Cây Khế Đồi Cao (Thành kính tưởng niệm Hoà Thượng Thích Phước An)

11/02/202617:21(Xem: 537)
Cây Khế Đồi Cao (Thành kính tưởng niệm Hoà Thượng Thích Phước An)

on phuoc an-1 (1)
on phuoc an-tt nguyen hien-0

CÂY KHẾ ĐỒI CAO
Thành kính tưởng niệm Hoà Thượng Thích Phước An
***
Bài của TT Thích Nguyên Hiền
Do PT Diệu Danh diễn đọc







Một trong những câu thơ của Phạm Công Thiện ám ảnh tôi từ nhỏ:
"Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Cây khế đồi cao trỗ hết bông"

Có một câu thơ của Hoàng Trúc Ly, người bạn thân của Phạm Công Thiện, câu đầu giống hệt, chẳng biết ai làm trước ai làm sau:

"Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
Em ngủ một mình trong gió mưa"

Câu thơ của Hoàng Trúc Ly ít người nhớ tới, nhưng câu của Phạm Công Thiện thì được nhắc đến rất nhiều trong các diễn đàn văn học. Ở đây tôi không nói đến câu thơ, tôi chỉ nói đến hình ảnh "cây khế đồi cao". "Trỗ hết bông" nghĩa là gì? Vì mưa-chiều-thứ-bảy, không gian thì ướt át, thời gian thì muộn màng. Trỗ-hết-bông là bông đã trỗ hết, trỗ bừng hết, trắng muốt trên cành, hay trỗ hết rồi lụi tàn, chẳng còn bông nào hết? Tôi chẳng biết. Mà cũng chẳng cần biết. Cái nghi ngờ lẩm cẩm ấy lại là cái thú vị của thi ca, khiến câu thơ cứ lảng vảng mãi trong đầu.

Cây khế nào? Đồi cao nào? Ai là người ở lại với cây khế đồi cao đó? Đây chính là điều tôi muốn nói tới trong bài viết này: Thích Phước An. Trên ngọn đồi Trại Thủy, dãy phòng học đơn sơ, biết bao tài danh đã đến và đi, từ các bậc cao tăng lừng danh như Minh Châu, Nhất Hạnh, Trí Quang, Trí Thủ, Thiện Siêu, Đổng Minh đến các học giả như Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, những giáo sư như Nguyễn Đăng Thục, Cao Hữu Đính, những nhà thơ văn như Quách Tấn, Võ Hồng. Chỉ có một mình Thầy Phước An là ở lại đó cho đến hơi thở cuối cùng.

Phạm Công Thiện viết câu thơ trên khoảng sau năm 1964, sau khi ông được xuất gia với Hoà Thượng Giám viện Thích Trí Thủ với pháp danh Nguyên Tánh và nổi tiếng với tác phẩm "Tiểu Luận Về Bồ Đề Đạt Ma". Trong khảo luận "Phạm Công Thiện Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng", Thích Phước An đã từng viết: "Ở đây, trên đồi cao vắng vẻ, vào mỗi chiều tôi vẫn thường ra đứng nhìn mặt trời khuất dần nơi các rặng núi phía xa, rồi chạnh lòng nhớ đến những người thân đã đến rồi ra đi không bao giờ về thăm lại ngọn đồi cao này. Tất nhiên, trong đó hình bóng của anh Phạm Công Thiện, một thanh niên tài hoa vừa mới từ giã Sài Gòn về đây suốt ngày tự nhốt mình trong một căn phòng đầy sách cùng những câu thơ mà anh đã từng sáng tác ở đây, vào những đêm dài heo hút hay những chiều buồn lê thê, lúc nào cũng sống lại đậm đà trong kí ức xa xôi của tôi". Quách Tấn, một nhà thơ chất ngất hồn Đường đã từng viết: "Nếu ở thời hiện tại có cái gọi là thơ Thiền thì chắc chắn đó phải là hai câu thơ Thiền hay nhất ở thời hiện đại".

Rõ ràng tư tưởng của Phạm Công Thiện đã in dấu sâu đậm trong tâm khảm của vị học tăng tại Hải Đức. Chả vì thế mà Thầy Phước An đã chọn câu thơ trong bài Bất Nhị của chàng trai họ Phạm ấy làm tiêu đề sách của mình: "Hiu Hắt Quê Hương Bến Cỏ Hồng".

