Câu chuyện đôi giầy và xâu chuỗi.

10/04/201312:10(Xem: 7524)
Câu chuyện đôi giầy và xâu chuỗi.

xau chuoi

CÂU CHUYỆN
ĐÔI GIÀY VÀ XÂU CHUỖI



Tôi mang loại giày vải màu đen đó đã ba mươi năm. Còn xâu chuỗi màu đỏ luôn ở bên mình (không phải là loại mã não thứ thiệt đâu) cũng tròm trèm tuổi thọ như thế. Cho đến nay, cuối năm 2007 rồi, tôi vẫn chưa có ý định đổi giày hay thay chuỗi. Tôi có lập dị lắm không, xin em đừng cật vấn. Em cũng đừng vội nghĩ rằng mấy thứ tùy thân này của tôi cũ kỹ lắm rồi. Trái lại là khác. Mỗi lần cầm xâu chuỗi trên tay hay xỏ chân vào giày, là những suy nghĩ mới mẻ đến bên tôi.


Chúng ta hãy nói chuyện đôi giày trước. Đôi giày, người bạn tốt của tôi, từ bấy đến nay, có thấy phàn nàn hay than thở gì đâu? Mà thật ra, nhiều lúc, chúng ta cũng đáng trách lắm. Đôi giày theo ta trọn ngày, lên xuống bao đoạn đường, đến nay đã bạc màu, vẹt gót, vậy mà, khi về đến nhà, quen lệ, tháo vội giày ra, có khi vất đại vào một góc nhà, chẳng có một lời cám ơn "thank you" nào cho hợp với thái độ nhã nhặn thường lệ của ta! Riêng tôi, cũng may, từ khi thực tập thường xuyên chánh niệm, mỗi khi mang giày vào hay tháo giày ra, tôi đều nghĩ đến người bạn tốt và trung thành với mình, không quên cảm ơn và đặt giày ngay ngắn trên kệ.


Hôm trước đây, giở lại chồng hình ảnh cũ, cầm lên tấm hình "shoe parking lot" - khu để giày dép - chụp tại Trung tâm Phật giáo Hayward năm nào, rồi nhìn xuống đôi giày cũ trung thành của mình và những bài học gợi ra từ món tùy thân đơn giản này, điều ấy khiến tôi phải ngồi xuống bàn, cầm bút.


Từ năm 1986, chúng tôi đã bắt đầu thực tập Chánh Niệm với đối tượng đi theo bên mình là đôi giày hay dép. Nên, sau đó chúng tôi khởi sự việc hướng dẫn thực tập điều Chánh Niệm này với các em thiếu nhi đến Trung Tâm Phật giáo để sinh hoạt. Chúng tôi yêu cầu các em để giày dép thật ngay ngắn trong những ô vuông kẻ sẵn, trước khi bước vào "chánh điện".


Từ đấy, trên thềm Trung Tâm là hình ảnh biểu tượng thật đẹp, phối hợp giữa biểu hiện sự ngăn nắp, trật tự của tập thể và, ý nghĩa hơn, thể hiện ý thức chánh niệm trong đời sống cá nhân. Tinh thần chánh niệm trên được duy trì cho đến nay khi chuyển tiếp sang chùa Phổ Từ mà nơi thực tập là những hàng kệ nhiều hơn và mỹ quan hơn.
Thực tập và thực hành chánh niệm đối với bất cứ đối tượng nào, không phải là ý thức hay hành động giai đoạn, của một lúc, trong một buổi. Trong chánh niệm, sau mỗi lần sử dụng, tôi biết tôi sẽ MỜI đôi giày của mình "nghỉ ngơi" ở đâu. Tôi cởi giày ra, đặt nhẹ nhàng lên kệ, và nhỏ nhẹ cảm ơn giày. Ý thức và hành động như trên nghĩa là mình đang thực tập hạnh khiêm cung của bồ tát Thường Bất Khinh. Nghĩa là bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến sự trợ giúp, cưu mang tự muôn người, muôn vật, muôn loài. Suy nghĩ và hành động như thế, giáo lý độ sanh của nhà Phật không còn tồn tại trong những trang kinh trừu tượng mà thể nhập vào cuộc sống, hướng dẫn con người đạt được cuộc sống an lạc, có ý nghĩa.


Việc biết ơn đôi giày mà tôi vừa trình bày, em thấy có hợp lý lẽ không? Không khác gì trường hợp khát nước mà có được ly nước ngọt trên tay, kẻ phải đi chân trần giữa trời nắng chang chang trên đường nhựa nóng bỏng, sẽ thấy sung sướng chừng nào nếu có được đôi giày dưới chân. Cũng như, khi đi dự dạ tiệc, ngoài bộ áo sang trọng phải có thêm đôi giày vừa ý thì hạnh phúc đến với con người khi đó mới trọn vẹn. Trong thí dụ đơn giản như trên, chính đôi giày, là một trong những cái đem đến an vui trong cuộc sống hàng ngày cho ta. Giày có đáng được nhận một nụ cười, một lời thân tình nơi ta không chứ? Thank you, shoes!


Giờ xin nói đến chuyện xâu chuỗi. Đây là chuyện liên quan đến việc tu hành, đắc đạo, lên niết bàn chứ không phải chuyện chơi đâu nghe! Hù em một chút thôi, chứ chuỗi nào, làm bằng gì, có quí giá đến đâu thì cũng chỉ là chút PHƯƠNG TIỆN thôi tuy không thể thiếu. Vì không có phương tiện thì làm sao đạt được cứu cánh. Với xâu chuỗi màu đỏ đó, tôi làm bạn với chánh niệm, với giây phút hiện tại. Khi cầm chuỗi trên tay, tôi có ý thức là mình đang có mặt với giáo pháp nhà Phật. Nói rõ hơn, đó là hình ảnh bồ tát Quán Thế Âm với hạnh nguyện từ bi cứu khổ. Tôi niệm từng câu một, rõ ràng, và giữ tâm niệm Thương Yêu đối với vạn vật, với tha nhân trong đó có em nữa. Điều lợi ích rất lớn cho tôi là tôi đã biết cách nuôi dưỡng tâm niệm an lành cho thân và tâm của mình. Bớt đi những chuyện buồn phiền, lo lắng vô ích. Nhờ đó, mà không bị bệnh mất ngủ, không có đường cao, máu cao gì hết (có chứng cớ đàng hoàng đó nhe!)


Có một điều chẳng ai ngờ được đó là chuyện "giả đò", "thực mà hư" của tôi trong hoàn cảnh bất đắc dĩ. Ai cũng tưởng là khi cầm xâu chuỗi, người ta gọi là lần tràng, là lúc tôi nghiêm trang, để hết tâm vào câu chú nguyện. Không phải một trăm phần trăm đâu. Trong nhiều trường hợp, xâu chuỗi trở thành "cứu tinh" của tôi, giúp tôi thoát ra khỏi cảnh khó xử. Đó là những khi mình không muốn tiếp tục phải nghe điều mình không muốn, hay không muốn tiếp tục câu chuyện với người trước mặt. Trong hoàn cảnh chẳng đặng đừng như thế, thì chỉ còn cách cầm xâu chuỗi trên tay, lần từng hạt, vì đó là Dấu Hiệu của việc khởi đầu giây phút Linh Thiêng Tối Thượng của người tu hành mà người đối diện phải nhận biết và tôn trọng. Như vậy là tôi thoát nạn, khỏi phải tiếp tục nghe hay buộc phải nói gì nữa. Cứ ĐƯỢC ngồi yên là hạnh phúc rồi. Đó là một "chiêu thức" tạm gọi là phòng thân của tôi khi cần có sự yên tĩnh. Em có thấy những lợi ích thông thường lẫn kỳ diệu của xâu chuỗi trong tay chưa?


Tóm lại, tu tập là áp dụng điều Phật dạy vào trong những việc làm thực tiễn trong đời sống hàng ngày của mình. Cứ thực tập đều đặn, liên tục chúng ta sẽ cảm nhận được sự nhiệm mầu, oai lực vô song của Phật pháp. Hãy tập nhìn muôn người, muôn loài, muôn vật dù có hay không tri giác, hiện diện quanh ta, với sự hiểu biết và tâm niệm biết ơn của người con Phật. Đó là thí điểm và khởi điểm để tình thương và bao dung được khai triển, đem lại an lạc trong tâm mỗi người, phúc lợi cho tập thể.


Như thế, phải chăng hòa bình trên trần thế được gầy dựng từ sự thực hành trong chánh niệm những việc thực tiễn trong đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân chúng ta.

THÍCH TỪ-LỰC
E-mail: [email protected]

----o0o---

Trình bày: Vĩnh Thái

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 594)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 1220)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1089)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 1441)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2793)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1896)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 3072)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1981)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2544)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 4669)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T