Nghề Đuổi Quạ

10/04/201312:47(Xem: 6029)
Nghề Đuổi Quạ

_____________________________________________________________

chutieuve_1Nghề Đuổi Quạ

Vĩnh Hảo


Theo qui chế nhà chùa, sa di, tức là danh từ gọi chung cho các chú tiểu , được chia làm hai hạng : hạng thứ nhất tuổi từ 7 đến 12 gọi là �sa di khu ô�, hạng thứ 2 tuổi từ 13 đến 19 gọi là �sa di ứng pháp� Hạng thứ 2 được coi là đã thuần thục nhờ đã trải qua một thời gian tập sự trong chùa, mặt khác vì ở trong lứa tuổi phát triễn nên có thể giúp cho chùa nhiều việc quan trọng như tưới cây, quét dọn, lau chùi, làm việc đồng án nếu chùa ở vùng quê, tụng kinh, tiếp khách khi Thầy đi vắng v..v...

Chữ �ứng pháp� có thể hiểu nghĩa đen là có khả năng thích ứng thực hiện nhiều pháp sự trong chùa. Còn hạng thứ nhất sa di khu ô thì theo nghĩa đen thật đen thì chỉ là sa di đuổi quạ, là vì ở cáituổi quá nhỉ, các chú tiểu ở hạng này không vác nỗi cái chổi cao hơn mình, không xách nỗi thùn nước nặng bằng mình, không dơ nỗi cây cuốc dài gấp đôi thân hình mình , cái gì cũng không nỗi,không xong thì chỉ còn cách chia phiên các chú đuổi quạ, đuổi chim, không cho chúng ăn thóc lúa đậu mè hoa quả của vườn chùa. Công việc duy nhất và dễ nhất cho các chú hằng ngày là như vậy, cho nên gọi các chú là sa di khu ô tức là đuổi quạ .

Các Thầy Trụ trì khi nuôi các chú tiểu ở lứa khu ô biết rằng các chú không làm được việc lớn nên phải kiếm một việc nho nhỏ nào đó mà giao cho các chú để các chú khỏi ở không ; điều đó chẳng phải là chèn ép gì các chú vì đuổi quạ cũng giống như chơi đùa chẳng mệt nhọc chi hết mà cũng là một trongnhững sự trau luyện trong thiền môn đó thôi .

