Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Sư Phụ Huyền Tôn

04/04/201604:39(Xem: 1447)
Sư Phụ Huyền Tôn

HT Huyen Ton
Sư Phụ Huyền Tôn



Nhận được thư của TT Nguyên Tạng (Phó Tổng Thư Ký của Giáo Hội/Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức) kêu gọi viết bài (thơ, văn, cảm niệm ...) để ấn bản trong Kỷ-Yếu nhân dịp Đại Lễ Tri Ân nhị vị Hòa Thượng Trưởng Lão của Giáo Hội, là Trưởng Lão Tăng Giáo Trưởng HT Thích Huyền-Tôn và Trưởng Lão Chứng Minh Đạo Sư HT Thích Như-Huệ sẽ được tổ chức long trọng trong dịp Chư Tôn Đức về dự Khóa An Cư Kiết Đông kỳ 17 tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc-Châu. Thiển nghĩ đây là việc đáng làm và cần làm để tuyên dương đức hạnh và công phu tu tập của các Trưởng Lão hòa thượng trong GH. Đây là món quà tặng tinh thần rất đáng giá và có ý nghĩa để dâng lên các Ngài khi còn trụ thế; chứ khi đã viên tịch rồi thì có muôn ngàn lời vàng thước ngọc tán dương hay cảm niệm cũng chỉ là hư vô. 

Với Trưởng Lão HT Như-Huệ, Phương Trượng Pháp Hoa ở Nam Úc thì tôi không biết gì để viết vì Ngài hành hoạt Phật sự ở phương xa, chỉ vài lần gặp gỡ trong các dịp Đại lễ quan trọng khi Ngài ghé Melbourne. Còn viết về Trưởng Lão Sư Phụ Huyền-Tôn thì lại có quá nhiều đề tài để viết vì là Hòa thượng Bổn sư, được gần gũi thân cận nhiều dịp hàn huyên tâm sự việc đạo việc đời, nhưng viết về Sư phụ mình tuy dễ mà khó. Dễ vì có nhiều đề tài để viết nhưng khó vì nếu không khéo thì sợ bị phê bình là "Mèo khen mèo dài đuôi" J. Thôi thì ai khen chê cũng mặc, đường ta ta cứ đi với cái tâm ý trung thực thường hằng của một nhà khoa học.


hT Huyen Ton
Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Tôn (89 tuổi)

Tăng Giáo Trưởng GHPGVNTNHN Úc-Đại-Lợi - Tân-Tây-Lan

Phương Trượng Bảo Vương Tự, Melbourne.

 

Thật như một giấc mơ! Thoáng đó mà đã gần 40 năm từ ngày tôi bắt gặp hình bóng Sư Phụ (SP) đang châm cứu, bốc thuốc cho người dân nghèo trong căn phòng nhỏ nằm khuất phía sau hòn non bộ, có suối nước chảy róc rách xuống hồ nước nhỏ một góc bên trái mặt tiền của chùa Quan Thế Âm trên đường Nguyễn Huệ, Phú Nhuận (nay là đường Thích Quảng Đức), nơi Thầy Thông Bửu đang Trụ Trì. Nơi đó, mỗi tối thứ Bảy tôi đều đến để học Pháp, tụng Kinh Pháp Hoa và có lúc thọ Bát Quan Trai Giới. Tôi có cái duyên ngộ đạo ngay từ những ngày thảm họa phủ lên đầu dân tộc Việt-Nam khi Cộng sản Bắc Việt thôn tính miền Nam. Không lâu sau thời điểm tháng Tư đen đó, tôi tình cờ gặp lại một người anh kết nghĩa là Trần-văn-Vinh trên đường Hai Bà Trưng, trước rạp hát Kinh-Thành, Tân Định. Anh Vinh rủ tôi đi nghe Pháp ở Quan Thế Âm buổi tối thứ Bảy đó, và buổi Pháp đầu tiên nghe Thầy Thông Bửu giảng về một đề tài liên quan đến khoa học khi cha đẻ của hai quả bom nguyên tử đã thả xuống Hiroshima và Nagasaki là nhà Bác học Julius Robert Oppenheimer đi đâu cũng mang theo quyển Kinh Hoa-Nghiêm bên người, đã động nảo thu hút một sinh viên khoa học như tôi đi vào đạo, và mê đến chùa mỗi cuối tuần để nghe Pháp tụng kinh. Và chính ở Quan Thế Âm mà tôi đã bắt gặp hình bóng của SP bốc thuốc và châm cứu cho người nghèo. Thầy Bổn Điền, Trụ Trì chùa Huyền Quang ở Sydney cũng là một Tăng chúng đã tu học ở đó và hình như cũng có lần tôi đã gặp Thầy Tâm Phương (bào huynh của Thầy Nguyên Tạng) ở chùa Pháp Vân (Gia Định/Bình Thạnh) gần đó.

