Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 8: Tu Tập Tâm

06/06/201715:19(Xem: 553)
Chương 8: Tu Tập Tâm

 

 

Hợp Tuyển Lời Phật Dạy
Từ Kinh Tạng Pali
(In The Buddha's Words
An Anthology of Discourses from the Pali Canon)

 

Nguyên tác: Bhikkhu Bodhi
Việt dịch: Nguyên Nhật Trần Như Mai

  

 

 

 

 

VIII -  TU TẬP  TÂM

 

 

GIỚI  THIỆU  TỔNG  QUÁT

 

            Sau khi trình bày những mô tả tổng quát về con đường tu tập vượt thoát thế gian trong  chương trước, trong chương này và chương tiếp theo tôi dự định tập trung đặc biệt hơn vào hai phương diện của con đường này như đã được mô tả trong các bộ kinh Nikaya , đó là thiền định và trí tuệ. Như chúng ta đã thấy, việc tu tập từ từ được chia làm ba phần gồm Giới, Định và Tuệ ( xem trang 225-226 ). Giới bắt đầu bằng việc giữ gìn giới luật, giúp hành giả gắn chặt hành động của mình với những nguyên tắc hành xử đúng đắn cẩn trọng và biết chế ngự về mặt  đạo đức. Việc giữ gìn giới luật – theo các bộ kinh Nikaya, đặc biệt là toàn bộ giới luật Tỷ-kheo – được gọi là tu tập giới cao thượng ( adhisilasikkhā). Giới luật nếu được hành trì bền bỉ liên tục, sẽ hòa quyện tâm với sức mạnh trong sáng của đức hạnh, làm phát sinh hỷ lạc và niềm tin sâu đậm hơn vào Giáo  pháp.

          Đặt nền tảng trên giới luật, vị đệ tử thực hành thiền định, nhằm mục đích ổn định tâm và quét sạch các chướng ngại để khai mở trí tuệ. Vì thiền định giúp thăng hoa tâm vượt lên mức độ bình thường, giai đoạn tu tập này được gọi là tu tập tâm cao thượng (adhicittasikkhā). Bởi vì việc này mang lại an tịnh nội tâm và tĩnh lặng, giai đoạn tu tập này còn được gọi là phát triển an chỉ ( samathabhāvanā). Thực hành thành công đem lại kết quả  là mức độ định sâu lắng hay nhất tâm (samādhi), cũng được biết như là an định nội tâm.(ajjhattam cetosamatha). Hình thái định tâm tối thắng được nhận diện trong các bộ kinh Nikaya là bốn tầng thiền  (jhanas), là nền tảng của Chánh định ( Samma samadhi) trong Bát Thánh Đạo. Trên bốn tầng thiền là tứ vô sắc định ( arūpasamāpatti), là điều kiện để tiếp tục tiến trình định tĩnh nhất tâm đến các mức độ vi tế hơn nữa.

          Giai đoạn ba của việc hành trì là tu tập trí tuệ cao thượng (adhipanññāsikkhā), được thiết lập  để đánh thức việc quán chiếu  trực tiếp vào bản chất của vạn pháp như đã được Đức Phật giảng dạy. Điều này sẽ được bàn luận với chi tiết trong chương tiếp theo.

          Phần tuyển chọn đầu tiên dưới đây, Kinh Văn VIII,1, là một số trích đoạn thi kệ ngắn đủ loại nhấn mạnh đến nhu cầu cần tu tập tâm. Các thi kệ đi từng cặp đôi, câu đầu chỉ dấu hiệu cho biết những nguy hiểm của tâm không tu tập, và câu thứ hai ca ngợi những lợi lạc của tâm có tu tập. Tâm không tu tập dễ dàng trở thành miếng mồi ngon cho những phiền não cấu uế - như tham, sân, si và những biến tướng của chúng. Phiền não cấu uế làm phát sinh nghiệp bất thiện, và sẽ  mang lại kết quả khổ đau cả trong đời này lẫn đời sau. Vì phiền não cấu uế là nguyên nhân của khổ đau hệ lụy của chúng ta, con đường giải thoát cần phải liên hệ đến một tiến trình tu tập tâm tinh tế nhằm nhiếp phục mọi cấu uế và cuối cùng là nhổ tận gốc từ nơi nuôi dưỡng chúng, nằm trong tận cùng sâu thẳm của tâm. Từ việc tu tập phát triển tâm sẽ khởi sinh hạnh phúc, tự do và an bình.

          Tu tập phát triển tâm, theo các bộ kinh Nikaya, nghĩa là phát triển thiền chỉ /định(Samatha) và thiền quán/tuệ (vipassana). Kinh Văn VIII,2, (1) nói rằng khi thiền chỉ phát triển, sẽ đưa đến định và giải thoát tâm khỏi những cấu uế thuộc cảm quan như  tham dục và sân hận. Khi  thiền quán phát triển sẽ đưa đến tuệ giác cao hơn về bản chất đích thực của vạn pháp và vĩnh viễn giải thoát tâm khỏi si mê. Như vậy, hai pháp cần thiết nhất để làm chủ tâm là thiền chỉ và thiền quán.

          Vì định là nền tảng của trí tuệ, các bộ kinh Nikaya thường xem việc phát triển thiền chỉ như là dấu hiệu báo trước việc phát triển thiền quán. Tuy nhiên, vì khuynh hướng của các thiền giả khác nhau, nhiều bài kinh cho phép những phương pháp thay thế khác nhau trong trình tự này. Kinh Văn VIII,2,(2) nói đến bốn phương pháp tu tập tâm:

          1) Phương pháp thứ nhất, là phương pháp cổ điển, phát triển chỉ trước, quán sau. Khi nói đến ‘ định’, có nghĩa là các tầng thiền ( jhanas), hoặc là ( theo các bài luận tiếng Pali)  một trạng thái kế cận với tầng thiền gọi là ‘cận định’  (upacārasamādhi).

          2) Phương pháp thứ hai là phát triển quán trước và chỉ sau.  Vì không thể nào có được tuệ đích thực nếu không có định, những thiền giả ấy – được cho là những người có khả năng trí tuệ sắc bén – trước tiên phải sử dụng định  như là nền tảng để đạt được tuệ quán  về bản chất đích thực của vạn pháp.  Tuy nhiên, hình như mức độ định ấy, mặc dù đủ để phát sinh tuệ , lại chưa đủ mạnh để cho phép có một bước đột phá để chứng đắc con đường siêu xuất thế gian. Những thiền giả đó phải trở về nhiệm vụ an định nhất tâm trước khi tiếp tục công việc của tuệ quán. Tuệ quán ấy, đặt nền tảng trên định, sẽ đạt đến cao điểm trong việc chứng đắc con đường xuất thế.

          3) Phương pháp thứ ba là phát triển chỉ và quán cùng một lượt . Thiền giả dùng phương pháp này trước tiên phải đạt được một mức độ định đặc biệt nào đó, như là đạt một  tầng thiền sắc giới hay vô sắc giới, rồi dùng nó như một nền tảng để phát triển tuệ quán. Khi đã đạt được tuệ quán, thiền giả quay trở lại với định, đạt được một tầng thiền sắc giới hay vô sắc giới khác, và dùng nó như một nền tảng để phát triển tuệ quán sâu hơn. Cứ như thế thiền giả tiếp tục cho đến khi đạt được tuệ quán siêu xuất thế gian.

          4) Việc mô tả phương pháp thứ tư có vẻ không rõ  ràng. Kinh nói rằng “ tâm của hành giả bị  xâm chiếm bởi sự dao động về lời dạy của Đức Phật’’, và rồi, một thời gian sau, hành giả có thể nhập định và chứng được con đường siêu xuất thế gian. Câu này gợi ý rằng lúc đầu hành giả bị lôi kéo bởi lòng ham muốn mạnh mẽ để hiểu được Giáo pháp khiến cho hành giả không thể tập trung sáng suốt vào bất cứ một đối tượng thiền quán nào. Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của một vài điều kiện hỗ trợ, hành giả  tìm cách nhiếp phục tâm, có thể nhập định, và chứng đắc con đường siêu xuất thế gian.

          Kinh Văn VIII, 2 (3) một lần nữa xác nhận rằng cả thiền chỉ lẫn thiền quán đều cần thiết, và cũng chỉ rõ những kỹ năng cần có để thực hành hai pháp môn này. Việc tu tập thiền chỉ đòi hỏi kỹ năng ổn định tâm, làm chủ tâm, hướng đến nhất tâm và định tâm. Việc tu tập thiền quán đòi hỏi kỹ năng quan sát, điều nghiên, và phân tích các pháp/hiện tượng hữu vi, được nói đến như là các  “ hành ” ( sankhārā). Cũng giống như kinh văn đã nói ở phần trước, bài kinh này xác nhận rằng một vài thiền giả bắt đầu bằng cách phát triển an định nội tâm, vài người khác phát triển tuệ quán cao hơn về các pháp, một số khác phát triển cả thiền chỉ lẫn thiền quán cùng một lượt. Nhưng trong lúc thiền giả có thể khởi đầu khác nhau, cuối cùng tất cả đều phải giữ một mức độ quân bình lành mạnh giữa thiền chỉ và thiền quán. Điểm quân bình chính xác giữa hai pháp môn này sẽ khác nhau giữa các thiền giả, nhưng khi một thiền giả đạt được sự quân bình đúng đắn, thì thiền chỉ và thiền quán sẽ cùng hợp lực để phát sinh tri kiến và  pháp nhãn về Tứ Diệu Đế. Tri kiến và pháp nhãn này  – là trí tuệ siêu xuất thế gian – xảy ra trong bốn “ tầng lớp rõ ràng ”, là bốn giai đoạn giác ngộ tiếp nối nhau, sẽ đoạn diệt vĩnh viễn vô minh cùng với những cấu uế liên hệ (1). Kinh Văn VIII, 2 (2) tóm gọn những cấu uế ấy bằng từ ngữ  “các trói buộc ( kiết sử ) và những khuynh hướng ngủ ngầm bên dưới chúng  (các tùy miên).”

          Những trở ngại chính cho việc phát triển thiền chỉ  và thiền quán được gọi chung là ‘ năm chướng ngại ’  (triền cái), mà chúng ta đã biết trong bài tường thuật về việc tu tập từ từ ( xem Kinh Văn VII,4 -18). Kinh Văn VIII,3 nói rằng cũng giống như những chất dơ khác nhau trong nước  ngăn cản chúng ta thấy rõ hình ảnh phản chiếu của gương mặt ta trong một chậu nước, năm chướng ngại cũng ngăn cản chúng ta hiểu được đúng đắn những phẩm chất tốt đẹp của chính mình và của người khác. Những nỗ lực ban đầu của thiền giả vì thế cần phải dành trọn cho nhiệm vụ vượt qua năm chướng ngại. Một khi chúng đã được vượt qua, sẽ bảo đảm thành công trong việc thực hành chỉ  và quán.

          Kinh Văn VIII,4 so sánh những giai đoạn thanh lọc tâm với việc gạn lọc vàng. Vị sư hành thiền bắt đầu bằng cách loại bỏ những cấu uế thô tạp về thân , khẩu , và ý; điều này đạt được bằng cách giữ giới và tự soi xét bản thân thật tinh chuyên. Rồi vị ấy loại bỏ những cấu uế bậc trung về những ý niệm bất thiện như : những ý niệm về dục lạc giác quan, sân hận hay độc hại ( dục tầm, sân tầm và hại tầm). Tiếp đến là loại bỏ những cấu uế vi tế của vọng tưởng. Cuối cùng vị ấy phải từ bỏ ý niệm về Pháp, là chướng ngại vi tế nhất. Khi tất cả những ý niệm làm tâm xao lãng ấy đã bị loại trừ, thiền giả đạt được “ nhất tâm” ( ekodibhāva) , là nền tảng để đắc “ lục thông ” ( abhiñña) lên đến đỉnh cao là chứng quả A-la-hán, tri kiến về sự đoạn tận mọi lậu hoặc ( lậu tận thông ).