Thầy Phước An từ Bình Định vào Phật học viện Hải Đức vào khoảng những năm 1957, 1958, 1959, sau khi Hải Đức sáp nhập cả Phật học đường Báo Quốc từ Huế vào. Đến năm 1974, khi Hải Đức là Cao đẳng Phật học viện với Viện trưởng Thích Thiện Siêu, Phó Viện trưởng Thích Đỗng Minh, Học vụ kiêm Thư ký Thích Tuệ Sỹ thì Thầy Phước An làm Thủ thư kiêm phụ tá học vụ. Sau 1975, Phật học viện Hải Đức tan rã. Mỗi người theo duyên phận của mình tứ tán khắp các tỉnh thành và hải ngoại. Chỉ một mình Thầy Phước An ở lại dãy phòng học của Hải Đức, lặng lẽ, hắt hiu suốt hơn 50 năm cho đến hơi thở cuối cùng. Không chùa chiền, không đệ tử, không danh phận, không làm việc giáo hội, đúng chất một thủ thư: không phải là người giữ sách, mà là giữ cái hồn, cái cốt của văn chương, của những trang kinh, điển tịch, và làm chứng cho mọi đổi thay, phát triển hay lụi tàn của thành phố Nha Trang với gió biển ngàn đời, với đồi Trại Thuỷ cô liêu, với dòng sông Cái hiền hoà và đỉnh tháp Chàm Ponagar trầm mặc.

Nói đến Thích Phước An mà không nói đến những trang viết của Thầy trong đặc san đây đó là một thiếu sót lớn. Thầy viết gì? Thầy viết về Trần Nhân Tông, viết về Nguyễn Du, viết về Quách Tấn, viết về Tuệ Sỹ... Người ta không thấy nhiều những quê hương lửa đạn, những đấu đá thời cuộc, những đảo điên chính trị hay đời sống thăng trầm. Người ta chỉ thấy một dòng chảy xuyên suốt của hồn Việt, của Phật giáo thăng trầm và tình tự quê hương thắm đẫm qua những con chữ đầy chất xúc tác. Có thể nói, sau Tuệ Sỹ với những trang thơ chất ngất Trường Sơn huyết lệ thì những bài viết của Thích Phước An là những trang sách đáng đọc nhất khi muốn tìm về quê hương sơ thuỷ.

Phạm Công Thiện thì "long đong theo bóng chim gầy" và "đau trong tiếng gà xơ xác" để gặp lại quê hương:

"Gió thổi đồi tây hay đồi đông?
Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
Trong mơ em vẫn còn bên cửa
Tôi đứng trên đồi mây trổ bông
Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
Một sớm bông hồng nở cửa đông".

Với Tuệ Sỹ thì khác:

"Anh cúi xuống nghe núi rừng hợp tấu
Bản tình ca vô tận của Đông Phương".

Phạm Công Thiện thì đi tìm quê hương ở biền biệt trời Tây. Tuệ Sỹ Phạm Văn Thương thì cúi xuống lắng nghe núi rừng hợp tấu, còn Thích Phước An Trần Hữu Cư, người ngưỡng mộ hai bậc tài danh thế kỷ ấy, như cây khế đồi cao, đứng lặng suốt hơn nửa thế kỷ thăng trầm để gìn giữ quê hương trầm mặc.
Có lẽ bức ảnh của Thầy Phước An nổi tiếng trên mạng là bức ảnh trong chiếc xe thùng (hay trên toa tàu lửa?), cùng Thầy Đỗng Minh đi đón Thầy Tuệ Sỹ ra tù. Những năm sau 1975, Thầy Tuệ Sỹ ra Nha Trang, Vạn Giã làm rẫy, người bạn đồng hành của Tuệ Sỹ là Thầy Phước An. Sau này mỗi dịp ra Nha Trang, Tuệ Sỹ cũng đều lên đồi Trại Thuỷ, nơi Phật học viện Hải Đức cũ uống trà đàm đạo cùng Thầy Phước An. Những năm cuối đời, Thầy Tuệ Sỹ đã cung cử Thầy Phước An ngôi vị Tăng Trưởng GHPGVNTN, bấy nhiêu cũng thấy được vị trí của Thầy Phước An trong lòng bậc tông tượng Thiền môn Thích Tuệ Sỹ.

