Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Bài 82: Kinh Thủ Lăng Nghiêm

25/04/201820:37(Xem: 149)
Bài 82: Kinh Thủ Lăng Nghiêm

KINH THỦ LĂNG NGHIÊM

GIẢI NGHĨA

TOÀN KHÔNG

(Tiếp theo)

 

5). TRỜI VÔ SẮC:

- Lại nữa A Nan! Từ trên đảnh của Sắc Giới, lại tẽ ra hai đường:
- Nếu nơi tâm xả, phát minh trí huệ, sáng suốt viên thông, bèn ra cõi trần, thành A La Hán, vào Bồ Tát Thừa, hạng này gọi là Hồi Tâm Đại A La Hán.
- Nếu nơi tâm xả được thành tựu, thấy thân chướng ngại, tiêu ngại vào không, hạng này gọi là Không Xứ.
- Chướng ngại đã tiêu, vô ngại vô diệt, trong đó chỉ còn A Lại Da Thức và nửa phần vi tế của Mạt Na Thức; hạng này gọi là Thức Xứ.
- Sắc và Không đã tiêu, tâm thức đều diệt, mười phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến; hạng này gọi là Vô Sở Hữu Xứ.
- Dùng tánh thức chẳng động để diệt sự nghiền ngẫm, thành ra ở nơi vô tận lại tỏ bày tánh tận, như còn mà chẳng còn, tận mà chẳng tận, hạng này gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.
- Hạng này xét cùng cái Không, nhưng chẳng tột lý Không; nếu từ thánh đạo Bất Hoàn Thiên mà xét cùng, hạng này gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán.
- Nếu từ Vô Tưởng Thiên của ngoại đạo mà chấp thật Không, chẳng biết quày đầu, mê muội hữu lậu, chẳng nghe chánh pháp, bèn vào luân hồi.
- A Nan! Những cõi trời kể trên, mỗi mỗi đều là phàm phu đền trả nghiệp quả, khi nghiệp quả trả hết bèn vào luân hồi. Thiên Vương các cõi ấy, đều là Bồ Tát tu Tam Ma Địa, lần lượt tiến lên, hướng về đường tu của Bậc Thánh.
- A Nan! Cõi Tứ Không này, thân tâm dứt sạch, tánh định hiện tiền, chẳng có sắc thân của nghiệp quả; từ đây đến cùng, gọi là Vô Sắc Giới.
- Ấy đều do chẳng rõ diệu tâm sáng tỏ, tích chứa vọng tưởng, chấp thân trung ấm, tùy loại thọ sanh, vọng có tam giới, nên vọng theo bảy loài (1) mà chìm đắm.

GIẢI NGHĨA:

 

(1) Bảy loài: Gồm có: 1) Loài hóa sinh; 2) Loài có hình sắc; 3) Loài có tư tưởng; 4) Loài chẳng phải có hình sắc; 5) Loài chẳng phải không có hình sắc; 6) Loài chẳng phải có tư tưởng; 7) Loài chẳng phải không có tư tưởng.

 

     Trời Vô Sắc cũng gọi là cõi Tứ Không, có 4 tầng là:

1. TRỜI KHÔNG XỨ: Nơi tâm xả cõi Sắc Giới thấy thân chướng ngại, mong tiêu diệt chướng ngại rồi chấp Không, thành Trời Không Xứ; nếu nơi tâm xả hành trì kiên cố phát trí tuệ sáng suốt viên thông thành bậc Hồi Tâm Đại A La Hán, vào hàng Bồ Tát tu tiếp để tiến lên.

 

2. TRỜI THỨC XỨ: Không còn thân chướng ngại, tâm xả Sáu Thức thành tựu vô ngại; chỉ còn A Lại Đa Thức và một phần nhỏ nhiệm Mạt Na Thức mà thôi.

 

3. TRỜI VÔ SỞ HỮU XỨ: Sắc và Không đã diệt sạch, tâm thức đã dứt tiêu, mười phương tịch lặng, chẳng có chỗ đến.

 

4. TRỜI PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ: Dùng tính tịch tĩnh của tính thức để dứt trừ sự suy gẫm, thành ra ở nơi vô tận lại tỏ bày tính tận, không tưởng lại bày có tưởng. Loại này xét cái Không nhưng chẳng tột lý Không, nên gọi là Bất Hồi Tâm Độn A La Hán. Nếu từ Trời Vô Tưởng của ngoại đạo mà chấp thật Không, mê muội dính mắc, không nghe chính pháp, chẳng biết quay đầu, phải đọa luân hồi.

 

6). A TU LA:

- Lại nữa A Nan! Trong tam giới còn có 4 loại A Tu La:
l. Nếu từ loài quỷ, dùng sức hộ pháp, nhờ thần thông vào trong hư không; loại A Tu La này là noãn sanh, thuộc về loài quỷ.
2. Nếu từ cõi trời, thất đức bị đọa, chỗ ở gần với nhựt nguyệt; loại A Tu La này là thai sanh, thuộc về loài người.
3. Có vua Tu La, thống lãnh tất cả A Tu La trên thế giới, sức mạnh vô úy, có thể tranh quyền với Phạn Vương Đế Thích và Tứ Thiên Vương, loại A Tu La này là hóa sanh, thuộc về loài trời.
4. A Nan, riêng có một số A Tu La thấp kém sanh ở đáy biển, lặn dưới hang nước, ban ngày dạo trên hư không, ban đêm về ngủ dưới nước; loại A Tu La này là thấp sanh, thuộc về loài súc.