          Các bộ kinh Nikaya đôi lúc so sánh tiến trình tu tập tâm giống như việc huấn luyện thuần hóa một con thú hoang. Cũng giống như người huấn luyện thú phải dùng nhiều kỹ thuật khác nhau để chế ngự con vật, thiền giả cũng phải dùng nhiều phương pháp khác nhau để nhiếp phục tâm. Làm quen với một kỹ thuật hành thiền là chưa đủ, hành giả cần phải thiện xảo với một số phương pháp được xem như là liều thuốc để đối trị một vài chướng ngại tinh thần đặc biệt. Trong Kinh Văn VIII,5 Đức Phật mô tả năm kỹ thuật trợ giúp - ở đây được gọi là ‘ các tướng’ (nimitta) – mà hành giả có thể vận dụng để loại trừ những ý niệm bất thiện liên quan đến tham dục, sân hận và si mê. Hành giả nào thành công trong việc vượt thắng các ý niệm lăng xăng bằng cách sử dụng những kỹ thuật ấy được gọi là “ người làm chủ được dòng ý  niệm’’

          Các bài kinh dạy nhiều kỹ thuật hành thiền khác nhau nhắm mục đích đưa đến định tâm. Một công thức hành thiền phổ biến thử nghiệm nhiều đề mục thiền tập đặc biệt, với ý định loại trừ các tâm hành bất thiện. Như vậy, thiền quán về bản chất bất tịnh của thân ( xem Kinh Văn VIII,8, -10) là phương thuốc để đối trị tham đắm dục lạc giác quan; Từ Bi Quán là thuốc đối trị sân hận;  Pháp Quán Niệm Hơi Thở là thuốc đối trị bất an; và quán vô thường là thuốc để đối trị ngã mạn “ tôi là’’ (2).  Vô thường là một đề mục của thiền quán, và ba đề mục kia là thuộc về thiền chỉ. Từ bi là tâm vô lượng đầu tiên của bốn phạm trú siêu phàm  (brahmavihāra) hay Tứ Vô Lượng Tâm (appamaññā) đã được bàn luận ngắn gọn trong Chương V: từ, bi, hỷ và xả. Bốn tâm vô lượng này lần lượt theo thứ tự là phương thuốc đối trị với sân hận, độc hại, bất mãn và thiên vị. Vì chúng ta đã được giới thiệu đoạn kinh tiêu chuẩn về Tứ Vô Lượng Tâm liên hệ đến hành thiền như là một căn bản của đức hạnh – xem Kinh Văn V,5,(2) – để soi chiếu một ánh sáng khác về pháp tu này, tôi đã đưa vào đây, như là Kinh Văn VIII, 6  bài kinh nổi tiếng  Kinh Ví Dụ Cái Cưa, một đoạn kinh chứng tỏ lòng từ bằng hành động cụ thể.

          Qua nhiều thế kỷ những đề mục thiền tập phổ biến nhất trong giới cư sĩ có lẽ là sáu tùy niệm (anussati) : niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí và niệm Thiên. Kinh Văn VIII,7 là một nguồn kinh điển quan trọng cho những đề mục hành thiền ấy. Những đề mục này đặc biệt gần gũi với lòng người và kinh nghiệm hằng ngày của những cư sĩ tại gia trong một nền văn hóa thấm nhuần các giá trị Phật giáo. Những đề mục thiền tập ấy làm phong phú  và nâng cao tinh thần cho cuộc sống của họ, đưa họ đến việc tiếp xúc tâm linh gần gũi hơn với những lý tưởng đức tin tôn giáo. Ba đề mục đầu tiên trước hết là những niệm thuần thành xây dựng trên đức tin vào Tam Bảo; mặc dù  khởi đầu bằng đức tin, chúng tạm thời quét sạch phiền não trong tâm và giúp cho việc định tâm được bền vững. Niệm Giới phát triển từ việc giữ giới của hành giả, một sự tu tập nhắm mục đích lợi lạc cho bản thân; niệm Thí xây dựng trên việc thực hành hạnh bố thí của hành giả, là một hạnh vị tha;  niệm Thiên là sự suy ngẫm về kết quả của đức tin, Giới và Thí của hành giả và Trí tuệ khi những kết quả ấy đã chín muồi trong đời sau.

          Bài kinh thường được xem là cống hiến những lời chỉ dẫn đầy đủ nhất về thiền tập là Kinh Niệm Xứ ( Satipatthāna Sutta) (3). Hiện có hai phiên bản của kinh này, phiên bản dài hơn trong Trường Bộ Kinh ( Digha Nikāya), và một phiên bản cỡ trung ở trong Trung Bộ Kinh  (Majjhima Nikāya).  Phiên bản trước chỉ khác với phiên bản sau ở chỗ phân tích rộng hơn về Tứ Diệu Đế, có lẽ điều này xuất phát từ một bài luận giải nguyên thủy được thể nhập vào lời kinh. Phiên bản cỡ trung được đưa vào đây như là Kinh Văn VIII,8. Toàn bộ một chương trong Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikāya), là kinh Tương Ưng Niệm Xứ (Satipatthānasamyutta ), cũng được dành để nói về hệ thống thiền tập này.

          Kinh Niệm Xứ không đề nghị một đối tượng thiền tập duy nhất cũng  như một phương pháp thiền tập duy nhất. Mà mục đích của Kinh là giải thích làm thế nào để thiết lập kiểu thiền tập cần thiết để đi đến chứng  đắc Niết bàn. Khuôn mẫu tâm thức thích hợp cần được thiết lập, như đã được hàm ý trong tên kinh, được gọi là  “ thiết lập chánh niệm”. Từ ngữ satipatthāna có lẽ cần được hiểu như là một từ kép gồm có sati, nghĩa là chánh niệm, và upatthāna, nghĩa là thiết lập; từ đó “ thiết lập chánh niệm” được xem là chuyển tải được những nét nổi bật nhất từ nghĩa gốc. Theo công thức tiêu chuẩn đi kèm theo mỗi bài thực hành, một niệm xứ (satipatthāna) là một kiểu an trú tâm ( viharati). Kiểu an trú tâm này liên hệ đến việc quan sát các đối tượng bằng khuôn mẫu tâm thức đúng đắn. Khuôn mẫu tâm thức gồm có ba phẩm chất tích cực: nhiệt tâm ( ātāpa , ‘ ardor’), chánh niệm ( sati), và tỉnh giác  (sampajañña). Từ sati nguyên gốc có nghĩa là ký ức, nhưng trong ngữ cảnh này nó có nghĩa là nghĩ tưởng đến hiện tại, một sự nhận thức liên tục về những gì đang xảy ra cho chúng ta và bên trong chúng ta về mỗi lần trải nghiệm. Chánh niệm, trong những giai đoạn đầu, liên quan đến việc giữ vững tâm liên tục vào đối tượng của nó, nghĩa là giữ cho đối tượng có mặt liên tục trong tâm thức.  Chánh niệm giúp ngăn cản tâm khỏi bị thất niệm, từ chỗ lang thang trôi dạt theo những ý niệm tình cờ  đến chỗ làm gia tăng xao lãng tinh thần. Chánh niệm thường được nói là liên kết chặt chẽ với “ tỉnh giác”, là một sự nhận biết sáng suốt những gì hành giả đang trải nghiệm.

          Công thức mở đầu nói rằng hành giả dấn thân tu tập pháp thiền này  sau khi đã  “nhiếp phục được những tham đắm ưu phiền đối với cuộc đời ” (vineyya loke abhijjhā-domasassam). Nhóm từ   ‘sau khi đã nhiếp phục ’ không cần phải được xem như ngụ ý rằng hành giả trước tiên phải nhiếp phục tham đắm và ưu phiền – mà theo như bài luận giải, có nghĩa là tham và sân, và như vậy tiêu biểu của năm chướng ngại ( triền cái)  - trước khi hành giả có thể bắt đầu thực hành Tứ Niệm Xứ. Nhóm từ này có thể hiểu với ý  nghĩa là tu tập pháp thiền này tự nó là phương tiện vượt qua được các tham đắm và ưu phiền. Như vậy, trong lúc nhiếp phục những ảnh hưởng gây trở ngại của  tham đắm và ưu phiền, hành giả khởi lên những phẩm chất tích cực của nhiệt tâm, chánh niệm và tỉnh giác, và quán bốn đề mục : thân, thọ, tâm, và pháp. Chính bốn đề mục thiền quán này phân biệt sự quán sát trong chánh niệm thành bốn nền tảng của  chánh niệm.

          Bốn đề mục quán niệm phân chia phần giải thích của Kinh Niệm Xứ thành bốn lãnh vực lớn. Hai trong số đó, lãnh vực thứ nhất và bốn, lại có nhiều tiểu mục. Khi các tiểu mục được tập hợp lại, chúng ta có tất cả hai mươi mốt đề mục thiền quán. Nhiều đề mục trong số đó có thể được dùng như phương tiện để phát triển định ( samatha) , nhưng hệ thống Niệm Xứ nói chung có vẻ như đặc biệt thiết kế cho việc phát triển tuệ.  Những lãnh vực chính với các tiểu mục  như sau :

          1. Quán Thân ( kāyānupassanā ). Lãnh vực này gồm có mười bốn đề mục quán niệm: quán niệm hơi thở; quán bốn tư thế của thân; hiểu rõ các hoạt động của thân; chú ý đến bản chất bất tịnh của thân ( được nhìn qua các cơ phận và da thịt); chú ý đến các yếu tố tứ đại của thân; và chín sự quán về bãi tha ma, quán thi thể đang trải qua từng giai đoạn tan rã khác nhau.

          2. Quán Thọ ( vedanānupassanā ). Cảm thọ được phân biệt thành ba loại đầu tiên : lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ - và sau đó được phân biệt thành cảm thọ thể chất và cảm thọ tinh thần. Tuy nhiên, bởi vì tất cả những cảm thọ đó đều chỉ là những loại cảm thọ khác nhau, quán thọ được xem như một đề mục.

          3. Quán Tâm ( cittānupassanā) Đây là một đề mục quán niệm – tâm thức – được phân biệt thành tám cặp tâm đối nghịch nhau.

          4. Quán Pháp ( dhammānupassanā) Từ dhamma ở đây có lẽ  nghĩa là các pháp (hiện tượng) , được chia thành năm phạm trù được qui định trong giáo lý của Đức Phật,  tức là Giáo pháp. Như vậy, quán Pháp (dhammānupassanā ) có hai nghĩa, ‘pháp’ (dhammas) nghĩa là các  hiện tượng được quán niệm theo Giáo pháp ( Dhamma) của Đức Phật ”. Năm phạm trù để quán niệm là : năm chướng ngại ( triền cái), năm uẩn, sáu nội căn và ngoại căn , bảy yếu tố của giác ngộ  (thất giác chi ), và Tứ Diệu Đế.

          Mặc dù không đặc biệt nêu ra trong kinh, mỗi bước tiến theo trình tự có vẻ được bao hàm bởi từ ngữ mô tả mỗi lãnh vực quán niệm. Trong quán niệm hơi thở, hành giả từ từ tiến đến những mức độ an tịnh vi tế hơn; trong quán về cảm thọ hành giả tiến đến những cảm thọ không thuộc thể chất, không  khổ cũng không vui; trong quán về tâm, hành giả tiến đến một trạng thái định tâm và giải thoát. Tất cả những điều này gợi ý rằng việc quán niệm theo trình tự sẽ đem lại định lực càng lúc càng vững mạnh.  Trong quán về pháp, điểm nhấn mạnh chuyển đến tuệ giác. Hành giả bắt đầu bằng việc quan sát và vượt qua năm chướng ngại. Việc vượt qua được năm chướng ngại đánh dấu sự thành công của định.  Với tâm định tĩnh, hành giả quán về ngũ uẩn và sáu căn. Khi việc quán niệm đạt đến đỉnh cao, bảy yếu tố của giác ngộ (thất  giác chi) sẽ biểu hiện, và sự phát triển của bảy yếu tố của giác ngộ lên đến tột đỉnh với tri kiến về Tứ Diệu Đế. Tri kiến về Tứ Diệu Đế giải thoát tâm khỏi những phiền não cấu uế và dẫn đến chứng đắc Niết-bàn. Như vậy hệ thống thiền tập này hoàn thành tiềm năng trực tiếp  đưa đến việc chứng đắc Niết-bàn như Đức Phật đã  chỉ dạy.

          Mỗi bài thực tập quán niệm chính được bổ túc bằng một phần phụ thuộc, như một ‘điệp khúc’ với bốn tiểu mục. Tiểu mục thứ nhất nói rằng hành giả quán đối tượng bên trong ( nghĩa là bên trong kinh nghiệm bản thân của hành giả), và bên ngoài ( nghĩa là suy ngẫm về đối tượng quán niệm như nó xảy ra trong kinh nghiệm của người khác), và cả trong lẫn ngoài; điều này bảo đảm hành giả đạt được một cái nhìn bao quát và cân bằng về đối tượng quán niệm. Tiểu mục thứ hai nói rằng hành giả quán đối tượng phải chịu duyên sinh, phải chịu hoại diệt, và phải chịu cả duyên sinh lẫn hoại diệt; điều này làm sáng tỏ tính chất vô thường và như vậy đưa đến tuệ giác về Tam Pháp Ấn: Vô thường, Khổ, và Vô ngã ( anicca, dukkha, anattā ). Tiểu mục thứ ba nói rằng hành giả chỉ cần nhận biết đối tượng ở mức độ đơn giản cần thiết để giữ vững chánh niệm và tri kiến. Và tiểu mục thứ tư mô tả hành giả an trú tâm trong sự xả ly hoàn toàn, không dính mắc vào bất cứ cái gì trong thế gian.

          Trong Kinh Niệm Xứ , quán niệm hơi thở ( ānāpānasati) được đưa vào như một đề mục quán niệm trong số các đề mục khác, nhưng các bộ kinh Nikaya đã cho nó một vị trí có tầm quan trọng cơ bản. Đức Phật nói rằng Ngài đã dùng pháp quán niệm hơi thở  như là đề mục hành thiền chính yếu để chứng đắc giác ngộ ( xem Tương Ưng BK 54:8; V 317). Trong thời gian hoằng pháp, thỉnh thoảng Ngài đi ẩn cư để dành trọn vẹn cho việc  “nhập định qua pháp quán niệm hơi thở ” và Ngài gắn cho pháp môn này một vinh dự bằng cách gọi nó là “ chỗ an trú của Như Lai ”( Tương Ưng BK 54:11; V 326).

          Quán niệm hơi thở là đề mục của toàn bộ một chương trong Tương Ưng Bộ Kinh ( Samyutta Nikaya) Kinh số 54, Pháp Quán Niệm Hơi Thở ( Ānāpānasamyutta ). Trong lúc Kinh Niệm Xứ giải thích pháp quán niệm hơi thở với công thức bốn bước, thì các bài kinh trong Tương Ưng Bộ Kinh mở rộng việc thực hành thành mười sáu bước. Kinh Văn VIII, 9 , trích từ Kinh Quán Niệm Hơi Thở, mô tả mười sáu bước. Vì những bước này không nhất thiết phải tiếp nối nhau nhưng có phần nào chồng chéo lên nhau, nên các bước có thể được xem như những phần thực hành chứ không hẳn là những bước. Mười sáu phần thực hành được xếp thành bốn đoạn, mỗi đoạn bốn câu, tương ứng với một nền tảng của chánh niệm. Đoạn thứ nhất gồm bốn phần được đề cập trong Kinh Niệm Xứ trong phần quán về thân, nhưng những đoạn kia mở rộng phần thực hành đến việc quán thọ, tâm và pháp. Như vậy, việc phát triển pháp quán niệm hơi thở có thể hoàn thành không những một nền tảng, mà cả bốn nền tảng của chánh niệm. Bốn nền tảng của chánh niệm, dựa trên pháp quán niệm hơi thở, lần lượt hoàn thành bảy yếu tố của giác ngộ; và từ đó đạt đến tri kiến như thật và giải thoát. Sự trình bày giải thích này chứng tỏ pháp quán niệm hơi thở  là một đề mục hành thiền trọn vẹn, bắt đầu bằng việc theo dõi hơi thở thật đơn giản và đạt đến đỉnh cao ở sự giải thoát tâm vĩnh viễn.

          Cuối cùng, trong Kinh Văn VIII,10, vị đại đệ tử của Đức Phật, ngài Xá-Lợi-Phất (Sāriputta), chứng minh thành quả của ngài về việc làm chủ được tâm ý.  Trả lời câu hỏi của ngài A-Nan  (Ānanda), ngài giải thích bằng cách nào ngài có thể an trú suốt ngày trong mỗi tầng thiền và mỗi tầng vô sắc định, cũng như trong sự chứng đắc đặc biệt gọi là Diệt Thọ Tưởng Định ((sanññāvedayitanirodha ).Trong mỗi trường hợp, bởi vì ngài là một bậc A-la-hán, ngài có thể làm như vậy mà không chấp thủ  những chứng đắc ấy với ý niệm là  “tôi” hay “của tôi ”.




Bhikkhu Bodhi-2
 CHƯƠNG VIII  -  TU  TẬP  TÂM

 


 

          1. TÂM LÀ CHÌA KHÓA

 

     1) Này các Tỷ kheo, ta không thấy một pháp nào khác khó sử dụng như tâm không tu tập. Tâm không tu tập quả thật khó sử dụng.

 

2) Này các Tỷ kheo, ta không thấy một pháp nào khác dễ sử dụng như tâm có tu tập. Tâm có tu tập quả thật  dễ sử dụng.

 

     3) Này các Tỷ kheo, ta không thấy một pháp nào khác lại đưa đến tai hại lớn như tâm không tu tập. Tâm không tu tập quả thật đưa đến những tai hại lớn.

 

4) Này các Tỷ kheo, ta không thấy một pháp nào khác lại đưa đến lợi ích lớn như tâm có tu tập. Tâm có tu tập quả thật đưa đến những lợi ích lớn.

 

     9). Này các Tỷ kheo, ta không thấy một pháp nào khác đem lại nhiều đau khổ  như  tâm không tu tập và không làm cho sung mãn. Tâm không tu tập và không làm cho sung mãn  đem lại nhiều đau khổ.

     10. Này các Tỷ kheo, ta không thấy một pháp nào khác đem lại nhiều an lạc  như  tâm có tu tập và được làm cho sung mãn. Tâm có tu tập và được làm cho sung mãn đem lại nhiều an lạc.

 

( Tăng Chi BK I-  III. Phẩm Khó Sử Dụng: 1-10 , tr 15-17 )

 

 

 

2. PHÁT TRIỂN HAI KỸ NĂNG

 

          (1) Chỉ và Quán ( Định và Tuệ)

          - Này các Tỷ kheo, có hai pháp đưa đến tri kiến như thật. Thế nào là hai ?  Đó là chỉ và quán.

          - Khi chỉ phát triển, hành giả cảm nghiệm được lợi ích gì ? Tâm được tu tập. Khi tâm được tu tập, hành giả cảm nghiệm được lợi ích gì ? Tất cả tham dục được đoạn trừ.(4)

          - Khi quán được phát triển, hành giả giả cảm nghiệm được lợi ích gì ? Trí tuệ được phát triển . Khi trí tuệ được phát triển, hành giả cảm nghiệm được lợi ich gì ? Tất cả vô minh được đoạn trừ . (5)

          - Tâm bị tham dục làm ô nhiễm thì không thể giải thoát; trí tuệ bị vô minh làm ô nhiễm thì không thể phát triển. Như vậy, này các Tỷ-kheo, sự đoạn diệt của tham dục đem lại tâm giải thoát; và sự đoạn diệt của vô minh đem lại  tuệ giải thoát.” (6)

                                                ( Tăng Chi BKII: iii, 10; I  61)

 

(2)Bốn Con Đường Đưa Đến Quả A-la-hán

          Tôi nghe như vầy. Một thời, Tôn giả Ānanda đang cư ngụ tại Kosambi , ở tu viện Ghossita. Ở đó, Tôn giả Ananda nói với các Tỷ-kheo như sau:

          -  Này các huynh đệ

          –  Vâng, thưa hiền huynh, các Tỷ-kheo trả lởi.

          Tôn giả Ānanda nói như sau :

          -  Này các huynh đệ, bất cứ vị tăng hay ni nào tuyên bố với tôi là họ đã chứng được quả A-la-hán, tất cả các vị ấy phải đi theo một trong bốn pháp đưa đến giải thoát. Thế nào là bốn ?

           Ở đây, này các huynh đệ, vị Tỷ-kheo phát triển định trước tuệ sau.(7) Trong lúc vị ấy phát triển định trước tuệ sau như vậy, con đường giải thoát khởi lên trong tâm . Giờ đây vị ấy quyết chí thực hành, phát triển và tu tập con đường ấy, và trong lúc làm như vậy, các kiết sử được đoạn trừ và các tùy miên bị loại bỏ.(8)

          Lại nữa, này các huynh đệ, hoặc là vị Tỷ-kheo phát triển tuệ trước định sau.(9) Trong lúc vị ấy phát triển tuệ trước định sau như vậy, con đường giải thoát khởi lên trong tâm . Giờ đây vị ấy quyết chí thực hành, phát triển và tu tập con đường ấy, và trong lúc làm như vậy, các kiết sử được đoạn trừ và các tùy miên bị loại bỏ.

          Hoặc lại nữa, này các huynh đệ, vị Tỷ-kheo phát triển định và tuệ cùng một lượt.(10) Trong lúc vị ấy phát triển định và tuệ cùng một lượt như vậy, con đường giải thoát khởi lên trong tâm . Giờ đây vị ấy quyết chí thực hành, phát triển và tu tập con đường ấy, và trong lúc làm như vậy, các kiết sử được đoạn trừ và các tùy miên bị loại bỏ.”

          Hoặc lại nữa, này các huynh đệ, tâm của vị Tỷ-kheo bị xâm chiếm bởi sự dao động về giáo lý .(11) Nhưng rồi  một thời gian sau nội tâm của vị ấy vững chải, an trú, nhất tâm và định tĩnh; rồi con đường giải thoát khởi lên trong tâm . Giờ đây vị ấy quyết chí thực hành, phát triển và tu tập con đường ấy, và trong lúc làm như vậy, các kiết sử được đoạn trừ và các tùy miên bị loại bỏ.”

            Này các huynh đệ, bất cứ vị tăng hay ni nào tuyên bố với tôi là họ đã chứng được quả A-la-hán, tất cả các vị ấy phải đi theo một trong bốn pháp này để  đạt được giải thoát.”

                                                ( Tăng Chi BK  4: 170; II 156-57)

 

          (3)Bốn Hạng Người

          - Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người này được thấy có mặt trong đời. Thế nào là bốn ?

           Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người chứng được định nội tâm nhưng không chứng được tuệ quán cao thượng về các pháp.(12) Có người chứng được tuệ quán cao thượng về các pháp nhưng không chứng được định nội tâm. Lại có hạng người không chứng được định nội tâm và cũng không chứng được tuệ quán cao thượng về các pháp. Và có hạng người khác vừa chứng cả định nội tâm lẫn tuệ quán cao thượng về các pháp.

           Tại đấy, này các Tỷ-kheo, người đã chứng được định nội tâm nhưng không chứng được tuệ quán cao thượng về các pháp phải đi đến gặp người chứng được tuệ quán cao thượng và hỏi như sau : ‘ Thưa hiền giả, các hành cần phải thấy như thế nào ? Các hành cần phải khám phá như thế nào ? Các hành cần phải nhận biết bằng cách quán như thế nào ? ’ (13) Người kia cần trả lời  như đã thấy và hiểu vấn đề như sau : ‘ Các  hành cần được thấy như thế này, chúng cần được khám phá như thế này; chúng cần được nhận biết bằng pháp quán như thế này.’ Sau một thời gian tu tập, người này chứng được cả định nội tâm lẫn tuệ quán cao thượng về các pháp.

           Tại đấy, này các Tỷ-kheo, người đã chứng được tuệ quán cao thượng  về các pháp nhưng không chứng được định nội tâm phải đi đến gặp người chứng được định nội tâm và hỏi như sau: ‘ Thưa hiền giả, làm thế nào để  tâm vững chãi ? Làm thế nào để an trú tâm? Làm thế nào để hợp nhất tâm ? Làm thế nào để định tâm ? ’ Người kia cần trả lời  như đã thấy và hiểu vấn đề như sau: ‘ Tâm cần phải được làm cho vững chãi như thế này, an trú như thế này, hợp nhất như thế này, và định tâm như thế này’. Sau một thời gian tu tập người này chứng được cả định nội tâm lẫn tuệ quán cao thượng về các pháp.

           Tại đấy, này các Tỷ-kheo, người không chứng được định nội tâm và cũng không chứng được tuệ quán cao thượng về các pháp cần đến gặp người đã chứng được cả hai pháp ấy để hỏi như sau : ‘Thưa hiền giả, làm thế nào để  tâm vững chãi ?... ‘ Thưa hiền giả, các hành cần phải thấy như thế nào ?... Người kia cần trả lời như đã thấy và hiểu vấn đề như sau: ‘ Tâm cần phải được làm cho vững chãi như thế này… Các  hành cần được thấy như thế này…’ Sau một thời gian tu tập, người này chứng được cả định nội tâm lẫn tuệ quán cao thượng về các pháp.

           Tại đấy, này các Tỷ-kheo, hạng người chứng cả định nội tâm lẫn tuệ quán cao thượng về các pháp cần phải tự mình an trú trong các thiện pháp này và tiếp tục nỗ lực tu tập để tận diệt các phiền não cấu uế.

          ( Tăng Chi BK I- ChX, Phẩm Asura, (94) Thiền Định,tr.731-734 )

 

 

 

  1. 3.    NHỮNG  CHƯỚNG NGẠI  TRONG VIỆC  PHÁT  TRIỂN TÂM THỨC

 

          Rồi người Bà-la-môn Sangārava đi đến Thế Tôn, trao đổi những lời thăm hỏi với ngài, rồi ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn :

          -  Thưa Tôn giả Gotama, tại sao đôi lúc có những bài kinh dù tôi đã đọc tụng trong một thời gian dài vẫn không nhớ được, nói gì đến những bài chưa được đọc tụng ? Và tại sao đôi lúc có những bài kinh chưa đọc tụng trong một thời gian dài tôi lại nhớ ra, nói gì đến những bài đã được đọc tụng ?”