Thứ nhất sự làm việc của các chú, dù là việc nhỏ, cũng được xem như những đóng góp vào việc chung của chùa để các chú khỏi mang tiếng là �ngồi không mà ăn cơm bá tánh� . Thứ hai cách chia công việc cho các chú cũng là các tập cho các chú có trách nhiệm đối với các công việc mà chùa giao phó. Cứ theo qui chế như trrên mà nói thì lẽ ra không có các chú tiểu từ 4 đến 6 mà nhỏ nhất cũng phải là 7 tuổi . Có lẽ từ xưa qui chế đó được chấp nhận có nghĩa là những chí tiểu xuất gia phải từ 7 tuổi trở lên . Còn thời nay người ta thấy ở nhiều chùa sự có mặt của các chú tiểu ở lứa dướI 7 tuổi ,điển hình là chú Hiếu ở chùa Phước Tân . Chú Hiếu mới có 5 tuổi thôi ,như vậy chí chưa đủ tiêu chuẩn để xếp vào hạng sa di đuổi quạ nữa ; nhưng Thầy Trụ Trì cũng đã cắt việc cho chú., coi chú như là hàng sa di đuổi quạ chính thức vậy . Có lẽ vì chùa cũng thếu ngườI đuổI qụạ nên Thầy mớI dành công việc đó cho chú . Được giao công việc chú thích lắm , chú cảm thấy mình được lớn, có khả năng làm việc. Công việc của chú trước đây do chú Hân đảm trách, nhưng chú Hân bây giờ đã được 13 tuổi rồi, đã qua cái tuổi đuổi quạ rồi ,vì thế chú Hiếu được bổ nhiệm sớm . Chuyện đi tu của chú Hiếu cũng là một đề tài khá ly kì . Cha mẹ chú kể rằng từ hồi mới biết ăn ,chú đã không ăn được cá thịt, cuí ddòi ăn rau cải quanh năm suốt tháng ; nhiều lúc sợ chú bị thiếu dinh dưỡng, cha mẹ chú nghiền thịt hay cá để nấu chung vớI rau cho chú , vậy mà chú cũng biết, bỏ ăn , có khi lở ăn thì ói thốc ra hết ,không chịu được mùi tanh cá thịt. Cho đến tháng Chạp năm ngoái, khi theo cha mẹ đến chùa thấy chú Hân ngồi đọc kinh dướI gốc cây chú Hiếu bèn nẩy ý xin đi tu . Chú xin nằng nặc đến độ giận lẫy, bỏ ăn ,không tắm rửa, đủ thứ chuyện ; cuối cùng cha mẹ đành phải chịu thua mang chú lên chùa. Chùa Phước tân là một chùa ở thôn quê, cái tên của chù thầy Trụ trì nói rằng nó chẳng mang một chút mùi thiền vị nào hết mà chỉ có y nghiĩa gắn bó vớI ngôi làng nhỏ này mà thôi : chùa Phước tân của làng Phước tân . Vì là chùa làng mọi sinh hoạt đều mang tính chất của làng xã địa phương ; dân trong làng làm ruộng làm vườn thì chùa cũng có ruộng có vườn để canh tác hằng ngày . Chùa có cả thảy 6 ngườI : thầy Trụ trì, thầy Tri sự , chú Hân, 2 vị vải già dướI bếp và chú Hiếu. Hẳng ngày thầy Trụ trì và thầy Tri sự cùng vác cuốc ra ruộng ; lúa cấy xong hai thầy vác cuốc ra vườn trồng rau, đậu. Ruộng vườn của chùa nhiều lắm nên hết mảnh đất này xoay qua mảnh khác hẳng biết lúc nào hai thầy mới nghỉ việc được ,ngoại trừ những ngày Viá và ngày lễ tết hoặc ngày Rằm Mồng Một . Chú Hân cũng vác cuốc đi theo hai Thầy từ ngày chú Hiếu lo việc đuổI quạ , nhưng chú Hân chẳng làm được việc gì ngoài ruộng, vườn trừ việc đem nước uống , đem bửa lở - tức là bửa ăn phát ra tận ngoài ruộng , để ăn qua loa mà làm việc tiếp- cho hai Thầy. Có khi chú giúp các Thầy trỉa đậu, trồng rau lang, những việc tương đối dễ dàng và không cần phải dùng nhiều sức . BuổI sáng sớm, sau khóa lễ khuya ,chú hân mang chỗI ra quét sân rồi vào quét tổ đường, trong khi thầy Trụ trì quét dọn chánh điện còn thầy tri sự thì tướI mấy chậu kiểng , hai vị vải già dưới bếp thì nấu ăn , quét dọn quanh bếp và vườn sau . Hai vị cũng lo việc xắc khoai lang khoai mì để phơi khô có khi các vị phơi lúa, phơi đậu ở mảnh sân xi măng bên hông chánh điện; ai cũng có nhiều việc để làm trong ngày , duy có chú Hiếu là rảnh rang nhất, chỉ làm mỗi công việc đuổi quạ mà thôi. Công việc của chú chỉ bắt dầu khi 2 vị vải khiêng bao bắp, bao luá ra sân, trút ra phơi khi nắng bắt đầu rọI đến mảnh sân đó . Chiều, khi trời sắp tắt nắng hai vị vải ra sân hốt lúa vào bao là chú hết trách nhiệm .Ao cũng cho rằng việc đuổi quạ là việc nhàn rỗi, dễ nhất . Ban đầu chú Hiếu cũng nghĩ vậy, nhưng khi bắt tay vào việc rồi chí mới thấy nó không đơn giản. Trước đây khi chú Hân còn làm việc đuổi quạ ,cứ mỗi lúc ngồi trông coi đồ phới thì mang kinh ra học , có khi đem giấy bút ra tập viết chữ Hán nữa ; còn chú Hiếu chưa biết chữ chẳng biết phải học hay làm gì cho đở chán trong suốt thờI gian ngồi trông coi bắp đậu . Ngòai ra chú Hân có cái thanh quản rất tốt, nói năng lớn tiếng như ểnh ương kêu, khi nào thấy có chim đến phá, chú Hân chỉ cần la lên một tiếng là chim bay hết. Còn chú Hiếu, giọng nhỏ xíu như con gà con mớI chui ra khỏi trứng, hét mãi mà chin cứ nhảy qua nhảy lại, tung tăng mà mổ . Nội 2 chuyện đó không đủ thấy việc đuổi quạ của chú Hiếu đã không phải là đơn giản rồi . Rất chán, chán quá, không biết làm gì chú đâm ra buồn ngủ ; chú ngồi dựa vào vách tường ngủ, rồi ngủ rất ngon . Chim chóc tha hồ đáp xuống mà mổ, mà ăn luá hao của chùa quá ! Chỉ có 2 vị vải mớI biết việc hao hụt đó . �Chẳng phải lúa bắp teo khô lại, mà thấy ít đi đâu ,tại chim ăn nhiều quá đó !� hai vị vải nói vớI thầy Tri sự như vậy khi Thầy giúp 2 vị vác các bao lúa vào kho . Thầy tri sự tuổI trẻ mà tẩn mẩn chăm chút từng thứ li ti ; có lẽ thầy Trụ trì giao cho việc tri sụ cũng vì biết cái tính ý tỉ mỉ của Thầy . Thầy tri sự không muốn làm rơi rớt bất cứ hôt thóc nào ; hẳn nhiên ở chùa xưa nay ai cũng học bài học vỡ lòng �phải biết trân quí hạt cơm như hạt ngọc� do công lao khó nhọc của nông phu làm nên ,nhưng trân quí đến cỡ thầy Tri sự này thì chữ � cơm chùa� không còn ý nghĩa nữa. Cũng bởi thầy Tri sự quá trân quí vật sản ỏ chùa ,dù là do bẩm tánh hay do tinh thàn trách nhiệm thầy không thể tha thứ cho chú Hiếu được. �Chú Hiếu, lại biểu ! � thầy tri sự nghiêm giọng gọI , chú Hiếu rón rén bước đến gần thầy, tay vân vê chéo áo và hò nâu chưa biết chuyện gì mà trông như đã muốn khóc .

- Hôm nay chú làm gì ở chùa ?

- Dạ, dạ, đuổI quạ .

- có con quạ nào không ?

- dạ không, con không biết con quạ

- con quạ cũng giống như con chim nhưng nó lớn hơn, màu đen , mỏ nó hơi dài như vầy . Ngưng một lúc thầy tiếp : không biết, không biết con quạ nào nên chú chẳng làm gì hết hả ? dì Bảy nói : chú ngồi ngủ mà ,phải không ?

- Dạ, đâu có

- Vậy chứ chú làm gì mà lúa mất đi đâu muốn hết ?

- Dạ, có mấy con chim nhỏ nhỏ như vầy nè, tụi nó ăn đó !

- Sao chú không đuổi chứ ?

- Dạ, con đuổi nó không chịu bay ! vớI lại đâu phải quạ đâu mà đuổi !

- Phật tổ ơi, quạ hay chim gì cũng đuổi hết, nhớ chưa ? còn đuổi thì nó phải bay chứ ! Chắc chú ngồi một chỗ rồi xì xì mấy tiéng có lệ thôi nên chúng không sợ chứ gì ? Chú đuổI làm sao ? chú làm lại cho tui coi thử coi !

Chú Hiếu ngập ngừng một lúc rồi vung hai tay lên la : uê uế ,

Thầy tri sự bật cười , rồi nhăn mặt than :

- Trời thần ơi, đuổi như vậy làm sao nó sợ chứ , uớ uớ như con thằn lằn chặt lưỡi vậy nè trời !

Thầy Trụ trì nghe được câu chuyện , bước ra vừa cười vừa nói :

- kiếm cho chú một cái thùng thiếc nhỏ với 2 cái dùi ,khi nào chim chóc tới thì cứ gõ rân trời lên là chúng hoảng kinh bay hết chứ lo gì ! giọng chú ấy đâu có kớnn được như giọng chú Hân mà la hét suốt ngày cũng khan cổ chết ,ai mà chịu nỗi !

- Thầy tri sự dù sao cũng là hàng đệt tử nên nghe thầyTrụ trì nói vậy cũng không bàn cãi gì thêm, liền đi tìm một cái thùng thiếc cho chú Hiếu . Chú đứng lại đó như trờI trồng, chẳng dám bước đi đâu , Thầy trụ trì thấy thương gọI chú lại :

- Con làm việc có mệt không ?

- Dạ không

- Có chán không ?

- Dạ, không chán

- Không chán ? Thiệt không nè ? Người xuất gia không được nói dối , thầy hỏi ;ại : đổi chim quạ có chán không ?

- -dạ chán

- Phải vậy chứ ! chán chứ sao không ! con chưa học nghề mà bắt đi làm thì sao không chán được ? Ở chùa, việc nào cũng có ý nghĩa riêng của nó cho nên việc nào cũng phải học hết ! Ngồi xuống đây, thầy dạy con cách đuổi quạ . A , có thùng thiếc đến cho con rồi kìa ! Tốt lắm, lại có 2 cái dùi đẹp như vầy, sướng quá ! lại dây !