on tue sy-on phuoc an-2

Tôi được biết Thầy Phước An rất muộn, có lẽ đầu thập niên 90. Có lần tôi được mời ra Nha Trang dự lễ ra mắt Đặc san Hoa Hiếu Hạnh của thầy Nguyên Mãn, trong đó có bài viết của tôi: "Phật Giáo Nha Trang Xưa Và Nay - Đôi Điều Cảm Nhận". Đêm ra mắt Đặc san có 2 vị khách mời đặc biệt: Thầy Phước An và nhà văn Võ Hồng - người nổi tiếng với những tuỳ bút trên các ấn phẩm Tư Tưởng, Giữ Thơm Quê Mẹ... trước 1975. Không ngờ Thầy Phước An biết tôi và khen ngợi những bài viết của tôi trên nhiều đặc san trước đó. Năm 2023, nhân chuyến hoằng pháp ở Nha Trang, tôi lên đồi Trại Thuỷ thăm vị Thầy ẩn mật. Tình cờ chị Lê Khắc Thanh Hoài, "người đàn bà năm con" của Phạm Công Thiện từ Paris gọi về thăm tôi. Tôi nói tôi đang ngồi với Thầy Phước An. Ba thầy trò mở loa cùng nói chuyện vui như hạnh ngộ. Không ngờ chị Hoài trước đó vẫn thường xuyên gọi về thăm hỏi vị thầy ở mãi trên đồi Trại Thuỷ xa xưa.

Hôm nay, những ngày cuối năm Ất Tỵ, đứng trước linh đường chùa Hải Đức sau khi cùng chư tôn đức GHPGVNTN đảnh lễ phúng viếng Giác Linh, ra trước cổng với những hàng trụ xi măng trên dốc cao trầm mặc, tôi bỗng nảy ra câu đối dâng Thầy trong niềm cảm xúc vô biên:

- Cây khế đồi cao, trỗ hết chẳng chừa dăm nụ Tết
- Rừng mai dốc thẳm, rụng dần chỉ sót một nhành Xuân.

Tôi đã mượn "Cây khế đồi cao" của Phạm Công Thiện để đối với "Nhất chi mai" đêm qua của Thiền sư Mãn Giác. Ai cảm nhận thế nào thì tuỳ cảm xúc của người đọc mà thôi!


Nha Trang, ngày tiễn đưa Thầy về cát bụi.
24 tháng Chạp năm Ất Tỵ
Nhất Thanh Thích Nguyên Hiền.

on phuoc an-tt nguyen hien-2

CÂU ĐỐI CÚNG DƯỜNG HOÀ THƯỢNG THÍCH PHƯỚC AN

- Cỏ hồng tiễn gót vân du, hiu hắt quê hương chiều Hải Đức
- Mây trắng nâng tà tịch mặc, bồi hồi sông nước sớm Nha Trang.

- Không cửa, không nhà, danh phận còn không, có gì thân huyễn hoá?
- Có Thầy, có bạn, tình thơ cũng có, không lẻ mộng khói sương!

- Nửa thế kỷ im lìm, gió biển ngời trên từng trang sách.
- Năm mươi năm hiu hắt, suối nguồn thắm đượm mỗi câu kinh.

- Mưa chiều thứ bảy, cây khế đồi cao, trỗ hết chẳng chừa dăm nụ Tết.
- Nắng sớm cuối đông, rừng mai dốc thẳm, rụng dần chỉ sót một nhành Xuân.


Nhất Thanh Thích Nguyên Hiền.


on phuoc an-tt nguyen hien-3on phuoc an-1 (7)on phuoc an-1 (6)on phuoc an-1 (5)on phuoc an-1 (4)on phuoc an-1 (3)on phuoc an-1
xem tiep

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/02/2026(Xem: 2443)
CÁO BẠCH HỘI ĐỒNG GIÁO PHẨM TRUNG ƯƠNG VIỆN TĂNG THỐNG GHPGVNTN Thành kính cáo bạch Trưởng lão Hòa thượng thượng NGUYÊN hạ ĐẠT, tự PHƯỚC AN Tăng Trưởng Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Viện Tăng Thống GHPGVNTN Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Văn hóa, Viện Hóa Đạo GHPGVNTN đã thuận thế vô thường viên tịch vào lúc 11 giờ 50, ngày 09 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 22 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Trụ thế: 79 năm, 57 hạ lạp Tang lễ Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch được cung kính cử hành tại Phật Học Viện Hải Đức (Chùa Hải Đức), số 42 Hải Đức, phường Tây Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. • Lễ cung thỉnh báo thân Trưởng lão Hòa thượng nhập kim quan vào lúc: 07 giờ 00, ngày 10 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 23 tháng Chạp năm Ất Tỵ). • Lễ phụng tống kim quan trà tỳ tại Đài hỏa táng Phương Bắc Nha Trang được cử hành vào lúc: 15 giờ 00, ngày 11 tháng 02 năm 2026 (nhằm ngày 24 tháng Chạp năm Ất Tỵ). Phụng hành di ngôn của Trưởng lão Hòa thượng tân viên tịch: – Tang lễ thực
11/02/2026(Xem: 601)
Trong lịch sử hình thành và phát triển của các cộng đồng tôn giáo ở hải ngoại, hiếm có sự kiện nào mang tính biểu tượng sâu sắc như việc một chính quyền thế tục Tây Phương đặt tên đường mang tên của một bậc tu hành. Sau sự kiện đặt tên đường “Thích Nhất Hạnh Way” ở New York vào tháng 4 năm 2025; giờ tiếp nối đến sự kiện thành phố Évry-Courcouronnes, ngoại ô Paris, nước Pháp, quyết định đặt tên một đoạn đường cạnh Đại Tự Khánh Anh là Rue du Très Vénérable Thích Minh Tâm – Đường Hòa Thượng Thích Minh Tâm. Đây không chỉ là một sự kiện mang tính hành chánh thông thường, mà còn việc xác lập một giá trị: Giá trị của đạo đức, của phụng sự và trí tuệ Phật giáo đã được xã hội Tây phương nhìn nhận như một phần di sản văn hóa chung của cả nhân loại.
10/01/2026(Xem: 1728)
Thời gian qua thật mau, vậy mà đã hai năm Thầy rời bỏ Ta Bà bỏ chúng con ra đi, để lại cho chúng con niềm tiếc thương vô hạn.. Hôm nay giữa xứ lạnh của mùa Giáng Sinh gần kề nơi xứ người, con ngồi đây đọc bài "Ôn Cố Tri Ân" trong báo Viên Giác mà bồi hồi, xúc cảm … Đã lâu lắm rồi Thầy ơi, con không còn được nghe thông điệp của các Ngài, những thông điệp của Đức Tăng Thống mà con nghĩ rất cần thiết cho hàng Phật tử chúng con, cũng như cho tất cả những ai có lòng yêu thương đất nước, đất nước Việt Nam đã chịu qúa nhiều đau khổ bởi chiến tranh, bởi thiên tai, và nhất là dưới chế độ phi nhân tính của cộng sản. Phải chăng Giác Linh Thầy đã về đây để hộ trì cho chúng con, nước mắt con lăn dài, hình ảnh sự biến Lương Sơn lại hiện về trong con qua bài tường thuật của Thầy tại đồn biên phòng Lương Sơn, ngày 8.10.2003, Thầy đã dùng lý luận để vạch rõ dã tâm của cộng sản, giả trá, chụp mũ, vu khống, bắt cóc, hình ảnh Hòa Thượng Quảng Độ bị chúng dìu lên xe, mặc cho Hòa Thượng chống đối, chú
16/12/2025(Xem: 2615)
Người viết đọc bản tin xong , mà trong đầu vẫn vấn vương với những lời viết như sau : những hành động dấn thân phụng sự cộng đồng bằng nhiều hình thức thiết thực: tổ chức cứu tế, ủy lạo những gia đình gặp hoàn cảnh ngặt nghèo, trợ giúp người già yếu và đơn, ân cần an ủi, nâng đỡ tinh thần cho những người đang chịu mất mát và đau khổ là sự khẳng định vai trò tích cực của Phật giáo trong đời sống xã hội, đặc biệt trong những thời khắc khó khăn nhất của nhân loại.
14/12/2025(Xem: 2384)
Ngài là Pháp hữu cùng thế hệ với chư vị Tôn túc: Ôn Huyền Quang, Ôn Trí Nghiêm, Ôn Đổng Minh, và các bậc cao tăng đồng thời với Ngài Huyền Tôn bên Úc. Những hình ảnh mà Thầy nhắc đến chính là Tu Viện Kim Sơn tại Huế, nơi được xem là Đại học Phật giáo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Bức ảnh ấy không chỉ là một tư liệu đơn lẻ, mà là dấu ấn của cả một thế hệ Cao Tăng Phật giáo Việt Nam. Có những tấm hình do chính Hòa Phụ bấm máy, cách nay đã hơn 60 năm.
10/12/2025(Xem: 1889)
Trọn niềm thương nhớ hướng quê hương Mùa Đông Ất Tỵ cảnh tang thương Bao nhiêu đổ nát, bao chua xót Quả thật thế gian, cõi vô thường! Vẫn biết duyên trần chẳng bền lâu Người nỡ ra đi chóng thế sao? Vốn hẹn Hiển Nam ngày tái ngộ Nhưng người Pháp Lữ, biết tìm đâu?!
06/12/2025(Xem: 1235)
Nghĩ gì về Thầy Tuệ Sỹ? Nếu có ai hỏi như thế, tôi sẽ nói rằng tôi chưa thể hiểu tới một phần rất nhỏ những gì Thầy viết, mặc dù tôi vẫn đọc Thầy đều đặn. Cũng như một người đứng dưới chân núi, biết được những gì để dám nói về núi. Tôi không dám so sánh Thầy Tuệ Sỹ với bất kỳ ai, vì tôi không đủ kiến thức và trình độ để đối chiếu bất kỳ kho kiến thức và hành trình tu học của bất kỳ ai.
06/12/2025(Xem: 1245)
Khi đại thụ ngã xuống, một khoảng trời trống vắng cô liêu bày ra nhưng trong tâm tưởng con người thì bóng dáng đại thụ vẫn sừng sững không thể xóa nhòa. Khi lau sậy gầy hao phơ phất trong nắng tà quái chiều hôm, bông lau trắng xóa cả trời chiều, tưởng chừng như vô thanh nhưng sóng âm đồng vọng ngập trong đất trời.
28/11/2025(Xem: 1652)
Kính bạch Giác Linh Thầy Từ Tây Đức xa xôi con theo chân Chư vị Tôn Đức, thân bằng thuộc cùng Phật tử về đây để dự lễ Trà Tỳ, tiễn đưa Thầy về Quê Hương Phật, trên nắp kim quan Thầy phủ đầy những cành hoa hồng đủ màu sắc của mà chư vị Tôn Đức Tăng Ni, quý Phật tử kính thương Thầy đã đặt trên đó với lòng tri ân và sự tiếc thương dâng cúng Thầy, con như ngửi được mùi thơm, như hương đức hạnh của Thầy, một vị Thầy đã suốt đời hiến dâng cho Dân Tộc và Đạo Pháp. Nhìn chiếc kim quan Thầy được nâng lên, đẩy vào đài hỏa táng, bao nhiêu cành hồng dạt xuống, con nghe như Thầy bảo "cảm ơn các con thương yêu, tạm biệt các con, các con về đi, chịu khó tu học, Thầy chúc các con thân tâm thường an lạc, Thầy sẽ trở lại.." tim con như quặn thắt, con mới biết ra rằng từ nay vĩnh viễn con không còn được nghe tiếng Thầy nữa…Thầy ơi!
14/11/2025(Xem: 1456)
Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ — húy thượng Nguyên hạ Chứng, đời thứ 44 dòng Lâm Tế — đã thuận thế vô thường, viên tịch vào ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Chùa Phật Ân, Việt Nam. Ngài là bậc Cao Tăng Thạc Đức, người đã cống hiến trọn đời cho Phật Giáo Việt Nam, Dân Tộc, và Giáo Dục. Từ Viện Đại Học Vạn Hạnh đến các Viện Cao Đẳng Phật Học như Hải Đức – Nha Trang và Quảng Hương Già Lam – Sài Gòn, Ngài đã dìu dắt và đào tạo bao thế hệ Tăng, Ni, Phật tử. Ngài là nhà phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển với những công trình vĩ đại như Kinh Duy-ma-cật Sở Thuyết, Kinh Thắng Man, A-hàm, Luận Câu-xá, Luận Thành Duy Thức, cùng Đại Tạng Kinh Việt Nam được phục hoạt vào năm 2021.