          -  Này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị ám ảnh bởi tham dục, bị xâm chiếm bởi tham dục, và không hiểu được đúng như thật sự vượt thoát khỏi những tham dục đã khởi lên,(14) trong trường hợp đó người ấy không biết và cũng không thấy đúng như thật những điều thiện của chính mình, hay những điều thiện của kẻ khác, hay những điều thiện của cả hai. Lúc ấy, ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

           Này Bà-la-môn, giả sử có một bát nước trộn lẫn với các phâm nhuộm màu đỏ, vàng, xanh, hay đỏ tía. Nếu một người có mắt tốt muốn nhìn mặt mình phản chiếu trong bát nước, sẽ không biết hay thấy được mặt mình đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị ám ảnh bởi tham dục… ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

           Lại nữa, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị ám ảnh bởi sân hận, bị xâm chiếm bởi sân hận, và không hiểu được đúng như thật sự vượt thoát khỏi những sân hận đã khởi lên, trong trường hợp đó người ấy không biết và cũng không thấy đúng như thật những điều thiện của chính mình, hay những điều thiện của kẻ khác, hay những điều thiện của cả hai. Lúc ấy, ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

           Này Bà-la-môn, giả sử có một bát nước được đun sôi trên một ngọn lửa, đang sôi sủi bong bóng, sôi sùng sục. Nếu một người có mắt tốt muốn nhìn mặt mình phản chiếu trong bát nước, sẽ không biết hay thấy được mặt mình đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị ám ảnh bởi sân hận … ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

          Lại nữa, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị dật dờ buồn ngủ ám ảnh, bị dật dờ buồn ngủ xâm chiếm , và không hiểu được đúng như thật sự vượt thoát khỏi những cơn dật dờ buồn ngủ đã khởi lên, trong trường hợp đó người ấy không biết và cũng không thấy đúng như thật những điều thiện của chính mình, hay những điều thiện của kẻ khác, hay những điều thiện của cả hai. Lúc ấy, ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

          - Này Bà-la-môn, giả sử có một bát nước bị rong rêu che phủ. Nếu một người có mắt tốt muốn nhìn mặt mình phản chiếu trong bát nước, sẽ không biết hay thấy được mặt mình đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị ám ảnh bởi dật dờ buồn ngủ… ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

          -  Lại nữa, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị bất an và hối hận ám ảnh, bị  bất an và hối hận xâm chiếm, và không hiểu được đúng như thật sự vượt thoát khỏi những bất an và hối hận đã khởi lên, trong trường hợp đó người ấy không biết và cũng không thấy đúng như thật những điều thiện của chính mình, hay những điều thiện của kẻ khác, hay những điều thiện của cả hai. Lúc ấy, ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

          -  Này Bà-la-môn, giả sử có một bát nước bị gió thổi làm dao động, làm gợn sóng, xoay vòng, tạo thành những đợt sóng nhỏ. Nếu một người có mắt tốt muốn nhìn mặt mình phản chiếu trong bát nước, sẽ không biết hay thấy được mặt mình đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị ám ảnh bởi bất an và hối hận… ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

           Lại nữa, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị nghi ngờ ám ảnh, bị nghi ngờ xâm chiếm, và không hiểu được đúng như thật sự vượt thoát khỏi những nghi ngờ đã khởi lên, trong trường hợp đó người ấy không biết và cũng không thấy đúng như thật những điều thiện của chính mình, hay những điều thiện của kẻ khác, hay những điều thiện của cả hai. Lúc ấy, ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc

           Này Bà-la-môn, giả sử có một bát nước nhiều bùn dơ, bị khuấy vẫn đục, không lắng yên, được đặt trong bóng tối. Nếu một người có mắt tốt muốn nhìn mặt mình phản chiếu trong bát nước, sẽ không biết hay thấy được mặt mình đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi một người để tâm trí bị ám ảnh bởi nghi ngờ… ngay cả những bài kinh đã được tụng đọc trong một thời gian dài cũng không nhớ được, nói gì đến  những bài kinh chưa được tụng đọc.

           Này Bà-la-môn, đây là lý do tại sao có những bài kinh dù  đã đọc tụng trong một thời gian dài vẫn không nhớ được, nói gì đến những bài chưa được đọc tụng.

           Này Bà-la-môn, khi một người không để tâm trí bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận, dật dờ buồn ngủ, bất an hối hận và nghi ngờ, trong trường hợp ấy  những bài kinh chưa đọc tụng trong một thời gian dài vẫn nhớ được, nói gì đến những bài đã được đọc tụng.

            Này Bà-la-môn, giả sử có một bát nước không bị trộn lẫn với các phâm nhuộm; không phải đang sôi sùng sục; không bị rong rêu che phủ; không bị gió thổi làm dao động và tạo thành những làn sóng nhỏ; một bát nước trong sạch, lắng yên, trong suốt, được đặt ở chỗ sáng sủa. Nếu một người có mắt tốt muốn nhìn mặt mình phản chiếu trong bát nước, sẽ  biết hay thấy được mặt mình đúng như thật. Cũng vậy, này Bà-la-môn, khi một người  không để tâm trí bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận, dật dờ buồn ngủ, bất an hối hận, hay nghi ngờ; trong trường hợp đó ngay cả những bài kinh chưa  được tụng đọc trong một thời gian dài cũng có thể nhớ được, nói gì đến  những bài kinh đã được tụng đọc.

          - Này Bà-la-môn, đây là lý do tại sao có những bài kinh chưa đọc tụng trong một thời gian dài vẫn có thể nhớ được, nói gì đến những bài đã được đọc tụng…

          Khi Thế Tôn nói như vậy, người Bà-la-môn Sangārava bạch Thế Tôn : “ Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama !…. Cầu xin  Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung con xin trọn đời quy ngưỡng.”

( Tương Ưng BK5- Ch.VI Phẩm Tổng Nhiếp Giác Chi. 55 V. Sangārava, tr 190-199)

 

  1. 4.    THANH  LỌC  TÂM

 

          -  Này các Tỷ-kheo, có nhiều tạp chất trong vàng, như là đất và cát, sỏi và sạn nhỏ. Giờ đây, người thợ vàng và học trò của ông đổ vàng vào trong một cái máng dài và rửa, xả nước, làm cho nó sạch hoàn toàn. Khi ông ta đã làm xong , vẫn còn một số tương đối ít tạp chất trong vàng, như là sạn nhỏ và những hạt cát thô.  Rồi người thợ vàng và học trò của ông lại rửa, xả nước và làm sạch vàng một lần nữa. Khi đã làm xong, vẫn còn những tạp chất nhỏ  trong vàng, như là những hạt cát mịn và bụi đen. Giờ đây, người thợ vàng và học trò của ông lập lại việc rửa vàng, và sau đó chỉ còn bụi vàng mà thôi.

           Bây giờ người thợ vàng đổ vàng vào cái lò nấu, nấu chảy nó, nấu tan chảy với nhau . Nhưng ông ta chưa có thể lấy vàng ra khỏi nồi vì các chất cặn bã vẫn chưa hoàn toàn được lấy ra khỏi vàng, và vàng chưa hoàn toàn dẻo, có thể dùng được và sáng bóng; nó vẫn còn dễ vỡ vụn và chưa dễ uốn nắn vào khuôn đúc. Nhưng đến một lúc người thợ vàng và học trò của ông lập lại  đầy đủ các công đoạn nấu chảy vàng, để cho các phần cặn bã được lấy đi hoàn toàn. Vàng bây giờ hoàn toàn mềm dẻo, có thể dùng được và sáng bóng, và nó dễ dàng uốn nắn vào khuôn đúc. Người thợ vàng muốn làm bất cứ món nữ trang nào, dù là một vương miện đội đầu, hoa tai, vòng đeo cổ hay là dây chuyền, ông ta đều có thể làm được như ý muốn.

           Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, với một Tỷ-kheo hết lòng tu tập tâm cao  thượng: vẫn còn tồn tại trong tâm những cấu uế thô tạp, như là, những bất thiện pháp về thân, khẩu, ý. Một Tỷ-kheo có nhiệt tâm, có khả năng sẽ loại bỏ, gột sạch, khai trừ và tiêu diệt những tâm hành bất thiện ấy.

           Khi vị Tỷ-kheo ấy đã loại trừ những cấu uế này, vẫn còn những cấu uế bậc trung bám vào tâm, như là, những tư tưởng về dục lạc, tư tưởng về sân hận, tư tưởng gây tổn hại. ( dục tầm, sân tầm, hại tầm )(15) Một Tỷ-kheo có nhiệt tâm, có năng lực sẽ loại bỏ, gột sạch, khai trừ và tiêu diệt những tâm hành bất thiện ấy.

           Khi vị Tỷ-kheo ấy đã loại trừ những cấu uế này, vẫn còn những cấu uế vi tế bám vào tâm, như là, những tư tưởng về gia tộc, về quê hương, về danh tiếng . Một Tỷ-kheo có nhiệt tâm, có năng lực sẽ loại bỏ, gột sạch, khai trừ và tiêu diệt những tâm hành bất thiện ấy.

           Khi vị Tỷ-kheo ấy đã loại trừ những cấu uế này, vẫn còn những tư tưởng về pháp.(16) Định như vậy chưa an tịnh và siêu phàm, chưa đạt đến mức xả trọn vẹn, cũng chưa đạt đến nhất tâm; định này được duy trì bằng một nỗ lực chế ngự  những ấu uế phiền não.

           Nhưng đến một lúc  nội tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú,  nhất tâm và định tĩnh.  Lúc ấy, định được an tịnh và tinh tế; đã đạt được xả trọn vẹn và nhất tâm; không phải được duy trì bằng nỗ lực chế ngự những cấu uế phiền não.

           Sau đó, bất cứ pháp gì có thể thực hiện được bằng thắng trí mà vị ấy hướng tâm đến, vị ấy có khả năng chứng đắc pháp ấy bằng thắng trí, bất cứ lúc nào đạt được điều kiện thuận lợi.(17)

           Nếu vị ấy ước muốn: ‘ Cầu mong tôi chứng được nhiều loại thần thông: có một thân, xin được hiện thành nhiều thân; có nhiều thân xin được hiện thành một thân; xin được hiện hình và biến hình; đi xuyên qua tường, qua thành lũy, đi xuyên qua núi như đi trong không gian; độn thổ và trồi lên khỏi mặt đất như đi trong nước, đi trên mặt nước không bị chìm như thể đi trên đất liền; ngồi kiết già du hành trong hư không như chim; đưa tay chạm và sờ mặt trăng và mặt trời , đầy uy quyền và thần lực;  điều khiển tự thân bay xa đến cõi trời Phạm thiên’,  vị ấy có khả năng chứng đắc pháp ấy bằng thắng trí, bất cứ lúc nào đạt được điều kiện thuận lợi.

           Nếu vị ấy ước muốn : ‘ Với thiên nhĩ thanh tịnh và siêu phàm, xin cho tôi  nghe được  hai loại âm thanh, âm thanh của chư thiên và loài người, xa cũng như gần ’ ,  vị ấy có khả năng chứng đắc pháp ấy bằng thắng trí, bất cứ lúc nào đạt được điều kiện thuận lợi.

          Nếu vị ấy ước muốn : ‘ Xin cho tôi hiểu được tâm của chúng sinh khác, tâm của những người khác, dung chứa tâm chúng sinh với tâm của tôi. Xin cho tôi hiểu được một tâm có tham dục là tâm có tham dục; một tâm không tham dục biết là tâm không tham dục; một tâm có sân biết là tâm có sân; một tâm không sân biết là tâm không sân; một tâm có si biết là tâm có si; một tâm không si biết là tâm không si ; một tâm chuyên chú biết là tâm chuyên chú; một tâm tán loạn biết là tâm tán loạn; một tâm hoan hỷ  biết là tâm hoan hỷ; một tâm không hoan hỷ biết là tâm không hoan hỷ; một tâm chưa vô thượng biết  là tâm chưa vô thượng; một tâm vô thượng biết là tâm vô thượng; một tâm thiền định biết là tâm thiền định; một tâm không thiền định biết là tâm không thiền định; một tâm giải thoát biết là tâm giải thoát; một tâm không giải thoát biết là tâm không giải thoát’ , vị ấy có khả năng chứng đắc pháp ấy bằng thắng trí, bất cứ lúc nào đạt được điều kiện thuận lợi.

          Nếu vị ấy ước muốn : ‘ Xin cho tôi nhớ được nhiều đời sống quá khứ…[ xem kinh văn II,3,(2) 38 ] …với nhiều kiểu và chi tiết ’ - vị ấy có khả năng chứng đắc pháp ấy bằng thắng trí, bất cứ lúc nào đạt được điều kiện thuận lợi.

          Nếu vị ấy ước muốn: ‘ Với thiên nhãn thanh tịnh và siêu phàm, xin cho tôi thấy được sự chết và tái sinh của chúng sinh, biết được kẻ hạ liệt người cao sang, người đẹp đẽ  kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh … ( xem kinh văn II,3 (2) 40) …và hiểu được tất cả đều do hạnh nghiệp của họ ’ , vị ấy có khả năng chứng đắc pháp ấy bằng thắng trí, bất cứ lúc nào đạt được điều kiện thuận lợi.

          Nếu vị ấy ước muốn: ‘ Do đã đoạn diệt các cấu uế phiền não,  ngay trong đời này xin cho tôi được đi vào và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tự thân chứng đắc với thắng trí ’ , vị ấy có khả năng chứng đắc pháp ấy bằng thắng trí, bất cứ lúc nào đạt được điều kiện thuận lợi.

                  

( Tăng Chi BK I, Ch.X-Phẩm Hạt Muối -> 100. Kẻ Lọc Vàng, tr 459-464 )

 

  1. 5.    DIỆT  TRỪ  VỌNG  TƯỞNG

 

          1.Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn đang trú tại Xá Vệ  (Savatthi ) tại Rừng Kỳ- Đà (Jeta’s Grove ), thuộc Vườn Cấp-Cô-Độc ( Anāthapindika ). Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

           -Này các Tỷ-kheo .

            - Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

           Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn thuyết giảng như sau :

          2.  Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo đang theo đuổi tu tập tâm cao thượng, thỉnh thoảng vị ấy cần chú ý đến năm tướng.(18) Thế nào là năm ?

          3. (i)  Ở đây, này các Tỷ-kheo, khi một tỷ-kheo chú ý đến một vài tướng, và từ các tướng đó trong tâm vị ấy khởi lên các ý tưởng bất thiện liên hệ đến tham dục, sân hận và si mê, lúc đó vị ấy cần phải chú ý đến những tướng khác liên hệ đến những thiện pháp.(19)  Khi vị ấy chú ý đến những tướng khác liên hệ đến các thiện pháp, thì bất cứ những ý tưởng bất thiện nào liên hệ đến tham sân si liền bị từ bỏ và nhiếp phục. Với sự từ bỏ các pháp bất thiện, tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm.  Cũng giống như một người thợ mộc thiện xảo hay học trò của người thợ mộc dùng cái cọc trơn láng đánh bật ra, lấy ra, và rút ra một cái cọc thô nhám  khác,…cũng vậy… khi một Tỷ-kheo chú ý đến những tướng khác có liên hệ đến các thiện pháp… tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm.

          4. (ii)  Nếu trong lúc vị ấy chú ý đến vài tướng khác liên hệ đến các thiện pháp, trong tâm vị ấy vẫn còn khởi lên những pháp bất thiện liên hệ đến tham, sân, si, thì vị ấy cần phải quán sát sự nguy hiểm của các ý tưởng bất thiện như vầy: ‘ Những ý tưởng này là bất thiện, là sai trái, đưa đến kết quả khổ đau.’ Khi vị ấy quán sát sự nguy hiểm của các ý tưởng đó, thì bất cứ những ý tưởng bất thiện nào liên hệ đến tham sân si liền bị từ bỏ và nhiếp phục. Với sự từ bỏ các pháp bất thiện, tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Cũng giống như một thanh niên hay một thiếu nữ, trẻ tuổi, thanh xuân, yêu thích trang sức, sẽ cảm thấy kinh sợ, bị sỉ nhục và ghê tởm nếu bị quàng vào cổ một xác rắn, xác chó hay xác người, cũng vậy… khi vị Tỷ-kheo quán sát sự nguy hiểm của các ý tưởng đó,…tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm.

          5. (iii)  Nếu trong lúc vị ấy quán sát sự nguy hiểm của các ý tưởng đó, trong tâm vị ấy vẫn còn khởi lên những pháp bất thiện liên hệ đến tham, sân, si, thì vị ấy phải cố gắng quên những ý tưởng đó và không chú ý đến chúng nữa. Khi vị ấy cố gắng quên những ý tưởng đó và không chú ý đến chúng nữa, thì bất cứ những ý tưởng bất thiện nào liên hệ đến tham sân si liền bị từ bỏ và nhiếp phục. Với sự từ bỏ các pháp bất thiện, tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Cũng giống như một người có mắt tốt không muốn nhìn thấy các hình sắc trong tầm mắt của mình thì người ấy hoặc là sẽ nhắm mắt hay nhìn lơ đi chỗ khác, cũng vậy… khi một Tỷ-kheo cố gắng quên những ý tưởng đó và không chú ý đến chúng nữa…thì tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm.

          6. (iv)  Nếu trong lúc vị ấy cố gắng quên các ý tưởng đó và không chú ý đến chúng nữa, trong tâm vị ấy vẫn còn khởi lên những pháp bất thiện liên hệ đến tham, sân, si, thì vị ấy phải chú ý đến việc an tịnh tâm hành của những ý tưởng đó.(20) Khi vị ấy chú ý đến việc an tịnh tâm hành của những ý tưởng đó, thì bất cứ những ý tưởng bất thiện nào liên hệ đến tham sân si liền bị từ bỏ và nhiếp phục. Với sự từ bỏ các pháp bất thiện, tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Cũng giống như một người đang đi nhanh có thể suy nghĩ : ‘ Tại sao ta lại đi nhanh? Nếu ta đi chậm lại thì sao ?’ và người ấy đi chậm lại; rồi người ấy có thể suy nghĩ: ‘ Tại sao ta lại đi chậm ? Nếu ta dừng lại thì sao ? ’ và người ấy dừng lại; rồi người ấy có thể suy nghĩ: ‘ Tại sao ta dừng lại ? Nếu ta ngồi xuống thì sao ? ’ và người ấy ngồi xuống; rồi người ấy có thể suy nghĩ: ‘ Tại sao ta ngồi xuống ? Nếu ta nằm xuống thì sao ? ’ và người ấy nằm xuống. Bằng cách làm như vậy, vị ấy sẽ dần thay thế các tư thế thô cứng bằng tư thế tế nhị hơn.  Cũng vậy…khi vị Tỷ-kheo chú ý đến việc an tịnh tâm hành của những ý tưởng đó… tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm.

          7. (v) Nếu trong khi vị ấy chú ý đến việc an tịnh tâm hành của những ý tưởng đó, trong tâm vị ấy vẫn còn khởi lên những pháp bất thiện liên hệ đến tham, sân, si, thì vị ấy phải nghiến răng và dán chặt lưỡi trên nóc họng, vị ấy phải đánh bại, nhiếp phục và lấy tâm chế ngự tâm. Khi vị ấy nghiến răng và dán chặt lưỡi trên nóc họng, vị ấy đánh bại, nhiếp phục và lấy tâm chế ngự tâm, thì bất cứ những ý tưởng bất thiện nào liên hệ đến tham sân si liền bị từ bỏ và nhiếp phục. Với sự từ bỏ các pháp bất thiện, tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Cũng giống một người lực sĩ nắm lấy đầu hay vai của một kẻ yếu hơn và đánh bại, nhiếp phục và chế ngự kẻ ấy, cũng vậy…khi vị tỷ-kheo nghiến răng và dán chặt lưỡi trên nóc họng, vị ấy đánh bại, nhiếp phục và lấy tâm chế ngự tâm… tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm.

          8. - Này các Tỷ-kheo, khi một tỷ-kheo chú ý đến một vài tướng, và từ các tướng đó trong tâm vị ấy khởi lên các ý tưởng bất thiện liên hệ đến tham dục, sân hận và si mê, thì vị ấy phải chú ý đến những tướng khác liên hệ đến những thiện pháp, rồi bất cứ những ý tưởng bất thiện nào liên hệ đến tham sân si liền bị từ bỏ và nhiếp phục. Với sự từ bỏ các pháp bất thiện, tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Khi vị ấy quán sát những nguy hiểm của các ý tưởng bất thiện… tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Khi vị ấy cố gắng quên các ý tưởng đó và không chú ý đến chúng nữa… tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Khi vị ấy chú ý đến việc an tịnh tâm hành của những ý tưởng đó… tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Khi vị ấy nghiến răng và dán chặt lưỡi trên nóc họng, vị ấy đánh bại, nhiếp phục và lấy tâm chế ngự tâm, thì bất cứ những ý tưởng bất thiện nào liên hệ đến tham sân si liền bị từ bỏ và nhiếp phục. Với sự từ bỏ các pháp bất thiện, tâm của vị ấy trở nên vững chải, an trú, nhất tâm và định tâm. Vị Tỳ-kheo này được gọi là bậc thầy làm chủ được tâm ý. Vị ấy có thể  suy nghĩ bất cứ ý niệm nào mà vị ấy muốn nghĩ đến và sẽ không suy nghĩ  bất cứ ý niệm nào mà vị ấy không muốn nghĩ đến. Vị ấy đã đoạn trừ khát ái, vứt bỏ các kiết sử, và với sự chinh phục hoàn toàn ngã mạn, vị ấy đã chấm dứt được khổ đau.”

          Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các vị Tỳ-kheo hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

  ( Trung BK I, Kinh số 20:(Vitakkasanthāna Sutta), tr 269-275 )

 

  1. 6.    TÂM  TỪ

 

          11. -  Này các Tỷ- kheo, có năm loại ngôn ngữ mà người khác có  thể dùng để nói với các ông: ngôn ngữ của họ có thể hợp thời hay không hợp thời, đúng hay sai, nhẹ nhàng hay thô bạo, liên hệ đến điều tốt hay điều có hại, được nói với tâm từ hay tâm sân. Khi người khác nói với các ông, ngôn ngữ của họ có thể hợp thời hay không hợp thời; khi người khác nói với các ông, ngôn ngữ của họ có thể đúng hay sai;  khi người khác nói với các ông, ngôn ngữ của họ có thể nhẹ nhàng hay thô bạo; khi người khác nói với các ông, ngôn ngữ của họ có thể liên hệ đến điều tốt hay điều có hại; khi người khác nói với các ông, ngôn ngữ của họ có thể được nói với tâm từ hay tâm sân. Do đó, này các Tỷ-kheo, các ông hãy rèn luyện như vầy: ‘ Tâm của chúng tôi sẽ không bị ảnh hưởng; chúng  tôi sẽ không thốt ra những lời nói cay độc; chúng tôi sẽ trải tâm bi mẫn đối với sự an vui của họ; với tâm từ, không bao giờ sân hận. Chúng tôi sẽ trải rộng tâm từ bao phủ người đó, và bắt đầu với người này,(21) chúng tôi sẽ trải rộng tâm từ  bao phủ toàn thế giới, tràn ngập,  hoan hỷ, vô lượng, không hận, không sân. ’. Này các Tỷ-kheo, đó là cách các ông phải rèn luyện…

          20.  Này các Tỷ-kheo, thậm chí nếu có bọn cướp dùng cái cưa hai lưỡi để cưa tay cưa chân của các ông, nếu có vị nào khởi tâm sân hận đối với bọn cướp thì đó là người không theo giáo pháp của ta. Do đó, này các Tỷ-kheo, các ông phải rèn luyện như vầy: ‘ Tâm của chúng tôi sẽ không bị ảnh hưởng; chúng  tôi sẽ không thốt ra những lời nói cay độc; chúng tôi sẽ trải tâm bi mẫn đối với sự an vui của họ; với tâm từ, không bao giờ sân hận. Chúng tôi sẽ trải rộng tâm từ bao phủ người đó, và bắt đầu với người này, chúng tôi sẽ trải rộng tâm từ  bao phủ toàn thế giới, tràn ngập,  hoan hỷ, vô lượng, không hận, không sân. ’. Này các Tỷ-kheo, đó là cách các ông phải rèn luyện…

          21.  Này các Tỷ-kheo, nếu các ông luôn luôn ghi nhớ lời dạy về ví dụ cái cưa này, các ông có còn thấy loại ngôn ngữ nào, dù thô bạo hay tế nhị, mà các ông không thể chịu đựng được ?

           -   Thưa không, bạch Thế Tôn

           –  Này các Tỷ-kheo, do vậy, các ông hãy luôn luôn ghi nhớ lời dạy về ví dụ cái cưa này. Nhờ vậy các ông sẽ được an vui hạnh phúc lâu dài.

           ( Trung BKI, Kinh số 2 ( Kakacūpama Sutta, tr 287-293 )

 

  1. 7.    SÁU  TÙY  NIỆM

 

          Một thời Thế Tôn trú tại Ka-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu ) ở Tu viện cây Banyan . Rồi người họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn (22):

          -  Bạch Thế Tôn, khi một vị thánh đệ tử đã đắc quả và hiểu rõ giáo pháp, vị ấy thường an trú  như thế nào ? ” (23)

          -  Này Mahānāma, khi một vị thánh đệ tử đã đắc quả và hiểu rõ giáo pháp, vị ấy thường an trú  như thế này. Ở đây, vị thánh đệ tử tùy niệm Như Lai như vầy: ‘ Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế Tôn ”. Khi một vị thánh đệ tử niệm Như Lai như thế, vào lúc đó, tâm của vị ấy không bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận và si mê; tâm vị ấy chánh trực, hướng đến đối tượng là Như Lai. Và một vị thánh đệ tử với tâm chánh trực sẽ đạt được cảm  hứng  về ý nghĩa Giáo pháp, đạt được hoan hỷ liên quan đến Giáo pháp. Khi vị ấy hân hoan thì hỷ sinh khởi; với người được hoan hỷ , thân vị ấy được nhẹ nhàng an tịnh, khi thân an tịnh nhẹ nhàng vị ấy cảm thấy hạnh phúc, với người hạnh phúc tâm sẽ được định tĩnh. Đây gọi là  một vị thánh đệ tử sống an bình giữa đám đông không an bình, vị đã sống không phiền não giữa đám đông phiền não, vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và tu tập niệm Phật.

           Lại nữa, này Mahānāma, vị thánh đệ tử niệm Pháp như vầy: ‘ Pháp được Thế Tôn khéo giảng, trực tiếp rõ ràng, tức thời, mời người đến để thấy, xứng đáng được áp dụng, được người trí tự mình chứng nghiệm.’ Khi một vị thánh đệ tử niệm Pháp như thế, vào lúc đó, tâm của vị ấy không bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận và si mê; tâm vị ấy chánh trực, hướng đến đối tượng là Pháp. Đây gọi là  một vị thánh đệ tử sống an bình giữa đám đông không an bình, vị đã sống không phiền não giữa đám đông phiền não, vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và tu tập niệm Pháp.

           Lại nữa, này Mahānāma, vị thánh đệ tử niệm Tăng như vầy: ‘ Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn đang tu tập diệu hạnh, tu tập trực hạnh, tu tập con đường chơn chánh, tu tập con đường đúng đắn; đó là bốn đôi tám vị - Tăng đoàn đệ tử của Thế Tôn xứng đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được cúng dường, đáng được đảnh lễ, là ruộng phước vô thượng ở đời. ’ Khi một vị thánh đệ tử niệm Tăng như thế, vào lúc đó, tâm của vị ấy không bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận và si mê; tâm vị ấy chánh trực, hướng đến đối tượng là chúng Tăng… Đây gọi là một vị thánh đệ tử sống an bình giữa đám đông không an bình, vị đã sống không phiền não giữa đám đông phiền não, vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và tu tập niệm Tăng.

           Lại nữa, này Mahānāma, vị thánh đệ tử niệm Giới của chính mình như vầy: ‘ Ta giữ những giới luật thiết thân với các bậc thánh, không bị gãy vụn, không bị sứt mẻ, không bị lấm lem, không có uế tạp, đưa đến giải thoát, được người trí ca ngợi, không chấp thủ, đưa đến thiền định.’ Khi vị thánh đệ tử niệm Giới của chính mình như vậy, vào lúc đó, tâm của vị ấy không bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận và si mê; tâm vị ấy chánh trực, hướng đến đối tượng là Giới đức… Đây gọi là  một vị thánh đệ tử sống an bình giữa đám đông không an bình, vị đã sống không phiền não giữa đám đông phiền não, vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và tu tập niệm Giới.

           Lại nữa, này Mahānāma, vị thánh đệ tử niệm về hạnh Bố Thí của chính mình như vầy   :   ‘Thật là điều lợi cho ta, thật rất lợi lạc cho ta, rằng trong đám quần chúng bị tâm tham lam  keo kiệt chi phối, ta sống trong gia đình với tâm không bị tham lam keo kiệt chi phối, ta bố thí rộng rãi, mở rộng bàn tay, thích thú với việc từ bỏ của cải, tận hiến cho việc từ thiện, thích thú trong việc cho đi và chia sẻ.’ Khi vị thánh đệ tử niệm về hạnh Bố Thí của chính mình như vậy, vào lúc đó, tâm của vị ấy không bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận và si mê; tâm vị ấy chánh trực, hướng đến đối tượng là Bố Thí… Đây gọi là  một vị thánh đệ tử sống an bình giữa đám đông không an bình, vị đã sống không phiền não giữa đám đông phiền não, vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và tu tập niệm Thí .

           Lại nữa, này Mahānāma, vị thánh đệ tử tu tập niệm Thiên như vầy: ‘ Có chư thiên trong nhiều cõi trời khác nhau.(24) Trong ta cũng có đức tin, giới đức, học hỏi giáo pháp, bố thí  và trí tuệ giống như những đức hạnh mà chư thiên đã sở hữu, và bởi nhân duyên ấy, khi chư thiên mạng chung ở cõi đời này, họ sẽ tái sinh ở chỗ kia.’ Khi vị thánh đệ tử tu tập niệm về đức tin của chính mình, giới đức, học hỏi giáo pháp, bố thí  và trí tuệ, cũng như những đức hạnh của  chư thiên, vào lúc đó, tâm của vị ấy không bị ám ảnh bởi tham dục, sân hận và si mê; tâm vị ấy chánh trực, hướng đến đối tượng là chư Thiên… Đây gọi là  một vị thánh đệ tử sống an bình giữa đám đông không an bình, vị đã sống không phiền não giữa đám đông phiền não, vị ấy đã nhập vào dòng Pháp và tu tập niệm Thiên.

           Này Mahānāma, một vị thánh đệ tử đã đắc quả và hiểu rõ giáo pháp, vị ấy thường an trú  như vậy.”

          (   Tăng Chi BKIII, Ch. Sáu Pháp-> (X) Mahānāma , tr 16-21 )

 

          8. BỐN NỀN  TẢNG  CỦA CHÁNH  NIỆM / TỨ NIỆM XỨ

 

          1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú tại xứ Kuru nơi đó có một thị trấn của người Kura là Kammāsadhamma. Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

          -Này các Tỷ-kheo.

           –  Bạch Thế Tôn. Các Tỷ-kheo vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :

          2.  Này các Tỷ-kheo, đây là con đường duy nhất (25) để thanh tịnh chúng sanh, vượt qua sầu não, diệt trừ khổ đau và ưu phiền, để thành tựu chánh đạo, đưa đến chứng ngộ Niết Bàn – đó là Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm.

          3.  Thế nào là bốn ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời.(26) Vị ấy sống quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. Vị ấy sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. Vị ấy sống quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. (27)

 

[ Quán thân trong thân ]

[ Quán Niệm Hơi Thở ]

          4.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thân trong thân ? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến một khu rừng, đi đến một gốc cây, hay một cái ‘ cốc ’ trống, ngồi xuống, bắt chéo chân theo thế kiết già, lưng thẳng, và thiết lập chánh niệm ngay trước mặt, với chánh niệm vị ấy thở vô, với chánh niệm vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết : ‘ Tôi thở vô dài ’; thở ra dài, vị ấy biết: ‘ Tôi thở ra dài. ’ Thở vô ngắn, vị ấy biết : ‘ Tôi thở vô ngắn ’; thở ra ngắn, vị ấy biết: ‘ Tôi thở ra ngắn. ’ (28) Vị ấy tập như vầy: ‘ Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô ’ ; Vị ấy tập :  ‘Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở ra .’(29) Vị ấy tập :  ‘ An tịnh thân hành tôi sẽ thở vô ’; Vị ấy tập :  ‘ An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra ’. (30) Cũng giống như người thợ quay đồ gỗ hay học trò của ông ta, khi quay một vòng dài, ông ấy biết : ‘ Tôi quay một vòng dài ’; hay , khi quay một vòng ngắn, ông ấy biết : ‘ Tôi quay một vòng ngắn ’; cũng vậy, thở vô dài, vị tỷ-kheo biết: ‘ Tôi thở vô dài ’… vị ấy tập :  ‘ An tịnh thân hành tôi sẽ thở ra ’.

          5.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân.(31) Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong thân. (32) Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có một thân ’được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh trí và chánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[ 2.Bốn tư thế của thân]

          6. Lại nữa, này các Tỷ-kheo, khi đi, vị Tỷ-kheo ấy biết: ‘ Tôi đang đi ’; khi đứng, vị ấy biết: ‘Tôi đang đứng’;  khi ngồi, vị ấy biết: ‘Tôi đang ngồi’; khi nằm, vị ấy biết: ‘Tôi đang nằm ’; hoặc là dù thân được sử dụng như thế nào vị ấy biết thân như thế ấy.(33)

          7.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không  chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[3. Tỉnh giác ]

          8.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo khi đi tới đi lui đều biết rõ việc mình đang làm; (34) khi nhìn trước nhìn sau đều biết rõ việc mình đang làm; khi co tay hay duỗi tay đều biết rõ việc mình đang làm; khi đắp y hay khoác áo Tăng-già-lê bên ngoài và bình bát đều biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai và nếm đều biết rõ việc mình đang làm; khi đại tiện tiểu tiện đều biết rõ việc mình đang làm; khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói chuyện, im lặng đều biết rõ việc mình đang làm.

          9.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[ 4. Sự bất tịnh của thân ]

          10.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này từ dưới bàn chân trở lên, và từ đỉnh tóc trở xuống, được da bao bọc , và chứa đầy những loại bất tịnh khác nhau như thế này:‘ Trong thân này có tóc trên đầu, lông trên cơ thể, móng tay chân, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột , màng ruột, dạ dày, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, chất dầu, nước miếng, nước mủ, chất nhờn ở khớp xương, và nước tiểu. ‘’ ( 35) Cũng giống như có một cái bao mở cả hai đầu, chứa đầy nhiều loại hạt, như lúa, gạo đỏ, đậu que, đậu hạt, kê, và gạo trắng, và một người có mắt tốt mở bao ấy ra và quán sát như thế này: ‘ Đây là lúa, gạo đỏ, đậu que, đậu hạt, kê, và gạo trắng ’; cũng vậy, vị Tỷ-kheo quán sát thân này…như chứa đầy những loại bất tịnh khác nhau như thế này: ‘ Trong thân này có tóc trên đầu…và nước tiểu.’

          11.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hay vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hay vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

 

[ 5. Tứ  đại ]

          12.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát thân này, dù đặt ở vị trí nào, dù được sắp đặt như thế nào, gồm có những đại như vầy: ‘ Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.’ (36) Cũng giống như một người mổ thịt thiện xảo, hay học trò của người mổ thịt, đã giết một con bò và ngồi ở ngã tư đường với các phần thịt đã cắt; cũng vậy, vị Tỷ-kheo quán sát thân này … gồm có những đại như vầy: ‘ Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại, và phong đại.’

          13.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

[6-14  Quán chin giai đoạn tan rã của thân trong nghĩa địa ]

          14.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, đã chết một, hai hoặc ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen và nát thối, vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’(37)

          15.   Bằng các này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân… Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

          16.  Lại nữa, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, bị  các loài quạ , diều hâu, chim kên kên, chó, giả can, hay đủ loại côn trùng xâu xé ăn thịt, vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’

          17.   … Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

          18-24 . “Lại nữa, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, một bộ xương còn  máu và thịt, được các đường gân nối kết lại … một bộ xương còn dính máu, được các đường gân nối kết lại … một bộ xương không còn  máu và thịt, được các đường gân nối kết lại…và các khúc xương rời rải rác khắp nơi – đây là xương tay, đó là xương chân, đây là xương ống, đó là xương bắp đùi, đây là xương hông, đó là xương lưng, đây là xương sọ - vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’(38)

          25. … Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

          26-30 .  Lại nữa, vị Tỳ-kheo như thấy một thi thể quăng trong nghĩa địa, xương đã trắng như màu vỏ sò …xương chồng chất lên nhau…xương đã lâu hơn một năm, đã mục và vỡ vụn thành bụi, vị Tỷ-kheo so sánh thân này với thi thể ấy như vầy: ‘ Thân này cũng có bản chất giống như vậy, rồi nó cũng như thế, không có ngoại lệ nào cho nó cả.’

          31.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thân trong nội thân, hoặc vị ấy sống quán thân trong ngoại thân, hoặc vị ấy sống quán thân cả trong nội thân lẫn ngoại thân.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong thân, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong thân. Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có một thân’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh trí và chánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân.

 

[ Quán cảm thọ ]

          32.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán thọ trong thọ ? (39) Ở đây khi Tỷ-kheo có cảm giác lạc thọ, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác lạc thọ ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác khổ thọ, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác thổ thọ ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác bất lạc bất khổ thọ, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác bất lạc bất khổ  thọ ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác lạc thọ thuộc vật chất, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác lạc thọ thuộc vật chất’; khi Tỷ-kheo có cảm giác lạc thọ thuộc tinh thần, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác lạc thọ thuộc tinh thần ’; khi Tỷ-kheo có cảm giác khổ thọ thuộc vật chất, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác khổ thọ thuộc vật chất’; khi Tỷ-kheo có cảm giác khổ thọ thuộc tinh thần, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác khổ thọ thuộc tinh thần ’;  khi Tỷ-kheo có cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc vật chất, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác  bất khổ bất lạc thọ  thuộc vật chất’;  khi Tỷ-kheo có cảm giác bất khổ bất lạc thọ thuộc tinh thần, vị ấy biết: ‘Tôi có cảm giác  bất khổ bất lạc thọ  thuộc tinh thần .’

          33.  Bằng cách này, vị ấy sống quán thọ trong các  nội thọ, hoặc vị ấy sống quán thọ trong các ngoại thọ, hoặc vị ấy sống quán thọ cả trong các nội thọ  lẫn ngoại thọ.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong các thọ, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong các thọ,  vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong các thọ. (40) Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có cảm thọ ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh trí và chánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán thọ trong thọ.

 

[Quán tâm ]

          34.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán tâm trong tâm ? (41) Ở đây, vị Tỷ-kheo biết một tâm có tham dục là tâm có tham dục và một tâm không tham dục là tâm không tham dục.  Vị ấy biết một tâm có sân hận là tâm có sân hận và một tâm không sân hận là tâm không sân hận. Vị ấy biết một tâm có si mê là tâm có si mê và một tâm không si mê là tâm không si mê. Vị ấy biết một tâm có chuyên chú là tâm có chuyên chú và một tâm bị  tán loạn là tâm bị tán loạn. Vị ấy biết một tâm hoan hỷ là tâm hoan hỷ và một tâm không hoan hỷ là tâm không hoan hỷ. Vị ấy biết một tâm hữu hạn là tâm hữu hạn và một tâm vô thượng  là tâm vô thượng. Vị ấy biết một tâm có định là tâm có định và một tâm không định là tâm không định. Vị ấy biết một tâm giải thoát  là tâm giải thoát và một tâm không giải thoát là tâm không giải thoát.(42)

          35.   Bằng cách này, vị ấy sống quán tâm trong  nội tâm, hoặc vị ấy sống quán tâm trong ngoại tâm, hoặc vị ấy sống quán tâm cả trong các nội tâm  lẫn ngoại tâm.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong tâm, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong tâm, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong tâm.(43) Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có tâm ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh trí và chánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán tâm trong tâm.

 

[  Quán pháp ]

          [ 1. Năm  Chướng Ngại / Triền cái ]

          36.  Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp ? Và thế nào là  vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm chướng ngại ? (44) Ở đây,  khi trong tâm vị ấy có dục vọng, vị ấy biết: ‘ Tâm tôi có dục vọng’; hoặc khi trong tâm vị ấy không có dục vọng, vị ấy biết: ‘ Tâm tôi không có dục vọng ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào dục vọng chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào dục vọng đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào dục vọng đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.(45)

           Khi trong tâm vị ấy có sân hận… Khi trong tâm vị ấy có hôn trầm … Khi trong tâm vị ấy có bất an và hối hận…Khi trong tâm vị ấy có nghi ngờ, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi có nghi ngờ ’; hoặc khi trong tâm vị ấy không có nghi ngờ, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi  không có nghi ngờ ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào nghi ngờ chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào nghi ngờ đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào nghi ngờ đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

          37. Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp trong ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong các pháp. Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có các pháp ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh trí và chánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không  chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm chướng ngại.

          [ 2. Năm Uẩn ]

          38.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm uẩn bị  chấp thủ chi phối . (46) Và làm thế nào vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm uẩn bị  chấp thủ chi phối ? Ở đây, vị Tỷ-kheo biết : ‘ Đây là sắc, đây là nguồn gốc của sắc, đây là sự đoạn diệt của sắc; đây là thọ, đây là nguồn gốc của thọ, đây là sự đoạn diệt của thọ; đây là tưởng, đây là nguồn gốc của tưởng, đây là sự đoạn diệt của tưởng; đây là hành, đây là nguồn gốc của hành, đây là sự đoạn diệt của, hành; đây là thức, đây là nguồn gốc của thức, đây là sự đoạn diệt của thức,’ (47)

          39.  Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp trong ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp ... Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với năm uẩn bị chấp thủ chi phối.

 

          [ 3. Sáu Xứ / Sáu căn ]

          40.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với sáu nội và ngoại xứ.(48) Và làm thế nào vị Tỷ-kheo  sống quán pháp trong pháp đối với sáu nội và ngoại xứ ? Ở đây, vị Tỷ-kheo biết mắt, và biết các sắc, và vị ấy biết kiết sử ( sự trói buộc vào luân hồi ) sanh khởi do hai căn này; và vị ấy cũng biết  làm thế nào kiết sử chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào kiết sử đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào kiết sử  đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.’(49)

           Vị ấy biết tai, vị ấy biết âm thanh…Vị ấy biết mũi, vị ấy biết các mùi hương…Vị ấy biết lưỡi, vị ấy biết các mùi vị… Vị ấy biết thân, vị ấy biết các đối tượng xúc chạm… Vị ấy biết tâm thức, vị ấy biết các pháp, và vị ấy biết kiết sử sinh khởi do cả hai căn; và vị ấy cũng biết biết làm thế nào kiết sử chưa sinh nay lại sinh khởi, và làm thế nào kiết sử đã sinh khởi được đoạn trừ, và làm thế nào kiết sử  đã bị đoạn trừ không sinh khởi trở lại trong tương lai.

          41.  Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp và ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp ... Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với sáu nội và ngoại xứ.

          [ 4.  Bảy Giác Chi ]( Bảy yếu tố giác ngộ )

          42.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với bảy giác chi.(50) Và làm thế nào vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với bảy giác chi ? Ở đây, khi trong nội tâm vị Tỳ-kheo có niệm giác chi, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi có niệm giác chi ’; hoặc khi trong nội tâm vị Tỳ-kheo không có niệm giác chi, vị ấy biết: ‘ Trong tâm tôi không có niệm giác chi ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, và làm thế nào niệm giác chi đã sanh khởi được phát triển viên mãn.

           Khi trong tâm vị ấy có trạch pháp (/ phân tích ) giác chi… Khi trong tâm vị ấy có tinh tấn giác chi… Khi trong tâm vị ấy có hỷ giác chi… Khi trong tâm vị ấy có khinh an giác chi… Khi trong tâm vị ấy có định giác chi… Khi trong tâm vị ấy có xả giác chi, vị ấy biết: ‘Trong tâm tôi có xả giác chi ’; hoặc khi trong tâm vị ấy không có xả giác chi, vị ấy biết: ‘Trong tâm tôi không có xả giác chi ’; và vị ấy cũng biết làm thế nào xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, và làm thế nào xả giác chi đã sanh khởi được phát triển viên mãn.(51)

          43.  Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp và ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp ... Và vị ấy sống độc lập, không chấp thủ bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với bảy giác chi.

          [ 5. Tứ Diệu Đế ]

          44.  Lại nữa, này các Tỷ-kheo, vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với Tứ Diệu Đế. (52) Và làm thế nào vị  Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với Tứ Diệu Đế ? Ở đây, vị Tỷ-kheo biết như thật : ‘ Đây là khổ. Đây là nguồn gốc của khổ. Đây là sự diệt khổ. Đây là con đường đưa đến diệt khổ.’

          45. . Bằng cách này, vị ấy sống quán pháp trong nội pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp trong ngoại pháp, hoặc vị ấy sống quán pháp cả trong  nội pháp  lẫn ngoại pháp.  Hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh sanh khởi trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của tánh đoạn diệt trong các pháp, hoặc vị ấy sống quán bản chất của cả tánh sanh khởi lẫn tánh đoạn diệt trong các pháp. Hoặc chỉ với chánh niệm là ‘ có các pháp ’ được thiết lập trong vị ấy tới mức độ cần thiết để hướng đến chánh trí và chánh niệm liên tục. Và vị ấy sống độc lập, không bám chấp vào bất cứ cái gì trong đời . Như vậy là vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp đối với Tứ Diệu Đế.

[ Kết luận]

          46. Này các Tỷ-kheo, nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm   như vậy trong bảy năm, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai. (53)

          Này các Tỷ-kheo, không cần đến bảy năm. Nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm   như vậy trong sáu năm…trong năm năm… trong bốn năm…trong ba năm… trong hai năm…trong một năm, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai

          Này các Tỷ-kheo, không cần đến một năm. Nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm như vậy trong bảy tháng.. . trong sáu tháng…trong năm tháng…trong bốn tháng… trong ba tháng… trong hai tháng… trong một  tháng… trong nửa tháng, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai

          Này các Tỷ-kheo, không cần đến nửa tháng. Nếu vị nào tu tập Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm như vậy trong bảy ngày, vị ấy có thể chứng đắc một trong hai quả sau đây: hoặc là chứng Chánh trí ngay bây giờ và ở đây, hay nếu còn dấu vết của chấp thủ, thì chứng quả Bất Lai

          47.  Như vậy, liên hệ đến sự kiện này, Thế Tôn đã nói rằng: “Này các Tỷ-kheo, đây là con đường trực tiếp  để thanh tịnh chúng sanh, vượt qua sầu não, diệt trừ khổ đau và ưu phiền, để thành tựu chánh đạo, đưa đến chứng ngộ Niết Bàn – đó là Bốn Nền Tảng Của Chánh Niệm.”

          Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

      ( Trung BK I- Kinh số 10: Kinh Niệm Xứ ( Sathipatthana Sutta), tr.131-150)

 

9. PHÁP  QUÁN  NIỆM  HƠI  THỞ

          Tại Sāvatthi, Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng : “Bạch Thế Tôn, có một pháp nào mà khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu bốn pháp ? Và bốn pháp ấy khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu được bảy pháp ? Và bảy pháp ấy, khi được phát triển tu tập sẽ thành tựu hai pháp ?”

          - Này Ānanda, có một pháp mà khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu bốn pháp; và bốn pháp ấy khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu được bảy pháp; và bảy pháp ấy, khi được phát triển tu tập sẽ thành tựu hai pháp.

          -  Nhưng,  bạch Thế Tôn, thế nào là một pháp mà khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu bốn pháp; và bốn pháp ấy khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu được bảy pháp; và bảy pháp ấy, khi được phát triển tu tập sẽ thảnh tựu hai pháp ?

          - Này Ānanda, quán niệm tập trung vào hơi thở, là một pháp mà khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu bốn nền tảng của chánh niệm. Bốn nền tảng của chánh niệm, khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu được bảy giác chi. Bảy giác chi khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu được chánh trí  và chánh giải thoát.

 

          [ i. Thành tựu bốn nền tảng của chánh niệm ]

          -  Này Ānanda, thế nào là pháp quán niệm hơi thở được phát triển và tu tập để thành tựu bốn nền tảng của chánh niệm ? Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo đi đến một khu rừng, tìm một gốc cây, hay một cái ‘cốc ’ trống, và ngồi xuống.(54) Sau khi xếp chéo chân ngồi kiểu kiết già, lưng thẳng, thiết lập chánh niệm ngay trước mặt, với chánh niệm vị ấy thở vô, với chánh niệm vị ấy thở ra. “ Thở vô dài, vị ấy biết : ‘ Tôi thở vô dài ’; hay thở ra dài, vị ấy biết : ‘ Tôi thở ra dài.’  Thở vô ngắn, vị ấy biết : ‘ Tôi thở vô ngắn ’; hay thở ra ngắn, vị ấy biết : ‘ Tôi thở ra ngắn. ’ Vị ấy tập như thế này : ‘ Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô ’; vị ấy tập : ‘ Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra. ’ Vị ấy tập : ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô,’ vị ấy tập : ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra. ’

           Vị ấy tập như thế này : ‘ Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô ’; vị ấy tập: ‘ Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra. ’ Vị ấy tập như thế này : ‘ Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô ’; vị ấy tập: ‘ Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra .’ Vị ấy tập như thế này : ‘ Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô ’; vị ấy tập: ‘ Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra .’ Vị ấy tập như thế này : ‘ An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘ An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra.’ (55)

           Vị ấy tập như thế này : ‘ Cảm giác về tâm , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập như thế này : ‘ Với tâm hân hoan , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘Với tâm hân hoan , tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập như thế này : ‘ Với tâm định tĩnh , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘Với tâm định tĩnh , tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập như thế này : ‘ Với tâm giải thoát , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘Với tâm giải thoát , tôi sẽ thở ra.’(56)

          Vị ấy tập như thế này : ‘ Quán vô thường , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘‘ Quán vô thường tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập  : ‘ Quán ly tham , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘‘ Quán ly tham, tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập  : ‘ Quán đoạn diệt , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘ Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra.’ Vị ấy tập  : ‘ Quán từ bỏ , tôi sẽ thở vô;’ vị ấy tập: ‘‘ Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.’(57)

          -  Này Ānanda, bất cứ khi nào, một vị Tỷ-kheo, khi thở vô dài, vị ấy biết: ‘ Tôi thở vô dài ’… ( như trên) …khi vị ấy tập như thế này : ‘An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô;  an tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra. ’ – trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời.  Vì sao vậy? Ta gọi đây là một loại thân, này Ānanda, nghĩa  là,  thở vô và  thở ra. Vì thế, này Ānanda, trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. 

           Này Ānanda, bất cứ khi nào vị Tỷ-kheo tập như thế này : ‘ Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô ’… khi vị ấy tập: ‘An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở  ra. ’ – trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời.  Vì sao vậy? Ta gọi đây là một loại cảm thọ, này Ānanda, nghĩa  là, chú tâm theo dõi  thở vô và  thở ra. (58) Vì thế, này Ānanda, trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán thọ trong thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và chán ghét đối với cuộc đời. 

           Này Ānanda, bất cứ khi nào vị Tỷ-kheo tập như thế này : ‘ Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô’ … khi ấy tập : ‘ Với tâm giải thoát , tôi sẽ thở ra ’ - trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời.  Vì sao vậy? Này Ānanda, ta nói rằng tu tập pháp quán niệm hơi thở sẽ không có sự phát triển thiền định đối với người tâm bị thất niệm, thiếu tỉnh giác . Vì thế, này Ānanda, trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán tâm trong tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. 

           Này Ānanda, bất cứ khi nào vị Tỷ-kheo tập như thế này : ‘ Quán vô thường , tôi sẽ thở vô’… khi vị ấy tập: ‘‘ Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra.’ - trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. Sau khi thấy với trí tuệ thế nào là sự đoạn trừ tham ưu , vị ấy là người nhìn sự vật với tâm xả. (59) Vì thế, này Ānanda, trong lúc ấy vị Tỷ-kheo sống quán pháp trong pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, đã chế ngự được những tham đắm và ưu phiền đối với cuộc đời. 

           Này Ānanda, chính khi  nào pháp quán niệm hơi thở được phát triển và tu tập theo cách này thì sẽ thành tựu bốn nền tảng của chánh niệm.

          [ii.  Thành tựu bảy giác chi ]

           Này Ānanda, thế nào là bốn nền tảng của chánh niệm, khi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu được bảy giác chi ?

          Bất cứ khi nào, một vị Tỷ-kheo sống quán thân trong thân, vào lúc đó chánh niệm không bị tán loạn đã được an trú trong vị ấy. Này Ānanda, bất cứ khi nào chánh niệm không bị tán loạn đã được an trú trong vị Tỷ-kheo, vào lúc đó niệm giác chi được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập niệm giác chi; vào lúc ấy niệm giác chi do vị ấy tu tập  được thành tựu viên mãn trong vị ấy. (60)

           Trong khi an trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ vị Tỷ-kheo phân tích, quan sát,  nghiên cứu pháp ấy. Này Ānanda, bất cứ khi nào, vị Tỷ-kheo an trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ vị Tỷ-kheo phân tích, quan sát,  nghiên cứu pháp ấy, vào lúc đó trạch pháp giác chi (61) được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập trạch pháp giác chi; vào lúc ấy trạch pháp  giác chi được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

           Trong khi vị Tỷ-kheo với trí tuệ , phân tích, quan sát,  nghiên cứu pháp ấy, năng lực tinh tấn khởi lên mà không bị sút giảm. Này Ānanda, bất cứ khi nào năng lực tinh tấn của vị Tỷ-kheo khởi lên mà không bị sút giảm khi  phân tích, quan sát,  nghiên cứu pháp ấy với trí tuệ ,  vào lúc đó tinh tấn giác chi được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập tinh tấn giác chi; vào lúc ấy tinh tấn  giác chi  được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

           Khi tinh tấn đã được khởi sinh, trong vị ấy khởi lên tinh thần hoan hỷ . Này Ānanda, bất cứ khi nào tinh thần hoan hỷ khởi lên trong vị Tỷ-kheo đã tu tập tinh tấn viên mãn, vào lúc đó hỷ giác chi được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập hỷ giác chi; vào lúc ấy hỷ  giác chi  được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

           Đối với vị Tỷ-kheo tâm đã khởi sinh hoan hỷ , thân của vị ấy được  khinh an và tâm cũng được khinh an. Này Ānanda, bất cứ khi nào, vị Tỷ-kheo đã thành tựu viên mãn hỷ , thân vị ấy được  khinh an và tâm cũng được khinh an, vào lúc đó khinh an giác chi được sinh khởi trong vị ấy ;  vào lúc đó vị ấy tu tập khinh an giác chi ; vào lúc ấy khinh an  giác chi  được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

           Đối với vị Tỷ-kheo thân đã được  khinh an và hoan hỷ, tâm của vị ấy được định tĩnh. Này Ānanda, bất cứ khi nào tâm của vị Tỷ-kheo được định tĩnh, thân được khinh an và hoan hỷ, vào lúc đó định giác chi được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập định giác chi ; vào lúc ấy định  giác chi  được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

           Khi tâm của vị Tỷ-kheo được định tĩnh như vậy, vị ấy nhìn sự vật với tâm xả. Này Ānanda, bất cứ khi nào tâm vị Tỷ-kheo được định tĩnh như vậy, vị ấy nhìn sự vật với tâm xả, vào lúc đó xả giác chi được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập xả giác chi ; vào lúc ấy xả  giác chi  được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

           Này Ānanda, bất cứ khi nào, vị Tỷ-kheo sống quán thọ trong thọ… quán tâm trong tâm… sống quán pháp trong pháp, vào lúc đó chánh niệm không bị tán loạn đã được an trú trong vị ấy. Này Ānanda, bất cứ khi nào chánh niệm không bị tán loạn đã được an trú trong vị Tỷ-kheo, vào lúc đó niệm giác chi được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập niệm giác chi; vào lúc ấy niệm giác chi do vị ấy tu tập  được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

          [ Tất cả giác chi phải được phối hợp như trong trường hợp nền tảng thứ nhất của chánh niệm]

           Khi tâm của vị Tỷ-kheo được định tĩnh như vậy, vị ấy nhìn sự vật với tâm xả. Này Ānanda, bất cứ khi nào tâm  vị Tỷ-kheo được định tĩnh như vậy, vị ấy nhìn sự vật với tâm xả, vào lúc đó xả giác chi được sinh khởi trong vị ấy;  vào lúc đó vị ấy tu tập xả giác chi ; vào lúc ấy xả  giác chi  được thành tựu viên mãn trong vị ấy.

           Này Ānanda, khi bốn nền tảng của chánh niệm được phát triển và tu tập như vậy, sẽ thành tựu được bảy giác chi .

          [ iii. Thành tựu chánh trí và chánh giải thoát ]

          Này Ānanda, thế nào là bảy giác chi được phát triển và tu tập, sẽ thành tựu tựu chánh trí và chánh giải thoát ?

           Này Ānanda , ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi, đặt trên nền tảng viễn ly, ly tham, và đoạn diệt đưa đến giải thoát. Vị ấy tu tập trạch pháp giác chi…tinh tấn giác chi…hỷ giác chi… khinh an giác chi…định giác chi… xả giác chi, đặt trên nền tảng viễn ly, ly tham, và đoạn diệt, đưa đến giải thoát.

           Này Ānanda, khi bảy giác chi được phát triển và tu tập như vậy, sẽ thành tựu tựu chánh trí và chánh giải thoát .

 

( Tương Ưng BK 54:13; V 328-33 ; & Trung BK III, Kinh 118: Kinh Nhập Tức Xuất Tức Niệm, tr 255-264)

 

 

10. CHỨNG  ĐẮC  GIÁC NGỘ

 

          Một thời Tôn giả Xá Lợi Phất (Sāriputta) trú ở  Xá Vệ (Sāvatthi), tại Rừng Kỳ Đà (Jeta’s Grove), thuộc Vườn Cấp-Cô-Độc ( Anāthapindika’s Park) (62) Vào một buổi sáng, Tôn giả đắp y, cầm y bát, đi vào Sāvatthi để khất thực. Sau khi đã khất thực ở Sāvatthi và trở về, sau bữa ăn Tôn giả đi đến Khu Rừng Của Người Mù (Andhavana ) để nghỉ ngơi.  Sau khi đi vào Andhavana , Tôn giả đến ngồi nghỉ trưa ở một gốc cây.

          Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta rời chỗ nghỉ ngơi và đi đến Rừng Jeta, thuộc Vườn ông Anāhapindika. Tôn giả  Ānanda thấy Tôn giả Sāriputta từ xa đi đến liền nói với Tôn giả  Sāriputta : “ Hiền giả Sāriputta, các căn của hiền giả thanh tịnh, sắc mặt trong sáng. Hiền giả đã an trú ở nơi nào trong ngày ?”   

          -  Ở đây, này hiền giả, tôi đã ly dục, ly các pháp bất thiện, đã nhập định và an trú vào Sơ thiền, với hỷ lạc do ly dục sanh, vẫn còn tầm và tứ. Này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang nhập Sơ thiền, ’ hay ‘ Tôi đã chứng được Sơ thiền ,’ hay ‘ Tôi vừa ra khỏi Sơ thiền’ .”

          -  Như vậy, chắc hẳn là vì hiền giả từ rất lâu đã nhổ sạch các tùy miên về ‘cái tôi ’và ‘cái của tôi ’ và ngã mạn, nên những ý nghĩ như vậy không còn khởi lên trong tâm hiền giả.(63)

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, làm lắng dịu tầm và tứ,  tôi đã chứng và an trú Nhị thiền, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm và tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang nhập Nhị thiền, ’ hay ‘ Tôi đã chứng được Nhị thiền ,’ hay ‘ Tôi vừa ra khỏi Nhị thiền’ .”

          -  Như vậy, chắc hẳn là vì hiền giả từ rất lâu đã nhổ sạch các tùy miên về ‘cái tôi ’và ‘cái của tôi ’ và ngã mạn, nên những ý nghĩ như vậy không còn khởi lên trong tâm hiền giả.

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, với việc  ly hỷ, trú xả, và với chánh niệm tỉnh giác, thân tôi cảm nhận được lạc thọ mà các bậc thánh gọi là ‘ xả niệm lạc trú’, tôi chứng và trú Tam thiền. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang nhập Tam thiền, ’ hay ‘ Tôi đã chứng được Tam thiền ,’ hay ‘ Tôi vừa ra khỏi Tam thiền’ .” ( tiếp theo như trên)

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, với sự từ bỏ khổ và lạc,  diệt hỷ và ưu đã cảm thọ từ trước, tôi chứng và an trú Tứ thiền, một trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang chứng đắc Tứ thiền…

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, với sự vượt lên hoàn toàn các ý tưởng về sắc, với sự đoạn diệt ý tưởng về tác động của các giác quan, không chú ý đến ý tưởng về sự dị biệt, ý thức rằng ‘ không gian là vô biên ’, tôi chứng và an trú Không Vô Biên Xứ. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang chứng đắc Không Vô Biên Xứ …

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, với sự vượt lên hoàn toàn ý tưởng về không vô biên xứ, ý thức rằng ‘ thức là vô biên’, tôi chứng và an trú  Thức Vô Biên Xứ. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang chứng đắc Thức Vô Biên Xứ …

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, với sự vượt lên hoàn toàn ý tưởng về thức vô biên xứ, ý thức rằng ‘ không có gì cả ’, tôi chứng và an trú  Vô Sở Hữu Xứ. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang chứng đắc Vô Sở Hữu Xứ….

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, với sự vượt lên hoàn toàn ý tưởng về vô sở hữu xứ, tôi chứng và an trú  phi- tưởng- phi- phi- tưởng xứ. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang chứng đắc Phi-Tưởng- Phi- Phi Tưởng Xứ…

          [ Vào một dịp khác, Tôn giả Sāriputta đã trả lời:]

          -  Ở đây, này hiền giả, với sự vượt lên hoàn toàn ý tưởng về phi- tưởng- phi- phi- tưởng xứ, tôi chứng và trú diệt thọ tưởng định. Tuy vậy, này hiền giả, tôi không khởi lên ý nghĩ,  ‘Tôi đang đạt được Diệt Thọ Tưởng Định, hay ‘ Tôi đã chứng được Diệt Thọ Tưởng Định’’ hay ‘ Tôi vừa ra khỏi Diệt Thọ Tưởng Định.”( 64)

          -  Như vậy, chắc hẳn là vì hiền giả từ rất lâu đã nhổ sạch các tùy miên về ‘cái tôi ’và ‘cái của tôi ’ và ngã mạn, nên những ý nghĩ như vậy không còn khởi lên trong tâm hiền giả.

 

                   ( Tương Ưng BK III, Ch 7: Tương Ưng Sariputta, tr 381-387 )

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn