Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Những Điều Phật Tử Cần Biết (sách)

22/11/201406:46(Xem: 7130)
Những Điều Phật Tử Cần Biết (sách)

Duc_Hanh_Nhung Dieu Can Biet-1 

ĐỨC HẠNH

 

NHIỀU ĐIỀU

NGƯỜI PHẬT TỬ CẦN BIẾT

 

PHẬT LỊCH 2551 – 2007

 

 

MỤC LỤC

Sức Mạnh Của Tâm..................................................... 1

Chư Vị Bồ Tát Thị Hiện Cứu Khổ Chúng Sinh............... 14

Vô Minh.................................................................. 68

Môi trường tiếp nhận pháp và hành pháp.................... 76

Mục Đích Của Phật Xuất Hiện Trong Đời...................... 83

Phật Tánh Và Bồ Tát................................................. 94

Nghĩa của Duyên Giác và cách tu tập......................... 100

Nhìn Tướng Trạng Người Sắp Chết Biết Được Vong Linh 105

Chọn pháp môn tu.................................................. 108

Căn như thế nào tướng như thế đó.......................... 114

Tại sao người Phật tử tại gia phải giữ giới................. 119

Chết là gì............................................................... 120

Sự khác biết giữa tụng kinh và đọc kinh.................... 121

Những điều ắt có của người Phật tử......................... 124

Tiến Trình Chuyển Pháp Luân Của Đức Thế Tôn......... 125

Phương Tiện Trong Đạo Phật................................... 128

Ấn tống kinh sác Phật pháp cách nào........................ 136

Con số 8 vạn 4 ngàn pháp môn................................ 142

Tam pháp ấn là gì................................................... 143

Nghĩa Con Dấu Trong Đạo Phật................................ 144

Thế nào là chư hành vô tướng chư pháp vô ngã........ 145

Có Mấy Loại Niết Bàn.............................................. 146

Trạng Thái Của Niết Bàn.......................................... 147

Chữ Không trong Phật giáo..................................... 148

Nghĩa của chữ Không.............................................. 148

Nghĩa của vô tác..................................................... 149

Bát Nhã Là Gì......................................................... 150

Ba la mật là gì........................................................ 150

Học....................................................................... 151

Học Phật............................................................... 153

Phật tánh.............................................................. 165

Pháp môn dễ tu...................................................... 169

Tình đạo................................................................ 172

Con Người Thật Của Con Người............................... 176

Nhị Đế Là Gì.......................................................... 207

Vấn Đề Tụng Kinh Của Hàng Phật Tử Xuất Gia Và Tại Gia 212

Thấy Dấu Đạo........................................................ 214

Bốn Thời Kỳ Kết Tập Tam Tạng Kinh Điển.................. 215

Ý nghĩa 5 thời kỳ thuyết pháp của Phật..................... 218

Thế nào là độ......................................................... 219

Như thế nào là giác ngộ.......................................... 222

Thế nào là siêu thoát trong đạo Phật........................ 225

Thế nào là tâm vô niệm........................................... 226

Tu thê nào để tiêu diệt tâm hữu ngã......................... 226

Câu “Thượng Cầu Phật Đạo Hạ Hóa Chúng Sinh”........ 220

Tại Sao Phật Dạy Các Đệ Tử Làm Công Việc Thiện...... 221

Thế Nào Là Hữu Vi Pháp, Vô Vi Pháp........................ 228

Ba Nền Tảng Giáo Dục Trong Đạo Phật..................... 229

Ý Nghĩa Và Đặc Tính Của Tỳ Kheo............................. 240

Học Phật Qua Bài Thơ Của Hòa Thượng Thích Phúc Hậu 245

Có Phải Đức Phật Sáng Chế Ra Chánh Pháp.............. 254

Chủ trương của đạo Phật là gì.................................. 255

Tăng nghĩa là gì..................................................... 256

Đức Phật Chứng Đạo Thập Nhị Nhân Duyên.............. 257

Lý do Phật thuyết minh đạo lý Thập nhị nhân duyên... 259

12 Nhân Duyên Đó Là Gì......................................... 260

12 Nhân Duyên Có Đầu Có Đuôi Không..................... 263

Tính Chất Của 12 Nhân Duyên Như Thế Nào.............. 265

Ba thứ nào cần phải ngăn chận trên đường tu tập...... 266

Vị trí thường trú của 3 thứ lậu hoặc ở đâu................. 267

Chữ đạo................................................................ 268

Phật Pháp Cửu Trụ Vào Thế Gian Bằng Cách Nào....... 276

 

 HT Tam Chau

 

 

CẢM NIỆM

TÁC PHẨM NHIỀU ĐIỀU NGƯỜI

PHẬT TỬ CẦN BIẾT

CỦA ĐỨC HẠNH

 

 

Dòng sinh tử chuyển lưu từ vô thủy,

Do vô minh tham ái mịt mù che

Vén mây mờ khơi tỏ lối quay về

Bằng ánh sáng của từ bi, trí tuệ.

 

Mãi đắm say trong cuồng si Tục đế,

Đượm men nồng trong danh sắc phù du.

Chồng chất thêm cho tập khí hữu dư,

Thêm nhân tố luân hồi trong mọi ngả.

 

Đâu có biết là vô thường, khổ, vô ngã,

Là duyên sinh, duyên khởi tiếp muôn đời.

Ẩn tàng trong Tạng thức sẵn lâu rồi,

Chủng tử có, tất hiện hành phải có.

 

Ánh sáng đạo mong có ngày tỏ lộ,

Hướng theo chiều Chân đế để mà đi.

Biết hiểm nguy, biết thực hiện yếm ly.

Luôn tỉnh thức sự lọc lừa trong dục vọng.

 

 

Giới, Định, Tuệ, con đường đi quan trọng,

Văn, Tư, Tu, chánh niệm mãi tinh chuyên.

Trì chú, tụng kinh, niệm Phật, tham thiền,

Tâm an tịnh, trăng bồ đề chiếu rạng.

 

Trừ bóng tối để tiến lên ánh sáng,

Quyết nương theo giáo pháp, gắng công tu.

Tự nơi mình biết làm đúng, biết suy tư,

Nhờ kinh sách và nhờ tài hướng dẫn.

 

Sách Đức Hạnh khéo phân chia tường tận,

Đã kinh qua sự giảng diễn nơi nơi.

Qua học đường, qua khói lửa tơi bời,

Qua kinh nghiệm của bao năm sống đạo.

 

Sống nếp sống được coi như tái tạo,

Sạch tâm hồn, sạch cảnh sắc quanh ta.

Ngát hương sen trong cảnh giới Sa-bà,

Đây tu học, đây là gương tỉnh thức!

 

                       Canada, tháng 04 năm 2000

 

 

                        Hòa thượng Thích Tâm Châu

 

 

 

 

 

 

Thich_Tue_Sy_2VIẾT CHO ĐỨC HẠNH

 

Có người khách mang đến cho tôi một gói quà. Bên trong là hai quyển sách: Đất nước Cực lạc, Ánh sáng và bóng tối. Tác giả: Liên Hoa Bảo Tịnh. Khoảng thời gian sau này, tôi có rất ít điều kiện để đọc thêm được những sách mới, nên không ngạc nhiên nhiều lắm với tác giả lạ.  Dẫu sao, trong tình cảnh ấy mà được đọc những sách lạ, nhất là được gởi từ phương trời xa lạ, thì cũng thật là thú vị. Rồi càng đọc càng thú vị. Một phần vì có những kiến giải bất ngờ của tác giả, về những điểm giáo lý mà mình rất quen thuộc. Quen thuộc từ khi còn là một tiểu sa-di. Nhưng phần khác, thú vị hơn, khi biết rằng Liên Hoa Bảo Tịnh cũng là Đức Hạnh – đó là chú XUÂN KÝ, một thời ở Già-lam cùng với chú Sỹ.


Hồi ấy, khoảng từ 1962-1963, Già-lam chỉ mới có một dãy nhà tranh cho các chú, với ba gian nhà gạch; gian giữa thờ Phật; một gian để dành cho thầy trụ trì. Gian còn lại, thỉnh thoảng Thượng tọa Giám viện từ Nha trang vào trông chừng các chú tu học như thế nào, và thường xuyên hơn là Thượng tọa Thiện Minh. Già-lam, tức Tăng-già-lam của Phật học viện, hình thức như một cư xá cho lưu học sinh. Phật học viện Trung phần dùng đây làm chỗ tu học cho các chú đã đậu Tú tài II từ các trường trực thuộc. Một số theo học tại các phân khoa của Viện Đại học Saigon. Một vài chú khác được Viện gởi vào để theo học các lớp Anh văn của Hội Việt Mỹ. Chú Hạnh ở trong số các chú này. Còn tôi trước đó thuộc loại tiểu giang hồ, lang thang qua nhiều chùa ở miền Nam mà không đủ điều kiện nhập chúng. Rồi do thầy trụ trì giới thiệu, được Thượng tọa Giám viện thương tình, cho về Già-lam tá túc. Dù không thân, rồi cũng trở thành thân thiết. Tình huynh đệ trong chốn thiền môn là vậy.

Dễ chừng cũng hơn ba mươi năm, kể từ ngày tôi hành cước sang Vạn hạnh. Hình Chú vân du lên vùng thượng nguyên, dạy Anh văn tại các trường Trung học Bồ đề.

Ba mươi năm, vật đổi sao dời. Đất nước hoà bình, nhưng con người ly tán. Tan ở chỗ này, để tụ lại ở nơi khác. Mỗi người ra đi theo mỗi hướng khác nhau, mà trong sâu thẳm của tâm tư vẫn còn ủ kín sơ tâm học đạo dù chí nguyện chưa tròn. Riêng phần tôi, trong ngần ấy năm, trầm luân qua gần đủ sáu nẻo luân hồi trong một kiếp nhân sinh. Khi được đưa trở về cảnh cũ, huynh đệ cũ không còn ai cả. Phố phường, thị tứ náo nhiệt hẵn lên. Chùa chiền cũng náo nhiệt theo, trào lưu và thời thượng. Hai thứ tóc, bỗng thấy mình bối rối. Cho nên, khi bất chợt đọc được những trang sách, mà thoạt đầu cảm thấy lạ, rồi nhận thấy thân quen, như nghe lại âm hưởng của một thời hành điệu. Người trở về, không gian đã đổi. Nhưng người đi xa, gốc cổ thụ vẫn còn hắt bóng qua nửa phương trời. Hạt giống bồ đề qua biết bao lần lửa thiêu, nước cuốn; hình hài có thay đổi, mầm sống không hư hao. Tôi đọc những trang sách ấy, khám phá lẽ đời và lẽ đạo từ một mảng đời phiêu bạt của người bạn đồng học, đồng tu cũ.

Tôi vốn làm thân con mọt sách. Chìm nổi qua gần đủ sáu nẻo luân hồi trong một kiếp nhân sinh, khi trở về, vẫn là con mọt sách. Đức Hạnh có lẽ là hạt cải lăn lóc giữa đường đời bụi bặm. Mỗi dặm đường, thêm một lớp bụi, tưởng chừng hạt nhân bên trong héo quắt. Thế giới này tuy chợt có chợt không; cõi nhân sinh tuy bị cuốn hút trong ái dục, cuồng vọng; nhưng từ trong tự tính huyền vi, nguồn sữa từ thai tạng của Như lai vẫn ngọt ngào nuôi dưỡng chủng tử bồ-đề cho tùy thời lớn mạnh. Rồi hạt cải nảy mầm, có phải như vậy chăng? Tôi không biết rõ điều đó, nhưng biết khá rõ một điều khác: khổ hải thao thao, hồi đầu thị ngạn.

Chúng tôi mỗi người từ một góc trời riêng biệt, từ những đường đời gập ghềnh bên ngoài Phật học viện, bất chợt cảm thấy đang cùng nhìn về những ngày cũ, nhìn lại tâm nguyện ban sơ, thấy lại ước vọng một thời thanh xuân vẫn còn thấp thoáng dưới bóng chùa. Những trang sách của Chú khiến tôi cảm nhận được một nguồn an lạc của nhiều ngây thơ từ nhũng ngày bé bỏng. Rồi Chú gởi tiếp theo một loạt đang viết cho quyển sách dự định xuất bản. Tôi đọc không như một đọc giả đi tìm những ý tưởng hay những quan điểm mới lạ, tìm những gì mà mình chưa nghĩ đến trong kho tàng Thánh điển bao la. Tôi đọc những bài viết này vời tâm trạng của một người ước mong khám phá những gì chưa biết về một người bạn, tưởng chừng như quên hẵn. Ở đấy, vẫn những điểm giáo lý quen thuộc, mà một thời đã cùng chung học tập, và cũng có khi tranh luận. Với tôi, nền tảng giáo lý ấy theo thời gian được chồng thêm nhiều lớp sở tri đông tây kim cổ, tưỏng như mãi mãi bị khuất kín dưới lớp kiến văn quảng bác. Rồi bỗng nhiên, từ những trang sách tình cờ, quá khứ một thời sống dậy, với tất cả tình cảm và tri thức. Khi ấy tôi cũng nhận ra rằng, cũng những điểm giáo lý ấy nơi Đức Hạnh tưởng là đã chôn vùi, quên lãng dưới những lớp bụi đời; nhưng không, những điểm giáo lý rất đơn sơ, mỏng và nhẹ vừa đủ cho những Chú sa-di non nớt cả về lẽ đạo và nghĩa đời cất giữ trong tâm tư, làm hành trang cho đường đi sắp tới; những điểm giáo lý ấy bây giờ chợt lục lại, mới hay đấy là những mầm giống tuy rất dễ mục rã với thời gian, nhưng bởi tự tính là chất kim cang bất hoại nên vẫn tiềm tàng đâu đó trong đáy sâu của tâm thức, khi thời tiết nhân duyên đến, lại xuất hiện.

Bất hạnh thay, chúng tôi đều sinh vào thời của nhiều ma chướng, cao đồ sộ như bóng núi Thiết vi che kín cả Mặt trời Tuệ giác. Thỉnh thoảng ánh sáng bồ đề từ tâm nguyện ban sơ chợt hiện, như đốm sao duy nhất trong đêm tối mịt mù. Tuy vậy, mỗi người vẫn cố đi tới, theo cách riêng của mình, bằng phương tiện và cơ duyên mà mình có.  Vì vậy, tôi cảm thấy hân hoan, muốn góp mấy lời vào đầu tác phẩm này của Đức Hạnh. Nhiều khi cảm thấy những gì mình đã viết quá xa với thực tế, góp chặt từ nhiều trang Kinh Luận rồi ghép lại; do đó, khi đọc được những dẫn giải Phật pháp từ chính những vấn đề tế toái của cuộc sống thường nhật, tôi cảm thấy thú vị khi có thể chiêm nghiệm những gì vốn được chiêm nghiệm bằng tư duy luận lý siêu hình. Không chỉ là thể nghiệm, mà trong giới hạn nào đó của cuộc sống, đó còn là sự thể nghiệm chân lý trong sinh hoạt thường nhật. Nói một cách khác, đó là sự thể nghiệm yếu tính của Phật pháp phiền não tức bồ-đề.

Bởi phiền não tức bồ-đề, cho nên người cư sỹ sống giữa cõi đời ô nhiễm, bị trói buộc bởi nhiều sợi dây ân oán, vẫn tự thấy bản thân không bị cách ly Thánh đạo. Người cư sỹ học Phật thì nói nhiều hơn làm, đó là giới hạn tất nhiên rất ít ai có thể vượt qua. Nhưng giáo lý Duy thức cũng nói về danh ngôn huân tập. Nói về lẽ thiện, tuy chưa thể hoàn toàn sống đúng với điều mình nói, nhưng tự tính ngôn ngữ có tính huân tập, giống như một thứ tự kỷ ám thị, mầm giống Thánh đạo được xông ướp một cách vô tình hay vô tri, trải qua nhiều thời gian, có khi trải qua mấy a-tăng-kỳ kiếp, hạt giống Thánh đạo được tích luỹ bằng danh ngôn huân tập sẽ đến hồi nãy lộc. Vã lại, người Phật tử học Phật dựa trên ý nghĩa rằng y pháp bất y nhân. Phật pháp không chỉ để nghe suông, mà cần chiêm nghiệm, thực hành, để tự mình phát hiện chân lý. Cho nên, như Phật đã dạy, chớ vội tin điều gì chỉ vì điều đó được nói bởi truyền thống, xuất phát từ chỗ được nói là có thẩm quyền, được giảng dạy bởi Đạo sư của mình. Tôi muốn nói đến sứ mạng hoằng truyền Chánh pháp. Những người xuất gia đã dứt bỏ mọi ràng buộc của thế tục, cho nên sự hành đạo và hoá đạo là thuận duyên, và lời giảng pháp là những kinh nghiệm thực chứng. Điều đó thật hữu ích cho người nghe. Nhưng, trong xã hội càng lúc càng phức tạp với đủ loại vấn đề quan hệ nhân sinh, kinh nghiệm của người xuất gia về sự thật của thế gian càng lúc càng thu hẹp. Do đó, những lời giảng tuy là từ chứng nghiệm bản thân nhưng nhiều khi xa rời thực tế xã hội khiến người tại gia tuy nghe thì nghe hay thật đấy nhưng khi hành thì lại gặp nhiều tai biến. Chuột nhắt không sợ sư tử, mà chắc chắn là sợ mèo. Đó là điều mà kinh gọi là đối trị tất-đàn. Chân lý của Chánh pháp được đánh giá bằng thực tế đối trị. Tất nhiên, căn bản phiền não cần đối trị là tham, sân, si. Giáo lý cao siêu trong nhiều trường hợp trở thành trò hý luận viễn vông. Không thể trao gươm thái ất cho trẻ nhỏ đi đập hạt dẽ.

Đó là vài cảm nghĩ của tôi khi đọc các bài viết Phật pháp của Đức Hạnh. Tôi nghĩ rằng những bài viết về những điểm giáo lý căn bản này được nhìn từ những khía cạnh đời thường cũng sẽ gợi được nhiều hứng vị cho người đọc; từ cảm hứng ấy mà chiêm nghiệm về những vấn đề nhân sinh của chính mình với Phật pháp. Mỗi người có những chứng nghiệm riêng của bản thân, để rồi hiểu rõ càng lúc càng sâu sắc hơn ý nghĩa Phật pháp bất ly thế gian pháp.

 

Quảng hương Già lam,

Mùa an cư Phật lịch 2546,

 

Tuệ Sỹ

 

 

 

 

 

 

 DaoHuu_Duc_Hanh_HT_MinhTam

 

 

 

 

NHIỀU ĐIỀU NGƯỜI PHẬT TỬ CẦN BIẾT

 

 

SỨC MẠNH CỦA TÂM

 

Tánh biết tham ăn, tham vọng, tham dục, thương yêu, trách móc, giận hờn, tâng bốc, vui mừng, âu lo, ích kỷ, sợ hãi, buồn tênh, v.v… của muôn loài hữu tình chúng sinh nói chung, con người nói riêng được hiển lộ ra ngoài thân ở lời nói và hành động trong đời sống hằng ngày. Các nhà ngôn ngữ cổ đại Trung Quốc gọi tánh biết đó là tâm sau khi chế tác ra chữ Tâm (      ). Từ đó cho đến nay người Trung Quốc và Việt Nam đều nói là tâm một khi đề cập đến sự biết của chúng sinh (con người).

Các nhà Phật học gọi tánh biết của muôn loài hữu tình chúng sinh là Phật tánh do Phật nói trong các kinh Đại thừa như Pháp Hoa, Thắng Man, v.v… Phật tánh là tánh vốn trong sáng nằm sâu trong bộ não chúng sinh nên được gọi thêm cái tên Như Lai tạng. Phật tánh và Như Lai tạng không khác nhau, đều là đà sống có biết của muôn loài hữu tình chúng sinh, dù tánh biết sống theo bản năng của loài súc sinh, vẫn do lực Phật tánh mà có. Do vậy có Phật tánh là có vạn hữu chúng sinh, không có Phật tánh, không có chúng sinh vạn hữu. Các nhà luận sư Phật học gọi Phật tánh Như Lai tạng là linh tri, linh giác, tuệ giác bình đẳng, tâm trí sáng suốt do qua nhận thức thấy được như nhau. Chỉ khác thô, tế, liệt, thắng, bản năng, nhận thức, biến kế sở chấp là do bản thân lớn, nhỏ ở môi trường thác sinh (y báo, chánh báo), đúng như lời Phật nói: “tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” và sẽ thành Phật ở tương lai nếu Phật tánh của mỗi chúng sinh trở về nguyên thể thanh tịnh trong sáng.

Như vậy trước khi tâm con người nói riêng được có tuệ giác thành Phật, tâm con người bị đen tối, u ám? Đích thực như vậy, đúng như kinh Lăng Già, Duy Thức xác định rõ rằng: Phật tánh Như Lai tạng trong bản thân chúng sinh vốn trong sáng như kim cương, nhưng bị đen tối, u ám, si mê, đần độn là do các thứ ô trược, phiền não, vô minh của tự thân chúng sinh bao vây chế ngự lấy Phật tánh của mình.

Phật tánh Như Lai tạng bị các thứ vô minh, triền phược, phiền não bao vây, chế ngự như vậy, được Lăng Già thay vào đó bằng cụm từ Thức A Lại Da để diễn nói rõ. Mặc dù Phật tánh bị các thứ ô nhiễm bao vây nhận chìm như vậy, nhưng tâm chúng sinh vẫn có biết mọi thứ trong đời sống. Biết từ si mê không chánh trí cho đến biết có chánh trí thánh thiện. Cho nên sức mạnh của tâm gồm có: tà tâm và chơn tâm. Tâm biết si mê không chánh trí thường được hiển lộ ra lời nói và hành động ác. Tâm biết có chánh trí được hiển lộ ra lời nói và hành động thiện, vô ngã không chấp trước. Cho nên khi nào nghe, thấy được lời nói và hành động ác ở người nào đó, là biết ngay thức A Lại Da của người ấy chưa được tiếp nhận cam lồ pháp vũ của Phật, tức là Phật tánh của người ấy đang bị nhận chìm bởi vô minh, phiền não. Và khi nào nghe, thấy được lời nói và hành động thiện của người nào đó, là biết ngay thức A Lại Da của người ấy đang được lột xác vô minh, tiến dần đến Bạch tỉnh thức, tức là Phật tánh của người ấy đang được tiếp nhận cam lồ pháp vũ của Phật. Đây là thời điểm của người biết tu tập Phật pháp. Người biết tu tập Phật pháp không hạn định là giới nào, mà hễ có nhận thức rằng, còn vô minh chấp ngã phiền não ác trược trong tâm là điều chướng ngại cho việc tu tập, cần phải tiêu trừ, dứt sạch cho hết, thì mới có thể yên tĩnh thân tâm trên bước đường tu tập, nên sau đó quyết tâm nhẫn nhục, tinh tấn ba la mật trong từng bước hành trì Phật pháp. Để chứng minh cho thấy người có nhận thức dứt trừ phiền não trên đường tu tập qua câu chuyện “Hạt Đậu Biết Nhảy” sau đây:

Giữa biên giới Tây Tạng và Tây Khương có một bà lão nghèo, sống cô cút một mình trong mái nhà tranh nho nhỏ. Cuộc sống vật chất của bà bằng nghề trồng trọt ngũ cốc trên vài sào đất. Vốn có thiẹn căn bồ đề, bà nhận thức rằng, con người và kiếp sống thực tại của bà đã và đang bị chìm lặn trong vũng sâu đầy khổ não, gian truân như vậy, là do quả báo nghiệp ác của đời trước đeo đẳng dày vò thân tâm của kiếp sống hôm nay là điều không thể tránh khỏi. Muốn ra khỏi sinh tử khổ đau ấy, là phải tu tập Phật pháp, trong đó có sám hối ăn năn , đừng tạo nghiệp ác nữa, thì các ác trược phiền não, vô minh, chấp ngã sẽ lần lượt bị tiêu trừ hết, là được có giải thoát sinh tử. Sau nhận thức đó, bà quyết chí đi tìm thiện hữu tri thức Phật giáo để hỏi thăm có cách nào làm cho tiêu trừ nghiệp chướng phiền não được an lạc thanh tịnh. Thế là bà được một khách hành hương* đã chỉ và hướng dẫn cho bà cách trì tụng câu thần chú ngắn 6 chữ “Om ma ni pát mi hôm” của Bồ Tát Quán Thế Âm rất cặn kẽ. Sau đó bà vui mừng và lẩm bẩm câu thần chú từ trên đường về nhà. Nhưng với tuổi già và không biết chữ, cho nên bà nhớ lộn âm “hôm” thành ra âm “khuya”. Từ đó bà cứ nhớ trong lòng “Om ma ni pát mi khuya”

Để giữ cho tâm yên tịnh đừng tạp niệm, bà để một cái bát có đậu nành, một cái bát không trước mặt cho việc trì tụng sau giờ không trồng trọt và buổi tối. Sau mỗi lần đọc xong câu thần chú như vậy, bà đưa tay lấy một hạt đậu từ bát có đậu bỏ qua bát không. Cứ như thế từ có qua không suốt 30 năm không ngừng nghỉ bữa nào. Ngoài ra bà còn trì tụng trong lúc cuốc đất trồng trọt trên nương nữa.

Với tâm thanh tịnh không hề bị tạp niệm, một lòng thành kính lên chư Phật và cương quyết trì tụng thần chú của bà lão, chính là năng lực mầu nhiệm, cho nên vào thời gian gần 30 năm, bà lão không cần đưa tay nhặt hột đậu, có lẽ do vì chí thành trì tụng mà quên nhặt. Ấy thế vậy mà những hột đậu từ bát có tự động nhảy qua bát không, sau mỗi lần đọc xong câu thần chú “Om ma ni pát mi khuya”.

Trước hiện tượng những hạt đậu tự động biết nhảy, bà lão vẫn giữ tâm thanh tịnh, tự biết mình đã hành trì đúng phương pháp và sự sám hối ở giai đoạn sắp sửa được viên mãn. Mặc dù như thế, bà lão an nhiên tiếp tục trì tụng thần chú, không sanh tâm tự đắc.

Vào một chiều nọ, có một vị cao tăng Tây Tạng đi ngang qua vùng đó, bỗng nhiên thấy có một vừng ánh sáng rực rỡ từ túp lều tranh tỏa ra. Vị tăng Tây Tạng bèn lấy làm kinh ngạc, nghĩ thầm trong lòng rằng hào quang trong mái nhà tranh kia đang chiếu rọi ra như vậy, phải là hào quang của những bậc đạo sư chứng đắc đạo quả Phật, Bồ Tát. Sau đó vị tăng Tây Tạng vào túp nhà tranh của bà lão.

Khi vào, bà lão không hay biết gì, vẫn ngồi trì tụng thần chú. Vị tăng đứng lắng nghe âm thanh “Om ma ni pát mi khuya”. Thấy dấu hiệu có người vào, bà lão quay lui, đứng lên chấp tay bái xá vị tăng, nhưng âm thanh “Om ma ni pát mi khuya” vẫn phát ra từ đôi môi của bà.

Sau giây phút thăm hỏi, vị tăng nhã ý với bà lão:

- Bà cụ ơi, bà đã đọc sai chữ chót của câu thần chú rồi.

- Thưa ngài, sai như thế nào, xin ngài chỉ lại cho con.

- Chữ “hôm” chứ không phải chữ “khuya”. Bà phải đọc “Om ma ni pát mi hôm” mới là đúng, đừng đọc “Om ma ni pát mi khuya”.

Sau lời sửa sai của vị tăng, bà lão nhận ra biết mình đã đọc sai suốt 30 năm qua. Từ đó bà rất là buồn cho sự nhầm lẫn trọng đại ấy, suốt 30 năm chỉ là giả tràng xây cát biển đông. Tuy vậy bà vẫn nói lời cảm ơn sự sửa sai của vị tăng.

Sau khi vị tăng chào tạm biệt bà lão ra về, bà lão tiếp tục trì tụng thần chú. Lần này bà tụng đúng “Om ma ni pát mi hôm”, nhưng trong lòng vẫn buồn rầu được xen kẽ lúc trì tụng, vì thấy rằng sự trì tụng 30 năm qua thật là uổng công, do đó bà vừa tụng vừa rơi nước mắt.

Vì thế cho nên, lần tụng câu thần chú sau này, những hột đậu không còn tự động nhảy nữa, do vì tâm bà bị rối loạn, mất thanh tịnh, do vậy ánh sáng hào quang kia cũng bị mất luôn.

Để quan sát lại nơi túp lều tranh của bà lão có còn tiếp tục ánh sáng ấy không, vị tăng đi một khoảng xa, đứng lại quay lui thì thấy túp lều tranh của bà lão bị chìm ngập trong bóng tối đen thật là đìu hiu và ủ dột vô cùng! Vị tăng liền giựt mình, nghĩ rằng mình đã hại bà lão ấy rồi, là làm cho bà mất thanh tịnh tâm, không còn tập trung tâm ý, bị rối loạn tâm, nên không còn hào quang chư Phật chiếu rọi nữa. Vị tăng liền vội vã trở lại lều tranh bà lão và nói rằng:

- Bà cụ ơi, lời ta nói lúc nãy với bà, chỉ là lời vui đùa thôi! Chứ câu thần chú mà bà đã tụng lâu nay mới đích thực là đúng.

- Con cám ơn Hòa Thượng. Vậy mà con tưởng rằng công lao trì tụng thần chú 30 năm bị trôi theo gió mây rồi!

Vị tăng đi rồi, bà lão vào tiếp tục tụng thần chú “Om ma ni pát mi khuya” như thuở nào.

Để xem lại sự tụng niệm của bà lão lần này ở câu “Om ma ni pát mi khuya” có được hiệu lực như cũ không, vị tăng lên trên đỉnh đồi nhìn xuống. Quả thật thấy túp lều tranh của bà lão được tiếp tục tỏa ra ánh sáng hào quang rực rỡ như xưa do tâm tư bà lão được an tịnh, tươi vui trở lại và cũng là lúc những hột đậu tự động nhảy trở lại.

(Phỏng theo “Những Hạt Đậu Biết Nhảy” – Bản tin Khánh Anh tháng 1 năm 2002, trang 21)

 

Qua câu chuyện trên cho ta thấy thức A Lại Da ở mỗi con người, bất luận giai cấp nào, hễ có tu tập Phật pháp đúng cách, đúng pháp môn, dù cho có tụng sai âm mà tâm thanh tịnh, không bị rối loạn đều được chuyển thành Bạch Tỉnh Thức.

Thức A Lại Da được chuyển đổi thành Bạch Tỉnh Thức được gọi là chơn tâm, tâm giác, tâm không, thiện tâm. Còn thức A Lại Da chưa được chuyển đổi thành Bạch Tỉnh Thức được gọi là tà tâm, ác tâm, vọng tâm. Từ đây cho ta thấy rằng tâm là chủ tể. Chủ có nghĩa là tự tại, an nhiên, không bị ngăn cấm, cản trở giống như ông chủ của một nước, nên chi muốn đi đâu, ở đâu cũng được vì do uy quyền làm chủ. Tể có nghĩa là cắt đặt, điều động, điều khiển, sắp đặt, sai sử… giống như quan tể tướng trong triều vua, là vị quan đứng đầu trong tất cả các quan với vai trò cắt đặt, sai sử trông coi việc triều chính quốc gia.

Tâm là chủ tể được ví như ông vua trong một nước. Đã là vua, có vua thiện và vua ác đều là chủ tể cai trị dân trong nước. Cho nên vua ác, vua thiện đều chủ tể, tự tại như nhau. Với ông vua có thiện tâm, nhân từ, đạo đức thì thường quan tâm đến đời sống toàn dân, chăm lo cho dân được an cư lạc nghiệp và ra lệnh tu tập Phật pháp. Còn ông vua có ác tâm, thì buông xuôi việc của dân, để mặc cho toàn dân ra sao đó thì ra, đói no mặc kệ, khổ ách mặc ai, vua an nhiên hưởng lạc, trác táng, sa đọa với cung phi mỹ nữ.

Hai ông vua nói trên, bên thiện bên ác, cả hai đều có sức mạnh uy quyền như nhau. Ông vua ác có uy quyền qua hành động ác. Ông vua thiện có uy quyền qua hành động thiện.

Cũng như vậy, tâm thiện và tâm ác, cả hai đều có lực chủ tể như nhau. Chủ tể của tâm thiện là tâm luôn luôn hằng chuyển trên dòng sống vô ngã, yểm ly, thanh tịnh, luôn vị tha, thường cứu giúp chúng sinh ly khổ đắc lạc về vật chất và tinh thần. Chủ tể của tâm ác, là tâm luôn luôn hằng chuyển trên dòng sống hữu ngã, ích kỷ, không cứu giúp chúng sinh một chút lợi lạc nào, ngược lại làm cho chúng sinh bị nghèo đói, khổ nạn…

Cho nên tâm là chủ tể của lục đạo và chủ tể của Phật đạo, Bồ Tát đạo, đúng như kinh văn nói: “Tâm giả, đạo chi chủ tể”. Đúng như vậy, có tâm là đó đạo, đạo theo tâm, tâm nào thì đạo ấy. Tâm Phật là có Phật đạo trong tâm. Tâm Bồ Tát là có Bồ Tát đạo trong tâm. Tâm nhân từ là có nhân đạo trong tâm. Tâm tu phước không tu huệ là có Thiên đạo trong tâm. Tâm sân hận và nghi ngờ là có Atula đạo trong tâm. Tâm hung bạo gây khổ đau cho tha nhân là tâm có địa ngục đạo trong tâm. Tâm tham lam bỏn sẻn là tâm có ngạ quỷ đạo trong tâm. Tâm si mê tham dục là tâm có súc sanh đạo trong tâm.

Qua tư tưởng “Tâm giả, đạo chi chủ tể” của kinh văn nói về chủ tể của tâm được qua phần giảng luận trên, cho ta thấy rõ thêm về vai trò của tâm, nó vừa chủ tể đạo nghiệp, vừa tạo tác ra đạo nghiệp, tức các chủng tử nghiệp thiện ác và cũng vừa thải hồi hay ngưng lại các đạo nghiệp mới do nhận thức hay không thích hợp, dù thiện hay ác. Cho nên tâm chủ tể bám sát theo đạo nghiệp đó từ thực tại cho đến đoạn cuối của cuộc đời, là một quy luật ắt phải không thể chối từ được, dù là đạo nghiệp cuối cùng đó, là đạo nghiệp Atula, ngạ quỷ… hay Phật đạo, Nhân đạo, Thiên đạo… tất cả đều là đạo nghiệp cả. Bởi vì một cõi đến của mỗi con người ở cuối đời tại cõi Phật, Trời, Người, hay ngạ quỷ… đều do quả báo nghiệp của đời trước là lực đến. Nói rõ thêm, tâm có lực về loại đạo nào, tâm liền liên kết với loại đạo đó trong đời này và đời sau.

Tâm chủ tể đạo, tạo tác ra đạo, đeo đẳng theo đạo như vậy, rõ thực mỗi người đều có nhiều tâm, nhiều đạo nối kết nhau không ngừng và cũng có khi chỉ có một tâm, một đạo. Nói nhiều tâm, nhiều đạo cũng đúng, nói một tâm, một đạo càng đúng hơn.

Một tâm, nói theo tiếng Trung Hoa là Nhứt Tâm, tâm đó là tâm Phật, Phật đạo là đạo giác ngộ, còn gọi là Bồ Đề tâm là con đường giải thoát sinh tử do qua quá trình học Phật và thực tập quán niệm mà đạt được đạo giác ngộ vô ngã.

Nhiều tâm, chỉ cho tâm vọng động, tâm mê, tâm vô minh do duyên với sắc trần mà có nhiều tâm. Hễ có nhiều tâm là có nhiều đạo, vì tâm là chủ tể tạo tác ra đạo, tâm chạy theo đạo, đạo hằng chuyển trong tâm liên tục, khi thì tâm Phật (Phật đạo), khi thì tâm người (nhân đạo), khi thì tâm trời (thiên đạo), khi thì tâm tham (ngạ quỷ đạo), khi thì tâm dục lạc (súc sanh đạo), khi thì tâm sân hận nghi ngờ (Atula đạo), và khi thì tâm hung dữ (địa ngục đạo). Cứ như thế mà hằng chuyển không dứt trên dòng tâm thức con người, dòng tâm thức đang chứa nhiều khối lượng vô minh phiền não, là lực tác động làm cho tâm khởi lên nhiều thứ đạo một khi tai nghe mọi thứ âm thanh, mắt nhìn đến nhiều đối tượng về sắc (vật chất) và người, liền hiển lộ ra những thứ đạo ấy ở lời nói và hành động thiện có, ác có. Ác nhiều hơn thiện, trong đó có đánh cắp, tước đoạt, bạo hành, mắng chửi, vu khống, bịa đặt, sách nhiễu… và nói thầm, chửi thầm, dán nhãn đối tượng… và hành động tôn giáo như lễ Phật, tụng kinh, nhưng sau đó khởi lên lòng tham đánh cắp vật dụng của thường trụ Tam Bảo một cách ngang nhiên tự thông qua chức vị tôn giáo của mình, đó là ngạ quỷ đạo bởi Phật đạo không vững mạnh ở giờ phút trước lúc tụng kinh lễ Phật.

Nhiều tâm, nhiều đạo như vậy gọi là tâm vô thường, tức là tâm không thường, luôn vọng động, biến chuyển liên tục theo từng sát na, giây phút. Trong mỗi sát na, giây phút như vậy, tâm con người phàm phu chưa thấy đạo vô ngã, đều thường khởi lên vô số tâm, vô số đạo, hết tâm này đến tâm khác, hết đạo này đến đạo khác ẩn hiện, đổi thay, biến động trên dòng tâm.

Tâm vô thường biến chuyển là lực dẫn đến bất an, không chánh niệm, loạn động, không có định lực… Tâm như vậy khó có thể sanh trưởng trí tuệ. Không có trí tuệ, không thấy đạo để hành, dù pháp môn niệm Phật cầu vãng sanh là pháp môn đơn giản, dễ nhất, nhưng vẫn có đạo lý niệm Phật, đó là đạo lý “nhứt tâm bất loạn”, do vậy tâm niệm Phật là tâm theo đạo “nhứt tâm bất loạn”. Cho nên tâm không có trí tuệ không thể đạt đạo giác ngộ vô ngã (Phật đạo, Bồ Đề tâm).

Vì thế cho nên, chư Phật đều có cùng lời dạy cho hàng phàm phu ai muốn đạt đạo vô ngã giải thoát sinh tử, vãng sanh Cực Lạc, trên vận hành học và tu tập Phật pháp, là phải thường hằng đưa tâm an trú vào chánh niệm, tĩnh lặng, thanh tịnh (tự tịnh kỳ ý) đó là tâm Phật, Phật đạo. Tâm thường an trú vào định, thanh tịnh như vậy, được chư tổ gọi là “thường lạc ngã tịnh”.

Bốn chữ “Thường Lạc Ngã Tịnh”, chính là chư tổ nhắc nhở hàng Phật tử trên bước đường tu tập luôn nhớ là đừng để tâm trụ vào sắc trần mà sanh ra nhiều tâm, nhiều đạo, làm cho tâm không được an ổn, mất định lực, vắng bóng trí tuệ. Vì vậy chư tổ, chư tôn đức thường có lời chúc các Phật tử “Bồ Đề tâm tăng trưởng hay Phật đạo tăng trưởng, Phật sự viên thành”. Các ngài không nói, không chúc “Đạo tâm tăng trưởng”, bởi vì tâm có nhiều đạo, thì đạo tâm đó là đạo nào trong tâm mà chúc được tăng trưởng? Cho nên phải dùng cụm từ “Bồ Đề tâm” để chúc nhau mới đúng lý nghĩa của lời chúc trong Phật giáo.

Tâm vô thường là tâm thường vọng động bất an, luôn biến chuyển, là lúc Phật tánh bị các thứ vô minh, phiền não nhận chìm nên không thấy chân lý, chánh đạo, chỉ thấy tà đạo, tham vọng, chấp ngã… tâm đó được gọi bằng tên Thức A Lại Da. Tâm thường hằng tịch tịnh, vắng lặng, là lúc Phật tánh hiển lộ hẳn lên nên thấy được chân lý, chánh đạo, tâm đó được gọi bằng tên Bạch Tỉnh Thức, tức là Thức A Lại Da bị lột xác vô minh được chuyển hóa thành Bạch Tỉnh Thức. Cả hai tên Thức A Lại Da và Bạch Tỉnh Thức đều là hậu thân Như Lai tạng (Phật tánh). Cho nên tâm con người biết tà đạo, vọng động, chấp ngã của hạng phàm phu chưa giác ngộ đạo lý vô ngã, cũng do từ gốc rễ Phật tánh mà có. Và tâm con người biết chánh đạo, xả ly hết mọi vọng chấp, chấp ngã của hàng thức giả giác ngộ, cũng do từ gốc rễ của Phật tánh mà có, chứ không do một thứ lực nào khác.

 

Do tánh biết siêu việt của Phật tánh nằm sâu trong nội thức con người, nên một tâm ý con người mà có hai cái biết tà đạo, vọng động, chấp ngã và cái biết chánh đạo, chơn lý, vô ngã. Tâm biết tà đạo, chấp ngã được ví như một chân sư đạo đức bị các bạo lực đạo tặc bắt giam vào ngục thất và bắt nói và làm theo chúng. Còn tâm có cái biết chánh đạo, chân lý vô ngã được ví như vị chân sư đạo đức trước đó bị đạo tặc bắt giam, nay được thoát khỏi bàn tay đạo tặc nên sống trong môi trường tự do an nhiên đi lại đó đây.

Một chân sư mà ở vào hai môi trường khổ nạn và tự do được biểu thị cho trong tâm con người chỉ có mộ Phật tánh thôi, mà ở vào hai ngôi nhà tâm linh, một động, một tịnh, khi thì động, khi thì tịnh, động nhiều hơn tịnh.

Đã là bậc chân sư, nên dù ở vào môi trường khổ ách, khổ nạn hay thảnh thơi, tịnh lạc, tự do… thân tâm chân sư vẫn thở theo chánh niệm, không bị chết lịm, âu sầu, trí năng không bị mất, sáng rực như thường, giống như hạt kim cương gói trong miếng vải dơ.

Cũng như vậy, Phật tánh trong tâm con người an trú trong chánh niệm tỉnh thức hay bị các chất ô nhiễm vô minh bao phủ làm rung động chấp ngã… Phật tánh vẫn là Phật tánh, tồn tại, sinh động chứ không bị mất tánh biết siêu tuyệt (chánh đạo – tà đạo).

Do tánh biết siêu tuyệt của Phật tánh mà có ra vạn hữu chúng sinh, Cực Lạc, Thiên Đàng, lục đạo, luân hồi và vô số thế giới chư Phật, Bồ Tát, chúng sinh ngoài không gian vô tận.

Nói một cách khác, tâm ý con người có biết chánh đạo, tà đạo là do Phật tánh, bởi vì Phật tánh là người thật của con người, là sinh mệnh của con người phàm phu chưa giác ngộ, là pháp thân của chư Phật, Bồ Tát, là người phàm phu đã được giác ngộ. Cả hai tánh biết chân lý, chánh đạo đó là Phật, Bồ Tát và tánh biết tà đạo, chấp ngã, đó là chúng sinh phàm phu đều gọi là HằngChuyển. Tính chất Hằng Chuyển của Phật tánh trong tâm của vô số loại chúng sinh trong tam giới, lục đạo luân hồi và chư Phật, Bồ Tát… là tính chất duyên sanh tự nhiên, không do một đấng siêu nhiên nào sáng tạo. Do vậy chúng sinh thành Phật, Bồ Tát, Phật tánh hằng chuyển ở mức độ thanh tịnh, trong sáng. Chúng sinh được thác sinh về Cực Lạc, Phật tánh vẫn hằng chuyển ở mức độ tỉnh thức. Chúng sinh trong các cõi Trời, cõi Người, Phật tánh vẫn hằng chuyển ở mức độ tịnh có, động có. Chúng sinh bị thác sinh vào các loại Atula, Ngạ quỷ, Súc sinh, Phật tánh hằng chuyển ở mức độ điên đảo, vọng động, tối tăm…

Phật tánh được thoát ra khỏi các thứ vô minh, phiền não, ác trược rồi, sự hằng chuyển của Phật tánh duy nhứt chỉ có một trạng thái thường hằng vắng lặng thanh tịnh. Nhưng vẫn biết hết cả mọi ý niệm và vô số  hình thái sinh hoạt trong đời sống của muôn loài chúng sinh trong 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc giới. Chứ không phải ngồi im cứng cỏi như cát bụi, sỏi đá. Cho nên với các bậc Tăng, Ni và Phật tử chân tu có Phật lực từ bi, trí tuệ thanh tịnh vô ngã, dù chưa được tiếp xúc hay nghe thấy chư Phật, Bồ Tát, Hộ Pháp, Chư Thiên, Thánh Hiền, mà vẫn được chư Phật, Bồ Tát… quan tâm hộ niệm cho có được nhiều thành quả Phật sự hiện thực.

Còn Phật tánh chưa được thoát khỏi các thứ vô minh, triền phược, phiền não, sự hằng chuyển của Phật tánh rất đa dạng, động có, tịnh có, chan hòa đổi thay. Trạng thái đa dạng động, tịnh, đổi thay này chính là lực của vô minh, phiền não, ác trược tạo ra chứ không phải Phật tánh được Duy Thức Luận thay vào đó bằng tên A Lại Da thức, thức chủ tể, chủ động tạo ra nhiều trạng thái động, tịnh. Cho nên A Lại Da thức được gọi là Tâm Vương hay là Căn Bản thức. Vì là Tâm vương chủ tể, nên A Lại Da thức có nhiều vai trò, nhiều tên khác như Dị Thục, Tâm, Tư Lương, Mạt Na, Ý… Bởi vì do bản thân con người có 5 cái biết ngoài thân đó là Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi và Thân, cho nên A Lại Da thức phải hằng chuyển liên đới với các cơ quan biết ở bản thân con người. Điều này được Duy Thức Luận nói về lực hằng chuyển của A Lại Da thức đối với 5 cái biết mắt, tai, mũi, miệng và thân bằng tên Ý hay Ý Thức: “Phạm vi hoạt động của ý thức rộng rãi vô cùng. Nó có quyền năng rất lớn, có thể trấn ngự các thức khác, hoạt động tự do tự tại, có thể tạo lập và thay đổi bản chất của đời sống cá nhân lẫn tập thể. Chính nó xoay con người lưu chuyển trong vòng sanh tử luân hồi, hay đưa con người thẳng đến bờ giải thoát; bởi vì chính nó là ý nghiệp, là thức đóng vai trò tạo nghiệp, là động cơ chủ yếu đưa tới các hành động thuộc về thân thể và ngôn ngữ” (Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản – Hạnh Cơ, Trang 157).

Qua lời giảng luận trên của Duy Thức về vai trò hoạt động của Ý Thức, cho ta thấy nhờ tính chất hằng chuyển của Phật tánh, mà tâm ý chúng sinh trong lục đạo nói chung, con người nói riêng, dù hung hãn tàn ác bạo ngược đến đâu cũng có lúc thức tỉnh, ăn năn, sám hối các hành động lầm lỗi, tội ác đã tạo ra trong quá khứ nhân cơ hội được nghe hay đọc đến đạo lý nhân quả của Phật. Hay khi bị lâm vào hoàn cảnh ách nạn, khốn đốn khổ ải, môi trường có gươm dao, súng đạn đang đến bởi các bạo lực không thể tránh khỏi cái chết; tâm ý con người  lúc bấy giờ tức khắc nhận chìm các ý niệm phiền não vọng động xuống tận đáy lòng, liền khơi dậy Phật tánh vùng lên là năng lực định tâm, làm cho thân tâm đi vào trạng thái tĩnh lặng hay chấp tay quỳ gối, mặt hướng lên hư không hay hình tượng tôn giáo của mình cùng với lời cầu nguyện thầm hay ra tiếng nho nhỏ để xin được cứu khổ, cứu nạn.

Tâm thanh tịnh và lời cầu nguyện thiết tha xin đấng siêu phàm tôn giáo của mình, hay thần thánh cứu khổ, cứu nạn… chính là tâm lực giao cảm, nhưng chỉ giao cảm được với chư Phật, Bồ Tát trong Phật giáo. Bởi vì tâm thanh tịnh tối đa tột cùng xuống tận đáy lòng ấy, là tâm Phật, Bồ Tát, gọi là nhứt tâm bất loạn, dù ở bất cứ người Phật tử hay không Phật tử, hễ ai có tâm thanh tịnh tột cùng ấy là đồng thể tánh rỗng lặng với chư Phật, Bồ Tát, đúng như lời Phật nói: “Phật, chúng sinh tâm thường rỗng lặng. Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn”. Cho nên, dù tâm thanh tịnh chỉ vài mươi phút hay hơn nữa, trong thái độ cầu nguyện một cách thiêng liêng không có đối tượng tôn giáo, hay có đối tượng tôn giáo của người cầu nguyện, nhưng đối tượng tôn giáo của người cầu nguyện không hiện ra cứu khổ, trái lại Bồ Tát Quán Thế Âm của đạo Phật hiện ra cứu khổ một cách hiện thực sau khi nghe lời cầu nguyện và thấy rõ môi trường của người đang bị hoạn nạn, khổ ách.

Để chứng minh lực thanh tịnh tâm trong lúc cầu nguyện lên chư Phật, Bồ Tát xin cứu khổ ắt được có hiệu lực qua câu chuyện vị Bốc Sư được báo trước có sóng thần:

Bốc Sư đã báo trước về sóng thần. NAM VANG, Cambodia.- Cựu quốc vương Cambodia, Norodom Sihanouk, cho biết cách đây không lâu, có một vị bốc sư ở trong nước đã báo động trước cho ngài rằng sẽ “có một thiên tai khủng khiếp sắp xảy ra”, tuy nhiên đất nước Cambodia sẽ thoát khỏi thiên tai khủng khiếp đó, nếu theo đúng các nghi lễ cúng kiếng giải nạn, được tuân theo.

Quốc vương Sihanouk, từng thoái vị hồi năm ngoái, cho biết tiếp: “Ngay sau lời báo động đó, hoàng hậu và tôi đã quyết định chi tiêu đến vài ngàn đô la, để tổ chức lễ cúng kiếng, hầu giải cái nạn đó, nhờ vậy đất nước và dân chúng Cambodia mới thoát khỏi được thiên tai trên…”

Cambodia hầu như không bị thiệt hại gì hết, tiếp theo trận động đất đo được 9.0 độ tại lân bang Indonesia, và sau đó đã đưa đến các đợt sóng thần cao đến cả 30 feet (10mét) vào hôm 26 tháng Mười Hai khắp vùng Nam Á và lan tận đến Thái Lan, một nước láng giềng khác của Cambodia, làm thiệt mạng chung đến gần 150,000 người và khoảng 5 triệu người không còn nơi cư trú và trắng tay luôn.

Cựu quốc vương Sihanouk đã gởi lời chia buồn đến các gia đình nạn nhân của các nước vừa chịu thiệt hại nặng nề vì sóng thần trên, trong khi ngài cũng gởi giúp 15,000 đô la cho mỗi nước, trong số 10 nước chịu thiệt hại về sóng thần trên, trong thời gian vừa qua. (L.T.) (Tuần báo Người Việt San Diego).

 

 

 

CHƯ VỊ BỒ TÁT THỊ HIỆN CỨU KHỔ

CHÚNG SANH BẰNG NHIỀU HÌNH ẢNH

HỮU TƯỚNG VÀ VÔ TƯỚNG

 

Vấn đề người trong đạo Phật ở giới xuất gia Tăng, Ni hay tại gia Cư Sĩ, Phật tử, ai được luôn có tâm thường hằng thanh tịnh, dù có chí thành hay không chí thành cầu nguyện lên các Bồ Tát, các Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm vẫn ứng trực, thị hiện ra để hộ trì, cứu khổ nạn, là chuyện thường tình phổ biến từ xưa nay tại các quốc gia có đạo Phật, ai cũng nghe, biết đến điều đó. Không những đối với người trong đạo Phật, mà các vị Bồ Tát còn đối với những người ngoại đạo khi bị khổ ách, khổ nạn, cất cao lời cầu xin đấng siêu nhiên của tôn giáo họ, nhưng các Bồ Tát trong đạo Phật vẫn hiện ra cứu khổ họ, là chuyện lạ kỳ mới đáng nói, nhất hạng là Bồ Tát Quán Thế Âm thường hiện ra cứu khổ.

Để chứng minh cho thấy Bồ Tát Quán Thế Âm trong đạo Phật thường thị hiện nhiều hình ảnh khác nhau để cứu con người được thoát khỏi hoàn cảnh ách nạn một cách bình đẳng qua một số câu chuyện hiện thực từ đông sang tây sau đây:

 

1. Một Linh mục X nước Bồ Đào Nha được Bồ Tát Quán Thế Âm cứu cho thoát chết.

Bản chất của người Nhật từ ngàn xưa đến nay luôn luôn bài ngoại, không muốn người nước khác đến định cư trên nước mình, nhất hạng là các tôn giáo ngoài Phật giáo lại càng bị ngăn cấm quyết liệt. Cho nên dưới thời Mạc Phủ, chính quyền đã ngăn chặn cấm ngặt các thương thuyền phương Tây không được vào buôn bán trên tất cả các đảo của Nhật. Tuy nhiên trước cao trào giao thương của thế giới với nhau là quy luật phát triển kinh tế, không thể nào không mở cửa hải quan, do vậy chính quyền Mạc Phủ làm ngơ có giới hạn, nhưng chỉ cho các thương gia thuần túy, không cho các Linh mục Thiên Chúa giáo, nên quân đội chính quyền Mạc Phủ luôn kiểm soát dân chúng bản xứ trên các đảo xem có ai theo đạo Chúa không, bằng cách bắt dân bước qua thập tự giá. Nếu không chịu bước tức là có theo đạo Chúa, sẽ bị hành xử khổ nhục bản thân bằng nhiều cách. Ấy thế vậy mà tại một vài đảo đã có xuất hiện các Linh mục Bồ Đào Nha giả dạng thương thuyền vào đó truyền đạo Chúa. Sau khi chính quyền Mạc Phủ biết được, liền cho quân đội hành quân đột xuất nên đã bắt được quả tang trong một số nhà dân có tượng Jesus, Maria, thánh giá, cũng như phát hiện có một vài nhà vừa mới tạo dựng không giống hình dáng nhà Nhật mà giống nhà thờ Thiên Chúa, trong đó có bàn thờ Jesus, Maria, thánh giá trên các cửa. Người trú ngụ trong nhà ấy là ông Tây mũi lõ, da trắng cao nhồng. Chính đó là những Linh mục Bồ Đào Nha. Họ bị quân đội bắt đi, không thấy trở lại chốn cũ. Còn những người dân theo đạo Chúa đều bị cạo đầu, đày lên ở núi tuyết, sau khi không tuân lệnh bước qua thập tự giá.

Tất cả các đảo nhỏ chung quanh TokyoKyoto lúc bấy giờ đều lần lượt bị quân đội Mạc Phủ hành quân lục soát. Biết được tin đó, số dân theo đạo Chúa và người Linh mục Bồ Đào Nha trên đảo Osaka hết lòng lo lắng, sợ hãi về tánh mạng của mình không thể tránh khỏi cái chết.

Trước tử thần đang đem lưỡi gươm đến cổ, không có cách nào hơn bằng đức tin Thiên Chúa. Qua nhận thức theo thói quen ấy, người Linh mục Bồ Đào Nha quỳ trước tượng Maria, khi cúi mặt, lúc nhìn lên, cùng tiếng đọc kinh giòn giả liên tục từ giờ này qua giờ khác, trong ban ngày lẫn ban đêm, suốt mấy ngày liền không rời chỗ, không ngưng tiếng đọc kinh, trong trạng thái vừa khẩn cầu thiết tha, vừa mệt mỏi. Do vậy, một đêm nọ ông ngã gục xuống sàn rồi ngủ thiếp. Trong giấc ngủ ông mơ thấy Bồ Tát Quán Thế Âm hiện ra với bình cam lồ và cành dương liễu trên tay, nhìn ông mỉm cười. Ông liền tỉnh giấc, vội vàng quỳ lên, nhìn tượng Maria trong im lặng với nỗi lòng thắc mắc: tại sao cầu khẩn Maria mà Maria không hiện ra, Bồ Tát Quán Thế Âm lại hiện ra mỉm cười với ông! Ông Linh mục Bồ Đào Nha này đã biết chắc hình tượng đó là Quán Thế Âm Bồ Tát trong đạo Phật mà toàn dân Nhật hết lòng thờ phượng, lễ lạy vì luôn được Bồ Tát Quán Thế Âm hằng cứu khổ ách nạn. Ông Linh mục Bồ Đào Nha đã nghiên cứu, biết rõ điều đó sau khi đến đất nước Nhật. Do vậy ông thầm nghĩ rằng Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ cứu ông thoát chết bằng cách nào đó. Bỗng nhiên, ông liền nghĩ ra phương cách là hủy bỏ hết tượng Maria, Jesus, được thay vào đó duy nhất là hình tượng Quán Thế Âm, rồi cũng tôn tượng lên bàn và lễ bái, tụng niệm theo nghi thức truyền thống của Thiên Chúa, có sao đâu. Như vậy may ra thoát chết khi quân Mạc Phủ vào khám xét, thì cứ trả lời thẳng thừng Bồ Tát Quán Thế Âm. Và nếu quân đội Mạc Phủ không tin, bắt bước qua tượng, thì trong lòng cứ nghĩ rằng bước qua tượng Quán Thế Âm Bồ Tát chứ không phải Maria để tránh phạm tội chà đạp lên hình tượng tôn giáo của mình. Sau ý nghĩ ấy, Linh mục Bồ Đào Nha liền tự mình thực hiện và truyền đạt ra cho số người dân lỡ theo đạo Chúa cùng thực hiện những phương pháp mà ông đã nghĩ ra.

Quả thật, không lâu, đảo Osaka là điểm cuối cùng bị quân đội Mạc Phủ bất chợt hành quân lục soát từng nhà dân, nhà thờ vào lúc rạng đông. Lục soát rất kỹ trong im lặng, không hỏi gì hết, không thấy dấu tích nào về Jesus, Maria, chỉ thấy hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm trên bàn thờ. Thế là bản thân người Linh mục Bồ Đào Nha và một số dân theo đạo Chúa được thoát chết.

Để được bình an lâu dài, không còn bị quân đội Mạc Phủ tái khám xét, Linh mục Bồ Đào Nha vẫn duy trì tượng Bồ Tát Quán Thế Âm trên bàn thờ, mà cứ việc đọc tụng, hành lễ theo nghi thức Thiên Chúa từ đó cho đến khi ông qua đời. Những Linh mục kế tiếp tại nhà thờ đảo Osaka sau đó, vẫn tiếp tục truyền thừa duy trì hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, không thể phá bỏ được. Bởi vì thấy được lòng từ bi bao la của Bồ Tát Quán Thế Âm đã hiện ra cứu khổ nạn cho họ không phân biệt người Tây, người Nhật, hễ nghe tiếng cầu xin cứu khổ, là hiện ra để cứu qua nhiều hình ảnh khác nhau, mặc dù người đang bị khổ nạn không gọi đích danh ngài như Linh mục Bồ Đào Nha đâu có niệm đến Quán Thế Âm! Mà Bồ Tát Quán Thế Âm vẫn hiện ra chỉ cho cách tạo dựng hình tượng ngài mà được thoát nạn. Vì vậy, các Linh mục kế thừa đã ghi ân cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm, nên chi đã đề một cụm từ dài dưới tượng Quán Thế Âm “Quán Thế Âm Maria”.

Tại nhà thờ trên đảo Osaka từ dạo đó cho đến nay đã qua nhiều thế kỷ rồi, vẫn còn cốt tượng Quán Thế Âm Maria ấy.

Trong quá khứ và hôm nay, tất cả du khách trên thế giới đến du lịch ở Nhật đều đến nhà thờ Thiên Chúa ở đảo Osaka để chiêm bái tượng Maria Quán Thế Âm Bồ Tát mang tính cách cổ đại và huyền sử.

 

2. Bồ Tát Quán Thế Âm cứu người trên biển thoát cơn bão tố.

Mùa thu là mùa của vợ chồng Ngâu gặp nhau hoà tấu bản nhạc có muôn điệu: khi nồng nàn gió giật, lúc ẻo lả mơn trớn lên cây rừng, cỏ nội, ngàn hoa, rồi lại ái ân tự tình làm mát mặt đá ghềnh, qua giận hờn làm lùm tre nghiêng ngã huýt gió… Mùa thu là vậy! Ấy thế vậy mà những con tàu gỗ VN chả sợ gì bản nhạc muôn điệu của vợ chồng Ngâu, cứ mặc tình ra khơi đã hơn một mùa thu trước đây.

Người biết rõ hơn ai hết về hoàn cảnh khổ nhiều, vui ít, sống chết trong đường tơ kẽ tóc của dân ta trên những con tàu Việt giữa lòng đại dương đầy âm u mịt mù sương khói, khổ lụy ra sao, đó là những ông quan to, quan nhỏ ngày xưa có thân nhân ra khơi tìm vùng Sao Bạch sau mùa xuân 1975.

Ông đại tá X, người đồng nghiệp tù nhân chính trị với các thầy tuyên úy Phật giáo tại trại Nam Hà, ông có hiểu biết rộng về Phật pháp, vì ông là người con của xứ Huế, kinh đô văn hóa Phật giáo, ông có con ra khơi đi tìm vùng Sao Bạch. Do vậy, một sáng nọ, hôm ấy là ngày không lao động, sau khi thăm nuôi vào, ông mời các thầy tuyên úy hàn huyên tâm sự qua chén trà, viên kẹo, được bày biện bên góc tường căn nhà một, dưới tàng cây điệp xanh tươi, hoa đỏ đang khoe sắc thách thức với cái nắng nung người của mùa hè ở xứ đá vôi Ba Sao, cho nên mọi cuộc hàn huyên nào nhỏ, lớn của người tù cải tạo đều là hạnh phúc lớn.

Giữa giây phút, các thầy đang nâng chén trà, ông đại tá X cất cao tấm lòng qua trạng thái trịnh trọng, nhưng âm thanh lời nói không cao, thấp xuống một cách khe khẽ: “Thưa Thượng Tọa giám đốc (HT Thích Thanh Long) và các thầy. Hôm nay con được một niềm vui lớn, xin nói ra để các thầy cùng vui với con, đó là hai đứa con của con, một trai một gái, ở tuổi học sinh trung học đệ nhị cấp, trên đường vượt biên đã được Bồ Tát Quán Thế Âm cứu nạn bằng cách xua đi cơn bão lớn trên biển vào mùa thu 1982, nay hai cháu đang được định cư tại Hoa Kỳ sau gần một năm sống lây lất trong trại tỵ nạn ở đảo. Hai cháu được đến nước Mỹ giữa tháng 6 năm này 1983. Để các thầy thấy bạo lực hung hãn nào của thế gian, đất trời đến đâu, rồi cũng bị tan biến bởi lực đại từ bi, đại trí tuệ bình đẳng của chư Phật, Bồ Tát qua thư của cháu gởi về được kể rõ sau đây, con xin đọc”. Nói xong, ông đại tá X lấy xấp thư ra từ cái túi của chiếc áo màu hoa rừng, loại áo trận năm xưa, nay ông vẫn còn mặc, ông đọc:

- Ba má ơi, chúng con đã được Cao Ủy Liên Hiệp Quốc cho được định cư tại Hoa Kỳ. Hôm gọi tên, hai con mừng quá cỡ! Nhưng cái nỗi mừng vui lớn nhất, đó là được Bồ Tát Quán Thế Âm cứu cho được thoát khỏi cơn bão lớn trên biển vào mùa thu năm rồi 1982 mới đáng nói, vì nhờ Bồ Tát Quán Thế Âm xua đi cơn bão, mà chúng con và mọi người trên tàu mới có niềm vui  nhỏ hôm nay là được sống, được vào nước Mỹ hoa lệ.

Ba má ơi! Ba má biết không, tàu con đi ra khơi lúc sáng sớm tinh mơ, nhưng bình minh cứ còn ngái ngủ trong tấm chăn mây đen xám xịt, loại mây đen ở vừng đông là loại mây chứa nhiều nước, khi mưa xuống là mưa dữ dội như thác đổ, mà dân ta thường nói “mưa vừng đông, vừa trông vừa chạy”. Cho nên hơn 60 người trên tàu, ai cũng nửa lo lắng, nửa mừng. Lo vì sợ bão, mừng vì sẽ được hứng thêm nước vào bình.

Nhưng niềm vui không được tồn tại trong lòng mọi người, trái lại nỗi lo lắng, sợ hãi đang nhen nhúm tồn tại trong lòng mọi người vì mây đen đang hàng hàng lớp lớp đuổi nhau chạy khắp bầu trời, chứng tỏ đang có gió lớn trên không. Mặt nước biển lúc bấy giờ trở thành màu hoàng hôn, dù đồng hồ trên tay con mới 10 giờ 21 A.M. Đến 12 giờ 15 mây đen tản mỏng trở nên màu xám khắp cả không trung, với gió cấp 2 và hạt mưa rơi nghiêng nghiêng lất phất rì rào trên boong tàu. Sóng biển cũng đồng tình nổi lên õng ẹo làm cho con tàu bực tức đổi thái độ từ yên lặng lướt sóng sang lắc lư chòng chềnh lúc cao, lúc thấp. Mọi người trên tàu, tất cả ngồi im, không nói nên lời, nhìn nhau bằng đôi mắt lo âu, thấy có người nhốp nhép ở đôi môi, có lẽ họ niệm Phật, niệm Thánh Thần, niệm Chúa gì đó. Hai tụi con đã niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm từ lúc bước xuống tàu vì nhớ lời má dặn tụi con niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm trong những ngày chuẩn bị ra đi kìa.

Đang giữa không gian yên lặng, bỗng có tiếng nói lớn: “các ông, các bà, chú bác lo mà niệm Phật, niệm Chúa đi, bão lớn đang tới đêm nay đó!”, tiếng của ông lái tàu từ buồng máy nói vọng lên. Sau đó đôi môi mọi người nhốp nhép mạnh, lia lịa hơn trước, gần như phát ra âm thanh thì thầm. Qua cung điệu thì thầm ấy, con biết môi người nào đang niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, người nào niệm kinh Chúa, Thánh Thần. Đa số đôi môi mọi người có cung điệu Quán Thế Âm.

Trời đang về chiều trên mặt đồng hồ ở 3 giờ P.M., da trời chẳng những không cởi bớt chiếc áo màu lam đậm, lại trùm thêm chăn màu khói cao su, nhưng mây không lang thang nữa, ôm nhau dancing điệu tăng-gô tại chỗ do vì cơn gió cấp 3 đang quần vũ xuống thấp trên biển, làm cho thân con tàu lúc bấy giờ như gã say rượu, vũ khúc tăng gô lên cao, xuống thấp, có lúc gần như muốn xuống đáy đại dương để làm bạn với các loài thủy tộc cỡ lớn, cùng với muôn ngàn hạt mưa tạt mạnh vào thân tàu  có âm thanh như bắp nổ. Hơn 60 nét mặt con người trong thân tàu đều tái xanh, yên lặng nhưng thân miêng có cử động. Môi cử động do tâm dốc hết năng lực niệm Phật, cầu kinh. Thân cử động lắc lư qua lại do thân tàu ngã nghiêng bởi những con sóng gồng mình chống đỡ bão tố, gây họa lay cho con tàu một phen nhừ tử! Thân tàu nghiêng ngã nhừ tử, thân người trong con tàu cũng không kém phần mệt mỏi! Do vậy, có lúc thân người này bị ngã mạnh vào thân người đối diện, mặt người kia ngã xấp vào mặt người nọ, mà chả có ai tỏ thái độ giận hờn gì cả. Ba má biết không, có lần em con nó bật cười vì thấy mặt một bà ngã vào mặt người đàn ông đối diện làm cho ông ấy té ngữa ra sau, con liền đưa tay véo nó, nó liền ngồi im niệm Phật tiếp.