Tuy nhìn thấy SP Huyền Tôn lăng xăng lo hộ đạo giúp đời nhưng vì không có nhu cầu nên tôi chưa một lần vấn an SP, cho mãi đến đầu năm 1983 khi mới đặt chân đến Melbourne tôi mới có duyên gặp lại Ngài khi ngôi nhà tôi thuê lại gần sát ngôi chùa Đại Bi Quan Âm nơi SP thành lập. Đúng là “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”.

Những tháng năm đầu mới đến Úc, còn bỡ ngỡ với phố xá đường đi khi chưa có xe, phải nói là tôi hết sức thán phục tài nghệ lái xe lả lướt của SP khi vài lần được Ngài chở đi đây đó. Đường xá thông thạo như trong bàn tay. Khi đến đèn đỏ, Ngài không chịu ngừng chờ mà rẽ sang ngõ khác trước đó để tiếp tục chạy. Tôi thầm nghĩ: “Wow, mình chưa biết lái xe và không biết đường mà Sư Phụ sao thông thạo giỏi thế. Không biết sau này mình có lái xe được như Sư Phụ không?”[1]

Tôi cũng thán phục Ngài về tài sử dụng computer. Mới sang Úc, chưa từng trải nghiệm và có kiến thức gì về computer mà tôi thấy Ngài sử dụng nhuần nhuyễn quá. Tôi thầm nghĩ: “Sao SP già hơn mình mà giỏi thế. Mình nhìn vào computer như lạc vào mê hồn trận mà SP rành rẽ quá. Không biết sau này mình có sử dụng được computer như Ngài không?”

Rồi sau đó tôi cộng tác với GH trong vai trò Trưởng ban Xã hội, làm việc với Bộ Di Trú lo bảo lãnh và bảo trợ đồng hương từ các trại tỵ nạn Đông Nam Á sang và giúp họ ổn định cuộc sống trong giai đoạn đầu mới đến Úc. Tính ra trong thời gian cộng tác với GHPGVNTN tại Victoria, tôi đã ký đơn, thay mặt GH, bảo lãnh và bảo trợ cho hơn một trăm đơn vị gia đình, trong đó hơn bốn mươi gia đình đã đến Úc trong thời gian SP lãnh đạo GH tại Victoria. Không kém phần quan trọng là việc Ngài đã đứng nhận bảo lãnh cho 700 em cô nhi bị Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ trả về Thái-Lan mà sau đó Cao Ủy đã thỏa thuận đồng ý với Ngài cho số trẻ em không thân nhân đi kèm này được sang định cư ở Hoa-Kỳ. Cũng cần nói thêm, thoạt đầu các em cô nhi được Cao Ủy LHQ phân loại cho ưu tiên đi định cư ở đệ tam quốc gia nhưng vì không có thân nhân đi kèm nên đa số các em này sau khi định cư thường lêu lõng “quậy phá” nhiều hơn là chăm học có tương lai của một công dân tốt nên các chính phủ ở đệ tam quốc gia đã thay đổi chính sách không nhận thành phần này nữa, hoặc nhận với các điều kiện khó khăn hơn như phải có người hay các hội đoàn đã đăng ký hoạt động đứng ra bảo trợ. Ngoài ra, tôi còn nhớ SP cũng đã từng bảo lãnh cho một số người phạm tội bắt trộm bào ngư được thoát vòng lao lý vì đã không hiểu rõ luật lệ bảo vệ môi trường tại Victoria nói riêng và nước Úc nói chung.

Cũng cần nói thêm, chính SP Huyền-Tôn là thành viên sáng lập nên GHPGVNTN Úc-Đại-Lợi và Tân- Tây-Lan và cũng là chủ bút Nguyệt San Phật Giáo Việt-Nam Úc Châu trong thời gian từ 1984-1989.

Vài năm sau giai đoạn “thay ngôi đổi chủ” ở GHPG Victoria khi HT Phước Huệ về thay thế thì tôi thôi cộng tác với GH và chán nản với GH nên từ đó tôi đã không sinh hoạt cộng tác lui tới với bất cứ chùa nào nữa, ngoại trừ thỉnh thoảng hay nhân dịp lễ Tết tôi đến Essendon viếng thăm, chúc Tết, hàn huyên và 'lì-xì' cho SP. Mãi về sau này khi SP thiên di về Delahay và thấy Ngài tuổi già sức yếu mà một mình lo xây dựng ngôi chùa và ngày đêm thui thủi một mình phải tự lo cơm nước, tôi thấy 'thương quá' nên đã ... quay về chùa sinh hoạt với SP. Có đôi lần ghé ngang chùa vào chiều tối, trong cái giá lạnh buốt da của mùa Đông Melbourne và cái vắng lặng cô tịch của bóng đêm bên ngoài với ngọn đèn duy nhất không được sáng tỏ lắm trong nhà bếp, SP đã làm ít món ăn đạm bạc ‘dã chiến’ và Thầy trò đã cùng ngồi ăn.


HT Huyen Ton_Dr Lam Tri Dung 2

Sư Phụ Huyền Tôn và đệ tử Bảo Minh Đức.


Tôi rất mừng và an tâm kể từ khi Sư cô Thể Viên (cháu gọi SP là Ông Chú) được sang định cư và cùng bắt tay phụ giúp Ngài trong mọi sinh hoạt của chùa. Vậy là SP không còn phải 'tự lực mưu sinh' trong nhà bếp nữa J.  Và tôi cũng rất vui khi biết sự tiến triển trong việc xây dựng ngôi chùa Bảo Vương ngày càng tốt đẹp và hoàn thiện hơn với kiến trúc thực sự là một ngôi chùa, dù nhỏ bé và khiêm tốn. Lại cũng là một cái duyên với Bảo Vương khi tôi biết Sư cô Thể Viên từ Việt-Nam trong một lần về cho công tác nghiên cứu, hình như là năm 2003? Lần đó SP biết tôi về Việt-Nam và Ngài thích một cây đàn Độc huyền cầm (đàn gáo) nên tôi đã mua tặng Ngài. Ít ngày sau, Sư cô Thể Viên đã tìm đến nhà Nhạc phụ nơi tôi trú ngụ để trao thêm cây đàn Nguyệt mang về cho Sư Ông (Sư cô gọi Ngài là Sư Ông). Rồi vài năm sau Sư cô (giờ đã là Ni Sư) lại được bảo lãnh sang Melbourne nên có duyên thường xuyên gặp gỡ mỗi chủ nhật khi tôi đến chùa trong thời gian còn ở Melbourne. Ni sư Thể Viên có giọng tụng kinh cũng rất hay và có một lần tôi nghe Ni sư giảng cũng rất hấp dẫn dù chỉ là một đoạn ngắn phụ họa thêm vào lời giảng của SP.

