vật thực. Sau đó, Vua cùng triều thần nghe Sư thuyết pháp.

- Thưa thầy ! Ngài đã vân du khắp nơi, ngài có bao giờ thấy loại hoa nào đẹp như hoa ở đây không ? Và có vị vua nào như quả nhân không, thưa ngài ?

- Tâu Bệ hạ ! Hương của loài hoa Campaka thật là kỳ diệu, khó có loài hoa nào sánh bằng. Nhưng mùi phát từ thân của Bệ hạ thật khó ngửi. Thật vậy, vương quốc của Bệ hạ giàu có, hùng mạnh, nhưng rồi đây ngài củng phải bỏ lại tất cả để rồi ra di với đôi bàn tay trắng.

-Những lời lẽ của Sư khiến nhà vua xét lại bản thân mình. Ngài cầu xin nhà Sư dạy thêm Phật pháp. Sư bèn dạy cho nhà vua về luật Nhân quả. Một thứ luật chi phối mọi hoạt động của con người. Kế đó, Sư truyền cho nhà vua phép thiền định. Nhưng nhà vua lâu nay có thói quen thưởng ngoạn hoa và tâm trí lúc nào cũng nhớ đến hoa kiểng nên khó tu hành tinh tấn. Sư biết việc, bèn nói:

Các pháp vốn không

Ðây là hoa của giáo pháp

Tâm trí là ong

Hút nhuỵ không hề cạn

Ong, hoa, phấn, là một

Niềm an lạc là mật

Ấy là lời Phật dạy

Hãy tu chớ nghi ngờ.

Campaka nghe lời dạy, nắm được yếu lý của pháp tu. Ngài thực hành 12 năm thời chứng đắc.

^

---o0o---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
28/09/2011(Xem: 6646)
Ngài không có bàn thờ, kinh sách, chẳng có gì cả. Ngài đã học thuộc lòng tất cả các kinh sách và bài cầu nguyện trong những năm tu học tại Sera, nên Ngài không cần những thứ này.
28/09/2011(Xem: 7995)
Khi bạn thực hành Chulen, bạn tự hóa hiện như một bổn tôn, sau đó bạn dùng viên thuốc và quán tưởng rằng bạn đang thọ dụng những tinh túy của ngũ đại, không khí...
28/09/2011(Xem: 6363)
Tôi đã học ngữ pháp và thơ, rồi tiếng Phạn. Tôi đã học môn nghiên cứu về âm thanh. Có một môn Phạn ngữ khác mà bạn ghép các chữ cái để tạo thành các mật chú.
25/08/2011(Xem: 9944)
Trì tụng minh chú Om mani padme hum [Án ma ni bát di hồng] là một việc rất tốt. Tuy vậy, khi tụng chú cần phải nhớ nghĩ đến ý nghĩa của lời chú, vì sáu âm này mang ý nghĩa thâm sâu quảng đại vô cùng. Âm thứ nhất, OM, là tổng hợp của ba mẫu tự A, U và M, tượng trưng cho thân miệng ý ô nhiễm của người tụng chú, đồng thời cũng tượng trưng cho thân miệng ý thanh tịnh của Phật đà...Tất cả chư Phật đều là đã từng là chúng sinh, nhờ bước theo đường tu nên mới thành đấng giác ngộ; Phật Giáo không công nhận có ai ngay từ đầu đã thoát mọi ô nhiễm...
22/08/2011(Xem: 6611)
Bất cứ một hoàn cảnh khó khăn nào ta có thể gặp ở trung tâm Phật giáo, nơi thuyết pháp hay trong đời ta nói chung, ta sẽ chuyển hóa nó trong tâm mình.
31/05/2011(Xem: 17191)
Bộ Mật Tông - Gồm có 4 tập - Soạn giả: Thích Viên Đức
22/05/2011(Xem: 6406)
Tất cả mọi pháp hiện hữu, bắt đầu là cái Tôi, chẳng là gì cả ngoại trừ là những thứ được định danh. Không có các uẩn, không có thân, tâm, ngoại trừ những gì đã được ta quy gán.
06/05/2011(Xem: 14799)
Khi truyền bá rộng rãi sang châu Á, Phật giáo thành công khi vượt qua một số vấn đề nổi bật từ những giới hạn về ngôn ngữ trong một số trường hợp phải phiên chuyển thành một ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ nói của Ấn Độ. Giáo lý đạo Phật được truyền đạt bằng lời nói qua vô số ngôn ngữ và tiếng nói địa phương. Còn Kinh tạng, khi đã được viết ra, lại được phiên dịch thành hàng tá ngôn ngữ ngay cả trước thời kỳ hiện đại. Do vì nguồn gốc lịch sử không cho phép các học giả dùng ngôn ngữ nói trong việc giảng dạy, bài viết này sẽ tập trung vào những ý tưởng được viết ra, nhằm khảo sát việc truyền dạy qua lời nói chỉ trong thời kỳ Phật giáo Ấn Độ.
24/03/2011(Xem: 6067)
Mật tông hoặc Mật giáo có gốc từ chữ Sanskrit Tantra, phiên âm Hán Việt là Đát-đặc-la. Đôi khi Tantra cũng được dịch là Mật pháp và kinh sách Tantra được gọi là Mật kinh. Nguyên nghĩa của Tantra là “mở rộng, nối tiếp, kéo ra từ khung dệt, liên tục trong một thể thống nhất”. Đây là một thuật ngữ trừu tượng, khó dịch nên trong ngôn ngữ Tây phương, hầu hết các tác giả để nguyên chữ Tantra.
13/03/2011(Xem: 12104)
Trong tác phẩm “Một đời người, một câu thần chú” này, người viết cố gắng thể hiện những quan kiến Mật giáo về pháp môn trì niệm thần chú Mani từ nhiều khía cạnh khác nhau.