GIẢI NGHĨA:

 

     Có 4 loại Thần A Tu La như sau:

1. A TU LA QỦY: Noãn sinh, sinh ra hình Qủy từ trứng, ở trong hư không, loại Thần Qủy này thường hộ trì Phật pháp.

 

2. A TU LA NGƯỜI: Thai sinh, từ cõi Trời Dục Giới bị đọa sinh ra hình Người do bào thai, ở lưng chừng núi Chúa Tu Di.

 

3. A TU LA TRỜI: Hóa sinh, tự nhiên sinh ra, ở chung quanh núi Chúa Tu Di, có sức mạnh vô cùng, gọi là Vua A Tu La, lại có tâm sân hận ganh tị, thường tập trung chỉ huy các loài A Tu La chiến đấu chống lại các vị Trời Dục Giới.

 

4. A TU LA SÚC SINH: Thấp sinh, do ẩm ướt sinh ra, ở dưới đáy biển, trong hang nước sâu, ban ngày bay trên hư không, ban đêm ngủ dưới nước.

     Tất cả 4 loài Thần A Tu La đều vô hình, đối với mắt thịt của loài người không thể nhìn thấy.

 

7). TU HÀNH LÀ DIỆT

      VỌNG QUI CHÂN:

 

- A Nan! Bảy loài địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cõi người, thần tiên, cõi trời và A Tu La kể trên, đều là những tướng hữu vi hôn trầm, vọng tưởng tùy nghiệp thọ sanh. Thật ra thảy đều như hoa đốm trên không, vọng hiện nơi bản tâm vô tác sáng tỏ, vốn vô sở đắc, chỉ một hư vọng, chẳng có cội gốc.
- A Nan! Những chúng sanh này, chẳng nhận được bản tâm, bị luân hồi trải qua vô số kiếp, chẳng được chân tánh trong sạch, ấy đều do tùy thuận ba nghiệp sát, đạo, dâm; hoặc ngược lại ba thứ đó, thành không sát, đạo, dâm; vọng thấy "Có" thì là loài quỷ, vọng thấy "Không" thì là loài trời; Có và Không thay phiên nhau, phát khởi tánh luân hồi.
- Nếu ngộ pháp Tam Ma Địa, thì diệu Tâm thường tịch, hữu vô bất nhị, bất nhị cũng diệt, những việc không sát, đạo, dâm còn chẳng có, huống là thuận theo sát, đạo, dâm.
- A Nan, chẳng dứt ba nghiệp thì chúng sanh mỗi mỗi đều có nghiệp riêng, do nghiệp riêng ấy, trong đồng phận của chúng sanh, chẳng phải là không có chỗ nhất định. Đó là do tự tạo vọng nghiệp, vọng vốn chẳng nhân, chẳng thể truy cứu cội gốc.
- Ngươi khuyên người tu hành, muốn đắc đạo Bồ Đề, phải trừ dứt ba nghiệp. Nếu ba nghiệp chẳng dứt, dẫu được thần thông, cũng đều là những công dụng hữu vi của thế gian, tập khí chẳng diệt thì lạc vào ma đạo, dù muốn trừ vọng, càng thêm giả dối. Như Lai nói là kẻ đáng thương xót.
- Vậy, vọng do người tự tạo, chẳng phải lỗi của Bồ Đề, thuyết như thế gọi là chánh thuyết, chẳng thuyết như thế tức là tà thuyết.


GIẢI NGHĨA:

 

      Đức Phật giảng bảy loại nêu trên đại ý đều là những hiện tướng dính mắc (hữu vi) chìm đắm trong tối tăm vô an bất ổn. Tất cả chỉ là thụ sinh hư vọng thụ, hư vọng theo nghiệp thọ khổ. Ở trong tâm tính của con người tìm gốc rễ của những khổ đau hư vọng đó thì không sao có được. Nó chuyển sinh diệt như hoa đốm trong hư không chẳng dính dáng gì với thể tính tịnh minh, chỉ vì "vọng" mà tạo ra bất thiện nghiệp; có sát, đạo, dâm thì là quỉ, không sát, đạo, dâm gọi là trời, “có không” thay nhau hiện tướng luân hồi liên tục.

 

     Nếu khéo tu tập Xa Ma Tha, Tam Ma Đề và Thiền Na thì tâm tính vắng lặng tròn sáng; lúc đó tìm cái bất sát, bất đạo, bất dâm còn không có, thì sát, đạo, dâm không có môi trường sinh khởi. Nếu không đoạn trừ được ba nghiệp của Thân, Miệng, Ý thì chúng sanh đều có phần tội tương ưng, cho nên cảnh địa ngục khổ đau không phải là không có chỗ nhất định.

 

      Người học đạo, muốn được Giải thoát (Bồ đề), Niết bàn điều cốt yếu là phải diệt trừ: Tham năm dục (Lậu Hoặc), chấp cái thấy phân biệt tà vạy gây ra những mê hoặc (Kiến Hoặc), tình cảm chấp giữ tham sân si (Tư Hoặc), không có khả năng nhận thức chính xác chân tính của vô số hiện tượng trong thế gian (Trần Sa Hoặc), những nghi hoặc ảo tưởng khởi sinh bởi Vô thủy vô minh vốn có (Căn bản vô minh) làm che đậy sự thật (Vô Minh Hoặc) cho hết, nếu không dù có được thần thông thì đó cũng là những công dụng hữu vi của thế gian. Thói quen (Tập khí) mê lầm chưa hết thì rốt cuộc cũng lạc vào đường ma dù muốn trừ vọng chỉ càng chồng chất vọng nhiều thêm; Đức Phật gọi đó là “hạng người đáng thương xót!”

 

(Còn tiếp)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn