Hồi Đầu Thị Ngạn

01/04/202408:06(Xem: 4631)
Hồi Đầu Thị Ngạn

HỒI ĐẦU THỊ NGẠN

 

 

         Sáng thứ Bảy cuối tuần rảnh rang, tôi rong xe về phố, qua bên kia đầu cầu Hà Ra ghé thăm đạo huynh Duy Pháp-Đinh Hoà ở dốc Đoàn Kết. Ngồi ngoài ban-công sân thượng, huynh đệ vừa uống trà, nhâm nhi tách cà phê nóng bên mấy chậu kiểng hoa hồng, vừa trò chuyện đổi trao chuyện Đạo trong Đời, Đời có Đạo, thật thân tình và đầy hứng khởi...

       Đây là lần thứ ba tôi có mặt trên "tịnh thất sân thượng" của huynh Duy Pháp. Lần trước là vào dịp Tết mới rồi, khi tôi đứng phóng mắt ngắm cảnh xa gần chung quanh, thấy được bóng dáng của chùa Kỳ Viên Trung Nghĩa trên núi Sinh Trung hiện ra xa xa ở góc nhìn lạ, nên lần này tôi không quên mang theo máy ảnh gắn ống kính tele để "săn cảnh già lam"...

        Hàn huyên đến 10h, chuyện chưa hết, nhưng trà và cà phê đã cạn, huynh đệ chia tay tạm biệt. Huynh tiễn đệ xuống nhà, khách đeo máy ảnh trước ngực đi ra trước, chủ nối gót theo sau. Khi tôi bước băng qua bên kia đầu hẻm trước nhà, nơi tôi đậu chiếc xe máy, bất chợt nghe: "Chú ơi, chụp cho cháu một pô hình đi chú!" Tôi khựng người đứng lại, nhìn, thấy một chàng trai đang ngồi bên bàn nước bày chỗ đầu hẻm. Chụp à? OK, thì chụp. Tôi vui vẻ bước lùi ra sau, chỉa ống kính, ngắm. Chàng trai ngồi đó, trên chiếc ghế rộng bành, phông nền phía sau là xe nước giải khát, giơ 2 ngón chữ V (victory: chiến thắng) cười chào. Cạch. Cạch. Hai phát. Tôi cười, chỉ về phía sau lưng mình, nói với chàng trai: "Muốn xem hình thì liên hệ với chú Hoà nghen!"

        Rồi tôi bước lại mở cốp xe, cất máy ảnh. Chợt nghe huynh Duy Pháp gọi: "Lại ngồi đây chơi chút đã rồi về, huynh ơi!" Hơi ngạc nhiên, tôi quay lại chỗ bàn nước có chàng trai ngồi đó. Té ra là huynh Duy Pháp muốn giới thiệu với tôi về nhân vật đặc biệt giữa đời thường mà tôi vừa gặp gỡ chớp nhoáng và xém bỏ lỡ cơ duyên tìm hiểu, rõ biết.



hoi dau thi ngan (1)hoi dau thi ngan (2)

        "Đây là một cháu từng ở tù 9 năm, hoàn lương. Trong thời gian ở trại cải tạo A2 Đồng Găng, cháu nó được một bạn tù tặng quyển Đường Xưa Mây Trắng của Ôn Nhất Hạnh. Cháu nó đã đọc đi đọc lại rất nhiều lần quyển này, gần như thuộc lòng. Khi được tự do về nhà, gặp tôi, cháu nó có kể cho tôi nghe, tôi có hỏi vậy trong quyển sách về cuộc đời của Đức Phật đó cháu thích nhất đoạn nào, nhân vật nào, thì cháu đáp là thích nhất đoạn Gotama nhiếp độ cho Sát thủ Angulimala!"

         Tôi ồ lên trước thông tin ngắn gọn mà đầy sức hấp đẫn đó và trải lòng ra để ngồi đó lắng nghe tiếng tự sự của một con người từ trong bóng tối thâm u bước ra ánh sáng tưng bừng.

        Đạo huynh Duy Pháp cũng có nói ý đó để động viên chàng trai trẻ hoàn lương: "Đời bây giờ cháu thấy đó, có biết bao nhiêu quan chức đang hưởng giàu sang lợi lạc, công danh địa vị nơi ánh sáng huy hoàng mà nay phải bước vào bóng tối, còn cháu thì đã ngồi cu rú co ro trong bóng tối được bước ra ánh sáng!"

        Tôi bồi thêm: "Đó là phước duyên của cháu. Phước duyên chứ không phải chỉ là cơ duyên!"

        Duyên đó. Chàng trai không biết tôi là ai. Tôi cũng chưa hề gặp và không hề biết chàng trai này là ai. Vậy mà, chúng tôi đang ngồi lại với nhau quan chiếc bàn con của quán nước vỉa hè đầu hèm để trò chuyện thân tình với nhau. Khi đã ngồi bên nhau, tôi mới ngắm qua "nhân duyên gặp gỡ trên đời", thấy những hình những nét xăm trổ vằn vện đầy khắp hai cánh tay và đôi chân của chàng trai một thời bồng bột mê lầm. "Đầu đinh mình xăm" đã và đang rụt rè tập tễnh đi theo lối nẻo của các bậc trí giả giác ngộ "đầu tròn áo vuông" (viên đảnh phương bào).

        Các pháp đang diễn ra, hãy ngồi yên và lắng nghe, đừng thêm bớt, đừng bới bươi, đừng can thiệp...

        Khi được ra trại trở về nhà, quyển sách Đường Xưa Mây Trắng mà chàng trai được bạn tù tặng đã phải nằm lại ở Trại, do cán bộ quản giáo đã giữ lấy. Đạo huynh Duy Pháp biết chuyện, liền lấy bản sách cùng tên trên kệ nhà mình tặng lại cho chàng trai.

        Tôi không gặn hỏi người bạn tù nào, tên gì, là cư sĩ hay tăng sĩ mà tặng quyển sách Đường Xưa Mây Trắng, sau đó lại còn giảng giải cho nghe về Kinh Hoa Nghiêm, về Nhân Quả... suốt những năm tháng tù tội, để cho chàng trai trẻ giới giang hồ phải tỉnh ngộ qua từng ngày từng giờ trong bóng tối...

        Tôi cũng không thắc mắc vì sao ở trong tù lại có được sách nhà Phật để đọc, vì tôi đã từng rõ biết nhờ trong thời gian đam mê sưu tầm sách báo cũ, rằng thì là các công ty Phát hành sách như First News thường mang sách nhiều thể loại về giáo dục, giải trí, kỹ năng sống... (như "Hạt giống tâm hồn") đến tặng các Phòng đọc sách của các Trại giam. Tôi cũng không cần phải vô duyên hỏi chàng trai đã gây ra tội lỗi gì mà mang án đến 9 năm ròng. Nghe thôi, đừng hỏi. Chỉ cần lắng nghe từng lời tự sự để thấy biết nỗi niềm day dứt ăn năn, cũng như niềm vui khi tìm bắt được cơ duyên quay về nẻo sáng.

       "Khổ hải mang mang. Hồi đầu thị ngạn" (Biển khổ mênh mông, quay đầu là bờ mé)!

       Động thái quay đầu đó không thể dùng lời nói suông để diễn tả hết được là thấy bờ mé gì. Chỉ có người quay đầu mang một sự thức tỉnh sâu xa tận nguồn Tâm mới hiểu được, biết được. Một sự thể nghiệm chân thật!

       “Lãng tử hồi đầu kim bất hoán”, người lang bạt giang hồ, lăn lộn trong giới "xã hội Đen", cho dù hư đốn đến mức nào, nhưng một khi đã biết hồi tâm thức tỉnh, ăn năn sám hối thì phẩm chất đạo đức của người đó vẫn trở lại nguyên thể trong sáng, thanh cao. Tôi nguyện mong là vậy!

        Trong tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, sát thủ Angulimala đã giết người hàng loạt vì căm ghét loài người, rồi chặt ngón tay của mỗi người bị hắn giết để xâu thành chuỗi đeo lên cổ, khiến cho dân tình khiếp đảm khi nghe đến "đại danh". Angulimala đã đuổi theo sa-môn Gotama, gọi Ngài dừng lại mà Ngài vẫn khẽ bước trên đường.

        "Tôi biểu ông dừng lại sao ông không chịu dừng mà cứ bước đi?"

        "Angulimala, những hành động có thể gây đau khổ cho các loài chúng sanh, ta đã dừng lại, và dừng lại tự lâu rồi. Chỉ có anh là chưa chịu dừng thôi!"

       Gotama giáo hoá: "Ta đã học được hạnh bảo vệ sự sống, không những của con người mà còn của tất cả các loài sinh vật. Angulimala, trong các loài sinh vật, kể cả loài người, loài nào cũng muốn sống, sợ chết; vì vậy ta phải có lòng thương, đem tình thương ấy mà bảo vệ sự sống của muôn loài!"

        Khi biết ra vị sa-môn chính là Phật, sát thủ mếu máo:

        "Rất tiếc, Ngài gặp tôi quá muộn. Tôi đã đi quá xa trên con đường này rồi, bây giờ có muốn dừng lại cũng không được!"

        Đức Phật bảo:

        "Đừng nói vậy, Angulimala. Làm một việc lành thì không bao giờ muộn cả!"

        ... Angulimala quỳ xuống trước mặt Phật, sụp lạy sát đất dưới chân Ngài, ôm mặt mà khóc nức nở:

       "Con xin nguyện từ đây hối cải, bỏ ác làm lành, quyết tâm theo Ngài để học hạnh từ bi. Cúi xin Ngài chấp nhận con làm đệ tử của Ngài!"

 

 

        Chàng trai xăm trổ vằn vện khắp người đã trở về với đời sống thường nhật tự do, quyết tâm hoàn lương hướng thiện dù cuộc sống có khó khăn vất vả. Hằng ngày, chàng ra ngồi nơi đó bán nước giải khát để kiếm sống, được bà con chòm xóm thông cảm chuyện "lấn chiếm lòng lề đường vốn đã nhỏ hẹp" và giúp đỡ cả về vật chất lẫn tinh thần...

        Tôi đứng dậy chào tạm biệt chàng trai, xin chụp thêm vài kiểu có mặt đạo huynh Duy Pháp, rồi nhìn tấm "bảng hiệu" dán trên vách tường sau lưng người chủ hàng nước, tôi mới biết nhân vật "hồi đầu thị ngạn" này có tên: Mr. Chuột!

 

 31/3/2024
Tâm Không Vĩnh Hữu



 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 834)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 953)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2229)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1465)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1889)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1364)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1911)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3794)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 5015)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4732)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S