Thời gian khi Sư cô Thể Viên chưa sang, những dịp lễ lớn như Phật Đản hay Vu-Lan hoặc các ngày vía quan trọng, đôi lúc các chùa tổ chức trùng ngày và SP được thỉnh đi chứng minh ở chùa khác như Quảng Đức hay Phật Quang chẳng hạn, Ngài đã giao cho tôi trọng trách làm chủ lễ ngay tại Bảo Vương. Một đôi lần rồi cũng quen với chuông mõ, với vai trò của người chủ lễ.

Như đã nói, từ khi thôi cộng tác trong ban Trị Sự chùa Quang Minh thì tôi không sinh hoạt tới lui bất cứ chùa nào nữa cho đến khi về Bảo Vương với SP. Đôi khi cũng có người rủ tôi đi chùa này đến chùa nọ nhưng thường thì tôi từ chối, vì nghĩ rằng đi một chùa học một Thầy hết đời này còn không học được hết chữ nghĩa thì cớ chi phải đi nhiều chùa, học nhiều Thầy, trong khi SP lại là một Cao Tăng uyên thâm Hán học và Phật học, một vị Trưởng lão Hòa thượng cao tuổi đời nhiều tuổi đạo nhất hiện nay trong giới Tăng già của GH Úc Châu, đã là nhân chứng sống qua nhiều thời đại thăng trầm của đất nước và dân tộc nên am tường nhiều về lịch sử Việt-Nam thời cận đại. Đối với tôi, Ngài là một quyển tự điển sống về Hán học, Phật học và lịch sử Việt-Nam.

Ngoài uyên thâm Hán học và Phật học, Ngài còn tinh thông võ học và tử vi dịch lý. Nhiều năm trước, khi còn ở Melbourne, SP đã muốn truyền lại cho tôi môn Kỳ Môn Độn Giáp (?). Vốn đã có căn bản về Kinh-Dịch và Tử-Vi, tôi biết rằng nếu chịu khó theo học với SP thì sẽ tiếp thu rất nhanh nhưng bận rộn công việc, tôi rất tiếc đã không thể theo học với Ngài. Chẳng những vậy, Ngài còn là một thi sĩ với những vần thơ trác tuyệt và một nhạc sĩ đã sáng tác vài bài hát Phật giáo. Lần về thăm nhà trùng hợp dịp Vu-Lan năm rồi; đến chùa ngày Chủ Nhật để nghe Pháp, tụng kinh, và thọ trai xong; SP đã gọi tôi vào ngồi bên cạnh và lấy hai bản nhạc do chính Ngài sáng tác ra ‘khoe’ với tôi. SP định ‘lên lớp’ cho tôi về căn bản nhạc lý nhưng tôi đã nhanh nhẩu thưa rằng tôi đã học bảy năm nhạc lý với nhạc sĩ Minh-Kỳ, là Thầy dạy nhạc cho tôi hồi còn đi học ở trường Trung học Trung-Thu trên đường Thành-Thái, Sài-Gòn 5 (nay là đường An Dương Vương ở quận 5). Thế là ‘thông’ qua phần căn bản nhạc lý và hai Thầy trò đã bắt đầu nhìn những nốt nhạc trắng-đen nhảy múa trên các trường canh 3/4 để cùng xướng hát với nhau, xem ra rất là đắc ý. Tôi sẽ đính kèm hai bài nhạc ở phần cuối bài viết này.

Thoáng đó mà đã hơn 6 năm tôi rời Melbourne đi giảng dạy ở Trung-Đông. Tôi chỉ tiếc một điều là vì hoàn cảnh phải sống phương xa nên đã không trực tiếp đóng góp được gì vào việc kiến thiến ngôi Bảo Vương Tự, ngoài việc thỉnh thoảng về thăm nhà thì lại đến chùa vấn an SP và học Pháp tụng kinh được vài cái Chủ nhật ngắn ngủi, được gặp lại những khuôn mặt thân quen của các thiện hữu tri thức cũ cũng như các đạo hữu mới gặp lần đầu của đại chúng Bảo Vương.

