Nhà Văn Võ Hồng.

10/04/201312:46(Xem: 9265)
Nhà Văn Võ Hồng.

Nhà văn Võ Hồng


Nhân văn


Võ Hồng sinh ngày 5 tháng 5 năm 1921 ( gia đình nói là sinh ngày 05 tháng chạp năm nhâm Tuất) tại làng Ngân Sơn, tổng An Sơn Phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên ( Trung Việt).

Năm 1945 làm Bí thư toà Tổng đốc Đà Lạt (Chính phủ Trần Trọng Kim).

Từ 1946 - 1949: Trưởng ban Bình dân Học vụ huyện Tuy an. Trưởng ty Bình dân học vụ tỉnh Phú Yên.

1949 - 1953: Dạy học ở trường Trung học Lương văn Chánh rồi làm Hiệu trưởng

1956 - 1975: Dạy học trường Trung học Bồ Đề và trường bán công Lê quý Đôn ở Nha Trang

1975 - 1983: Hiệu trưởng trường Phổ thông cơ sở Tân Lập Nha Trang

Tác phẩm Võ Hồng vẽ lại cảnh sinh hoạt của nông thôn và đô thị miền Nam trong giai đoạn từ thập niên 1930 đến nay, đậm nhất là vào các thập niên 40, 50, 60, 70.

Nội dung tác phẩm: 1. Cuộc kháng chiến 1945 - 1954

2. Cuộc sống ở nông thôn và đô thị giai đoạn 1954 - 1975

3. Viết cho tuổi nhỏ

vohong.jpg (28046 bytes)

Nhà văn Võ Hồng và ĐĐ Thích Tịnh Hạnh
Hình chụp tại nhà của ông, Thành phố Nha Trang
vào tháng 10/2000




Địa chỉ liên lạc

Nhà Văn Võ Hồng
53 Hồng Bàng, TP. Nha Trang
Điện thoại: (84). 058. 510718
Email:
[email protected]


30 tác phẩm của nhà văn Võ Hồng

T T

TÊN TÁC PHẨM

THỂ LOẠI

THỜI GIAN CÔNG BỐ

1

Hoài cố nhân

Truyện ngắn

NXB Ban Mai - 1959

2

Lá vẫn xanh

-

NXB Thời Mới - 1962

3

Vết hằn năm tháng

-

NXB Lá Bối - 1965

4

Con suối mùa Xuân

-

NXB Lá Bối - 1966

5

Khoảng mát

-

NXB An Tiêm - 1966

6

Bên kia đường

-

NXB Mặt Trời - 1968

7

Những giọt đắng

-

NXB LáBối - 1969

8

Trầm mặc cây rừng

-

NXB LáBối - 1971

9

Trong vùng rêu im lặng

-

Hội VHNT Nha Trang - 1988

10

Vẫy tay ngậm ngùi

-

NXB Trẻ - 1992

11

Vùng trời thơ ấu

-

NXB Trẻ - 1995

12

Chúng tôi có mặt

-

13

Thơm ngát hương cau

-

14

Hồi ức

-

15

Hoa bươm bướm

Truyện dài

NXB LáBối - 1966

16

Người về đầu non

-

NXB Văn - 1968

17

Gió cuốn

-

NXB LáBối - 1969

18

Nhánh rong phiê�u bạt

-

NXB LáBối - 1970

19

Như cánh chim bay

-

NXB LáBối - 1971

20

Thiên đường ở trên cao

-

Sở VHTT Nghĩa Bình - 1987

21

Thương mái trường xưa

-

NXB Trẻ - 1993

22

Vượt bao gập ghềnh

-

23

Tiếng chim vườn ngoại

-

24

Áo em cài hoa trắng

Tùy bút

NXB LáBối - 1969

25

Mái chùa xưa

-

NXB LáBối - 1971

26

Một bông hồng cho cha

-

NXB Văn Nghệ TP. HCM - 1994

27

Hồn nhiên tuổi ngọc

Thơ

NXB Trẻ - 1993

28

Thời gian mây bay

-

NXB Đồng Nai - 1996

29

Trầm tư

Đoản văn

NXB Trẻ - 1995

30

Chia tay người bạn nhỏ

Truyện vừa

NXB Trẻ - 1990

Sau Ba Mươi năm

Nhờ đất cho món ăn

Nhờ nước đưa thức uống

Hô hấp nhờ khí trời

Mà cây đầy sức sống

Cũng vậy ba đứa con

Truyền cho cha sinh lực

Lao khổ dầu sớm hôm

Cô đơn dù nhức buốt

Nhưng nhìn con lớn khôn

Cha quên mọi cơ cực

Đứa Út vừa lên ba

Biết mẹ qua tấm ảnh

Miệng chỉ quen gọi cha

Khi đói và khi lạnh

Chị lớn chín tuổi tròn

Đóng vai người mẹ nhỏ

Vội vã học điều khôn

Cửa nhà tập coi ngó

Thằng giữa khi vào lớp

Tên mình tưởng tên ai

Thầy hỏi không biết đáp

Nghe chim hơn nghe bài

Nay các con nên người

Mỗi đứa đi một ngả

Mình cha căn nhà xưa

Trông vừa quen vừa lạ

Không còn ngày gian khổ

Chỉ dư ngày tiêu điều

Vắng con như cây cỏ

Héo úa giữa quạnh hiu

Tuổi già ngồi ngẫm lại

Quý nhất của đời mình

Là ba đứa con dại

Cha nuôi đến trưởng thành.

VÕ HỔNG

- o0o -

___________

Computer typesetting: Nguyên Chí

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 568)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 800)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1952)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1288)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1642)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1225)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1835)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3409)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4613)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4258)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S