Chú Hiếu bước lại gần thầy Trụ trì, thầy Tri sự cũng đứng qua môt bên để nghe thầy Trụ trì dạy chú Hiếu cách đuổi quạ ; thầy Trụ trì nói với thầy Tri sự :

- cái thùng thiếc này tốt lắm rồi nhưng nếu chú ấy phải mang đi bằng 2 tay thì không còn tay đâu mà gõ . Cho nên thầy phải đục 2 lỗ ở 2 bên miệng thùng mắc vào đây một sợi dây cho chú đeo trước bụng .Thầy tri sự cười dòn một tràng mang thùng thiếc đi ngay .Một chốc sau là Thầy ấy đã mang thùng thiếc có sợi dây làm quai trở lại . Chú Hân cũng theo thầy tri sự đến nghe thầy Trụ Trì dạy : thầy trụ trì tròng dây vào cổ mình , sửa cho chiéc thùng ằ ngay ngắn trước ngực ,ai cũng cườI , chú Hiếu chẳng dám cười , ngó thầy Trụ trì lom lom y� chừng không muốn bỏ sót động tác đuổi quạ nào mà thầy dạy cho . Thầy vừa gõ thùng vừa nói : leng keng, đuổi quạ cũng như quét rác, quét rác là quét cho sạch những phiền não, Thầy ngưng 1 lúc để tìm chữ dễ hiểu cho chú Hiếu, tức là những tính xấu ác của mình thì đuổi quạ cũng có nghĩa là đuổi đi những thứ tầm bậy tầm bạ phá hoại đờI sống tu hành của mình . Cái gì là tấm bậy tầm bạ biết không ? - là ham ăn, ham ngủ, ham chơi lười biếng học hành, lười biếng kinh kệ, ganh tị, ghen ghét ,sân si, ác độc, nói tóm tại là đủ thứ xấu xa của mình . NgườI t là một chiến sĩ anh dũng, xông ra trận chiến đãu với các thứ ma quỹ nhơ nhớp xấu xa ,đuổi cho chíng chạy, đánh cho chíng tan, không chịu thua một thứ phiền não nào hết .Quạ đâu, chim đâu ? ( tùng tùng, ) tụi bây là ma vương , phiền não, tới đây quấy phá chùa phải không ? ( tùng tùng, tùng tùng) - Có ta đây, ta đuổi bây . Mau chạy, mau bay , đừng xớ rớ đến nhiều chùa thanh tịnh của ta nữa , bay di bay di ! ( tùng tùng, tùng tùng) . Thầy Tri sự bụm miệng cười, chú hân cũng cười ngoặc ngoẽn, thầy trụ trì ngó chú Hiếu hỏi :

- Sao ? con đã học được cách đuổi quạ chưa ?

- Dạ chưa, dài quá con không nhớ hết !

- Ai bắt con học những gì thầy nói đâu mà dài với ngắn ? Khi thấy chim quạ tới, conn chỉ việc chạy u đến, vừa chạy vừa gõ thùng là được rồi ! đâu cần phải nói hay đọc cái gì ?

Mắt chú Hiếu sáng rỡ lên, chú nói :

- Dạ, vậy Thầy để con làm thử coi ! Nói rồi, chú đón cái thùng thiếc từ tay Thầy, tự tròng dây vào cổ mình vừa chạy chú vừa gõ �tùng tùng� một cách khoái chí. Chú chạy riết tới bãi phơi lúa

- chú Hân phân bì : bạch Thầy, hồi truớc con đuổi quạ Thầy đâu có dạy con như vậy ?

Thầy trầm ngâm một lúc :

Mỗi người có một tính nết , một căn cơ riêng , con sẽ giống như thầy Tri sự lau chùi, quét dọn, giữ gìn cho sạch đất chùa , tích chứa công đức không để sơ tán , làm gương mẫu giới hạnh cho đồ chúng mai sau . Chú Hân nghe Thầy dạy như vậy có vẻ thích ý lắm, tin tưởng tương lai của mình sẽ vững vàng suông sẻ như đường đi của thầy Tri sự. . Chú hỏi : Chú Hiếu không phải vậy há Thầy ? - � không� Thầy chỉ nói vậy

Lúc này chú Hiếu đã trở lại vớI mặt mày sáng rỡ. Thầy nói với chú trước khi trở vào phương trượng :

- mỗi ngày khi làm việc đuổi quạ , con hãy nghĩ rằng con là một anh hùng, một chiến sĩ chiến đấu với những điều xấu xa ác độc của cuộc đời, nhớ chưa con? vũ khí của con là cái thùng thiếc đó. Gióng nó lên để đuổi giặc như xưa đức Phật Thích Ca nói giáo lý Trung Đạo để phá tà ma ngoại đạo vậy. Không hiểu hả ? thôi đại khái là phải hết sức chiến đấu không chịu thua bao giờ hết , được chưa ? hiểu chưa nào ?

  • dạ hiểu , chú Hiếu đáp nhanh, tay không quên gõ (�tùng tùng� )

(Trích " Thiên Thần Quét Lá" của Vĩnh Hảo)

___________________

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 575)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 809)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1967)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1302)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1648)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1225)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1838)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3411)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4626)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4267)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S