Dr Lam Tri Dung
GSTS Lâm Trí Dũng pd Bảo Minh Đức cùng đồng nghiệp
và các học trò trong một lễ tốt nghiệp
tại Tiểu Vương Quốc Ả Rập



Tuy sống phương xa, không được gần gũi và thăm viếng SP hàng tuần để nghe Pháp, tụng kinh nhưng tôi vẫn luôn nhớ đến Ngài vì cuộc đời tôi hiện nay trong gia đình đã không còn bậc Trưởng thượng nào nữa, Cha mẹ hai bên đều quá vãng, nên SP như người 'Cha già' mà tôi hiện có. Rồi nhiều lúc chợt nghĩ nếu ngày nào đó mà SP viên tịch bỏ lại đại chúng để qui hướng Tây phương Tịnh độ trong thời gian tôi không được nghỉ để về thăm viếng, nhìn 'dung nhan' Ngài lần cuối và thọ tang thì chắc lòng tôi sẽ rất buồn và ray rức vô cùng. Tôi nhớ một năm trước khi Nhạc mẫu tôi lìa đời, lúc ghé về Sài-Gòn thăm khi bà bị bệnh, tôi đã nói: "Má muốn gì thì cũng chờ con đến tháng Bảy nghe, vì con được nghỉ hè mới có thể về lo hậu sự cho Má được". Thế là đúng tháng Bảy năm sau, Bà đi. 

Ba năm trước, khi Nhạc phụ tôi lần đầu tiên sang Úc thăm con cháu, tôi cũng đã nói: "Nếu Ba có trăm tuổi đi theo Má thì cũng cố gắng đi trong thời gian con được nghỉ để con về lo hậu sự cho Ba". Thế rồi, năm sau Ông cũng đã ra đi trong thời gian tôi được nghỉ mà bay về Sài-Gòn lo tang sự cho Ông được viên mãn. Điều ước mong bây giờ còn lại của tôi với SP Huyền Tôn cũng là như vậy. Nếu không được vậy thì chắc ở nơi này tôi sẽ rất buồn và rơi lệ vì không được hiện diện bên Ngài trong giờ phút lâm chung. Cha mẹ già như đèn treo trước gió, thấy sáng sáng tỏ tỏ chập chờn đó nhưng không biết sẽ vụt tắt lúc nào. Sinh Lão Bệnh Tử, cái vòng tuần hoàn lẩn quẩn không ai tránh khỏi.

Mỗi lúc về Melbourne thăm SP, nhìn dung nhan Ngài sắc diện tươi tắn trắng hồng đẹp lão như một Tiên Ông đắc đạo, lòng tôi mừng và thầm nghĩ chắc SP tu luyện nghiêm chỉnh đúng phương pháp nên mới có được sức khỏe và diện mạo tươi tỉnh và an lạc như vậy. Thịt da Ngài còn rất chắc vì mỗi lần về gặp, tôi đều ôm chặt Ngài nhấc bổng lên và rờ vai lưng Ngài xem thịt da và xương cốt thế nào.

Nơi này, cách xa mười lăm giờ bay từ Melbourne về hướng Tây-Bắc, và thời gian đi sau bảy tiếng; mỗi buổi sáng trước khi đi làm, tôi luôn thắp hương trên bàn thờ Phật và khấn vái: "Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Nam Mô A Di Đà Phật, Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát. Nguyện cầu Chư Phật Mười Phương, Chư Vị Bồ Tát, Chư Long Thần Hộ Pháp, Chư Vị Hiền Thánh Tăng từ bi gia hộ cho Sư Phụ con là Hòa Thượng Thích Huyền Tôn, 89 tuổi, được Phước Thọ tăng long, bách niên thọ thế, để Ngài sớm hoàn thành tâm nguyện xây dựng ngôi Bảo Vương Tự, được thành tựu viên mãn để tiếp tục việc hoằng Pháp độ sanh”. 

Tôi luôn cầu nguyện như vậy cho Ngài trước khi cầu nguyện cho chính tôi và toàn gia quyến được ngày đêm an lành.

Nam Mô A Di Đà Phật

Viết tại Ras Al Khaimah (Tiểu vương quốc Ả rập) ngày 27/03/2016.

Nhằm 18/02 âm lịch, Quốc lịch 4895  Phật lịch 2560

 GSTS Bảo Minh Đức Lâm Trí Dũng.




[1] Sau này có một thời gian dài tôi hành nghề dạy lái xe, và đã hướng dẫn cho quý Thầy: Minh Trí, Tâm Phương, Nguyên Tạng lấy bằng. 




Đính kèm bên dưới là 2 bản nhạc do SP Huyền-Tôn sáng tác:

1) Xin Người Niệm Phật Cho Mau, và

2) Vô Thường Người Ơi.

 
HT Huyen Ton_Xin Nguoi Niem Phat-1
HT Huyen Ton_Xin Nguoi Niem Phat-2

HT Huyen Ton_Vo Thuong-1

HT Huyen Ton_Vo Thuong-2
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/08/201807:40(Xem: 1157)
Thông Báo về Đại Lễ Hiệp Kỵ Lịch Đại Tổ Sư - Ngày Về Nguồn Lần thứ 11
01/04/201704:22(Xem: 3576)
Trọn một ngày làm nhà tu hành – ăn như sư, ngủ cạnh sư, thiền và đọc kinh cùng sư, lao động cùng sư. Có những lúc đã cảm thấy phát điên về sự chậm rãi trong hoạt động, sự khắc khổ trong cuộc sống. Nhưng cũng ngộ ra nhiều điều! Và 24 giờ đó quả là kinh nghiệm đặc biệt trong đời làm báo. Vào những tháng đông đầu năm 1998, khi đang làm việc cho đài phát thanh NHK của Nhật Bản, tôi đề xuất chủ đề tôn giáo với mục đích giới thiệu đầy đủ hơn về các đạo tồn tại ở Nhật cho thính giả Việt Nam, bên cạnh Thần đạo đã được nói đến quá nhiều. Nhưng việc đi thực tế trong lĩnh vực này không đơn giản. May được một đồng nghiệp người Nhật tích cực tìm kiếm và phát hiện một ngôi chùa có thu nhận người nước ngoài. Mọi công việc thu xếp qua điện thoại và… email do người bạn Nhật đảm trách, và đúng ngày hẹn tôi khoác balô lên đường.
19/06/201706:51(Xem: 2205)
Đây là chương cuối cuốn sách tôi dự định cho ra đời như một lời ngỏ chân thành cảm ơn đến với mọi nhân duyên, mọi tình thân mà tôi may mắn nhận được suốt bốn mươi năm ở xứ Mỹ. Tình sâu nghĩa nặng canh cánh trong lòng bấy lâu nhưng cho dù có nói khéo, có viết hay cũng không thể bày tỏ trọn vẹn, nói hết những điều mình muốn nói. Những lời rào đón dông dài nào có nghĩa gì chi bằng hãy thành thật với lòng và xin mời người cùng ngồi ôn lại chuyện cũ không khác chi những lời bộc bạch bên nhau.
04/03/201718:23(Xem: 2566)
Xuất gia là một đại nguyện. Giữ được Tâm trong không thối chuyển là một đại duyên. Tại Việt Nam hôm nay, nếu lấy tròn số sẽ có 45.000 tu sĩ Phật giáo với dân số 100.000.000 người thì trung bình cứ 2.200 người mới có một người đi tu theo đạo Phật. Tại Hoa Kỳ hôm nay, ước lượng có 1.200 tu sĩ Phật giáo trên tổng số 2.000.000 người Việt thì trung bình cứ 1.600 người có một tu sĩ Phật giáo. Con số tự nó không đánh giá chân xác được tình trạng tôn giáo và chiều sâu hành đạo của các tu sĩ thuộc tôn giáo đó. Nhưng ít nhiều phản ánh được những nét tổng thể của mối quan hệ giữa quần chúng và tổ chức tôn giáo.
25/11/201022:25(Xem: 9698)
Trần Thái Tông là vị vua đầu của triều Trần. Ngài là đệ tử của thiền sư Viên Chứng trên núi Yên Tử. Ngài vừa làm vua vừa thực tập thiền. Ngài cũng từng thực tập thiền công án. Đây là 43 công án Vua đưa ra để cùng thực tập với tăng thân của Vua, gồm có giới xuất gia và tại gia. Thầy Làng Mai đã dịch những công án này ra tiếng Việt và tiếng Pháp năm 1968. Bản dịch tiếng Pháp xin xem ở phần phụ lục cuốn Clé Pour Le Zen, tác giả Nhất Hạnh, do nhà xuất bản JC Lattes ấn hành. Bản Hán Việt có trong Thơ Văn Lý Trần quyển II (Quyển thượng, trang 108-121), NXB Khoa Học Xã Hội.
07/02/201322:40(Xem: 3685)
Nửa thế kỷ Tôn Sư vắng bóng, Ánh Đạo Vàng tỏa rộng muôn phương Hôm nay tổ chức huy hoàn Hằng năm kỷ niệm, đàn tràng tôn nghiêm. Môn đồ Tứ chúng ngưỡng chiêm,
11/07/201810:17(Xem: 1061)
Kính bạch chư Tôn Thiền Đức Tăng - Ni và quý Đồng hương Phật tử. Trượng thừa ân đức Tam Bảo và vâng lời Tăng sai, năm nay NHƯ LAI THIỀN TỰ được ủy nhiệm của Giáo Hội V/v tổ chức An Cư Kiết Hạ 7 ngày từ 5 giờ chiều 08 tháng 7 đến 15 tháng 7 năm 2018 tại Bổn Tự số 3340 Central Ave, San Diego, CA 92105.
05/07/201507:55(Xem: 4482)
Giáo sư Huỳnh Bá Huệ Dương (anh em chúng tôi thường thân mật là Anh Dương), pháp danh Tâm Thị, nguyên Vụ Trưởng Học Sinh Phật Tử Vụ (HSPT) Tổng Vụ Thanh Niên, đã từ trần vào lúc 12,30 ngày 5/7/2015 nhằm ngày 20/5 năm Ất Mùi, hưởng thọ 76 tuổi. Lễ động quan sẽ diễn ra vào lúc 8 giờ sáng ngày 7/7/2015 nhằm ngày 22/5 Ất Mùi, sau đó được đưa đi hỏa táng tại nghĩa trang Hoa Viên Bình Dương.
19/12/201022:24(Xem: 3644)
Phật Giáo và A-dục Vương. K. R. Norman (Nguyên Tâm dịch) Hoàng đế Asoka, Con người của hòa bình và tình nhân bản. Minh Chi Đại đế Asoka và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp. Thích Quảng Đại Đại đế Asoka Maurya và những pháp dụ khắc trên đá Trần Trúc-Lâm Hoàng đế Asoka giã từ chinh chiến với nỗi thống khổ của người thắng trận. Trần Hương Lan Trường ca Kalinga. Trúc Thiê
10/03/201004:08(Xem: 6598)
Sau năm 75 các Phật Học Viện đều đóng cửa. Các tăng sinh tại các Phật Học Viện đều trở về chùa cũ của Thầy Tổ để sinh sống và tu học. Thật tế, tu thì có mà học thì hầu như không. Có chăng là Thầy dạy đệ tử trong chùa. Những chùa có ruộng đất thì thầy trò tự túc canh tác để sinh sống. Sinh hoạt giáo dục và đào tạo tăng ni trẻ đã không còn.