02. Cuộc đời Ðức Phật

02/02/201111:04(Xem: 15761)
02. Cuộc đời Ðức Phật

GIỚI THIỆUĐẠO PHẬT
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo, TL. 2005 - PL. 2549

Cuộcđời Ðức Phật

BìnhAnson

Ngàyrằmtháng tư âm lịch mỗi năm là một ngày đặc biệt chotất cả các Phật tử trên thế giới. Theo truyền thống Theravada(Nguyên thủy, Nam tông), đó là ngày Tam Hợp- Vesakha(Vesak)- kỷ niệm ngày sinh (Phật Ðản), ngày chứng đắc(Thành Ðạo), và ngày tịch diệt (Ðại Niết Bàn) của ÐứcPhật. Trong khi đó, một số quốc gia theo truyền thống Mahayana(Ðại thừa, Bắc tông) cử hành ba dịp trọng đại trên vàoba ngày khác nhau trong năm. Tuy nhiên, ngày rằm tháng tư đượcxem như là ngày lễ Phật giáo quan trọng nhất, và đã đượctoàn thể các tông phái Phật giáo thống nhất vào kỳ Ðạihội lần thứ VI của Phật giáo Thế giới năm 1961.

Ðếnnay, mọi người đều thống nhất rằng Ðức Phật sinh ratrong đêm trăng rằm tháng tư âm lịch năm 623 trước Tây Lịch(TL), tại vườn Lumbini(Lâm Tỳ Ni), ngoại ô thành Kapilavatthu(Ca Tỳ La Vệ), ngày nay thuộc xứ Nepal, phía bắc Ấn Ðộ.Thân phụ Ngài là vua Suddhodana(Tịnh Phạn) và thân mẫulà hoàng hậu Maha Maya(Ðại Tịnh Diệu). Ngài thuộcsắc tộc Sakya(Thích Ca), có họ Gotama (Cồ Ðàm),và được vua cha đặt tên là Siddhatta(Sĩ Ðạt Ða),có nghĩa là Như Ý. Năm 16 tuổi, Ngài lập gia đình với côngchúa Yasodhara(Gia Du Ðà La) và có một người con trai,tên là Rahula(La Hầu La).

Năm29 tuổi, Ngài rời bỏ cung vàng, vượt sông Anoma(mộtchi nhánh của thượng lưu sông Gange - Hằng hà), tầm sư họcđạo, sống một cuộc đời du tăng. Sau 6 năm học hỏi vớinhiều bậc đạo sư nổi tiếng thời đó với nhiều phápmôn tu tập khác nhau, Ngài cảm thấy vẫn còn nhiều vướngmắc, và vẫn không tìm ra được con đường giải thoát tốihậu.

Cuốicùng, Ngài quyết định không sống lệ thuộc vào một vịđạo sư, một pháp môn nào cả. Từ bỏ lối tu khổ hạnhhành xác, Ngài bắt đầu đi khất thực trở lại để phụchồi sức khỏe, và tham thiền dưới cội cây Assatha(ficusreligiosa), sau nầy được gọi là cây bồ đề(bodhi),trong vùng Gaya - ngày nay được gọi là Bodhgaya, Bồ ÐềÐạo Tràng, bên bờ sông Neranjara(Ni Liên Thuyền).

Ngàilập tâm nhất quyết nỗ lực cùng tột bất thối chuyển:"Dùchỉ còn da, gân và xương, máu và thịt đã cạn khô và tanbiến, ta nguyện không xê dịch chỗ nầy cho đến khi chứngngộ Toàn Giác (samma-sambodhi)". Vào đêm rằm tháng tư năm588 trước TL, Ngài nhập định tham thiền, quán niệm hơi thởvà định tâm, an trú vào bốn tầng thiền-na (jhana),rồi hướng tâm hồi tưởng các tiền kiếp. Vào cuối canhmột đêm đó, Ngài chứng đạt trí tuệ "túc mạng minh". Sauđó, Ngài hướng tâm quán triệt nguyên do đưa đến sự sinhtử của mọi loài, về luật nghiệp quả, và vào cuối canhhai, Ngài chứng đạt "thiên nhãn minh". Sau đó, Ngài quán triệtsự chấm dứt các lậu hoặc, quán triệt Khổ, Khổ tập,Khổ diệt, và Con đường diệt Khổ (Tứ Diệu Ðế), và chứngđạt "lậu tận minh".

Lậuđã tận diệt, tuệ đã toàn khai, Ngài quán triệt chân lývà giác ngộ, trở thành một vị Chánh Ðẳng Chánh Giác (SammaSambuddha), và được xem như là đã chứng Niết Bàn HữuDư Y (Sa-upadisesa Nibbana Dhatu), nghĩa là trạng thái tâmtrí hoàn toàn giải thoát nhưng thân xác vẫn còn tồn tại.Lúc đó Ngài được 35 tuổi.

Bàigiảng đầu tiên của Ngài là bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana),giảng cho năm anh em Kondanna(Kiều Trần Như), đệ tửđầu tiên, tại vườn Lộc Uyển gần thành Benares(BaNa Lại). Ðây là bài giảng tóm tắt tinh hoa của đạo giảithoát, là một Trung Ðạo (Majjhima Patipada)không lệ thuộcvào hai cực đoan của việc nô lệ dục lạc và việc hànhkhổ thân xác, bao gồm bốn sự thật phổ quát (Tứ Diệờế) và con đường diệt khổ gồm tám yếu tố chân chính(Bát Chánh Ðạo).

Từđó, trong suốt 45 năm, Ngài đi truyền giảng con đường giảithoát, thu nhận đệ tử, có người xuất gia theo Ngài và lậpthành Tăng đoàn (Sangha), cũng có người còn tại gia,gọi là các cư sĩ. Vùng truyền giáo của Ngài là vùng ÐôngBắc Ấn Ðộ giáp biên giới xứ Nepal, dọc theo các nhánhthượng nguồn sông Gange (sông Hằng).

Ngàithường được gọi là Ðức Phật Cồ Ðàm (Buddha Gotama).Chữ "Phật" là tiếng gọi tắt của "Phật Ðà", phiên âmtừ chữ Phạn "Buddha"- người bình dân Việt Nam cónơi gọi là ông Bụt - nghĩa là người đã giác ngộ (GiácGiả). Trong các kinh điển ghi lại, Ngài thường tự gọi mìnhlà Tagatatha(Như Lai). Ngoài ra, theo kinh điển, Ðức Phậtcó mười danh hiệu: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự TrượngPhu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Ngàigiảng rất nhiều chủ đề cho nhiều hạng người khác nhau,tùy theo tâm tính, căn cơ, hoàn cảnh của họ, để giúp họthăng tiến trên đường tu tập. Thực tế nhất là 37 phẩmtrợ đạo mà Ngài đã tóm tắt lại trong những ngày cuốicủa cuộc đời tại thế của Ngài: 4 Niệm xứ, 4 pháp Chánhcần, 4 điều Như ý, 5 Căn, 5 Lực, 7 Giác chi, và đạo 8 Chánh.

ÐứcPhật tịch diệt năm 543 trước TL, lúc Ngài 80 tuổi, tạikhu rừng cây Sala, gần thành Kusinara(Câu Thi La).Ðêm đó, sau khi nhập và xuất tám bậc thiền, Ngài nhậpNiết Bàn Vô Dư Y (An-upadisesa Nibbana Dhatu)- hay ÐạiBát Niết Bàn (Maha Parinibbana)- nghĩa là Niết Bàn vớithân xác không còn mầm sống tồn tại trong thế gian. Lúcđó là canh cuối cùng của đêm rằm tháng tư. Lời dạy cuốicùng của Ngài là:

"Nầycác vị Tỳ khưu, nay Ta khuyên bảo chư vị: tất cả các pháphữu vi đều vô thường. Hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".
Các bàigiảng của Ngài được trùng tuyên và kết tập lại thànhbộ Kinh Tạng (Sutta Pitaka). Các điều giới luật chocác vị tu sĩ - cùng các câu chuyện có liên quan đến giớiluật đó - được kết tập thành bộ Luật Tạng (VinayaPitaka). Ngoài ra, còn có nhiều bài giảng đặc biệt khácmà về sau nầy được đúc kết lại trong bộ A Tỳ Ðàm (AbhidhammaPitaka, Thắng Pháp Tạng hay Luận Tạng).Ba tạng nầy kếthợp thành bộ Tam Tạng Kinh Ðiển của Phật Giáo ngày nay.
Perth,Tây Úc,
tháng4-1995
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 9949)
Như chúng ta đã biết, con đường giải thoát sinh tử khổ đau là con đường Giới, Định, Tuệ. Nói gọn là con đường Thiền định với "Ba mươi bảy phẩm trợ đạo" là tiêu biểu. Thế Tôn dạy: "Này các Tỷ kheo, khi nào các Thầy có giới khéo thanh tịnh và Chánh tri kiến, các Thầy hãy y cứ trên giới, tu tập Tứ Niệm Xứ theo ba cách: Nhiệt tâm, Chánh niệm tỉnh giác và nhiếp phục tham ưu ở đời"
09/04/2013(Xem: 18887)
Người Tây Phương đã có những công trình nghiên cứu đạo Phật một cách qui mô vào cuối thế kỷ 19. Những học giả người Anh, người Đức, tiêu biển nhất là những hội viên của Pali Text Society và Royal Asiatic Academy đã để lại những dịch phẩm, tác phẩm mà đến nay vẫn mang giá trị to lớn cho Phật học thế giới. Một số cá nhân đi xa hơn trở thành những tu sĩ Tây phương tại các quốc gia Phật giáo. Họ tìm thấy môi trường tu tập tuyệt vời khi sống giữa những người Phật tử Á Đông.
09/04/2013(Xem: 9836)
Thiền định , thiền quán và thiền định thiền quán song tu, hay nói gọi theo thời xưa là Chỉ, Quán và Chỉ Quán song tu, của Đại thừa được đặt trên thực tại tối hậu mà các kinh thường gọi là Thật tướng của tất cả các pháp.
04/04/2013(Xem: 9145)
"Như Lai Thiền trong kinh tạng Pàli, hay Hành Thiền, một nếp sống lành mạnh trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng thượng", là một công trình nghiên cứu chỉ đề cập đến Như Lai Thiền mà không đề cập đến Tổ Sư Thiền.
02/04/2013(Xem: 3926)
Tất cả những ai đến thực tập Thiền Minh Sát Tuệ [hay Thiền Minh Sát] đều mong phát triển Trí Tuệ thật nhanh. Tất cả những ai chưa khai triển Trí Tuệ đều mong phát sanh Trí Tuệ thật nhanh. Tất cả những ai đã có vài Tuệ giác đều mong phát triển thêm Trí Tuệ thật nhanh. Mọi người mong phát triển Trí Tuệ thật nhanh.
21/03/2013(Xem: 18598)
NIẾT BÀN, phỏng dịch theo nguyên bản mang tựa đề: “NIRVANA IN A NUTSHELL” của SCOTT SHAW, do Barnes & Noble ấn hành năm 2003. Tác giả Scott Shaw là một nhà văn điêu luyện, một nhà giáo, một nhà võ và đồng thời là một Phật tử thuận thành.
28/12/2012(Xem: 17033)
Nguyên tác Hoa ngữ của “66 cầuthiền ngữ” này là “Lục thập lục điều kinhđiển thiền ngữ” (六十六條經典禪語),có nghĩa là “66 câu thiền ngữ trong Kinhđiển [Phật giáo]”, được phổ biếntrên internet vào khoảng năm 2004. Bản dịch tiếng Việt được phổ biến năm 2010,có tựa đề là “66 cầu làm chấn động thiền ngữ thế giới” hoặc “66 câu Phật họclàm chấn động thiền ngữ” đều không chuẩn với nguyên tác Hoa ngữ, đồng thời, đãthêm cụm từ “chấn động thế giới” và tỉnh lược từ “kinh điển”.
17/11/2012(Xem: 5350)
Thân người có ba chứng bệnh là bệnh thuộc về phong, bệnh thuộc về hàn và bệnh thuộc về nhiệt, nhưng ba chứng bệnh này gây họa không lớn, chỉ khổ trong một đời. Tâm cũng có ba nhóm bệnh, nhưng ba bệnh này gây họa thật nghiêm trọng, khiến con người phải chịu khổ đau vô lượng kiếp. Chỉ có Đức Phật, một đại lương y mới có thể ban thuốc chữa trị. Người tu hành trong vô lượng thế giới mãi bị các căn bệnh hiểm nghèo này, hôm nay mới có cơ hội tu dưỡng đức hạnh. Thế nên phải có ý chí kiên định, siêng năng tu tập, không tiếc thân mạng. Như một chiến tướng xông trận, nếu lòng không kiên định thì không thể phá giặc, phá giặc loạn tưởng
03/10/2012(Xem: 7713)
Con đường hướng về sự nhẹ nhàng, chẳng lẽ không là hướng mở đúng đắn giữa một nhịp sống chẳng “nhẹ” chút nào, giữa bao nhiêu lực tấn công từ mọi phía...
30/09/2012(Xem: 12578)
Từ xưa, Phật giáo Trung Hoa cho hệ thống những người chuyên tâm tọa thiền là Thiền tông bao gồm cả hai hệ thống Thiên Thai và Tam Luận chớ không nhất thiết chỉcó Đạt Ma tông. Nhưng từ đời Đường về sau, Đạt Ma tông trở nên hưng thịnh vì thế từ ngữ Thiền tông liền chuyển sang để chỉ cho Đạt Ma tông.