Cơn bão hãi hùng, ghê rợn ấy cứ tiếp tục gió lộng từng cơn, mưa rơi tua tủa rạt rào lúc nhỏ lúc to suốt đêm trường tối đen như mực không có một ánh đèn, chỉ thỉnh thoảng có ánh đèn pin lóe lên từ buồng lái cùng với lời trấn an của người lái tàu nhắc nhở mọi người đừng quên niệm Phật, niệm Chúa để được thoát cơn bão.

Cơn bão La Sát ác quỷ ấy càng về khuya gió càng mạnh hơn, mưa càng tua tủa rào rạt được nghe rõ trên boong tàu, ở mạn tàu cho đến 7 giờ A.M., 8 giờ A.M. sáng, con tàu vẫn ngấc ngư lờ đờ, chầm chậm trong ánh sáng lờ mờ, làm cho mọi người thấy rõ những hạt mưa rơi tạt vào, bóng dáng của con bão lảo đảo chung quanh con tàu. Lúc này mọi người hầu hết ngã rạp, nghiêng người vào thân tàu, nằm gục xuống sàn tàu, nhưng đôi môi của mọi người vẫn nhốp nhép niệm Phật, niệm Chúa.

Đến 10 giờ 35 A.M., cơn gió đang hùng hổ cuồn cuộn, bỗng nhiên đổi tốc độ cấp 2 rồi cấp 1 và dần dần thay vào với gió heo may. Mưa cũng dần dần rơi nhỏ hạt bay bay lất phất, con tàu chạy chậm lâng lâng trên mặt biển hết lắc lư. Mọi người đều ngồi dậy trong trạng thái tỉnh hồn, nhưng vẫn còn tiếp tục niệm Phật, niệm Chúa, cùng với lấy nước ra uống, bánh mì ra ăn và vén màn ở cửa sổ tàu, nhìn ra không gian biển cả, nhìn lên bầu trời như để rõ mặt cơn bão đã đi chưa. Một số người lên boong tàu, tụi con cũng lên đó luôn để quan sát bầu trời. Lúc bấy giờ mọi người và tụi con thấy mây xam xám từng đoàn lũ lượt bay về hướng tây bắc đất liền với thời gian hơn 3 tiếng theo đồng hồ ở tay con là 2 giờ 10 P.M. thì bầu trời hướng tây nam không còn mây lang thang nữa, mà là những cụm mây xám trắng có nhiều hình thù như ngọn núi, như cây cổ thụ, như con rồng, đại bàng, sóng biển… khắp đó đây trên không trung. Bỗng nhiên giữa khoảng trống không rộng lớn trên bầu trời, mọi người đều nhìn thấy hình tượng Đức Bồ Tát Quán Thế Âm hiện ra từ hình tướng nhỏ ở xa, rồi dần dần lớn và lớn cao ngất khoảng cả trăm mét trở lên, làm cho mọi người thấy rõ nét mặt của ngài, có đội mão quan âm, bình cam lồ, cành dương liễu trên tay trong trang phục áo choàng dài tha thướt, cả thân ngài trắng như bông gòn, giống y hệt như những pho tượng Quán Thế Âm bằng thạch cao trắng tại các chùa ở Sài Gòn vậy.

Trước hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm hiện hữu trên không trung như vậy, tất cả mọi người dưới hầm tàu, trên boong đều chấp tay hướng lên ngài nói lời báo ân, có người niệm lớn danh hiệu ngài, có người phát nguyện được vào trại tỵ nạn, các nước Âu Mỹ sẽ ăn chay trường, cạo đầu để đền đáp công ơn ngài đã cứu cho được thoát nạn cơn bão.

 

3. Bồ Tát Quán Thế Âm cứu sống ông Lời, người tù cải tạo lành xương sống.

Ông Lời và tôi cùng quê ở Phan Rý – Hòa Đa, nay là Bắc Bình, Bình Thuận. Ông ở làng Thoại Thủy, tôi ở làng Bình Thủy nay là Liêm Bình. Hai làng cách con sông cạn ngang qua quốc lộ một. Trong thời chiến tranh Pháp Việt (1945-1954), chùa, miếu, nhà dân đều bị bất an dưới sự kiểm soát của hai chính quyền, nên toàn dân và chư tăng các chùa phải di cư đến chỗ khác. Chùa Bửu Tích của ông anh họ tôi về Thoại Thủy, chùa Sơn Thọ về Chợ Lầu, Đa Phước. Dân làng cũng ra đi về hai nơi trên. Do đó ông Lời được ở sát bên chùa Bửu Tích mới sau khi xây dựng xong năm 1950. Nhờ vậy mà ông Lời được qua chùa lễ Phật, tụng kinh và học Phật pháp. Từ đó ông Lời và tôi là bạn đạo thâm tình với nhau suốt từ dạo đó cho đến nay, dù rất ít gặp nhau tại quê nhà, vì sự nghiệp sống và đạo pháp của mỗi người khác nhau. Cho nên trong thời đệ nhứt, đệ nhị VNCH, hai chúng tôi mỗi người một nơi xa xôi, tôi ở Nha Trang, ông Lời ra lập nghiệp ở Đảo Hòn, Phan Thiết, vừa làm ăn vừa tu niệm và hướng dẫn người trên đảo biết đọc kinh, học Phật pháp. Sau ngày 30.4.1975, ông Lời có đi học tập cải tạo tại trại Hàm Tân. Tại đây ông Lời bị rạng nứt xương sống do gỗ lăn đè vào lưng trong lúc lao động.

Lưng người bị chấn thương thì vô phương cứu chữa và cơn đau nhức không thể diễn tả nỗi, chỉ nằm ngữa một chỗ, không lăn qua, lăn lại được. Do vậy, anh em cải tạo ở chung phòng, thay nhau giúp đỡ ông Lời, người đút sắn khoai, kẻ cho uống nước và cõng đi tiểu giải, đại tiện ban ngày cũng như ban đêm.

Mặc dù giữa cơn đau nhức thấu xương tủy như vậy, mặt ông Lời vẫn tươi cười, bình tĩnh niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và tụng chú Đại Bi liên tục một cách thầm lặng trong tâm. Đến giữa đêm khuya của ngày thứ tư, đang trong giấc ngủ chập chờn vẫn còn niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, bỗng ông nghe có tiếng người sát bên giường: “Hãy nằm sấp xuống, nằm sấp xuống để ta mằn cho”. Ông Lời vừa mở mắt, thấy người đàn ông mặc áo tràng lam cúi xuống, đưa hai tay vào hông phải ông. Liền sau đó ông cảm thấy được nghiêng qua và nằm sấp xuống. Đồng thời ông nghe trên lưng ông có 10 ngón tay mằn lên, mằn xuống, vuốt qua, vuốt lại mà không thấy sự đau nhức nào. Chừng hai phút, ông nghe tiếng nói: “Lành rồi đó, hết đau rồi”. Ông Lời cảm thấy cơ thể ông lúc bấy giờ thật nhẹ nhàng, như lúc xưa, không còn bị đau nhức gì nữa. Ông liền ngồi dậy để nói lời cảm ơn người tù nào đó giữa đêm khuya có lòng đến chữa trị cho ông. Vì ông nghĩ rằng người đến mằn lưng ông, chỉ có người tù trong phòng thôi, chứ người ở phòng khác làm sao vào được khi cửa nhà tù được đóng, then cài kỹ lưỡng!

Sau ý nghĩ để nói lời cám ơn người bạn tốt, ông ngồi dậy, nhìn chung quanh không thấy có dấu hiệu nào thức giấc của hằng mấy chục tù nhân trong phòng. Tất cả đều ngủ say như chết với tiếng thở phì phì, khò khè to, nhỏ giữa không gian thật yên lặng trong ánh sáng lờ mờ của cây đèn dầu lửa được để dưới đất bên cạnh thùng nước tiểu, mà ngọn của nó thật leo lét được bao che bởi chai bia được cắt ra làm bóng. (Nội dung câu chuyện do ông Lời kể nhân chuyến tôi về thăm quê Phan Rý năm 1990 trước khi đi Mỹ).

 

4. Một cán bộ Huyện ủy thời Việt Minh được Bồ Tát Quán Thế Âm cứu sống.

Việt Nam trong thời chiến tranh Pháp Việt 1945-1954, toàn dân, nhất là thanh niên đàn ông đều bị lính Pháp nghi là cán bộ Việt Minh hết. Cho nên mỗi lần lính Pháp đi lùng Việt Minh ở các làng quê, bắt gặp đàn ông cày ruộng, làm rẫy, cuốc đất trên nương, hái củi ở bìa rừng, trên đường buôn bán, v.v… lính Pháp liền xả súng bắn chết hay bắt đem về đồn nhốt vào xà lim làm con tin, nếu đồn bót của họ bị lực lượng kháng chiến Việt Minh tấn công làm cho lính Pháp bị chết, bị thương, họ đem vài người dân ra hành quyết để trả thù.

Với các cán bộ Việt Minh chính tông có tên tuổi, được lừng danh về chức vụ huyện ủy, tỉnh ủy, bí thư, quân ủy… là mục tiêu chính quyền Pháp nhắm đến để tiêu diệt.

Ông Vinh người làng Xuân An xã chợ Lầu, Hoà Đa, Bình Thuận, là cán bộ Việt Minh giữ chức vụ huyện ủy, kiêm quân ủy địa hạt Hòa Đa vào năm 1950, bị lính Pháp bắt tại bìa động Lương Sơn thuộc xã Chợ Lầu trên đường trở lại chiến khu sau khi về lấy lương thực tại gia đình.

Ông Vinh là một Phật tử theo mẹ đi chùa Xuân An từ lúc nhỏ, được mẹ ông dạy cho ông biết niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm để được an bình và thoát khỏi tai ách, khổ nạn trong cuộc đời. Do vậy ông luôn nhớ niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm suốt trong thời gian kháng chiến chống Pháp trên bước đường hành sự chức vụ đó đây.

Quả thật, giữa lúc đôi chân ông đang bước nhanh trên cát, miệng ông niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, ông nghe một tràng tiểu liên nổ dòn rất gần ở hướng đông quốc lộ một. Ông dừng chân, quay lui, thấy hằng chục tên lính người Pháp, người thượng (Ra đê), người Chàm vừa lom khom, chỉa súng chạy tới và nói tiếng Việt lơ lớ “Việt Minh, đứng lại, giơ tay lên”. Ông chưa kịp đưa tay lên, đã bị chúng nhào tới vật xuống, trói ké ra sau, dẫn về đồn Chợ Lầu, rồi giải giao xuống quận Hòa Đa, bị nhốt vào xà lim âm u và nóng bức.

Tại các môi trường bị khổ thân ấy, ông Vinh vẫn định tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm liên tục không ngừng nghỉ, dù trong lúc được dẫn đi đại, tiểu, ăn cơm vắt, uống nước lã và tiếp tục bị cùm chân trong xà lim, ông không ngừng nghỉ niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Ông bị nhốt xà lim đã qua 5 ngày rồi mà không thấy họ đá động gì đến ông. Ông không thèm quan tâm đến, cứ tiếp tục nằm im nghe từng câu niệm Phật Quán Thế Âm trong tâm lúc thức. Khi ngủ thì không niệm, tỉnh giấc là niệm.

Vào một đêm, đang niệm, thì tâm ông đi vào cơn ngủ chập chờn, nửa mê nửa tỉnh. Giữa cơn ngủ chập chờn ấy, ông thấy có người đàn ông mặc chiếc áo tràng màu xám từ cửa xà lim đi tới trước mặt ông và nói: “Ngày mai họ sẽ thả con về”. Ông liền mở to đôi mắt, không thấy ai cả. Ông không đem tâm luận bàn gì đến hiện tượng hiện hữu đó, ông muốn nằm im tiếp tục niệm Phật Quán Thế Âm, không hay biết gì trời đã sáng hay chưa. Do khí hậu nóng của mùa hè tháng năm đang về, làm cho ông thấy nóng, mở mắt ra, ánh sáng mặt trời đã sáng rực nơi lỗ thông hơi trên vách xà lim. Qua ánh sáng rực rỡ trên lỗ thông hơi, ông đoán là cỡ 9 giờ sáng. Nhưng sao hôm nay, tới giờ này mà chưa thấy cai ngục vào mở cửa, dẫn đi tiểu giải. Qua ý nghĩ ấy, chẳng bao lâu, có tiếng xi xô ngoài cửa, rồi tiếng thanh sắt ra khỏi cửa, ánh sáng ùa vào mắt ông, đuổi bóng tối xà lim, thay vào đó cái ánh sáng nửa trong nửa đục và mang theo những mùi ngai ngái của súng đạn, mốc meo hòa quyện nhau.

Giữa ánh sáng đục, trong ấy, có hai tên bạo quyền, một cao là ông Tây có mang quân hàm 2 cánh gà trên cánh tay áo, một thấp là binh nhì người Thượng, cũng là cai ngục thường bữa mở và đóng cửa xà lim. Người binh nhì cai ngục mở cùm và nói tiếng Việt lơ lớ: “Việt Minh ngồi dậy, đi ra lên văn phòng”. Sau lời nói chỉ thị lên văn phòng, người cai ngục liền đi mau ra cửa đứng đối diện với ông Tây, rồi quay vào ngoắc ông Vinh ra. Ông Vinh vừa ra khỏi cửa xà lim, người cai ngục nói lớn “đứng lại”. Ông Vinh đứng yên, ông Tây đi trước, người cai ngục bảo ông Vinh đi theo ông Tây, người cai ngục đi sau ông Vinh.

Tại văn phòng, ông Vinh được ngồi ở giữa một khoảng rộng, mà đối diện ông là hai ông Tây, một ông Việt. Ông Tây lớn là quan ba quận trưởng thuộc chính quyền cai trị. Ông Tây nhỏ ngồi bên phải ông Tây lớn là thơ ký với bàn đánh máy chữ trước mặt. Bên trái của ông quan ba Tây là ông Bang tá CH người Việt, đại diện cho chính quyền thuộc địa (bị cai trị).

Ông quan ba Tây nói xi xô, xi xa một hồi, rồi ngưng, nhìn qua ông Bang tá CH như ra hiệu thông dịch. Ông Bang tá CH liền nhìn ông Vinh nói: “Này anh Vinh, ông quan ba Tây nói rằng hai đêm qua, trong giấc ngủ, ổng thấy có một người đàn ông mặc áo dài màu xám tha thướt hiện ra trước mặt và nói lời yêu cầu ổng thả anh về. Ổng cho rằng người hiện ra đó là ông Thánh, ông Phật gì ở xứ này, mà người dân đang thờ phượng. Cho nên hôm nay, ổng làm giấy tha anh về gia đình và khuyên anh đừng đi làm Việt Minh nữa. Tôi thấy anh là người có may mắn nhất được khỏi bị chết, chứ chức vụ huyện ủy của anh chỉ có chết, không cần giam giữ quá ba ngày đâu!

Lời phiên dịch của ông CH vừa dứt, ông quan ba Tây nhìn ông CH nói xi xô xi xa vài lời, cả ba người cùng đứng dậy. Thế là phiên xử án đã kết thúc bằng văn kiện tha bổng.

Ông Vinh được ông Tây nhỏ đưa cho tờ giấy tha bổng, cuốn lại, cầm chặt trong lòng tay, thả bộ từ Phan Rý thành Hòa Đa về nhà ở Chợ Lầu, Xuân An.

Tại nhà, ông Vinh được bà con xóm làng đến thăm hỏi tíu tít. Trong đó lời ông Lý Hương: “Chao ôi! Thằng Tây nó tha cháu Vinh về là do Phật cứu, chứ chức huyện ủy là mồi ngon của chúng, chúng vồ được là chúng xơi tái, đâu có tha!”

Mẹ ông Vinh, bà Kiểm nói nhỏ: “Tôi dạy cho thằng Vinh niệm Phật bà Quán Thế Âm từ lúc nó còn nhỏ, nên nó niệm trong tất cả lúc bình yên và khi bị khổ nạn, tai ương đều niệm, nhờ vậy mà nó được Bồ Tát Quán Thế Âm cứu cho, chứ tụi Tây dễ gì tha cho thằng Vinh”.

Sau đó ông Vinh qua chùa Xuân An thăm thầy trụ trì Thích Viên Trí và tụng bài kinh Phổ Môn. Tụng xong bài kinh, ông Vinh xin thầy trụ trì ngủ lại chùa để hàn huyên tâm sự, cũng là một cách xin tỵ nạn. Bởi vì sợ phía đồng chí của ông có thể bắt ông vào lại chiến khu để điều tra sự việc tại sao ông được phía thực dân Pháp tha về. Không những chỉ bị tra hỏi, sau đó còn nhiều khổ nạn đến cho ông. Do vậy, sáng ra ông về nhà thu xếp mọi việc, cáo biệt mẹ và các em ông, lên đường vào Gia Định, Sài Gòn bằng tàu lửa tại ga Sông Mao, nếu không nói là ông Vinh đi tìm cho mình một đời sống mới.

 

5. Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện người thiếu nữ để phục hoạt lại Đạo Pháp

Theo lịch sử Trung Hoa, vào cuối đời nhà Đường, Phật giáo bị chính quyền đàn áp, trong đó Tăng Ni bị khuyến cáo về lại thế gian, chùa chiền bị đập phá, kinh điển bị tịch thu đốt sạch. Tuy nhiên vẫn còn một ít rải rác trong dân chúng do những Phật tử cất dấu. Sau đó Phật giáo bắt đầu được phục hoạt trở lại vào khoảng gần nửa thế kỷ. Nhưng kinh điển được dân chúng cất kỹ chưa thấy xuất hiện.

Lúc bấy giờ trong một gia đình trung lưu có một người con gái trên tuổi trăng tròn có nhan sắc xinh đẹp nhất vùng. Cô làm nghề bán các món giải khát trong cái quán nhỏ bên đường trước nhà. Tất cả các chàng trai trong xứ và lân cận đều đến cái quán nhỏ ấy để mua nước giải khát và cũng là cái cớ để đưa lời tán tỉnh tình tứ với cô gái. Cô chủ quán đều đối đáp lại lời lẽ lịch sự, tế nhị và vui vẻ. Nhưng với chàng trai nào đưa lời muốn đến việc hôn nhân, thì cô gái đưa ra điều kiện ắt phải có, đó là đi tìm cho đủ các thứ kinh: Kim Cang, Bát Nhã, Di Đà, Địa Tạng, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm thì cô sẽ bằng lòng làm vợ.

Có chàng tìm được chỉ hai thứ kinh Địa Tạng và Di Đà nên chi bị cô từ chối. Có chàng tìm được ba thứ Kim Cang, Bát Nhã, Di Đà, cũng bị cô từ chối. Có chàng tìm được bốn thứ: Kim Cương, Bát Nhã, Di Đà, Địa Tạng, cũng vẫn bị cô từ chối. Nhiều chàng trai bỏ cuộc vì không tìm được cuốn kinh nào cả. Cuối cùng có một chàng trai vừa nghèo, vừa xấu trai, lại tìm đủ sáu thứ kinh trên mà cô gái đã ra điều kiện. Tức là chàng trai ấy thắng cuộc đua vào hôn nhân mà cô chủ quán đã đưa ra cuộc đua, cho nên cô bằng lòng cho chàng trai xấu xí đó đến sính lễ cưới dù cha mẹ cô có bằng lòng hay không cô vẫn tiến hành. Cha mẹ cô không những không chống lại mà còn khen ngợi chàng rễ tương lai đã hết lòng dầy công tìm cho bằng được những thứ kinh, trong đó Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Pháp Hoa, Kim Cang, Di Đà là những thứ kinh Đại Thừa mang thực chất nguyên lý giải thoát cho con người, thật đáng giá cao quý hơn hết.

Trước khi tiến hành lễ cưới, cô gái bảo chàng trai đem hết các kinh đã tìm được đến giao tận tay cho một vị Tăng bảo tại ngôi chùa lớn vừa được xây dựng lại trong tỉnh và phải tác bạch với vị Tăng bảo rằng: “Thưa ngài, những thứ kinh này rất hiếm, vậy xin ngài cho in ấn thêm ra để phổ cập đến tất cả chùa chiền mới xây dựng trong cả nước”.

Sau lễ cưới là đến đêm động phòng. Trước giờ phút sắp sửa động phòng, chàng trai không thấy cô gái đâu cả. Căn phòng nhỏ hẹp từ từ rộng ra thênh thang, cao vời vợi như một dinh thự nhà vua, cùng với ánh sáng năm màu chiếu sáng rực rỡ. Chàng trai nhìn lại lần nữa không thấy cô gái đâu cả, bèn chạy ra khỏi phòng để báo cho cha mẹ của cô gái biết về những hiện tượng siêu phàm ấy. Nhưng cha mẹ của cô gái cũng không còn trong nhà, đi đâu mất. Chàng trai vào lại căn phòng, vừa mới bước vô, chàng thấy từ trên cao một thiếu nữ với dáng dấp cao và thon thả, mặc áo tràng lam, tay rộng, tóc búi cao, đội mũ ni, tay trái cầm bình cam lồ, tay phải cầm cành dương và có thêm bốn vị thiên thần với áo mão cân đai đứng hai bên, nhưng nét mặt vẫn là nét mặt của người con gái làm vợ chàng. Trong lúc chàng nhìn lên như vậy, chàng thấy bàn tay của cô gái cầm cành dương liễu duỗi ra trước mặt chàng đến ba lần, rồi nói lớn: “Ta là Quán Thế Âm giáng trần để phục hồi lại kinh điển chánh pháp cho chúng sinh theo đó mà tu tập. Ta tán thán nhà ngươi đã dày công đi tìm kinh điển. Nhà ngươi đang được có công đức lớn đó, nó sẽ giúp cho nhà ngươi nhân duyên gặp được Tam bảo trong tương lai và từ đó được tuần tự lên quả vị Phật đạo trong những kiếp kế tiếp.”

Chàng trai vừa nghe lời của Bồ Tát Quán Thế Âm nói, liền quỳ xuống chấp tay cúi đầu lắng nghe. Sau khi lời Bồ Tát Quán Thế Âm chấm dứt, chàng trai nhìn lên không còn thấy gì cả, chỉ thấy ánh sáng trắng trong, căn phòng vẫn còn rộng rãi thênh thang. Nhưng chỉ vài giây, thì căn phòng rộng lớn ấy từ từ nhỏ lại như cũ, ánh sáng trắng trong cũng dần dần lu mờ, trả lại cho chàng cái căn phòng tối om. Chàng cảm thấy cô đơn, nhưng lòng thấy mừng vui chưa từng có. Chàng lẩn thẩn bước ra khỏi phòng với ý niệm đi tìm lại cha mẹ cô gái còn đó không, nhưng vẫn không tìm đâu thấy. Bấy giờ chàng cảm thấy cô đơn hơn lúc nào hết, nên chàng quyết định về lại nhà cha mẹ chàng cách đó chừng vài cây số.

Chàng ra đi mang theo hành trang và nỗi niềm sung sướng là được gặp Bồ Tát Quán Thế Âm, nên không còn luyến tiếc gì đến cuộc hôn nhân vừa qua, vì chàng cho đó là một thành quả Phật pháp. Tuy nhiên tâm thức còn chút thương nhớ những kỷ niệm xưa tại cái quán và ngôi nhà mà chàng đã hơn một lần tới lui, cho nên chàng dừng chân, quay lui để nhìn lại lần cuối. Đêm hôm ấy là đêm trăng thượng tuần, nên ánh sáng đủ để thấy rõ vạn vật. Do vậy chàng không còn thấy cái quán, ngôi nhà, chỉ thấy mấy hàng cây quen thuộc bên cạnh nhà đang sừng sững đứng yên dưới ánh trăng khuya như thể đang thương nhớ người con gái xưa xinh đẹp ấy.

Chàng tự vấn, ô hay! Sao cái quán và ngôi nhà đã biến đâu mất! Hay là đôi mắt mình bị đau nên không thấy. Chàng bèn đi lui. Quả thật cái quán và ngôi nhà không còn nữa, mà chỉ còn lại một bãi đất trống đầy cỏ và các loài hoa dại.

 

6. Bồ Tát Đại Trí Văn Thù và Quán Thế Âm cùng thị hiện hóa độ cho Thái Tử Santideva.

Vào khoảng thế kỷ thứ 7, tại vùng Sri Nagara thuộc miền nam Ấn Độ, có nhà vua Surastra trị vì. Vua Surastra có nhiều người con, trong đó Thái Tử Santideva là con thứ có tính tình hiền lành, đạo đức, lễ độ với tất cả mọi người từ trong hoàng tộc ra đến ngoài xã hội và thông minh ngay từ lúc ấu niên, nên khi ở tuổi thanh niên có sở học rất uyên thâm, vì vậy mà được vua cha quyết định truyền ngôi. Trong thời gian chờ đợi lễ tấn phong, một hôm Thái Tử nằm mộng thấy hai vị “Bồ Tát Văn Thù và Tara[1]. Bồ Tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: Ở đây không có chỗ cho hai người; Bồ Tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói rằng: Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi với nước này đây.”

Tỉnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ Tát, nên đêm hôm trước ngày lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống thì có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống vì đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ “Cô ở đâu đến?”

Thiếu nữ trả lời “Ở giữa khu rừng mênh mông là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đã thành tựu phép Tam Muội của Văn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây.”

Vừa nghe như thế, tôn giả Santideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một hành giả (Yogi) sống trong một chòi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát. Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát. Sau đó, ngài đi về phương đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm thừa tướng. Để tỏ lòng thành kính nhớ ơn vị thần linh thủ hộ của mình, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên mình một thanh kiếm gỗ[2], ngài giúp vua trị vì đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, tìm cách dèm pha và hãm hại ngài. Họ bảo vua rằng: “Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên mình một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hãy khám nghiệm lại”. Vua tin lời, cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: “Kiếm của tôi Bệ hạ không thể nhìn được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ, nhất quyết đòi xem. Cuối cùng Thừa tướng nói với vua: “Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem thì hãy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nhìn bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một đại thánh tựu giả[3] nên cầu xin sám hối. Biết vua đã ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tròng lại khiến vua khỏi mù. Sau đó tôn giả từ bỏ chức Thừa tướng, tìm đến tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Santideva. Sau khi nghe hết 3 tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksasamuccaya, Sutrasamuccaya và Bodhicaryavatara. Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ Tát trong thiền định huấn luyện. Tất cả thời, ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ không chịu Văn, Tư, Tu gì cả. Thấy thế, một số Thượng Tọa học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi Tu viện. Có người cho ý kiến: “Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận, chắc chắn y sẽ phải tự động rút lui, rời bỏ Tu viện vì y chỉ ăn với ngủ đâu có bao giờ tu học gì”. Thế rồi đến phiên tôn giả Santideva phải trùng tuyên lại Kinh Luận, ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết gì. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: “Nếu vậy, phải làm cho tôi một tòa Sư tử[4] tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận vì tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận gì được. Sau khi lên ngồi tòa Sư tử: “Các vị muốn tôi trùng tuyên lại Kinh Luận đã có từ trước hay những sáng tác mới sau này?” Vì muốn chế diễu ngài nên đại chúng nói: “Những sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-carya-vatara). Khi tụng đến câu: “Khi Có và Không không còn khởi lên trong tâm…” thì ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài còn vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về phòng ngài tìm kiếm, thấy trên bàn để lại 3 quyển Sutrasamuccaya, Siksacamucca-ya và Bodhicaryavatara.

(Bồ Tát Hạnh – Trí Siêu Lê Mạnh Thát – phần tiểu sử của Tôn giả Santideva)

 

7. Bồ Tát Văn Thù thị hiện người hành khất cứu bịnh Hòa Thượng Hư Vân

Hòa Thượng Hư Vân lúc còn là Thượng Tọa năm 43 tuổi, ngài đã được chư tôn đức Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài nước Trung Hoa gọi đại danh tăng chơn tu, vì ngài hành trì Phật pháp rất tinh tấn trong nhiều giai đoạn gian khổ, mà không lùi bước vẫn tiến lên về phía trước mục tiêu đạt đạo giải thoát do sức mạnh chơn tâm của ngài làm chủ, nếu không nói là năng lực được giao cảm với Bồ Tát Văn Thù.

Đích thực, trong cuộc hành trình đi ba bước lạy một lạy của ngài từ am Pháp Hoa ở núi Phổ Đà đến Ngũ Đài Sơn, một lộ trình dài hơn hai ngàn dặm quanh co, đồi dốc, khúc khuỷu, thung lũng âm u, hoang vắng đầy thú dữ, tuyết rơi, sương khói giá lạnh trong hai mùa đông xuân, nắng lửa mùa hạ, mưa dầm gió lốc mùa thu. Ấy thế mà Hòa Thượng Hư Vân không một chút sợ hãi, nãn lòng, xem tất cả chung quanh đều là thiện hữu tri thức, nên ngài cứ một mình thảnh thơi, an nhiên thực hiện tam bộ nhứt bái một cách tinh tấn để đền đáp công ơn sinh thành của mẹ cha ngài, như ngài đã nói ngài vừa lọt lòng mẹ, mẹ ngài liền qua đời sau đó. Do vậy, dù cho có lúc bị tuyết rơi phủ đầy người, lạnh buốt, rồi bị ngã gục, ngất xỉu và bị kiết lỵ, xuất huyết ra mũi, miệng, mệt nhoài… ngài vẫn bình tâm niệm Phật, tươi vui ngồi nghỉ để lấy sức đi bái lạy tiếp.

Trong mỗi lần Hòa Thượng Hư Vân bị tuyết phủ ngã gục, đói khát lạnh buốt, kiết lỵ mệt nhừ như vậy, liền có người hành khất xuất hiện cứu giúp ngài về thuốc men, lửa ấm, cháo gạo, nước uống và giúp mang hành lý. Người hành khất có tên là Văn Cát, chính là Bồ Tát Văn Thù thị hiện thân người thật.

Để thấu rõ về sự thị hiện thân người thật của Bồ Tát Văn Thù giống y hệt như người Phật tử đối với Hòa Thượng Hư Vân trong các việc nấu cháo, nấu thuốc, nhóm lửa, mang hành lý, v.v… qua lời tường thuật của Hòa Thượng Hư Vân sau đây:

… Tháng Chạp năm đó, ta lạy đến bến Thiết Tá nơi sông Hoàng Hà. Ngày đầu, ta ngủ tại lữ xá, ngày thứ hai băng qua sông nhưng đi được một lúc thì trời sập tối nên không dám đi nữa. Nơi ấy, rất hoang vắng, bốn bề không người, chỉ có một lều tranh nhỏ nằm trên đường lộ. Ta tạm dừng chân nơi đây, ngồi kiết già thiền tọa. Tối đến, trời lạnh thấu xương, tuyết rơi dầy đặc. Hôm sau, mở mắt ra thấy tuyết dầy cả thước, bốn bề trắng xóa như thế giới lưu ly, không còn thấy đường đi nữa nên ta đành ngồi niệm Phật. Vì chòi tranh không vách che, gió thổi lạnh buốt nên ta đành cố thu mình ngồi trong góc nhỏ cho đỡ lạnh. Tuyết tiếp tục rơi, gió tiếp tục thổi nhưng ta làm chủ hơi thở, giữ vững chánh niệm.

Ba ngày ba đêm trôi qua, tuyết vẫn rơi như thế, giá lạnh cũng như thế, dần dần ta rơi vào trạng thái hôn mê. Trưa ngày thứ sáu, tuyết ngừng rơi, thấy bóng mặt trời mờ mờ, nhưng vì đã kiệt sức nên ta không đứng dậy được. Sáng ngày thứ bảy, có một người hành khất đi đến, thấy ta nằm trên tuyết bèn hỏi han vài câu, nhưng ta không thể trả lời được. Biết ta nhuốm bệnh nặng, ông gạt tuyết ra, lấy rơm nhóm lửa, nấu cháo bằng gạo vàng cho ta ăn. Ăn xong, mình toát mồ hôi, khí lực ta bình phục lại. Người hành khất hỏi:

- Ngươi từ đâu đến đây?

- Tôi từ núi Phổ Đà, Nam Hải đến.

- Vậy ngươi đi đâu?

- Tôi triều bái đến núi Ngũ Đài.

Ta hỏi lại danh tánh của ông. Người hành khất đáp:

- Ta họ Văn, tên Cát.

- Vậy ông đi đâu?

- Ta từ núi Ngũ Đài trở về Tràng An.

- Nếu ông từ núi Ngũ Đài đến, vậy ông hẳn biết chư Tăng ở đó?

- Dĩ nhiên rồi, trên đó, ai cũng biết ta cả!

- Nếu vậy từ đây đến núi Ngũ Đài phải đi qua những vùng nào?

- Ngươi phải đi qua Bồng Huyện, Hoài Khánh, Nga Khẩu, rồi đến Ngũ Đài.

- Vậy từ đây đến núi lộ trình còn bao xa?

- Khoảng hơn hai ngàn dặm nữa.

Hôm sau, khi mặt trời vừa lên, người hành khất lấy ra một nắm gạo vàng nấu cháo với tuyết. Thấy tuyết đang tan thành nước trong nồi, ông chỉ tay vào và hỏi:

- Ở Nam Hải có vật này không?

- Thưa, không.

- Vậy ngươi uống gì?

- Thưa, tôi uống nước.

Ngay khi đó tuyết trong nồi đã tan ra nước, người hành khất chỉ tay vào nước hỏi:

- Vậy chứ đây là gì?

Ta không sao trả lời được. Người hành khất hỏi tiếp:

- Ngươi đi lễ lạy danh sơn để mong cầu điều chi?

- Thưa khi vừa sanh ra thì không còn mẹ nên nay muốn lễ lạy danh sơn để hồi hướng công đức báo ân sanh thành của mẹ hiền.

- Tâm thành hiếu thảo kiên cố của ngươi thật rất khó lập. Nay ta trở về núi, không gấp chi nên ta muốn phụ mang hành lý trên đường để ngươi dễ dàng lễ lạy, bớt đi sầu khổ, tâm không sanh hai niệm.

 

… Mồng ba tháng Giêng, ta trân trọng từ biệt Hòa Thượng Đức Lâm rồi khởi hương lễ bái đi tiếp. Vài hôm sau ta đến phủ Tiểu Nam Hải. Vì không biết nghỉ qua đêm nơi nào, nên ta ra ngoài thành ngủ bên lề đường. Tối đó, bụng đau kịch liệt. Sáng hôm sau ta cũng cố lễ bái nhưng đến chiều thân ta bị cảm lạnh rất nặng rồi bắt đầu bị kiết lỵ. Những ngày kế ta vẫn ráng lễ lạy cho đến ngày mười ba thì đến Hoàng Sa Lĩnh, một đỉnh núi hoang vắng chỉ trơ trọi một ngôi miếu hoang tàn, không có mái nóc.

Khi đó ta đã kiệt sức, không thể đi được nữa nên đành ghé vào đó tạm trú, rồi cứ thế đi cầu cả chục lần, người yếu dần rồi không sao cử động được. Vì am miếu ở đỉnh núi, không người qua lại nên ta đành nhắm mắt chờ chết, tuy thế thâm tâm ta không hề hối hận. Khuya ngày mười lăm, ta chợt thấy phía tây miếu có ai đang đốt lửa, nhìn kỹ lại thì nhận ra người ấy chính là Văn Cát lúc trước, ta mừng rỡ gọi: “Tiên sinh Văn Cát”. Văn Cát cầm đuốc tới hỏi:

- Đại Sư Phụ! Sao ngài vẫn còn ở đây?

Ta kể lại cho ông nghe những việc đã xảy ra. Người hành khất ngồi xuống bên cạnh, an ủi và đưa một bát nước cho ta uống. Đêm đó gặp được Văn Cát, thân tâm ta rất yên ổn.

Hôm sau, Văn Cát đem y phục dơ bẩn của ta ra giặt giũ, rồi nấu cho ta một chén thuốc để uống. Ngày mười bảy, bịnh ta thuyên giảm rất nhiều, sau khi ăn hai chén cháo gạo vàng thì mồ hôi ta xuất ra nhễ nhại, qua hôm sau thì khỏi. Ta bèn cảm tạ Văn Cát:

- Hai lần nguy hiểm, đều nhờ tiên sinh cứu tế, xin cảm ơn ngài.

Văn Cát đáp:

- Đừng để ý, đó chỉ là việc nhỏ thôi.

 

… Cuối tháng Năm, ta đến chùa Hiển Thông, lấy hành lý do quân lính mang lên mấy ngày trước rồi đến các chùa am tự viện kế cận dâng hương lễ bái. Ta đi khắp nơi hỏi thăm tung tích Văn Cát nhưng không ai biết cả. Sau đó, ta thuật lại sự tình cho một lão tăng nghe, vị ấy liền chắp tay nói: “Đó chính là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù đấy. Ngài thường hiện thân thành người hành khất để giúp đỡ những kẻ hành hương.: Nghe thế ta liền đảnh lễ cảm tạ Bồ Tát.

(Đường Mây Trên Xứ Hoa – Thích Hằng Đạt và Nguyên Phong phóng tác – trang 22-30)

 

8. Bồ Tát Quán Thế Âm thường hằng thị hiện gia trì hộ niệm Sư Bà Thích Nữ Diệu Từ

Sư bà Thích Nữ Diệu Từ là cựu sinh viên Ni nội trú tại Phật Học Viện Diệu Quang và ngoại trú Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang với thời gian trên mười năm trước 1975. Cho nên Sư bà Diệu Từ được thành vị Tăng bảo có đủ tài và đức.

Tài của Sư bà Diệu Từ là ba nền giáo dục Phật giáo được chứng thực qua chứng chỉ Cao Đẳng Phật Học (nội điển), cũng như văn hóa thế gian (ngoại điển) được chứng thực qua văn bằng Sư Phạm Quốc Gia. Cho nên lời giảng Phật pháp trước hàng trăm Phật tử, lời giảng văn hóa trước hàng chục học sinh trong lớp rất là hùng hồn rõ ràng từng khế lý của bài Phật pháp, từng lý nghĩa của các bài luân lý, thơ, văn, sử học. Lời giảng hùng hồn có âm vang như hải triều, nhưng không kém phần nghiêm minh, trang trọng, trạng thái vui tươi hoan hỷ trên gương mặt từ bi hiền hòa, làm cho hàng Phật tử ai cũng tiếp thu được nội dung và cách tu tập của bài pháp, làm cho các học sinh đều hiểu thấu được nội dung, bố cục của các bài văn chương, luân lý, sử học, toán pháp, v.v… Đó là tài của Sư bà ở phần ý giáo và khẩu giáo trong vai trò giáo thọ, giáo sư trong quá khứ trên quê hương và hiện tại hôm nay ở hai chùa Diệu Quang là Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Diệu Không tại Sacramento và Orange County Hoa Kỳ không có gì thay đổi, dòng suối pháp ấy vẫn lưu chuyển tắm mát tâm thức cho các hàng nam, nữ Phật tử Diệu Quang nói riêng, khắp đó đây nói chung mỗi lần Sư bà vân du đến hoằng dương hóa độ.

Tài của Sư bà Diệu Từ không những ở lãnh vực thuyết pháp độ sanh, giảng dạy văn hóa, mà còn có nhiều tài khác nữa. Tài giáo dục ni chúng bằng ngôn ngữ (khẩu giáo) kinh luật và nhân bản được đi cùng với thái độ nghiêm minh, hỷ xả tình đạo với nhau (thân giáo) trên vận hành tu tập thân tâm đúng theo quy chế thiền môn là tâm luôn chánh niệm lúc tụng kinh thiền tọa, chững chạc bước đi, ái ngữ lời nói, khiêm cung lễ độ với chư tôn đức, sư trưởng, huynh đệ thiền môn, Phật tử về chùa.

Tài tổ chức giáo vụ về Phật sự và văn hóa Phật giáo . Về Phật sự, Sư bà Diệu Từ đã xây dựng một đội ngũ đại chúng Phật tử Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di được có một đời sống Phật đạo tinh nghiêm giới luật, trật tự, im lặng khi về chùa tu học, dự lễ… Đội ngũ đại chúng cư sĩ ấy được chia ra làm 8 chúng. Mỗi chúng phụ trách một khâu Phật sự như: tu học, cung nghinh chư tôn đức, lễ nhạc dâng hoa, trang hoàng, trai tăng, ẩm thực cho Phật tử, nấu nướng, tiếp tân, vệ sinh. Nếu so sánh với các nơi khác, đội ngũ Ni chúng và Phật tử Diệu Quang có đạo đức, tình người hơn.

Tài về văn hóa. Sư bà Diệu Từ có khả năng văn hóa đạo, đời rất thông thái. Thông thái về âm nhạc, cho nên Sư bà đã hòa âm nhiều bài ca đúng với nhạc lý có âm điệu trầm bổng, êm đềm, lung linh, hùng hồn, không sầu muộn, ai oán… Chẳng hạn bài “Hạt Bụi Vô Minh”, khi ca sĩ hát lên, làm cho thính giả thấy ngay trước mặt những cơn lốc trong sa mạc tâm linh con người phàm phu chưa tỉnh thức, giác ngộ đang liên tục bốc cao hàng tỷ tỷ hạt bụi vô minh lên tận trời xanh, xoáy tròn, nhào lộn, là đà trên mặt đất, trôi giạt vào gò đống như những con chốt bão cát trên đồng hoang cao nguyên có gió mùa đông bắc khiến cho chúng sinh khó thở, không thấy lối đi, che khuất cảnh vật.

Đức của các bậc xuất gia Tăng Ni là tâm thường rỗng lặng tịch tịnh Niết Bàn, Phật tâm gọi là công đức vô lậu. Cho nên Tăng Ni đều phải có, vì nó là sinh mệnh, sự nghiệp sống còn trên vận hành tự giác, giác tha chúng sinh và hoằng dương chánh pháp đúng theo quy luật thiền môn.

Cho nên Sư bà Diệu Từ đã có công đức vô lậu, nên đã tự thân hành trì Quy Sơn Cảnh Sách một cách nghiêm túc như thuở xưa bên quê nhà, ngay sau khi đặt chân đến nước Mỹ. Ấy thế vậy mà vẫn còn bị những kẻ phàm phu thế gian vô minh trong mọi giới người Việt tại Cali Hoa Kỳ đánh phá vận hành hoằng dương Phật pháp và văn hóa Việt Nam của Sư bà bằng nhiều cách vu khống, bịa ra chuyện xấu, chê bai, chỉ trích ngã mạn, vận động chính quyền địa phương đừng cấp giấy phép xây chùa Diệu Quang đầu tiên tại Sacramento… Đúng là ở đâu có chánh pháp, chánh đạo, trí thức, chân nhân, ở đó có đạo tặc, ác nhân vô minh đánh phá bằng nhiều chiêu thức. Nhưng tất cả mũi tên độc, âm thanh ác đạo, hành động ngạ quỷ của các bạo lực vô minh chỉa vào, bắn đến bản thân Sư bà Diệu Từ đã tự biến mất, vô  hiệu lực, quay trở lại bạo lực vô minh. Đúng là ở đâu có đại đăng tỏa sáng, ở đó bóng tối hết lý do tồn tại. Được bình an vô sự, các ác duyên không đến được, lại được thiện duyên đến nhiều hơn trước, là nhờ tha lực của Bồ Tát Quán Thế Âm gia trì, hộ niệm cho Sư bà Diệu Từ. Nhờ vậy mà Sư bà Diệu Từ đã được thành tựu viên mãn lớn, nhỏ các công trình xây dựng giáo vụ văn hóa và cơ sở Tam bảo. Tuy nhiên không phải khoanh tay ngồi đó mà được việc, phải sử dụng tài, đức vốn có trong bản thân tứ đại, ngũ uẩn cõi trần để tri hành tha lực giáo chỉ, hộ niệm vô tướng, vô vi của Bồ Tát Quán Thế Âm ban cho mà hành động tạo tác vào sự việc hữu vi, hữu tướng vật thể, thì mới có thể thành đạt tất cả giáo vụ Tam bảo một cách viên mãn.

Có những công việc trên nóc chùa, Quan Âm Các cần phải làm gấp, do vậy sau thời gian công phu khuya vừa xong, chưa hớp được ngụm nước trà nóng cho ấm lòng, Sư bà Diệu Từ đã leo lên nóc chùa, Quan Âm Các để làm cho xong các việc ở đó dưới bầu trời thủ phủ Cali lúc bình minh chưa rõ mặt, còn đang ngái ngủ trong mù sương, giá lạnh. Nhưng Sư bà không cảm thấy lạnh, mà lại nghe hơi ấm chạy khắp thân tâm. Nếu không nói là do cái tâm nhiệt tình mong sao Đạo pháp được mau thành tựu tại xứ người làm cho tâm thức Sư bà quên đi mọi hiện hữu thực tại chung quanh, chỉ biết sự việc đang làm, đó là một cách thiền định có chánh niệm, tỉnh thức của các bậc đạo sư chân tu. Thú vị là thế đó. Còn nhiều thú vị khác nhau hơn nữa được Phật tử xa gần các nơi kể cho tác giả biết. Chẳng hạn đang giữa lúc đôi chân gập ghềnh trên mặt đất sâu, cạn, đôi tay lao tác các việc trong sáng sớm, chiều hôm mỗi ngày suốt thời gian cô đơn một mình thầy trò Sư bà đạo diễn thợ chánh, thợ phụ, thợ vịn, công nhân khuân vác, bốc xếp… như vậy, thì ngày nào cũng có một số Phật tử chưa quen, đã quen đến thăm hỏi Sư bà về sự tình xây dựng ngôi Tam bảo, trong đó có ẩn ý muốn biết sự thật, hư về sự hiện hữu và công trình xây dựng Đạo pháp của Sư bà mà họ đã nghe thiên hạ đồn đãi. Được Sư bà tiếp chuyện, sau đó họ thở phào một cách nhẹ nhỏm và vui mừng như thể người nghèo được của báu, người mắc nạn được thoát nạn. Sau đó Phật tử chưa quen, đã quen về lại chùa Diệu Quang càng lúc càng đông vào ngày chủ nhật, vu lan, Phật đản, Tết nguyên đán, không ai bảo ai, họ tự nguyện ra tay làm các việc. Cho nên ngày đại lễ khánh thành Quân Âm Các thật là đông đúc Phật tử các nơi về tham dự với số lượng trên hai ngàn người, trong đó Phật tử chiếm hơn một nửa, còn lại là quan khách và chính quyền địa phương.

Một thú vị tuyệt vời hơn hết, đó là ánh hào quang năm sắc rộng lớn xuất hiện trên không trung ngay giữa nóc Quan Âm Các và hình tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cao lớn trắng xóa xuất hiện trong bầu trời ngoài không gian chùa cách xa độ năm, sáu miles trong buổi lễ khánh thành hôm ấy lúc giờ ngọ.

Ánh hào quang năm sắc trên đỉnh Quan Âm Các được một số Phật tử phát hiện và quay phim giữa lúc hành lễ. Còn hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm cao lớn, trắng trong bầu trời được một gia đình đạo Công giáo đang đi xe van trên xa lộ thấy được liền quay thành phim, sau đó họ đem đến kính tặng cho Sư bà để làm tài liệu chứng minh cho thấy Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện trong ngày đại lễ khánh thành Quan Âm Các.

Cả hai hình thái Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện được Phật tử chùa Diệu Quang Sacramento góp lại thành phim để cho Phật tử xa gần được biết sự xuất hiện của Bồ Tát Quán Thế Âm bằng nhiều cách như ta đã nói ở những trang trước. Ngay trong ngày lễ khánh thành, mà ta đã thấy Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện hai cách hào quang năm sắc chiếu rọi rõ ràng và hình tượng trắng như tuyết trên hư không với thời gian hơn một giờ ba mươi phút mới từ từ lặn trong không gian vô tận.

Vấn đề hào quang 5 sắc giữa hư không trên đỉnh Quan Âm Các chùa Diệu Quang trong giờ hành lễ, là hiện tượng mầu nhiệm của chư Phật, Bồ Tát ứng hiện ra để gia trì hộ niệm cho những ai trong đạo Phật có quyết tâm tu hành, cầu nguyện, niệm Phật, trì tụng kinh chú Đà La Ni… Đó là điều rất phổ biến trong Phật giáo từ ngàn xưa và hôm nay. Chẳng hạn cố Hòa Thượng Thích Pháp Nhiên (1133-1212) tại Nhật Bản, sơ tổ Tịnh Độ Tông. Trước khi viên tịch suốt năm ngày, có hào quang 5 sắc phủ kín ngôi chùa của ngài (xin quý vị xem tác phẩm Đất Nước Cực Lạc và Người Vãng Sanh – trang 48-56 – Đức Hạnh Liên Hoa Bảo Tịnh biên soạn); và câu chuyện bà lão trì tụng chơn ngôn thần chú “Úm ma ni bát ni hôm” được có hào quang rực sáng chung quanh ngôi nhà tranh của bà (được nói ở phần đầu về sức mạnh của tâm). Cũng như có nhiều câu chuyện hiện thực về chư Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam, Trung Hoa, v.v… được có hào quang chư Phật chiếu sáng trong căn phòng trong giờ phút lâm chung, viên tịch, thật là phổ biến.

Với hàng Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam trong nước và hải ngoại, ai cũng dư biết sự thị hiện của chư Phật, Bồ Tát bằng hào quang năm sắc hay một sắc để gia trì hộ niệm cho các hành giả nào được có chơn tâm thanh tịnh, là năng lực giao cảm với chư Phật, Bồ Tát. Vì thế cho nên, hàng ngàn Phật tử, các quan khách, trong đó có ông Thị Trưởng thành phố Saccramento, tất cả ai cũng nhìn thấy ánh hào quang 5 sắc trên hư không ở giữa đỉnh Quan Âm Các trong giờ hành lễ khánh thành một cách im lặng trật tự, kể cả những người quay phim, chụp hình hướng lên không trung đều giữ im lặng trong lúc di động đôi chân.

Là Phật tử nói riêng, nếu ai không tin, không thấy hiện tượng hào quang 5 sắc của Bồ Tát Quan Thế Âm hiện hữu trên hư không ở giữa đỉnh Quan Âm Các trước đây, hãy hỏi Phật tử ở Saccramento, đa số vẫn còn in đậm trong tâm thức sự hiện hữu của Bồ Tát Quán Thế Âm bằng ánh hào quang 5 sắc, không bao giờ quên vì đã nhìn thấy tận mắt trong giờ hành lễ khánh thành.

Qua hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm xuất hiện tại không gian Diệu Quang ở thủ  phủ Cali trong ngày lễ khánh thành Quan Âm Các, cho ta thấy rõ ràng sinh mệnh sống còn và sự nghiệp phụng trì chánh pháp Như Lai của Sư bà Diệu Từ luôn luôn được gắn liền với Bồ Tát Quán Thế Âm cửu trụ ngàn đời như đứa con thơ luôn được mẹ hiền quan tâm dìu dắt, chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần. Để chứng minh sinh mệnh của Sư bà Diệu Từ luôn được gắn liền với Bồ Tát Quán Thế Âm qua lời giáo chỉ của Bồ Tát Quán Thế Âm sau đây:

Một chiều nọ, sau khi xong lễ vài ngày, Sư bà đứng nhìn lên toàn bộ Quan Âm Các để thưởng thức thành quả mẹ hiền Quán Thế Âm ban cho, thì phía sau lưng Sư bà có tiếng nói: “Xong chỗ này nên đi mở rộng chỗ khác”. Tiếng nói có âm điệu của bà già Việt Nam. Sư bà Diệu Từ liền quay lui, quả thật thấy hình bóng của một bà già có thân tướng Việt Nam, phục sức màu nâu sồng bước ra cổng chùa, rồi mất dạng trong bóng chiều hoàng hôn đang lên dần.

Quả thật không lâu sau lễ khánh thành Quan Âm Các được hơn hai tháng, có một số phái đoàn hành hương từ Houston, Boston, Virginia, Arizona, Orange County đến hành hương chiêm bái Quán Âm Các. Nếu không nói, đó là một duyên lành để lập chùa Diệu Quang và Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Diệu Không ở Orange County. Quả thật, sau đó phái đoàn Phật tử từ Orange County lên cung thỉnh Sư bà về lập đạo tràng tu học cho họ. Trước lời cầu thỉnh của Phật tử, Sư bà không lấy gì làm mừng, vì không muốn có nhiều cơ sở, chỉ muốn một hải đảo tịnh độ Diệu Không chùa Diệu Quang tại Sacramento là đủ rồi. Nhưng Phật tử Orange County lại lên nữa, đem hết lòng thành mong muốn Sư bà về với họ để họ được tắm mát trong dòng cam lồ pháp vũ Quán Thế Âm mà Sư bà đang có. Trước tấm lòng thiết tha vì Đạo pháp của hàng Phật tử Orange County, Sư bà Diệu Từ nhận lời.

Ngôi Tam bảo Diệu Quang hai càng lúc càng phát triển trên nhiều mặt tu học, từ thiện, đạo pháp, văn hóa, thi ca, cũng như quang cảnh được trong sáng thiền môn an định. Tất cả đều do Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện gia trì tha lực hộ niệm cho, nên mới được thành tựu ngay từ thuở chân ướt, chân ráo mới về cho đến hôm nay vẫn tiếp tục phát triển dưới ánh hào quang chiếu rọi của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Cho nên nói đến Sư bà Thích Nữ Diệu Từ là ta thấy ngay hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm lúc nào cũng hiện hữu ở hai ngôi Tam bảo Diệu Quang. Hay nói đến Bồ Tát Quán Thế Âm, là ta thấy ngay người mẹ hiền của Sư bà Diệu Từ, Sư bà Diệu Từ là người con trưởng nữ của Bồ Tát Quán Thế Âm có tài đức Phật giáo và dân tộc, vì thế được Bồ Tát Quán Thế Âm thương yêu, thường hằng quan tâm thị hiện gia hộ một cách mầu nhiệm qua hình ảnh hữu vi và vô vi.

Hình ảnh hữu vi như đã nói đó là  hình tướng cao lớn trắng xóa trên không trung, ánh hào quang năm sắc rõ ràng và thân tướng bà lão phục sức nâu sồng.

Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện bằng hình tướng hữu vi rất là giới hạn. Bằng hình tướng hưũ vi, là khi nào Đạo pháp tại nơi nào đó do các vị Tăng bảo chân tu hành hoạt độ sinh lại bị những kẻ vô minh trong và ngoài bản thân Phật giáo đánh phá với mức độ cực kỳ nghiêm trọng, thì Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện bằng hình ảnh hữu vi giữa lúc Đạo pháp chưa thành tựu hay là sau khi thành tựu như là lời nhắn nhủ các Tăng bảo chân tu đang hành hoạt Đạo pháp nên an tâm mà tiến bước, đừng sợ hãi kẻ vô minh đánh phá, chỉ sợ rằng mình không có chân tu, tài đức mà thôi. Vì thế Sư bà Diệu Từ đã và đang an nhiên tự tại dũng mãnh càng lúc càng tăng trưởng Bồ Đề tâm trên bước đường hoằng dương chánh pháp độ sanh tại quận Cam từ buổi đầu tiên cho đến hôm nay không ngừng phát triển Đạo pháp.

Hình ảnh hữu vi của Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện cũng chính là lời nhắn nhủ giáo huấn riêng cho hàng Phật tử, ai là người đã và đang thọ nhiều giới pháp, trong đó Bồ Tát giới là sinh mệnh sống còn được gắn liền với chư Bồ Tát mà lại sanh tâm bài bác sự thị hiện của Bồ Tát Quán Thế Âm, cho là giả tạo. Hữu hình như vậy mà không tin, không thấy sự mầu nhiệm hiện thân của chư Bồ Tát, huống là vô hình làm sao thấy được, tin được. Nếu vậy tự phản lại lời đọc tụng kinh Phổ Môn của mình. Chỉ có những bậc chân tu có tâm thường rỗng lặng cộng với tấm lòng tác bạch cầu xin lên Bồ Tát Quán Thế Âm gia hộ cho, thì mới được tiếp nhận tha lực gia hộ một cách mầu nhiệm.

Sư bà Thích Nữ Diệu Từ đã và đang được tiếp nhận cả hai sự thị hiện gia hộ mầu nhiệm hữu vi và vô vi của Bồ Tát Quán Thế Âm ban cho nhiều năm qua, nay vẫn còn tiếp tục được tiếp nhận, nhất là thị hiện gia hộ vô vi mầu nhiệm.

Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước nếu thật sự có học và tu tập Phật pháp đều biết sức mạnh Bồ Đề tâm, là năng lực giao cảm với chư Phật, Bồ Tát trong 10 phương. Cho nên bất luận là ai, Tăng, Ni hay Phật tử nếu có Bồ Đề tâm trong lòng dù cao hay thấp mà hướng tâm lên chư Phật, Bồ Tát, cầu nguyện điều gì, thì nhất định chư Phật, Bồ Tát liền thị hiện ngay bằng hình tướng hữu vi, vô vi hộ niệm cho điều ấy được hanh thông, thành tựu.

Để cho hàng Phật tử xa gần khắp nơi trong và ngoài nước, không thể khởi tâm nghi ngờ gì nữa về những hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện hữu vi, vô vi hộ niệm gia trì cho sư bà Diệu Từ suốt tiến trình xây dựng ngôi Tam Bảo Diệu Quang, Trung Tâm Văn Hóa Diệu Quang ở Sacramento luôn được hanh thông mọi việc nên được thành tựu viên mãn, là do sư bà Diệu Từ và cả đại chúng xuất gia, tại gia, ai cũng có sức mạnh Bồ Đề tâm trên dòng tâm thanh tịnh vừa quyết chí xây dựng vừa cất cao lời cầu nguyện… qua lời tường thuật của chị Du Hương pháp danh Quảng Nguyên, người Phật tử có quá trình học và tu tập Phật pháp kỹ lưỡng, nên thấy sao nói vậy, không hư dối.

Lời chị Quảng Duyên nói với tác giả:

- Thưa huynh Đức Hạnh, theo tôi được biết ngôi chùa Diệu Quang ở Sacramento được xây cất trên vùng đất mà xưa kia là nông trại, nên chi có chỗ lồi, chỗ lõm và nhiều cây cối to, nhỏ mọc um tùm chung quanh. Do vậy sư bà Diệu Từ, ni sư Tịnh Lạc, các sư cô và một số nam nữ Phật tử phải đem hết tâm lực Bồ Đề và thân lực ra vừa lao động nhiều công việc khó khăn, vừa niệm Phật cầu gia hộ lúc làm việc, khi giải lao, ăn uống đều không quên niệm Phật suốt một ngày lao động từ sáng sớm đến chiều tối. Riêng các nam nữ Phật tử công quả, thì đến chiều tối là về nhà. Còn sư bà Diệu Từ, ni sư Tịnh Lạc và các sư cô ở lại đốt đèn lên tiếp tục lao động cho đến khuya mới vào nghỉ. Cứ như thế mà diễn tiến ngày này qua ngày khác suốt trên tiến trình xây cất. Nhờ thế mà ngôi Tam Bảo Diệu Quang Sacramento tuần tự được thành tựu từng phần, rồi đến toàn phần thật khang trang, thanh tịnh mang sắc thái văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Đến ngày 6 tháng 4 năm 1997, nhằm ngày 29 tháng 2 năm Đinh Sửu, là ngày sư bà chọn tổ chức lễ khánh thành Quán Âm Các. Sáng hôm ấy, không gian Sacramento ở vào giữa xuân, nên có nắng ấm, do vậy mới sáng sớm 6 giờ AM, hàng ngàn nam nữ Phật tử các giới ở khắp mọi nơi vân tập về chùa Diệu Quang thật đông đảo, thật chân tình thân thương với nhau trong giờ phút đợi chờ hành lễ. Cho nên không ai bảo ai, tất cả mọi người, kể cả các quan khách chính quyền về tham dự là người Mỹ đều tự động đứng, ngồi vào vị trí hành lễ thật im lặng và trang nghiêm, chấp tay hướng lên lễ đài nơi có hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm và chư Tăng Ni tụng niệm, phát biểu, ban huấn từ… Thì giữa giờ phút trang nghiêm thanh tịnh ấy, không gian chung quanh chùa Diệu Quang bỗng nhiên nổi gió không mạnh lắm, đủ làm cho cây cối, hoa lá lắc lư. Rồi không lâu sau đó, vòm trời thủ phủ đang trong sáng, lại từ từ đổi sang màu xám chứa đựng không khí êm dịu, mát rợi, khác hẳn bầu trời chuyển mưa. Kế đó, các quan khách và hàng ngàn Phật tử đang trong trạng thái nghiêm trang dự lễ, lại đổi sang trạng thái xôn xao nói với nhau, ô kìa Phật hiện, Phật hiện trên nóc Quan Âm Các, hãy nhìn lên, nhìn lên!

Những tiếng gọi nhau hãy nhìn lên đang thì thầm chung quanh tôi. Tôi liền nhìn lên, tôi đã thấy rõ tận mắt luồng ánh sáng tổng hợp nhiều màu sắc xanh, đỏ, cam, vàng, tím, hồng từ không trung chiếu thẳng tắp xuống ngay đỉnh Quan Âm Các. Khi tôi nhìn lại chung quanh tôi, tôi thấy một số Phật tử đứng trước và hai bên trái phải của tôi đang quỳ xuống và lạy một cách chí thành.

Qua thời gian lễ khánh thành, sau đó một vài tháng, vào một sáng chủ nhật, sư bà và ni sư Tịnh Lạc và chư Phật tử đang làm lễ như thường lệ hằng tuần. Lễ vừa xong, bầu trời đang sáng, bỗng dưng âm u và một ngọn gió không mạnh lắm thổi qua cây lá. Thấy vậy, sư bà, ni sư Tịnh Lạc và các sư cô, cùng Phật tử ra xem. Khi nhìn sang Quan Âm Các, mọi người đều thấy rõ trên đỉnh Quan Âm Các đang có một vòng cầu ánh sáng bảy màu rực rỡ.

Thời gian những tia sáng nhiều màu sắc chiếu rọi trên đỉnh Quan Âm Các không lâu, chừng hơn nửa giờ là hết.

Thưa huynh Đức Hạnh, những lời mà Quảng Duyên viết ra vừa rồi rất là chân thật được Quảng Duyên tự mắt mình nhìn thấy trong buổi lễ.

Quý Phật tử nào muốn trực tiếp nghe Phật tử Quảng Duyên kể hết hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện trong ngày lễ khánh thành, hãy liên lạc qua số phone sau đây (916) 688-3245 và địa chỉ 8254 Visalia Way, Sacramento, CA 95828; và một nam Phật tử nữa, đó là đạo hữu Cẩm qua số phone (760) 599-6729.

 

9. Bồ Tát Quán Thế Âm giáo chỉ cho Đức Hạnh bằng lời kinh Bát Nhã

Ngay từ thuở ban đầu mới đến vùng Sao Bạch, tôi đã mở gói hành trang văn hóa, lấy ra xâu chuổi Bồ Đề cũ, đeo vào tâm thức để hộ mệnh, cùng với tâm niệm cầu xin Bồ Tát Quán Thế Âm gia bị trên vận hành Bồ Tát Đạo, vì nơi xứ Sao Bạch là một thiên đàng có nhiều hình bóng thiên ma quái dị giống như tại sa mạc Gobi mà Đường Tăng xưa kia đã từng nhìn thấy trên đường lên Tây Trúc không hề bị ngăn chận, sợ hãi do ngài tụng bài Bát Nhã Ba La Mật đa tâm kinh do Bồ Tát Quán Tự Tại truyền cho từ quá khứ.

Với tôi, không phải là Đường Tăng, chỉ là một Phật tử phàm phu thuần túy, cho nên một thời trước đây đã bị các loại ma quái giàu có ẩn núp dưới đài sen xa, gần sanh lòng  đố kỵ, ngăn chận bước chân Đạo Pháp, phản bội, ganh tỵ, nghi ngờ, vu khống, chụp mũ, oán ghét, hù dọa… khi đôi chân bi trí của bản thân năm uẩn vô ngã già nua của tôi vẫn hùng dũng tiến bước giữa con đường Đạo Pháp nở hoa văn hóa Phật giáo ở nghĩa vụ góp chất liệu văn hóa để xây dựng, duy trì, phát triển Đạo Pháp theo khả năng của cái rễ Bồ Đề nhỏ xíu còn sót lại trong tâm thức sau những năm dài tháng rộng bị mất một tá mùa xuân, trôi lăn lóc giữa sa mạc đầy bão cát, nóng bức của trường đời, tưởng chừng như không còn cội rễ Bồ Đề. Ai ngờ cái rễ Bồ Đề trong vùng đất tâm linh tôi, được Đạo Sư Thích Tuệ Sỹ thấy được, rồi giới thiệu cho mọi người được biết “Đức Hạnh có lẽ là hạt cải lăn lóc giữa đường đời bụi bám. Mỗi dặm đường thêm một lớp bụi, tưởng chừng hạt nhân bên trong héo quắt… Hạt giống Bồ Đề qua bao lần lửa thiêu, nước cuốn, hình hài có thay đổi, mầm sống không hư hao…, nhưng từ trong tự tính huyền vi, nguồn suối từ thai tạng Như Lai vẫn ngọt ngào nuôi dưỡng chủng tử Bồ Đề cho từng thời lớn mạnh” (Viết cho Đức Hạnh – Cuốn kinh và Ngôi chùa – trang 2).

Cội rễ của Bồ Đề Tâm vốn có không bao giờ bị biến chuyển đổi thay mất dạng. Ngay cả cây Bồ Đề hữu vi vật thể cũng như thế, một khi cái rễ của nó đã ăn sâu vào lòng đất, dù cho bị chặt, bị đào xới, un lửa đốt cháy thật lâu ngày để tiêu diệt hẳn, nhưng rễ của nó vẫn còn. Đích thực như cây Bồ Đề tại Bồ Đề Đạo Tràng hiện nay bên Ấn Độ, chính là cây Bồ Đề con do từ cái rễ rất nhỏ của cây Bồ Đề mẹ còn sót lại, mọc lên sau khi bị Hồi giáo từ A Phú Hãn xua quân qua tiêu diệt Phật giáo bằng vũ lực gươm dao sát hại hàng ngàn Tăng Ni, sinh viên, phá hủy toàn bộ cơ sở đại học Nalanda, đốt cháy hàng trăm ngàn kinh sách và kéo quân đến chặt đứt cây Bồ Đề ra nhiều khúc, đào xới xuống sâu, moi hết gốc rễ cái, rễ con, un lửa suốt hơn 6 tháng vào thế kỷ 12. Ấy thế vậy mà không lâu sau đó, cái rễ nhỏ xíu từ lòng đất vươn lên cây Bồ Đề con do cái rễ của Bồ Đề mẹ còn lại.

Bồ Đề nào cũng thế, Bồ Đề tâm hay vật thể không bao giờ mất, vì nó là chân lý, đúng như lời người xưa từng nói “sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý không bao giờ đổi thay”.

 

Nhờ được còn sót lại cái rễ Bồ Đề cỏn con ấy trong tâm thức, nói như Nguyễn Du  “Thiện căn bởi tại lòng ta”, là năng lực giao cảm, nối kết với chư Phật, Bồ Tát, nên tôi được Bồ Tát Quán Thế Âm thấy trạng thái ủ dột, buồn tênh, bực tức, sầu bi, nghiêng ngả của tôi. Nghe được tâm tôi luôn hằng chuyển không ngừng nghỉ suốt đêm, ngày trên dòng sóng tư duy khó ngủ do thắc mắc không tìm ra nguyên nhân, lý do tại sao một vài vị Tỳ kheo Tăng là những vị có trình độ văn hóa lớn trong các giáo hội Phật giáo Việt Nam hải ngoại và một bà Phật tử chủ tiệm thuốc tây tu hạnh Pháp Hoa; cả hai hạng người con Phật ở ngôi vị xuất gia, tại gia ấy, họ và tôi vốn đã và đang gắn bó đạo tình thật thâm sâu rất lâu có trên mười năm văn hóa, tu học, tụng kinh, lễ bái, từ thiện, Phật sự. Do vậy mỗi lần tôi hiện hữu gặp họ ở đâu, thì thôi cùng nhau tay bắt mặt mừng vồn vã vui cười, thăm hỏi, mời mọc trà đạo hàn huyên thơ, văn, đạo pháp thật thú vị! Thì lại vào giữa năm hai ngàn lẻ hai, lẻ ba, tôi gặp họ, tôi vẫn thể hiện cung cách văn hóa qua trạng thái chấp tay kính lễ, chào hỏi như thuở trước một cách vui vẻ tự nhiên. Nhưng họ đáp lại tôi bằng trạng thái lúng túng mất tự nhiên, đáp lời gợn sóng, ngả nghiêng, quay đi chỗ khác, có nét oán hận trên đôi mắt, mặt nghiêm đáng sợ. Tôi không biết nguyên do ngọn ngành từ đâu mà những người thân thương của tôi không còn đạo vị văn hóa thanh tao với tôi như trước nữa! Do đó Bồ Tát Quán Thế Âm đã ban lời giáo chỉ cho tôi bằng bài kinh Bát Nhã ba la mật đa tâm kinh, để cho tôi qua đó mà tự nhận thức lại về sắc, không đối với mọi hiện tượng xấu ác đã hiện hữu và sẽ hiện hữu nay mai chỉ là những tiếng sấm, các tia chớp trong trời chiều mùa hạ sắp đổ mưa, sương mai mùa đông, cơn lốc mùa thu, tiếng mớ ban ngày của kẻ say men rượu tình, tiếng đập tay đành đạch trên sàn gỗ của những con người đầy tham vọng ở giấc chiêm bao trong đêm dài tăm tối.

Quả thật, đêm 19 tháng 6 âm lịch năm Quý Mùi, tháng 7 dương lịch năm 2003. Sau hơn một giờ ru giấc ngủ, tôi đi vào giấc ngủ khá ngon, do thời tiết San Diego Cali đang ở cuối mùa hạ tháng 6 ta, 7 dương lịch ở xứ Mỹ, nên trời hơi se lạnh một chút thật lý tưởng vào không giờ là giờ ngủ ngon trớn tới sáng tròn đầy lúc mặt trời lên cao, chưa muốn dậy đối với các cụ ở lứa tuổi trên lục tuần như tôi. Nhưng hôm ấy tôi tỉnh giấc một cách tỉnh táo do nghe tiếng người tụng bài kinh Bát Nhã đang vang vọng khắp nhà. Tôi nằm im để lắng nghe tiếng tụng kinh đó được phát xuất từ đâu. Kể cả kiểm soát đầu óc, tâm trí mình nữa, trong đó có bịt tai được nghe nhỏ, hết bịt tai nghe lớn, ngồi dậy, nằm xuống lại vẫn nghe, bước xuống giường đi ra phòng khách, vô bếp, vẫn nghe. Sau cùng vào phòng bà xã đến chỗ có máy cassette, ra radio. Tất cả máy đều không có mở, nằm im theo giấc ngủ của nàng. Tôi xem đồng hồ trên tường lúc bấy giờ là bốn giờ sáng, đến vén rèm cửa sổ nhìn ra ngoài thấy ánh trăng hơi khuyết của trung tuần tháng sáu ta đang treo trên bầu trời hướng tây, tỏa ánh sáng lờ mờ xuống không gian San Diego đêm cuối hè về khuya có hơi sương, làm cho San Diego có dáng dấp như cô gái dậy thì đang e ấp sau màn the có lốm đốm màu sắc đỏ, vàng.

Tất cả động tác và bước chân đó đây trong nhà của tôi đi tìm kiếm nơi phát xuất tiếng tụng kinh không làm giảm đi âm thanh Bát Nhã, vẫn nghe trong vắt qua từng động tác. Sau đó để nhận định vị trí phát xuất lần chót, tôi nằm lại giường, ngữa mặt nhận định. Thì tiếng tụng kinh Bát Nhã ấy như thể từ trên không trung vọng xuống. Lần này tôi chấp tay lên ngực tụng theo. Tôi nghe rõ có 3 tiếng tụng: hai nữ, một nam được ăn khớp nhau đều đều theo tiếng mõ, loại mõ nhỏ như trái táo (apple) Mỹ và có tiếng chuông gia trì cỡ trung, điểm vào cách khoảng chừng một phút một tiếng.

Bài kinh Bát Nhã được tụng liên tục nối tiếp sau mỗi lần câu cuối “Yét đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha” được trở lại từ đầu. Cứ như thế cho đến lúc bình minh ló dạng xam xám sau màn cửa sổ, thì tiếng tụng kinh Bát Nhã từ từ nhỏ dần và dứt hẳn sau ba tiếng chuông. Ôi thật mầu nhiệm thay! Bất khả tư nghì!

 

Sau hơn một tháng nghe tụng kinh Bát Nhã, tôi bị bà Phật tử trí thức thuần thành theo nghĩa giàu có tu hạnh Pháp Hoa gởi cho một thư FAX vào ngày 18.10.2003. Nội dung trong thư, tôi thấy bà đang hiện hữu ở chốn thiền môn với trang phục áo tràng lam, tay lần tràng hat Bồ Đề, mắt lim dim, miệng niệm những văn tự, mưu chước thâm độc, kế hoạch tàn bạo, cách thức bất nhân của Thiên Ma Ba Tuần đang đánh phá Phật giáo Việt Nam hải ngoại. Do vậy, thay vì niệm Phật, bà niệm những ngôn từ của Thiên Ma, thay vì đi thiền hành, bà “on line” bước tới hố thẳm đầy chông bén nhọn mà Thiên Ma đã đào sẵn trong chốn thiền môn gần cả thập niên qua. Quả thật như vậy, trong FAX bà nói rằng bà đi dự lễ Vu Lan tại các chùa ở quận Cam thì được các Tăng, Ni, Phật tử ở đó nói cho bà nghe những kế hoạch đánh phá Phật giáo trong đó viết bạch thư bêu xấu Tăng Ni đủ thứ chuyện bất chánh v.v… là do ông cư sĩ nọ, ông cư sĩ kia trong Phật giáo viết ra. Bà lại còn đổ thừa cho các Tăng Ni ở quận Cam nói tôi viết bạch thư.

Đọc xong thư FAX, thoạt đầu tôi định ra tiệm bà để nói lời yêu cầu bà: bà ơi đừng nên ngủ mãi trong căn nhà phước báo hoài, dù cho được mọi người gọi đại thí chủ, nhưng không thấy được Thiên Ma đang trà trộn nơi chốn thiền môn. Do vậy bà mới bị chúng sai sử tuyên truyền dùm lời đánh phá Phật giáo của chúng. Bà nên bước vào căn nhà trí tuệ, mới đích thực đúng cách tu tập của người Phật tử, đó là phước tuệ song tu. Bà có trí tuệ, bà sẽ được có Phật tâm, Phật nhãn, thì bà sẽ thấy được Thiên Ma ẩn núp dưới đài sen, trong sân chùa, chực hờ đánh phá Phật giáo. Chứ còn bà chỉ có tấm lòng bố thí cúng dường và đôi mắt bán thuốc cả ngày, thì nhất định bà không thấy được hình dáng, mưu chước của Thiên Ma đánh phá Phật giáo rất là dễ thấy, mà bà không thấy được, huống hồ lời Phật dạy trong Pháp Hoa bà đang tụng, lời thuyết pháp của chư Tăng Ni, làm sao bà có thể thấy được đạo lý vô ngã của các pháp trong đó!

Thiên Ma được đối lại với tuệ giác. Như vậy, những người nào tại quận Cam đã nói những lời độc đối với tôi mà bà chống tai, đưa mắt nhìn nghe, rồi viết lại những lời ác ấy gởi tôi, đó là Thiên Ma. Không chính tông, thì cũng dòng họ, quyến thuộc của Thiên Ma, không sai chạy đâu cả. Trong khi đó cũng tại quận Cam, hằng ngàn Phật tử, cư sĩ, Tăng Ni khi vừa nghe Thiên Ma tung ra nhiều chiêu, nhiều lời đánh phá từng cá nhân Tăng Ni, cư sĩ, họ đều lên tiếng chống lại, đoàn kết nói cho nhau nghe đừng tin những lời đánh phá của Thiên Ma. Trong khi dó bà lại tin những người nói lời độc ác, mà những người nói lời độc ác cho bà nghe lại là các vị trụ trì tại các chùa ở quận Cam như bà nói trong thư FAX, thật là vô lý! Tăng Ni nào mà ác tâm thế?

Vậy bà nên lên quận Cam gặp lại những người trước đây, năm 2003 đã nói lời ác thế cho Thiên Ma mà bà đã chí thành chấp tay lắng nghe. Rồi chỉ tay vào mặt họ mà nói rằng: này ông, bà, anh, chị, chú, bác, dì, cô, em… là loại Thiên Ma Ba Tuần. Nếu họ nói không phải Thiên Ma, thì hỏi vặn lại, không Thiên Ma thì tại sao tuyên truyền dùm kế hoạch đánh phá Phật giáo của Thiên Ma qua lời vu khống người cư sĩ này, cư sĩ kia viết bạch thư? Hoặc là họ không hiểu Thiên Ma, bảo họ đến hỏi các Tăng Ni ở quận Cam, sẽ được quý ngài nói cho nghe, chỉ cho thấy, giảng cho hiểu. Bởi vì quý ngài đã và đang bị phiền não không phải là ít cả chục năm nay bởi bọn Thiên Ma đó.

Tôi định nói với bà Phật tử trí thức tu hạnh Pháp Hoa ấy mấy lời trên, nhưng trực nhớ lại lời giáo chỉ của Bồ Tát Quán Thế Âm qua bài kinh Bát Nhã là đạo lý phương tiện viễn ly mọi thứ phiền não, vọng tưởng, điên đảo để đạt cứu cánh Niết Bàn. Tâm tôi liền xả bỏ tất cả lời ác độc trong thư FAX của bà ra khỏi tâm do nhận thức thấy rõ những lời ác độc ấy như là những tiếng hú, tru tréo của các loại yêu tinh, ma quái ở sa mạc Gobi không khác. Tôi cảm thấy trong lòng nhẹ nhõm, trống rỗng, thênh thang, niềm vui thể hiện.

Sở dĩ tôi có mấy lời với bà hơi đanh thép ở phần lý luận (tục đế) như là những tiếng chuông lớn vang vọng ra xa để đánh thức cho một số Phật tử các nơi ở hải ngoại, ai chưa thấy Thiên Ma đang đánh phá Phật giáo Việt Nam hải ngoại bằng nhiều chiêu thâm độc, chẳng hạn chiêu chụp mũ cộng sản, bạch thư, v.v… thì hãy thức dạy học lại hai bài học “Chánh tri kiến” và “Chánh huệ” để thấy. Bằng không sẽ bị u mê, liền cầm vũ khí độc bằng ngôn ngữ của Thiên Ma “on line” xông tới đâm, chém, bắn phá vào ngôi nhà Phật giáo hải ngoại của mình làm cho Tăng, Ni, nam nữ Phật tử chân tu trong các giáo hội đang trên vận hành đem Phật pháp vào dòng đời bị thương tâm hồn như bà Phật tử trí tu Pháp Hoa kia đã bị mũi tên ô nhiễm của Thiên Ma bắn vào tâm hồn tại quận Cam khi dự lễ Vu Lan tháng 7 năm Quý Mùi (2003) vừa qua. Trong lúc bị tên độc ghim sâu vào tâm như vậy mà bà không dùng lưỡi gươm Pháp Hoa của bà để giải phẩu tâm hồn lấy tên độc ra, rồi xức thuốc từ bi vào vết thương, vết thương sẽ lành. Nhưng tội nghiệp cho bà, bà chưa có hai thứ trí tuệ, từ bi ấy! Có chăng, chỉ có một, đó là từ bi, nhưng tâm từ bi của bà không do trí tuệ phát sinh, mà là do bố thí mà có của hàng sơ cơ mới vào Phật đạo. Do vậy bà bị điên đảo, u mê tâm hồn cho đến nỗi làm cho mặt bà tái xanh cứng đơ, trạng thái dảy nảy khi trao cho tôi những lọ thuốc. Rồi sau đó bà bắn các tên độc của Thiên Ma đến tôi. May mà tâm tôi đang mặc cái áo giáp hai lớp chánh tri kiến và chánh huệ, chứ không đã bị vào tâm rồi.

Qua trạng thái điên đảo của bà Phật tử trí thức giàu có bị Thiên Ma ở quận Cam bắn tên độc vào tâm, cho ta thấy Thiên Ma đã thắng lớn trên mặt trận đánh phá Phật giáo Việt Nam hải ngoại bằng chiến thuật dùng Phật tử chùa này đánh phá Phật tử chùa kia, tổ chức Phật giáo kia đánh phá tổ chức Phật giáo nọ, Tăng Ni chùa nọ đánh phá Tăng Ni chùa kia. Pháp nạn là chỗ đó không đâu khác, được phát xuất từ tâm hồn đảo điên do hít thở những chất độc của Thiên Ma mà không biết.

Không rõ chư tôn đức của ta trong các giáo hội Phật giáo hải ngoại có biết hay không!

 

10. Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ thị Bồ Tát Arăng ra suối chữa bệnh suyễn cho Bồ Tát Thích Đôn Hậu

Con người dù cho có hằng ngàn tấn vật chất trong tay cho mục đích xây dựng một thiên đàng cho chúng sinh theo lý tưởng tôn giáo, mà tâm không mang thực chất nguyên lý giải thoát sinh tử cho chúng sinh, thì không thể thực hiện được thiên đàng! Có chăng chỉ là thiên đàng bằng cát biển.

Chỉ có tâm  lực Bồ Tát vốn có và chứa đựng thực chất nguyên lý cứu khổ và giải thoát sinh tử cho chúng sinh bằng hạnh nguyện Bồ Tát đạo vào đời, thì mới có thể kết tụ vô số chúng sinh lại với nhau mà xây dựng cho họ một cõi cực lạc tại bất cứ nơi đâu: ở thành thị, thôn quê hay rừng núi cao nguyên, một khi ở đó có một vị Bồ Tát thị hiện bằng thân người thật.

Tôi muốn nói đến nàng ARĂNG, người sơn nữ dân tộc Trường Sơn tại xã Aru huyện Alưới, thuộc tỉnh Thừa Thiên từ thời kỳ quê hương đầy khói lửa (1968) cho đến nay (2007) nàng vẫn hiện hữu giữa những dãy núi cao trùng điệp, các con suối trong đục bốn mùa, sương mù đông xuân, cái nóng nung người của gió Lào mùa hạ, nước lũ mùa thu, quê hương ta là thế đó!

Nàng Arăng là con một của ông bà Già Làng. Người Kinh gọi là trưởng làng, danh từ thời đại gọi là xã trưởng, chủ tịch xã, chức vụ trông coi mọi sinh hoạt vật chất và tâm linh của toàn dân trong tất cả làng ấp thuộc xã. Theo truyền thống của dân tộc miền cao, các Già Làng đều có uy quyền đối với toàn dân trong các sóc buông từ khắc khe cho đến tình cảm trên cơ chế chỉ đạo đời sống người dân trong sinh hoạt vật chất và tâm linh ở các việc tế lễ thánh thần đất đai và văn hóa truyền thống, cũng được cha truyền con nối, cho nên nàng Arăng hiện nay là Già Làng của toàn dân trong các sóc buông tại xã Aru sau khi cha mẹ nàng đã qua đời.

Cha mẹ nàng Arăng ngoài chức vị Già Làng, còn là thầy thuốc chuyên trách chữa trị các chứng bệnh của người dân trong các sóc buông. Do vậy nàng Arăng đã được song thân truyền lại nghề thầy thuốc. Vì thế cho nên vào mùa xuân 1968, trên đường hoằng hóa độ sanh, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu bị lên cơn suyễn nặng khó mà sống được, nên chi những người bộ đội đã dừng lại để ôn nằm nghỉ gần con suối ngay lãnh thổ xã Aru. Thì trong đêm đó, trong giấc ngủ, nàng Arăng thấy một người nữ dân tộc mặc đồ trắng xuất hiện nói với nàng Arăng rằng: này cái thầy thuốc hãy ra nơi con suối mà chữa bệnh cho cái ông thầy. Nàng Arăng tỉnh giấc, không biết đó là điềm gì, ngủ tiếp. Giấc ngủ tiếp độ mươi phút, lại thấy và nghe tiếng của người mặc đồ trắng nói thêm lần nữa “này cái thầy thuốc hãy ra nơi con suối mà chữa bệnh cho cái ông thầy”. Lần này nàng Arăng tỉnh giấc hẳn, xuống sàn, đến cửa thấy ngoài trời sắp rạng đông, nàng liền đi ra con suối gấn đó. Quả nhiên nàng thấy Hòa Thượng Đôn Hậu đang nằm dưới đất trên tấm vải màu cây rừng cũ kỷ làm võng thật chật hẹp trong trạng thái mê man, khó thở như người đang hấp hối. Nàng Arăng nhã ý với mấy chú bộ đội là muốn đưa ôn vào nhà để chữa trị. Mấy chú bộ đội bằng lòng và bảo nàng Arăng phải tìm người đưa Hòa Thượng Đôn Hậu ra Bắc nếu bệnh suyễn của Hòa Thượng được hết hẳn. Nàng Arăng nhận lời ngay. Tức thì Arăng đi vội vào buông, gọi mười người đàn ông, rồi cùng với nàng ra suối võng ôn vào nhà. Tại đây Hòa Thượng được Arăng nấu thuốc cho uống liên tục vài hôm. Cơn suyễn từ từ được giảm dần và hết hẳn, ôn cảm thấy khỏe ra và ăn uống bình thường. Thế là Hòa Thượng phải tiếp tục hành trình ra Bắc. Người đưa ôn đi lần này là bốn đàn ông trong buông do Arăng chỉ thị với tư cách Già Làng, chứ những chú bộ đội đưa ôn đi lần trước không còn ai ở lại với ôn.

Trong giờ phút ôn được khỏe và trước khi lên đường, Hòa Thượng Đôn Hậu không nói bài Phật pháp nào cho Arăng cả! Ôn chỉ chào tạm biệt và nói lời cảm ơn Arăng đã hết lòng chăm sóc bệnh suyễn cho ôn.

Mặc dù Hòa Thượng Đôn Hậu không nói lời Phật pháp nào cho Arăng, bởi vì hoàn cảnh và môi trường chưa được thuận duyên, nhưng thân tướng trang nghiêm, đức độ của Hòa Thượng được thay cho lời pháp hùng hồn nhất có năng lực khai thị Phật tánh (Như Lai tạng) trong tâm Arăng bừng dậy, vươn lên nở hoa trí tuệ, kết trái Bồ Đề một cách hiện thực đối với những hàng Bồ Tát thị hiện vào đời vốn sẵn có hoa, trái Bồ Đề như nàng Arăng đang hiện hữu giữa lòng Trường Sơn, nơi có núi cao, rừng rậm, suối sâu… Đúng là hàng Bồ Tát Tùng Địa Dõng Xuất được Phật nói trong kinh Pháp Hoa, thì nàng Arăng là Bồ Tát Tùng Địa đích thực! Bởi vì kể từ sau giây phút Hòa Thượng Đôn Hậu chào tạm biệt Arăng lên đường giữa mùa xuân 68 cho đến mùa xuân 75 cả một chuỗi thời gian đằng đẵng. Ấy thế vậy mà tấm thân năm uẩn mỹ miều của Arăng bỗng dưng lên ngôi xuất thế gian, nếu không nói là thân tướng của nữ tu Phật giáo, vì bản tính của nàng vốn thường trầm tư, chững chạc, khiêm cung, lời nói ngọt ngào với bà con xóm làng thì nay những trạng thái ấy được tăng trưởng lên bội phần hơn xưa. Mặc dù tuổi nàng giữa mùa xuân 68 đã quá độ trăng tròn như hoa xuân đang nở rộ giữa mùa, nhưng thân tâm nàng luôn sống trong tỉnh thức như hoa sen đang nở hoa, ra quả giữa lòng nước dơ trong ao bùn.

Thân tâm nàng Arăng luôn thường trầm mặc, tư duy, sống trong tỉnh thức suốt thời gian từ mùa xuân 68 đến mùa xuân 75 như vậy, chính là nàng muốn xuất gia tu hành để giải thoát sinh tử cho mình và chúng sinh giống như thái tử Tất Đạt Đa xưa kia thường trầm mặc, tư duy trước khi vượt thành xuất gia.

Quả thật, quê hương không còn chiến tranh sau mùa xuân 75, nàng Arăng xuống núi vào Huế đến chùa Thiên Mụ thăm Hòa Thượng Thích Đôn Hậu và ngõ lời xin ôn được xuất gia. Hòa Thượng liền hoan hỷ chấp nhận Bồ Đề tâm xuất gia của Arăng. Hòa Thượng cho tiến hành các lễ thế phát (xuống tóc quy y tam bảo, truyền 10 giới luật, thọ Sa Di pháp danh Tâm Hiền. Thế là nàng công chúa Arăng, con gái Già Làng xứ Aru, một tiểu quốc người dân tộc trên rặng Trường Sơn nước Việt trở thành sư cô từ dạo đó cho đến hôm nay và mãi mãi về sau tại xứ Aru.

Sau khi các lễ nghi được hoàn tất, Hòa Thượng Đôn Hậu hướng dẫn cho sư cô Tâm Hiền cách thực hành ở hai pháp duy nhất, đó là mười giới luật Sa Di và niệm Phật A Di Đà. Về pháp niệm Phật, ôn nói: “Này Tâm Hiền, con không rành tiếng Kinh, nên con không tụng kinh được, cũng không thể học giáo lý qua kinh sách. Muốn vậy thì phải học chữ quốc ngữ, tức là tiếng người Kinh. Thôi thì hay hơn hết, từ bây giờ trở về sau con giữ lòng thành hướng lên chư Phật và niệm Nam Mô A Di Đà Phật, cũng đến được với Phật”. Và ôn còn nói thêm: “Chùa này chỉ dành cho chư tăng nam ở, ni như con không ở được. Để rồi ôn giới thiệu cho con đến mấy chùa sư nữ tại Huế này để con đến đó xin ở mà tu niệm Phật.

Qua lời giới thiệu của ôn, sư cô Tâm Hiền đến một vài chùa sư nữ, được ở mỗi chùa như vậy chỉ mới vài hôm lại ra đi. Lý do là ngôn ngữ bất đồng và môi trường sống trong không khí chống trái, không thích hợp với các sư cô trong chùa, nếu không nói là bị ăn riêng, ngủ riêng, nên cô Tâm Hiền không đi đâu hết, chỉ ngồi im một mình trong bếp cả ngày.

Trước môi trường không thuận duyên và hoàn cảnh khó ở ấy, cô Tâm Hiền trở lên Thiên Mụ thăm ôn và nói hết sự tình với ôn, rồi cảm ơn lòng từ bi cứu giúp của ôn, xin ôn về lại quê nhà Aru để tiếp tục tu niệm Phật theo lời ôn dạy.

Về lại quê nhà, trước tiên toàn dân nam, nữ, già, trẻ trong 4 buông (sóc) ai cũng đến nhà cô. Đến không phải ý niệm tò mò về thân tướng đầu tròn, áo vuông của một sư cô, mà là tỏ lòng vui mừng được thấy người trưởng làng (Già Làng) của mình nay được lên ngôi vị cao hơn Già Làng, đó là ngôi vị Tăng bảo. Nếu không nói là toàn dân trong 4 sóc trước đây tuân lệnh Già Làng Arăng trăm phần trăm, nay tuân lệnh ngàn phần ngàn như thể đệ tử tuân lệnh bổn sư.

Tại quê nhà, cô Tâm Hiền chuyên tâm niệm Phật hằng ngày trong lúc làm việc, cũng như  khi tĩnh tọa tại nhà nơi chưa có tượng Phật, nhưng tượng Phật trong tâm cô luôn thường hiện hữu. Bên cạnh đó, cô cũng hướng dẫn cho một số người lớn về niệm Phật A DI ĐÀ.

Với tấm lòng biết ơn bổn sư và cầu tiến cách tu niệm cho mình và người, cô Tâm Hiền đi đi về về Thiên Mụ để thăm ôn và nghe thêm lời dạy của ôn suốt thời gian từ dạo đó cho đến khi ôn viên tịch mới hết về Thiên Mụ.

Tâm niệm lợi tha và giác tha (giác hữu tình) của hàng Bồ Tát vào đời đều có như nhau, do vậy cô Tâm Hiền tạm xa quê nhà, lên đường tìm minh sư để học hỏi một số giáo vụ, trong đó có cách đi thiền hành niệm Phật để hướng dẫn cho hàng ngàn người dân tại quê cô. Đích thực cô Tâm Hiên vào Bà Rịa thụ giáo với sư bà Như Như và được sư bà cho thọ Tỳ Kheo giới tại Ni Viện Thiện Hòa, cũng như được học hỏi cách thiền hành Tịnh Độ niệm Phật tại Thiền đường Liễu Quán 2 cũng ở tại Bà Rịa, và được thọ Bồ Tát giới tại trai đàn Giác Nhiên với sư cô Như Đạt tại Huế với pháp tự Chánh Thiện.

Sư cô Arăng Tâm Hiền đem tất cả kinh nghiệm về giáo vụ qua quá trình học hỏi ở các nơi ra thực hành cho toàn dân của cô trong bốn buông. Nếu không nói là xứ Aru từ một vùng đất mà con người trong đó sống cuộc đời lặng lẻ với rừng núi âm u, buồn tênh, vui ít, khổ nhiều thì nay đã trở thành cõi Tịnh Độ. Tịnh Độ mà sư cô Tâm Hiền đã tạo ra cho toàn dân làng của cô ở hai việc duy nhất theo khả năng cô, đó là thiền hành niệm Phật và ăn chay một tháng 4 ngày (30, mồng một, 14, rằm). Hai pháp tu ấy được cô Tâm Hiền dắt dẫn cho toàn dân 4 buông sóc đã gần 20 năm qua, nay vẫn còn tiếp tục.

Pháp tu thiền hành niệm Phật được diễn ra ngày 2 lần, sáng và chiều. Sáng sớm lúc 4 giờ AM, toàn dân già trẻ từ các buông xa đi bộ về khu vườn trồng thuốc gần 10 mẫu, rồi xếp hàng đi thiền hành niệm Phật sau cô Tâm Hiền, đến 6 giờ AM, mọi người đi làm ăn vào rừng. Chiều đến lúc 4 giờ PM,  mọi người về lại khu vườn, xếp hàng sau cô Tâm Hiền đi thiền hành niệm Phật, đến 6 giờ PM, mọi người về nhà sinh hoạt ăn uống, ngủ nghỉ. Cứ như thế mà diễn ra không ngưng một bữa nào suốt bao nhiêu năm rồi.

Hình ảnh hàng ngàn người dân trong tám trăm hộ ở bốn buông đều tham dự thiền hành niệm Phật. Các cháu nhỏ lên bốn, lên năm được mẹ chúng điệu ở sau, các cháu nhỏ hơn được các bà mẹ gùi sau lưng, không một ai ở nhà, trừ người bị đau ốm. Hàng ngàn người chấp tay trước ngực, mắt nhìn xuống phía trước thật trang nghiêm, chân bước đều từng bước vững chãi theo nhịp gõ tang-tang-cắt-tang-tang-cắt do sáu mươi em thiếu niên gõ vào gáo dừa và các thìa sắt giữa âm thanh Nam Mô A Di Đà Phật vang dội cả núi rừng.

Là Phật tử, chúng ta nên biết rằng, tất cả chúng sinh trong ba cõi, sáu đường luôn luôn được chư Phật, Bồ Tát thường trực quan sát và thị hiện qua nhiều hình tướng khác nhau theo môi trường, hoàn cảnh sống của các chủng loại chúng sinh để cứu khổ.

Vì thế cho nên chư Phật đã thấy các dân tộc miền núi cao nguyên Việt Nam qua các triều đại trị vì đất nước trước 75 không bao giờ được gặp ánh sáng Đạo Phật, do đó chư Phật đã bổ sứ một Bồ Tát thát sinh làm người con gái trong gia đình Già Làng, ngôi vị có uy quyền đối với toàn dân xứ Aru, được xem như một tiểu quốc trên đỉnh Trường Sơn. Thì nàng Arăng là một công chúa. Công chúa mới có quyền hành ở các việc mà dân thường không thể làm được. Do đó Bồ Tát Arăng Tâm Hiền đã thực hiện nhiều việc Bồ Tát Đạo lớn sau khi ở lứa tuổi trên 20. Những Bồ Tát Đạo ấy, nào là chữa bệnh suyễn cho cố Hòa Thượng Thích Đôn Hậu, sống tỉnh thức như người xuất gia từ mùa xuân 68 đến mùa xuân 75, xuất gia thọ giới Sa Di với Hòa Thượng Đôn Hậu, đi tìm minh sư học Phật và cách thức thiền hành, mở đạo tràng Phật thất cho toàn dân ở bốn buông tại Aru, thọ Tỳ Kheo giới với Sư bà Như Như ở Bà Rịa, Bồ Tát giới tại giới đàn Giác Nhiên ở Huế, hướng dẫn hàng ngàn dân Aru niệm Phật, kinh hành chung quanh khu vườn thuốc nam, khuyên dạy dân Aru ăn chay, vân vân…

Đạo tràng Phật thất Aru và Sư cô Thích Nữ Tâm Hiền đang hiện hữu ở Trường Sơn Alưới, chính là nhịp cầu đạo pháp sẽ được nối tiếp đến các buông sóc người dân tộc sơn cước miền Bắc,  miền cao nguyên Trung phần trong tương lai mà chư Phật đã thấy khai mở đạo tràng Aru là trung tâm điểm ra Bắc vào Trung.

Một Bồ Tát thị hiện làm thân người, dĩ nhiên phải lệ thuộc vào mọi sinh hoạt của cõi người, trong đó bị nghịch duyên, được thuận duyên theo khả năng văn hóa, sức khỏe bản thân cõi trần, nên thân nữ  yếu hơn thân nam, người dân tộc kém văn hóa hơn người Kinh. Nói khác hơn, khả năng và hiểu biết của một Tỳ Kheo Ni người dân tộc không bằng một Tỳ Kheo Ni người Kinh. Khả năng hiểu biết của một Tỳ Kheo Ni người Kinh không bằng một Tỳ Kheo Tăng người Kinh.

Nói rõ hơn, một mình Sư cô Tâm Hiền không đủ sức làm nhiều giáo vụ Đạo pháp cho Đạo tràng Aru, đúng với câu “một con én không làm nên mùa xuân”, phải nhiều con én mới làm nên mùa xuân.

Cũng như vậy, Đạo tràng Aru phải được chư Tăng, Ni khắp nơi trong và ngoài nước tiếp sức tài vật và tâm lực vào đó thì mới có thể thành tựu theo lý tưởng mà chư Phật, Bồ Tát đã quan sát, khai thị và bổ sứ sư cô Tâm Hiền vào nơi đó, chính là tạo duyên Phật pháp cho hàng ngàn người dân tộc vùng cao nguyên được hạnh phúc, tắm mát trong dòng suối Phật pháp. Nếu chúng ta không góp công sức, tài lực, tâm lực xây dựng ngôi Tam Bảo tại Aru với Sư cô Tâm Hiền vì lý do nào đó, được xem như phản bội tinh thần đối với chư Phật, Bồ Tát do không thấy được sự ứng thân, hóa thân, thị hiện của chư Phật, Bồ Tát vào đời bằng nhiều hình tướng khác nhau.

 

11. Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện thầy Tỳ Kheo Tăng ghẻ chóc dạy Pháp sư Huyền Trang bài kinh Bát Nhã

Ngài Pháp sư Huyền Trang lúc đang ở tại chùa Không Huệ xứ Ích Châu, bỗng một hôm gặp một thầy Tỳ Kheo Tăng lạ không biết từ đâu đến lại xuất hiện gần chùa với thân hình đầy ghẻ chóc hôi hám, quần áo rách rưới tả tơi, thật bẩn thỉu. Pháp sư Huyền Trang liền động lòng thương, đem lời mời vào chùa cho trú ngụ và cho y phục mới, giúp cho lương thực no đầy. Vị Tăng ghẻ chóc ấy không lấy gì để đền ơn đáp nghĩa cho Pháp sư Huyền Trang, bằng cách dạy cho Pháp sư học thuộc bài kinh Bát Nhã ngắn gọn.

Sau này, khi Pháp sư Huyền Trang một mình một bóng vượt qua sa mạc Gobi, một biển cát rộng mênh mông, dài thăm thẳm trên 800 dặm, trên không chim bay, dưới không thú chạy, khô khan không cỏ mọc, không nước, ngày nóng bức, gió lộng tung bay cát bụi mịt mù, đêm lạnh tê người, tối om mù khơi đầy kinh hãi bởi vô số bóng dáng yêu tinh ma quái, quỷ dữ lập lòe xa xa, chờn vờn trước mặt, rờn rợn theo sau lưng, chập chờn ẩn hiện hai bên, le lưỡi, trợn mắt đỏ ngầu, tru tréo, hú vang… Giữa lúc cực kỳ hãi hùng ấy, Pháp sư Huyền Trang an nhiên tiến bước với tâm niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Nhưng không đuổi được bọn yêu tinh ma quái. Ngài liền nhớ đến bài kinh Bát Nhã ngắn gọn mà thầy Tỳ Kheo Tăng ghẻ chóc đã dạy cho lúc trước, Pháp sư liền cất tiếng tụng niệm một cách dõng dạc giữa đêm trường. Ôi, lạ lùng mầu nhiệm thay, mọi hình tượng quái dị đã biến mất hết. Quả thật đúng như lời kinh “… chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” “… Bồ Tát y Bát Nhã ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng…”

Truyền thuyết còn kể thêm rằng, trong lúc Pháp sư Huyền Trang ngụ tại chùa Nalanda ở Ấn Độ cho việc học Phật và phương án thỉnh kinh, bất chợt gặp lại thầy Tỳ Kheo Tăng trước kia dạy bài kinh Bát Nhã ấy. Thầy Tỳ Kheo nói: “Thầy đã lặn lội bao gian khổ, hiểm nguy trên sa mạc, cuối cùng đến được xứ Tây Trúc này. Đó là  nhờ ở pháp môn tâm yếu của chư Phật ba đời mà tôi đã truyền dạy lại cho thầy tại China. Nhờ kinh Bát Nhã mà thầy được bảo vệ an toàn trên suốt cuộc hành trình vượt sa mạc đến Tây Trúc. Nay đã thỉnh được kinh, tâm nguyện của thầy đã trọn rồi. Ta là Bồ Tát Quán Thế Âm đây”. Nói xong, Bồ Tát Quán Thế Âm biến mất vào hư không. (Phỏng theo bài DẪN VÀO TÂM KINH BÁT NHÃ – Tuệ Sỹ)

 

12. Bồ Tát Ca Nhã Ca thị hiện thầy Tỳ Kheo bệnh cùi để chữa lành mụn ghẻ cho Ngộ Đạt quốc sư

Thuở xưa về triều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngô Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh ca-ma-la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm kích phong thái của ngài Tri Huyền mới dặn rằng:

- Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.

Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lại lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.

Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng không âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa kia không sai. Ngài liền đi ngay đến chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.

Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm sự đau khổ của mình. Nhà sư ấy nói:

- Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy khỏi ngay.

Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì mụn ghẻ kêu lên:

- Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Án, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?

- Tôi có đọc.

- Ông đã đọc rồi có lẽ nào lại không biết chuyện Viên Án giết Tiều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bực cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nhã Ca tôn giả lấy nước pháp tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.

Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bửu điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là “Chí Đức Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài kỳ sự ghi chép việc này rõ ràng.

Khi đó ngài Ngộ Đạt nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu gặp thánh nhân thì do đâu giải khỏi được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này để mai chiều lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.

Ba quyển sám đây tức là bài văn của ngài làm ra lúc đó vậy.

Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam Muội rửa sạch nghiệp oan nên mới đặt là Thủy Sám. Lại ngài Ngộ Đạt cũng vì cảm điềm dị ứng của đức Ca Nhã Ca nên dùng tên ấy mà đặt tên cho bộ Sám văn này để đáp cái thâm ân kia.

Nay tôi kể rõ sự thật và nêu công của tiên đức để cho những người đọc bộ sám văn này, hoặc lễ, hoặc tụng, đều biết được sự tích của tiền hiền vì lẽ nhân quả tuy nhiều kiếp cũng không sai chạy.

(Bài này tôi cố tìm tên tác giả mà không thấy – Trích ra ở phần Duyên Khởi của kinh Thủy Sám)

 

TỔNG LUẬN

Chư Bồ Tát thường thị hiện vào thế gian bằng nhiều hình tướng sai biệt khác nhau như đã được trình bày qua mười mấy câu chuyện có thật; khi thì hữu hình giả dạng người ăn mày, cô gái, người hành hương, thầy Tăng ghẻ lở, thầy Tăng bệnh cùi, hình ảnh trên hư không, hình tướng có lời, không lời trong giấc ngủ con người, âm thanh tụng kinh, ánh sáng có màu sắc và vô hình được chứng thực qua khỏi cơn bịnh nan y, công việc được hanh thông do con người hết lòng cầu nguyện, v.v… Tất cả hình ảnh hữu hình, vô hình của chư Bồ Tát thị hiện cứu khổ con người có khác nhau như vậy, là do môi trường, hoàn cảnh của chúng sinh sẽ bị ngộ nạn, tai ách đang đến, hay nghe tiếng cầu nguyện một cách thiết tha khẩn trương, dù có niệm danh hiệu Bồ Tát hay không niệm đến, Bồ Tát vẫn thị hiện cứu khổ, đó là trường hợp của người linh mục Bồ Đào Nha không cầu nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm. Hoặc không cầu nguyện gì hết, Bồ Tát vẫn thị hiện do quán thấy trước, đó là trường hợp ngài Huyền Trang và Ngộ Đạt Quốc Sư. Còn đem tâm cầu nguyện hết lòng, là dĩ nhiên có Bồ Tát ứng hiện.

Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện hình ảnh và ánh hào quang năm sắc trên không trung là do môi trường, hoàn cảnh và tâm ý phức tạp của chúng sinh, chẳng hạn trường hợp của Sư bà Diệu Từ trong lúc xây dựng ngôi Tam Bảo giữa môi trường không gian đất đai bề bộn nhiều việc, hoàn cảnh chật vật về tài chánh, lại thêm tâm ý của một số người trong Phật giáo có lời nói, ý nghĩ thiếu lục hòa đối với Sư bà Diệu Từ. Vì thế Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện cùng lúc hai hình ảnh trên để khuyến cáo, cảnh tỉnh con người tu hành thì nên lục hòa, đừng đánh phá nhau.

Vấn đề biết trước, thấy trước chúng sinh sẽ bị ngộ nạn, nên ba vị Bồ Tát thị hiện thân người thật để tìm cách cứu khổ, chẳng hạn Bồ Tát Văn Thù thị hiện người ăn mày tên Văn Cát cứu giúp cho Hòa Thượng Hư Vân trên đường tam bộ nhất bái.

Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện thầy Tỳ Kheo có thân hình ghẻ chóc hôi hám rồi lân la gần chùa Pháp sư Huyền Trang để tìm cách cứu nạn yêu tinh ma quái cho ngài Huyền Trang bằng bài kinh Bát Nhã vì biết trước ngài Huyền Trang sẽ bị yêu tinh ma quỷ chận đường phá phách khi vượt qua sa mạc Gobi đến Tây Trúc thỉnh kinh.

Bồ Tát Ca Nhã Ca đã biết trước ngài Ngộ Đạt quốc sư tên Tri Huyền sau này sẽ bị dư báo đời trước trả thù làm cho khổ lụy bằng cách thát sinh vào thân ngài cái mụn ghẻ mặt người ở đầu gối, do vậy Bồ Tát Ca Nhã Ca thị hiện thầy Tỳ Kheo bị bệnh cùi (ca-ma-la) rồi lân la gần chùa ngài Ngộ Đạt ở đất kinh sư để tạo duyên được gặp ngài Ngộ Đạt mà nói lời ẩn ý cứu nạn, như trong bài Duyên Khởi có lặp lại lời của thầy tăng bệnh cùi nói với ngài Tri Huyền rằng: “Sau này ngài có nạn chi, qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu tôi trú ngụ”.

Thật sự hai vị đại danh tăng Huyền Trang và Ngộ Đạt hoàn toàn không biết hai vị tăng ghẻ chóc, bệnh cùi kia là những Bồ Tát hiện thân. Sở dĩ quý ngài đem hai thầy tăng ghẻ chóc, bệnh cùi vào chùa để chăm sóc, cho y phục mới, tiếp tế lương thực một cách nhiệt tình, không nệ hà hôi hám, rất tận tụy, không nhàm chán như vậy, là do có đại từ bi tâm, chân tu đích thực. Tuy rằng chân tu đích thực, có đại từ bi tâm, nhưng vẫn chưa dứt trừ hết các vi tế phiền não, dư báo, nếu không nói là những hàng Bồ Tát đang ở bậc sơ địa đến thập địa như quý ngài Hư Vân, Huyền Trang, Ngộ Đạt, v.v… vì thế luôn luôn được chư vị Bồ Tát Văn Thù, Quán Thế Âm, Ca Nhã Ca là những vị cổ Phật cảm thương mà thị hiện gia trì, hộ niệm để vượt qua khổ nạn do dư báo, phiền não còn đọng lại trong nội thức. Do đó chư vị Bồ Tát cổ Phật không thị hiện người trần, phải thị hiện thân tướng xuất gia, mà thân tướng xuất gia phải là thân tướng ghẻ chóc, bệnh cùi. Bởi vì chỉ có sử dụng thân thể ghẻ chóc, cùi lở mới có thể đo lường được tâm từ bi, nhân ái, độ lượng, thương người đói rách, ghẻ chóc, nghèo khổ của mọi người ở mức độ cao hay thấp.

Rõ thực, chư vị Bồ Tát thị hiện vào đời hóa độ chúng sinh, đa số trong giai cấp bần cùng, đói rách, ghẻ chóc, bệnh cùi, v.v… là hình ảnh làm nhân duyên cho những ai tu tập pháp bố thí ba la mật đích thực nên nương vào những hình ảnh hạ cấp ấy mà tu tập. Với hàng thức giả biết tu tập mới có thể thấy được Bồ Tát ở trong đó thật là huyền diệu, đúng như lời ngài Ngộ Đạt đã nhận thấy được: “thánh hiền ẩn tích, kẻ phàm tình không thể lường được!” Đúng như vậy, thân thể của Bồ Tát Ca Nhã Ca khi hiện thân thầy tăng bệnh cùi trước đó và sau đó thì thân tướng thầy tăng oai nghiêm đang đứng trước cung điện lộng lẫy nguy nga, ánh sáng quang minh chói rọi khắp nơi để đón ngài Ngộ Đạt đang tiều tụy đi tới bằng trạng thái và lời nói thật thân mật.

Và huyền diệu hơn nữa, sau một hồi chết giấc, ngài Ngộ Đạt quốc sư ngoảnh mặt nhìn lại với ý niệm trở lên lạy tạ vị sư, nhưng vị sư, cung điện, hai cây tùng và dòng suối đã biến mất từ bao giờ.

Qua những hình ảnh hai vị sư ghẻ chóc, hôi hám, bệnh cùi lở lói đến chùa gặp pháp sư Huyền Trang, Ngộ Đạt quốc sư để rồi sau đó hai ngài Huyền Trang, Ngộ Đạt được thoát khổ nạn là do 2 vị Bồ Tát giả dạng, do hai vị sư bần cùng giúp cho giáo pháp Phật. Cho chúng ta được thấy tại cõi trần này, ở đâu có chánh pháp Phật, Tăng Ni, Phật tử chân tu đều có chư Bồ Tát thị hiện ra giúp đỡ, hộ trì cho được thành công, vượt thoát khổ nạn, tai ách, hàm oan. Mặc dù Tăng, Ni, Phật tử có Bồ Đề tâm phát triển, chơn tâm, trống rỗng, hết lòng, phụng sự đạo pháp, nhưng bên trong còn trụ địa phiền não, chúng sinh trược, mạng trược, dư báo vi tế… Nếu Bồ Đề tâm tiếp tục tiến tới vô ngã tuyệt đối, thì những thứ trược, phiền não, dư báo được tiêu trừ hết, không còn duyên báo oán. Nhưng nếu còn ngã, dù một chút thôi, cũng đủ cơ hội cho dư báo xâm nhập bản thân để báo thù, như ngài Ngộ Đạt chỉ vì một ý niệm nhỏ về ngã, mà vong linh Triệu Thố xâm nhập báo oán theo định luật nhân quả không thể tránh khỏi. Vì thế mà Bồ Tát Ca Nhã Ca thương cho vong linh Triệu Thố chưa thoát kiếp ngạ quỷ cõi trần cứ đeo đuổi bên ngài Ngộ Đạt để chờ cơ hội báo thù, thế nào cũng báo thù được Ngộ Đạt. Bên cạnh đó Bồ Tát Ca Nhã Ca biết được tâm ý ngài Ngô Đạt còn chút ý niệm về ngã, thì nhất định sẽ bị Triệu Thố báo oán. Cho nên Bồ Tát Ca Nhã Ca thị hiện cứu cho cả hai Triệu Thố được rửa oán bằng pháp Tam Muội tịnh thủy, còn ngài Ngộ Đạt được hết oán cũng bằng pháp Tam Muội cam lồ tịnh thủy của Bồ Tát Ca Nhã Ca, đúng như mụn ghẻ mặt người cất lên tiếng nói với ngài Ngộ Đạt trước khi nước tịnh thủy cam lồ dội lên, mụn ghẻ nói: “… Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù ông. Nay nhờ ngài Ca Nhã Ca tôn giả lấy nước pháp Tam Muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa”.

Câu chuyện Triệu Thố, Ngộ Đạt quốc sư, hay nói khác hơn, chuyện mụn ghẻ mặt người ghê rợn trên đầu gối ngài Ngộ Đạt đã được đi vào kinh sử thành bài học Phật đích đáng có giá trị chơn lý tuyệt đối về những chủ đề nhân quả báo ứng không sai chạy, ơn đền oán trả tương quan nhau cả ngàn đời chưa dứt, nếu tâm con người còn nhiều hay ít về danh lợi, chức tước, ngã mạn thì nghiệp báo theo hoài. Ngược lại có tu hành đạt được hai chữ “chơn như” thì các nghiệp báo tiêu tan. Thứ đến cho ta biết thêm, ngoài những vị Bồ Tát quen thuộc như Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Địa Tạng… còn vô số Bồ Tát chưa được biết, sẽ lần lượt được biết khi quý ngài xuất  hiện vào đời độ chúng sinh hữu hình như Bồ Tát Santideva, vô hình và hữu hình cùng lúc như Bồ Tát Ca Nhã Ca.

Bồ Tát rất là dễ thấy, dễ biết. Sở dĩ Phật tử chúng ta không thấy, không biết, là tại vì tính giác của ta không hiển lộ, chưa hiển lộ do thờ ơ học Phật ở đề tài Bồ Tát. Do đó chúng ta không thấy Bồ Tát ở chung quanh, vì ta chưa có tính giác, mà chỉ có tính chúng sinh là năng lực ngăn cách, chia rẻ, không lục hòa, mất đoàn kết. Cho nên đức Phật mới dạy hàng Phật tử phải học pháp lục hòa để bổ sung cho bài học Bồ Tát mà thấy mình, thấy người có tính chất Bồ Tát, hạnh Bồ Tát ở công việc Bồ Tát đạo hay là tính chất chúng sinh khi cùng nhau đoàn kết phụng sự Đạo pháp, phụng sự chúng sinh là thấy ngay ai là Bồ Tát ai là phàm trần. Tính chất Bồ Tát chính là tính giác ngộ. Con người có tính giác ngộ phát triển, người đó sẽ được thấy Bồ Tát nơi mình và người chung quanh mình, nên mới nói dễ thấy Bồ Tát là ở chỗ đó.

 

 

 

VÔ MINH

 

LỜI VÀO ĐỀ

Vô minh là tâm không có ánh sáng, bị tăm tối, không có trí tuệ Phật, chỉ có thức hồn là cái biết theo bản năng. Vì vậy, tâm chúng sinh nói chung, con người nói riêng, luôn luôn không thấy được lý chân thật của vũ trụ trời đất, đạo lý nhân bản đạo đời trên thế gian.

Tính chất nào che khuất chân tánh chúng sinh, làm cho tâm chúng sinh không thấy được mọi đạo lý chân thật ở đời? Những tính chất che khuất ấy, Phật giáo gọi là UẨN. UẨN đọc theo ngôn ngữ Sancrit là Skandhas, Trung Hoa dịch là Uẩn. Chữ Uẩn dù đơn độc như vậy, nhưng bản chất của nó là tụ tập, kết tụ, nhóm chứa. Nó kết tụ tập hợp lại 5 uẩn là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức hay 5 uẩn kết tụ lại với nhau. Năm uẩn kết hợp lại với nhau thành thân con người và cả súc vật, do vậy 5 uẩn còn có tên là Sinh Y, Sinh Y là 5 uẩn, chính là nền tảng cấu tạo sinh mệnh chúng sinh và cũng là ngăn che chân tánh chúng sinh, làm cho chúng sinh bị khổ đau, trôi lăn trong sinh tử luân hồi. Cho nên nói đến chúng sinh là nói đến tâm vô minh bởi 5 uẩn ngăn che chân tâm (Phật tánh). Nói khác hơn, tính chất của 5 uẩn là si mê, u tối, đần độn, do vậy Bồ Tát Cưu Ma La Thập dịch lại theo ý Ngũ Uẩn là Ấm, có nghĩa là ngăn che, cho nên gọi là Ngũ Ấm, Ngũ Uẩn.

Bản chất của mỗi uẩn trong 5 uẩn đều có tính Ái và Thủ. Năng lực của Ái và Thủ sanh ra ngã. Ngược lại Ái Thủ sanh ra chấp ngã. Cho nên chỗ nào có tham ái dục lạc, chỗ đó có chấp thủ.

Đức Phật thuyết Ngũ Uẩn là vì ngài thương chúng sinh, muốn diệt trừ sinh tử khổ đau của chúng sinh. Chúng sinh bị sinh tử khổ đau vì tham ái và chấp thủ. Vì sao chúng sinh cứ chấp thủ và tham ái? Vì do chấp có cái ta nên sinh ra tham ái, chấp thủ. Không có cái ngã, cái ta thì tham ái, chấp thủ không có mặt. Cho nên Đức Phật thuyết Năm Uẩn nói riêng, Phật pháp nói chung, là chỉ rõ cho cái hiện thực tính đó để chúng sinh thấy. Hiện thực tính đó là gì? Đó là chấp ngã, chúng sinh hay ưa chấp ngã, nhưng chấp ngã là chấp cái gì? Chấp Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức làm ngã. Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức kết tụ lại thành thân người và muôn loài súc sinh. Không có 5 uẩn thì không có con người. Thân chúng sinh, trong đó thân người hoàn toàn là giả, không thật, bởi vì năm uẩn đều vô ngã không tự thể, đều do các duyên giả hợp mà có. Năm uẩn ấy không phải là ngã mà con người cứ chấp là ngã, đó là vô minh. Vô minh là cội gốc của ác nghiệp sinh tử luân hồi khổ đau trong 6 cõi. Cho nên Phật muốn nhổ cái gốc sinh tử luân hồi ấy, chính là cái ngã, cái ta đó bằng cách chỉ cho chúng sinh thấy rõ trong Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức không có cái nào là cái ngã, cái ta cả!

 

GIẢNG NGHĨA VÀ NỘI DUNG

Vô nghĩa là không, minh là sáng. Vô minh nghĩa là không sáng, bị tối tăm. Không sáng bị tối tăm ở đây chỉ cho cái tâm chúng sinh không có trí tuệ Phật, chỉ có trí tuệ thế gian. Trí tuệ Phật khác với trí tuệ thế gian, mặc dù cả hai trí tuệ đều do Phật tánh mà có. Nhưng sở dĩ có khác là, về trí tuệ Phật là trí tuệ hoàn toàn nguyên vẹn Phật tánh được hiển lộ hẳn ra. Còn trí tuệ thế gian là Phật tánh trong tâm chúng sinh đang bị các thứ phiền não, ác trược, triền phược, tham, sân, si, chấp ngã, chấp thủ, kiến chấp… ngăn che, giống như căn phòng bị nhiều tấm màn đen phủ xuống ở phía trước làm cho ánh sáng bên ngoài không chiếu sáng được vào căn phòng. Cho nên trí tuệ thế gian là trí tuệ u mê, đần độn, tham danh, chức tước, địa vị, tiền tài, dục vọng, dục lạc, ích kỷ, bỏn sẻn, quyền lợi cá nhân, không chút lợi tha nào cho chúng sinh, v.v… Đó là những chất ô nhiễm của lục đạo sinh tử luân hồi. Trong đó 3 đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh là năng lực chủ động của tâm khởi lên nhiều ý niệm về ngã, để rồi sau đó nói và hành động mang 3 tính chất địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở bản thân mình và cho nhiều tha nhân. Nên chi con người bất luận giai cấp nào, địa vị nào hễ có loại trí tuệ thế gian, thì trên vận hành sống giữa xã hội, trong tập thể đạo đời, đều luôn gây ra cho mình và cho người khác nhiều nỗi khổ, nhiều xáo trộn, bất an, mất đoàn kết, hận thù, v.v… Đúng như lời Phật nói về ba hạng người làm khổ. Hạng thứ nhất là hạng người chuyên tự làm khổ mình. Hạng thứ hai là hạng người chuyên làm cho người khác khổ vì mình. Hạng thứ ba là hạng người chuyên làm khổ mình và làm khổ người.

Ba hạng người làm khổ mình, làm khổ người nói trên được biểu thị cho 3 đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Dù cho chỉ một lời chửi đổng ra giữa tập thể, một lời đồng ý hành động của kẻ ác, một ý niệm đồng tình hành động kẻ ác, một lời xúi dục kẻ ác hành động tà đạo, v.v… Tất cả đều là mang tính chất của 3 đường ác vì chúng có công năng tạo khổ cho người khác, cho tập thể đồng bào, đồng đạo (hạng người thứ hai), như thể nhiều cơn gió nhỏ hợp lại thành bão gây tang tóc cho muôn loài chúng sinh vậy.

Trí tuệ thế gian là tâm ám độn không chiếu rọi được chân lý các pháp, không nhận ra lý chân thật, chánh đạo là gì! Ngay cả luân lý đạo đức nhân bản cũng không thấy được, huống hồ chân lý thực tướng vô ngã các pháp làm sao thấy được! Đó là vô minh, căn bản của nó là chấp ngã, chấp ngã là vô minh. Cho nên con người có trí tuệ thế gian mê muội chấp ngã đều không thấy nhiều thứ đạo lý chân thật sau đây:

- Không thấy quả đất tròn, xoay chung quanh mặt trời là một loại vô minh cực đoan, nên cứ nói rằng quả đất vuông, đứng một chỗ, có 4 cây trụ ở 4 góc chống đỡ cái vung vĩ đại là bầu trời. Bắt mọi người phải nói theo mình, ai nói khác, thấy khác sẽ bị xử tội chết. Vì vậy nhà khoa học Galilê đã bị những người vô minh thời đó bắt giam cho đến chết vì ông Ga-li-lê cứ giữ nguyên lập trường sự thấy của mình là quả đất tròn xoay chung quanh mặt trời.

- Không thấy cỏ, cây, vạn vật, muôn loài súc sinh lớn, nhỏ, trên khô dưới nước và loài người trên quả đất này có thân tướng khác nhau, môi trường sinh sống khác nhau, là do nhiều duyên sinh giả hợp kết tụ và do dư báo nghiệp quả (con người và muôn loài vật) tạo thành. Ấy thế mà cứ cho rằng do một đấng thượng đế có quyền năng tạo ra. Về loài người muôn kiếp vẫn là người, loài vật là heo, bò, chó, ngựa, v.v… muôn kiếp vẫn là heo, bò, chó, ngựa, không thay đổi. Với con người sẽ được thượng đế rước lên Thiên đàng do có lòng tin và thờ phượng thượng đế. Còn người không tin, không thờ phượng thượng đế sẽ bị thượng đế cho vào hỏa ngục. Với loài vật được thượng đế tạo ra để cho con người ăn thịt và bắt kéo xe, chở nặng… Đó là vô minh.

- Không thấy được thực tướng của các pháp (vạn vật, muôn loài chúng sinh, bản thân mình) là vô ngã. Không thấy mọi hiện tượng vừa mới được các duyên giả hợp kết tụ hiện hữu thành hình tướng là bắt đầu hư hoại (các hài nhi bị khuyết tật) ngay trong trứng nước theo từng giây phút bởi định luật vô thường, bởi vì vốn là vô ngã không tự thể, chỉ là tương quan theo duyên khởi, duyên sinh nên bị hư hoại, chứ không phải chờ cho đến sau khi sinh ra, lớn lên già nua mới bị hư hoại, chết đi. Không ngộ được thực tướng vô ngã, vô thường các pháp, nên con người thường khởi lên tâm tự mãn, tự cao, vị kỷ, hãnh diện, cảm khoái về cái ta (ngã), của ta (ngã sở), nào là dòng họ vua chúa xa xưa, địa vị quan quyền, chức tước, giai cấp giàu sang, mảnh bằng chuyên khoa thể chất sinh vật lý, nhà to cửa rộng, v.v… qua ngôn ngữ và thái độ đối đãi với quần chúng đạo, đời đều mang tính chất vô minh hữu ngã, trí tuệ thế gian, thấy mình có một bản ngã đáng trân quý tôn trọng hơn hết, đó là những tâm vô minh.

- Không thấy được bản thân ta và vạn hữu được có thân hình, tướng trạng đều do các duyên giả hợp kết tụ mà có, chứ không tự nhiên sanh, gọi là vô ngã. Vì thế mới bị hư hoại, mục nát, chết dần, tan rã hoàn toàn với thời gian không hạn định là khi nào gọi là vô thường, tức là thời gian là sanh với diệt. Không thấy được sự hòa hợp giả ấy, là vô minh. Vì vậy mà con người cho rằng bản thân mình do thượng đế tạo dựng ra hay tự nhiên sanh, do định mệnh an bài, nên chi sẽ được tồn tại vĩnh cửu không hư hoại, trẻ mãi không già. Vì tưởng lầm như vậy, mà con người bị khổ tâm khi nhìn thấy da mặt nhăn nheo, mắt ủng, răng rụng, tóc bạc, lưng còm, tai điếc và các chứng bệnh khác. Trước bản thân bị già nưa đổi thay ấy, có số người mặc nhiên để vậy ra sao đó thì ra, nhưng đa số bôn ba đi nhuộm, đi cắt, sửa lại cho được tươi trẻ như xưa, đó là vô minh.

- Không thấy được tất cả bản thể vạn hữu bị biến chuyển, tuần tự hư hoại theo từng sát na giây phút bởi thời gian, không gian gậm nhấm, mà cứ chấp vạn hữu vẫn như cũ, như xưa không gì thay đổi, đó là vô minh. Chẳng hạn cái bàn trong nhà ngày qua tháng lại nó vẫn là cái bàn không gì thay đổi. Nhưng thật sự cái bàn đang bị chuyển biến tuần tự hư hoại qua từng giây phút mà ta không thấy, chỉ thấy được cái tướng bàn giả qua hiện hữu tương tục giả đó, không thấy sự biến chuyển của cái bàn. Cho nên con người thường sanh tâm luyến tiếc một khi sự vật bị hư hoại tan rã, đó là vô minh.

- Không hiểu được lý lẽ như thị tướng của tất cả pháp, đó là vô minh. Như thị tướng, nghĩa là cái tướng như vậy không thể đổi khác được, do công dụng và môi trường hữu dụng của mỗi vật thể mà mỗi vật có tướng như vậy. Chẳng hạn hình tướng của viên phấn, cây bút chì, cây thước kẽ học trò, cây thước thợ mộc, v.v… Một vật thể riêng lẻ như cây bút chì, thì con người không nói nó dài ngắn gì cả. Nhưng đem cây bút chì so sánh đối đãi bên cạnh viên phấn ngắn. Hay đem cây thước kẽ học trò đặt để bên cạnh cây thước thợ mộc, người ta liền nói cây thước kẽ học trò ngắn, thước thợ mộc dài. Nhờ sự đối đãi giả ấy giữa viên phấn và bút chì mà viên phấn ngắn. Nhờ sự đối đãi giữa cây thước thợ mộc và cây thước kẽ học trò mà cây thước thợ mộc dài, thước học trò ngắn.

Do vì có so sánh đối đãi giả giữa vật này với vật kia, giữa người với người, mà tâm con người thấy tướng vật này khác với vật kia, người kia dễ thương, người nọ dễ ghét, để rồi người với người tranh cãi hơn thua với nhau về tướng trạng dị biệt như thị của mọi vật. Hay một cá nhân nào đó khởi tâm không cảm tình với người đối diện và nói thầm rằng: ông này, bà này có cái miệng loe loe dễ ghét. Trong khi ông đó, bà đó rất là hiền hòa đạo đức, chỉ vì có miệng loe mà bị người kia mất cảm tình. Người nào khởi tâm chấp tướng như thị của sự vật và con người, đó là kẻ vô minh. Người có tu tập Phật pháp không bao giờ chấp tướng, chấp pháp (sự vật và con người), luôn tỏ ngộ Như thị tướng, Như thị tánh của các pháp là như vậy. Ta nên biết rằng tướngtánh của mỗi con người nói riêng trong thực tại như thế nào, ra làm sao… Tất cả đều do quả báo nghiệp của đời trước mà có tánh, tướng như vậy!

- Không thấy được chánh đạo, chánh pháp của Phật dù ở đâu, vào thời đại nào, lúc Phật tại thế, sau khi nhập diệt và hôm nay, đều luôn bị bọn Thiên ma ngoại đạo rình rập, tìm đủ mọi cách đánh phá, tiêu diệt chánh pháp Phật, đó là vô minh.

Rõ ràng, trong kinh Niết Bàn có ghi lại lời Thiên ma nói với Đức Thế Tôn rằng: “Hiện nay chúng tôi không lật đổ được chánh pháp của ngài! Trong tương lai gần, xa hơn hai ngàn năm tới, dòng họ quyến thuộc Thiên ma chúng tôi sẽ tìm đủ cách đánh phá, tiêu diệt chánh pháp của ngài, trong đó có hình tướng cạo tóc, mặc áo cà sa, đội lốt Tỳ Kheo Tăng, Ni trong Tăng đoàn của ngài mà đánh phá chánh pháp bằng cách làm sai chánh pháp, chỉ ngồi hưởng thụ, mọi hình thức dù là Phật giáo nhưng không có chánh đạo…

Đích thực, sau Phật nhập diệt 235 năm (tương lai gần), bọn ngoại đạo trà trộn vào Phật giáo, giả dạng Tỳ Kheo sửa đổi Phật điển, làm nhiễu loạn giáo nghĩa. Tăng đồ không thể phân biệt được chân giả, bị dẫn dụ vào nẻo tà kiến rất nhiều. Cho nên lúc bấy giờ là thời kỳ kết tập ba tạng kinh, luật, luận lần thứ ba, có vua A Dục dốc lòng tin phụng Phật pháp, nên cùng với 6 vạn Tỳ Kheo họp nhau lại tìm cách cứu vãn tình hình. Kết quả có một ngàn vị Tỳ Kheo tinh thông ba tạng được tuyển chọn cho việc kết tập sau khi thanh lọc.

(Phỏng theo bài Bốn Thời Kỳ Kết Tập – Giáo khoa Phật học – Hạnh Cơ – Trang 261)

 

Bọn Thiên ma ngoại đạo tiếp tục đánh phá Phật giáo

Vào thế kỷ 12 Hồi Giáo từ Afganistan (A Phú Hãn) xua quân qua miền trung Ấn Độ tấn công vào trường đại học Phật giáo Nalanda (nghĩa Nalanda là thí vô yểm – bố thí không chán). Chúng tàn sát hàng ngàn Tỳ Kheo Tăng, Ni và ba tạng giáo điển, sách báo Phật giáo với số lượng hàng ngàn cuốn bị chúng đập phá, đốt cháy hơn 6 tháng mới tàn rụi hết. Gần đây nhất (năm 2002) chính quyền Thiên ma Taliban đã bắn phá hai tượng Phật cổ trong vách núi thuộc lãnh thổ Afganistan.

Lời Thiên ma ngoại đạo với Đức Thế Tôn còn tại thế, là chúng sẽ đội lốt Tăng Ni vào Tăng đoàn của Phật trong tương lai gần 3 ngàn năm để tiêu diệt chánh pháp Phật. Lời ấy duy nhất chỉ được một lần sau Phật nhập diệt 235 như đã nói ở trang trước. Từ sau 235 công nguyên cho đến nay 2006, người ta không tìm thấy được hiện tượng nào là Thiên ma ngoại đạo giả làm Tỳ Kheo Tăng, Ni trong Tăng đoàn của các giáo hội Phật giáo trên thế giới từ Đông sang Tây, trong đó có giáo hội Phật giáo Việt Nam. Chư Tăng Ni trong các giáo hội Phật giáo từ xưa đến nay 2006, hoàn toàn là những bậc chân tu, đã và đang trên vận hành thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh theo sở trường hạnh nguyện Bồ Tát đạo, nếu không nói là tu tập theo Mật hạnh, tùy duyên phương tiện bất biến chánh pháp cho việc khai quyền hiển thật chánh đạo đối với tâm địa con người ở thời đại văn minh tư bản vật chất làm cho tâm ý bị vọng động, điên đảo nên mới có ra nhiều phương tiện đúng với con số 4 vạn 8 ngàn pháp môn là con số biểu thị cho vô số lượng căn cơ của con người mà có ra nhiều phương tiện, giáo hội, tập thể Phật giáo như vậy mới có thể dắt dẫn con người từng bước thấy được chánh đạo mà tu tập giải thoát sinh tử.

Thiên ma ngoại đạo không giả dạng Tăng Ni, nhưng giả dạng Phật tử trong các chùa tìm cách đánh phá Phật giáo đủ cách, mà Tăng Ni, Phật tử chính tông không thấy, không biết, cứ đổ thừa cư sĩ này, cư sĩ kia đánh phá, đó là vô minh

 

 

 

 

 

 

 

 

MÔI TRƯỜNG TIẾP NHẬN PHÁP

VÀ HÀNH PHÁP

 

Trong tâm mỗi con người sống trên đời này đều có hai thái cực Phật tánh và vô minh. Cái nào to lớn tràn ngập trong tâm, thân tâm người ấy có lối sống theo cái đó. Phật tánh tràn ngập, lời nói và hành động sống thanh tao, đạo đức, hòa nhã, chân thật, tỉnh thức… Vô minh tràn ngập, lời nói và hành động sống không thanh tao, thiếu đạo đức và nhiều thứ ngã mạn, ngã si, ngã kiến, ngã chấp, ngã sở…

Theo nguyên lý giải thoát sinh tử luân hồi của đạo Phật, là tâm thanh tịnh trong sáng hoàn toàn vô ngã, gọi là chơn tâm, không còn những thứ vô minh, triền phược… Cho nên với tâm đại bi, đại trí, đức Phật đã thị hiện ra nơi đời mà nói giáo pháp tu giải thoát, sinh tử, luân hồi cho chúng sinh theo đó mà tu tập để giải thoát ra 6 con đường sinh tử.

Vì thế đức Phật đã thuyết ra vô số giáo pháp qua 5 thời suốt 45 năm vì sự nghiệp cứu khổ chúng sinh được thoát khỏi sinh tử khổ đau. Và cũng vì sự nghiệp truyền thừa giáo pháp giải thoát của Phật cho chúng sinh ở hậu lai, mà vô số chư tổ, chư tôn đức, cư sĩ trí thức tiền bối và hôm nay đã và đang kết tập, dịch thuật, giảng luận kinh điển, biên soạn thuyết giảng, tu học cho toàn thể Phật tử có căn cơ khác nhau đều có thể tu tập được với giáo pháp thích hợp.

Là Phật tử đích thực đúng danh nghĩa, là người quay về đạo Phật mục đích tìm cầu cho mình con đường giải thoát sinh tử, ai cũng phải quy y Tam Bảo và tiếp nhận giới luật Phật để hành trì trang nghiêm thân tâm thanh tịnh trước khi tiếp nhận các pháp môn tu tập.

Quả thật con người đến với đạo Phật vì mong cầu con đường giải thoát, thì hãy mở tâm ra mà nhận thức rằng “phương tiện đưa chúng sinh được thoát khỏi sinh tử luân hồi là tâm giác ngộ đạo lý vô ngã qua quá trình tu tập Phật pháp, không còn tâm nào khác hơn”. Mà như thế, phải tiếp nhận pháp môn tu tập hợp với căn cơ hoàn cảnh của mình, rồi tích cực thực hành một cách tinh tấn, nhẫn nhục, chứ không thể hời hợt.

Nhận thức rõ nguyên lý giải thoát được nói trên là điều ắt phải có trước khi tiếp nhận giáo pháp.

 

MÔI TRƯỜNG TIẾP NHẬN PHẬT PHÁP

Môi trường có Phật pháp để tiếp nhận ở hai lãnh vực hẹp và rộng.

Môi trường có Phật pháp ở lãnh vực hẹp, đó là lời pháp của chư Tăng, Ni thuyết giáo diễn giảng, hướng dẫn cách thức tu tập cho nam, nữ Phật tử mặc áo tràng ngồi nghe pháp tại các đạo tràng Bát Quan Trai, Phật Thất, Thiền Định, Mật Tông, v.v… trong chánh điện chùa hay ở hội trường, ngoài xã hội. Và Phật pháp ở các băng cassette, DVD, CD, Video, cũng như có trong các quyển kinh, các sách giảng luận, tập san Phật giáo được trưng bày tại các chùa và tại các hiệu sách ở phố thị.

Môi trường có Phật pháp ở lãnh vực rộng, đó là những việc làm ở nơi công sở, phố xá, phòng mạch, hiệu buôn, nhà thuốc, bố thí tài vật cho kẻ đói khổ, cho homeless một bữa ăn, quét sân chùa, dọn dẹp vệ sinh, chăm bón cây cối vườn chùa, cúng dường Tam Bảo, dâng cúng một bữa ăn cho chư Tăng, đóng cửa chùa, cắm hoa dâng Phật, trải thảm chánh điện, sắm sửa vật dụng cho chùa, nấu ăn trong bếp, tiếp xúc với mọi người, thỉnh tượng Phật, mua chuông mõ, vai trò trưởng phó cơ sở Phật giáo đi thỉnh tăng về chùa để hoằng hóa độ sinh, vân vân và vân vân.

Tất cả việc tại những nơi được kể trên đều là những pháp môn tu tập, vì trong đó có Phật hiện đúng như kinh Hoa Nghiêm (phẩm 33) nói: “Khắp cả hư không, ở mỗi một chỗ bằng đầu sợi lông đều có vô lượng vô số cõi Phật; ở mỗi cõi Phật như vậy, trong mỗi một niệm, Phật ứng hiện vô số hóa thân nhiều như bụi để chuyển pháp luân…” (Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản – Hạnh Cơ – trang 49). Lục Tổ Huệ Năng cũng có lời tương tợ: “Tất cả pháp ở thế gian đều là Phật pháp. Lìa khỏi các pháp ở thế gian mà tìm cầu giác ngộ, thì chẳng khác nào đi tìm lông rùa, sừng thỏ”.

 

MÔI TRƯỜNG VÀ CÁCH THỨC THỰC HÀNH PHẬT PHÁP

Qua 2 tư tưởng trên của Hoa Nghiêm và Lục Tổ Huệ Năng chính là kim chỉ nam chỉ rõ cho mọi người thấy môi trường thực hành của Thiền Định, Phật Thất và những pháp môn tu khác, không những tại tư gia, am cốc, thiền viện… mà có cả sự hiện hữu bản thân ra giữa trường đạo, trường đời có nhiều sắc thái khác nhau, một khi đôi tay và mắt tác động vào các vận hành mưu sinh, Phật sự, từ thiện xã hội, v.v… Nhưng tâm ý không bị vọng động, vẫn chánh niệm, tỉnh thức vào thực tại, nói như Bồ Tát Thái Hư Đại Sư: “Đạo tràng thanh tịnh có cả ở cao lâu tửu điếm”. Còn ngài Trúc Mộc Thiền Sư thì nói: “Không có Phật trong núi” và Bồ Tát Cư Sĩ Duy Ma Cật thời xưa nhã ý với ngài Xá Lợi Phất: “Này ngài Xá Lợi Phất, tâm vốn đã định rồi, hà tất gì phải ngồi im mãi nơi bìa rừng này!”.

Ý tưởng của các bậc Bồ Tát nói trên là ý tưởng trung đạo dung hòa hai thái cực động tịnh với nhau, không thể chọn tịnh bỏ động hay chọn động bỏ tịnh. Nếu như vậy là một cực đoan. Đã là cực đoan, đó là tâm còn nguyên hình bản ngã. Không cực đoan là con đường trung đạo, trung đạo là vô ngã, vô ngã là trung đạo, chủ trương của đạo Phật là tâm vô ngã, con đường giải thoát sinh tử là tâm vô ngã. Hành giả đi tìm cầu phương tiện giải thoát trong Phật giáo không thể còn mơ hồ về đạo lý vô ngã nữa!

Những chất liệu kiến tạo tâm vô ngã là giáo pháp 12 nhân duyên và bài pháp vô ngã tưởng (5 uẩn), giáo pháp trợ đạo cho những ai đang tu tập pháp môn Tịnh Độ (Phật Thất niệm Phật), Thiền Định và các pháp môn khác để cầu giải thoát, hãy cần phải thực tập đạo lý 12 nhân duyên là điều bắt buộc. Bởi vì đó là chìa khóa mở ra cánh cửa của pháp môn mình đang tu tập để thấy được giá trị thế nào là nhứt tâm bất loạn niệm Phật, thế nào là tỉnh thức và thế nào là định lực tam muội của Thiền Định, v.v… đối với chúng sinh trong thời mạc pháp không có Phật ra đời, nên phải tu tập vào giáo pháp Phật để lại, trong đó pháp 12 nhân duyên là nền tảng cơ bản hàng đầu để đạt đạo vô ngã giải thoát sinh tử, mà đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni đã tu và đã đạt đạo vô ngã từ vô lượng kiếp về trước tại cõi ta bà, đúng như lời Phật đã xác định: “Ta vốn sống tại cõi ta bà từ vô lượng kiếp, chứ không phải mới sinh ra tại vường Lâm Tỳ Ni”. (Kinh Pháp Hoa – Phẩm Như Lai Thọ Lượng).

Vì vậy người Phật tử đã và đang tiếp nhận những pháp tu và nhiều công việc khác nhau tại hai môi trường rộng, hẹp được nói ở trước là cách tu tập giáo pháp 12 nhân duyên giống như đức Thế Tôn đã từng tu trong vô lượng kiếp để kiến tạo cho mình có tâm vô ngã trước đã, rồi mới nói đến Niết Bàn giải thoát, vãng sanh cực lạc. Bởi vì cửa vào Niết Bàn, Cực Lạc là vô ngã, trống rỗng, cho nên ai muốn được vào, tâm phải vô ngã, trống rỗng như Niết Bàn, Cực Lạc là điều kiện ắt phải, chứ đừng nghĩ rằng hễ có niệm Phật, tu thiền là được giải thoát, vãng sanh.

Để có được tâm vô ngã, Phật tử chúng ta phải tích cực thực tập giáo pháp 12 nhân duyên bằng cách đưa mắt và tâm quán niệm thật sâu vào bản thân mình trước, thứ đến người bên cạnh và muôn loài muôn vật lúc thư thái tư duy và lúc giao tiếp với mọi hiện tượng thực tại trên vận hành mưu sinh, Phật sự, từ thiện xã hội, v.v… Bên cạnh quán niệm nhìn sâu vào mọi bản thể hiện hữu, tâm thức ta tự hỏi; hỏi mình trước, hỏi rằng: “ta từ đâu sanh ra? Sanh ra để làm gì? Chết sẽ đi về đâu? Ta có linh hồn không? Có Phật tánh không? Cái gì làm cho ta biết thương yêu, giận hờn, v.v…?”

Và tiếp tục hỏi về loài vật, cỏ cây, v.v… Hỏi rằng: loài vật từ đâu sanh ra, chúng có linh hồn, chết đi về đâu? Tại sao có cỏ, cây, hoa, trái tại không gian trái đất này, do đâu mà có?

Bạn nên tự hỏi nhiều lần như vậy với thời gian có khoảng cách lâu mau, khi nào là do bạn ấn định. Trước khi hỏi và sau khi hỏi, bạn phải đọc lại giáo pháp 12 nhân duyên và tiếp tục tư duy quán niệm, cho đến một hôm nào đó tâm bạn liền nghe rõ giáo pháp 12 nhân duyên trả lời cho bạn từng chi tiết và rành mạch, đó là Duyên Sinh. Tiếp theo tâm thức bạn thấy ngay thực tướng của tất cả vạn hữu và con người là vô ngã không tự thể, hiện hữu, chỉ là tương quan theo duyên khởi mà có. Từ đó bạn cũng thấy luôn đạo lý vô thường đang gậm nhấm nơi bản thân bạn và muôn loài, muôn vật đang bị hao mòn, rục rã trong từng sát na, để rồi cuối cùng bị tan rã mất dạng, mất  hình, chỉ còn lại tuệ giác bình đẳng ra đi đến bờ giải thoát.

Sau khi bạn đã tri kiến được lý Duyên Sinh rồi, bạn không cần ngồi nhìn vào người, vào vật nữa, đạo lý vô ngã cứ tự động hiện ra ở bản thể mọi vật, mọi loài khi bạn giao tiếp và làm việc đạo, việc đời hằng ngày, hằng đêm tại bất cứ nơi đâu. Nói theo kinh văn “Phật pháp hiện hữu không có thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai, ở đâu có hữu tình giác, ở đó có Phật pháp”.

Hữu tình giác là con người phàm phu đã có tâm liễu ngộ (tri kiến) lý duyên sanh, duyên diệt của vạn pháp do vô ngã, không tự thể qua quá trình học và được hành giáo pháp 12 nhân duyên. Tâm tri kiến (ngộ) thực tướng các pháp vô ngã, không tự thể như vậy, được kinh văn gọi bằng cụm từ “khai thị chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật”. Cụm từ ấy chính là bản hoài lớn của chư Phật thị hiện vào đời.

Quả thật, nếu bạn đã được tánh tri giác về thực tướng vạn pháp là không, vô ngã bình đẳng như vậy, bạn đang có tuệ giác bình đẳng. Hay nói cách khác, Phật tánh bạn được vươn hẳn lên như hoa sen lên khỏi nước, cái thấy biết của chư Phật (tri kiến Phật). Thế là bạn đã đáp ứng được bản hoài của chư Phật rồi. Bản hoài của chư Phật đối với hàng Phật tử chỉ bấy nhiêu đó thôi, không gì khác hơn nữa. Dù cho Phật có thuyết vô số kinh điển, nhưng cũng không ra ngoài đạo lý vô ngã. Do vậy, bạn tu bất cứ pháp môn nào đúng cách và tích cực, bạn sẽ thấy được dấu đạo vô ngã trong đó. Bạn phải thấy mới được. Khi mà bạn đã thấy được, tâm của bạn từng bước tự động đoạn diệt tâm ái, tâm chấp thủ, tâm tham lam chức vị, trừ diệt mọi ý niệm về ngã chấp, ngã kiến, ngã sở (vật chất), ngã si… sanh tâm chán ghét mọi sắc tướng thế gian dục lạc, chọn Niết Bàn tịch tịnh. Dứt khoát xả ly hẳn lời nói và hành động gây tác hại khổ đau, buồn phiền cho chúng sinh vừa qua, quyết tâm không nói thầm, dán nhãn, giận hờn đối tượng trong giao tế tại bất cứ nơi đâu, luôn giữ lòng thanh tịnh.

Và cũng là từng bước tự động phát Bồ Đề tâm hành Bồ Tát đạo đối với đời sống bằng vật chất cho những hạng người bị tật nguyền, nghèo đói… Đối với Đạo pháp trên cơ sở giải thoát cho chúng sinh bằng kinh điển trong nhiều cách theo khả năng bạn đang có, vân vân và vân vân… Tất cả đều do lực vô ngã trong tâm bạn khởi lên Bồ Đề tâm, hành Bồ Tát đạo như vậy, chứ không do bắt chước làm theo người  khác, do vậy, dù bản thân bạn đi giữa, đứng giữa thế gian đầy các sắc vọng động, nhưng tâm của bạn vẫn hành trên dòng vô ngã tịch tịnh. Đó là tri kiến Phật, tuệ giác bình đẳng, Phật tánh vươn lên, Bồ Đề tâm phát triển. Vô ngã của bạn là thế đó!

Tâm đã được vô ngã, không thể trong một giờ, một buổi, một ngày là đủ có vô ngã, mà phải liên tục quá khứ vô ngã, hiện tại vô ngã, tương lai vô ngã suốt thời gian ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, không hạn định là nơi nào. Vô ngã luôn luôn đeo đẳng nơi tâm linh của bạn từ sau giờ phút bạn có, cho đến giờ phút xả bỏ báo thân trần thế và ra đi về cõi Cực Lạc, Niết Bàn. Cho nên tánh tri giác vô ngã được ví như người quản gia trung thành đắc lực, chu toàn mọi việc, nhà sạch, sân sạch, vườn tược xanh tươi nhiều hoa trái, canh chừng nhà cửa cẩn mật không để những tên ăn trộm (phiền não, vô minh…) len vào nhà, các thú dữ (ác trược) vào vườn quấy phá…

Bạn đang được có tâm vô ngã tuệ giác bình đẳng suốt trên vận hành sống, làm việc đạo đời như vậy, chính là bạn đang có một cận tử nghiệp xuất thế gian tối thượng vi diệu hơn tất cả các cận tử nghiệp nào khác vào giờ phút lâm chung của bạn. Chẳng hạn có quá trình mua chùa tạo tượng, cúng dường chư Tăng, bố thí kẻ nghèo, nhiều việc từ thiện khác, mà còn tâm chấp tướng, chấp pháp trong đó, thì không thể bằng cận tử nghiệp vô ngã xuất thế gian là lực đi mau, đi thẳng, trong sáng về Niết Bàn, Cực Lạc. Cho nên đức Phật đã nói: Một công việc từ thiện rất nhỏ cũng dẫn đến giải thoát sinh tử, vãng sanh Cực Lạc vốn có gốc vô ngã. Do vậy, đức Phật đã có lời căn dặn cho hàng Phật tử rõ ràng rằng: “Làm công việc từ thiện xã hội trong đạo Phật, từ việc nhỏ, việc lớn, luôn luôn nhớ xây dựng trên tinh thần vô ngã để được giải thoát sinh tử”.

Tâm vô ngã của bạn giống như hạt gạo trắng tươi, không còn chất cám đeo đẳng, đã được ra khỏi vỏ trấu bởi lực chà xát, xay giã, nấu lên sẽ thành cơm. Cho nên đã là giống cơm được nấu lên thành cơm, dù một hột gạo được nấu lên cũng thành cơm do gốc là cơm.

Cũng như vậy, tâm bạn vốn có gốc vô ngã rồi, thì công việc từ thiện rất nhỏ bạn đang làm sẽ dẫn bạn đến thành Phật, giải thoát sinh tử, vãng sanh cực lạc ngay trong đời này không đâu xa. Chỉ sợ rằng bạn không có tâm vô ngã, chứ đừng sợ rằng không được vãng sanh giải thoát. Và chỉ sợ rằng bạn hiểu lầm giữa các pháp môn niệm Phật, thiền định… với các việc từ thiện, Phật sự… có tính cách riêng lẻ, không liên quan với nhau về vô ngã. Do vậy khi bạn tu thiền, Phật thất, Bát Quan Trai, tâm bạn có thanh tịnh, nhưng trong khi hành Phật sự, từ thiện xã hội, bố thí, cúng dường, … tâm của bạn khởi lên nhiều ý niệm nhân ngã, ngã sở, vọng động, bất an cho mình và người. Như thế công trình tu tập của bạn không có lợi lộc gì cả, chỉ huề vốn mà thôi. Nói như kinh Hoa Nghiêm: “Hành động Phật sự, từ thiện xã hội, bố thí cúng dường mà quên phát Bồ Đề tâm là việc làm của Ma vương”.

Ma vương mà kinh Hoa Nghiêm nói, đó chính là tâm chứa đựng nhiều ý niệm về ngã chấp, ngã sở, nhân ngã… Thì đó là cận tử nghiệp ma vương của bạn đang đeo đẳng trong tâm bạn hôm nay và cho đến lúc xả bỏ báo thân (chết) trần thế. Bởi vì vốn đã là ma vương, chúng có vô số thiên hình vạn trạng ngang dọc lập lòe, ẩn hiện liên tục giống như tâm nhiều vọng động, ngã chấp của bạn lúc còn sống, chúng hiện ra một cách tự động trong giờ phút lâm chung của bạn, làm cho 7 quan năng vô xúc trong thân tử ấm, trung ấm của bạn bị rối ren không nhận ra đâu là ánh sáng của Phật, Bồ Tát, Trời, Người mà hội nhập. Cuối cùng phải chạy theo ánh sáng của Ma vương, dù cho lúc đó tiếng tụng kinh cầu siêu của chư Tăng có trầm bổng, thiền vị đến đâu, nhưng quan năng nhĩ thức ma vương trong thân trung ấm của bạn không thể nghe được lời kinh. Cuối cùng thần thức bạn đi theo nghiệp quả cũ đã tạo!

 

 

 

MỤC ĐÍCH CỦA PHẬT XUẤT HIỆN

TRONG ĐỜI

 

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, đức Phật nói lời khẳng định với Bồ Tát Xá Lợi Phất: “Này Xá Lợi Phất, chư Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà thị hiện ra nơi đời, đó là khai thị cho chúng sinh ngộ nhập tri kiến Phật”.

Khai thị. Khai nghĩa là mở ra. Thị là thấy. Khai thị là mở ra cho thấy. Mở ra cái gì? Mở tâm chúng sinh ra để chúng sinh thấy. Thấy cái gì? Thấy Phật. Phật mà chúng sinh thấy đó, có phải là Phật Thích Ca lúc bấy giờ đang hiện hữu nói kinh Pháp Hoa? Hay là những pho tượng bằng đá, gỗ… trên bàn tại các chùa hiện nay? Không phải. Đức Phật Thích Ca đang nói Pháp Hoa tại núi Kỳ Xà Quật trước đại chúng hội cách nay 26 thế kỷ, là Phật đã thành, đúng như Phật nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Trước khi thành Phật, đức Thích Ca Mâu Ni là một chúng sinh. Chính đức Phật đã xác định: “Ta vốn sống tại cõi Ta bà thế giới này trong vô lượng kiếp, chứ không phải vừa mới sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni” (phẩm Như Lai Thọ Lượng).

Như vậy Phật nào là Phật mà đức Thích Ca Mâu Ni khai tâm chúng sinh để chúng sinh được thấy? Phật đó có trong tâm chúng sinh, chính là Phật tánh, tánh thường hằng thanh tịnh trong sáng vĩnh cửu muôn đời… chúng sinh cần phải thấy. Sở dĩ chúng sinh không tự thấy là do khối vô minh, triền phược bao phủ. Phải nhờ Phật khai mở cho mới có thể thấy. Phật khai mở tâm chúng sinh, có phải bằng bùa phép? Không. Bằng giáo pháp mà đức Phật đã thực chứng qua quá trình tu tập tại cõi Ta bà trong vô lượng kiếp.

Giáo pháp nào mà đức Phật đã thực chứng tại cõi Ta bà? Đó là pháp 12 Nhân Duyên, còn gọi là định lý Duyên Khởi. Chân lý này do đức Phật dày công tu tập bằng tri hành quán niệm vào mọi hiện tượng thực tại mà chứng đắc, chứ không phải đức Phật sáng chế ra định lý đó, cho  nên trong kinh Phật nói rằng, dù Như Lai có ra đời hay không ra đời, giới tánh của Duyên Khởi là an trú, pháp trụ, là quyết định, như tánh, bất hư vọng tánh.

Qua 5 giới tánh của Duyên Khởi được Phật nói trên, cho ta thấy rằng định luật Duyên Khởi là một triết lý Phật học, nên lý nghĩa của Duyên Khởi rất thâm sâu và khó hiểu. Chính đức Phật đã xác nhận: “Pháp này do ta chứng được thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu. Chỉ có người trí mới hiểu thấu. Còn người có nhiều bản ngã, tham dục, tham ái, tham vọng danh chức… khó mà thấy biết được định lý Duyên Khởi.”

Người trí mà đức Thế Tôn nói là có khả năng hiểu được định lý Duyên Khởi,đó là những Phật tử trên đường học và thực tập Phật pháp có quyết tâm xả bỏ tâm tham lam danh vọng để được có tâm thanh tịnh trong sáng làm động cơ giác ngộ. Chứ không phải là hạng Phật tử có bằng cấp văn hóa, sự nghiệp bác sĩ, kỹ sư, giàu tiền của, dòng họ vua chúa…, mà gọi là người trí. Cho nên có lần đức Thế Tôn đem lời khuyến cáo nhóm người Kàlama là không nên làm những điều mang tính hữu ngã, thì nhất định có gây tác hại bất an, buồn phiền, khổ lụy cho người khác, tức sẽ bị người trí biết được mà quở trách.

Định lý Duyên Khởi là giáo pháp đặc biệt của Phật giáo. Các tôn giáo khác không có, vì họ chủ trương hữu ngã, hữu thần; cho rằng kiếp sống con người và vạn vật do thượng đế tạo dựng ra, hay do định mệnh an bài, hoặc là ngẫu nhiên tự có. Bên Phật giáo, đức Phật thuyết minh Duyên Khởi vô ngã. Thực tướng các pháp là vô ngã, nên mọi hiện tượng thực tại chỉ là hiện hữu theo tương quan duyên khởi, không tự thể. Đó là định lý chỉ chung cho tất cả bản thể vạn pháp hữu tình và vô tình chúng sinh. Nhưng riêng về muôn loài hữu tình chúng sinh, trong đó có loài người, tất cả đều có tánh giác siêu tuyệt, đó là Phật tánh. Phật tánh bị các lậu hoặc, triền phược, phiền não bao phủ là nền tảng sinh ra chấp ngã nên cứ bị luân hồi sinh tử khổ đau ở bản thân ngũ uẩn do bởi vô số các duyên giả hợp mà có, chứ chẳng do cái ngã riêng biệt nào. Vì thế chấp bản thân mình là có thật, nên sinh ra nhiều thứ ngã chấp. Đức Phật khẳng định rằng: chấp ngã tức là vô minh, tức là hữu tình chúng sinh (con người) không thấy biết được bản thân mình được có là do các duyên giả hợp mà có, chứ không thật có, nên gọi là vô minh. Do giả hợp không thật có, nên bị chuyển biến, hao mòn, chết dần theo từng sát na, mà không thấy vô thường hoại diệt qua từng sát na ấy, cứ cho là luôn được tồn tại, đó là vô minh. Hay là cho rằng do thượng đế tạo dựng nên tha hồ tạo ra vô số hành động tội ác, đó là vô minh. Bởi thế đức Phật mới thuyết minh 12 nhân duyên, là đạo lý nói về vòng sinh tử, sinh hóa, kiếp sinh tử luân hồi của hữu tình chúng sinh, được Phật thu hẹp từ định lý Duyên Khởi để cho loài người nói riêng theo đó mà tu tập, dù cho có khó hiểu lý nghĩa, cũng phải ra sức tinh tấn mà tu tập 12 nhân duyên, duyên khởi nói chung.

Như đức Phật đã khẳng định định lý Duyên Khởi thật sâu kín, khó thấy, khó hiểu, khó chứng… Nhưng không phải vì thế mà các hành giả học Phật vì mục đích tìm cầu cho mình con đường giải thoát sinh tử bằng chơn tâm, thanh tịnh, vô ngã, mà lại lơ là, xem thường, bỏ qua không học hỏi, không thực tập quán chiếu đạo lý duyên khởi 12 nhân duyên, thì lấy đâu ra chất liệu vô ngã để kiến tạo cho mình một chơn tâm, trống rỗng thanh tịnh là phương tiện giải thoát?

Để cho ta thấy được dấu đạo vô ngã ở bước đầu học về đạo lý duyên khởi 12 nhân duyên, Đức Phật nói bài khai thị, đó là bài pháp Tứ Diệu Đế. Sau khi hành giả ngộ được đạo lý Tứ Đế, tức là thấy được nguyên nhân của khổ đau, sinh tử luân hồi là do chấp ngã chồng chất lên nhau bởi các triền phược, lậu hoặc, phiền não. Để tiêu diệt tất cả vô minh lậu hoặc ấy, chỉ có tu tập đạo lý duyên khởi 12 nhân duyên mới có thể đoạn trừ ngã chấp thành vô ngã. Cho nên sau bài pháp Tứ Đế, Đức Phật nói bài pháp ngộ nhập là định lý duyên khởi 12 nhân duyên để cho hành giả tri kiến Phật. Tuy nhiên trước khi Phật nói vào cốt lõi của định lý duyên khởi 12 nhân duyên, Đức Phật dẫn nhập cho hành giả bằng bài pháp Vô Ngã Tưởng (5 uẩn vô ngã) để cho hành giả có khái niệm về định lý duyên khởi. Điển hình rõ nét là 5 anh em ông Kiều Trần Như được Đức Phật khai thị cho bằng giáo pháp Tứ Đế mà thấy được nguyên nhân của sinh tử luân hồi khổ đau là do vô minh chấp ngã. Từ chỗ này cho ta thấy Đức Phật chứng đạo giác ngộ bằng giáo pháp duyên khởi 12 nhân duyên, nhưng Phật không nói pháp duyên khởi trước, mà lại nói Tứ Đế. Bởi vì định lý duyên khởi rất khó, nếu nói ra liền, chắc chắn chúng sinh không thể hiểu được. Nên chi Phật nói Tứ Đế, hơn nữa Tứ Đế cũng là đạo lý từ duyên khởi 12 nhân duyên. Vì vậy Đức Phật nhặt ra để khai mở tâm chúng sinh ở bước đầu học Phật. Chưa hết, cũng từ định lý duyên khởi 12 nhân duyên, Đức Phật lại rút ra một bài pháp khai mở thứ hai, đó là bài pháp Vô Ngã Tưởng (5 uẩn vô ngã), nếu không nói là bài pháp ngộ nhập. Hai bài Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng là con, là cành trong định lý duyên khởi 12 nhân duyên. Hành giả ngộ được đạo lý ở hai bài pháp ấy được xem là bắt đầu bước vào ngôi nhà đại giác tại bên trong ngưỡng cửa chứ chưa vào giữa ngôi nhà. Nói khác hơn là sơ quả Tu Đà Hoàn.

Rõ thực, năm anh em ông Kiều Trần Như sau khi được nghe xong hai bài pháp Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng, năm vị ấy liền thấy dấu đạo tích vô ngã, liền xả bỏ trần cấu, chứng sơ quả Tu Đà Hoàn, tức là tri kiến Phật ở cấp độ thấp nơi tâm mình chứ không phải thấy Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đang nói pháp mà gọi là tri kiến Phật. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Phật đã thành, là bổn sư trong vai trò hướng dẫn chúng sinh tu tập giáo pháp mà mình đã chứng ngộ để chúng sinh được thành Phật như mình.

Ngộ nhập. Ngộ có nghĩa là tâm thấy biết rõ chân lý, gọi cho đủ là tâm giác ngộ. Chơn tâm nào mà tâm hành giả giác ngộ, thấy biết đến? Đó là thực tướng vô ngã của các pháp như đã nói. Do năng lực nào làm cho tâm hành giả được giác ngộ đạo lý vô ngã các pháp? Do học và thực tập định lý duyên khởi 12 nhân duyên qua tri hành quán niệm và quán chiếu vào bản thân mình và vạn pháp trên vũ trụ một cách sâu đậm tích cực, gọi đó là nhập. Cho nên nhập trước rồi mới ngộ sau. Không nhập ắt sẽ không thông đạt. Có nhập, có thông đạt. Nhờ thông đạt mới có trí tuệ, do trí tuệ mới thấy được tướng vô ngã các pháp.

Tâm hành giả thấy được thực tướng vô ngã các pháp một cách chính xác như vậy, gọi là tri kiến Phật. Một khi hành giả được có tâm tri kiến Phật như vậy rồi, thì nhìn vào mọi hiện tượng thực tại không còn ảo tưởng mơ hồ gì nữa về thật tính, thật tướng các pháp là vô ngã, không tự thể, vì tâm đã thấy ngay định lý duyên khởi đang trùng trùng cấu kết trong mỗi bản thể vạn hữu và con người trên đà sinh sinh diệt diệt trong từng sát na, mà không cần phải dùng tâm để khái niệm phân tích. Gọi tâm thấy liền ấy, không phân tích là như thật tri kiến. Chẳng hạn ta nhìn vào cái bàn gỗ trong nhà, ta thấy ngay trong đó có vô số nhân duyên hòa hợp lại, nào là mặt đất, cây rừng, không khí, ánh sáng mặt trời, nước mưa, người thợ rừng, cái cưa, dây chạc, xe chở gỗ, người thợ mộc, chàng đục, cưa, bào, v.v… Tất cả các duyên giả hợp ấy làm thành cái bàn. Mỗi cá thể của các duyên ấy là nhờ vô số nhân duyên mà có bản thể… gọi là trùng trùng duyên khởi. Vô số các duyên hợp lại làm nhân mà sanh ra quả như vậy, được gọi tắt là nhân quả, cho nên định luật nhân quả luôn có mặt trong định lý duyên khởi.

Hành giả sau khi được có tâm như thật tri kiến rồi, từ đó luôn luôn sống trên dòng tâm yểm ly. Yểm là chán ghét. Chán ghét cái gì? Chán ghét tham lam, sân hận, si mê, bỏn sẻn, ích kỷ, dục lạc, danh vọng, chức vị hư ảo, v.v… Chứ không phải chán ghét chúng sinh, rất thương yêu chúng sinh, yêu chuộng luân lý đạo đức, ái ngữ, khiêm cung, ngôn ngữ và hành động từ bi cứu khổ chúng sinh, v.v… Do tâm nhàm chán (yểm) những thứ ô nhiễm, phiền não, ác trược, dục tình thế gian, nên quyết tâm ly (xa lìa) hội hè đình đám, vui ca, hát xướng, hàn huyên đàm tiếu vu vơ và xả ly những ý niệm về ngã: ngã si, ngã ái, ngã mạn, ngã chấp, cũng như xả bỏ không mong cầu ăn ngon, mặc đẹp, luôn khởi lòng tri túc (biết đủ).

Tâm hành giả không còn bị các thứ trần cấu, vô minh lậu hoặc, phiền não, ác trược chi phối nữa. Tâm ấy được gọi bằng nhiều danh từ: chơn tâm, tâm thường rỗng lặng, tâm vô ngã, tâm giác ngộ, Bồ Đề tâm. Tất cả danh từ ấy được gọi là Tâm Phật.

Nói khác hơn, Phật tánh trong tâm hành giả đã được vươn lên và hiển lộ hẳn ra, không thể bị quay lui được gọi là Bồ Đề tâm bất thối, như hoa sen đang nở giữa lòng nước và tuần tự lên khỏi mặt nước không bao giờ quay lui lại vào lòng nước. Phật tánh vươn mạnh lên và hiển lộ hẳn ra là năng lực làm cho các loại đạo tâm hữu ngã, như đạo tâm nhân, đạo tâm trời, đạo tâm Atula, đạo tâm địa ngục, đạo tâm ngạ quỷ, đạo tâm súc sinh bị chìm lặn và tan rã, chỉ còn lại đạo tâm Phật. Cho nên hễ có tâm là có đạo, tâm nào là đạo đó, tâm Phật là Phật đạo, con đường giác ngộ giải thoát. Vì thế chư Phật thị hiện ra nơi đời để khai thị chúng sinh. Chúng sinh ở đây chính là những đạo tâm hữu ngã nói trên trong nội thức con người nói riêng phải được tiêu trừ cho hết sạch để Phật tánh hiển lộ. Những đạo tâm hữu ngã được ví như những tên trộm cướp vào nhà người giàu có, chế ngự và bắt trói chủ nhà (Phật tánh) để cướp của. Phương tiện tiêu trừ những đạo tâm hữu ngã để Phật tánh hiển lộ, chỉ có giáo pháp Phật, trong đó định lý duyên khởi vô ngã là giáo pháp tối thượng tối đại hơn hết.

Nhân loại trên thế giới hiện nay, chỗ nào có những người mang tính ác tâm hữu ngã lục đạo, ở đó có xảy ra những hiện tượng khủng bố, chiến tranh gây chết chóc, bất an, sợ hãi, chia ly, hận thù, nghi ngờ không hỏi lại, liền vu khống, độc tài cầm quyền, độc diễn lên ngôi chức vị điều hành, bè phái, phân chia giai cấp, v.v… Tất cả đều do không hiểu định lý duyên khởi vô ngã của Phật giáo.

Chỉ có Phật tâm, chơn tâm, tâm vô ngã trống rỗng mới đích thực là con đường giải thoát sinh tử luân hồi khổ đau cho những ai thật sự mong muốn qua vận hành tu tập định lý duyên khởi bằng quán niệm vào mọi bản thể vạn hữu chúng sinh. Và toàn thể nhân loại nếu hiểu được định lý duyên khởi thì nhất định không có chiến tranh, hết hận thù, không còn tranh chấp, biết thương yêu nhau, đoàn kết sống trong an vui hạnh phúc, vì đã thấy được bản thân mình và muôn loài, muôn vật đồng thể tánh biết tham sống sợ chết như nhau, cũng như hiểu được rằng: ta và muôn loài vạn hữu luôn liên đới chằn chịt với nhau, không thể độc lập hiện hữu, nên không có người nào vật nào được trường tồn, tự tại, tất cả đều thuộc vào duyên sanh duyên khởi mà sinh mà diệt, vì do vô ngã nên bị vô thường sanh diệt. Cho nên Đức Phật đã nói vô ngã là yếu tính của vạn hữu. Ai hiểu được định lý duyên khởi vô ngã, thì chắc chắn hiểu được định luật nhân quả, nên không tạo tác ra hành động ác đức, xấu xa làm khổ đau cho người khác và muôn loài.

Vì thế cho nên định lý duyên khởi là bản tuyên ngôn đầu tiên trong nền đạo lý giải thoát của Phật giáo mà bài pháp vô ngã tưởng là định đề tuyên ngôn. Vì vậy mà Phật nói nhiều thứ kinh khác nhau vì do căn tính khác nhau của chúng sinh suốt 45 năm trong 5 thời. Nhưng tư tưởng vô ngã của định lý duyên khởi vẫn bàng bạc hiện hữu trong mỗi thứ kinh qua khế lý Tục đế tùy duyên để khai quyền mà hiển thật hai chơn đế cơ bản, đó là Vô Ngã và Niết Bàn, tuy hai mà một, Niết Bàn là Vô Ngã, Vô Ngã là Niết Bàn. Dù là Niết Bàn hữu dư của A La Hán do hết phân đoạn sinh tử hay Niết Bàn vô dư của chư Phật do không còn biến dịch sinh tử được Phật hiển thật Niết Bàn Nhứt Thừa ấy tại hội Pháp Hoa, cả hai đều lấy tâm vô ngã làm nền tảng. Do vậy, lúc Phật còn tại thế, ngài thường nhắc nhở 4 chúng đồng tu hãy luôn luôn nhớ phát triển và duy trì tâm vô ngã trong mọi môi trường, tình huống và hoàn cảnh sống, cũng như sinh hoạt ở xã hội và tu học, Phật sự trên cơ sở hành động từ thiện, Phật sự dù nhỏ hay lớn vẫn phải được xây dựng trên tinh thần vô ngã. Lời Phật nhắc nhở vẫn còn hiện hữu rõ nét trong các thứ kinh. Chẳng hạn trong kinh Kim Cang, Phật dạy: “Hãy làm mọi việc lành, tu tập mọi công đức với tâm thật thanh tịnh, không chấp ngã, không chấp nhân, không chấp chúng sinh, không chấp thọ giả, ắt chứng được vô thượng Bồ Đề”. (Dĩ vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả, tu nhất thiết thiện pháp, tức đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề).

Hạt giống vô ngã trong tâm hành giả ngộ được định lý duyên khởi được ví dụ như hột gạo tẻ là giống của cơm. Đã là giống của cơm, nấu lên sẽ thành cơm, dù một hột nấu cũng thành cơm, bởi vì dù nhỏ mà gốc nó là cơm. Cũng như vậy, tâm vô ngã là hạt giống Phật. Đã là hạt giống Phật, thì nhất định sẽ thành Phật, cho nên công việc từ thiện, Phật sự nhỏ cũng đưa đến thành Phật, giải thoát, vãng sanh Cực Lạc, vì dù nhỏ mà gốc của nó là tâm vô ngã.

Vì thế nên Đức Phật đã khẳng định vô ngã là yếu tính của Phật giáo, là pháp tối thượng, tối đại đối với những ai mong cầu con đường giải thoát sinh tử, ta phải học và thực hành Phật pháp để phát triển và duy trì tâm vô ngã trên dòng tâm tỉnh thức suốt trong đời sống, không thể ngừng nghỉ, được liên tục tâm vô ngã từ quá khứ, hiện tại và tương lai, gọi là quá khứ vô ngã, hiện tại vô ngã, tương lai vô ngã, do đã ngộ được định lý duyên khởi.

Người Phật tử tại gia tìm cầu con đường giải thoát, vãng sinh Cực Lạc chưa ngộ hay không bao giờ ngộ định lý duyên khởi, thì cái tâm của họ được Phật nói là bị rối ren tơ vò, cuộn chỉ, như loài cỏ Munja, lau sậy không thoát khỏi kiếp luân hồi là do tâm đầy hữu ngã lục đạo nên thường sanh ra nhiều thứ ngã chấp, nhiều thứ tham danh, chức tước, sân hận, si mê… suốt trong 3 đời không dứt hữu ngã. Phật gọi tâm hữu ngã trong 3 đời ấy là TAM TẾ NGU. Tam tế ngu là cái ngu trong 3 đời quá khứ, hiện tại và tương lai. Nói rõ hơn, ngu chấp ngã (ta) trong đời quá khứ, ngu chấp ngã (ta) trong hiện tại, ngu chấp ngã (ta)  trong tương lai. Vì thế cho nên vừa đản sanh trong vườn Lâm Tỳ Ni, sau khi đi 7 bước trên 7 hoa sen, đến hoa sen thứ 7, Đức Phật liền dừng lại, đưa ngón tay trỏ phải lên trời, ngón tay trỏ trái xuống đất mà nói rằng: “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn”. Câu ấy có nghĩa là, trên trời dưới đất cái ngã (ta) là hơn hết. Chứ Đức Phật không nói trên trời dưới trời chỉ có ngài là hơn hết. Ai giảng nói như vậy là không hiểu gì về mục đích của Phật xuất hiện trong đời.

Thế nào là ngu chấp ngã (ta) trong quá khứ? Chẳng hạn tuần vừa qua, tháng qua, năm qua, con người trong mọi giai cấp đã gây ra cho mọi người trong xóm làng, cơ quan, cơ sở, tập thể trong các cơ chế xã hội, tôn giáo, v.v… nhiều nỗi bất an, buồn phiền, khổ tâm… bởi những lời nói, hành động về các loại tham, sân hận, si mê, chấp ngã, thiên kiến, biên kiến, kiến chấp, v.v… của họ. Nên chi bị quần chúng lân cận, sở tại nội bộ tập thể quở trách, yêu cầu ăn năn, sám hối, từ bỏ cái tâm hữu ngã lục đạo ngu chấp ấy để cho mọi người liên đới được sống trong an bình, thanh tịnh. Nhưng không ăn năn, sám hối, từ bỏ, vẫn tiếp diễn lời nói, hành động ngu chấp, đó là cái ngu chấp cái ta (ngã) trong quá khứ.

Thế nào là ngu chấp ta (ngã) trong hiện tại? Không ăn năn, sám hối, từ bỏ ngu chấp cái ta, thì dĩ nhiên các loại chủng tử ô nhiễm của tham, sân, si, triền phược, ác trược lục đạo vẫn tồn tại trong tâm thức vô minh càng lúc càng dày đặc thêm thành khối giống như trong căn nhà vốn đầy tràn rác rến, bụi bặm từ mấy năm qua, nay càng thêm rác rến, bụi bặm, nếu được lau chùi, quét dọn sẽ được sạch sẻ, trong sáng.

Một khi cái tâm con người vẫn còn nguyên vẹn cái ngu chấp ta (ngã) từ trong quá khứ như vậy, thì nhất định trong đời sống hiện tại cứ tiếp tục tạo tác ra nhiều ác nghiệp qua ngôn ngữ và hành động tham, sân, si, chấp ngã… còn hơn xưa có hệ thống, cho nên họ không quan tâm, không nghe, thấy gì đến thái độ bất an, buồn phiền của quần chúng liên đới sở tại, đó là cái tâm ngu chấp ngã (ta) trong hiện tại.

Tâm ngu chấp ngã (ta) trong 2 đời quá khứ, hiện tại như vậy rồi, mà không nhận thức để ăn năn, sám hối từ bỏ, thì dĩ nhiên cái ngu chấp ta (ngã) ấy bị chồng chất lên và tiếp tục tạo tác hành động hữu ngã ác nghiệp ở tương lai, gọi là ngu chấp ngã trong tương lai. Cái ngu chấp ngã (ta) cứ xoay vần từ quá khứ đến hiện tại qua tương lai không bao giờ chấm dứt gọi là cái ngu chấp ngã (ta) trong 3 đời sinh tử luân hồi lục đạo. Ngược lại tâm vô ngã thì cứ vô ngã trong 3 đời không thể bị mất, là năng lực đưa đến thành Phật, giải thoát sinh tử, vãng sanh Cực Lạc.

Do vì không tỏ ngộ được định lý duyên khởi mà con người không hiểu mình, không biết mình từ đâu sinh ra, sinh ra để làm gì, chết đi về đâu, không thấy vạn hữu, pháp giới chúng sinh với mình đồng thể tương quan nhau mà tồn tại, không biết thực chất bên trong, chỉ thấy tướng bên ngoài, chỉ biết tướng dị biệt, không biết được tướng đồng. Do không thấy sự tương quan đồng thể mà con người chấp theo từng thứ gọi rằng của ta, của người. Chỉ biết đến vật chất theo bản năng sinh vật lý, không biết đến tinh thần lý trí, tội phước, nhân quả là gì. Vì vậy mà con người tự thấy mình có một bản ngã danh nghiệp cao vời đáng được phát ngôn hùng hồn, một bản ngã phú gia đáng lên ngôi chức vị cầm quyền, một bản ngã thầm lặng xa lánh mọi người, v.v…

Đức Phật vì muốn trừ khử Tam Tế Ngu đó của chúng sinh, cho nên thị hiện ra nơi đời chỉ dạy cho chúng sinh định lý duyên khởi 12 nhân duyên và bài pháp 5 uẩn vô ngã (Vô Ngã Tưởng) để chúng sinh theo đó mà tu tập được tri kiến Phật tức là tâm vô ngã, là điều kiện tất yếu không thể tránh khỏi (bất khả tỵ) việc thành Phật giải thoát sinh tử, vãng sanh Cực Lạc đối với chúng sinh nào thật sự có tâm vô  ngã trong 3 đời. Ngược lại chúng sinh nào có tâm hữu ngã lục đạo, cũng là điều kiện tất yếu không thể tránh khỏi bị đọa đày trầm luân trong 6 cõi sinh tử đối với chúng sinh đã và đang có tâm ngu chấp cái ta suốt 3 đời.

Hành giả nào đang đến  Đạo Phật thật sự vì mục đích tìm cầu cho mình con đường giải thoát sinh tử, mỗi bước trên đường đời giáp mặt với cuộc sống nhân sinh thực tại, là phải ngộ cho bằng được định lý duyên khởi, là mỗi bước phá trừ được ngu chấp bản ngã cái ta đúng như lời Đức lục tổ Huệ Năng nói: “Nhứt thiết thế gian pháp tức thị Phật pháp”, là mỗi bước tạo ra nhiều công đức vô lậu đem lại cho mình, cho mọi người lợi ích an vui giải thoát, cho đến khi tâm không còn mảy may vọng tưởng bản ngã về cái ta nữa, chính là lúc đạt đạo hoàn toàn giác ngộ vô ngã giải thoát.

 

 

 

PHẬT TÁNH VÀ BỒ TÁT

 

Bồ Tát được cắt nghĩa là hữu tình giác, một cụm từ để chỉ cho Phật tánh trong tâm hữu tình chúng sinh được vùng dậy, vươn lên như củ sen được nẩy mầm ra giữa lòng nước. Gọi Phật tánh vươn lên này bằng cụm từ “Ngộ nhập tri kiến Phật” (Cái thấy của Phật) do nối kết được dòng điện lực Phật pháp vào tâm. Vì thế mới gọi là “hữu tình giác”, tức là hữu tình chúng sinh, tâm được có tánh tri giác. Hữu tình chúng sinh được có tánh tri giác ở đây là con người, chứ không phải con bò, con heo, con hổ, v.v… Mặc dù các loài súc sinh ấy cũng có Phật tánh đúng như lời Phật nói “tất cả chúng sinh đều có Phật tánh”, nhưng tánh Phật của muôn loài súc sinh bị chôn vùi quá sâu kín dưới nhiều tầng lớp chủng tử súc sinh khi còn làm người đã tạo ra, do vậy loài súc sinh chỉ có sinh hồn, giác hồn là cái biết theo bản năng sinh tồn, nên chi không thể tiếp nhận được giáo pháp Phật do không có linh giác, linh tri, người đời gọi là linh hồn. Chỉ có con người mới có linh giác, linh tri nên con người được gọi là loài vật tối linh. Nhờ có linh giác, linh tri mà con người được biết nhiều thứ: tư duy, phân tich, khái niệm, so sánh tốt xấu, thương yêu, giận hờn, tham vọng, ngã mạn, v.v… Vì vậy mà linh giác, linh tri con người chính là Phật tánh bị trói buộc ở phía sau tấm màn vô minh, giống như người  nhắc tuồng đứng phia sau tấm màn sân khấu để nhắc tuồng cho các nam, nữ diễn viên ở phía trước sân khấu. Các đào kép nói và diễn đúng tuồng là nhờ người nhắc tuồng ở sau màn.

Cũng như vậy, thân tâm chúng sinh, con người nói riêng, biết nhiều cách sống trên vận hành mưu sinh để tồn tại, là nhờ Phật tánh ở sau màn vô minh, gọi nó là linh giác, chứ không phải Phật tánh là linh tri. Một khi Phật tánh trong tâm con người bừng dậy vươn lên bởi năng lực Phật pháp, vô minh (thức A-Lại-Da) tuần tự bị lui dần hậu trường tâm thức và từ từ mất dạng. Phật tánh phát triển, vô minh tan biến theo quy luật ánh sáng có mặt, bóng tối không còn, đó là thời điểm tính chất Bồ Tát được thành hình trong tâm người tu tập theo dấu đạo vô ngã gần nửa chặng đường giác ngộ, theo nghĩa giác ngộ la nhận thức ngược lại trước đây, như thấy bản thể vạn hữu là thường, nay được thấy vô thường, do vì vô ngã,, nên mới gọi là “hữu tình giác”, đúng là hễ có tu tập Phật pháp là chủng tử Phật tánh ra hoa kết trái giác ngộ như chủng tử hoa sen kia vốn cùng lúc có cả hoa và quả trong đó, gặp đủ nhân duyên tốt, hoa và quả đồng nẩy nở hẳn ra trong ao bùn nước đọng. Hoa giác ngộ và quả Bồ Tát của người tu tập được có cùng lúc ở đây là tại hai nấc thang nhị địa tam địa của cái thang giác ngộ có 10 nấc tu chứng do đại sư Trí Giả Tông Thiên Thai lập chung cho ba thừa Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát theo quan niệm rằng; thừa nào rồi cũng phải đến Phật thừa toàn giác theo lý tính vô ngã tồn tại trên vận hành Bồ Tát đạo là định hướng tiến bước.

Tánh giác của nhị địa là thấy được tánh Phật nơi tự thân (Tánh địa). Tánh giác của tam địa là thấy được thật tướng vô ngã của vạn pháp mà tâm không bị giao động, chán nãn (bát nhẫn địa) do vận dụng trí tuệ đang có quán chiếu vào bản thể vũ trụ và mình sau khi qua nấc thang nhất địa (càn tuệ địa) của thuở ban đầu mới tu tập, trí tuệ trong tâm chưa được rực sáng, còn khô cạn.

Tiến trình quán chiếu của người tu tập ở nấc thang tam địa được xem là căn bản, vì có thiết lập 8 bước quán ngộ để tánh tri giác được tiến dần lên 4 nấc thang giác ngộ kế tiếp ở quá nửa chặng đường tu tập.

Bốn bước đầu tiên quán chiếu về khổ, tập, diệt, đạo tại cõi dục. Bốn bước kế tiếp, cũng quán về khổ, tập, diệt, đạo ở hai cõi sắcvô sắc.

Bốn nấc thang giác ngộ mà người tu tập đã được bước lên, đó là nấc thang thứ 4 sơ quả Tu Đà Hoàn do kiến đạo tích vô ngã nên mới gọi là hữu tình giác. Do ý muốn giác ngộ tiếp, không muốn tái sanh trở lại thế gian, nên tiến bước đến nấc thang thứ 5 bạc địa, địa vị gần kề bờ giải thoát do đang tuần tự dứt trừ các căn bản phiền não cõi dục, đó là quả vị Tư Đà Hàm. Nấc thang thứ 6 ly dục địa, địa vị đang bước ra cõi dục do đã dứt sạch các gốc rễ phiền não ở 3 cõi dục, sắc và vô sắc qua quá trình quán ngộ ở 8 bước, đó là quả vị vô sanh (A La Hán). Mức độ giác ngộ của A La Hán ở đây vẫn là tự giác (hữu tình giác) chưa giác tha (giác hữu tình).

Theo lý thuyết của Bồ Tát là hữu tình giác, tức là con người ở bất cứ thời xa xưa cổ đại hay hiện đại, hễ có tu tập Phật pháp ở giai tầng nào là có trí tuệ giác ngộ tại giai tầng đó. Sự giác ngộ ở mỗi địa vị, giai tầng như vậy được gọi là phần giác, tức là giác ngộ từng phần, nên mới có cấp độ Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Riêng Thanh Văn có 4 cấp độ giác ngộ từng phần, đó là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán. Trong mỗi địa vị Thanh Văn như vậy, cũng có giác ngộ từng phần do tu một pháp Tứ Đế, đồng thời cũng tu nhiều pháp liên hệ.

Giác ngộ nghĩa là “Bồ Đề”, nhưng giác từng phần. Từng phần là “Tát đỏa”. Hai cụm từ Bồ Đề và Tát Đỏa luôn luôn đi đôi với nhau. Người có hai thứ Bồ Đề và Tát Đỏa trong tâm được gọi là Bồ Tát chứ không phải ai đâu xa. Bất cứ hạng người nào hễ có tu tập Phật pháp là phải có giác ngộ từ tiểu giác, trung giác và đại giác. Thời gian được giác ngộ không hạn định là bao giờ. Khi nào tâm hành giả hội đủ 3 điều kiện ắt phải có, đó là Giới, Định, Tuệ, không thiếu không dư là có giác ngộ, đúng như lời thơ của Hòa Thượng Phúc Hậu: “kinh điển lưu truyền tám vạn tư, Học hành không thiếu cũng không dư. Năm nay tính lại  chừng quên hết. Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như”.

Chữ Như có nghĩa là Như Lai, Phật, tỉnh thức, tánh tri giác… Người được giác ngộ từ tiểu giác, trung giác và đại giác (Phật) đều có 4 trí tuệ (Thành Sở Tác Trí, Diệu Quan Sát Trí, Bình Đẳng Tánh Trí, Đại Viên Cảnh Trí) là những ngọn đèn sáng soi để thấy thật tướng của vạn pháp là vô ngã. Từ đó phát khởi lên những ý niệm muốn thành Phật muốn thoát ly sinh tử, muốn hóa độ chúng sinh, muốn cho tất cả chúng sinh thành Phật, v.v… Những ý muốn đó gọi là phát Bồ Đề tâm. Được như vậy chính là do Từ Bi và trí tuệ thúc đẩy theo quy luật tự nhiên “thử hữu cố bỉ hữu” (cái này có cái kia có). Tính chất vi diệu của Phật pháp là chỗ ấy.

Phật tánh trong tâm người tu tập được phát triển vươn lên ở mức độ nào, là có trí tuệ giác ngộ, là có phát Bồ Đề tâm ở mức độ đó.

Với hàng Thanh Văn, Bồ Tát của họ chỉ có hữu tình giác, tức là tự giác, không có giác hữu tình, tức giác tha. Nên Bồ Đề tâm của họ chỉ là ý niệm tự lợi mong muốn mình được thoát ly sinh tử, chứ không có ý niệm muốn cho tất cả chúng sinh được thoát ly sinh tử như mình. Tất cả giai do trí tuệ của họ ở cấp Thành Sở Tác Trí và Diệu Quan Sát Trí, chưa đến Bình Đẳng, Đại Viên. Cho nên vừa mới đến địa thứ 4 Diễm Tuệ Địa (trí tuệ rực rỡ) thuộc 10 địa của Hoa Nghiêm) và địa thứ 7 thuộc cái thang 10 tầng tu chứng A La Hán Thanh Văn đã cảm thấy mình được tột đỉnh, nên vào Niết Bàn Hữu Dư Y, Niết Bàn đã chấm dứt phần đoạn sinh tử, không hay biết gì đến Niết Bàn Vô Dư Y Phật thừa!

Vì thế trong giờ phút Đức Thế Tôn sắp sửa nói kinh Pháp Hoa chính thức sau khi nói lý do hiển thật về Phật thừa, thì năm nghìn Tỳ Kheo Tăng và Ni ở địa vị A La Hán (Thanh Văn) lần lượt rời khỏi đạo tràng là như vậy.

Bồ Tát của các hàng Duyên Giác (Bích Chi Phật) và Bồ Tát thực thụ, là Bồ Tát có cả hai hữu tình giácgiác hữu tình, tức là có tự giác và giác tha, cho nên phát Bồ Đề tâm của hai bậc ấy là mong muốn mình và tất cả chúng sinh đều được giác ngộ thành Phật. Mà như thế, phải tự dấn thân vào xã hội con người để thực hành Bồ Tát đạo bằng lời nói từ bi và các việc cứu giúp chúng sinh trên cơ sở vật chất và hóa độ chúng sinh bằng Phật pháp, đồng thời bên cạnh đó cũng tiếp tục tu tập Phật pháp trước khi tiến đến ngôi vị toàn giác Phật thừa.

Khế lý Bồ Tát đạo mà hàng Duyên Giác, Bồ Tát phải tri hành là ở 3 địa vị 8,9 và 10 còn lại của cái thang 10 giai tầng tu chứng sau khi đã đạt được địa vị giác ngộ số 7 dĩ diện địa (đã hoàn tất) và số 4 diễm tuệ địa (trí tuệ rực rỡ) mà tiến lên những địa kế tiếp (Nan thắng, Hiện tiền, Viễn hành, Bất động, Thiện tuệ và Pháp vân) theo cách thiết lập của Phật trong kinh Hoa Nghiêm.

Thật sự những danh từ Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát là những tên gọi để chỉ cho những hành giả tu tập Phật pháp phải được giác ngộ từng phần làm cơ bản để đi đến giác ngộ toàn phần Phật thừa là điều ắt phải, nếu hành giả muốn thoát ly hẳn sinh tử. Vì thế đại sư Trí Giả đã thiết lấp 10 giai tầng tu chứng là như vậy. Và cũng vì thế Đức Thế Tôn đã nói ra vô số pháp môn tu tập khác nhau để chúng sinh theo đó mà tu tập được giác ngộ từng phần, rồi tiến đến toàn phần giác ngộ Phật thừa, chứ giáo pháp của Phật không có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, tiểu, đại thừa gì hết, chỉ có đại giác ngộ thành Phật là tối thượng.

Sở dĩ Đức Thế Tôn thuyết ra nhiều thứ kinh qua 5 thời suốt 45 năm như vậy, chỉ là phương tiện nhắm vào sự dắt dẫn vô số chúng sinh có nhiều căn cơ, hoàn cảnh khác nhau đi qua từng bước nghe pháp, hiểu và thực tập Phật pháp để lần lượt được giác ngộ từng phần rồi đến toàn phần, chứ không thể nào một lần mà được toàn giác thành Phật! Cho nên Phật mới thuyết giáo pháp về Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa, chính là cách khai quyền trợ duyên cho Phật tánh của chúng sinh có căn cơ khác nhau được khởi dậy ở giữa những chặng ấy từ xe nhỏ qua xe trung là nền tảng đến xe lớn toàn giác thành Phật do Đức Phật đã ngộ được chủng tử Bồ Đề của chúng sinh phải cần nhiều nhân duyên quyền trí, phương tiện trí, căn bản trí, thì chủng tử Bồ Đề mới có thể hiển lộ. Bồ Đề được hiển lộ là do Phật tánh vươn lên cao độ theo quy luật tỷ lệ thuận. Từ đó Bồ Đề nguyện cũng theo đó mà phát sinh ra những hành động Bồ Tát đạo đối với chúng sinh một cách tích cực không mệt mỏi. Khế lý Bồ Tát và Bồ Tát đạo được thấy trong toàn bộ kinh Pháp Hoa.

Với hàng trí thức Phật giáo từ xưa và thực tại ở bất cứ quốc gia nào có Phật giáo hiện hữu đều cùng có một nhận thức như trên. Một nhà Phật học Nhật Bản, ông Kimura đã nói: “Kinh Pháp Hoa được phát huy toàn bộ đặc sắc về Bồ Tát đạo, coi hết thảy chúng sinh đều là Bồ Tát, có khả năng thành Phật trong tương lai”.

Đích thực, chư Phật thị hiện ra nơi đời, chỉ vì một đại sự nhân duyên lớn duy nhất, đó là khai thị cho tất cả chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến thành Phật bằng giáo pháp khai quyền hiển thật.

Quả nhiên, với Đức thế Tôn, bằng tâm đại bi, ngài đã thấy rõ từ lâu những quả vị mà hằng ngàn Tỳ Kheo tu tập đã chứng đắc trong những lần Phật nói nhiều giáo pháp khác nhau trước khi Phật nói Pháp Hoa, chỉ là phương tiện khai quyền đưa đến quả vị toàn giác Phật thừa, chứ chưa phải Phật thừa. Bởi vì quả vị chứng đắc trong các thừa trước đó vẫn còn vô minh vi tế trụ địa bám chặt trong nội thức, là năng lực biến dịch sinh tử từng sát na, chưa thoát ly hẳn sinh tử. Chỉ có quả vị Phật thừa mới thật sự dứt bặt cả hai phần đoạn sinh tử và biến dịch sinh tử, đúng như lời Bồ Tát Văn Thù nói với Bồ Tát Hiền Thủ: “hết thảy chư Phật chỉ bằng một thừa duy nhất mà thoát ly hẳn sinh tử, đó là Phật thừa”.

Vì thế, với tâm đại bi, Đức Thế Tôn muốn cho tất cả hằng ngàn Tỳ Kheo đệ tử Phật lúc bấy giờ cũng như là mai hậu cùng chứng đắc quả vị Phật thừa bằng tri hành giáo pháp Bồ Tát đạo trên mọi nẻo đường cứu khổ độ sinh, nên Đức Thế Tôn trước khi nhập diệt, ngài đưa ra phương tiện hiển thật Phật thừa qua khế lý kinh Pháp Hoa, giáo pháp chứa đựng những phương pháp, cách thức tu tập thoát ly hẳn sinh tử cho những ai mong muốn lên ngôi vị đại giác Phật thừa, ngôi vị không còn sợ hãi biến dịch sinh tử bằng đôi chân từ bi, trí tuệ rão khắp chốn dân gian nơi có nhiều hình ảnh chúng sinh đang bị áp bức, bạo hành, thù địch, khổ lụy đầy nước mắt, chết chóc, đói khát,… mà cứu khổ bằng vật chất hiện thực để cho bản thân chúng sinh tạm thời được ly khổ, đắc lạc, sau mới đến phần đoạn hoặc, chứng chân bằng Phật, pháp. Đó là hàng Bồ Tát thật sự đi hành động Bồ Tát đạo vào đời. Hay nói khác hơn “Thượng cầu Phật đạo, Hạ hóa chúng sinh”.

 

 

 

NGHĨA CỦA DUYÊN GIÁC VÀ

CÁCH TU TẬP CỦA HÀNG DUYÊN GIÁC

 

Duyên có nghĩa là quan hệ đến, dính líu, vướng mắc vào, ràng buộc, nương nhờ, nhờ vào vật khác… Giác nghĩa là tỉnh ngộ, tỉnh thức, thấy biết thật tướng của vạn hữu là vô ngã, gọi là biết như thật, không còn khởi tâm khái niệm, suy tư.

Duyên giác là hành giả đã giác ngộ chơn lý do đưa tâm duyên vào vạn hữu thực tại quán chiếu, quán niệm giáo pháp 12 nhân duyên qua quá trình tự nghiên cứu học hỏi giáo pháp trong kinh luận, cho nên Duyên giác còn gọi là Độc giác (tự giác ngộ) hay Bích Chi Phật, là người ngộ đạo bởi đạo lý nhân duyên, như ông Phất Ca Sa nhìn thấy gió thổi làm rung động lá cây mà được ngộ đạo, tức là mượn cảnh vật hiện tiền trước mặt mà tu tâm thực hành Phật pháp ở lý vô thường, vô ngã, duyên sinh, nhân quả… mà giác ngộ, gọi là Duyên giác.

Qua nghĩa Duyên giác, cho ta thâý rằng hành giả chứng đạo giác ngộ từ thấp: tiểu giác, trung giác, đại giác đều có mặt trong mọi nẻo đường trần gian. Họ là những công nhân, thợ thuyền, binh sĩ, bác sĩ, kỷ sư, trí thức, bình dân, tu sĩ trong các tôn giáo, v.v… Một khi trong tạng thức (A Lại Da thức) của họ có túc duyên thiện nghiệp, Phật tánh phát triển là nhân tố đưa đến sự giác ngộ ở quả vị Duyên giác. Chẳng hạn có những người không phải Phật tử mà họ có một đời sống như một đạo sĩ chơn tu, trong đó có những hành động từ thiện lớn, nhỏ, giúp người nghèo đói một cách âm thầm, sẵn sàng đóng góp tịnh tài cho bất cứ cơ sở từ thiện, tôn giáo nào có người đến quyên góp hay bán vé gây quỹ qua các hình thức ăn cơm nhà hàng, ca nhạc… liền đáp ứng một cách hoan hỷ dù có đến dự hay không đến dự. Và những ngôn ngữ thật là từ bi qua các trạng thái đối đãi với mọi người được hiển lộ rõ nét 4 đức tính cao thượng từ, bi, hỷ, xả. Bởi vì do duyên cảnh mà tu tâm, tức là đã cảm nhận được các đạo lý vô thường hoại diệt qua từng sát na ở bản thân và vạn vật, nhân quả báo ứng đến con người rõ ràng trong xã hội, bản thể con người và vạn vật được có và tan rả là do các duyên hợp tan, sau những giờ phút đứng, ngồi im lặng đưa mắt nhìn vào sự vật và bản thân qua tâm quán niệm hay không cần quán niệm, mà tâm đã tỏ ngộ các đạo lý trên một cách thường trực do sẵn có túc duyên Bích Chi Phật trong tâm. Cho nên họ chưa lần nào đọc sách Phật pháp, mà tâm họ đã thấy được các đạo lý nói trên, do vậy họ có một đời sống Bich Chi Phật (Duyên giác, Độc giác) tại thế gian. Từ đây cho thấy rằng quả vị Duyên giác (Bích Chi Phật, Độc giác) không dành riêng cho người trong đạo Phật. Ai có được túc duyên Bích Chi Phật là có đời sống Bích Chi Phật trong thực tại. Nếu người có chủng tử Bích Chi Phật đó là Phật tử, thì nhất định được tiến lên ngôi vị Bồ Tát ngay thực tại trên vận hành Bồ Tát đạo ở mọi mặt đạo, đời hết sức là thánh thiện rõ nét qua trạng thái thật là Phật trong đối đãi với mọi người, chính là năng lực Niết Bàn (bất sinh bất diệt) và cũng là năng lực vãng sanh cực lạc sau khi xả bỏ báo thân ngũ uẩn. Còn người không phải là Phật tử, thì nhất định sẽ được thác sinh lên các cõi Trời do tính chất Bích Chi Phật mà lúc còn sống đang có.

Với người trong đạo Phật đã quy y Tam bảo mà chưa có tính chất Bích Chi Phật (Duyên giác) thì hãy tự mình nghiên cứu học hỏi qua các tài liệu Phật pháp trong các kinh, sách giảng luận Phật pháp. Vì do chỗ ấy mà Đức Phật đã nói ra quả vị Duyên giác (Độc giác, Bích Chi Phật) và căn dặn chỉ dạy thật kỹ cho các hàng đệ tử Phật xưa và nay, là phải tự mình sao chép, khuyên bảo người khác sao chép kinh điển để lưu truyền chánh pháp lại cho các thế hệ Phật tử ở hậu lai để theo đó mà học hỏi được chứng đắc quả vị Bích Chi Phật (Duyên giác, Độc giác) do nương tựa và Phật pháp: Kinh, Luật, Luận gọi là y pháp, do vậy nghĩa của Duyên giác phải được hiểu thêm là chúng sinh sanh ra trong thời mạc pháp không gặp Phật, tự mình học hỏi Phật pháp trong Tam Tạng kinh điển của Phật để lại mà giác ngộ, gọi là Duyên giác, Độc giác. Vì thế mà Đức Phật đã dạy các hàng xuất gia, tại gia phải sao chép kinh điển để lưu truyền cho chúng sinh ở hậu lai. Chẳng những chỉ căn dặn lưu truyền kinh điển, Đức Phật còn dạy tất cả mọi người Tăng sĩ, Phật tử phải cung kính đảnh lễ và y chỉ Tam Tạng Kinh, Luật, Luận. Vì nhờ Kinh, Luật, Luận mà Tăng sĩ, Phật tử được giác ngộ giải thoát. Ngược lại không cung kính, đảnh lễ y chỉ kinh điển, không sao chép lưu truyền, thờ ơ việc phụng trì phát triển kinh tạng, thì tâm tư sẽ có giảm sút năng lực liễu ngộ chánh pháp trên vận hành tu tập.

Tư tưởng tôn kính, đảnh lễ chánh pháp và không tôn kính không đảnh lễ chánh pháp được Đức Phật nói rõ rằng: “Người không cung kính sẽ bị khổ, không có thứ lớp… thì đối với việc đại nghĩa sẽ bị giảm sút, còn người có cung kính thì sẽ được an lạc trong đời sống. Người có cung kính, đảnh lễ chánh pháp, đối với các việc đại nghĩa sẽ thực hành đầy đủ…” (Tập A Hàm số 1180).

Một trong số các việc đại nghĩa mà hàng Phật tử tại gia nói riêng phải thực hành đầy đủ để lợi tha cho con người trong xã hội, đó là công việc phụng trì (gìn giữ) và phát triển kinh tạng vào thế gian trong mọi thời đại, gọi là pháp cúng dường, cũng là ý nghĩa cung kính lễ bái chánh pháp..

Pháp cúng dường là pháp tối thắng hơn tất cả pháp cúng dường khác, được khẳng định:

Trong tất cả các cách cúng dường, pháp cúng dường (kinh sách) là tối thắng. Pháp cúng dường, nghĩa là làm cho lời vàng ngọc của Phật còn lưu truyền mãi mãi trên thế gian, để cho Phật pháp được cửu trụ, chúng sanh được thấm nhuần pháp nhũ, ngõ hầu có nếp sống an lạc, hạnh phúc chân thật trong ánh hào quang của Đức Phật”. Bởi vì chỉ có chánh pháp mới làm cho ta được tri giác, thành tựu Bồ Đề, nên ta phải phát tâm cúng dường pháp tạng. Chính chư Phật trong vô lượng quá khứ, cũng như vị lai đều phụng trì, phát triển, cúng dường chánh pháp (pháp tạng) và nương tựa vào chánh pháp.

Không những Đức Phật chỉ dạy cho mọi người (Tăng, cư sĩ) lễ bái cung kính pháp tạng mà còn phải có tấm lòng tôn kính, lễ độ, ái ngữ trong đối đãi với tất cả mọi người Tăng bảo, Phật tử, nếu ai đang có tâm và hành động cung kính, đảnh lễ, phụng trì, phát triển Tam Tạng giáo điển, có giới đức, có tri kiến… Ta hãy cung kính tôn trọng, nương tựa, lân mẫn nơi họ, nhận họ làm bạn đạo, thiện hữu tri thức trên vận hành cùng nhau tu tập.

Cách tu tập giáo pháp Duyên giác. Cách thực tập Phật pháp để giác ngộ ở quả vị Duyên giác, là sau khi tâm ý của hành giả đã thông đạt thấu triệt những phần giáo lý 12 nhân duyên (duyên sanh – duyên khởi), vô thường, vô ngã và nhân quả báo ứng một cách nằm lòng do qua quá trình tự mình nghiên cứu học hỏi 4 đề tài giáo lý trên trong kinh, sách Phật pháp là nền tảng cơ bản ắt phải có đúng với một trong 4 lời nguyện: “pháp môn vô lượng thệ nguyện học”, chứ không phải chỉ nghe giảng pháp không mà được, vì nghe pháp trong thời đại xã hội con người nhiều vật chất dục lạc, tâm hành giả khó có thể thâm nhập kinh tạng để phát sinh trí tuệ.

Sau khi thông đạt 4 nguyên lý trên , đem tâm thông đạt đó ra thực hành trong đời sống thực tại bằng cách quán niệm, quán chiếu vào bản thể mọi vật hữu hình và tự thân mình bằng mắt nhìn và tâm tư duy với thời gian không hạn định, có thể 100 giờ, 200 giờ… được cộng lại cứ mỗi lần 20 phút, 30 phút… trong một ngày, hay đêm tùy theo hoàn cảnh và môi trường của đời sống. Cứ như thế mà thực tập, thì vào một giờ phút nào đó hành giả tự nhiên hoát ngộ, tức là tìm thấy được thực tướng của vạn hữu và con người là vô ngã. Sở dĩ có tướng hữu hình là do các duyên giả hợp nhau lại làm nhân để sanh ra hình tướng là quả gọi là nhân quả. Và vì do các duyên không hợp nhau nữa làm nhân tan rả nên chi hình tướng quả sẽ bị hoại diệt theo từng sát na rồi đi đến tan rả một cách thình lình không hẹn ước thời gian là khi nào (tử vô kỳ, sanh hữu hạn) đúng theo định luật vô thường. Và cũng thấy được hễ tâm khởi lên ý niệm bất thiện là cái nhân sanh ra quả bất thiện, thì tức khắc tự mình xóa bỏ ngay, bằng không sẽ hiện hữu ở hành động và lời nói bất thiện.

Một khi tâm hành giả Duyên giác được có tánh giác về 4 đạo lý nói trên, tự động thải ra những thứ phiền não, ô trược, ngã si, ngã mạn, ngã ái, dục, lạc, chấp thủ… Cũng như tự luyện tập những chủng tử thanh tịnh vào A Lại Da thức, không cần nghe lời pháp nhắc nhở nào của ai, nếu không nói là tâm đã ngộ nhập tri kiến Phật.

 

 

 

NHÌN TƯỚNG TRẠNG NGƯỜI SẮP CHẾT

SẼ BIẾT ĐƯỢC VONG LINH THÁC SINH VỀ

CÕI NÀO TRONG LỤC ĐẠO

 

I.- Có mười lăm (15) tướng trạng phải bị đọa vào địa ngục. Những tướng trạng đó là:

1. Người ấy có cặp mắt hung ác nhìn vợ, chồng, nam nữ quyến thuộc.

2. Hai tay người ấy rờ mò trong hư không.

3. Thiện tri thức dạy bảo không tùy thuận.

4. Buồn tủi, khóc lóc, kêu la, ứa lệ.

5. Lúc tiểu giải và đại tiện không hay, không biết.

6. Nhắm mắt không mở được.

7. Thường che khuất đầu mặt.

8. Ăn uống nằm nghiêng.

9. Thân và miệng hôi thối.

10. Đầu gối không cử động.

11. Sóng mũi nghiêng một bên.

12. Mắt trái máy động.

13. Hai mắt đỏ ngầu.

14. Nằm úp mặt.

15. Thân hình co quắp, nằm nghiêng hông phía trái.

 

II.- Có tám (8) tướng trạng phải bị thác sinh vào ngạ quỷ. Những tướng trạng đó là:

1. Thích liếm môi.

2. Thân nóng như lửa.

3. Thường hay đói khát.

4. Miệng há không ngậm.

5. Hai mắt khô cằn như chim khổng tước (chim công)

6. Không thể tiểu đại tiện được.

7. Đầu gối chân mặt lạnh trước.

8. Tay mặt thường nắm lại, vì cớ sao? Tâm người đó bỏn xẻn, cho đến nước cũng không bố thí cho người.

 

III.- Có năm (5) tướng trạng bị thác sanh vào súc sinh. Những tướng trạng đó là:

1. Ái nhiễm chồng, vợ, con cái, muốn nhìn thấy không xa được.

2. Tay chân co quắp lại.

3. Thân ra mồ hôi một phía.

4. Phát ra tiếng nói khô rít.

5. Trong miệng thường có đàm.

 

IV.- Có mười (10) tướng trạng thác sanh các cõi Trời. Những tướng trạng đó là:

1. Khởi tâm lân mẫn.

2. Phát khởi thiện tâm.

3. Khởi tâm hoan hỷ.

4. Chánh niệm hiện tiền.

5. Không có mùi hôi tanh.

6. Sóng mũi không xiên vẹo.

7. Tâm không phẩn nộ.

8. Tâm không luyến ái vợ, chồng, con cháu, quyến thuộc, tài vật quý báu.

9. Mắt hiện sắc thanh tịnh.

10. Ngữa mặt cười, tưởng nhớ đến cung trời phải đến rước ta.

 

V.- Có mười (10) tướng trạng thác sanh cõi Người. Những tướng trạng đó là:

1. Sanh thiện tâm, tâm nhu nhuyến, tâm phước đức, tâm hoan hỷ, tâm không phiền muộn, tâm vi tế, tâm phát khởi.

2. Tâm không khổ đau.

3. Ít nói lời nhảm nhí, tâm thường nhớ cha, mẹ.

4. Nơi vợ, chồng, con cái, nam nữ khởi tâm thương xót, xem ngó như thường, không ái, không sân, tai ưa nghe danh tánh của anh em, chị em thân thuộc.

5. Tâm không tán loạn về điều thiện, điều ác.

6. Tâm chánh trực, không siểm khúc.

7. Biết cha mẹ, thân hữu, quyến thuộc đem tâm thiện hộ niệm cho ta.

8. Thấy chỗ chân lý sanh tâm khen và vui.

9. Di chúc gia sự, chỉ rõ nơi chứa cất tài bảo.

10. Khởi tâm thanh tịnh, thỉnh Phật, Pháp, Tăng đối trước mặt tín tâm quy kính xưng: Nam Mô Phật Đà, Nam Mô Đạt Mạ, Nam Mô Tăng Già, con nay quy y. Nếu không có đạo Phật trong đời, thời quy hướng ngũ thông Tiên Đạo. (Giáo Lý Bí Mật Thân Trung Ấm – Nguyễn Pram – Trang 96-100)

Năm tiết mục tướng trạng lục đạo hiện ra nơi người sắp chết được ghi ra đầy đủ vừa rồi là trong kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni, Phật thuyết cho AXÀTHẾ, vị vua mang trọng tội ngỗ nghịch, bất hiếu là bắt giam vua cha mình là vua Tần Bà Sa La vào ngục cho đến chết để đoạt ngôi.

Sau  khi nghe xong lời Phật thuyết những tướng trạng lục đạo ấy, vua AXÀTHẾ khởi ý niệm có thực hay hư dối? Đức Phật biết được tâm ý AXÀTHẾ nửa tin, nửa không, liền dùng uy thần lực, khiến cho vua AXÀTHẾ thấy rõ trước mặt nhiều xác thân con người sắp chết đang hiện ra những tướng trạng địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, Trời, Người. Cùng lúc đó có vô số các loại địa ngục A tỳ, trong đó những quỷ chúa ra tay trừng phạt. Rồi một quỷ chúa chỉ tay vào mặt vua AXÀTHẾ nói rằng: “Này AXÀTHẾ, ngươi đang mang đại trọng tội giết cha nhà ngươi, sẽ bị vào các địa ngục A tỳ để thụ hình khổ lụy nay mai sau khi ngươi hết phúc cõi trần”.

Đang đối diện trước vô số hình ảnh ba đường ác nói trên, vua AXÀTHẾ quay mặt tìm đường chạy trốn. Nhưng vì cơ thể bị chấn động do quá sợ, mồ hôi toát ra nên ngả quỵ xuống đất trong trạng thái mê man. Khi tỉnh dậy không còn thấy những hình ảnh ác ấy nữa do Phật đã hoàn nhiếp thần lực, chỉ thấy Đức Thế Tôn và chư Thánh Tăng. Đức Thế Tôn liền hỏi AXÀTHẾ rằng:

- Đại vương hướng vào địa ngục, thấy những hình tướng khổ lụy đó như thế nào?

- Bạch Thế Tôn, con đã thấy chỗ nói của Thế Tôn là chơn ngữ, thật ngữ. Từ nay con xin phát lồ ăn năn, sám hối tội lỗi con đã làm. Con xin quy y theo Phật, Pháp, Tăng, nguyện giữ năm giới suốt đời không phạm, tinh tấn tu tập theo Phật pháp, xin nguyện làm các việc lành, dứt trừ tâm ác, xin hồi hướng công đức đến cho tất cả pháp giới chúng sinh, nguyện cho chúng sinh mau chóng thành Phật đạo. (Phỏng theo sách Giáo Lý Bí Mật Về Thân Trung Ấm – trang 101)

 

 

 

CHỌN PHÁP MÔN TU

 

Con người quay về đạo Phật, thật sự tìm cầu cho mình con đường giải thoát sinh tử bằng giáo pháp Phật qua vận hành tu tập, thì nhất định đều phải tự chọn cho mình một pháp môn chính và một vài pháp môn phụ được thích hợp với căn cơ, trình độ và hoàn cảnh của mình trong việc tu tập.

Mặc dù giáo pháp Phật có vô số lượng pháp môn, từ một phẩm kinh ngắn, dài, bài kệ 4 câu, đều có cùng một tính chất dinh dưỡng tinh thần trong đó, nếu con người tích cực quyết tâm thực tập sẽ có ngay niềm an lạc thanh thoát trong tâm hồn, thuộc đời sống tinh thần.

Con người luôn luôn có hai đời sống vật chất và tinh thần tương duyên nhau không thể rời nhau, nếu một trong hai bị yếu đuối, bịnh hoạn, con người mất sức sống. Vật chất là cơ thể máu thịt, gọi là sắc, được nuôi dưỡng bằng thực phẩm thích hợp với cơ thể mới có sức khỏe tốt. Tinh thần là tâm thức bên trong gồm có thọ, tưởng, hành, thức, gọi là danh, được nuôi dưỡng bằng Phật pháp thích hợp với căn cơ, trình độ mà tâm thức đang có, mới có thể được an lạc, vô ngã, giải thoát. Cả hai đời sống vật chất và tinh thần đều quan trọng đối với con người trong cuộc sống, do vậy con người phải luôn nhớ chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai, không thể chỉ nuôi dưỡng cơ thể cho mập béo, tươi trẻ mà quên nuôi dưỡng tinh thần. Hay ngược lại, chỉ nuôi dưỡng tinh thần mà quên vật chất cho cơ thể. Mặc dù bản thân con người bị chết đi, bỏ lại trong lòng đất, chỉ có tâm thức một mình ra đi. Nhưng tâm thức ra đi được trong sáng, thanh tịnh, tinh anh, hay mê muội, tăm tối, là do bản thân cũ. Nếu bản thân cũ được tráng kiện, khỏe mạnh, bởi các thức ăn thích hợp, đồng thời tâm thức được minh mẫn trên con đường tu tập đúng pháp môn hợp căn cơ, sẽ đạt được tâm thanh tịnh vô ngã, thì sự ra đi của nó được siêu thoát. Ngược lại thân thể tráng kiện, tâm hồn minh mẫn trên con đường đầy tội lỗi, vô minh, ô nhiễm, thì sự ra đi của tâm thức ắt sẽ vào 3 đường ác. Hay là bản thân cũ luôn bị đau ốm, không đủ sức khỏe do ăn các thức ăn không thích hợp, sẽ làm cho tâm thức thiếu minh mẫn trên vận hành tu tập, mặc dù chọn đúng pháp môn thích hợp, nhưng khó tiến bước đến mục tiêu tâm thanh tịnh trong sáng.

Vì thế cho nên, hàng Phật tử chúng ta, ai là những người thật sự muốn tìm cầu con đường giải thoát bằng Phật pháp hãy nhận thức rõ về thân thể khỏe mạnh và chọn pháp môn tu. Chọn  pháp môn tu để bồi dưỡng tâm linh trong sáng như chọn thực phẩm để bồi dưỡng cơ thể vậy. Cả hai thứ pháp môn và thực phẩm phải được chọn cho thật kỹ, bởi vì cả hai thứ đều liên quan đến vận mệnh con người, một bên làm cho cơ thể khỏe mạnh để tu tập, một bên làm cho tâm thức được thanh tịnh, trong sáng, vô ngã. Do vậy, thức ăn chính và phụ mà ta chọn để ăn phải được thích hợp với cơ thể của ta, thì mới có thể được tiêu hóa dễ dàng, gọi là vào được và ra được là điều kiện làm cho tâm hồn được thanh nhẹ, an vui. Ngược lại, cơ thể ta bị mỏi mệt, đau bao tử, đau gan… tâm hồn không minh mẫn, buồn lo, ủ dột, sầu khổ… là do thức ăn không tiêu hóa.

Nói rõ hơn, thân và tâm của ta được khỏe mạnh, an vui, minh mẫn, hay bịnh tật buồn đau là do thức ăn thích hợp hay không thích hợp. Bởi vì các thức ăn là vật vô tri, vô giác, không ăn để đó, chúng bị ung thối. Nhưng được ăn vào bao tử của ta, chúng được biến thành tự thể của ta. Cho nên tự thể của ta phải là tự thể khỏe mạnh minh mẫn, là điều kiện giúp cho tâm ý ta mọi sự nhận biết tinh khôn về tất cả các pháp hữu hình, vô hình, trừu tượng, cụ thể, vô vi, hữu vi và cả tâm ta và tha nhân như thế nào ở ngoại thân trên bước đường tu tập ở lãnh vực quán niệm, quán chiếu. Vì vậy, đức Phật dạy chúng sinh hãy nương vào bản thân mình, giữ gìn nó ở mức độ khỏe trung bình để tu tập.

Cũng như vậy, pháp môn chính phụ khi chưa vào tâm thức ta, còn nằm im trong kinh điển, chỉ là pháp vô tri, vô giác, nhưng khi ta đem vào tâm thức ta và tu tập, các pháp môn chính phụ ấy liền biến thành tâm thể hoàn tịnh do thích hợp với năm căn tịnh sắc bên trong là lúc năm trần căn (5 cửa sổ) bên ngoài không bị chi phối bởi các hiển sắc, hình sắc, biểu sắc của lục trần. Do vậy, người Phật tử muốn có được cái tâm vô ngã thanh tịnh để giải thoát, là phải chọn pháp môn chính phụ thích hợp với căn cơ trình độ của mình trong việc tu tập. Ta chọn đúng pháp môn để tu, tâm thức ta mới thấy được dấu đạo (kiến đạo tích) để hành, rồi tuần tự tiến lên được đạt đạo giải thoát ngay thực tại chứ không đâu xa, đó là tâm không còn các thứ chấp ngã, trần cấu, vô minh… gọi là tâm vô ngã, chơn tâm, tâm có trạng thái Niết Bàn. Cho nên giờ phút nào ta xả bỏ được những thứ vô minh, phiền não, trần cấu, ô trược, chấp ngã đó, là giờ đó ta có Niết Bàn. Được như vậy là do tâm thể hoàn tịnh của ta tiêu hóa được các pháp môn chính phụ qua quá trình tu tập, gọi là vào được và ra được. Ngược lại vào được mà ra không được là do tâm thức ta không tiêu hóa được các pháp môn tu. Bởi vì chọn pháp môn tu không thích hợp với căn cơ trình độ. Hay là tiếp nhận nhiều pháp môn vào tâm thức mà chưa tiêu hóa kịp, thành ra bị ứ đọng, gọi là thương thực pháp môn là động cơ làm cho tâm trí ta bị lạc vào rừng Phật pháp, bị chìm ngập trong đó. Do vậy mà một số khá đông Phật tử chúng ta chưa thấy được dấu đạo (kiến đạo tích) trên bước đường tu tập, huống hồ đạo lý vô ngã giải thoát làm sao đạt được! Giai do không chịu chọn pháp môn tu, tu nhiều pháp môn, pháp môn nào cũng ôm vào để tu, nhưng không được tiêu hóa. Nên chi mới than rằng: “Nhiều pháp môn quá, không biết nên tu pháp môn nào! Nghe nhiều băng giảng Phật pháp, không biết Phật pháp nào để tu!

Vấn đề không chọn pháp môn, pháp môn nào cũng tu một ít, băng giảng Phật pháp nào cũng nghe, chỗ nào có tổ chức tu tập thiền định, Phật thất… cũng đều đến tham dự. Đó là thái độ học Phật rất tích cực, đáng ca ngợi. Nhưng không thể đúng với câu: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Đúng là khi nào tâm thức ta thấy được dấu đạo vô ngã trước tiên ở pháp môn chính phụ ta đã chọn đang tu làm cơ bản, thì đồng thời tâm thức ta cũng được thấy luôn đạo tích vô ngã trong vô số lượng pháp môn khác đúng theo định luật duyên khởi “một pháp có mặt trong tất cả các pháp. Tất cả các pháp có mặt trong một pháp”. Cho nên tu một pháp môn đồng thời tu tất cả các pháp môn. Kiến đạo vô ngã ở một pháp môn, đồng thời kiến đạo vô ngã ở tất cả các pháp môn. Chừng đó ta tha hồ nghe vô số bài Phật pháp ở các băng giảng, tham dự nhiều khóa tu tập Thiền, Tịnh Độ, v.v… liền thấy ngay đạo tích vô ngã trong đó không khác với đạo tích vô ngã ở pháp môn ta đang tu. Nếu Phật tử nào chưa thấy được đạo tích vô ngã ở ngay pháp môn mình tu, chính là tâm người ấy vẫn còn nguyên vẹn những thứ ngã, trần cấu, ô trược… đang bám chặt chung quanh Phật tánh, thì nên quay về tu tập lại cho kỹ pháp môn chính phụ mà mình đã chọn.

 

PHÁP MÔN CHÍNH, PHÁP MÔN PHỤ

Tất cả pháp môn tu của Phật đều là những phương tiện hướng dẫn người tu tập để đạt tâm giác ngộ giải thoát. Vì là phương tiện, cho nên pháp môn nào cũng có chứa đựng cùng lúc 2 lý chắc thật, đó là tục đế và chơn đế. Hành giả tu tập pháp môn cho mục đích được giác ngộ giải thoát, là phải nhìn thấy được chơn đế trong các pháp môn chính phụ mà mình đã chọn, rồi theo chơn đế, tức là dấu đạo vô ngã mà tu tập. Chứ còn những ngôn từ diễn giảng nghĩa lý qua lại nhiều lần từ các bậc Tăng bảo tại đạo tràng hay trong các băng cassette, DVD, CD chỉ là lời tục đế làm hiển lộ chơn đế (dấu đạo vô ngã) như ngón tay chỉ mặt trăng. Sau khi thấy mặt trăng rồi, ngón tay hết lý do tồn tại. Cho nên học pháp môn để tu là y cứ vào giáo pháp không y cứ vào người dạy. Y cứ vào trí, không y cứ vào thức. Từ đây cho ta thấy rằng pháp môn chính phụ đều có cùng một lẽ thật, đó là đạo lý vô ngã, chứ không sai khác nhau, không cách biệt nhau, gọi là bất biến. Do vì căn cơ trình độ của con người có khác nhau, nên Phật đã nói ra nhiều giáo pháp, nhiều lý lẽ, nhiều cách hướng dẫn gọi là tùy duyên (tục đế) để làm sao cho hành giả được thấy chân đế là dấu đạo vô ngã, theo đó mà tu tập được giác ngộ giải thoát. Tu pháp môn nào cũng được thấy đạo lý vô ngã cả, chứ không phải pháp môn này có, pháp môn kia không.

Sở dĩ nói có pháp môn chính phụ như vậy, cũng chỉ là một một cách hướng dẫn cho các hàng Phật tử thấy được những việc bố thí, cúng dường Tam Bảo, lập đạo tràng mời chư tăng giảng kinh, ấn tống kinh điển, tụng kinh, các Phật sự tại chùa, và ngay cả những công việc văn hóa, xã hội, sinh hoạt tại thế gian, v.v… mà họ đã và đang làm bên cạnh tu Tịnh Độ, Phật thất, Thiền định… đều là những pháp môn có liên đới mật thiết đến Thiền định, Tịnh độ… đúng theo định lý Duyên khởi “một pháp môn có mặt trong tất cả pháp môn. Tất cả pháp môn có mặt trong một pháp môn” gọi là viên dung các pháp. Quy luật viên chung ấy là động cơ giúp cho con người đạt nhiều thành quả khả quan trong các cơ chế thuộc xã hội và các quả vị chứng đắc của các hành giả trong đạo Phật trên vận hành tu tập Phật pháp. Cho nên không thể tu tập một pháp môn, mà phải tu một vài pháp môn liên hệ. Giống như không thể ăn duy nhất một món cơm không, mà phải có ăn một vài thức ăn khác để giúp cho khẩu vị được tiết ra dịch vị giúp cho thiệt thức (lưỡi miệng) có cảm giác ngon và giúp cho bộ tiêu hóa dễ làm việc một cách hanh thông, không bị táo bón.

Cũng như vậy, tu nhiều pháp môn cùng lúc trên bước đường “kiến đạo tích vô ngã” (thấy chơn lý vô ngã) sẽ giúp cho tâm thức hành giả thấy được những công việc vừa nói trên mà họ đang hành bên cạnh. Phật thất, Thiền định… đều có chất liệu vô ngã trong đó làm tác động tâm thức hành giả đang miên man trên dòng sóng chấp ngã ở công việc giúp đời độ sanh, chấp pháp ở công việc bố thí cho tha nhân khi miệng niệm Phật mà tâm suy lường tính toán, so đo, hãnh diện, tự mãn… là đi ngược lại nguyên lý giải thoát của pháp môn là vô ngã.

Với hành giả tu tập Phật pháp cho mục đích tìm cầu con đường giải thoát bằng tâm vô ngã, hãy nhận thức những điều nói trên mà đưa tâm trở về thực tại tỉnh thức không trụ tâm ở các việc hóa độ chúng sanh để phá trừ ngã chấp mà hàng phục tâm và an trú tâm ở các việc bố thí không trụ tướng để phá trừ pháp chấp.

Nếu hành giả tu Tịnh độ niệm Phật Di Đà có tâm yên lặng hay tu Thiền định có tâm định trong lúc hành thiền, niệm Phật. Nhưng sau đó trên vận hành làm các công việc bố thí, hóa độ, Phật sự… tại chùa, ngoài xã hội mà tâm thức bị vọng động, ngã si, ngã mạn, ngã ái, bỉ thử, trụ tướng, trụ pháp… trụ không biết bao nhiêu thứ trụ, trụ pháp trụ tướng ở quá khứ và hôm nay, v.v… thì mức độ tâm định hành thiền, thanh tịnh niệm Phật trong giờ phút vừa qua, ngày qua, tuần qua đã biến thành hữu lậu (bị lọt trở lại), không đủ để lấp kín cái hố thẳm tâm vô đáy tràn đầy vô minh, ô nhiễm, trần cấu nói trên.

Phương tiện được qua bên kia bờ giải thoát sinh tử là cái tâm thanh tịnh vô ngã, mà không có. Như vậy lấy gì để giải thoát? Không qua thì ở lại bờ, đúng như lời Phật nói: “Rất ít người qua bờ bên kia, số đông ở lại bên này, lẩn quẩn bên bờ” (kinh Đại Tỳ Bà Sa).

 

 

 

CĂN NHƯ THẾ NÀO TƯỚNG NHƯ THẾ ĐÓ

 

Căn nghĩa là gốc rễ (trong danh từ căn bản), là điểm tựa (trong danh từ căn cứ). Căn có hình tướng (hữu vi căn) được nhìn thấy ở những vật thể như nền móng (base, foundation) của ngôi nhà, gốc rễ của cây, v.v… Căn không hình tướng (vô vi căn),  nó ẩn tàng sâu kín trong tâm con người không thể thấy được, nhưng thấy được nó khi tướng nó (căn) được hiển lộ ra lời nói thiện ác, hành động thiện ác do tâm khởi lên chỉ đạo cho miệng nói, thân hành động, bởi vì tâm là chỗ chứa của căn thiện ác như mảnh đất là chỗ chứa gốc rễ của các loại cây, là chỗ đặt nền móng của các loại nhà cao, thấp… Qua đây cho ta thấy căn có hình tướng, tính của nó là trung tính, không thiện không ác, chỉ có tướng thô xấu, đẹp đẽ. Chẳng hạn những căn cứ quân sự Mỹ tại các quốc gia trên thế giới thì đẹp đẽ khang trang, còn căn cứ các lực lượng chống Mỹ thì thô sơ, lụp xụp, nhỏ hẹp.

Căn không có hình tướng trong tâm linh con người, tính của nó có cả hai tính thiện, tính ác. Nhưng tướng của nó thì lại hữu vi được nhìn thấy ở mỗi cá nhân con người qua lời nói ái ngữ, tế nhị có văn hóa và hành động khiêm cung, tỉnh thức, đứng đắn, trang nghiêm, lễ độ hay thô bạo, lời nói bất nhã, không văn hóa trong đối đãi với mọi người. Tất cả đều do tâm có gốc rễ (căn) thiện, ác. Đúng là thiện căn, ác căn bởi tại lòng ta.

Căn có hình tướng mang tính sinh sôi nảy nở, phát triển thân tướng như các loại cây và hoa phải được chăm sóc, tưới tắm phân bón vào gốc rễ, thì thân tướng chúng được xanh tươi, phát triển cành lá, ra nụ, trổ bông, kết trái. Nếu không được tưới tắm phân bón hoặc bị tưới bằng nước dơ, hôi hám, phân bón độc địa, thì gốc rễ (căn) của chúng bị bịnh hoạn, suy yếu, làm cho thân của chúng bị ủ rũ, héo hon, rụng lá, sầu cành đi đến tàn rụi.

Căn không có hình tướng trong không gian tâm linh con người, tính của nó duy nhất chỉ có tăng, bởi vì tính nó có cả hai tính thiện,, tính ác. Vì vậy nói về suy, là do lực này thua kém lực kia mà có suy, tức là một bị suy, một được tăng theo quy luật tương quan đối đãi nhau. Nói theo Phật pháp, ở đâu có chánh pháp Phật hiện hữu, ở đó ma vương trốn thoát. Ở đâu có ánh sáng chân lý chiếu rọi, ở đó bóng tối tà đạo hết lý do tồn tại. Phật tánh phát triển, phiền não lặng mất. Chân đế hiển bày, tục đế vô dụng. Ngược lại, cường lực phiền não vươn cao, Phật tánh chìm lặng. Ma vương trổi dậy hung hãn, chánh pháp lu mờ…

Qua hai tính chánh, tà, yếu, mạnh hơn thua nhau theo quy luật tương quan đối đãi vừa nói trên, cho ta thấy gốc rễ (căn) của thiện, ác trong tâm thức con người, thứ nào cũng hiện ra và phát triển khi nó thắng thế ở cường lực. Từ đó ở thân tướng con người chỉ hiện ra một là tướng thiện, hai là tướng ác trong giây phút hiện tại. Chứ không thể cùng một lúc hiện ra cả hai tướng thiện, ác. Có chăng, phút trước tướng ác, phút sau tướng thiện theo sự hằng chuyển của tâm trên dòng tâm vô thường.

Căn có hình tướng ở những vật thể như tòa nhà có nền móng (căn). Nền móng ấy bị lòi ra do đất bị sụp, bị lở. Nếu không tu sửa, bồi đắp, tòa nhà sẽ bị tan vỡ. Hay những bụi hoa hồng, gốc rễ (căn) của chúng không được tưới nước qua nhiều ngày, thì nhất định gốc rễ của chúng hết chất dinh dưỡng cho thân cây, chừng đó thân cây, gốc rễ đều bị chết khô.

Còn căn không hình tướng trong tâm thức con người có thiện căn, ác căn như đã nói. Nếu thiện căn không được bồi thêm tính chất thiện và cũng không thêm ác, và nếu ác căn vốn đang có, không được bồi thêm tính ác, và cũng không thêm thiện, ví dụ vậy; cả hai thứ thiện căn, ác căn nằm im trong tạng thức cho đến khi thân người bị chết đi, thiện căn, ác căn được thức A Lại Da mang theo qua thân xác mới ở cõi mới nào đó. Nhưng với tính chất của thức A Lại Da là luôn hằng chuyển, biến chuyển không ngừng nghỉ từ sinh mệnh cũ bước sang sinh mệnh mới như vậy, làm sao cội căn thiện, cội căn ác có thể nằm im được! Bởi thiện căn, ác căn chính là những chủng tử trụ địa trong thức A Lại Da. Tính chất của chúng là hoạt động liên tục trong sinh mệnh con người từ kiếp này qua kiếp khác, nên gọi là đà sống. Sống có biết. Biết tham lam, dục lạc, nhân ngã, hơn thua quyền lợi chức tước, độc tài, độc diễn lên ngôi chức quyền… do cội căn ác. Sống có biết. Biết xả bỏ tất cả các tính nhân ngã, bỉ thử, vị kỷ, luôn hành động lợi tha cho chúng sinh… do cội căn thiện.

Để bồi thêm cho cội căn thiện của người vốn có được mạnh thêm kiên cố, vững chắc, không bị các chủng tử ác xâm nhập, Đức Phật đã chế ra những giới luật 5 giới, 10 giới luật nghi, 10 giới thập thiện và cao hơn nữa cho những ai sau khi quy y Tam Bảo do thiện căn dắt dẫn chỉ đạo quay về Tam Bảo. Cho nên giới pháp là cội gốc, cội căn của muôn hạnh lành.

Không những chỉ có giới pháp, mà phải học thêm Phật pháp, đối với những ai mong cầu con đường giải thoát bằng trí tuệ do giới làm cho tâm an trú trong định, nhờ có định mà con người học Phật pháp liền thấy được đạo, tu tập theo đạo giác ngộ.

Những bài Phật pháp cơ bản cho các hành giả ở bước đầu học Phật sau khi quy y và thọ năm giới. Trong đó bài Phật pháp “Năm Thiện Căn, Năm Thiện Lực” được đi cùng tương duyên nhau. Nói gọn lại “năm căn năm lực” (ngũ căn ngũ lực) là bài Phật pháp mang chất liệu bồi đắp cho thiện căn vốn có trong lòng được thêm vững mạnh, kiên cố trên bước đường tu tập. Cho nên đề tài Phật pháp có tên CănLực. Không phải chỉ một căn, một lực, mà có đến 5 căn, 5 lực tương duyên nhau đúng theo quy luật của Hoa Nghiêm là các pháp phải tương duyên nhau, không thể cô đơn lẻ loi một pháp. Quy luật đó là “một pháp có mặt trong tất cả pháp. Tất cả pháp có mặt trong một pháp”.

Do vì các pháp tương duyên nhau, cho nên khi ta thực hành một pháp, đồng thời ta cũng thực hành một pháp khác hay nhiều pháp liên hệ một cách tự động không thể tránh khỏi. Quy luật đó là cái này có cái kia có về mặt thực hành để được có. Ngược lại, cái này không cái kia không.

Bài học Phật pháp 5 này 5 kia (ngũ căn là có ngũ lực) sau đây cho ta thấy tâm hành giả hễ có thiện căn là có thiện lực tương duyên nhau, dắt dẫn nhau trên bước đường tu tập.

Nói rõ hơn tâm có căn nào là có lực đó. Căn thiện có lực thiện. Căn ác có lực ác đi cùng.

Với người Phật tử trên bước đường tu tập một cách quyết chí công phu không gián đoạn là do có thiện căn, liền có thiện lực đi cùng hỗ trợ cho thiện căn phát triển.

Cho nên hễ có:

Tâm Tín căn là có Tín lực

Tâm Tinh Tấn căn là có Tinh Tấn lực

Tâm Niệm căn là có Niệm lực

Tâm Định căn là có Định lực

Tâm Tuệ căn là có Tuệ lực.

 

1- Tín căn là lòng tin vào Tam Bảo một cách sâu đậm càng lúc càng lớn mạnh không gì có thể làm thay đổi được, do đã thấy được Tam Bảo là chánh pháp, chánh đạo là nơi nương tựa để tu tập mà vượt thoát sinh tử khổ đau. Cho nên suốt đời không chạy theo thiên ma, thần quyền, tà đạo, tà giáo, bè đảng xấu ác.

2- Khi đã quyết chí công phu tu học Phật pháp, càng lúc càng lớn mạnh rồi, thì luôn tinh tấn thức dậy, không còn trễ nải giờ giấc nữa, hết uể oải, hôn trầm, siêng năng hành trì Phật pháp.

3- Khi tâm luôn sống trong tỉnh thức, trạng thái có chánh niệm đã trở nên lớn mạnh, là lúc tâm thức không còn vọng niệm những điều bất thiện nữa.

4- Khi tâm thức được tập trung vào tĩnh lặng càng lúc càng lớn mạnh, thì tâm thức được an trú vào định lực không còn bị vọng động tán loạn nữa.

5- Khi tâm thức đã thấy rõ chân lý là thực tướng của vạn pháp đều là vô ngã không tự thể, do duyên sinh, do duyên diệt. Cho nên mọi ưu phiền, kiến chấp, nhân ngã vô minh, triền phược đều bị bứng hết ra khỏi tâm thức.

 

Qua bài học Phật pháp “Ngũ căn ngũ lực”, cho ta thấy rõ căn nào là tướng đó. Cho nên với người Phật tử có thiện căn đích thực, thì tướng thiện được hiện rõ ra lời nói và hành động đối đãi với mọi người luôn luôn có chứa đựng pháp âm và trạng thái Phật đạo. Dù họ là giai cấp nào, bình dân, nghèo khổ, kẻ sĩ, vua quan, triệu phú… vẫn không mất tướng trạng Phật đạo, gọi là tâm bình thị đạo. Ngược lại, do ác căn chỉ đạo, cho nên tướng ác hiện ra ở thân, miệng trong đối đãi. Những người có tướng ác như vậy, đa số không phải là Phật tử. Nếu là Phật tử mà có tướng ác như vậy là do không có tu tập Phật pháp.

- với người có tu tu tập, không thể không hiện tướng trạng thiện do thiện căn hoạt động

- với người không tu tập, không thể không hiện tướng trạng ác do ác căn hoạt động.

 

 

 

TẠI SAO NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA

PHẢI GIỮ GIỚI?

 

Bởi vì mục đích chính yếu của người Phật tử tại gia cư sĩ là cần thiết giải thoát sinh tử luân hồi sau khi xả bỏ báo thân ngũ uẩn.

Năng lực được vượt thoát sinh tử, đó là tâm giác ngộ. Tâm giác ngộ là tiêu chuẩn tối thượng ắt phải có đối với những ai mong muốn được giải thoát. Không còn tâm nào khác hơn. Tâm giác ngộ, phải là tâm có trí tuệ. Bởi vì giác ngộ là thấy lại thực tướng của các pháp, trong đó có ta là không, vô ngã. Được như vậy là do tâm có trí tuệ sáng suốt. Tâm có trí tuệ là do tâm có định. Tâm định còn gọi là tâm bất loạn, không còn vọng động, rỗng lặng, thanh tịnh, tịch tịnh, Niết Bàn… là do giới luật mà có, đúng như lời kinh Pháp Cú “Nhân giới sinh định, nhân định phát ra trí tuệ”. Cho nên tâm có trí tuệ là nền tảng cơ bản để thấy đạo (liễu ngộ) mà hành đạo. Có hành đạo mới đạt đạo, đúng như lời người xưa nói “Tri đạo tức học đạo, kiến đạo, tu đạo và chứng đạo”.

Hành đạo (tu tập) không những chỉ học và tu tập Phật pháp không, mà còn phải hành trì giới luật nữa. Bởi vì vai trò của Phật pháp và giới luật đều cùng hộ giúp cho hành giả được đạt đạo giác ngộ, dù sớm hay muộn. Vai trò của Phật pháp là chặt đứt các cây vô minh, phiền não, ác trược… Được ví dụ như lưỡi gươm, lưỡi dao bén. Nhưng lưỡi gươm, lưỡi dao là phải có cán. Gươm, dao không có cán, không thể cầm gươm, dao mà chặt được thứ gì! Hễ là gươm, dao là phải có cán, thì tay con người mới có thể cầm nó để chặt đứt mọi vật.

Cũng như vậy, tu tập Phật pháp là phải có tu giới luật, cho nên giới luật được ví như cán của lưỡi gươm, lưỡi dao. Do vậy mà Tam Quy là phải có Ngũ Giới đi cùng với nhau, như đôi chân vững chắc bước lên nấc thang giải thoát. Nếu chỉ có tu tập Phật pháp không, không hành trì giới luật, thì chỉ bước lên nấc thang đầu tiên, rồi tự dừng lại ở đó, đúng như Luật Anh Lạc nói “Hành giả ở thuở mới bắt đầu quay về Tam bảo thì lấy tín làm gốc, khi được sống trong toà nhà Như Lai, thì lấy giới làm gốc”.

Quay về Tam bảo lấy tín làm gốc là nương vào Tam bảo mà học và tu tập Phật pháp. Đây chính là thời điểm sống trong nhà Như Lai. Bên cạnh học và tu tập Phật pháp hành giả phải được học thêm giới luật để mà gìn giữ những thiện nghiệp đang có trong tạng thức do tu tập, đừng để chúng bị mất. Cũng như ngăn chặn ý (tâm) đừng khởi lên ý nghiệp bất thiện.

 

 

 

CHẾT LÀ GÌ?

 

Chết được cắt nghĩa là bảy quan năng có cảm và xúc của bản thân cũ máu thịt bị chìm xuống ngưng hoạt động, rồi bảy quan năng mới có cảm mà không xúc của thân trung ấm vô hình trổi dậy và hoạt động theo định hướng hoài cổ về cảnh cũ, người xưa một cách sâu thẳm tích cực hay hời hợt tiêu cực. Do vậy thân trung ấm được gọi là thân ước vọng.

Thân trung ấm và bảy quan năng cảm nhận của nó, chính là thức A Lại Da. Bởi vì bản chất A Lại Da là hằng chuyển, hoạt động và chuyển biến không ngừng, dù còn ở hay ra khỏi thân xác cũ (chết) cái dòng hằng chuyển liên tục của nó không mất. Năng lượng làm cho thức A Lại Da vừa hằng chuyển vừa thay đổi, biến chuyển là do tổng thể các chủng tử, tức là quả báo nghiệp thiện, ác của nó, cho nên A Lại Da cũng chính là tổng thể các chủng tử. Vì vậy mà một bản thân con người bị chết đi, các chủng tử thiện, ác trong thân trung ấm vẫn tiếp tục hoạt động do thức A Lại Da ra đi mang theo, để rồi một lúc nào đó, các chủng tử nghiệp nhân trong thân trung ấm, chúng hiện hành thác sinh một sinh mệnh mới (chánh báo) vào môi trường mới (y báo), có thể trước 49 ngày hay qua 49 ngày.

Sinh mệnh mới và môi trường mới được lên cao có hạnh phúc hay bị xuống thấp nhận lấy khổ đau là do quả báo nghiệp thiện, ác.

Tóm lại, chết chỉ là sự thay đổi xác thân, như thể từ bỏ căn nhà cũ mục nát, vào ở căn nhà khác. Hay là như cởi bỏ bộ quần áo cũ, mặc bộ quần áo mới.

 

 

 

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA

TỤNG KINH VÀ ĐỌC KINH

 

Tụng kinh và đọc kinh, cả hai đều phải sử dụng tâm ý và con mắt nhìn vào cuốn kinh ở hai trường hợp: cầu nguyện cúng dường và nghiên cứu học hỏi lý nghĩa để biết cách tu tập. Do vậy ở lãnh vực cầu nguyện cúng dường gọi là tụng. Kinh được tụng trong việc cầu nguyện là những thứ kinh bộ, như Địa Tạng, Pháp Hoa, Di Đà, v.v… và những kinh chú Đà La Ni, các bài Sám nguyện… Nếu thuộc lòng, không nhìn vào cuốn kinh, ngược lại phải nhìn vào kinh.

Ở lãnh vực nghiên cứu học hỏi gọi là đọc, cho nên trạng thái đọc được thong thả thoải mái, không gò bó, còn trạng thái tụng là phải trang nghiêm, thân và tâm đồng nhất an trú trong chánh niệm thanh tịnh là năng lực có giao cảm lên chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền… Vì vậy mà thái độ tụng là thái độ tâm ý thiết tha mong cầu chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền cứu bạt chư vong linh được ra khỏi các chốn u minh tăm tối, gia trì cho bản thân mình hay quyến thuộc, tha nhân được an bình, thoát khỏi tai ách, khổ nạn, v.v… Còn thái độ đọc kinh sách Phật pháp là thái độ học hỏi có mong muốn sao cho được liễu ngộ lý nghĩa Phật pháp. Sự liễu ngộ Phật pháp gọi là tri đạo, tức là được thấy đạo để tu hành, mà tu hành đúng đạo ắt sẽ đạt đạo.

Năng lực làm cho tâm người Phật tử thấy được đạo để hành một cách chánh đạo ở mọi phương diện, trong đó Phật sự, phụng sự đạo pháp đúng đạo, là do tâm có trí tuệ. Được có trí tuệ là do tâm có định gọi là Định Tuệ, hai thứ này ắt phải được có nơi người Phật tử. Tâm có định là do tụng kinh và giữ giới luật, gọi là kinh luật song hành, vì vậy tụng kinh là một trong các cách đưa tâm vào định. Cho nên trong ba Tạng Kinh, Luật và Luận, Kinh Luật được biểu thị cho Thiền định, còn Luận (luận giảng Phật pháp) được biểu thị cho Trí tuệ. Từ đây cho ta thấy rằng đọc hay học các thứ sách giảng luận Phật pháp là điều ắt phải có đối với hàng Phật tử.

Kết luận: Đọc những thứ kinh, sách báo giảng luận Phật học, là nhằm vào mục đích nghiên cứu, học hỏi khế lý trong đó để biết cách tu tập mà chứng đắc quả vị Duyên giác.

Tụng những thứ kinh, kệ, thần chú Đà La Ni, Sám văn, là nhắm vào các mục tiêu cầu nguyện về bình an, siêu thoát, sám hối, cúng thí, do vậy tụng bằng tâm hơn là thân miệng.

Để tỏ ngộ thêm ý nghĩa tụng kinh, tụng kệ, bái sám qua lời kinh văn nhận định sau đây:

“Kinh nói: cái thể của giáo pháp chân thật ở phương này, nó thanh tịnh ở tại tiếng nghe. Cho nên, nếu mượn cảnh để nhiếp tâm, thì dùng âm thanh là tốt nhất. Hoặc tụng kinh, trì chú, bái sám, hay xướng tán, tụng kệ, đều là dùng âm thanh mà làm Phật sự (cầu an, cầu siêu… ) Văn tự tuy được tuyên thuyết từ miệng mà công hiệu chính thật đạt được nơi tâm, cho nên tiếng khánh, tiếng mõ đều chứa đựng ý nghĩa sâu xa; mong rằng chớ nên nhìn một cách cạn cợt”. (Giáo khoa Phật học – Cư sĩ Hạnh Cơ – trang 103)

 

Chú giải:

Chữ Tụng, tiếng phạn “già đà” dịch là tụng hoặc “kệ”. Kệ thường được gọi là câu kệ. Nhiều câu góp lại thành bài kệ. Câu kệ có khi 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ hoặc 7 chữ, do người phóng tác lại yếu nghĩa của bài kinh, đoạn kinh trong phẩm kinh, luận giảng có tính cách tán thán, tôn kính lên chư Phật, Bồ Tát, chư vị tổ sư và để cho dễ nhớ yếu nghĩa. Cho nên bài kệ không hạn định 4 câu, có thể hai ba chục câu. Điển hình rõ nét trong Kinh Pháp Hoa, ở mỗi phẩm như vậy đều có bài kệ dài hoặc ngắn do các Bồ Tát Xá Lợi Phất, Di Lặc, Văn Thù, A Nhã Kiều Trần Như v.v… và kể cả Đức Thế Tôn tóm gọn yếu nghĩa bài pháp thoại Phật vừa nói xong. Chẳng hạn các câu: “khi ấy ngài Xá Lợi Phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng. Lúc bấy giờ Ma Ha Ca Diếp muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng, v.v…

Vì thế cho nên nói đến kệ là nói đến tụng, nói đến tụng là nói đến kệ. Chữ kệ thường đi với chữ kinh, gọi là kinh kệ, vì đó là lời toát yếu của các bài kinh, lời tán thán lên chư Phật, Bồ Tát. Từ đây cho ta thấy rằng: riêng bộ kinh Pháp Hoa, có cả đọc và tụng. Đọc là đọc thầm hay đọc ra tiếng, không chuông mõ hay có chuông mõ. Đọc ra tiếng hơn là đọc thầm, vì đọc thầm dễ bị hôn trầm (buồn ngủ). Khi đến những bài kệ, thì tụng ra tiếng được đi cùng với tiếng mõ, tiếng chuông. Đến những đoạn pháp thoại, thì lại đọc. Việc đọc và tụng kinh Pháp Hoa như vậy, được chư tôn đức Việt Nam áp dụng trong mấy thập niên trước đây, vì thường thường quý ngài tụng, đọc một mình. Ngày nay, kinh Pháp Hoa được nhiều người tụng chung, do vậy tất cả bài pháp thoại, bài kệ được mọi người tụng luôn một thể từ đầu phẩm đến cuối phẩm.

 

 

 

 

 

 

NHỮNG ĐIỀU KIỆN ẮT PHẢI CÓ

ĐỐI VỚI NGƯỜI PHẬT TỬ LÀ GÌ?

 

Trước hết, tất cả nam nữ Phật tử tại gia là hai chúng Ưu bà tắt, Ưu bà di trong bảy chúng đệ tử Phật.

Đã là đệ tử Phật, nói riêng hai chúng Ưu bà tắc (nam) Ưu bà di (nữ), trong đó dĩ nhiên, mỗi cá nhân đều có quy y Tam bảo, lãnh thọ năm giới cấm và có công phu tu tập Phật pháp. Cho nên hàng Phật tử tại gia được Phật chấp nhận vào nội điện trong tòa nhà Như Lai, là thành viên tăng thân trong tăng đoàn của Phật đúng nghĩa, tăng gồm có giới xuất gia và tại gia cư sĩ.

Vì thế cho nên, với danh xưng Phật tử tại gia đều phải có quy y và lãnh thọ năm giới do lòng phát nguyện qua nhận thức; thấy được giá trị sự quay về nương tựa (quy y) và ba ngôi báu Phật – Pháp – Tăng để được thắp sáng tâm linh làm hành trang giải thoát và sống cuộc đời tỉnh thức, chứ không phải thấy người khác quy y mà bắt chước làm theo.

Vì vậy trong giờ phút quy y là một dấu ấn in đậm vào tâm thức ngàn đời không quên. Không quên, nghĩa là nhớ rằng: mục tiêu chính yếu của mình là tìm cầu con đường giải thoát bằng trí tuệ giác ngộ nơi Tam bảo qua học Phật và giữ giới. Với mục tiêu đó, không chỉ là lý tưởng của một cá nhân, mà là con đường phụng sự đạo pháp, trong đó có bảo vệ tăng đoàn và ngôi nhà Như Lai luôn được an bình. Bởi vì ý nghĩa quy y và thọ giới là có tuyên thệ gia nhập cộng đồng Phật giáo để phục vụ lý tưởng chung trên vận hành cùng nhau thực hành Tứ Nhiếp Pháp, mà hai yếu điểm Lợi Hành và Đồng Sự là kim chỉ nam tiến đến mục tiêu tối hậu là trí tuệ giác ngộ là hành trang qua bờ giải thoát, chứ không phải chỉ riêng vấn đề giữ giới và học Phật là đủ! Vì Phật pháp là tương dung theo quy luật Hoa Nghiêm “Một pháp có mặt trong tất cả pháp, tất cả pháp có mặt trong một pháp”.

 

 

 

TIẾN TRÌNH CHUYỂN PHÁP LUÂN CỦA

ĐỨC THẾ TÔN QUA HAI BÀI PHÁP TỨ ĐẾ VÀ

VÔ NGÃ TƯỞNG

 

Vì lẽ thật vô ngã là con đường giải thoát sinh tử cho chúng sinh, mà Đức Phật từ bỏ tư tưởng nhập diệt sau khi thành đạo, ngài quyết định trụ thế để chỉ cho chúng sanh phương tiện giải thoát bằng giáo pháp vô ngã, giáo pháp Đức Phật đã thực chứng.

Sau tư tưởng cần phải ở lại thế gian để hóa độ chúng sanh, Đức Phật liền rời khỏi cội đại thọ Bồ Đề đi về hướng Vườn Nai gần thành Ba La Nại và nói hai bài pháp quan trọng, đó là Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng cho năm anh em Kiều Trần Như.

Đức Phật nói bài pháp Tứ Đế trước. Nhờ đó mà năm anh em ông Kiều Trần Như liền thấy được nguyên nhân của sinh tử luân hồi khổ đau bất tận của chúng sinh, trong đó có mình đã từng bị ra, vô, lên, xuống trong 6 cõi (lục đạo) chúng sinh, là do vô minh, trần cấu, lậu hoặc cấu kết bám chặt trụ địa (tập) trong tâm thức mà thường khởi lên vô số ý niệm về ngã… để rồi có ra lời nói và hành động về ái, thủ, hữu là năng lực có sinh, già, bịnh và chết là 4 cái khổ hiện thực của bản thân. Sau đó năm anh em Kiều Trần Như đảnh lễ và xin Đức Thế Tôn cho xuất gia để tiếp tục tu học. Đức Thế Tôn hoan hỷ chấp nhận.

Sở dĩ Đức Phật chấp nhận cho năm anh em Kiều Trần Như được xuất gia làm Tỳ Kheo, là vì Phật đã nhìn thấy rõ tâm thức của 5 vị ấy thật sự đã thấy được dấu đạo về khổ, tập của pháp Tứ Đế, do vậy mà tâm của 5 vị ấy khởi lên ý niệm xả ly trần cấu, nên nhìn lục trần bằng đôi mắt tịnh sau khi nghe Phật nói Tứ Đế.

Vì thế nên Đức Thế Tôn nói bài pháp thứ hai cho 5 vị Tỳ Kheo, đó là bài “pháp vô ngã tưởng” để cho 5 vị ấy tiếp tục thực tập pháp vô ngã mà đoạn trừ các lậu hoặc, tận diệt 3 nghiệp tham, sân, si, tiêu trừ các phiền não, xả bỏ tâm chấp ngã, chấp pháp… thì mới có thể đạt được 3 quả vị kế tiếp, đó là Tư Đà Hoàn, A Na Hàm và A La Hán, quả vị cuối cùng dứt bặt sinh tử. Bởi vì cái tâm và đôi mắt thấy được dấu đạo khổ tập của thuở ban đầu nghe pháp Tứ Đế chưa phải là chứng đạo, chỉ mới kiến đạo, được gọi là sơ quả Tu Đà Hoàn. Kiến đạo khác với chứng đạo. Kiến đạo chỉ mới có thấy được đạo ở trước mặt giống như mới thấy dấu chân trâu, chứ chưa bắt gặp trâu thật. Còn chứng đạo là đã đạt đạo giống như người đi tìm trâu đã bắt gặp được trâu thật ngay thực tại.

Qua 2 bài pháp Tứ ĐếVô Ngã Tưởng mà Đức Thế Tôn đã thuyết giảng cho 5 vị Tỳ Kheo, cho ta thấy đó là một tiến trình tu tập Phật pháp có kỹ thuật, bởi vì phải trải qua 3 giai đoạn. Thời gian của 3 giai đoạn không ấn định khi nào được kiến đạo, chấm dứt thực tập, lúc nào đạt đạo. Tức là không thiếu, không dư, đủ để thấy, để tu, để chứng do căn cơ, trình độ nhận thức của hành giả mà có.

Giai đoạn đầu là kiến đạo tích, đó là sơ quả do nhận thức chân lý của Tứ Đế về Khổ Tập thuộc nhân quả thế gian. Giai đoạn giữa là giai đoạn của DiệtĐạo, thuộc nhân quả xuất thế gian, tức là thời gian tu tập đạo lý vô ngã của bài pháp vô ngã tưởng để tận diêt vô minh lậu hoặc trên vận hành đang tiến đến giai đoạn ba, là giai đoạn tuần tự chứng đắc nhị quả, tam quả và tứ quả, là quả vị A La Hán vô sinh.

Sau khi độ cho 5 anh em ông Kiều Trần Như được xuất gia thành Tỳ Kheo, Đức Thế Tôn và 5 vị Tỳ Kheo đi về xứ Ma Kiệt Đà. Tại đây Đức Thế Tôn gặp cha con ông Da Xá và 50 môn đồ của Da Xá. Ba anh em ông Ca Diếp (Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Gia Đà Ca Diếp) và 1000 môn đồ của họ. Hai vị Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất và 200 môn đồ của họ và vua Tần Bà Sa La. Tất cả đều được Đức Thế Tôn thuyết cho nghe 2 bài pháp Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng. Thuyết xong, Phật hỏi họ sắc thân thường hay vô thường. Tất cả đều trả lời vô thường, sau đó họ xin xuất gia theo Phật. Thế là Tăng Đoàn của Đức Thế Tôn lúc bấy giờ từ 5 vị được lên đến 1255 Tỳ Kheo Tăng.

Đức Thế Tôn tiếp tục cuộc hành trình chuyển pháp luân về tại hoàng cung vua Tịnh Phạn, rồi đến các địa danh Linh Thứu, Trúc Lâm, Kỳ Viên, Xá Vệ, Núi Kỳ Xà Quật, v.v… Tại những nơi ấy, Đức Thế Tôn đổi cách nói pháp, tức là Đức Thế Tôn không nói Tứ Đế, Vô Ngã Tưởng như thuở ban đầu, mà nói ra vô số bài pháp khác nhau, bởi vì do căn cơ, trình độ chúng sinh mà có cách nói pháp xen kẽ như vậy. Nếu không nói là thời điểm giáo pháp và uy danh của Đức Thế Tôn bắt đầu lan rộng ra khắp dân gian tại Ấn Độ, làm cho các học thuyết của nhiều bạo lực ngoại đạo xa gần nghe đến, sanh lòng ganh ghét, đố kỵ với Phật, do vậy Phật mới thuyết ra nhiều giáo pháp khác nhau để hoá độ cho vô số hạng người trong nhiều giai cấp đang ồ ạt đến Phật, trong đó có ngoại đạo đến chất vấn Phật. Nhờ đó, vào cuối thời Phương Đẳng, đầu thời Bát Nhã là thời điểm KHÔNG LUẬN của Đại Thừa, Phật đang đưa ra, làm cho vô số chóp bu ngoại đạo và môn đồ của họ, từ chỗ sử dụng đa ngôn trong việc lý luận để bào chữa cái tà thuyết hữu ngã, năm thứ ác kiến, cho đến ngõ cụt ngôn ngữ, lý luận bị im bặt và cuối cùng quy y theo Phật. Trong đó có số người xin xuất gia làm Tỳ Kheo, có số người làm cư sĩ với vai trò hộ trì Tam Bảo.

Cho nên qua năm thời kỳ Phật nói kinh suốt 45 năm, dù là Hoa Nghiêm, A Hàm (5 bộ tạng kinh Nikaya), Lăng Nghiêm, Lăng Già, Bảo Tích, Bát Nhã, Pháp Hoa, Niết Bàn, v.v… tư tưởng của Tứ ĐếVô Ngã Tưởng vẫn bàng bạc hiện hữu trong đó. Mặc dù 2 cụm từ Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng ít khi thấy Phật đề cập đến trong các kinh, mà chỉ thấy Đức Phật sử dụng ngôn ngữ tục đế để lý luận, giảng nói về sinh, già, bệnh, chết, luân hồi khổ đau do vô minh, chấp ngã mà có. Để được vô ngã là con đường giải thoát sinh tử là do tu tập các pháp để tận diệt vô minh, ngã chấp. Từ đây cho ta thấy rằng nền đạo lý giải thoát của Phật chỉ ở nơi hai bài kinh Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng đó thôi. Cho nên Tam Tạng Kinh, Luật, Luận của Phật, có đến hàng trăm, hàng ngàn quyển, có tên gọi khác nhau, có ngôn ngữ luận giảng khác nhau; nhưng chung quy không ngoài ý tưởng của hai bài pháp Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng luôn ẩn tàng trong đó.

Ngay cả sau Phật nhập diệt hằng trăm năm, có nhiều Bồ Tát luận sư như Thế Thân, Vô Trước, Mã Minh, Long Thọ… viết ra nhiều bộ luận rất siêu tuyệt và nhiều vị tổ sư trong 10 Tông phái viết ra nhiều sách giảng luận Phật pháp như bộ Thái Hư Đại Sư hay các chư tôn giáo phẩm tại các quốc gia có Phật giáo nói chung, Việt Nam nói riêng trong các thế kỷ qua và hôm nay trong nước và hải ngoại đã và đang viết ra nhiều sách Phật pháp, nhiều tập san Phật giáo. Tất cả đều chuyên chở tư tưởng của ba bài pháp Tứ Đế, Vô Ngã Tưởng và Mười Hai Nhân Duyên. Tuy ba mà là một, đó là pháp Mười Hai Nhân Duyên duy nhất, đạo lý thực chứng của Đức Phật.

 

 

 

PHƯƠNG TIỆN TRONG ĐẠO PHẬT

 

Trước khi nói đến phương tiện trong Đạo Phật, ta phải nói đến phương tiện thế gian.

Phương, nghĩa là vật thể có hình tướng hữu dụng, hữu ích được con người sử dụng đến đúng phép tắc, cách thức của nó trong sinh hoạt hằng ngày được lợi ích cho đời sống, gọi là phương.

Tiện, nghĩa là vật thể được sử dụng đúng lúc, đúng thời, thích ứng với ý mong muốn con người, gọi là tiện.

Tóm lại, phương là phương pháp, tiện là tiện dụng. Nói khác hơn, phương tiện là phương pháp tiện dụng thích hợp với từng trình độ, hoàn cảnh thực tại con người.

Đời sống con người được thăng tiến lên ngôi vị giàu sang, hạnh phúc, ấm no… đều nhờ vô số phương tiện.

Phương tiện ở hai lãnh vực, thiên nhiên và nhân tạo. Phương tiện thiên nhiên vốn sẵn có trong đất, trời như không khí, không gian bầu trời, mặt đất, ánh sáng, gió, mưa, sỏi đá… Phương tiện nhân tạo thì vô số, như xe cộ, tàu bay, tàu thủy, thuyền bè, máy cày, máy kéo, máy dệt, kềm búa, cầu cống và kể cả súc vật như trâu, bò, ngựa, voi… Đó là phương tiện của thế gian. Sau đây là phương tiện trong Đạo Phật.

 

Phương tiện trong Đạo Phật

Phương là đạo lý chân thật đúng đắn. Tiện là lời lẽ thiện xảo khéo léo. Tức là dùng đạo lý chân thật của Phật và ngôn từ khéo léo đối với mọi căn cơ chúng sinh trong việc hóa độ. Phương còn gọi là phương vực, quốc độ của chủng loại chúng sinh. Tiện là tiện pháp giáo hóa. Cho nên Đức Phật thị hiện làm thân thái tử ra nơi đời, xuất gia, chứng thành Phật quả, nói pháp độ sanh suốt 45 năm trong 5 thời gọi là phương tiện hóa thân độ. Rồi nhập Niết Bàn gọi là phương tiện Niết Bàn độ. Tức là Phật chẳng diệt độ, vẫn thường trụ thuyết pháp, gọi là thường trụ bất diệt để cho chúng sinh nương theo Phật pháp đang còn hiện hữu trong ba tạng giáo điển mà tu tập giác ngộ giải thoát.

Đích thực, 8 vạn 4 ngàn pháp môn trong ba tạng Kinh, Luật, Luận khi Phật còn tại thế và hôm nay đang hiện hữu trong vô số ngôi nhà Phật giáo trên thế giới, là những phương tiện đưa chúng sinh đến bờ giác giải thoát sinh tử luân hồi khổ đau, với điều kiện chúng sinh phải tự tu tập những pháp môn thích hợp sau khi tự chọn lựa cho mình qua quá trình nghiên cứu học hỏi cùng với ý chí quyết tâm giải thoát. Cho nên 8 vạn 4 ngàn pháp môn tu của Phật là phương tiện thật mầu nhiệm tuyệt vời!

Được mầu nhiệm tuyệt vời ở chỗ sau khi con người nghiên cứu học hỏi thấy được chân lý thực tiễn và thực tập có chứng nghiệm, cho nên tâm tư con người bị ưu phiền, lo lắng, dày vò, khổ tâm, lại được chuyển hóa thành an lạc, hạnh phúc, thảnh thơi. Bị si mê, ngu muội, điên đảo vọng động, lại được sáng suốt, tỉnh thức, hiểu biết cao rộng. Bị luân hồi sinh tử, lại được giải thoát sinh tử. Tuyệt vời hơn nữa, con người đã thấy được lời Phật nói trong kinh điển là chân lý hiện thực do tu chứng, trong đó con người đã thấy được vô số thế giới trùng trùng hiện hữu trong không gian vô tận đều do duyên sinh chứ không do một thượng đế nào sáng tạo ra cả! Điều đó được một số nhà khoa học không gian đã thấy được qua chương trình nghiên cứu không gian. Vì thế nhân loại trên thế giới đã và đang quay về Đạo Phật càng lúc càng đông, nhất là các dân tộc Âu Châu, Mỹ Châu, v.v… hơn 50% đang tu hai pháp môn thiền định và mật tông.

Tuy nhiên, mặc dù pháp môn tu của Phật mầu nhiệm tuyệt vời như vậy, nhưng trên hành trình thực tập Phật pháp để được có hiệu quả an lạc, hạnh phúc, sáng suốt, thanh tịnh, qua bờ giải thoát… một cách hiện thực, không phải một mình pháp môn đơn phương  mà thành đạt kết quả được! Mà phải được nối kết tương duyên với nhiều phương tiện thế gian khác nhau nữa, đúng như lời Lục Tổ nói “Thế gian pháp tức Phật pháp” và đúng theo định lý Duyên Khởi một khi con người sử dụng thế gian pháp trong việc thực tập Phật pháp. Qua đó cho ta thấy con người, thế gian pháp và Phật pháp hợp chung lại như cái vại 3 chân thật vững chắc trên tiến trình tu tập. Do đó, nếu chỉ có con người và Phật pháp không thôi, thì nhất định không thành gì hết! Phải có nhiều phương tiện vật chất thế gian giúp vào mới thành. Chẳng hạn tại đạo tràng Phật Thất Niệm Phật hay tại tư gia niệm Phật được nhiều phương tiện giúp vào, như đèn sáng, máy hít khi trời lạnh, máy lạnh trong mùa hè nóng nực, rau đậu, cơm tương, nước uống, bếp nấu, bàn ghế, thau chậu, tịnh tài, xe cộ, v.v… giúp cho những tăng thân nam nữ Phật tử tu Phật thất được no đầy, ấm cúng, mát mẻ, thoải mái bản thân, hanh thông tư tưởng, an lạc tâm hồn trong thời gian đi kinh hành niệm Phật.

Hai phương tiện thế gian và Phật pháp, thứ nào cũng có vô số lượng, nhưng phương tiện thế gian thì có hình tướng, nên chi muôn đời chỉ hình tướng đó. Có thay đổi, cũng chỉ là ở cái vỏ bên ngoài. Còn phương tiện Phật pháp có cả hữu vi (hình tướng) và vô vi (không hình tướng), do vậy luôn được sinh động, linh hoạt theo căn tính, trình độ, hoàn cảnh con người mà có ra lời pháp, cách thức hướng dẫn, gọi là phương tiện tùy duyên, nhưng cốt lõi chân lý không thay đổi.

Phương tiện Phật pháp đối với những ai quay về Đạo Phật thật sự tìm cầu con đường giải thoát sinh tử cho mình, đều phải có một số căn bản nằm lòng hay nhiều hơn càng tốt.

 

Phương tiện Phật pháp căn bản, đó là quyết tâm tu tập cho bằng được pháp môn được chọn thích hợp căn cơ, trình độ, hoàn cảnh của mình với tinh thần nhẫn nhục, tinh tấn để được có kết quả giải thoát qua nhận thức còn sinh tử là còn khổ đau. Thứ đến tâm vô ngã là điều ắt phải có vì nó là mẹ đẻ ra các tâm trống rỗng, bất loạn, thanh tịnh, từ bi, trí tuệ, bốn tấm lòng cao thượng để trở thành bậc chân nhân có Bồ Đề tâm luôn khởi dậy lời nói và hành động độ tha cho chúng sinh nhiều cách, trong đó tự thân cộng tác với các thiện hữu tri thức trong công trình dịch thuật ba tạng kinh điển ra ngôn ngữ nước mình để lưu truyền cho hậu thế do thấy được vai trò của người con Phật (Phật tử) là phải truyền thừa tư tưởng của chư Phật, Bồ Tát và chư Tổ là duy trì và phát triển chánh pháp luôn cửu trụ thế gian.

 

Và, một số phương tiện Phật pháp phổ thông khác, đó là thuộc lòng một số kinh chú thông dụng, hiểu thấu lý nghĩa ba ngôi báu, tức là phải hiểu nghĩa chữ Phật, Pháp, Tăng, những đạo lý vô ngã, vô thường, nhân quả, duyên sinh, phụng sự Đạo pháp, Phật sự là gì, thế nào là Phật tử, vai trò người Phật tử phải làm gì trong Đạo Phật, vân vân và vân vân… Phương tiện Phật pháp là như thế đó. Là Phật tử, hay nói rõ hơn, hành giả đi tìm con đường giải thoát trong Đạo Phật không thể không có một số phương tiện cơ bản như đã nói trên. Được có là do nghiên cứu học hỏi nơi kinh điển, lời giảng của chư Tăng, Ni. Sau đó đem hết những phương tiện hiểu biết (phương tiện tâm) ấy ra thực tập hành hoạt qua phương tiện Phật pháp hữu tướng bên cạnh những phương tiện thế gian trong việc tự độ, độ tha, tự giác, giác tha cho chúng sinh được giác ngộ chân lý giải thoát.

 

Phương tiện của thế gian. Trước hết là bản thân ngũ uẩn của người Phật tử (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), là phương tiện chính, cội gốc sanh ra hai thứ phương tiện Phật pháp và thế gian là do từ bản thân con người, nói như lời kinh “Thân người là xác chết đang trôi nổi trên biển mê cõi trần. Vậy con người hãy bám vào xác chết, nương vào nó cho hành trình tu tập, đừng hủy hoại, nên duy trì đừng làm cho nó tan rã mau mà mất gốc nương tựa trong khi chưa đạt được đạo giác ngộ, giải thoát”. Thứ đến là tiền tài, sự nghiệp bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, kỷ sư, thương gia, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, công nhân, thợ thuyền, chức tước, chức quyền, nhà cửa, xe cộ, vân vân…

Những phương tiện thế gian nói trên đối với người không tu theo đạo pháp giải thoát của Phật giáo được có càng nhiều càng hạnh phúc, đời sống đầy vật chất sung mãn.

Còn đối với những hạng người quyết tâm tu tập theo phương tiện Phật pháp để mong đạt được trí tuệ giác ngộ làm hành trang giải thoát, dù cho được có nhiều hay ít phương tiện thế gian không thành vấn đề, nhưng phải có, cần có đủ để hỗ trợ cho vận hành tu tập được thoải mái, hanh thông mau kiến đạo để hành, để đạt đạo giác ngộ. Chứ không nên chuyên tâm mong cầu phải triệu phú, bác sĩ, nha sĩ, nhà cao cửa rộng, xe cộ đắt tiền, v.v… mới là đạt đạo giác ngộ!

Là hành giả quyết tâm tu tập Phật pháp, ta nên nhận thức rằng, giàu phương tiện thế gian và giàu phương tiện Phật pháp là điều quá ư tốt, vì mau giác ngộ.

Giàu phương tiện thế gian lại nghèo phương tiện Phật pháp, đều đó không có gì phải lo, vì đã vốn có tâm cầu giải thoát đang trên bước đường tu tập, thì sẽ dần dần được giàu phương tiện Phật pháp, cứu cánh giác ngộ sẽ đạt được ở tương lai xa, gần.

Nghèo phương tiện thế gian, lại cũng nghèo phương tiện Phật pháp, điều đó cũng không có gì phải lo, vì đang có quyết tâm học và tu tập Phật pháp, sẽ tuần tự bước lên những nấc thang giàu có Phật pháp, là điều tiên quyết của sự giác ngộ giải thoát. Cho nên nghèo không đáng sợ, vì nghèo được cắt nghĩa là có ít, chứ không phải không có. Nếu bị có ít phương tiện thế gian, thì ta ăn cơm hẩm, muối rau, uống nước lã, mặc áo thô, đi guốc mộc, cỡi xe đạp đến đạo tràng Phật thất hay tư gia của bạn đạo mà niệm Phật hay niệm Phật tại nhà thôi do vì nghèo phương tiện Phật pháp nên chỉ có niệm Phật.

Đã được sanh ra làm người, ai cũng phải có phương tiện thế gian ít hay nhiều, do quả báo kiếp trước, chứ không thể không có. Cái “không có” mà hai hạng người nghèo, giàu phương tiện thế gian có thể không được có, đó là phương tiện Phật pháp, là điều đáng nói, đáng thương! Vấn đề hai hạng người nghèo, giàu phương tiện thế gian lại không có chút phương tiện Phật pháp nào trong lòng rất là phổ biến không phải là ít, nếu không nói là “ác căn bởi tại lòng người”. Cho nên họ chỉ có khả năng làm những việc thế gian, dù là từ thiện xã hội, cũng chỉ là mang màu sắc thế gian như các hội tương tế, bài lao, mồ côi, v.v… Chứ không thể làm những chức vụ điều hành giáo vụ, Phật sự, phụng sự Đạo Pháp, từ thiện Phật giáo… trong các hội Phật tử tại gia. Bởi vì những việc làm, chức vụ trong các hội Phật tử tại gia là một bộ phận trong bản thân Phật giáo Việt Nam và cả quốc tế, đều là những pháp môn tu các hạnh lục hòa, bốn cách thu phục, bố thí, trì giới, từ bi, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ… là gốc rễ để duy trì và phát triển tâm vô ngã, là hành trang giải thoát. Do đó, các hội Phật giáo Phật tử tại gia là hội tu, không phải hội thế gian, cho nên đòi hỏi tất cả mọi người trong đó phải là Phật tử thật sự có phương tiện Phật pháp là gốc rễ (căn bản) tối thượng, tối đại, còn nghèo giàu vật chất phương tiện thế gian chỉ là phụ. Phương tiện Phật pháp mới là chính để đem đến cho mọi người được đoàn kết, thương yêu nhau, sống lục hòa, có an bình, thanh tịnh tâm hồn trên bước đường tu tập do dắt dẫn nhau phương tiện Phật pháp để đạt cứu cánh giải thoát đúng như ngạn ngữ có câu “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”.

 

Kết luận

Phương tiện thế gian hay Phật pháp, phương tiện nào cũng thế, không là cứu cánh, mà chỉ là những cách, cách thức thiện xảo, kỹ thuật, điều kiện giúp cho con người đạt được cứu cánh.

Phương tiện thế gian thì sinh sản ra vật chất thế gian rất là đa dạng, nhiều thứ, nhiều loại. Đa số do con người sáng tạo, sản xuất để phục vụ cho con người được nhiều hạnh phúc sung mãn. Vì thế bản chất phương tiện thế gian là hữu ngã, vô minh, ác trược, sinh tử khổ đau nhiều hơn là hạnh phúc.

Phương tiện Phật pháp là đạo lý giải thoát sinh tử luân hồi khổ đau do Đức Phật Thich Ca Mâu Ni giác ngộ thấy được rồi chỉ lại cho chúng sinh, chứ không phải do Phật sáng chế ra, mặc dù đạo  lý giải thoát ấy vốn có trong cõi người thế gian. Vì thế bản chất của phương tiện Phật pháp là vô ngã, vô tướng, chân tâm. Cho nên những chức vụ điều hành, Phật sự, tổ chức nghi lễ cúng tế siêu độ, tạo dựng chuông mõ, Phật tượng, kinh tụng, cúng dường Tăng Ni, bảo trợ Tăng Ni sinh, bảo trợ phiên dịch tạng kinh, từ thiện xã hội cho đồng bào bị thiên tai bão lụt, đói khổ, tật nguyền, cho homeless ăn cơm, v.v… mà hàng Phật tử tại gia trong các hội Phật giáo hay đơn phương đã và đang làm tại các chốn thiền môn (chùa, tu viện) và ngoài xã hội. Tất cả các việc làm nói trên đều là phương tiện Phật pháp bởi vì có Phật tâm, Bồ Đề tâm (Bồ Đề tâm, từ bi, trí tuệ) trong đó được phối hợp tương duyên với phương tiện vật chất thế gian làm nên sức mạnh cho tâm thức để phá trừ các tính tham, sân, si, biên kiến, kiến chấp… trở thành vô ngã, chân tâm, thanh tịnh… là cứu cánh của con đường giải thoát sinh tử.

Theo định lý duyên khởi của Hoa Nghiêm và tư tưởng của Lục Tổ Huệ Năng “thế gian pháp tức thị Phật pháp” thì mọi sinh hoạt giáo vụ và tu tập của hàng Phật tử tại gia, không thể không có phương tiện thế gian được tương duyên với phương tiện Phật pháp. Phải có tương duyên mới được thành tựu sự việc có phẩm chất vô ngã, thanh tịnh, Niết Bàn, Cực Lạc trong đó. Nếu hành hoạt đơn phương, chỉ có phương tiện thế gian không thôi, thì sẽ không có tâm Niết Bàn, Cực Lạc, thanh tịnh, vô ngã. Những thành quả Phật sự hữu vi ấy được xem là không có chất thanh tịnh trong đó. Điều này được chứng thực qua những hiện tượng không lục hòa, phân chia phe nhóm, tranh cãi ồn ào, vỗ tay trấn áp, thái độ nghẹn ngào không nói nên lời, oán hờn vĩnh cửu, kẻ ở ghét người đi, người đi ghét kẻ ở… tại một số hội Phật tử tại gia ở một vài nơi trên đất khách rất là phổ biến hiện nay. Tất cả giai do số đông người nghèo, giàu phương tiện thế gian, không có phương tiện Phật pháp trong tâm mà lại chỉ huy, lãnh đạo sinh hoạt Phật sự, Đạo Pháp của một số hội Phật tử tại gia, là hội tu tập để được có tâm vô ngã giải thoát mà không có phương tiện Phật pháp trong tâm, là điều không thể tránh khỏi xảy ra những hiện tượng tranh cãi, bất an, bất ổn, bất hòa, oán hờn với nhau! Đúng là “Căn như thế nào, tướng như thế đó”. Thiện căn bởi tại lòng người. Ác căn bởi tại lòng người. Thiện căn sanh ra thiện đạo. Ác căn sanh ra ác đạo.

 

 

 

ẤN TỐNG KINH SÁCH PHẬT PHÁP CÁCH NÀO

ĐỂ ĐƯỢC PHƯỚC BÁO ĐÍCH THỰC?

 

Ấn tống là tiếng Trung Hoa, có nghĩa là cho, tặng, không bán.

Trong Đạo Phật, danh từ ấn tống thường được dùng để chỉ cho những thứ kinh điển, sách Phật pháp được in ra cho không, không bán.

Người ấn hành kinh, sách Phật giáo là chư Tăng, Ni, Phật tử phát tâm nhằm vào một hay hai, ba trong các mục đích sau đây:

      1. Góp công đức để hương linh quyến thuộc bên cõi chết được mau siêu sanh Phật quốc.

      2. Tạo phước đức cho con cháu.

      3. Cầu an cho thân bằng quyến thuộc được bình an, tiêu trừ tật bệnh.

      4. Cung ứng thêm những thứ kinh thường tụng để cho người tụng được có đủ, đừng bị thiếu trong các khóa lễ.

      5. Để giúp cho những hành giả học Phật được có thêm những tài liệu Phật pháp để nghiên cứu.

      6. Nghĩa vụ và bổn phận phụng trì và phát triển Tam tạng Giáo điển Kinh, Luật, Luận từ ngoại ngữ ra ngôn ngữ quốc gia dân tộc. Do vậy, cúng dường tịnh tài cho chư Tăng, Ni trong Hội Đồng Phiên Dịch Pháp Tạng được đồng nghĩa với ấn tống.

Trên nguyên lý phước báo, phước báo ấn tống kinh điển Phật là cao nhất vì nó thuộc về lãnh vực trí tuệ. Tức là tâm có định, có tuệ là do cuốn kinh qua sự học hỏi lời Phật dạy trong kinh. Nhưng phải ấn tống đúng phép và đúng pháp theo lời Phật dạy thì mới được phước báo dù là phước báo hữu lậu.

 

I. Ấn tống kinh đúng phép tắc

Nói đến ngôi chùa là phải nói đến những nhân sự có trách nhiệm đối với ngôi chùa, đó là vị trú trì (Tăng, Ni) hay hội trưởng, chủ tịch (cư sĩ). Trách nhiệm của họ là trông coi cơ sở, pháp khí, hướng dẫn Phật tử sinh hoạt mọi giáo vụ. Do vậy việc ấn tống kinh điển, nếu Phật tử nào muốn phát tâm đều phải hỏi ý kiến những nhân sự tại chùa mình thường lui tới hay là chư tôn đức của giáo hội tại ngôi chùa ở địa phương, chứ không thể tự ý in ấn ở đâu đó, rồi đem đến các chùa để ấn tống.

Sở dĩ phải hỏi ý kiến đúng phép tắc như vậy là vì kinh điển trong Phật giáo Việt Nam nói riêng đều bằng chữ Tàu. Cho nên đã và đang được phiên âm Việt ngữ, và dịch nghĩa ra Việt ngữ.

Tất cả các bộ kinh lớn được dịch nghĩa bằng văn xuôi. Những quyển kinh nhỏ như Di Đà, Phổ Môn, Vu Lan được dịch ra nghĩa cả hai thứ văn xuôi và văn vần.

Ba quyển kinh trên được nhiều người dịch ra văn vần, văn xuôi. Vì vậy tại các chùa ở hải ngoại hiện nay, chùa nào cũng có ba thứ kinh Di Đà, Phổ Môn, Vu Lan bằng văn xuôi, văn vần khác nhau.

Các chùa được tiếp nhận ba thứ kinh đó có lời văn xuôi, văn vần khác nhau như vậy là do các Phật tử tự in ấn ở đâu đó, rồi đem đến để ấn tống.

Trước sự phát tâm ấn tống các thứ kinh một cách tự do không hỏi ý kiến chư tôn đức của các Phật tử hiện nay, chư tôn đức cũng phải im lặng hằng thuận theo Phật tử, không cách nào hơn, vì đó là tự do tư tưởng của con người.

Không những chỉ riêng ba thứ kinh trên được ấn tống với số lượng được xem là lạm phát, mà còn có cả các nghi thức tụng niệm gọi là kinh Nhựt Tụng cũng đã và đang được ấn tống, nhiều cuốn Nhựt Tụng khác nhau ở nội dung không giống cuốn Nghi Thức Tụng Niệm trước 1975.

Dĩ nhiên giữa nhiều bản dịch ra nghĩa văn xuôi, văn vần của ba thứ kinh Di Đà, Phổ Môn, Vu Lan, bản nào có lời văn không bị trắc cho người tụng, có lời văn hay, sát nghĩa. Và những cuốn Nghi Thức nào có nội dung nghi lễ đầy đủ kinh, chú, sám nguyện, nếu không nói là Nghi Thức xưa, có truyền thống. Tất cả được đa số chư Tăng, Ni tại các chùa chọn để tụng niệm trong hai khóa lễ cầu siêu, cầu an gọi là  hiện hành thông dụng. Còn bản nào có lời văn trắc và không sát nghĩa khế lý, được cất kỹ trong tủ.

Nói chung, cả hai thứ được thông dụng và không được thông dụng đều xuất hiện ấn tống nhiều lần ngang nhau tại các chùa. Do vậy, cả hai đều bị thặng dư đến mức tối đa. Thậm chí tại các phòng mạch bác sĩ, nhà thuốc cũng có những thứ kinh nằm lăn lóc qua nhiều ngày mà chẳng thấy hao, còn nguyên số lượng hằng mươi cuốn.

Bên cạnh những cuốn kinh Di Đà, Phổ Môn, Dược Sư, Vu Lan bằng chữ phiên âm và dịch nghĩa theo văn vần, văn xuôi được dùng và không được dùng đã và đang tràn ngập tại các chùa, còn có những thứ kinh khác nữa bị tràn ngập tại các chùa. Trong đó có cuốn kinh BẠCH Y THẦN CHÚ được xem là quá nhiều hơn tất cả, mà không thấy đem ra thực hành. Do vậy, hàng ngàn cuốn Bạch Y Thần Chú nằm la liệt từng đống trong tủ, trong góc chùa với thời gian trên 5 năm. Lớp cũ được tiếp nối lớp mới đủ màu sắc, đủ cỡ bằng nửa gang tay, mỏng dính, chồng chất lên nhau với lớp bụi trần lâu năm, làm cho những đống kinh Bạch Y Thần Chú bị bạc màu. Vì vậy mà thầy trú trì chùa phải đem hết ra chất thành đống, rồi chắp tay, miệng khấn vái, niệm kinh chú. Sau đó châm lửa vào cho cháy sạch, đem tro bón vào các bụi cây hoa hồng,

Thời gian lâu sau đó, người ấn tống đến chùa không thấy còn kinh Bạch Y Thần Chú, tưởng rằng được Phật tử lấy về nhà để thực hành. Vì thế in thêm nữa, rồi lại đem đến các chùa, rồi lại được thầy trú trì đem đốt. Cứ như thế, việc ấy cứ tiếp tục xảy ra hơn nửa thế kỷ nay rồi, mà người ấn tống kinh Bạch Y Thần Chú không hay biết gì cả!

Thay vì ấn tống Bạch Y Thần Chú và những thứ kinh không được sử dụng và được sử dụng mà bị thặng dư, người có tâm ấn tống nên đăng lời kêu gọi, nhắc nhở mọi người hãy niệm các danh hiệu chư Phật, chư Bồ Tát mỗi ngày 3 lần, mỗi lần niệm 9 tiếng trên các tuần báo ở địa phương, còn có được phước đức hơn là các kinh được in ra ấn tống, mà không được mọi người sử dụng để đọc tụng, hay thực hành!

Tất cả cách ấn tống kinh Phật nói trên không đúng pháp, không đúng phép. Không đúng pháp, không đúng phép sẽ không được phước báo dù là phước báo hữu lậu vẫn không được. Vì không được sử dụng do dư thừa, lời văn dịch không hay, bị trắc, nội dung không theo truyền thống (nghi thức) và làm cho đạo tràng mất thanh tịnh, không trang nghiêm.

Ngược lại, ấn tống đúng pháp, đúng phép, tức là  phải thỉnh ý kiến chư Tăng Ni trú trì hay là chư Tăng có trách vụ văn hóa mà giáo hội đã giao phó đang có mặt tại chùa ở địa phương, để quý ngài xem xét, hướng dẫn, chỉ đạo cho thứ kinh, nghi thức, sách Phật pháp nào đang được sử dụng, đang dư thừa không dùng cho việc tụng niệm hay tu tập, nên ấn tống các thứ kinh sách khác đang cần cho việc tu tập hay là hướng dẫn cho việc góp tịnh tài dù rất ít cho chư Tăng trong HỘI ĐỒNG PHIÊN DỊCH TAM TẠNG KINH ĐIỂN hiện nay, thì sẽ được phước báo ngay hiện tiền cho cá nhân và cho chư hương linh quyến thuộc được siêu thoát.

 

II. Ấn tống kinh theo lời Phật dạy

Trong các kinh Phật, ta thường đọc lời Phật dạy các hàng đệ tử xuất gia, tại gia là phải tự mình sao chép, khuyên bảo người khác sao chép hay cùng người khác sao chép kinh điển từ một câu kệ ngắn, cho đến bài kinh dài, ra thành nhiều bản, rồi phổ biến đến các tha nhân hiện hữu thực tại và hậu lai, để cho họ theo đó mà tu tập xa lìa các phiền não, ác trược mà giải thoát sinh tử.

Ấn tống kinh theo lời Phật dạy nói trên là nhắm vào các bộ kinh lớn, nhỏ được dịch ra nghĩa lý và những sách giảng luận Phật pháp có chứa đựng nguyên lý giải thoát để trợ giúp cho các hành  giả học hỏi, tu tập hơn là để tụng. Cho nên ấn tống theo cách này sẽ được phước báo nhiều hơn, vì đem lại cho các hành giả học Phật được giác ngộ chơn lý, do có trí hiểu biết mà thấy được đạo, hành đạo theo khế lý trong những sách Phật pháp ấn tống. Nếu chưa giác ngộ chơn lý, ít ra sáu căn bản phiền não (tham, sân, si, mạng, nghi và ác kiến) trong tâm hành giả cũng đang tuần tự bị tiêu diệt do Phật tánh đang vươn lên được gọi là kiến đạo, hành đạo. Từ chỗ này cho ta thấy những bộ kinh lớn (đại Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Trường A Hàm,… ), cũng như những loại sách giảng luận Phật pháp từ bản dịch cho đến biên khảo rất có giá trị ở mặt tâm thức thấy đạo, hành đạo và đạt đạo đối với hành giả học Phật. Do đó, giữa những thứ kinh để tụng và những sách giảng luận Phật pháp, thì sách giảng luận Phật pháp được xuất bản và ấn tống nhiều hơn và thường xuyên hơn với số lượng hằng trăm ngàn cuốn tại quốc nội và hải ngoại. Ấy thế vậy mà không thấy dư thừa, vẫn còn thiếu.

Hạng người ấn tống kinh sách, không hạn định ở người có nhiều tiền, ít tiền, mà là hạng người có tâm hiểu biết rộng lớn, nếu không nói là tâm từ bi, trí tuệ đích thực là năng lực khởi lên ý niệm ấn tống đúng theo lời Phật dạy để hướng đến những mục tiêu: hoằng dương chánh pháp vào đời, giác tha cho mọi người, trách nhiệm và bổn phận phụng trì, phát triển kinh tạng giáo điển cho hậu lai. Ấn tống đúng theo lời Phật dạy như vậy thì, người ấn tống nhất định sẽ gặt hái nhiều phước báo lớn riêng cho mình, quyến thuộc mình và cho cả hương linh, giác linh bà con tộc họ của mình bên kia cõi chết mau được ra khỏi cảnh u đồ, siêu sanh tịnh độ. Chẳng hạn trong ngày lễ đại tường của cố Hòa Thượng Thích Đức Niệm tại Phật Học Viện Quốc tế ở Los Angeles, các huynh đệ tộc họ xuất gia, tại gia và hàng đệ tử xuất gia, tại gia của cố Hòa Thượng Đức Niệm đã ấn tống đúng theo lời Phật dạy, đó là hàng chục tác phẩm giảng luận Phật pháp khác nhau (dịch và biên khảo) của hàng chục tác giả xuất gia, tại gia cư sĩ, với số lượng hàng trăm thùng, hàng ngàn cuốn trên hai dãy bàn và la liệt dưới đất trong các thùng. Hằng trăm Phật tử, Tăng Ni về dự lễ trong buổi sáng hôm ấy (March 27. 2005), người nào cũng có trong tay hằng mươi cuốn sách Phật pháp bằng Việt ngữ và Anh ngữ.

Cũng như tại Tổng Hội Cư Sĩ Phật Giáo tại Quận Cam trong ngày lễ an vị Phật vừa rồi (20.3.05) ở cơ sở mới, tập thể cư sĩ đã cùng nhau ấn tống cuốn kinh kim Giảng Luận với số lượng hàng trăm. Từ chỗ này cho ta thấy mọi thứ kinh được dịch nghĩa chú giải, giảng luận. Những sách giảng luận Phật pháp ở vào thời đại nào, thế hệ nào vẫn có giá trị về trí tuệ cho mọi căn cơ của người Phật tử được phát triển trên bước đường học Phật.

 

NHẬN THỨC VÀ KẾT LUẬN

Lời Phật dạy cho các hàng đệ tử xuất gia, tại gia phải tự mình sao chép, khuyên bảo người khác sao chép, in ấn kinh điển Phật pháp ngay khi còn tại thế, là thời kỳ nhân loại nói chung, Ấn Độ nói riêng, ngôn ngữ dân tộc Ấn chưa thành chữ nghĩa, chỉ có lời nói và chưa phát minh ra các điều kiện, dụng cụ in ấn thành sách, thành văn bản. Nhưng tại sao đức Phật đã có lời dạy các đệ tử sao chép như vậy?

Thật sự đức Phật có lời dạy các đệ tử sao chép, khuyên bảo người khác sao chép kinh điển lúc bấy giờ khi thuyết pháp như vậy, là nhằm vào các hàng đệ tử hậu lai sanh ra đời không gặp Phật, chỉ gặp kinh sách Phật pháp. Cho nên các quốc gia hiện nay trên thế giới có đạo Phật, đều có rất nhiều thứ kinh sách giảng luân Phật pháp là do các hàng đệ tử xuất gia, tại gia có tâm hiểu biết công việc hoằng dương chánh pháp vào thế gian là điều cần thiết phải làm đúng theo những điều Phật đã thấy và nói trong kinh Pháp Hoa. Những điều đó là:

1. Chúng sinh ở hậu lai vào thời kỳ mạc pháp không gặp Phật, chỉ gặp kinh sách Phật pháp.

2. Cho nên Phật dạy hàng xuất gia, tại gia hiện tại hãy tự mình sao chép, khuyên bảo người khác sao chép kinh điển để tiếp tục tồn tại chánh pháp cho các thế hệ kế tiếp theo đó học hỏi để thấy đạo, hành đạo và đạt đạo.

3. Vì thế hành giả tìm con đường giải thoát trong đạo Phật bằng giáo pháp ở cách thức tự học hỏi, khảo cứu qua kinh sách giảng luận, thì mới có thể thấy đạo, hành đạo, đạt đạo.

4. Cho nên con đường giải thoát sinh tử của mọi người đến với đạo Phật vào thời mạt pháp là quả vị Độc Giác (Duyên Giác) tức là tự mình giác ngộ, tự mình học hỏi giáo pháp trong kinh sách là chính yếu, còn nghe giảng pháp chỉ là phụ.

 

Qua bốn điểm Phật đã thấy trước và đã nói trong kinh Pháp Hoa vừa kể trên, nhất là quả vị Duyên Giác (Độc Giác) cho ta một bài học đích đáng về vấn đề Ấn tống kinh điển đúng pháp theo lời Phật dạy, thì phước báo mới đến thật sự.

 

 

 

CON SỐ 8 VẠN 4 NGÀN PHÁP MÔN

 

Con số 8 vạn 4 ngàn pháp môn chỉ là cách nói của người Ấn Độ về số lượng của các vật quá nhiều không thể đếm được, giống như người Việt thường nói “hằng hà sa số kể”. Do vậy trong đạo Phật cũng lấy con số 8 vạn 4 ngàn để chỉ cho giáo pháp Phật có rất nhiều pháp môn tu không thể thống kê được là bao nhiêu. Thật sự con số 8 vạn 4 ngàn pháp môn là con số chỉ cho giáo pháp Phật luôn luôn là phương tiện rất thiện xảo, sinh động và linh hoạt được thích hợp với mọi căn tính chúng sinh, cho nên bất cứ chúng sinh trong nhiều giai cấp xã hội đương thời có căn cơ, trình độ cao thấp ra sao, cũng đều có pháp môn thích hợp để tu mà chuyển hóa tâm hữu ngã ô nhiễm thành vô ngã trong sáng, thanh tịnh, an lạc, là con đường giải thoát sinh tử.

Nói rõ hơn, chúng sinh vô số lượng không kể xiết, nhiều căn tính đến đâu Đạo Phật cũng có vô số pháp môn để đáp ứng mà độ khắp tất cả căn tính chúng sinh được đến bờ giải thoát sinh tử.

Không có chúng sinh nào mà không có pháp Phật để độ. Chỉ vì chúng sinh không chịu đến với Đạo Phật mà thôi.

 

 

 

TAM PHÁP ẤN NGHĨA LÀ GÌ?

 

Ấn là con dấu. Con dấu dùng để chứng nhận về một sự việc nào đó là thật, không hư dối qua lời nói của các bậc trưởng thượng tại các cơ sở, cơ quan chính quyền, triều đình, đảng phái, tôn giáo, ngoại đạo, có tính cách ra lệnh, tuyên truyền, thông báo, yêu cầu, thỉnh mời... được ghi thành văn bản lên trang giấy. Sau cùng con dấu được in đậm (đóng mộc) ở cuối trang có mang tên nơi xuất phát văn kiện cùng với chữ ký của người trưởng thượng nơi xuất phát, gọi là ẤN KÝ, đó là con dấu hữu vi của thế gian, trong đó nó chứa đầy những tính chất chiến tranh, khổ đau, hận thù nhân loại, cực đoan tham vọng, ích kỷ, riêng tư cá nhân hay tập đoàn.

Trong Phật Giáo cũng có con dấu hữu vi ở mỗi giáo hội, đoàn thể Tăng già, Cư sĩ. Nhưng vai trò con dấu ấy là chứng thực những pháp ngôn giáo vụ được xuất phát từ các bậc tôn túc thượng tầng Tăng già hay Cư sĩ như là lời thông điệp, tuyên ngôn, thỉnh cầu gởi đến cho tất cả mọi người trong bản thân Đạo Phật hãy vì sự nghiệp trí tuệ cho mọi người và mình mà tích cực dấn thân vào thế gian ác trược mà hành Bồ Tát Đạo để đem lại ba nguồn sống: Ly khổ đắc lạc, chuyển mê khai ngộđoạn hoặc chứng chân cho chúng sanh một cách tinh tấn nhẫn nhục, thiền định ba-la-mật ở từng bước tỉnh thức khi thân tâm trực nhận vào mọi hiện tượng thực tại.

Chính sự dấn thân vào đời hành Bồ Tát Đạo là chất liệu bồi dưỡng cho ba chân lý (ba con dấu) CHƯ HÀNH VÔ THƯỜNG, CHƯ PHÁP VÔ NGÃ, NIẾT BÀN TỊCH TỊNH – KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC trong nội thức được có thêm phẩm chất trong sáng, mà mỗi cá nhân trong Phật Giáo, Tăng Ni hay Cư Sĩ, ai cũng phải tiếp nhận vào tâm thức một cách sâu đậm như là một dấu ấn. Bởi vì ba con dấu ấy là chìa khóa mở tung cánh cửa kho báu Duyên Khởi để mà nhận lấy viên kim cương Niết Bàn.

 

 

 

NGHĨA CON DẤU TRONG PHẬT GIÁO

 

Con Dấu trong Phật Giáo có nghĩa là Chân lý, điều Chân thật không hư dối do Đức Phật chứng đạo giác ngộ nói ra để chỉ dẫn cho chúng sanh tu tập mà giác ngộ giải thoát sinh tử. Giáo pháp phương tiện tu tập của Phật Giáo thì rất nhiều, nhưng được tựu trung ở ba pháp: CHƯ HÀNH VÔ THƯỜNG, CHƯ PHÁP VÔ NGÃ, NIẾT BÀN TỊCH TỊNH.

Về mặt trực nhận vào mọi hiện tượng vạn hữu để thấy rõ các pháp hiện hữu là do Duyên Sinh, không có tự thể nên chúng biến đổi không ngừng, vì thế mà chúng phải bị hoại diệt khi các duyên không còn hợp tác. Cho nên theo kinh Pháp Ấn thì ba con dấu ở mặt thiền quán là KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC.

 

 

 

 

 

THẾ NÀO LÀ CHƯ HÀNH VÔ THƯỜNG,

CHƯ PHÁP VÔ NGÃ

 

a. CHƯ HÀNH VÔ THƯỜNG

Hành có nghĩa là trôi chảy, lưu chuyển, biến đổi liên tục.

Chư hành có nghĩa vô số lượng các pháp hữu vi trong đó có con người do nhân duyên sinh ra (duyên khởi) nên chúng thường hằng biến đổi, lưu chuyển trong ba đời gọi là Chư hành.

Chư hành vô thường có nghĩa là vạn vật và con người thường biến đổi nên gọi vạn vật và con người là pháp sinh, diệt. Vì sinh diệt nên chuốc lấy khổ đau, sinh tử luân hồi.

 

b. CHƯ PHÁP VÔ NGÃ

Tất cả vạn hữu và con người không có bản ngã chân thật, tức là không có tự thể, do các duyên khởi hợp lại mà có nên gọi là giả danh. Lý Duyên Khởi giải thích sự hiện hữu của Chư pháp là vô tự tính, được sinh ra do nhân duyên, bị hoại diệt do các duyên tan rã, trở về không, vô ngã.

 

 

 

NIẾT BÀN TỊCH TỊNH NGHĨA LÀ GÌ?

 

Niết Bàn được dịch âm từ Phạn ngữ Nirvàna, có nghĩa là diệt, độ. Diệt ở đây là tiêu diệt hết mọi thứ  phiền não, vô minh, triền phược, lậu hoặc... Sau khi những thứ vô minh ấy được diệt hết thì qua bờ giải thoát, không còn bị sanh tử luân hồi, cho nên gọi là Diệt Độ, hay Tịch Diệt, vô vi, bất sanh, viên tịch.

 

 

 

 

CÓ MẤY LOẠI NIẾT BÀN?

 

Niết Bàn có hai (Nhị chủng Niết Bàn): Hữu Y Dư Niết Bàn và Vô Dư Y Niết Bàn

A. Hữu Dư Y Niết Bàn: Niết Bàn Hữu Dư Y là Niết Bàn của Tiểu Thừa. Tức là trên vận hành tu tập không chấp nhận hiện hữu, vì hiện hữu là khổ đau, vô thường nên phải ly khai hiện hữu để mong đoạn diệt sạch tâm tham ái, phiền não để được giải thoát không còn nguyên nhân tái sinh, nhưng vẫn còn tàn dư của năm uẩn biến dịch nơi bản thân nên gọi là Hữu Dư Y Niết Bàn.

B. Vô Dư Y Niết Bàn: Niết Bàn diệt luôn cả hai thứ phiền não và năm uẩn ở bản thân. Niết Bàn Vô Dư Y là Niết Bàn của Đại Thừa đúng nghĩa Đại Thừa là Tự Tánh Niết Bàn và Vô Trú Xứ Niết Bàn. Niết Bàn Vô Dư Y thường là của các bậc Bồ Tát dấn thân vào các cõi sinh tử của chúng sinh mà cứu độ. Bởi vì Tự Tính Niết Bàn bên trong, tức Phật tính Như Lai tạng, tánh thường hằng tịch diệt đang trỗi dậy cao độ là năng lực nghĩ đến chúng sinh bằng tâm, thương yêu chúng sinh bằng trí mà dấn thân cứu bạt, nhưng ly khai mọi biến động của thế gian tướng, không còn dính mắc, hay giao động trước biển sắc. Nếu không nói là tìm Niết Bàn trong sinh tử, giải thoát trong hiện hữu và không thấy khổ đau trước khi tiến đến quả vị Đẳng Giác, Diệu Giác tức Vô thượng Bồ Đề. Cho nên Niết Bàn không có nơi chốn, không phải là tước vị và cũng không phải gọi là nhập vào, mà là chứng ngộ. Vì vậy mà các bậc Bồ Tát dù ở nơi các địa ngục cũng giống như ở Thiên Đàng, Thiên Đàng cũng giống như ở thế gian cõi người một khi chư vị Bồ Tát đã dứt bỏ sở tri chướng, có được chân trí bồ đề, thì đối với sinh tử là hữu cấu, chẳng thấy cái dơ. Đối với Niết Bàn là vô cấu, chẳng thấy cái sạch hay vui sướng! Vì có đại trí, nên có đại bi khi trụ ở sinh tử chúng sanh nhưng không thấy mình trụ Niết Bàn vì tích cực làm lợi lạc chúng sanh nên gọi là vô trụ xứ. Tác dụng của lợi lạc tuy là thường có, nhưng cũng thường tịch diệt nên gọi là Niết Bàn Vô Dư Y, Phật thừa.

 

 

 

TRẠNG THÁI CỦA NIẾT BÀN

 

Niết Bàn là trạng thái tâm vô ngã, tức là tâm không còn chứa đựng ba độc: tham, sân, si và những chủng tử ô nhiễm: vọng thức, vọng động, những cái thấy sai biệt của tâm như ngã kiến, biên kiến, kiến chấp. Tất cả những cái hữu ngã ấy phải được tận diệt sạch không còn trong tâm, từ đó tâm trở nên trống rỗng, thanh tịnh, vắng lặng. Đó là tâm giải thoát, tức Niết Bàn, dù bản thân ngũ uẩn con người hiện hữu giữa biển sắc thế gian đầy dẫy các thứ lục trần mà tâm vẫn ly khai đứng ngoài biên giới, không bị trôi lăn theo các hiện tượng năm ác trược, như hoa sen kia sinh ra trong ao bùn nước đọng mà không bị dính mùi bùn tanh hôi, đúng như lời Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói: “Ta sinh ra trong đời, lớn lên trong đời, ta chinh phục đời, không bị đời làm ô nhiễm. Như vậy ta là Phật”.

Vì thế cho nên, Niết Bàn do con người tự kiến tạo cho mình bằng sự tu tập Phật pháp mà đạt được, chứ Đức Phật không mang Niết Bàn đến cho con người. Từ chỗ này cho ta thấy rằng Niết Bàn là của chung, nhưng vẫn là của riêng mỗi người, vì ai tu thì nấy đắc, mới được vào. Ta nên biết rằng cửa Niết Bàn là vô tướng, không còn chứa ngã, ai còn chứa ngã thì không thể vào. Ai muốn vào Niết Bàn phải vô ngã, vô tướng như Niết Bàn.

 

 

 

 

 

CHỮ KHÔNG TRONG PHẬT GIÁO

 

Mọi hiện tượng chỉ là hiện hữu tương quan theo duyên khởi, không có tự tính. Cho nên tất cả vạn hữu trong tam giới đều không phải là thật. Nhận ra điều đó tức là KHÔNG.

Một số kinh mang tư tưởng “không” sau đây: Đại Trí Độ Luận “Ngũ uẩn không có ta, không phải của ta, như vậy là không. Các pháp do nhân duyên sinh ra, không có tự tính, vô ngã tính, mà đã không có tự tính, thì đó là không”; kinh Vô Lượng Thọ “Chư Bồ Tát ở cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà thấy tam giới đều trống không, chẳng có gì hết.”; kinh Duy Ma Cật phẩm Đệ Tử “Cuối cùng các pháp không có.”; kinh Nhân Vương quyển thượng “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là không. Mười hai nhập, mười tám giới đều là không. Sáu đại pháp, bốn đế, mười hai nhân duyên đều là không”.

 

 

 

NGHĨA CỦA VÔ TƯỚNG

 

Vô tướng là lìa xa các tướng hữu vi thế nhiễm. Đây là chân lý chỉ sự dứt tuyệt mọi tướng, xa lìa mười tướng: sắc, thanh, hương, vị, xúc, sinh, trụ, hoại, tướng nam, tướng nữ. Không có các tướng như thế gọi là vô tướng. Hết thảy các pháp đều vắng lặng, không có tướng mà cũng không có thực thể, nói như Pháp Hoa: “Chư pháp bổn lai, thường tự tịch diệt tướng.” (Các pháp từ xưa đến nay, tướng nó thường im lặng).

Vì thực tướng của vạn hữu là không, cho nên không thể tư duy, khái niệm, nhận thức mà thấy được. Phải dùng trí tuệ bình đẳng, vô phân biệt mới có thể nhận ra vô tướng của vạn hữu.

Đích thực Trung Luận 18, Bồ Tát Long Thọ đã xác quyết thực tướng các pháp chỉ là giả tướng

Chư pháp thật tướng giả

Tâm hành ngôn ngữ đoạn

Vô sinh diệc vô diệt

Tịch tịnh như Niết Bàn

Dịch: Thật tướng của các pháp thì đoạn bặt, cắt đứt cả tâm hành, tư duy lẫn ngôn ngữ, không sanh cũng không diệt, tịch tịnh như Niết Bàn

Trên phương diện tục đế, thì các pháp hiện hữu theo duyên khởi (hữu vi). Nhưng trên chân đế, thì các pháp đều không thật có, nên không thể gọi tên (ly danh tự tướng) và không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt (ly ngôn thuyết tướng) và cũng không thể dùng tâm tư duy, nhận thức được (ly tâm duyên tướng). Vừa thật vừa không, có mà không, đó là vô tướng.

 

 

NGHĨA CỦA VÔ TÁC

 

Vô tác là chân lý vô trụ tướng của tâm hoạt động một cách tự tại vô ngại, không vướng mắc vào cực đoan có, cực đoan không, gọi là trung đạo. Tuy nhiên trong cái tâm vô tác, vô trụ ấy có hai đức tính từ bi và trí tuệ Bát Nhã là năng lượng biểu lộ tâm tràn đầy tình thương yêu chúng sanh, sự hiểu biết chân thật, cho nên cái không của Bát Nhã không phải là cái không trống rỗng tiêu cực, cứng đơ như sắt đá, cỏ cây, mà là cái chân không diệu hữu trong cái chủ động vô ngã, vô phân biệt về chủ thể nhận thức, đối tượng nhận thức. Tức là cái không thấy mình là người hành trì, không thấy đối tượng mình hành trì là Phật pháp, giới luật. Hành trì trong vô tác khi ba nghiệp thân, khẩu, ý không biểu hiện, nên không nghe, không thấy, thường hằng nối tiếp nhau mà không dựa vào sự tạo tác của thân, khẩu, ý, cho nên gọi là vô tác. Tức là không còn phân biệt chủ thể hành trì, đối tượng hành trì, cũng như không thấy chủ thể chứng đắc, đối tượng chứng đắc, đó là chân lý VÔ TÁC.

 

 

 

BÁT NHÃ LÀ GÌ?

 

      Bát Nhã nghĩa là trí tuệ Phật. Danh từ Bát Nhã được chư vị tổ sư Trung Quốc dịch âm từ chữ Phạn Prajnà. Chữ Prajnà có nghĩa là tâm hiểu biết bác học, sâu rộng. Do vậy mà danh từ Bát Nhã trong kinh Phật được dùng để chỉ cho trí tuệ Phật. Vì không tìm ra được danh từ nào tương xứng, nên chư tổ Trung Quốc giữ nguyên âm Bát Nhã. Cho nên nói đến trí tuệ Phật là nói đến Bát Nhã. Chỉ có trí tuệ Phật mới được gọi là Bát Nhã, thường gọi cho đủ là trí tuệ Bát Nhã. Danh từ trí tuệ luôn luôn đi kèm theo hai chữ Bát Nhã để chỉ cho trí tuệ Phật. Sở dĩ hai chữ trí tuệ luôn được đi kèm danh từ Bát Nhã là để khỏi lầm lẫn giữa trí tuệ Phật và trí tuệ của hàng Nhị thừa Thanh Văn, Duyên Giác. Do vậy trí tuệ của các hàng Nhị Thừa không có danh từ Bát Nhã đi kèm, mặc dù hàng Nhị Thừa cũng có trí tuệ do tu chứng Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, nhưng cũng chỉ là tiểu trí, tiểu huệ, chưa phải là trí tuệ Bát Nhã.

 

 

 

BA LA MẬT LÀ GÌ?

 

      Ba La Mật được nói cho đủ là Ba La Mật Đa. Ba La Mật Đa được phiên âm từ chữ Phạn Pàramità; một thuật ngữ Ấn Độ, có nghĩa là trọn vẹn, thông suốt, quyết tiến tới không lui, qua tới bờ, đến tới đích. Thuật ngữ Pàramità được người dân Ấn Độ sử dụng qua ngôn ngữ đối đãi trong mọi sinh hoạt hằng ngày, trên các lãnh vực: văn hóa, giáo dục, kinh tế, xã hội, quân sự, lao động và tôn giáo. Cho nên từ ngữ Pàramità trong kinh Phật được chư vị tổ sư Trung Quốc chuyển âm là Ba La Mật Đa, có nghĩa là cứu cánh, vượt mọi chướng duyên, vượt thoát ý niệm về ngã, tiến qua bờ giải thoát tức đáo bỉ ngạn. Bỉ ngạn là bên kia bờ. Bờ ở đây là bờ giác ngộ, gọi tắt là Độ.

 

 

 

HỌC

 

Chữ HỌC được cắt nghĩa là bắt chước làm theo (copy) cho đúng, giống như hệt, rập khuôn với các sự việc có hình tướng không hình tướng, văn chương, triết lý, đạo đức, nghề nghiệp, hát xướng, ca ngâm, nhạc lý, v.v… từ những bậc anh tài có kinh nghiệm, thông đạt lý thuyết và thực hành.

Tất cả những điều nói trên đều thuộc về sự nghiệp sống của con người cả hai mặt thể chất và tinh thần, cho nên con người phải học, không học hết tất cả, cũng phải học một số điều cần thiết để được có một cuộc sống khả dĩ về bản thân và tâm hồn, thì mới gọi là sống, không thì không có sự sống. Học bằng lý thuyết và thực hành trực tiếp làm theo, nghe theo, nói theo lời nói và thái độ diễn giảng của các bậc tài giỏi mà ta gọi là thầy, giáo sư, giáo thọ. Hay là học bằng sách vở do các bậc anh tài tiền bối để lại.

Vì thế cho nên Học là một quy luật phát triển và tồn tại. Được tồn tại và phát triển, phát triển để tồn tại, là hai cơ cấu luôn luôn tương quan và có mặt trong đời sống của muôn loài hữu tình chúng sinh nói chung, con người nói riêng một khi được sinh ra có bản thân tại không gian trái đất này là sự sống có mặt liền nơi bản thân chúng sinh, do vậy con người phải học. Ngay cả những loài hữu tình chúng sinh bé nhỏ cũng đều phải học để được sống còn. Chẳng hạn bầy cá con học bơi bên cạnh cá mẹ. Những con chim con học bay theo chim mẹ là đà trên mặt đất ở bước đầu tiên, rồi sau đó học bay lên cao, đậu trên cành cây. Những con cọp con học nhảy cao, nhảy dài, qua dòng suối, bờ đất, học vồ mồi giả nơi cục đất, cục đá, cành cây. Những con khỉ con học chuyền cành theo khỉ mẹ từ cành gần đến cành xa, v.v…

Với loài người là vật tối linh có 3 thứ hồn ở thân và tâm, đó là giác hồn, sinh hồn và linh hồn. Cho nên con người có một đời sống vật chất rất cao  hơn các loài chúng sinh khác. Do vậy cái sở học của loài người rất là đa diện và đa dạng. Hai thứ đa diện và đa dạng được thấy ngay ở những đứa bé lên hai, lên ba đã và đang học với người mẹ, người cha về những cách sống. Khi lớn lên ở tuổi đồng niên, thiếu niên, thanh niên lại càng học nhiều hơn từ gia đình ra đến xã hội về nhiều chiêu thức để sống theo nguyên lý hiện thực vừa hạnh phúc vừa khổ đau lẫn lộn không thể tránh khỏi, là quy luật của các cõi dục giới, trong đó có cõi người. Con người cảm thấy an vui hạnh phúc hay khổ đau, đói lạnh là do giác hồn và sinh hồn hiện hữu trong nội thức. Nếu con người nào có nhận biết cao về khổ đau và hạnh phúc, con người ấy sẽ học hỏi về cách tạo dựng hạnh phúc một cách tích cực để đạt được sự nghiệp có nhiều tiền của là nền tảng xây dựng hạnh phúc, giữ gìn hạnh phúc. Ngược lại nhận biết thấp kém, sự học hỏi tiêu cực, sự nghiệp sống bị khiếm khuyết tiền tài, hạnh phúc bị sứt mẻ, khổ đau liền có mặt trong đời sống, làm cho linh hồn phát sinh nhiều khổ đau phiền não. Cả hai được hạnh phúc và khổ đau đều giai do học hỏi tích cực và học hỏi tiêu cực. Tức là bắt chước làm theo đúng và chính xác ở phần học tích cực. Và bắt chước làm theo không đúng, không chính xác ở phần học hỏi tiêu cực. Tất cả do linh hồn là khả năng lý trí sáng suốt tinh anh hay u mê ám độn. Một khi tâm trí bị u mê ám độn như vậy, chính là cái lực dắt dẫn con người học đòi những điều, những việc xấu ác nơi những người bạn ác. Từ đây cho ta thấy rằng chữ HỌC trong văn hóa Đông, Tây đều cùng một nghĩa là học cái chân thiện mỹ, việc tốt, điều lành, thánh thiện từ nơi các bậc hiền triết. Tức là chữ học không bao giờ ở nghĩa xấu, ác, tội lỗi… luôn luôn ở nghĩa tốt, con người đều phải học đúng như ngạn ngữ có câu: “Đi một khúc đàng học một sàn khôn”. Con người học nhiều lý lẽ đạo đức, tinh khôn ở đời sẽ biết rõ giưã những điều xấu nên tránh, những điều tốt có ích lợi cho mình, cho người nên học đúng với câu: “Nhân bất học bất tri lý” (Con người không học, không biết lý lẽ tốt, xấu ở đời).

Con người ở đời không học, thì nhất định không biết phân biệt giữa điều tốt, điều xấu. Do đó mới có những lời nói và hành động tham lam, tật đố, xấu ác, bỏn sẻn, lừa dối… bị người đời gọi là hạng người thất học. Thất học ở đây được biểu thị cho tâm thức bị thiếu văn hóa, cho nên chữ Học ở lãnh vực văn hóa. Vì do có văn hóa, con người mới có thể tạo cho mình có một sự nghiệp sống nhiều hạnh phúc vật chất và niềm an lạc ở tâm hồn, nếu không nói là có nhân cách, thánh thiện.

Tâm thức của người rặc đời thế gian bị thiếu văn hóa thế gian, còn hy vọng được chuyển hóa những chủng tử vô minh, trần cấu, ô nhiễm ấy thành thánh thiện do học và thực hành Phật pháp.

 

 

 

HỌC PHẬT

 

Cái sở học của người đời tại thế gian nhằm vào nhiều mục tiêu cho đời sống vật chất, cho nên phương tiện luôn được phát triển để phục vụ đời sống được tồn tại, có văn hóa, đạo đức nhân cách, v.v…

Còn sở học Phật của hàng Phật tử nhằm vào một mục tiêu duy nhất, đó là con đường giải thoát bằng tâm vô ngã, không còn gì khác hơn. Vì lẽ thật của vô ngã, là con đường giải thoát sinh tử, mà Đức Phật từ bỏ tư tưởng nhập diệt sau khi thành đạo, ngài quyết định trụ thế để chỉ dẫn cho chúng sinh tu tập theo giáo pháp vô ngã để được giải thoát sinh tử, giáo pháp do Đức Phật đã thực chứng.

Nếu không vì vấn đề cứu độ chúng sinh giải thoát sinh tử bằng giáo pháp vô ngã, Đức Phật nói ra nhiều giáo pháp qua  5 thời suốt 45 năm làm chi! Chư vị Thánh tăng kết tập kinh điển làm gì! Chư vị Tổ sư viết ra nhiều sách giảng luận Phật pháp làm chi! Chư tôn giáo phẩm Phật giáo Việt Nam đã và đang dịch thuật kinh điển từ ngoại ngữ ra Việt ngữ để làm chi cho mất công mệt sức. Tất cả từ Đức Phật nói ra nhiều thứ kinh qua 5 thời suốt 45 năm, cho đến chư Thánh tăng kết tập kinh điển 4 thời kỳ, chư vị Tổ sư đem kinh ra các quốc gia Đông, Tây, chư Tăng tiền bối và thực tại ở các nước dịch thuật và luận giảng ra tiếng mẹ đẻ, như chư tôn đức Việt Nam ở quá  khứ và hôm nay dịch thuật và viết ra nhiều sách Phật pháp bằng tiếng Việt, v.v… đều vì sự nghiệp giải thoát cho chúng sinh bằng giáo pháp của Phật.

Vì thế chư Tăng bảo, tiền bối và hôm nay trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng đã và đang truyền thừa tôn chỉ chính yếu của Phật ở hai mục tiêu phải làm, đó là đào tạo Tăng tài trên cơ sở học Phật và hướng dẫn hàng Phật tử học Phật và thực hành Phật pháp. Hai vấn đề ấy được chư tôn đức Phật giáo Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều thế kỷ qua và hôm nay trong và ngoài nước.

Là Phật tử không học Phật, thì chưa phải là Phật tử. Vì học Phật là một quy luật phát triển tánh giác và tồn tại tánh giác đúng như câu “Bồ Đề tâm tăng trưởng” hay là câu “Quy y pháp… thâm nhập kinh tạng trí tuệ như biển”. Không học Phật pháp lấy đâu được có trí tuệ? Không có trí tuệ lấy đâu mà thấy đạo để tu? Không tu theo dấu đạo Phật pháp lấy đâu ra phương tiện giải thoát? Làm Phật sự tại chùa, có phải là học Phật? Không, làm Phật sự tại chùa là thực hành Phật pháp sau khi có học Phật. Cho nên Phật tử không học Phật thì đừng giữ chức vụ điều hành Phật sự trong tập thể Phật giáo, vì sẽ gây ra biến động, bất an cho cả cộng đồng Phật tử.

Thật sự, con người muốn tìm cầu cho mình con đường giải thoát sinh tử nơi đạo Phật, là phải học Phật và thực hành giáo lý Phật qua 3 giai đoạn mà Đức Phật đã đề ra ngay thuở ban đầu nói hai bài pháp Tứ Đế và Vô Ngã Tưởng cho năm anh em ông Kiều Trần Như (Hãy xem lại bài “Tiến trình chuyển pháp luân của Đức Thế Tôn…” để thấy rõ 3 giai đoạn), cho đến suốt 45 năm nói pháp độ sanh tại nhiều nơi, Phật vẫn áp dụng 3 giai đoạn học Phật đó cho chúng sanh đến học đạo với ngài. Vì vậy mà Đức Phật thường bảo mọi người sau khi nghe Phật nói pháp đừng vội tin, hãy tư duy để thấy rõ dấu đạo đã rồi mới tin.

Tiến trình học Phật qua 3 giai đoạn là kiến đạo, tu đạo và đạt đạo trong thời đại ngày nay vẫn được chư tôn đức tiền bối và hiện nay đã và đang áp dụng trên vận hành hướng dẫn Phật tử học và tu tập Phật pháp đúng theo lời chư Tổ nói: “Tri đạo tức học đạo, kiến đạo, hành đạo và đạt đạo”.

Tri đạo, được cắt nghĩa là biết đạo. Biết đạo không có nghĩa là biết lý nghĩa của đạo. Chưa học làm sao biết? Do vậy biết đạo ở đây là biết rõ trong Đạo Phật có con đường giải thoát hay Đạo Phật là đạo giải thoát sinh tử, cho nên vào Đạo Phật để tìm cầu cho mình con đường giải thoát. Được có con đường giải thoát bằng cách nào? Bằng công việc phụng sự đạo pháp? Bằng chức vụ trưởng, phó trong chùa? Bằng bố thí, cúng dường? Không, phụng sự, chức vụ, bố thí, cúng dường, v.v… là những pháp thực tập sau khi đã học xong những pháp chính thức (Bát Chánh Đạo, Tứ Nhiếp Pháp, Bốn Tấm Lòng Cao Thượng, v.v…)

Biết trong Đạo Phật có con đường giải thoát, cho nên mới vào đó để tìm cầu cho mình con đường giải thoát. Tìm cầu con đường giải thoát bằng cách học Phật pháp và thực hành Phật pháp đúng với cụm từ “tri đạo tức học đạo”. Thời gian đang học đạo (Phật pháp) tâm dễ thấy dấu đạo (kiến đạo tích). Đó là giai đoạn đầu, giai đoạn chỉ mới thấy thôi. Nếu được thấy dấu đạo là khá lắm rồi, vì đó là sơ quả Tu Đà Hoàn, một quả vị trong 4 quả vị của Tứ Thánh. Cho nên dù là sơ quả nhưng nó là tính chất Thánh lên trên tính chất nhân bản. Nếu người Phật tử nào được có sơ quả thì nhất định trong đối đãi người với người, tính chất Thánh đó được hiển lộ ra một cách tự nhiên ở đôi mắt với trạng thái nhìn mọi người rất là từ bi bình đẳng đôn hậu, cùng với ngôn ngữ đối đãi có văn hóa, đạo đức, hiền hòa, chân thật, có tỉnh thức thân tâm, nhưng niềm vui đạo đối với nhau không mất, đúng như ngạn ngữ có câu “đôi mắt là cửa sổ tâm hồn”. Tâm hồn là Phật, Bồ Tát, sẽ nhìn người với đôi mắt ưu ái, hiền từ. Tâm hồn là Atula, ngạ quỷ… sẽ nhìn người với ánh mắt đầy sân hận, hung dữ…  do chưa đạt được sơ quả, tức chưa thấy đạo.

Người Phật tử phải học Phật và tu tập Phật pháp để được kiến đạo sơ quả là điều ắt phải có, không thể không có được. Bởi vì sơ quả là đã thấy được con đường đi đến Niết Bàn, Cực Lạc trước mắt rồi, cứ theo đó mà đi là sẽ đến, giống như người tìm trâu đi theo dấu chân trâu, đó là giai đoạn giữa, giai đoạn thực hành. Trong giai đoạn thực hành, ta có vô số môi trường ngoài đời, trong các chùa để thực hành. Thực hành đúng nghĩa là làm theo dấu đạo qua bài học Phật pháp. Cho nên những việc phụng sự đạo pháp mà ta làm tại chùa, ngoài xã hội hoàn toàn bằng tâm thanh tịnh, tỉnh thức vì có đem đến cho mọi người niềm an vui, hạnh phúc, đoàn kết, lục hòa thương yêu chân thật… Đó là những nhân tố được thực hành theo dấu đạo để tuần tự đạt đạo vô ngã giải thoát.

Được kiến đạo tích vô ngã, là ta phải học Phật, có học thì mới được thấy. Vì học là một quy luật, học cái gì là thấy cái đó, thành đạt cái đó. Học Phật thì được thấy con đường về Phật. Khi được thấy con đường về Phật rồi, ta phải có phương tiện để đi. Phương tiện đó là những cách tu tập để tiêu trừ các thứ phiền não, trần cấu, ô trược, chấp ngã, chấp pháp, v.v… giống như người đi theo dấu chân trâu phải mang giày, cầm gậy, đem theo nước uống, mặc áo ấm nếu vào mùa đông, đội nón mùa hạ, v.v… chứ không phải ngồi đó mà được thấy trâu, không tu tập làm sao có thể đạt được đạo vô ngã giải thoát! Cho nên phải học Phật mới thấy đạo để hành, để đạt.

Học Phật của hàng Phật tử (con Phật) trong thời mạc pháp hôm nay không giống như chư Thánh tăng và Phật tử học Phật lúc Phật còn tại thế. Thời Phật còn tại thế, Phật tử và chư Thánh tăng học Phật bằng cách chỉ có nghe Phật giảng kinh, Phật hướng dẫn cách tu tập quán niệm, sau đó mọi người hỏi Phật những điều chưa rõ, được Phật giải đáp, trước khi đem ra tu tập tại gia, tại tịnh xá. Sở dĩ chỉ có nghe mà không có sách vở, không ghi chép là tại vì xứ Ấn Độ lúc bấy giờ chưa thành lập hệ thống ngôn ngữ bằng chữ. Cho nên mọi sinh hoạt ngoài xã hội, con người đều sử dụng lời nói hướng dẫn, chỉ vẽ cho nhau qua kinh nghiệm, học hỏi nhau bằng lời nói. Tại tịnh xá, Phật thuyết kinh bằng lời cho mọi người nghe, mọi người hỏi lại điều chưa hiểu cũng bằng lời. Ấy thế vậy mà, ai cũng được kiến đạo để tu tập và đạt đạo vô ngã giải thoát. Sở dĩ hàng xuất gia, tại gia thời Phật tại thế chỉ có nghe Phật giảng kinh mà tu tập liền được kiến đạo, chứng đạo một cách hanh thông như vậy, là do họ có nhiều túc duyên thiện nghiệp, phước báo lớn được gặp Phật.

Nói rõ hơn, hàng xuất gia, tại gia lúc Phật còn tại thế học Phật bằng cách trực tiếp nghe Phật giảng kinh. Còn hàng xuất gia, tại gia trong thời đại văn minh của nhân loại hôm nay, là thời mạc pháp, không gặp Phật ra đời, chỉ học Phật qua kinh điển Phật để lại, tức là Học Phật bằng kinh điển, tài liệu Phật pháp, chứ không phải chỉ có nghe pháp với Tăng như lúc Phật còn tại thế. Do vậy giữa thời điểm Ấn Độ chưa có hệ thống chữ nghĩa, nên tăng ni và Phật tử thời đó chỉ có nghe Phật dạy giáo pháp bằng lời nói. Vì thế mà Đức Thế Tôn đã đề cập đến cách tu Duyên Giác (Độc Giác, Bich Chi Phật) và dặn dò hàng xuất gia, tại gia hãy nhớ sao chép kinh điển và khuyến cáo người khác sao chép để lưu truyền lại cho nhiều thế hệ tăng ni, Phật tử ở hậu lai trong lúc Phật thuyết kinh Pháp Hoa. Như thế Phật đã biết trước chúng sinh (tăng ni và Phật tử) trong thời mạc pháp (hai ngàn năm trở lên) có thể được chứng đắc một quả vị duy nhất, đó là Bích Chi Phật (Độc Giác) do có túc duyên thiện căn bằng sự học Phật qua kinh điển tài liệu giảng luận Phật pháp bằng chữ nghĩa của mỗi dân tộc. Chứ chỉ có nghe pháp không, không học bằng tài liệu, sách vở, khó kiến đạo huống là chứng đạo, đúng như ngạn ngữ có câu “tai nghe không bằng mắt thấy”. Cho nên học là một quy luật gồm tai nghe lời người giảng bài, mắt nhìn vào lý thuyết của bài. Đó là cách học của thế gian. Học Phật pháp trong Phật giáo còn hơn thế nữa. Sự hơn này là quán niệm bằng tâm về đối tượng của các pháp (lục trần vạn hữu. Hãy xem Bốn Lãnh Vực Quán Niệm) để thấy được đạo lý vô thường, vô ngã ở các pháp trong đó có bản thân ta sau mỗi bài học Phật pháp, bởi vì trong bài học Phật pháp nào ở kinh điển cũng đều có đạo lý vô thường, vô ngã được bàng bạc trong đó. Do vậy khi ta nghe lời giảng kinh, bài Phật pháp từ vị giáo sư, giáo thọ chỉ là cách hướng dẫn tìm ra dấu đạo (tục đế). Sau đó người học Phật thực tập theo dấu đạo sẽ thấy bằng tâm quán niệm ở các pháp vô tướng trong tâm lúc thiền tọa và các pháp hữu tướng lục trần trong đó có con người khi mắt ta tiếp xúc trên vận hành mưu sinh và các Phật sự trong Phật giáo để thấy được thực tướng của các pháp là vô ngã nên vô thường, gọi là tâm duyên cảnh. Tâm duyên cảnh vô tướng lúc thiền tọa và hữu tướng khi mắt giáp mặt với cuộc đời chính là lúc ta thực tập theo dấu đạo cả mắt và tâm tương quan nhau ở giai đoạn giữa, giai đoạn không hạn định. Đến một lúc nào đó tâm ta đạt được trí tuệ vô ngã tánh không là trí tuệ Bát Nhã không còn bị vướng mắc bất cứ tướng gì. Từ đó tâm ta không còn khái niệm, phân tích vạn hữu và con người, nhìn đến đâu chân lý vô ngã vô thường được hiện ra đến đó, gọi là cái thấy như thật, cái thấy không lời.

Vấn đề học Phật qua kinh điển bằng sách vở, tài liệu Phật pháp đã được dịch nghĩa và giảng luận khế lý vô ngã đối với Phật tử xuất gia tại gia ở thời mạc pháp đã được Đức Thế Tôn gợi ý trước về quả vị Duyên Giác và có lời khuyên bảo hàng Phật tử nên sao chép kinh điển tài liệu Phật pháp trong lúc đang nói Pháp Hoa, là bộ kinh của hàng Bồ Tát vào đời làm hạnh nguyện truyền bá chánh pháp của Phật ở đời mạc pháp không có Phật ra đời. Chính là Đức Thế Tôn đã biết trước chúng sinh trong thời mạc pháp, tâm ý chứa nhiều vô minh, ác trược, khó có thể thấy dấu đạo vô ngã ở sơ quả bằng nghe pháp, mà phải học Phật pháp bằng chữ nghĩa ở sách vở, tài liệu qua đôi mắt, tai lắng nghe giáo sư, giáo thọ giảng bài Phật pháp trên cơ chế trường sở, lớp học, giáo sư, bài vở, bảng đen, làm bài tập, thi cử… đúng theo trào lưu văn minh về học vấn có kỹ thuật của nhân loại trên cơ sở chữ nghĩa, chứ không còn cái học bằng lời nói truyền đạt, truyền tụng như thời đồ đá nữa.

Vì thế cho nên chư Tăng bảo xuất gia tại Ấn Độ sau thời kỳ kết tập kinh điển qua mấy trăm năm sau đã đọc lại nhiều thứ kinh được ghi chép bằng ngôn ngữ Sankrit và Pali trên lá vàng được cất giữ trong các bảo tháp, trong đó có bộ kinh Pháp Hoa. Quý ngài đọc đến lời Đức Thế Tôn thuyết minh về quả vị Duyên Giác (Độc Giác, Bích Chi Phật) và dặn dò hàng Phật tử xuất gia, tại gia phải sao chép kinh điển để lưu truyền lại cho tăng, ni, Phật tử trong thời mạc pháp không có Phật để theo đó mà học hỏi. Quý ngài liền hiểu ngay ý tưởng của Phật muốn nhấn mạnh quả vị giác ngộ đạo lý vô ngã giải thoát đối với chúng sinh trong thời mạc pháp là duy nhất chỉ có quả vị Duyên Giác gọi là Độc Giác, Bích Chi Phật do học kinh điển bằng chữ nghĩa với các pháp sư qua hệ thống thính thị trường sở, lớp học, v.v… chứ không phải chỉ có nghe suông rồi thôi, mà không có tài liệu, kinh điển bằng chữ, là hoàn toàn trái với quy luật của sự học Phật. Từ đó quý ngài đã biên soạn nhiều bộ luận để giảng giải thêm về đạo lý Tánh không vô ngã và bên cạnh đó quý ngài liền mở trường Phật học như Đại Học Phật Giáo có tên là Nalanda vào thế kỷ thứ 5, được nhiều giới trí thức, Phật tử tại Ấn Độ nói riêng, trên thế giới Âu Á nói chung đã qua học Phật tại Đại Học Nalanda, trong đó có Bồ Tát Huyền Trang người Trung Quốc đã tòng học tại Nalanda.

Riêng về Phật giáo Việt Nam trước triều đại Lý Trần và sau Lý Trần cho đến hôm nay, cũng đã và đang liên tục tiến triển vấn đề học Phật cho tăng ni và Phật tử trên cơ sở có cơ chế trường ốc, lớp học, giáo sư, bài vở, thi cử. Do vậy nhiều Phật Học Viện được thành lập từ Bắc, Trung, Nam để đào tạo tăng tài trên cơ sở học Phật. Đồng thời nhiều trường Trung, Tiểu học Bồ Đề được mở ra khắp cả nước để vừa dạy văn hóa phổ thông vừa dạy Phật pháp cho học sinh và một trường Đại Học Vạn Hạnh tại Sài Gòn, trong đó có một phân khoa Phật Học, được nhiều sinh viên vào học. Ngoài ra tại các chùa, khuôn hội Phật giáo đều có lớp học Phật pháp do chư Tăng và cư sĩ đảm trách giảng dạy Phật pháp. Chẳng hạn chùa Xá Lợi trước 1975 luôn luôn có hai lớp Phật pháp sơ cấp và trung cấp vào ban ngày và buổi tối do chư Tăng và các cư sĩ như cụ Mai Thọ Truyền đảm trách giảng dạy. Nhờ đó mà trong đại gia đình Phật giáo Việt Nam qua nhiều năm tháng trong quá  khứ xa xưa và hôm nay tại quốc nội và hải ngoại vẫn còn nhiều bậc Tăng tài xuất gia và tại gia cư sĩ ở nhiều lứa tuổi… cao nhất là 85 và nhỏ nhất là 60 có kiến đạo nên đã và đang gánh vác nhiều công việc trọng trách hộ dân, hộ quốc, hộ đạo mà tâm tư vẫn an nhiên tỉnh thức bước tới về phía trước theo ánh hào quang của Đức Thế Tôn đang chiếu rọi trên quê hương để làm tròn sứ mệnh truyền bá chánh pháp vào đời ở nhiều công việc trọng đại khác nhau, trong đó trọng đại hơn hết, đó là giáo sư giảng dạy Phật pháp tại các trường Phật học, dịch các thứ kinh ngoại ngữ ra tiếng Việt, lập ban bảo trợ tài chánh phiên dịch pháp tạng, in ấn nhiều dịch phẩm và phát hành, ủng hộ giáo vụ cho các giáo hội Phật giáo hải ngoại, thành lập tổng hội cư sĩ trong việc phụng sự đạo pháp ở nhiều mặt truyền bá chánh pháp, v.v…

Bên cạnh những người được kiến đạo vô ngã đang trên vận hành tu tập lấy việc phụng sự đạo pháp làm đề cương, tôn chỉ, thì cũng có một số đông chưa kiến đạo vô ngã đang phụng sự đạo pháp khác nhau. Vì do chưa được kiến đạo vô ngã, nên chi trong đối đãi với mọi người không có đức tính từ bi hiển lộ và thiếu sự hiểu biết về đạo Phật có con đường giải thoát bằng tâm vô ngã, do vậy ở các việc phụng sự đạo pháp không đúng chánh pháp do tâm vọng thức chấp ngã, chấp pháp, nếu không nói là hiểu lầm pháp môn, thật đáng tiếc.

Thật sự người Phật tử có học Phật theo cơ chế trường sở, lớp học… hay không trường sở, không lớp học… chỉ quyết tâm đọc qua kinh sách giảng luận Phật pháp, tâm sẽ kiến đạo ngay sau đó. Điển hình rõ nét qua nhiều thời gian tìm hiểu, khảo sát, phỏng vấn một số nam nữ Phật tử trẻ từ 20 tuổi trở lên 45 và các anh chị cao niên hiện đang có mặt tại các chùa gần và xa ở hải ngoại trong các buổi tu tập do các thầy hướng dẫn hay trong những buổi sinh hoạt bình thường, được thấy họ có dấu hiệu kiến đạo vô ngã qua trạng thái luôn tỉnh thức trong đi, đứng rất chững chạc, nói năng đàng hoàng có văn hóa, hành động đối đãi rất đạo tình vui vẻ chân thật với các bạn đạo một cách bình đẳng do có đức tính từ bi, nhiệt tình ủng hộ mọi việc phát triển Phật học trong các lãnh vực cho ra các CD, DVD, cassette, video và dịch thuật kinh điển do có trí tuệ hiểu biết qua nhiều năm, do vậy người viết bèn hỏi thử họ về cách tu tập, được họ trả lời giống nhau về các yếu tố căn bản sau đây mà họ đã và đang đeo đuổi trên bước đường tu tập suốt nhiều năm qua, đó là tinh thần ham học, chăm chỉ nghe các băng giảng Phật pháp, có giờ niệm Phật, thiền tọa, thường tham dự các khóa tu và giảng pháp của các thầy tại bất cứ nơi đâu, và điều quan trọng là phải đọc qua các kinh sách giảng luận Phật pháp là cách học hàm thụ Phật pháp. Nhờ đó mà tâm ý được mau hiểu rõ khế lý vô ngã ở phần nghe thêm băng giảng của các thầy giảng lúc tu học. Họ còn nói thêm một lời rất là Phật pháp: “Đọc sách Phật pháp được tỏ ngộ thêm lý nghĩa vô ngã, chính là do vị giáo sư trong tâm thức của mình giảng giải, đó là vô sư trí”. Từ đây cho ta thấy rằng, học Phật bằng tài liệu, kinh sách mới là chính, còn nghe giảng pháp chỉ là phụ

Tại quốc nội, vấn đề học Phật được xây dựng trên cơ chế có trường sở, lớp học, giáo sư, bài vở, thi cử, ra trường là điều tất yếu theo quy luật của tiến trình học vấn được tiến hành từ ngàn xưa đến nay không ngừng nghỉ. Riêng tại hải ngoại hiện nay vấn đề học Phật cho tăng ni và Phật tử theo cơ chế trường sở, lớp học… khó có thể tổ chức, mặc dù phương tiện có dư, nhưng thời giờ bị eo hẹp vì công việc mưu sinh chiếm hết thì giờ, do vậy mới có ra nhiều băng giảng Phật pháp để cho Phật tử vừa làm việc vừa nghe. Do đó tâm ý khó có thể tìm thấy đạo lý vô ngã trong các bài pháp vừa nghe qua, bởi vì mỗi bài pháp mà chư tăng giảng bằng nhiều cách, phương thức về đạo lý vô ngã, gọi là tùy duyên mà bất biến. Chứ bất cứ bài pháp nào chư tăng giảng đều đưa đến tâm vô ngã, không vị nào giảng hữu ngã, chấp ngã, chấp tướng bao giờ.

Tuy nhiên cũng có một vài nơi Phật tử học Phật, được các tăng bảo ở đó có tổ chức theo cơ chế trường sở, lớp học, bài vở Phật pháp, giáo sư giảng dạy, thi trắc nghiệm và đồng thời có thiền tọa, niệm Phật, sinh hoạt vui chơi ngoài trời, thăm viếng nhau, pháp đàm vấn đáp với nhau, v.v… chẳng hạn tại Thiền Viện Tánh Không, Thượng Tọa Thích Thông Triệt đã và đang mở các lớp học về Thiền, Bát Nhã và nhiều thứ kinh cùng với các đề tài Giáo Khoa Phật học như Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, v.v… cho Phật tử ai thích học Phật thì đến ghi danh.

Mỗi lớp học như vậy từ khi bắt đầu cho đến mãn khóa đều có pháp đàm vấn đáp để chia xẻ với nhau và sau đó có thi trắc nghiệm. Thời gian cho mỗi lớp, tùy theo đề tài mà có thời gian một tháng, ba tháng, sáu tháng … như khóa Bát Nhã phải trải qua hai thời kỳ, mỗi thời kỳ là sáu tháng vì triết lý Tánh Không vô ngã rất khó hiểu. Nhờ học Phật có cơ chế trường sở, lớp học, bài vở, thi cử như vậy mà hầu hết Phật tử đến học với thầy ai cũng được kiến đạo, và có nhiều Phật tử xin thầy cho xuất gia, còn lại có một đời sống rất là đạo hạnh.

Thêm một nơi nữa, đó là tại Tổng Hội Cư Sĩ Phật Giáo, Hòa Thượng Thích Huyền Dung đang dạy cho Phật tử về Thiền, Tịnh Độ, các đề tài Giáo Khoa Phật Học, tất cả Phật tử học Phật tại Tổng Hội Cư Sĩ đều được Hòa Thượng Thích Huyền Dung phát cho bài học qua những trang giấy để nhìn vào đó khi nghe giảng và nghiên cứu thêm sau giờ học. Nhờ đó mà số lượng Phật tử tại Tổng Hội càng lúc càng tăng thêm, các Phật tử đều hanh thông khế lý rõ nét nên mọi người có một đời sống rất là đạo hạnh do tâm có kiến đạo. Năng lực kiến đạo là bước chân đang tiến tới đạt đạo lý vô ngã, như đi đến đoạn đường dài, phải do bước chân đầu tiên.

Những nơi khác, vấn đề học Phật của hàng Phật tử chỉ có nghe giảng, không được tổ chức theo cơ chế nói trên, nhưng bên cạnh đó có nhiều sách giảng luận để cho Phật tử thỉnh về mà đọc để học hỏi thêm được chư tôn đức sau khi nói pháp xong đều có lời khuyên Phật tử nên đọc thêm sách. Như các Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Hòa Thượng Thích Nhất Hạnh, Thượng Tọa Thích Hằng Trường, Đại Đức Thích Tâm Thiện, v.v… đều có sách bên cạnh băng giảng các CD, DVD, cassette, video và kể cả trên Web để cho hàng Phật tử đọc mà được hiểu rõ hơn là nghe lời giảng. Chẳng hạn Đại Đức Thích Tâm Thiện có trả lời cho một nam Phật tử về Tánh Không của Bát Nhã rằng, thì giờ eo hẹp, mà câu hỏi đó phải mất thời gian ít nhất là nửa tiếng mới có thể thấy được một tí thôi, thấy được toàn khế lý Tánh Không của Bát Nhã phải trải qua nhiều giờ, vậy muốn được hiểu, nên mở Webside của thầy và đọc trong đó sẽ được hiểu.

Như thế vấn đề học Phật của hàng Phật tử trong thời mạc pháp được đặt trên cơ sở sách vở, tài liệu giảng luận Phật pháp chứ không phải chỉ nghe, đúng như Đức Thế Tôn đã gợi ý trước về quả vị Bích Chi Phật (Duyên Giác, Độc Giác) và sao chép kinh điển, khuyên người khác cùng sao chép kinh điển như mình. Do vậy một số Phật tử đã hiểu ý của Đức Thế Tôn, nên chi vừa nghe pháp trong các CD, DVD, cassette, tại đạo tràng tu học, vừa đọc thêm sách giảng luận Phật pháp mới có thể mau kiến đạo, bởi vì căn cơ của chúng sinh trong thời Phật tại thế có đại túc duyên thiện nghiệp, còn chúng sinh trong thời mạc pháp có túc duyên thiện nghiệp quá mỏng, vô minh dày đặc, khó có thể kiến đạo do nghe, phải đọc sách vở giảng luận Phật pháp thì mới có thể kiến đạo, hành đạo và đạt đạo.

Qua kinh nghiệm hiện thực ở người đọc sách Phật pháp mà đạt đạo vô ngã tánh không, đó là Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ và Thượng Tọa Thích Trí Siêu Lê Mạnh Thát và nhiều vị khác nữa. Điều đó được chư tôn giáo phẩm trong các giáo hội công nhận từ sau 1975 đến nay. Chính Thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ đã nói với người viết là, thầy đang làm con mọt sách.

Chư tăng ni và cư sĩ Phật giáo Việt Nam trong quá  khứ và hôm nay học Phật hoàn toàn ở kinh điển, sách vở, tài liệu Phật học. Nhờ đó mà được kiến đạo, hành đạo đúng đắn không sai chánh pháp. Cho nên nói đến học Phật được có giá trị cao ở phẩm và lượng là phải nói đến kinh sách Phật pháp, chứ không ai nói đến các băng giảng CD, DVD, cassette, video. Cũng như nói đến Tam Tạng Kinh, Luật, Luận của Đạo Phật, là phải nói đến hàng trăm ngàn quyển Kinh, Luật, Luận được dịch ra và luận giảng, chú thích trên trang giấy, chứ không ai nói đến các CD, DVD, cassette, video bao giờ!

Những nhà học Phật trên thế giới được thấy Đạo Phật là con đường giải thoát, là đạo từ bi cứu khổ chúng sinh, là đạo hòa bình cho nhân loại, là học thuyết về vũ trụ nhân sinh rất khoa học, thực nghiệm… là do nghiên cứu qua kinh điển, sách vở Phật học, chứ không ai nghiên cứu qua CD, DVD, cassette, video bao giờ!

 

 

 

PHẬT TÁNH

 

Đức Phật có nói một cách khẳng định: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” (Nhứt thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh).

Đức Phật là bậc đại giác, cha lành của muôn loài chúng sinh, có đủ phước trí vẹn toàn, lời Phật nói tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, là một chơn ngôn chắc thực không sai!

Như vậy Phật tánh trong tâm chúng sinh nói chung, con người nói riêng được hiển lộ hay luôn ẩn tàng sâu kín trong tâm thức? Có hiển lộ và cũng có ẩn tàng sâu kín.

Trường hợp nào được hiển lộ, trường hợp nào không hiển lộ?

Phật tánh được hiển lộ ở trạng thái tỉnh thức, trang nghiêm vô ngã, không trụ tướng, trụ pháp của các hành giả xuất thế gian.

Phật tánh chưa hiển lộ, chứ không phải không hiển lộ, tức là bị ẩn tàng sâu kín dưới các tầng lớp chủng tử ô nhiễm qua trạng thái hữu ngã còn chấp ngã trụ tướng, chấp pháp trụ pháp của các hành giả chưa được xuất thế gian.

Qua hai hiện tượng Phật tánh hiện và chưa hiện nói trên, được gọi một bên thiện, một bên ác. Hay nói khác hơn Phật tánh và chúng sinh tánh. Phật tánh chỉ có một, còn chúng sinh tánh thì nhiều tánh, tánh trời, người, Atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Mỗi tánh của chúng sinh như vậy lại sinh sản ra nhiều tánh khác nhau nữa. Cả hai Phật tánh và chúng sinh tánh đều có cái giác (biết) trong đó. Giác về phía Phật tánh là trí giác nên gọi là linh giác, linh tri. Giác về phía chúng sinh tánh gọi là thức (biết), đây là cái biết do tâm khởi xúc và thân tiếp xúc với các sắc ngoại cảnh, nên gọi là cái biết theo bản năng sinh tồn. Cội gốc của sự biết theo bản năng chính là do bốn thứ thọ, tưởng, hành, thức tương duyên tác động nhau mà có biết, trong đó thức là chủ tể của hành mà sinh ra các tánh tham đắm, dục lạc, sân si, vọng động và mọi thứ ngã… đúng theo bản chất của thức là mê, do vậy mới gọi sự biết theo bản năng là giác hồn, sinh hồn, linh hồn. Sau khi bản thân chúng sinh chết đi, những thứ thọ, tưởng, hành, thức và ba hồn không còn. Duy chỉ còn lại Phật tánh ra đi. Đi trong thanh thoát hay buồn tênh ủ dột, là do tổng thể quả báo nghiệp của con người vốn tạo ở quá  khứ có tri giác hay không. Nếu có tri giác, Phật tánh ra đi có tên Bạch tỉnh thức. Nếu không có tri giác, Phật tánh ra đi có tên Thức A Lại Da (Hãy tìm hiểu Thức A Lại Da trong Duy Thức Luận).

Những thứ tánh mê hay nói rõ hơn ba thứ hồn đều có trong bản thân chúng sinh trên đường mưu sinh sống còn, cũng là do xuất phát từ Phật tánh nằm sâu dưới các tầng lớp vô minh ác trược trong tâm chúng sinh mà xúc tác giúp cho sự sống có biết. Gọi sự sống có biết say đắm dục lạc của chúng sinh bằng cụm từ: “Tâm sinh diệt về phần lưu chuyển sinh tử”. Hay nói cách khác, thức A Lại Da vô mình là cụm từ được Lăng Già chế tác ra để biểu thị cho Phật tánh bị khối vô minh bao phủ, chế ngự dẫn dắt qua sáu nẻo luân hồi, nhưng vẫn biết, cái biết ở phía sau thức A Lại Da, tức là sau màn vô minh. Cho nên thức A Lại Da là tổng thể hợp chủng của những chủng tử ô nhiễm trong bản thân chúng sinh, nó là chủ tể của cái biết ở mọi hiện tượng sinh, vật lý được nhận thức từ sự sinh hoạt thường nghiệm của nó, không thể phủ nhận vì nó là chủ thể của sự sống đầy ái dục khi 5 thức trước con người duyên với mọi sắc trần, gọi đó là tùy nhiễm duyên, chỉ là khách trần tạm trú trong căn nhà tâm linh, chỉ là những bụi trần dính gương, không phải người thật.

Phật tánh có trong nội thức con người, mới đích thực chính tông người thật của con người, vì Phật tánh không sinh diệt, không luân hồi. Sở dĩ bị luân hồi sinh tử là do để cho những khách trần vô minh, phiền não vào ngự trị trong căn nhà linh tri, linh giác (Phật tánh) của ta.

Vì thế con người đến với Đạo Phật không gì khác hơn, là muốn học Phật để biết nhiều cách đuổi hết khách trần phiền não, vô minh ra khỏi căn nhà Phật tánh của mình, chừng đó Phật tánh của mình được hiển lộ ra một cách thênh thang bay bổng về hướng mà ta đã định, đó là hướng Tây phương cực lạc, Niết Bàn, là cõi vô sinh, vô tử, vô luân hồi.

Phật tánh còn gọi là Như Lai tạng, là bản lai diện mục vốn có trong tâm muôn loài hữu tình chúng sinh từ vô thủy vô chung không bao giờ mất, là nền tảng cơ bản kiến tạo sinh mệnh chúng sinh trong các cõi có sự sống, dù là cõi hữu sắc hay vô sắc vẫn có sự sống, sống có biết chơn hay vọng. Do vậy không có Phật tánh, chúng sinh không có, không có các thế giới chúng sinh, không có thế giới chư Phật và không có vạn hữu. Ngược lại, có Phật tánh là có tất cả, tất cả có, có biết khác nhau.

Biết của chúng sinh trong các thế giới vô sắc, vô hình bằng tâm thức, còn biết của chúng sinh thế giới hữu hình bằng tâm thức và 5 cảm quan hữu xúc như con người và muôn loài hữu tình chúng sinh tại trái đất này là cái biết có cả tri và giác tương quan nhau do Phật tánh mà có, dù cái thấy biết ấy ở góc độ chân hay vọng, một cách bình đẳng giống như cái tánh của gương là sáng, nên sắc nào đối trước nó cũng được nó chiếu vào không phân biệt sắc tốt mới chiếu, sắc xấu thì không. Tánh thấy của mắt cũng như vậy, nhắm lại thấy tối, mở ra thấy sáng. Sáng tối có khác, nhưng tánh thấy chỉ có một. Dù cái thấy ấy lúc 5 tuổi thấy chùa có vẻ to lớn vời vợi, lúc 22 tuổi thấy chùa là cõi thơ mộng, lúc 70 tuổi thấy chùa buồn tênh đầy rêu phong. Sự thấy đó qua từng giai đoạn có khác nhau do tướng trạng bị biến dịch và tâm vọng, nhưng cái thấy lúc 5 tuổi, 22 tuổi và 70 tuổi vẫn là cái thấy nhất như bình đẳng. Tất cả chúng sinh đều có cái thấy nhất như bình đẳng này, đó là Phật tánh, tánh tri giác (thấy biết) bình đẳng. Nó không lệ thuộc xác thân, ngoại cảnh, bất di bất dịch nằm im trong thân chúng sinh lúc trẻ, khi già… không do vì thân trẻ, già mà tánh tri giác có tối, có sáng, cảnh vật biến dịch, thay đổi hình thể vật này qua vật khác! Mà là do sinh lý và tâm lý chúng sinh khởi vọng tưởng, biến kế sở chấp. Cho nên chúng sinh bị trôi lăn trong 6 cõi sinh tử, chịu nhiều khổ đau, là do vô minh quấy động, khởi lên nhiều ý niệm ái dục, tham sân, vọng tưởng… Nói như Duy thức học là y tha khởi tánh, biến kế sở chấp, đều là  pháp hư vọng vô tánh, chứ không phải do Phật tánh có hư vọng. Điều đó đức Phật đã nhấn mạnh: “Không có tự ngã lấy gì sinh tử”. Cho nên Phật tánh (Như lai tạng) không phải là ngã, không phải là chúng sinh. Mặc dù Phật tánh bị thức A Lại Da vô minh nhận chìm rồi mang đi khắp các cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới, giống như hạt kim cương sáng ngời bị con người gói trong miếng vải dơ nhớp hôi thối, mà tánh cứng cõi và trong sáng không mất. Khi miếng vải dơ được vất đi, thì hạt kim cương vẫn là kim cương sáng chói như thuở nào. Tức là lục đạo chúng sinh trong tâm chúng sinh được tiêu trừ bằng pháp môn giải thoát của đạo Phật, thì Phật tánh hiển lộ. Gọi sự hiển lộ Phật tánh này bằng cụm từ “Tâm sinh diệt về phần hoàn tịnh”, hay là Tuỳ Tịnh Duyên. Nếu không nói đây là đại tuệ bình đẳng, tức là Phật tánh hoàn nguyên bản lai diện mục, là lúc Phật tánh lột xác vô minh bởi chất liệu Phật pháp làm xúc tác, sau khi tâm chúng sinh nhận thức được, ngộ nhập được cái thực tướng bình đẳng vô tướng của mình và vạn hữu.

 

 

 

 

 

 

 

PHÁP MÔN DỄ TU

 

Lời Phật nói: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh” (Nhứt thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh), “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Trong kinh Pháp Hoa đức Phật khẳng định rằng tâm chúng sinh có Phật tánh, hễ tu tập giáo pháp Phật sẽ thành Phật, thì tâm đó là Phật, tâm đó thành Phật, không có tâm nào khác hơn. Bồ Tát Thường Bất Khinh đã hiểu thấu lý nghĩa ấy trong kinh Pháp Hoa, nên ngài chọn pháp tu “luôn luôn đừng khinh người” vì mọi người ai cũng có Phật tánh, thì nhất định sẽ được thành Phật qua con đường tu tập Phật pháp. Do vậy ngài Thường Bất Khinh đi tìm gặp bất cứ người giàu, nghèo, sang, hèn, bình dân, trí thức, vua, quan, ăn xin, v.v… đều chấp tay cung kính mà nói rằng: “Tôi không dám khinh ngài, vì ngài sẽ thành Phật”. Trong lúc Bồ Tát Thường Bất Khinh làm việc ấy, có ba hạng người: một số hoan hỷ, vì cho là lời chúc tụng đó có giá trị cao nhất, có người dửng dưng vì không hiểu ý ngài nói gì, có người nổi sân si liền dùng lời xua đuổi, chửi mắng, đánh đập ngài, cho rằng ngài chọc tức mình, là không thể thành Phật mà nói mình sẽ thành Phật. Vậy mà ngài vẫn kiên nhẫn, tinh tấn giữ thái độ an nhiên, bình thản không nao núng, không giận hờn, thối chí, cứ tiếp tục đi chúc tụng mọi người sẽ thành Phật với lời nói và hành động kính cẩn như thường.

Sở dĩ Bồ Tát Thường Bất Khinh tu hạnh “luôn luôn đừng khinh người” qua lời chúc tụng mọi người sẽ thành Phật như vậy, là do ngài đã thấu hiểu lời Phật nói không thể sai, nên rất tin tưởng tất cả chúng sinh sẽ thành Phật.

Phật tánh đều có trong nội thức của tất cả mọi giai cấp chúng sinh giàu, nghèo, sang, hèn, bình dân, trí thức, vua, quan… đều có, giống như nước có trong tất cả ao, hồ, sông, lạch, mương… Mà thể tánh của nước là bốc hơi bởi ánh nắng mặt trời chiếu rọi vào lúc sáng, trưa, xế, chiều. Cho nên nước dơ, sạch, trong, đục nơi ao, hồ, mương, sông, lạch, đều được bốc hơi bởi ánh nắng mặt trời chiếu rọi vào. Từ đây cho ta thấy mặt trời được biểu tượng cho giáo pháp Phật là năng lực làm cho Phật tánh chúng sinh được vùng lên, phát triển từ dưới đáy vô minh dày đặc trong nội thức của tất cả chúng sinh ở mọi giai cấp xã hội nếu quyết tâm tu tập sẽ thành Phật giải thoát sinh tử.

Nói khác hơn, khi Phật tánh còn ẩn tàng nơi con người giàu, nghèo, sang hèn, bình dân, trí thức… nhưng khi con người trong những giai cấp ấy tu tập Phật pháp đúng cách, Phật tánh hiển lộ ra đồng một thể tánh trong sáng như kim cương. Cũng giống như nước dơ, sạch, trong, đục trong các ao, hồ, sông, rạch, mương, khi được bốc hơi bởi ánh nắng mặt trời, thì cùng một thể tánh hơi tinh khiết không dơ, không sạch, không trong, đục. Do vậy, ao, hồ, sông, lạch, mương, được biểu thị cho con người ở mọi giai cấp, trong các nơi ấy đều có thứ nước dơ, sạch, trong, đục… Còn nước được biểu thị cho Phật tánh không dơ, đục, nhưng bị đục, dơ là do các chất đục, dơ mà có.

Thể tánh của nước là luôn luôn tương dung hòa hợp với nhau không chống trái nhau, do vậy được biểu thị cho con người có Phật tánh hiển lộ trong tâm thì luôn luôn hòa hợp đoàn kết không chống trái với nhau như nước với nước, dù ở đâu sông ngòi, ao, hồ, mương, lạch… dơ, sạch, đục, trong, đều tìm ra biển cả.

Cũng như vậy, tất cả Phật tử trong mọi giai cấp ở nhiều nơi khác nhau giữa xã hội đều cùng một ý niệm là tìm về biển cả giác ngộ đạo lý vô ngã, từ đó đều cùng về Cực Lạc, Niết Bàn. Như thế không thể có ánh mắt ba đường ác nhìn nhau, lời nói ba đường ác nói với nhau, tâm ba đường ác nghĩ thầm về nhau, vì đó là chất ô nhiễm sẽ làm tiêu mất tâm thanh tịnh của mình và kể cả của người, như thể lửa bị nước tưới vào thì lửa tắt, lửa được nói ở đây là lửa tam muội tức là tâm có định lực. Còn nước ở đây là nước bị nhiều chất dơ, tức là Phật tánh (Như Lai tạng) bị vô minh bao phủ được Lăng già thay vào đó bằng cụm từ A Lại Da Thức. Khi nào A Lại Da Thức hết vô minh được gọi là Bạch tỉnh thức. Tức là Phật tánh hết vô minh được gọi là Bạch tỉnh thức, là Tánh không vô ngã.

Mục đích người Phật tử có mặt tại chùa là tiếp nhận giáo pháp để tu được có tâm vô ngã là con đường giải thoát sinh tử. Trong tất cả pháp tu, pháp đừng khinh người là dễ tu nhất, được Phật giới thiệu qua Bồ Tát Thường Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa, là bộ kinh mang tư tưởng đại thừa cao nhất. Ấy thế vậy mà kinh Pháp Hoa chỉ cho con đường thành Phật thật đơn giản như đem lời ca tụng mọi người sẽ được thành Phật như đã nói ở Bồ Tát Thường Bất Khinh và nếu người có tâm tán loạn đi vào trong tháp Phật niệm một lần “Nam mô Phật”, hay trẻ con chơi cát đắp thành tháp Phật cũng sẽ thành Phật.

Trong tất cả pháp dễ tu mà Phật nói ở kinh Pháp Hoa, thì pháp “đừng khinh người” dễ thành hơn, vì pháp đó có năng lực phá vỡ bản ngã, mà con đường giải thoát của đạo Phật là tâm vô ngã. Nơi chốn tu tập để phá vỡ bản ngã chấp tướng, chấp pháp, chỉ có nơi chùa và xã hội là hữu hiệu nhất, vì cả hai nơi đó là cây thước để đo lường tâm thức mình Phật tánh đang ở mức độ nào, ba đường ác đang có ở mức độ nào. Do vậy mà Bồ Tát Thường Bất Khinh chọn pháp tu “không khinh người” ở giữa xã hội trường đời, quả là ngài có nhận thức rất cao.

Với hàng Phật tử ngày nay không ai có đủ can đảm chấp tay cung kính trước mọi người mà nói “Tôi không dám khinh anh, chị, ông bà… vì anh, chị, ông bà sẽ thành Phật.”

Không làm được điều ấy như Bồ Tát Thường Bất Khinh, thì ít ra nói lời nói thân thương với nhau, nhìn mọi người bằng mắt Phật, nghĩ đến mọi người bằng tâm Phật, đối đãi nhau bằng trạng thái tôn trọng và thân thiện tình đạo một cách chân thật không giả vờ. Đó là cách tu theo các pháp từ bi, lân mẫn qua đôi mắt Phật nhìn nhau, hành động Phật đối đãi nhau được tương đương với pháp tu Thường Bất Khinh (luôn luôn đừng khởi tâm khinh người).

 

Pháp môn tu Thường Bất Khinh, là một pháp tu rất dễ, rất đơn giản, mà năng lượng rất cao trên cơ sở phá trừ được tâm chấp ngã, chấp pháp. Nhưng đa số hàng Phật tử chúng ta, thật sự chưa có ai tu được pháp môn Thường Bất Khinh đối với mọi người. Tuy nhiên cũng có một số người đã và đang thực hành được, là do tâm đã thấy được đạo lý vô thường, vô ngã, là động cơ thúc đẩy thân tâm họ đi thực hành pháp môn tu Thường Bất Khinh, gọi là đi góp nhặt những hạt Bồ Đề vô ngã kết thành xâu chuỗi giải thoát.

Phải nói rằng pháp môn Thường Bất Khinh là pháp tu để tự mình chặt đứt những sợi dây kết oán ở trong tâm mình và đồng thời cũng mở những sợi dây kết oán ở những người khác trong đạo hay ngoài đời mà mình đã từng kết oán giữa họ với mình trước đây bằng lời nói và hành động không phải là đạo Phật, đạo người (nhân đạo). (Để rõ thêm ý nghĩa kết oán, xin đọc bài “kết oán và giải oán” ở những trang sau).

 

 

 

TÌNH ĐẠO

 

ĐẠO ở đây là chân lý, lẽ phải, tâm vô ngã, giác ngộ, trí tuệ bình đẳng, con đường giải thoát sinh tử. Gọi tất cả những cụm từ trên là đạo Phật. Cho nên Tình Đạo được nói ở đây là tình người có đạo Phật hiện hữu trong tâm hay còn gọi là tình xuất thế gian, vì tâm xa rời 3 đường ác, bỏ dần mê muội, đang tiến đến bờ giác.

Con người có tình đạo Phật, thường gọi là bậc chân nhân, trí thức Phật giáo, cũng gọi là hành giả kiến đạo, do qua quá trình học Phật và tu tập để tìm con đường giải thoát. Sau khi thấy đạo rồi, hành giả tu tập theo dấu đạo. Trong thời gian tu theo dấu đạo, tâm thức hành giả được nảy nở ra những bông hoa từ bi, trí tuệ gọi là Bồ Đề tâm phát triển. Sự phát triển Bồ Đề tâm theo định hướng tự giác từng phần. Giữa thời gian tự giác từng phần này, hành giả đã có khởi tâm lân mẫn, chiếu cố đến các bạn đạo của mình trong việc chăm sóc đời sống tinh thần trên cơ sở thăm hỏi sức khoẻ, nhắc nhở tu học, phụng sự đạo pháp đúng chánh pháp, v.v… Cho nên nói đến con người có tình đạo Phật giáo, là nói đến các hàng Bồ Tát đang hành Bồ Tát đạo rất là đa dạng được mọi người nhận thức qua nhiều tư tưởng sau đây:

- Người đem giáo pháp giải thoát đến cho ta, không những chỉ có tăng xuất gia, mà có tăng tại gia nữa, đó là những con người có tình đạo Phật, gọi là thiện hữu trí thức.

- Tâm có tình đạo Phật được tương đương với pháp Thường Bất Khinh. Bởi vì tâm con người có tình đạo Phật không bao giờ khinh người, luôn tôn kính nhau, sống lục hòa với nhau là những hành giả hòa bình của nhân loại.

- Tâm có tình đạo Phật chính là có bản chất văn hóa nhân bản và Phật giáo tương dung mà có ra lời thơ, khúc nhạc quê hương, đạo tình, thiền vị làm cho đời, đạo được vui.

- Người có tâm tình đạo Phật luôn có đời sống lục hòa, thương yêu bạn đạo, hy sinh đời mình cho Đạo Pháp ở mọi mặt trên cơ sở duy trì và phát triển dòng suối chánh pháp luôn tuôn chảy vào thế gian.

- Nói đến hai chữ “Phật tử”, người ta nghĩ ngay người nam, nữ Phật tử đó có tâm tình đạo Phật, bậc chân nhân, trí thức Phật giáo, Bồ Tát.

- Người có tâm tình đạo Phật đích thực luôn luôn được thành công ở các việc đạo, đời đến 80% mức độ có phẩm lượng do nhiều người đồng tình ủng hộ.

- Người có tâm tình đạo Phật sống cuộc đời giản dị, thanh tao dù cho có nhiều vật chất, vẫn an bần lạc đạo, xa lìa mọi thứ sắc tham ái.

- Người có tâm tình đạo Phật, hành xử với chúng sinh bằng tánh tri giác của mình, chứ không phải bằng bản năng của giác hồn, sinh hồn.

- Người có tâm tình đạo Phật luôn luôn thấy biết chúng sinh ở bất cứ mọi nơi gần xa, có hay không có 3 đường thiện, đường ác. Chúng sinh trong hai lãnh vực thiện ác thường tương quan nhau ở góc độ thiện ác, tức là thiện gặp thiện, ác gặp ác, như nước với nước, lửa với lửa. Bản chất của lửa thì hừng hực nóng rát, có năng lực cháy rụi các vật thể thành tro, bụi, dương cao ngọn khói đen như mực tàu. Còn bản thể của nước thì lỏng, luôn mang tính mát rượi, tuôn chảy vào lòng đất, vào vạn vật trên mặt đất, rồi tìm đường ra biển cả một cách lặng lẻ. Nhưng vẫn bị bốc hơi bởi ánh nắng mặt trời. Hơi của nước màu trắng mỏng manh, dịu dàng, chầm chậm vươn lên không trung, kết tụ lại thành mây, rồi làm mưa xuống cõi trần. Muôn loài hữu tình chúng sinh và cây cỏ trên mặt đất được sống còn là nhờ nước, trong uống, ngoài tắm mát, rửa sạch bụi trần, vết dơ… Hạng người có tâm tình đạo Phật được ví như nước, như hơi nước vậy. Bởi vì trong con người của họ luôn có tánh tri giác được hiển lộ ra trạng thái tỉnh thức rõ nét trang nghiêm, khiêm cung, dịu dàng, thanh thoát, chững chạc, từ tốn, đạo đức, hiền hòa và lời nói khả ái có chứa đựng pháp âm giải thoát thường nhựt trong đối đãi với nhiều hạng người, không phân biệt giai cấp đạo, đời.

- Người có tâm tình đạo Phật, tâm họ dứt khoát không còn sợi dây kết oán với mọi người, cho nên đôi chân của họ là đôi chân của Từ Bi, đôi tay của họ là phước trí của Bồ Tát chưa phải là Phật, vì đang ở cấp độ Bồ Tát sơ địa, nhị, tam, tứ… đến thập địa trên vận hành thực hành Bồ Tát đạo được thấy rõ nét qua trạng thái thân thiện, lân mẫn bên cạnh các bạn đạo có tâm tình đạo Phật như mình với tay trong tay, vai kề vai với cái nhìn của đôi mắt Quán Thế Âm, lời nói hỷ xả chân tình của Bồ Tát Phổ Hiền và nụ cười Di Lặc trong các việc từ thiện phụng sự chúng sinh và Đạo Pháp.

- Người có tâm tình đạo Phật, tâm họ luôn luôn tư duy về vận mệnh sống còn của dân tộc và Đạo Pháp khi thịnh vượng, lúc suy vong. Trong thời thịnh, họ vừa chuyên lo duy trì và phát triển đạo lý, văn hóa dân tộc và Đạo Pháp, lại vừa kiết thất tu niệm dịch kinh điển, sáng tác văn, thơ, khảo cứu sử học dân tộc và Phật giáo để lại cho các thế hệ mai sau được thấy rõ sắc thái văn hóa dân tộc và Phật giáo ở quá khứ, thời đại của cha ông như thế nào.

Trong thời suy, họ bước ra am thiền nhập cuộc cách mạng với người dân cả nước trong việc đánh đuổi ngoại xâm để giành lại độc lập cho quê hương dân tộc, như Trần Thái Tông, Lý Thường Kiệt, Hưng Đạo Vương, Quang Trung Nguyễn Huệ, v.v… và nhiều vị anh hùng dân tộc trong quá  khứ gần đây đã làm nhiều cuộc cách mạng cứu nguy dân tộc và Đạo Pháp Việt Nam.

Không những ở quá  khứ, ngay thực tại ở bất cứ nơi đâu mà bản thân Đạo Phật dù trong tập thể Phật giáo lớn hay nhỏ đang bị biến động gây chia rẻ… thì những người có tâm tình đạo Phật liền dấn thân tìm phương pháp cứu vãn để đem lại an bình.

 

Hành động và ngôn ngữ của hàng Phật tử có “Tâm Tình Đạo Phật” trong đối đãi rất nhiều và đa dạng, không kể hết được. Mỗi người Phật tử chúng ta, ắt hẳn ai cũng có thể thấy “người có tâm tình đạo Phật, hay không có tâm tình đạo Phật”. Họ ở ngay trước mặt và bên cạnh ta giữa xã hội và trong tập thể Phật giáo.

 

 

 

 

 

 

 

CON NGƯỜI THẬT CỦA CON NGƯỜI

 

Con người thật của con người, đó là cái tâm. Tâm còn gọi là Ý. Bản thân máu thịt con người không có tâm ý hiện hữu trong đó, thì chỉ là một khối thịt vô tri, vô xúc, gọi đó là chết. Ngược lại là sống khi tâm ý hiện hữu bên trong thân người, nên tâm ý gọi là đà sống của con người. Từ chỗ này cho ta  hiểu thêm chữ sống là biết. Nói theo ngôn ngữ Trung Hoa là Thức, tức là biết. Cho nên tính chất của Tâm Ý  là nhận biết, dù cho bản thân con người đang còn tươi tốt hay bất động tan rả, cái biết của Tâm Ý vẫn còn, không mất. Do vậy, chữ Tâm Ý được đi cùng với chữ Thức, gọi là Tâm Thức, Ý Thức.

Tính chất biết của Tâm Ý được ở hai trường hợp: Một là thanh tịnh trong sáng, hai là ô nhiễm đen tối thường gọi là Tâm vô minh.

Tâm thanh tịnh trong sáng của chúng sinh, được đức Phật xác định đó là Phật tánh, là Như Lai tạng, đúng như lời Phật nối: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Phật tánh là tánh thường hằng thanh tịnh, vắng lặng tuyệt đối, nên không sanh không diệt, không luân hồi. Nhưng sở dĩ chúng sanh bị sinh tử luân hồi là do bị vô minh, chất ô nhiễm bao phủ Phật tánh. Tâm Ý bị ô nhiễm, vô minh bao phủ dày đặc đen tối đó, được Lăng Già thay vào bằng cụm từ Thức A-Lại-Da để biểu thị cho cái Tâm Ý con người bị mất tánh trong sáng, bị vọng động, bị ô nhiễm. Cho nên con người thật của con người, một là con người có tâm Phật thật sự, hai là con người có tâm Atula, ngạ quỷ, súc sanh thật sự.

Con người có tâm Phật thật, đó là tâm vô ngã, không còn vọng động, không còn mọi ý niệm cực đoan, không cố chấp, không nghi ngờ, không bực tức vì lời chê, không vui sướng được nghe lời khen, vân vân…

Nói rõ hơn, người có tâm Phật thật không còn chứa đựng những thứ vô minh phiền não trong tâm, luôn luôn đuổi những thứ khách trần đó ra khỏi ngôi nhà tâm linh Như Lai của mình. Ai mà còn chất chứa những thứ khách trần ô nhiễm đó trong lòng, chưa phải là người Phật tử.

Người có tâm Phật thật, nhất định trên vận hành tu tập đều tự giác đưa tâm mình an trú trong chánh niệm, tỉnh thức một cách thường trực không gián đoạn, không cần ai nhắc nhỡ, dù ở hoàn cảnh đầy hạnh phúc hay bị nhiêu khê, tâm vẫn không bị mất tánh giác, tỉnh thức. Nói như duy thức học, tính chất của A Lại Da là hằng chuyển chứ không bất động như sỏi đá. Hằng là không gián đoạn. Chuyển là biến chuyển không ngừng. Tuy biến chuyển như vậy, thức A Lại Da vẫn luôn luôn là một dòng sinh hoạt linh động liên tục. Vừa liên tục, vừa thay đổi, đó là sức sống của muôn loài hữu tình nói chung, sức sống con người nói riêng. Sức sống ở đây chính là sức sống của Tâm Ý. Sức sống của Tâm Ý trong bản thân máu thịt con người hiện tại như thế nào, qua bên kia cõi chết, nó như thế ấy, không khác, đúng theo quy luật: tất cả nghiệp nhân thiện, ác của đời này là quả báo nghiệp của đời sau.

Nói một cách khác, con người hiện tại có tâm ý Phật thật là năng lực thác sinh vào các cõi Phật. Tâm ý có tánh trời thật, người thật, Atula, địa ngục, ngả quỷ, súc sanh thật sẽ bị thác sinh vào các cõi ấy sau khi chết.

Tất cả tâm tánh thật của con người nói trên, tánh nào nhiều nhất có trọng lượng cao nhất, nó nổi lên trên, nó đè bẹp các tánh khác nằm dưới đáy kho tàng A Lại Da hay bị tống khứ ra ngoài do tính chất của A Lại Da là hằng chuyển. Cho nên tâm vô thường, luôn thay đổi. Tâm của phút trước khác với tâm của phút sau. Phút trước là Phật, phút sau là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Ngược lại, cứ như thế mà xoay vần luân hồi. Chỉ trong một vài phút hiện tại thôi, tâm con người bị trôi lăn vào 6 cõi chúng sinh.

Nhờ tính chất của tâm luôn vô thường biến chuyển không gián đoạn đó, mà người Phật tử có thể sử dụng tâm ý của mình, làm chủ tâm mình, bắt  nó phải vừa thải hồi những chủng tử ô nhiễm xấu ác ra khỏi tâm thức, vừa ngăn ngừa không cho các chủng tử xấu ác ô nhiễm sẵn có trong tâm tái hiện hành trổi dậy. Cũng như vừa tiếp tục cho vào tâm thức những chủng tử thanh tịnh trong sáng. Cứ như thế mà thực hành một cách thường xuyên. Thì nhất định, một giờ nào đó, ngày nào đó, tâm quý vị sẽ bừng tỉnh giác ngộ. Từ đó, con người chúng ta là con người Phật thật. Không Phật, cũng Bồ Tát. Không Bồ Tát cũng Thanh Văn, Duyên Giác. Không Thanh Văn, Duyên Giác, cũng Trời, Người.

Thật sự, nếu chúng ta quyết tâm thực hành đúng đắn những phương pháp vừa trình bày để chuyển hóa tâm vô minh, ô nhiễm của ta thành thanh tịnh, trong sáng suốt trên vận hành của đời sống thực tại hôm nay, chúng ta được có ngay con người Phật thật rồi. Có ngay Phật thật trong tâm trong lúc còn sống mới là quan trọng. Bởi vì quả báo hiện tại của kiếp này sẽ là quả báo của đời sau. Cho nên chư Tổ mới nói: Tự tánh Di Đà có ngay trong tâm khi đang niệm Phật tu Tịnh Độ, đúng với câu “Cực Lạc là đây, không đâu xa”. Tịnh Độ có ngay trong Ta Bà. Tịnh Độ có ngay trong thế gian. Tịnh Độ có ngay trong lòng ta. Niết Bàn có ngay trong tâm ta khi tâm ta hết vọng động. Hay nói khác hơn “Vô ngã là Niết Bàn”, chính là lúc những ô nhiễm, vô minh phiền não trong tâm chúng ta đã và đang tuần tự bị rục rả lặn chìm, bị ra khỏi ngôi nhà tâm linh do chúng ta quyết tâm tống khứ chúng, vì chúng là những khách trần phàm tục ở đậu. Cho nên đã đến lúc cần phải đuổi hết chúng ra khỏi ngôi nhà tâm linh của ta. Chẳng những đuổi hết ra, mà còn ngăn chặn, không tiếp rước khách trần mới nữa vào nhà, dù cho khách trần đó cao thượng, trân quý đến đâu, vẫn không tiếp vào. Nếu không nói đây là thời điểm kiết thất, Phật thất trong tâm một cách thường xuyên không hạn định suốt trên vận hành quyết tâm buông xả tất cả vô minh, phiền não, ác trược, ngã mạn ra khỏi tâm thức. Nói rõ hơn, Phật tử chúng ta ai là người đang tu học, thực tập Phật pháp cho việc giải thoát sinh tử ở mai sau, không thể không kiết thất Phật thất trong tâm một cách thường xuyên. Tức là tâm Phật thất chứ không phải bản thân Phật thất, cho nên mặc dù bản thân hiện hữu giữa cõi đời thực tại đầy muôn mặt ô trược cho việc mưu sinh cuộc sống và hiện hữu ở ngoại điện thiền môn đầy thị phi phiền não cho việc tu tập Phật pháp. Nhưng tâm ta không bị lay động, không phân biệt, không cắt xén, không khái niệm, không nói thầm, không định danh, không dán nhãn đối tượng, luôn luôn an định tỉnh thức. Tâm an định tỉnh thức như vậy đừng nghĩ rằng là tâm bi quan, chán đời, ủ dột. Ngược lại rất là trong sáng tinh anh, thấy biết tất cả thực tướng của vạn hữu là vô ngã, gọi là thấy như thật. Tâm ta được an định trong sáng, tinh anh như vậy là do bảy quan năng xúc giác của ta đã được thuần thục an nhiên tịnh mặc trước các sắc trần thị phi tại thế gian hay ngoại điện thiền môn. Nên chi tâm thức bên trong cũng theo đó mà an định, thức tỉnh, không vọng động. Đó là tâm Phật, là người có Phật thật trong tâm.

Qua lời lý giải về người có tâm Phật thật vừa rồi, mỗi người Phật tử chúng ta, nếu thật sự quyết tâm tu tập Phật pháp để được có tâm thanh tịnh trong sáng mà giải thoát, chúng ta hãy tự mình nhìn lại tâm mình gọi là phản quang tự kỷ để xem xét rà lại tâm ta đã có tâm Phật, tức là tâm thanh tịnh trong sáng thật sự chưa. Nếu đã có Phật trong tâm, thì nhất định chúng ta thấy Phật hiện hữu ngay trong tâm chúng ta. Thấy Phật trong tâm không giống như thấy Phật trên bàn khi mình chấp tay đưa mắt nhìn và ngưỡng vọng lên sau đó để lạy.

Thấy Phật trong tâm là tâm, ta  luôn luôn thanh tịnh, tỉnh thức và vô ngã một cách bình đẳng không hạn định, không hẹn ước thời gian và không gian, lúc nào tâm ta cũng hằng chuyển trên dòng tâm vô ngã gọi là tâm bình thị đạo. Thị ở đây có nghĩa là thấy, đạo là chơn lý, lẽ phải.

Khi tâm ta được thanh tịnh vô ngã một cách thường xuyên, không bị cuốn hút vào biển sắc là lúc tâm ta có trí tuệ Phật, từ đó ta thấy được đạo gọi là liễu đạo. Khi được liễu đạo, thì đạo hiện ra sờ sờ trước mắt ở mọi bản thể vạn hữu và con người chung quanh ta và kể cả ở trong bài học Phật pháp không đâu xa.

Khi tâm ta được đạo rồi, đồng thời thân tâm ta liền tự động hành đạo một cách tinh tấn, tự tại, an nhiên, hanh thông, dù nơi chốn hành đạo là ở xã hội thế gian đầy biển sắc trên vận hành mưu sinh hay Phật sự tại chốn thiền môn có nhiều nhân tâm khác nhau, nhưng Phật đạo mà ta đang hành vẫn hiện hữu trong tâm ta một cách vững chắc. Nếu không nói đây là thời điểm tâm ta được giác ngộ chơn lý vô ngã, tánh không, đó là con đường giải thoát đích thực rõ ràng, không còn mơ hồ, không nghi ngờ gì nữa.

Thấy đạo, hành đạo, và đạt đạo do năm thức bên ngoài là mắt, tai, mũi, miệng và thân tương quan mật thiết với tâm bên trong.

Thấy đạo, hành đạo, đạt đạo ở mắt. Ví dụ mắt ta nhìn vào bản thân một người khác, tâm ta quán niệm về đạo lý nhân duyên, ta thấy ngay bản thân người đó sở dĩ được có thân là do tinh khí cha mẹ hòa hợp lại và thức A Lại Da được thác sinh vào đó mà có thân. Sau khi được sinh ra là nhờ sữa mẹ, không khí, ánh sáng, quần áo, hơi ấm, nước uống, thức ăn và sự chăm sóc của mẹ cha, cũng như nhiều điều kiện khác nữa giúp vào bản thân người đó được sống suốt cả cuộc đời, vân vân… Nhưng không thể tồn tại mãi được, phải bị già, rồi chết. Qua giờ phút quán niệm đó ta đã thấy được đạo lý nhân duyên giả hợp tạo thành bản thể sự vật và con người. Ta đã thấy được đạo lý vô ngã, tức là con người và sự vật trên đời không thể tự nó có hình tướng. Sau khi có hình tướng nó bị tan rả. Từ chỗ này ta thấy được đạo lý vô thường về sinh và diệt, trong đó có bản thân ta. Mà hễ có sinh có diệt là có bị luân hồi.

Thấy rõ những đạo lý đó rồi, chính là lúc Phật tánh trong tâm ta hiện hữu và vươn lên là thời điểm thấy đạo và hành đạo song song với nhau một cách hanh thông tự nhiên, không còn do dự, không còn khái  niệm, phân tích các đối tượng mà mắt tai thấy nghe nữa. Tai nghe, mắt thấy hình tướng âm thanh mà tâm ta vẫn không có khái niệm, phân tích gì nữa về âm thanh, hình tướng của các đối tượng. Tâm thức ta an trú vào yên lặng, không thấy bị lay động như vậy gọi là thấy như thật. Tức là tâm không còn khởi lên ý niệm thắc mắc về hình tướng của vô số vạn hữu tại sao to, lớn, ngắn, dài, xanh, đỏ, cao, rộng, nóng, lạnh, có nước, không nước, khô, lạnh, nóng bức, v.v… Bởi vì bản thể của vạn hữu vốn do các duyên giả hợp mà có như vậy rồi, cũng như bản thể vạn hữu bị tan rả là do các duyên tan rả trở về không. Đó là thấy hình tướng của vạn hữu. Bây giờ mắt ta nhìn vào thân tướng con người. Tâm thức ta cũng an trú vào yên lặng, không bị lay động, dù cho thân tướng con người, mà mắt ta nhìn đến là người nam, người nữ, già, trẻ,  có thân tướng béo, mập, cao, lùn, có nét đẹp, nét xấu, tàn tật, tính tình khiêm tốn, ăn nói lễ độ, nhã nhặn hay tính tình lăng xăng, ăn nói thiếu lễ độ, không nhã nhặn, bộp chạt, v.v… Tâm ta yên lặng, không có ý niệm ghét, thương, thắc mắc, không nói thầm ông đó, bà tê như thế đó, như thế kia. Không dán nhãn hiệu ông đó bà tê là người thế này, thế kia và cũng không định danh bà nọ, ông tê về đời sống, chức vụ của họ ở quá khứ, trong hiện tại như thế này, như thế nọ. Để rồi khởi lên ý niệm ghét, thương, xu nịnh, tâng bốc, hay nguyền rủa, v.v… Tâm thức và năm giác quan cùng yên lặng trước mọi người như vậy là do đã thấy được quả báo thiện ác của từng người vốn đã như vậy rồi. Cho nên không sanh tâm thắc mắc, không xu nịnh, không ghét thương, phải nên im lặng. Tâm thức và năm giác quan cùng im lặng. Sự im lặng này gọi là im lặng như chánh pháp. Sự im lặng như chánh pháp này được cắt nghĩa là “không nói lỗi người”. Bởi vì quả báo thiện ác của họ như vậy nên chi bản chất của họ như vậy rồi, nói làm chi nữa.

Tâm và năm giác quan của ta không bị vọng động trước các đối tượng có những sắc thái khác nhau, gọi chung là lục trần khi thân tâm ta giao tiếp. Chính là lúc tâm có Phật thật, là con người Phật tử thật, đúng như lời đức Phật đã nói: “Ta sanh ra giữa đời, lớn lên trong đời, ta chinh phục đời, không bị đời làm ô nhiễm, ta là Phật”. Như vậy quý vị Phật tử nào tâm không bị đời làm ô nhiễm một cách thường hằng, vị ấy là Phật.

 

Qua lời giảng luận khế lý Tâm Phật thật vừa rồi, quý vị Phật tử chúng ta hãy xét lại tâm mình đã được có tâm Phật thật như vậy chưa? Nếu có, xin khẳng định đó là năng lực đưa thức A Lại Da của quý vị tuần tự đi lên từng nấc thang trong sáng thánh thiện, để rồi cuối cùng lên ngôi vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, tức là con đường không còn sinh, không còn tử, đó là Phật. Ngược lại, còn bị sinh, bị tử, còn luân hồi là do cái Tâm Thật của Lục đạo chúng sinh. Tâm thật của lục đạo chúng sinh là gì? Đó là tâm thật của loài Trời, loài Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh.

 

Là Phật tử học và tu tập Phật pháp để tìm cầu con đường giải thoát, giữa hai cái tâm thật: Phật và Lục đạo, ta chọn cái tâm thật nào? Chắc chắn, quý vị sẽ chọn cái tâm Phật thật. Cả hai cái tâm thật: Phật và Lục đạo đều có trong thức A Lại Da của quý vị. Vì thế cho nên đức Phật mới chỉ dạy cho ta những pháp môn tu tập mà gạn lọc, tẩy trừ những tính chất ô nhiễm lục đạo, để cho cái Phật tánh của ta được vươn lên. Từ đó ta có tâm Phật thật, là đà sống thánh thiện.

Đã là con người đều có cái đà sống. Đà sống đó là Tâm Ý. Bản thân không có tâm ý hiện hữu, chỉ là một cục thịt. Cho nên tâm ý là chủ nhân ông chỉ đạo cho thân nói và tạo tác các hành động thiện, ác. Từ đó ta thấy đà sống có đạo đức, nhân cách, thánh thiện và đà sống vô đạo đức, bất nhân, bất nghĩa, tàn ác, bạo ngược…, do những tính chất lục đạo và 6 thứ phiền não: tham, sân, si, mạn, nghi và ác kiến bao phủ Phật tánh.

Sáu tính chất phiền não nói trên là cái lực tổng hợp dẫn chúng sinh đi vào 6 đường luân hồi, sinh tử, nên mới gọi chúng là căn bản phiền não. Sáu căn bản phiền não luôn luôn tương dung nhau, tương nhiếp, nối kết nhau thành cặp đôi, ba, bốn trở lên, chứ không bao giờ đơn độc đúng theo quy luật Hoa Nghiêm: “Một trong tất cả – Tất cả trong một”. Vì vậy mỗi tính chất căn bản phiền não đó, nó còn là mẹ đẻ ra những căn bản phiền não con: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Những căn bản phiền não con này lại sinh sản ra những đứa con vô minh: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến. Đó là 5 cái thấy sai lạc. Và những đứa cháu triền phược: vô tàm (không biết xấu hổ), vô quý (không biết hổ thẹn), tật (đố kỵ), san (keo kiệt, ích kỷ), hối (hối tiếc) miên (u mê tăm tối), trạo cử (không an tĩnh), hôn trầm (tâm ý nặng nề, trì trệ), vân vân…

Những tính chất phiền não, vô minh, triền phược nói trên được biểu thị cho thân mạng đích thật của chúng sinh nói chung, loài người nói riêng, được hiển lộ ra lời nói và hành động đối đãi. Hành động và ngôn ngữ đối đãi của con người thực tại hôm nay mang những tính chất ô nhiễm trên chính là quả báo nghiệp bị thác sinh vào 6 đường sinh tử dau khi thân cũ chết đi. Do vậy mà đức Phật đã dạy cho hàng Phật tử chúng ta phải quyết tâm diệt trừ hết 6 căn bản phiền não, mới có thể được quả giải thoát. Nói diệt hết, không có nghĩa là diệt một lần, mà là diệt từng thứ một căn bản. Khi một thứ căn bản phiền não được diệt, là dòng họ quyến thuộc ô trược, triền phược của nó đều bị diệt luôn, đúng theo quy luật “Thử vô cố bỉ vô” (cái này không, cái kia không). Ngược lại còn bị đọng lại trong tâm một căn bản phiền não, thì nó kéo theo sau nó cả bà con dòng họ vô minh, triền phược, đúng theo quy luật duyên khởi “thử hữu cố bỉ hữu” (cái này có, cái kia có), chính là năng lực cực mạnh dẫn thức A Lại Da bị thác sinh vào một trong 6 cõi luân hồi. Một trong 6 cõi luân hồi được thấy ngay ở bản thân con người thực tại hôm nay qua hành động và lời nói thật là Trời, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh trên vận hành sống và làm các việc đời, việc đạo giữa xã hội.

      Sau đây là những cặp đôi, ba, bốn… căn bản phiền não tương dung với các thứ vô minh triền phược để tạo thành những con người thật của lục đạo (Trời, Người, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh.

 

1. Người có tính trời thật

Tâm tham-mạn (đôi) tương nhiếp với những thứ ngã: nhân ngã, ngã ái, ngã kiến và những thứ triền phược: biên kiến, kiến thủ kiến, trạo cử… đang còn bị đọng lại trong thức A Lại Da, là sức mạnh tổng hợp dẫn thân trung ấm thác sinh vào một trong 6 cõi trời dục giới, sắc giới hay vô sắc đối với những người có quy y Tam bảo đã thọ 5 giới, 10 giới thiện và có học, tu tập Phật pháp, cũng như rất tích cực bố thí, cúng dường Tam bảo trên cơ sở phụng sự đạo pháp. Nhưng cái tâm còn chứa đựng những thứ phiền não, vô minh, triền phược nói trên là tính của cõi thiên. Tức là cái tâm thường khởi lên những ý niệm: tự mãn về công việc ly khổ đắc lạc cho chúng sinh trên cơ sở hành trì về giới nhiêu ích hữu tình, tức là tâm thường bị vọng động, không an tỉnh (trạo cử), đó là đi ngược lại bản chất của giới là thanh tịnh. Ý niệm ngã ái hay tự ái, tức là tâm cứ say mê đắm đuối, hãnh diện về công việc bố thí cúng dường qua thành quả đáng kể về phẩm và lượng, do vậy cái tâm cũng mong cầu mọi người khen thưởng, nêu danh, chức tước, số lượng tài vật trước bá quan thiên hạ. Cho nên được, thì lòng vui sướng, không được thì giận hờn…

Tất cả việc học và tu tập Phật pháp, từ thiện xã hội, bố thí, cúng dường mà tâm cứ bị vọng động chi phối như vậy, được có phước báo hữu lậu, là năng lực được thác sinh lên một trong các cõi trời sau khi xả bỏ báo thân trần thế do tâm thức chứa đựng tính chất trời, đó là không làm các điều ác, làm các việc lành, nhưng tâm hồn không thanh tịnh. Từ đó cho ta thấy rằng cặp đôi tham-mạn nói trên là tham vọng chứ không phải tham dục, tham ô. Và mạn là nhân ngã, ngã ái (tự ái) chứ không phải là ngã mạn.

 

2. Người có tính người thật

Tâm tham-sân-mạn (ba) tương nhiếp với những thứ ngã: nhân ngã, ngã ái… và những triền phược: thân kiến, trạo cử… đang còn bị đọng lại trong thức A Lại Da của hạng người có thọ trì đúng đắn 5 giới là năng lực được thác sinh trở lại làm người. Mặc dù ba thứ tham, sân và mạn, cũng như những thứ vô minh triền phược đang có trong tâm thức, nhưng chúng thuộc về vọng tâm, không gây tác hại cho tha nhân, không có tội ác hình sự. Cho nên tâm tham, sân, mạn của người thọ trì 5 giới là tham vọng, tham chấp gọi là chấp nê, chấp thủ, chứ không tham lam ăn trộm, ăn cắp vì giữ giới thứ hai. Cũng như không tham dục vì có giữ giới thứ ba. Tâm sân là chỉ giận hờn con cháu hay tha nhân, chứ không nóng giận ở mức độ sô sát gây hình sự. Còn mạn là tâm còn có chút nhân ngã nên ưa người khác ca tụng mình và thích nói về chuyện tốt của mình, con cái mình cho người khác nghe, chứ không có lời nói gian dối, chửi rủa vì có giữ giới thứ tư.

Người giữ đúng 5 giới, nhưng tâm thức còn luyến ái, giận hờn, buồn vui lẫn lộn là chuyện thường tình, vì đó là con người thật của cõi người, cho nên không phải là tiêu chuẩn giải thoát sinh tử, vãng sanh cực lạc, Niết bàn.

Năm giới cấm chính là đạo lý làm người. Vì vậy mà người giữ năm giới luôn luôn thờ cúng tổ tiên ông bà, cha mẹ, các tiền nhân, anh hùng liệt sĩ, tổ sư, thánh hiền, đó là đạo lý nhân bản.

Người giữ 5 giới và thực hiện đạo lý nhân bản thờ cúng tổ tiên là nền tảng tiến lên những nấc thang bậc thánh để vô lượng kiếp sau được chứng đắc quả vị Phật. Cho nên đức Phật đã xác định “cõi người là cõi dễ tu dễ chứng đắc quả vị Phật”.

 

3. Người có tính Atula thật

Sân-mạn-nghi (ba) tương nhiếp với những thứ ngã: ngã mạn, ngã si, ngã kiến, nhân ngã, ngã ái, và các thứ vô minh triền phược là thân kiến, kiến thủ kiến, tật đố, trạo cử…

Ba tính chất ô nhiễm sân, mạn, nghi là bản tính của loài Atula đang hiện hữu trong tâm thức con người chúng ta một cách rõ ràng ra lời nói và hành động sân hận, ngã mạn và hoài nghi. Trong ba tính sân, mạn, nghi, tính nghi là độc hại nhất. Người hiền mà có tính nghi cũng trở thành dữ. Người có tâm hồn cao thượng mà có tính nghi xen kẽ vào, trở thành người phản bội với tha nhân. Tính nghi dẫn đầu, cho nên tâm bị sân hận nóng nảy nhiều và nhiều thứ ngã, nhiều tật đố với kẻ khác, tâm bất an, ưa bảo thủ sự thấy sai lầm của mình.

Người có ba tính chất Atula sân, mạn, nghi như vậy, họ thường ra tay hào hiệp làm những việc nhân nghĩa như bố thí tiền tài cho kẻ khốn cùng, túng thiếu mà ham học hỏi để tiến thân và giúp ngân quỹ cho những người làm công việc văn hóa, v.v… Bên cạnh những hành động nhân nghĩa đó, người có tính Atula cũng thường làm các việc sai quấy bất nghĩa, phản bội tinh thần đối với mọi người. Tức là tâm tính vừa cang trực mà cũng vừa độc ác.

Sở dĩ những người có tính Atula thường làm những việc từ thiện nhân nghĩa đối với tha nhân như vậy là do họ không có tâm THAM, tức là không tham dục, không tham ô, chỉ có tham vọng, tham ái, nhưng rất là nhẹ. Và sở dĩ họ có hành động bất nghĩa, phản bội tha nhân một cách vội vã chưa biết rõ nguyên nhân mà đã tỏ ra thái độ bất nghĩa như vậy là do cái tính nghi ngờ làm chủ tể hành động phản bội, bất nghĩa. Do từ không tham mà sinh ra nghi. Nghi sinh ra sân hận nóng nảy hung hăng cực độ và thù hận trầm ngâm lâu dài. Và cũng từ tâm có tính ô nhiễm nghi mà sinh ra tính ưa tin vào bùa chú, dễ tin lời kẻ xu nịnh, thường tin và hùa theo lời của kẻ xấu vu khống người nọ, người kia, làm việc kia, việc nọ một cách mù quáng khi chưa nắm vững dữ kiện hư thật. Cứ nghi mà không chịu hỏi lại.

Những hạng người có tâm tính Atula, không hạn định là người nam, nữ, già, trẻ, giàu, nghèo, sang, hèn, trí thức, bình dân, vua, quan, tướng quân, quyền chức, tăng sĩ, cư sĩ, v.v… hễ ai có tính chất Atula là thấy rõ ngay ở lời nói và hành động nhân nghĩa một cách mau mắn không đắn đo đối với tha nhân và cũng rất là tàn bạo bất nghĩa một cách mau lẹ không suy nghĩ đối với mọi người, dù người bị họ đối xử tàn bạo đó là người tộc họ, vợ, chồng, bạn đạo, v.v… Vấn đề con người có tâm Atula đối xử với tha nhân từ ân nghĩa, tử tế đến bất nhân, bất nghĩa một cách song hành rất là phổ biến từ xưa nay trong mọi giai cấp. Nhất là ở lãnh vực chính quyền thường xảy ra những vụ thanh trừng nội bộ. Chẳng hạn một vài ông vua có tâm cương trực, không tham lam nhưng lại có tâm đa nghi do đó thường ra tay hành động bất nhân một cách đột xuất, là bắt giam các viên quan, tướng quân liêm chính vào ngục thất, có khi đem ra xử tử không cần suy xét, tìm hiểu, hỏi lại thực hư do bởi lòng nghi sẵn có cùng với lời báo trình của những tên nịnh thần trong triều đình tâu lên không đúng sự thật cho mục đích tranh giành chức tước.

Với những hạng người có tâm Atula như vậy, một khi họ có mặt trong các tập thể đời hay đạo, thì các tập thể đời, đạo đó bị mất đoàn kết, đấu đá nhau, nhìn nhau bằng đôi mắt hận thù, rồi dần dần tan rả.

Nói tóm lại, tại thế gian này ở đâu có người mang bản tính Atula, ở đó có xảy ra những cảnh tượng xung đột, chia rẽ và hận thù. Điển hình rõ nét những tập thể trong Phật giáo ở hải ngoại hiện nay đang có những hiện tượng chia rẽ và hận thù nhau.

Sở dĩ những người Phật tử nói chung trong các tập thể Phật giáo hải ngoại đã và đang có tư tưởng chống đối và phân hóa nhau như vậy, là do thiếu nhận thức trước cao trào đánh phá Phật giáo của các thế lực vô minh ngoại đạo chủ trương bằng nhiều hình thức khác nhau mà không thấy, không biết, cứ cho là do những người trong nội bộ Phật giáo của mình, để rồi tiếp tục hận thù nhau ra mặt. Trong khi đó những trí thức Phật giáo và không Phật giáo dư biết thủ phạm đánh phá Phật giáo chính là bọn vô minh ngoại đạo. Cho dù chúng mạo tên một vị tăng trong GHPGVNTN hải ngoại ký tên pháp hiệu ở trang cuối của Bạch Thư, vẫn bị các trí thức thấy rõ hình bóng ma quỷ của chúng đang ẩn hiện bên hông chùa. Nói cách khác, những người không có tính Atula đều an nhiên tịnh mặc, thanh tịnh, im lặng trước những lời vu cáo chư tăng làm chuyện dâm ô trong Bạch Thư đều là giả tạo, không thật. Còn những người Phật tử có tính chất Atula thì lồng lộn lên qua các trạng thái hận thù rõ nét trên gương mặt sau khi nghe những bọn ma vương ngoại đạo nằm vùng trong các chùa phao lên người viết Bạch Thư là người trong Tổng Hội Cư Sĩ. Điển hình rõ nét, đó là một bà nhà thuốc Tây vốn có cái tâm địa vừa giúp người về vật chất, vừa nóng nảy và ngã mạn, hoài nghi, cho nên sau khi nghe lời của một vài Tăng, Ni vu khống một nam Phật tử đang thân thiện với bà là kẻ viết Bạch Thư. Một số Tăng Ni nói nam Phật tử kia viết Bạch Thư, cũng chỉ hùa theo lời của bọn ngoại đạo đang lui tới trong chùa mình mà thôi. Vì là bản tính Atula, cho nên bà nhà thuốc Tây tiếp tục hoài nghi và hận thù nam Phật tử của Tổng Hội Cư Sĩ ra mặt chưa dứt khi gặp nhau tại chùa trong các thời điểm tu Phật Thất, Vu Lan, Phật Đản… Trước thái độ hận thù đột xuất của bà nhà thuốc Tây đối với mình, người nam Phật tử buộc lòng phải hỏi cho ra lẽ bằng văn thư gởi đến tận nơi tiệm thuốc Tây của bà. Sau đó bà ta trả lời bằng tờ FAX với lời lẽ: “Tôi được nghe một vài Tăng Ni ở quận Cam nói rằng ông là một trong số người của Tổng Hội Cư Sĩ viết Bạch Thư bôi nhọ, vu cáo các thầy làm chuyện dâm ô, cho nên tôi hết thân thiện với ông”.

Với một số chư Tăng trong các giáo hội Phật giáo tại Cali nói riêng đang có tâm hoài nghi những người Cư Sĩ trong Tổng Hội Cư Sĩ viết Bạch Thư qua các trạng thái tế nhị trầm lặng hơn trong đối đãi, nếu không nói là tẻ nhạt, không thân thiện như xưa, không còn giao tiếp với thành viên trong Tổng Hội Cư Sĩ gần 4 năm nay từ khi Bạch Thư hiện hữu tại các chùa. Vì thế 4 năm qua, chư tôn giáo phẩm thuộc GHPGVNTN văn phòng II Viện Hóa Đạo tại hải ngoại không nhờ Tổng Hội Cư Sĩ giúp giáo hội tổ chức lễ Phật Đản nữa.

 

4. Người có tính chất địa ngục thật

Trong kinh Phật  có câu: “Nhứt thiết duy tâm tạo”, tức là tâm tạo ra tất cả, cho nên tâm là biểu thị cho Phật, Bồ Tát, Hiền Thánh, Thiên đàng, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, v.v… Tất cả những tính chất thiện, ác đó đều có trong tâm con người, đúng như chư tổ thường nói “Phật tức tâm” (Phật có trong tâm), “Thiên đàng tức tâm” (Thiên đàng có trong tâm), “Địa ngục tức tâm” (Địa ngục có trong tâm), v.v… Những thứ thiện ác đó, thứ nào có trọng lượng cao hơn, mạnh hơn trong tâm, thì tâm thường sinh khởi lên ý niệm sống thật theo thứ đó, đúng như lời Phật nói: “Có 4 hạng người trên thế gian này; đó là hạng thứ nhất không làm khổ mình và không làm khổ người, hạng thứ hai chuyên làm khổ mình, hạng thứ ba chuyên làm khổ người, hạng thứ tư chuyên làm khổ mình và làm khổ người khác.

Hạng người thứ nhất có tâm sống thật thánh thiện. Ba hạng người kế tiếp có tâm sống thật ba đường ác, đó là địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh.

Ba con đường ác được tựu trung là KHỔ. Khổ ở tâm hồn và khổ ở bản thân ngay kiếp sống thực tại và bên kia cõi chết đều khổ. Khổ của địa ngục, khổ của kiếp súc sinh, khổ của kiếp ngạ quỷ. Nhưng khổ của mỗi cõi có khác nhau do những tính chất ô nhiễm của nó. Những tính ô nhiễm của địa ngục là gì? Đó là những thứ tham-sân-si-mạn (cặp 4) tương duyên với những triền phược như: phóng dật (buông trôi, buông lung theo lục dục thất tình), trạo cử (không bao giờ được tỉnh tâm, luôn lăng xăng hiện hữu đó đây), phẫn (phẫn nộ, bực tức, cộc cằn trong đối đãi với mọi người nên thường gây ra ấu đả), hại (ám hại gây thương tích cho mọi người), não (buồn phiền, bực bội), tật (ưa ganh ghét tha nhân), bất chánh tri (hiểu lầm, biết sai lạc về các việc), phú (che dấu tội lỗi), cuống (dối gạt).

Bốn căn bản phiền não và những thứ triền phược vừa nói trên, chúng hợp nhau lại trong tâm con người là động cơ khởi lên những ý nghiệp nhân của Địa ngục để rồi sau đó, thân và miệng con người tạo tác ra những hành động và lời nói địa ngục làm cho thân tâm mình bị khổ và làm mọi người trong quyến thuộc, ngoài xã hội bị khổ theo mình ngay đời sống thực tại.

Tâm bị khổ, gọi là khổ tâm một khi con người đã tạo ra những hành động tội lỗi về vô luân do tâm đầy tham dục nên bị si mê cùng với phóng dật buông lung theo lục dục, để rồi sau đó cố sức che dấu tội lỗi (phú) nhưng vẫn thường luôn khổ tâm vì sợ pháp luật biết được. Nhưng khi pháp luật phát hiện, bản thân chịu cực hình khổ não trong ngục tù trần gian.

Thân tâm cùng bị khổ một khi con người khởi lên tâm tham lam dục tình dơ nhớp, ham ăn, uống những thứ có chất độc cho nên bản thân bị các chứng bịnh nan y khó chữa, vì vậy mà tâm bị khổ sở buồn phiền lo lắng sợ hãi cái chết đang gần kề, cùng lúc cái bản thân bị khổ lụy, nhức nhối đau đớn. Chẳng những một mình người bị bịnh nan y bị khổ tâm, khổ thân, mà cả vợ, con, quyến thuộc cũng bị khổ tâm, khổ thân theo người bịnh một khi phải bôn ba chạy thầy, chạy thuốc thật là vất vã, mất ăn, mất ngủ do lo lắng.

Cũng do từ cái tâm chất chứa 4 thứ căn bản phiền não tham, sân, si, mạn cùng với một số triền phược: phẫn, cuống, phú, hại, vô tàm, vô quý (không biết xấu, không biết thẹn) cùng tương duyên nhau trong tâm con người để rồi sau đó thân miệng con người nói lời dối gạt (cuống) lừa đảo cùng với hành động cộc cằn, hung hãn (phẫn) xông tới để cướp của, sát hại từ thương tích đến vong mạng đối với những người sống lương thiện. Đó là hạng người có tâm tham rượu chè, cờ bạc, hút xách, nên chi bị đi đến kiệt quệ về tiền tài, sức lực. Từ đó đời sống trở nên biếng nhác, lêu lổng, buông xuôi. Vì thế mà sinh ra tâm điên đảo, lừa dối, phỉnh gạt, hung hãn, tàn ác xông tới hành động sát hại để cướp của, giết người, làm cho quyến thuộc có người bị chết, bị tàn tật phải khổ sở trong việc nuôi nấng và tang chế người thân.

Và những hạng người chuyên sử dụng chức tước quyền hành trong chính quyền qua những hành động tước đoạt, chiếm hữu tiền tài, sản nghiệp, nhà cửa, vườn tược của kẻ khác để cho bản thân mình, vợ, con, quyến thuộc mình được có đời sống sung túc, phè phởn trên nhung lụa mà không biết xấu, không biết thẹn với thế gian và lương tâm, không thấy nhân quả sẽ đến là bị đi vào địa ngục sau khi chết, vì đã và đang đem địa ngục khổ đến cho kẻ khác đang bị họ cướp đoạt tài sản, nên phải bị sống trong cảnh khổ não (địa ngục) một khi thân, tâm của họ bị đói, lạnh, nghèo khó trên con đường lam lũ kiếm sống.

Ba hạng người có tính chất địa ngục thật trong tâm vừa nói trên, tự mình tạo ra địa ngục khổ cho riêng mình, cho riêng kẻ khác và cho mình, đồng thời cho người khác bị khổ như mình.

Con người trong tất cả mọi giới đang sống trên đời này, hễ cái tâm có đựng những tính chất địa ngục, nếu không tự nhận thức để chuyển hóa những chất ô nhiễm địa ngục thành thánh thiện, thì nhất định nói và hành động ra nhiều thứ địa ngục làm cho mình khổ, cho mọi người bị khổ. Những quả báo địa ngục đó là động lực dắt dẫn thân trung ấm bị thác sinh vào 3 đường ác, chứ không phải riêng gì địa ngục. Và dù cho bản thân thực tại ở cõi trần bị luật pháp quốc gia bắt giam vào nhà tù (địa ngục trần gian) với thời gian ngắn dài, sau đó được luật pháp thả ra. Nhưng cái tội ác đã gây ra đó vẫn còn tồn tại trong thức A Lại Da, không thể hết được, nó là năng lực đưa thân trung ấm thác sinh vào 3 đường ác. Chứ đừng nghĩ rằng, ở tù tại cõi trần là hết tội lỗi.

Cũng như đa số Phật tử ngộ nhận rằng: hễ có phát nguyện quy Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng trong đời này, đến cuối đời, sau khi xả bỏ báo thân làm người, sẽ không bị đọa địa ngục (Quy y Phật bất đọa địa ngục) sẽ không bị đọa ngạ quỷ (Quy y pháp bất đọa ngạ quỷ), sẽ không bị đọa bàng sanh (Quy y tăng bất đọa bàng sanh).

Khế lý quy y Phật, Pháp, Tăng sẽ không bị đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đúng như lời Phật dạy, không sai. Nhưng với điều kiện, tâm con người (thức A Lại Da) không còn những chủng tử địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, thật thanh tịnh trong sáng, tức là có trí tuệ giác ngộ do học và thực tập Phật pháp với thời gian không hạn định là bao giờ, miễn sao để đủ cho tâm được có trí tuệ, nói như tổ sư Phúc Hậu: “Kinh điển lưu truyền tám vạn tư, Học hành không thiếu cũng không dư, Năm nay tính lại chừng quên hết, Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như”. Từ đó cho ta thấy rằng ý nghĩa quy y Tam Bảo là quay về Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng, trong tâm mình trên vận hành học và thực tập Phật pháp bằng tâm và thân luôn trực nhận khảo sát và tri hành vào thực tại, trong đó có các hành động từ thiện xã hội, bố thí, cúng dường, tụng kinh, lễ bái, v.v… là những pháp môn trợ giúp cho tâm thấy rõ Phật, Pháp, Tăng có trong tâm, chứ không phải ở ngoài tâm.

 

5. Con người có tính chất ngạ quỷ thật

Tính chất thật của loài ngạ quỷ là tham-si (cặp 2) được tương duyên với những thứ triền phược: ngã ái, xan (bỏn sẻn), tài (vật chất), danh (chức tước).

Do tâm tham cực mạnh nên chi không bao giờ biết sợ quả báo ác. Gọi tâm không bao giờ biết sợ tội lỗi ác báo là tâm si mê cuồng vọng. Do đó, tâm cứ luôn thường hằng khởi lên ý muốn lấy các vật dụng khi nhìn thấy, muốn cướp giựt của cải, tước đoạt tài sản, tham nhũng tiền tài. Cũng từ cái tâm tham đó, mà sanh ra ngã ái, tức là luôn luôn mê đắm thích thú về chức tước, danh vị, quyền chức ngoài xã hội. Nêu đang có, thì tìm đủ cách để được tồn tại. Nếu chưa có, thì tìm đủ mọi phương cách tranh giành với nhau để được vào các ngôi vị ấy. Sau khi được danh vị, quyền chức rồi, liền sử dụng chức quyền, cùng với những thủ đoạn, mưu mô để cướp đoạt tài sản của tầng lớp con người cô thế bé mồm thấp cổ, tham nhũng tiền tài của công, hối lộ mọi người trước khi làm việc gì cho người; tức là đòi ăn trước, sau đó mới thực hiện những sự việc mà con người cần đến, như việc về giấy tờ hành chánh, v.v...

Tâm tham lam được biểu thị cho thế giới ngạ quỷ, là cõi mà chúng sinh trong đó cơ thể bị ốm gầy, hực lửa, tiều tụy lạnh lùng do đói khát vật chất. Cho nên chúng sinh có thân tâm ngạ quỷ, không riêng gì bên kia cõi chết, mà có cả tại cõi người một khi ở đó, con người bị kẻ có quyền chức, tâm đầy tham lam đã tước đoạt, cướp hết tài sản.

Theo luật nhân quả, người có tâm tham lam vật chất từ nhẹ là không gây tác hại chết chóc cho tha nhân thì đọa làm thân ngạ quỷ tại không gian loài người. Và đến nặng là có gây tác hại làm chết người hay một vài hành động độc ác khác, thì nhất định sau khi chết, thân trung ấm bị thác sinh làm thân ngạ quỷ tại các địa ngục trong núi Thiết Vi. Để thấy rõ có hai loài ngạ quỷ, một tại cõi người, hai ở địa ngục trong núi Thiết Vi qua hai trường hợp được điển hình sau đây:

Trong kinh Lương Hoàng Sám (trang 204) ở đề mục Diễn Đạt Quả Báo có nói về chuyện Mục Liên Tôn Giả trả lời câu hỏi của con quỷ trong lúc ngài tản bộ trên bờ sông Hằng thuộc thành Vương Xá trong vườn Ca Lan Đà sau khi xuất định.

Con quỷ hỏi ngài Mục Liên Tôn giả: “Kính thưa ngài Mục Liên, từ lúc sinh ra thân quỷ đến giờ, con luôn luôn bị đói khát, muốn đến nhà xí để lấy phẩn ăn, thì cứ bị con quỷ lớn mạnh hơn, lấy gậy đánh con, nên con chưa bao giờ được gần các nhà xí. Như vậy vì tội gì gây ra?

Tôn giả Mục Liên trả lời:

- Vì khi làm người, ngươi làm chủ chùa, có những khách tăng đến khất thực, ngươi bỏn sẻn (Xan) ích kỷ không cho ăn, chờ khách tăng đi rồi, ngươi mới đem ra ăn với người trong chùa. Vì ngươi bỏn sẻn, keo kiết của chung mười phương tăng chúng một cách vô lý như vậy, nên bị tội báo này.

Trường hợp của con quỷ vừa nói trên được Mục Liên tôn giả trả lời câu hỏi của nó là do tâm tham lam keo kiệt nên bị đọa làm kiếp quỷ tại không gian cõi người.

Một trường hợp khác cũng làm thân quỷ, nhưng không được ở tại không gian cõi người, mà bị ở tại địa ngục trong núi Thiết Vi, chịu vô số cực hình. Đó là trường hợp bà Thanh Đề, mẹ của Lục Liên tôn giả. Sở dĩ bà Thanh Đề, sau khi chết, thân trung ấm của bà bị thác sinh kiếp ngạ quỷ tại địa ngục trong núi Thiết Vi như vậy, là do lúc còn sống trên đời, tâm bà chứa nhiều nghiệp ác, trong đó có khởi tâm khinh Tăng bảo qua hành động tà đạo, không tinh khiết, không chơn thật trong việc cúng dường chư Tăng.

Qua hai hạng ngạ quỷ nói trên, một tại không gian cõi người, hai tại địa ngục núi Thiết Vi, cho ta thấy rằng hạng ngạ quỷ tại không gian cõi người được xem là bị tội báo nhẹ hơn, nếu không nói là chỉ có tâm tham lam keo kiệt, không biết bố thí, nên chi sự cực hình của chúng là do chúng tự có, chứ không do các quỷ sứ khác gây ra như trong địa ngục ở núi Thiết Vi; tất cả loại ngạ quỷ trong đó đều bị các quỷ sứ làm chủ ngục hành hung, đánh đập, tra tấn, v.v… như trong kinh Địa Tạng đã nói. Cho nên các loài ngạ quỷ trong địa ngục ở núi Thiết Vi thì vô số lượng không thể phân loại được. Còn các loại ngạ quỷ tại không gian cõi người có thể được phân loại.

Theo Chính Lý Luận, thì ngạ quỷ tại không gian cõi người có 3 chủng loại: 1- Vô Tài quỷ (quỷ không có của cải). 2- Thiểu Tài quỷ (quỷ ít của cải). 3- Đa tài quỷ (Quỷ nhiều của cải)

Ba loại quỷ này, mỗi loại lại có 3 loại nhỏ.

I.- Quỷ vô tài có 3 loại:

                  1. Cự khẩu quỷ (quỷ mồm lửa)

                  2. Chân khẩu quỷ (quỷ mồm kim)

                  3.  Xú khẩu quỷ (quỷ mồn thối)

II.- Quỷ thiểu tài có 3 loại:

                  1. Châm mao quỷ (quỷ có lông nhọn như kim tự đâm mình và đâm người)

                  2. Xú lông quỷ (quỷ lông thối)

                  3. Anh quỷ (quỷ có mụn nhọt đầy người)

III.- Đa tài quỷ có 3 loại:

                  1. Hy từ quỷ (loại quỷ thường trú ở đền miếu hy vọng được ăn đồ cúng)

                  2. Hy thí quỷ (loại quỷ thường mong chờ được người vứt bỏ các thức ăn để lấy ăn)

                  3. Đại thế quỷ (loại quỷ có thế lực, phúc lớn như trời)

 

Trong kinh Đại Thừa Nghĩa Chương có nói về hai loài quỷ có uy đức như Dược Xoa và La Sát. Vì có uy đức, nên chi có chữ quỷ đi cùng với tên: quỷ Dược Xoa, quỷ La Sát, chứ không có dùng chữ “ngạ” đi với tên của nó. Còn tất cả các loài quỷ khác đều có dùng chữ Ngạ hay Ngã (ngạ quỷ, ngã quỷ) vì là số đông đủ loại.

Theo kinh Chính Pháp Niệm có 34 loại ngạ quỷ tại không gian cõi người như sau: 1-Hoạch thân ngạ quỷ (quỷ đói thân chậu), 2-Châm khẩu ngạ quỷ (quỷ đói mồm kim), 3-Thực thổ quỷ (quỷ ăn vào lại mửa ra), 4-Thực phẩn quỷ (quỷ ăn phân ở cầu xí), 5-Vô thực quỷ (quỷ bị nhịn đói), 6.Thực khí quỷ (quỷ ăn khí), 7-Thực pháp quỷ (quỷ ăn pháp), 8-Thực thuỷ quỷ (quỷ uống nước), 9-Thực đóa quỷ (quỷ ăn nước bọt), 10-Thực phác quỷ (quỷ ăn tóc), 11-Thực huyết quỷ (quỷ hút máu), 12-Thực nhục quỷ (quỷ ăn thịt), 13-Thực hương quỷ (quỷ ngữi mùi), 14-Tật hành quỷ (quỷ đi nhanh), 15-Từ tiện quỷ, 16-Địa hạ quỷ (quỷ ở dưới đất), 17-Thần thông quỷ, 18-Xí nhiên quỷ (quỷ lửa cháy), 19-Tư anh nhi tiện quỷ, 20-Dục sắc quỷ, 21-Trụ hải chữ quỷ (quỷ ở bãi biển), 22-Sử chấp trượng quỷ (quỷ cầm gậy) tức là Diêm ma vương, 23-Thực tiểu nhi quỷ (quỷ ăn thịt trẻ con), 24-Thực nhân tinh khí quỷ (quỷ ăn tinh khí người), 25-La Sát quỷ, 26-Hỏa Lư thiêu thực quỷ (quỷ ăn lửa hỏa lò), 27-Trụ bất tịnh hạng mạch quỷ (quỷ ở nơi xóm ngõ bẩn thỉu), 28-Thực phong quỷ (quỷ ăn gió), 29-Thực hỏa than quỷ (quỷ ăn tro lửa), 30-Khoáng dã quỷ (quỷ ở đồng không mông quạnh), 31-Trụ chủng gian thực nhiệt khôi thổ quỷ (quỷ ở nơi mồ mả ăn đất than nóng), 32-Thụ trung trụ quỷ (quỷ ở hốc cây), 33-Trụ tứ giao đạo quỷ (quỷ ở ngã tư đường), 34-Sát thân ngạ quỷ (quỷ đói tự giết thân mình).

Ngoài những phiền não căn bản và các triền phược mang tính ngạ quỷ như đã nói ở phần trước sẽ bị thác sinh làm kiếp quỷ. Theo kinh Lăng Già, tâm con người gây ra những nhân sau đây sẽ bị đọa làm ngạ quỷ (phần dành riêng cho bốn chúng đệ tử Phật)

1.- Phá bỏ luật nghi giới

2.- Phạm giới Bồ Tát

3.- Hủy Niết bàn Phật

4.- Gây các tạp nghiệp thuộc về ý, như:

      - Tâm thường mong đợi có thanh danh

      - Muốn thiên hạ mười phương tán dương khen ngợi

      - Thường tỏ ra bậc cao thượng tài đức

      - Khởi tâm hạ tiện chi ly.

Đó là những tính của các loài ngạ quỷ.

 

6. Con người có tính chất Súc Sinh thật

Những tính chất súc sinh có trong tâm: tham-si (cặp 2) được tương duyên với ngã si, vô tàm, vô quý, phóng dật, tán loạn, giải đãi, cuống.

 

Nói đến tâm tính của các loài súc sinh là phải nói đến tâm Si, gọi là Si mê, mê muội (vô minh). Tâm si mê là tâm không có nhận biết chánh, tà, lý lẽ phải trái, do không có lý trí, chỉ có xúc cảm ở bản thân xác thịt, gọi xúc cảm ấy là cái biết vật chất, biết theo bản năng sinh tồn. Cho nên biết đói đi tìm thức ăn, biết khát đi tìm nước uống, biết đòi hỏi sinh lý đi tìm con đực con cái, trai, gái làm tình với nhau.

Ba thứ sinh lý ăn, uống, làm tình trong cơ thể của các loài súc sinh không có giới hạn, luôn trỗi dậy hướng đến hình tướng 3 mục tiêu sinh lý vật chất sau khi mắt thấy. Cho nên loài súc sinh không biết con đực, con cái là cha, mẹ, anh, em, giòng họ có cùng dòng máu với nhau. Vì vậy mà chúng cắn xé nhau để giành giựt miếng ăn, làm tình lẫn lộn với nhau. Tất cả đều do tâm si mê và tham dục. Hai thứ tâm si mê và tham dục tương quan nhau, do vậy quá tham dục, si mê hiện hữu không ngừng nghỉ.

Với con người, nếu 2 tính chất si mê và tham dục đang trỗi dậy cực độ trong tâm thức, thì nhất định được hiển lộ ra những hành động tham dục một cách si mê gần giống như các loài súc sinh. Trong đó hành động tham dục vô luân lý được xem là phổ biến từ ý niệm lâng lâng trước sắc tướng của người thân ruột thịt trong gia đình và quyến thuộc. Tất cả quốc gia trên thế giới, từ ngàn xưa và hôm nay đều có những hạng người mang tính chất súc sinh thật đó. Một khi tính chất súc sinh thật thường trỗi dậy trong tâm thức như vậy, thì nhất định đi hành động tham dục vô luân, như cha lấy con gái mình, anh em ruột lấy nhau, cha chồng lấy con dâu, anh rễ lấy em vợ, anh em tộc họ lấy nhau. Những hạng người có tâm tham dục vô luân như vậy, không hạn định là giới nào, tất cả trong mọi giai cấp xã hội con người ở phương Đông, phương Tây, xứ Tàu, xứ ta… đều có hạng người tham dục vô luân lý đó. Điển hình qua câu chuyện “người cha lấy con gái ruột” sau đây:

Năm 1978, trại cải tạo Vĩnh Phú K5, là K trung ương, cho nên có hàng trăm tù hình sự diện tự giác (tự do làm việc không bị canh giữ) làm nhiều việc cho cơ quan công an. Trong số tù hình sự đó, có một gã đàn ông trạc tuổi 50, là người già nhất trong đám tù. Gã đàn ông ấy bị tòa án nhân dân kết án trên 10 năm tù do tội lấy con gái ruột đến nỗi phải bị mang bầu. Hắn ta đã ở tù giam gần 9 năm rồi, nên số năm còn lại, sẽ được đưa về những trại ở ngoài thành phố để làm công việc tự giác trong thời gian chờ đợi hết án. Cho nên hắn được đưa về trại Vĩnh Phú K5. Ở đây hắn bị các tù hình sự nhỏ tuổi trêu chọc hắn bằng nhiều lời như “thằng già dê”, “quỷ râu xanh”, “thằng loạn luân”, …

Không những chỉ riêng đám tù hình sự biết đến tội trạng phạm luân của hắn, mà tất cả hằng trăm tù chính trị lúc bấy giờ đều biết đến tội lấy con gái đến có chữa của hắn.

Trong tất cả tội hình sự, tội tham dục vô luân lý, không thể tha thứ được, đều bị mọi người ghét cay ghét đắng. Vì vậy, một buổi sáng nọ, tất cả các đội hình sự và chính trị đều tập trung trước cổng trại để chờ cán bộ trực trại gọi số đội, đứng lên xuất trại đi lao động. Trong lúc ngồi chờ, một đội tù chính trị ngồi gần bên đội tù hình sự. Trong đội tù hình sự đó có gã đàn ông loạn luân ngồi hàng bìa sát bên người tù chính trị. Người tù chính trị ấy biết gã đàn ông có tên quỷ râu xanh, bèn đưa lời hỏi khẽ: “Này ông bạn, trên đời này bộ hết đàn bà để ông lấy rồi sao, ông lại đi lấy con gái của ông?

Gã đàn ông phạm luân liền trả lời: “Có công trồng hoa, thì phải hưởng hoa chứ!”.

Sau lời của gã đàn ông phạm luân vừa dứt, tức thì anh tù chính trị nghiêng người qua trái, giở chân mặt lên, rồi tống cho một đạp vào hông hắn thật mạnh, làm cho toàn thân hình hắn ngả nhào qua người tù bên cạnh. Cùng với chân đạp là một tràng ngôn ngữ: “Hưởng hoa hả, tao cho mày hưởng hoa, cái đồ súc sinh, loạn luân, không phải người”.

Có lẽ do bị đau bởi cái đạp mạnh hơn là những tiếng cười rộ của những người chung quanh, cho nên sau khi trở lại tư thế ngồi chồm hỗm, hắn đứng lên nói lời trả thù: “Báo cáo cán bộ, tự nhiên thằng này nó đánh tôi”.

Người cán bộ trực trại đưa mắt nhìn đăm đăm vào mặt hắn chừng vài giây, rồi nói lớn: “Ngồi xuống”.

Con người có tính chất súc sinh thật được chia làm hai hạng: hạng vô luân lý và hạng có luân lý. Cả hai hạng vô luân lý và có luân lý đều có tâm si mê tham dục như nhau. Nhưng hạng vô luân lý thì ít, còn hạng có luân lý thì quá nhiều. Có luân lý được cắt nghĩa là tâm còn nhận biết về những đạo lý nhân bản con người, trong đó là không được có hành động tình dục với người nam, nữ trong gia đình và tộc họ. Nếu xâm phạm là có tội lớn, cho nên chỉ có tình thương, không có tình dục. Còn những nam, nữ ngoài gia đình tộc họ có quyền lấy nhau, nhưng cũng phải tri hành theo quy luật về hôn nhân của xã hội. Còn người có theo tôn giáo lại càng giữ gìn giới cấm của tôn giáo mình, như Kytô giáo cấm tín đồ đã có chồng, vợ rồi thì không được tình dục với người khác. Trong đạo Phật, đức Phật chế ra giới luật cho 4 chúng đệ tử rõ ràng về vấn đề tình dục: Hai chúng xuất gia thì toàn đoạn dâm dục. Hai chúng tại gia được có vợ, có chồng nhưng không được tà dâm. Tức là không được ăn nằm với người nam, kẻ nữ không phải là chồng mình, vợ mình. Còn ngoài xã hội thế gian có đạo lý nhân bản về hôn nhân được phân định rõ ràng từng phần: phải được cha mẹ hai bên đồng ý chấp nhận, sau đó một số điều kiện ắt phải được tiến hành, là lễ hỏi, lễ cưới, giấy tờ kết hôn được cơ quan luật pháp chứng nhận và ấn ký. Vì vậy mà trong thời xưa, với người phụ nữ, sau khi chồng chết được đúng 3 năm, mới được tái giá, trong khi không chồng mà chữa hoang sẽ bị luật pháp nhà nước trừng phạt rất nặng.

Sở dĩ đạo lý nhân bản thế gian Á Đông có luật lệ về hôn nhân như vậy là do các bậc thánh hiền đã quán chiếu thấy được tính chất súc sinh thật ở nơi tâm tính con người là chất liệu làm ô uế dơ nhớp ngay bản thân con người và gia tộc mất thanh danh, cũng như xã hội bị điên loạn, mất trật tự, nếu không nói là giống như chuồng heo, chuồng bò, chuồng gà… Vì chỉ có loài súc sinh mới có bản thân dơ nhớp, hôi, thối…

Với đạo Phật, đức Phật đã thấy rõ tất cả chúng sinh trong 3 cõi 6 đường (tam giới lục đạo) sở dĩ bị sanh tử luân hồi lên xuống qua lại với nhau như vậy, là do tâm tham dục (ham muốn)  ở mọi thứ. Thứ nào mang tính chất tham dục cực mạnh của thứ đó, ắt phải bị thác sinh vào cõi của nó. Đúng như lời Phật nói trong giới luật của 2 chúng xuất gia: “sanh tử căn bản dục vi đệ nhứt”. Tức là tâm chứa đựng tính chất tham dục ở mọi thứ, chứ không riêng gì dục tình nam nữ, là năng lực căn bản bị sanh tử. Cho nên cái tâm chứa đầy tính chất dục tình sinh lý nam nữ vượt thoát ranh giới luật lệ hôn nhân, luân lý nhân bản, giới cấm tà dâm của đạo Phật lúc còn sống trên đời chính là tính chất súc sinh thật là năng lực bị thác sinh vào các loài súc sinh sau khi chết, đúng với nguyên lý súc sinh là tâm si và tham lam dục tình. Còn tâm chỉ có tham dục luyến ái không có si mê là thứ tình dục của hạng người có tâm tính Trời, Người thật, gọi là Thiên đạo, Nhân đạo, cho nên trong đường tình dục có biết giữ giới tà dâm, luân lý nhân bản, luật lệ hôn nhân một vợ một chồng.

Với các loài chúng sinh trong 3 đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thì 2 loài địa ngục và ngạ quỷ còn có cơ duyên gặp được Phật pháp được siêu thoát lên cõi Trời, cõi Người do có tâm nhận biết hình ảnh Tam Bảo và nghe được lời pháp của Phật giữa các buổi lễ cầu siêu, Trai Đàn Chẩn Tế, như trường hợp bà Thanh Đề mẹ của Mục Liên Tôn giả, bà Hy Thị vợ cũ của vua Lương Võ Đế được thoát ra khỏi địa ngục hết làm thân ngạ quỷ, được siêu thoát lên cõi Trời đúng như lời kinh Vu Lan, Lương Hoàng Sám đã thuyết minh. Chứ còn các loài súc sinh như bò, heo, chó, mèo, gà, vịt, … ở chung với không gian loài người, mà chúng không nghe được, biết được những gì con người nói và làm. Huống hồ làm sao nghe được lời kinh Phật! Đó là lời khẳng định của vị Lạt Ma Bermiag nói với bà Alexandra David trong thời gian du hành Tây Tạng cách nay hơn nửa thế kỷ.

Qua lời khẳng định của Lạt Ma Bermiag về các loài súc sinh khó có thể gặp được Phật pháp như vậy, đích thực cho ta thấy tâm si mê tương duyên với tâm tham lam dục tình là chất ô nhiễm cực mạnh có khả năng làm cho con tim si mê cái tình dục mọc đôi cánh lãng mạng, nên chi nó bay qua giới cấm tà dâm của đạo Phật, lời dạy ái tình trong sáng của các bậc thánh hiền, luật lệ hôn nhân là đạo lý nhân bản của thế gian, là những hàng rào ngăn cản tâm dục tình quá độ hãy dừng lại ở đó để thức tỉnh, để trở về lại tính người là nền tảng sẽ được bước lên ngôi vị các bậc thánh thế gian và xuất thế gian. Nhưng rất ít người dừng lại, đa số con người trong mọi giai cấp xã hội từ thượng lưu trí thức cho đến hàng bình dân, đều tung cánh vượt qua những hàng rào đạo lý ấy để đáp xuống vùng đất ái tình, ngồi dưới gốc cây si do mình trồng hay bị đối tượng trồng vào mảnh đất tâm linh.

Đã là cây, cây vô tướng tại không gian tâm linh, cây hữu tướng tại không gian trái đất, cây nào cũng đều được phát triển trổ cành, ra lá, đơm hoa, kết trái bởi nhiều ngoại duyên. Thì, cây si tại không gian tâm linh, dù là vô tướng, nó vẫn phát triển cành, lá, hoa, trái của nó, đó là cành si mê, lá dục tình, hoa luyến ái, trái đam mê của đôi bên nam nữ làm duyên cho nhau mà có.

Nói về quả của các loài cây. Bản chất của cây nào vốn ngọt, chua, chát, đắng, cay, độc địa, thì quả của nó cũng chứa đựng tính chất giống như thân nó. Nhưng quả của cây si thì khác biệt với những cây khác ở mặt đất. Sự khác biệt đó là có cùng một lúc 6 chất: chua, ngọt, đắng, cay, chát và độc địa trong lòng của nó. Những tính chất đó thường thay đổi, khi thì ngọt, chua, chát, khi thì độc địa, đắng, cay… theo sự biến đổi của tâm linh con người si mê tình dục lúc mơn trớn, yêu đương, tỉnh, say, giận hờn, cuồng loạn tâm hồn, nếu không nói là cây si trong tâm linh khi thì được tắm mát bởi cơn mưa tình mùa hè rực rỡ, khi thì bị rụng lá, gãy cành, tan tác cánh hoa, trái si rụng rơi bởi những cơn bão tình đột phát từ biển mê thổi vào lục địa tâm linh. Làm cho vùng đất tâm linh rít lên những âm điệu tăng gô, lời ca ai oán, hận tình, giã từ cây si, chối bỏ cuộc tình… vì tình yêu như súng đạn, trái đắng, thanh gươm, dao găm, dao nhọn. Đích thực tình yêu là vũ khí giết người, vì thế từ ngàn xưa đến nay, đã có lắm người bị đau khổ vì tình, đã chết vì tình bằng súng đạn, dao nhọn thật, hay bằng súng đạn của tâm hồn ác độc. Vì vậy mà trên cõi trần này, số lượng người bị chết bởi súng đạn, dao nhọn tâm hồn không phải là ít sau một thời thân tâm bị đau khổ, buồn tủi, hất hủi, oán hận… gọi là chết dần, chết mòn trước thái độ đối xử bạc tình của người chồng hay vợ, cho nên sau đó bị chết thật.

Con người ai đã gây ra những cái nhân thú tính súc sinh từ hành động, cùng ý niệm tương duyên với nhau mà có ra những hiện tượng hiện thực như đã được giảng luận vừa rồi, là năng lực cực mạnh dắt dẫn thân trung ấm thác sinh vào các loài súc sinh.

Tất cả mọi quả báo nghiệp thiện, ác để được thác sinh lên các cõi thiện, bị thác sinh vào các cõi ác, đều do tâm khởi lên ý niệm thiện, ác làm nhân tác động cho thân mà có ra hành động mới là điều quan trọng. Chứ hành động của thân chỉ là sản phẩm của ý nghiệp mà thôi. Cho nên không cần có hành động tham dục thú tính của thân, chỉ cần một mình ý niệm súc sinh thôi (tình ý, dâm ý, tâm dâm), cũng đủ làm cho thân trung ấm bị thác sinh vào loài súc sinh, đúng trong luật Sa Di có câu “Đoạn âm bất như đoạn tâm”. Tức là đoạn (cắt đứt) âm không bằng đoạn tâm. Phải cắt đứt dòng tâm tham dục, thì các bộ phận phát dục ở bản thân không thể bùng dậy được. Cho nên mới nói tâm là chủ thể chỉ đạo co thân hành động, hay là chỉ đạo cho thân không hành động một khi tâm không khởi lên ý nghiệp, đúng theo quy luật “thử vô cố bỉ vô”, “thử hữu cố bỉ hữu” (Cái này không cái kia không – Cái này có cái kia có).

Để chứng minh tâm là chủ tể tạo nghiệp hiện tại và cũng là chủ tể thác sinh vào các cõi qua câu chuyện,

Vị Lạt Ma Dugpa Kunleg và người thiếu nữ bên dòng suối” sau đây:

Nói đến những vị Sa môn chân tu trong đạo Phật tại các nước trên thế giới có Phật nhãn, thấy được các hình tướng vong linh Thân Trung Ấm của con người bên kia cõi chết, là phải nói đến những vị Lạt Ma Tây Tạng đang ẩn mình hành trì pháp môn Mật tông trong các hang động ở rặng Tuyết Sơn. Một trong những vị Lạt Ma có Phật nhãn, đó là Lạt Ma Dugpa Kunleg. Do vậy, một ngày nọ, đang nhập định hành trì kinh chú trong hang động trên núi tuyết, Lạt Ma Dugpa Kunleg đã thấy được vong linh Thân Trung Ấm của một Lạt Ma trụ trì một ngôi chùa lớn ở tỉnh dưới bình nguyên cách rặng Tuyết Sơn không xa lắm, đang chơi vơi tiến về ngôi làng có nhiều bầy lừa đực, cái dưới rặng Tuyết Sơn. Tức khắc, Lạt Ma Dugpa Kunleg vội vàng rời khỏi hang, xuống núi đi mau đến bờ suối nơi có người thiếu nữ đang tắm giặt. Lạt Ma Dugpa Kunleg đến bên người thiếu nữ, không cần nói lý do tại sao, ngài ôm lấy thân thiếu nữ toan cưỡng bức hành động Bồ Tát đạo để cứu vong linh thân trung ấm của vị Lạt Ma trụ trì kia vừa mới viên tịch để được thác sinh vào cõi người trở lại theo ánh sáng giao hợp. Nhưng không thể được, vì bản thân cô thiếu nữ to lớn, còn thân hình của Lạt Ma Dugpa thì hom hem ốm yếu, nên bị cô thiếu nữ chống trả bằng đôi tay mạnh bạo, xô đẩy và cào cấu vào mặt, rồi thoát chạy về nhà, kể cho bà mẹ nghe.

Sau khi nghe con gái mình kể, bà im lặng trong giây phút, như để đưa tâm rà qua nét mặt của những trai tráng trong làng, ai là người đã dám hành động tồi bại cưỡng dâm đó. Nhưng không có ai cả, vì tất cả thanh niên nam, nữ trong làng từ xưa nay đều là những người hiền hòa, có luân lý đạo đức, chưa thấy ai đã phạm tội cưỡng dâm đó bao giờ, chỉ có kẻ xa lạ từ đâu tới mới có hành động tội lỗi đó. Vì vậy bà yêu cầu con gái bà diễn tả hình dáng của kẻ vô lại. Khi nghe xong bà giật mình trong trạng thái vừa ngạc nhiên vừa chau mày vì đã nhận ra đúng hình dáng Lạt Ma Dugpa như con bà đã kể, là bậc chân tu nổi tiếng có chứng đạo, được toàn dân tại miền này tôn kính lễ bái từ nhiều năm qua, chưa hề xuống núi. Nhưng tại sao hôm nay ngài xuống núi làm chuyện tình dục như vậy!

Tuy nhiên sau tư tưởng thắc mắc đó, bà liền đưa lời  nhận định về hành động Bồ Tát đạo của các Lạt Ma có tuệ giác để cho con bà nghe, mà biết đến một vài hành động cứu khổ chúng sinh của quý ngài thật là táo bạo, người kém hiểu biết khế lý Bồ Tát đạo trong đạo Phật chưa có thể hiểu thấu được, sẽ cho rằng quý Lạt Ma phạm giới. Thật sự không phải như vậy. Vì tâm của các bậc đạo sư có chứng đắc đã đạt đến cái tâm không còn phân biệt, vượt khỏi tâm tính tầm thường thế gian, luôn luôn phá chấp, thường rong chơi trong sanh tử để bắt gặp Niết bàn. Vì vậy quả thật nếu đúng là Lạt Ma Dugpa, một bậc chơn tu có tiếng, thì hành động cưỡng dâm của ngài đối với con, chính là hành động gây duyên để hóa độ, chứ không phải vô cớ mà làm chuyện ấy. Cho nên bản thân con và ngài không đối diện sinh tình, mỗi người ở một nơi rất xa, chưa hề biết nhau. Ngài ở tận trên núi tuyết xa xôi, mà bỗng nhiên bôn ba xuống núi, đến bờ suối để làm chuyện tình với con là điều có lý do chính đáng. Vậy con hãy trở lại dòng suối, tìm gặp ngài, đến bên ngài, sẵn sàng đáp ứng những gì ngài yêu cầu.

Vâng lời mẹ, người thiếu nữ vội vàng bước nhanh đôi chân chắc nịch gập ghềnh qua từng chặng khúc khuỷu quanh co trên đường đến dòng suối đầy ắp cỏ tranh, cỏ chỉ, phi lao. Tại bờ suối cũ, nàng đưa mắt nhìn quanh, không thấy Lạt Ma Dugpa đâu cả! Thoáng qua ý nghĩ định trở về, nhưng sợ thất lỗi với mẹ, nàng rảo bước và đưa mắt tìm cho ra Lạt Ma Dugpa. Bằng tư thế khom lưng nhìn về cuối bờ suối nơi có nhiều tảng đá và cây sim, nàng thấy ngay Lạt Ma Dugpa đang tọa thiền trên tảng đá, lấp ló sau những cành cây sim đầy hoa tím đang nhịp cánh trước làn gió mát lạnh của đầu mùa thu, nên con nước trong lòng suối đang lớn làm cho tiếng reo của con suối cũng theo đó mà lớn tiếng rì rào.

Bắt gặp được Lạt Ma Dugpa, người thiếu nữ quỳ xuống phía vai trái Lạt Ma Dugpa, mà trước mặt nàng là những cành sim đang lắc lư từng đợt như thể ra tín hiệu bảo nàng hãy nói lớn lời thưa gửi với Lạt Ma Dugpa, vì tiếng của nàng đang hòa lẫn giữa tiếng suối reo, nên Lạt Ma Dugpa vẫn ngồi im tĩnh tọa.

Tại sao Lạt Ma Dugpa không trở về hang động trên núi tuyết, mà ngồi lại ở bên bờ suối? Phải chăng ngài đang chờ cô thiếu nữ trở lại để ngài nói rõ lý do hành động cưỡng bách vừa rồi của ngài để cho người thiếu nữ hiểu rõ lý đạo Bồ Tát mà những bậc đạo sư tâm đã vượt thoát ái dục mới có thể dám hành động mà không bị đọa vào 3 đường ác. Quả thật sau một cơn lốc lướt mạnh trên mặt suối rồi bao quanh Lạt Ma Dugpa làm cho những cành sim phải vật vờ, ngả nghiêng xào xạc. Do vậy Lạt Ma Dugpa dừng tâm thiền trở về thực tại. Cho nên ngài không cần nhìn nghiêng qua phải hay trái, ngài vẫn biết có người thiếu nữ đang quỳ nói lời tạ lỗi và bằng lòng làm theo lời ngài sai bảo.

Sau lời thưa gửi của người thiếu nữ mà ngài nghe được vừa dứt, ngài liền nói:

- Này con! Tướng sắc dục tình đối với ta không có nghĩa lý gì cả, như nắng quái qua cầu, mây bay, gió thoảng, điển chớp, sương mai đầu cành… Tất cả đều vô thường hoại diệt, sinh tử, tử sinh luân hồi. Nhưng vì lòng thương cho một vong linh của vị Lạt Ma trụ trì ở ngôi chùa lớn tại phố thị không siêu thoát, nên đang chơi vơi chập chờn gần bầy lừa trong thung lũng dưới rặng tuyết sơn mà ta thấy được vong linh vị trụ trì đó đang chờ duyên giao hợp của lừa đực, lừa cái mà thác sinh vào làm thân súc sinh kiếp lừa. Vì vậy cho nên ta vội xả thiền, xuống núi, đến dòng suối, làm hành động cưỡng bức đối với con để tạo ra ánh sáng nhân đạo mà hướng dẫn vong linh vị trụ trì thấy được theo đó mà thác sinh trở lại làm người. Nhưng vì nghiệp lực súc sinh của vị trụ trì ấy quá nặng, nên khiến cho tâm con chống trả qua hành động xô đẩy, cào, cấu, rồi thoát chạy.

Quả thật, sau khi con thoát chạy khỏi đôi tay ốm yếu của ta, vong linh thân trung ấm của vị Lạt Ma trụ trì ấy đã nhập vào thai con lừa cái khi con đực và cái giao cấu nhau. Từ nay và thời gian kế tiếp, vị ấy sẽ thọ thân lừa chịu nhiều cực hình. Nguyên do bởi gây ra các nhân, là cái tâm vốn lười biếng chỉ muốn thụ hưởng khi còn là học tăng trong tu viện. Nhưng nhờ có nội quy tu viện, nên vị ấy có chút hành trì giới luật, chấp tác giáo vụ nghiêm minh. Đến khi được chư tôn giáo phẩm trung ương bổ nhiệm chức vị trụ trì tại ngôi chùa lớn nơi phố thị, thì những bản chất lười biếng, thụ hưởng, nhân ngã, ngã si, ngã kiến, ngã ái… liền hiển lộ ra thân tướng trụ trì, một chức vụ đầy quyền lực trong tay, nhiều tiền tài, vật chất thơm ngon bao quanh, được thiện nam tín nữ nhiệt tình tôn xưng ca ngợi lễ bái, được kẻ đón người đưa khi ra đi, lúc trở về, v.v… vì vậy cho nên vị trụ trì ấy không hành trì giới luật, không kinh kệ sớm chiều, ăn quên đọc tam đề, uống quên đọc ngũ quán, cứ luôn sinh tâm tư duy về sắc tướng dục tình, không chịu đoạn tâm, luôn phóng dật theo ý nghiệp chứa đựng các nhân 3 đường ác, dù thân chưa hành động, nhưng nó là nền tảng  bị thác sinh vào 3 đường ác. Vì vậy mà vong linh thân trung ấm của vị trụ trì kia đã bị thác sinh vào bụng con lừa cái mà thọ thân kiếp lừa là loài súc sinh có khả năng kéo xe cho con người để trả nợ cho đàn na tín thí. Do vậy làm kiếp súc sinh không những chỉ bằng hành động dâm ô vô luân, phá giới cấm tà dâm, vượt luật lệ hôn nhân, trái đạo lý nhân bản… mà có cả mọi thứ mắc nợ ở nhiều cách.

Sau đây là 5 thứ nhân bị làm thân súc sinh theo lời kinh Biện Ý chép:

1. Phạm giới ăn cắp

2. Nợ nần các thứ

3. Sát sinh hại vật

4. Không thích nghe giảng kinh pháp

5. Thường bị các duyên khó đến trai hội.

 

 

 

NHỊ ĐẾ LÀ GÌ?

 

Nhị đế là hai đế. Đế có nghĩa là chân thật, chân lý. Hai chân lý (nhị đế) này có mấy nghĩa sau đây: Tục đế và Chân đế, Thế đế và Đệ nhất nghĩa đế, Thế tục đế và Thắng nghĩa đế. Các bậc trung, thượng, căn thánh trí đều thấy rõ lý tính chân đế của Nhị đế. Danh tự Nhị đế có mặt trong Tam Tạng kinh, Luật, Luận Phật giáo. Nhị đế có nhiều tên gọi khác nhau như đã thống kê ở trên, nhưng Tục đế và Chân đế là thông dụng nhất.

Tục có nghĩa là thế tục. Vì là thế tục, nên Tục đế có ba nghĩa: Một là hư giả vì vô minh, hai là hiện hữu do nhân duyên, ba là ngôn ngữ luận lý. Trong ba nghĩa, thì nghĩa mộthai là xác thật về lý tính của Tục đế hơn hết, bởi vì hai lý đó có mặt trong mọi hiện tượng thực tại và tâm ý của phàm phu thế gian. Tức là do tâm vô minh đầy khát vọng tham luyến, ái dục... mà thấy sai lạc về ngã (thân kiến), cho rằng thân ta thật có (ngã kiến), do không thấy được danh, sắc ngũ uẩn là giả hợp do y tha khởi duyên sinh. Rồi vì tham ái vọng thức mà thấy các vật chung quanh ta cho là của ta, thuộc về ta: nhà ta, con ta, vợ ta... (ngã sở kiến).

Cái thấy cực đoan.

Do cái ngã mà sinh ra những tư tưởng cực đoan gọi là biên kiến. Và cho rằng chết là hết, không có đời sau, không có luân hồi, nhân quả, báo ứng, gọi là đoạn kiến. Cũng như tự thấy con người là tối thượng là chủ tể muôn đời vẫn là con người, còn súc vật muôn đời là súc vật (thường kiến).

Cái thấy không đúng sự thật có tính cách xuyên tạc.

Vì do ngã đầy tham sân chấp ngã, nên tâm thức con người không thấy được các pháp và thân mình luôn biến đổi vô thường mà cho là thường tồn tại. Không thấy được các pháp vô ngã mà cho là hữu ngã, cùng với các tính chất khổ đau mà cho là vui thú. Bất tịnh mà cho là tịnh. Do y tha khởi duyên sinh mà có vạn hữu mà cho là tự có trường tồn, không hoại diệt, đó là tà kiến.

Chấp vào kiến thức được có của mình.

Với tâm còn tính hữu ngã là năng lực chấp vào sự hiểu biết là hơn hết, từ đó thường khởi lên ý niệm tuyên truyền, thuyết phục tha nhân chấp nhận những quan điểm nào đó của mình là đúng lý, hợp thời. Trong đối đãi muốn mọi người tôn vinh, khen ngợi. Trong cuộc sống khư khư ôm lấy sở học của mình trong trạng thái tự mãn, lý luận đắc ý, đó là kiến thủ kiến.

Người học Phật phải nhận thức về những đối tượng thấy sai lạc trên để khỏi bị mắc kẹt vào mạng lưới thủ kiến thủ. Tức là sự chứng nghiệm, giác ngộ chưa đến đâu mà tự mãn cho là đã giác ngộ nên không cần học hỏi thêm Phật pháp, không cần tu tập nữa, dù những quan niệm đó có đúng đắn đến đâu vẫn là điều sai lầm, là động cơ làm ngưng đọng bước tiến lên nấc thang giác ngộ.

Nói đến nhận thức là phải nói đến ngôn ngữ lý luận dù thầm lặng hay bằng lời, cùng với hành động mô tả khế lý duyên sinh, nhân quả cho mình và tha nhân được tri nhận. Một khi tâm có tri nhận thì những tính cảm thọ, tưởng trí là năng lực đánh thức tâm mê vùng dậy, Phật tánh liền hiển lộ, làm cho thức biến đổi thành trí đúng theo “thức mê, trí ngộ”.

Liễu ngộ giáo pháp và chứng đạo giác ngộ từ từng phần đến toàn giác là của mỗi người tự chứng, tự ngộ, tha nhân không thể thấy biết chân đế toàn giác đó. Đệ Nhất Nghĩa Đế (Chơn Đế) này là của chư Phật, tuyệt đối, nên không thể nói lên bằng ngôn ngữ. Ngay cả sự giác ngộ ở cấp độ Thanh Văn, Duyên Giác, người giác ngộ cũng không thể phát biểu thành lời về thể tánh giác của mình ra sao cho tha nhân được biết. Nếu có chăng, người nghe cũng không thể nhận ra tánh giác của người chứng như thế nào, giống như người không uống trà mà ngồi nghe người đang uống nói về mùi vị ngon thơm của trà!

Tuy nhiên, với tâm đại từ bi và đại trí là năng lực thương chúng sinh bị khổ đau sanh tử, luân hồi, chư Phật thị hiện vào thế gian để thuyết và hướng dẫn về giáo pháp giải thoát mà mình đã chứng ngộ cho chúng sinh theo đó biết cách tu tập giác ngộ như mình.

Giáo pháp cùng với ngôn thuyết hướng dẫn của Phật trên vận hành hóa độ chúng sanh đều là Tục đế đúng với cái nghĩa thứ ba của Tục đế là “ngôn ngữ lý luận”. Đích thực vai trò của Tục đế trên cơ sở ngôn thuyết hiện thực vào bản thân từng pháp môn mà người hướng dẫn cho tha nhân học đạo được thấy đạo để hành, không thể không áp dụng Tục đế. Vì vậy, Tục đế được ví như ngón tay chỉ mặt trăng, như lời giả thiết trong bài toán hình học quỹ tích để người làm toán theo đó mà tìm ra quỹ tích là hình gì. Nói đến cụm từ “tùy duyên bất biến”, thì Tục đế là phương tiện tùy duyên, đúng theo nguyên lý của pháp môn là linh hoạt, sinh động để đối trị lại mọi căn tính của từng giai cấp chúng sinh. Và cũng là thái độ của người thuyết pháp là không y kinh, không ly kinh, tức là nói làm sao để cho người học đạo được hiểu, thấy đạo để hành. Cho nên sự hoằng dương chánh pháp trong Phật Giáo nhắm vào hướng dẫn chúng sinh phương pháp tu tập, chứ không mang sắc thái truyền giáo như các tôn giáo khác.

Thuyết Nhị Đế do Bồ Tát Long Thọ khởi xướng, vì muốn phân biệt giữa tương đối hiện tượng và chân lý tuyệt đối có khác, nhưng vẫn tương duyên nhau; như nói Bồ Đề có trong phiền não, Niết Bàn trong sinh tử, sóng có trong nước. Nhưng khi hiện tướng phiền não, sinh tử, và sóng tiêu tan, thì có được bản thể Bồ Đề, Niết Bàn, và nước vẫn là nước. Tức là bản thể không bao giờ thay đổi, chỉ có hiện tượng thay đổi, cho nên mới nói phiền não là khách trần. Nếu chấp vào hiện tướng tức còn chấp chứa khách trần phiền não, thì nhất định không thể thấy được bản thể. Đó là mê, hoặc chỉ chấp vào bản thể, không thấy được hiện tướng (sinh tử, phiền não) thì cũng chưa gọi là tỉnh ngộ (giác ngộ).

Người thuyết pháp và học Phật trong tu tập phải thấy cả hai lý ấy. Thấy ở đây là không chấp, nếu còn chấp là không thấy. Còn chấp là chưa vén được cái lá chắn phúc chướng Tục đế qua một bên, thì làm sao thấy được Chân Đế! Bởi vì Tục Đế và Chân Đế cùng có trong ngôi nhà tâm linh, nên mới nói rằng phiền não có trong Bồ Đề. Nói khác hơn Chân Đế có trong Tục Đế. Muốn tìm thấy Chân Đế phải nương vào Tục Đế bằng sự khảo sát luận lý trong tu tập hay thuyết pháp độ sinh. Cho nên Trung Luận xác quyết: “Phật thuyết pháp bằng Nhị Đế”. Trung Luận còn nhấn mạnh quả quyết: “Không hiểu được Tục Đế thì sẽ không hiểu được Chân Đế. Một khi còn mù mờ về Tục Đế, Chân Đế thì không hiểu Phật pháp là gì!”.

Trung Luận còn khuyến cáo người học và tu tập Phật pháp phải phân biệt Tục Đế và Chân Đế cho tường tận:

Người nào đối với Nhị Đế mà không có khả năng hiểu, và phân biệt giữa Tục Đế, Chân Đế, người đó không thể tri nhận ý nghĩa chân thật giáo pháp sâu xa vi diệu của chư Phật.

Nếu không dựa vào Tục Đế, không thể đạt được Chân Đế. Và nếu không đạt được Chân Đế, không chứng được Niết Bàn, dù là Niết Bàn Hữu Dư cũng phải dung thông Nhị Đế.

Tư tưởng dung thông Nhị Đế cũng được ngài Khuy Cơ, vị tổ sư sáng lập ra pháp tướng tông, tổng hợp bằng cụm từ “ẩn hiển đế” qua hai câu:

Thế vị ẩn phúc, khả hủy hoại nghĩa;

Tục vị hiển phúc, tùy thế lưu nghĩa.

Qua hai câu trên, ta hiểu ý ngài Khuy Cơ muốn chỉ rõ cho mọi người thấy rõ mọi hiện tượng hiện hữu luôn luôn làm chướng ngại chân tánh con người, nên nó không thật có, bị hoại diệt. Nhưng vai trò của nó “ẩn hiển đế”, tức Tục Đế vừa ngăn che (phúc chướng) Chân Đế và cũng vừa làm hiển liễu Chân Đế một khi được sử dụng ngôn ngữ lý luận bằng khái niệm. Cho nên Tục Đế là chân lý ước định, chân lý mà khả năng người học Phật cho mục đích giải thoát trên vận hành tu tập có thể đạt được bằng ngôn ngữ lý luận, vì vậy ngôn từ dùng làm khí cụ biểu hiện của sự vật trở thành đối tượng của nhận thức. Từ đây ta thấy rằng trình độ thông hiểu Tục Đế càng cao, thì khả năng nhận diện Chân Đế siêu tuyệt, mức độ giác ngộ giải thoát càng bao quát. Vì thế không thể so sánh giá trị giữa Tục Đế và Chân Đế. Bởi vì Tục Đế và chân lý thường nghiệm theo tập quán và công ước quy định thuộc thực chất hữu vi phúc chướng của cuộc sống hữu thể biến động hằng ngày. Còn Chân Đế thì vô vi, tối thượng bất khả thuyết, không thể nghĩ bàn, cho nên Chân Đế luôn siêu tuyệt Tục Đế, ngược lại Tục Đế không thể chuyển biến thành Chân Đế. Hai chân lý Tục Đế và Chân Đế luôn luôn tương duyên bên nhau. Bên Tục Đế như là một lá chắn (ẨN) làm ngăn che Chân Đế nên nó không thể thành Chân Đế. Muốn thấy Chân Đế, phương pháp duy nhất là phải dẹp lá chắn vô minh qua một bên (HIỆN) thì thấy Chân Đế. Vì vậy mà ngôn ngữ lý luận Tục Đế là  khí cụ dẹp đi cái lá chắn vô minh phiền não, thì Bồ Đề hiển lộ. Quả thật chư Phật đều bằng vào ngôn ngữ lý luận để khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Về phía hành giả học và tu tập Phật pháp để đạt trí tuệ giác ngộ thực tướng vô ngã các pháp, cũng phải bằng vào ngôn ngữ lý luận Tục Đế! Vì thế Trung Luận mới nhấn mạnh rằng: “Sự thấu đạt chân lý tối thượng là Niết Bàn Vô Dư (Phật thừa) đều hoàn toàn tùy thuộc vào sự thông hiểu Tục Đế là yếu tố quyết định”. Nhưng Trung Luận cũng nói rằng: “ngôn ngữ lý luận Tục Đế chỉ là một giả pháp trong việc khai quyền hiển thật Đệ Nhất Nghĩa Đế. Khi nghĩa huyễn thì thuyết xa lìa, thuyết tức không thuyết, chỉ (Samatha-tâm định) tức không chỉ. Chỉ vì tâm chúng sinh đầy vô minh, hư vọng mà nói ngôn thuyết Tục Đế khiến cho chúng sinh xa lìa hư vọng mà ngộ nhập tri kiến Phật. Vì vậy Đức Thế Tôn đã nói: ‘Suốt thời gian 45 năm thuyết pháp, ta chẳng nói một lời nào’”.

Kết luận, Nhị Đế là một phương tiện giao tiếp giữa người diễn đạt Phật pháp phải có khả năng trí thức Phật giáo, trong đó Tục Đế phải được phân tích, chẻ nhỏ ra từng mảnh để làm hiển liễu Chân Đế, tức là thực tướng của tất cả pháp là vô ngã, không tự tính, nói như Đạo sư Tuệ Sỹ: “Ta thấy do phương tiện mà thật huệ được chứng ngộ và từ thật huệ ấy mà tuôn ra vô số phương tiện”.

 

 

 

VẤN ĐỀ TỤNG KINH CỦA HÀNG PHẬT TỬ

XUẤT GIA VÀ TẠI GIA TRONG THỜI PHẬT

CÒN TẠI THẾ

 

Trong thời Phật còn tại thế, chư Thánh tăng và Phật tử chỉ có nghe Phật thuyết pháp mà chứng đắc quả vị THANH VĂN từ thấp đến cao (Tu đà hoàn, Tư đà hàm, Ana hàm và Alahán) do thực hành bằng tư duy, quán niệm, quán chiếu vào thực tại trong đời sống qua thân, tâm ở trạng thái đối đãi trước vạn hữu sắc trần mà tâm luôn chánh niệm, tỉnh thức. Chứ không có đọc, tụng kinh điển, bởi vì suốt 45 năm Phật thuyết pháp (nói kinh) không có ghi chép, do vì ngôn ngữ của Ấn Độ chưa có hệ thống chữ nghĩa thành văn, việc in ấn chưa phát minh. Ấy thế vậy mà trong 5 thời kỳ thuyết kinh, nhất hạng là thời Pháp Hoa được biểu thị cho hành động Bồ Tát đạo, trong đó Đại Tạng Kinh phải được thành lập, Đức Phật luôn luôn có lời nhắc nhở giới xuất gia và cư sĩ về việc sao chép kinh điển thành văn, thành sách, thành đại tạng để lưu truyền chánh pháp vào thế gian cho các thế hệ Tăng, Ni, Phật tử ở hậu lai theo đó mà nghiên cứu học hỏi trên bước đường tu tập để giác ngộ giải thoát. Lời Đức Phật bảo mọi người: “Tự mình sao chép, khuyên bảo người sao chép kinh điển thành sách, tạng kinh”.

Qua lời Đức Phật nhắc nhở hai chúng xuất gia và tại gia cư sĩ hãy sao chép kinh điển trong thời đại Ấn Độ chưa có hệ thống văn chương chữ nghĩa như vậy, cho ta thấy Đức Phật đúng là một bậc đại giác, nên ngài đã biết trước các thế hệ Tăng bảo và cư sĩ sẽ kết tập kinh, luật, luận và Ấn Độ sẽ có hệ thống chữ nghĩa sau khi Đức Phật nhập diệt và Phật cũng thấy biết luôn chúng sinh ở hậu lai khó có thể đạt đạo giác ngộ dù cho có được nghe Tăng bảo thuyết kinh, bởi vì do xã hội có nhiều vật chất cao độ làm cho con người đắm nhiễm vào dục lạc, tâm ý mê muội, Phật tánh khó phát triển. Do vậy Đức Phật đã thuyết minh về quả vị Duyên giác qua cách hành trì giáo pháp “Thập Nhị Nhân Duyên” mà mỗi hành giả tự thân quán niệm, quán chiếu vào các bản thể vạn hữu thực tại để được giác ngộ chân lý làm hành trang giải thoát, cho nên tụng kinh và đọc kinh sách Phật pháp là một trong các cách tu tập vậy.

 

 

 

 

 

 

THẤY DẤU ĐẠO

 

Như ta đã biết toàn bộ nền đạo lý của Phật trong ba tạng kinh, luật, luận, luôn luôn là phương tiện hướng dẫn chúng sinh tu tập từng bước một để thấy bóng dáng đạo lý vô ngã trước đã. Sau khi đã thấy được dấu đạo (liễu ngộ, ngộ đạo) rồi, tiếp tục thực tập đúng phương pháp để đạt đạo.

Vì là phương tiện, nên chi những bài pháp thoại Phật nói ra cho hai chúng xuất gia và hai chúng tại gia và các thành phần ngoài đạo Phật đều khác nhau về khế lý, gọi là bài pháp phù hợp với căn cơ và trình độ mà có khác. Nhưng tất cả đều có cùng một đạo tích, tức là dấu tích của đạo lý vô ngã, chưa phải là cái đích thực của vô ngã.

Kiến đạo tích là thấy dấu hiệu của đạo, sự thấy này được ví như người chăn trâu bị mất trâu đang trên đường tìm trâu thấy được dấu chân trâu, chứ chưa gặp được đích thực con trâu. Muốn tìm thấy rõ con trâu, người đi tìm cứ theo dấu chân trâu mà đi, dù dấu chân trâu quanh co ngõ nào đi chăng nữa, cũng phải kiên nhẫn mà đi theo dấu chân trâu sẽ bắt gặp trâu. Không theo dấu chân trâu sẽ không bao giờ gặp trâu. Nếu vậy là bị mất trâu!

Tu tập bất cứ pháp môn nào cũng phải theo dấu đạo vô ngã của pháp môn đó. Tịnh Độ, Phật thất có dấu đạo vô ngã của Tịnh Độ là cái tâm buông xả tất cả không bị loạn động. Thiền định có dấu đạo vô ngã của Thiền định, đó là cái tâm buông xả an trú trong chánh niệm, tỉnh thức, v.v… và kể cả những công việc từ thiện, bố thí, cúng dường, phụng trì đạo pháp, Phật sự tại các chùa, cũng phải theo dấu đạo vô ngã trong đó, vì là những phương pháp tu, phải nhận thức rõ điều đó. Bằng không, tâm thức sẽ bị lạc vào quỹ đạo trụ tướng, trụ pháp mà không hay.

Là hành giả tu tập Phật pháp cho mục đích tìm cầu phương tiện giải thoát là tâm thanh tịnh vô ngã, ta phải thấy rõ rằng, toàn bộ nền đạo lý kinh điển Phật, dù là những bộ kinh dài, quyển kinh ngắn, câu kệ, pháp cú, pháp số, v.v… đều là những phương tiện hướng dẫn cách thức tu tập để thấy “đạo tích vô ngã” trước tiên, để rồi tiếp tục thực hành theo dấu đạo vô ngã (các phép quán) đó, thì mới có thể hoàn toàn đạt được đạo vô ngã giải thoát. Cho nên những thừa, nhân, thiên, Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát mà Phật nói ra, chỉ là những phương tiện hướng dẫn cách thức tu tập để thấy dấu đạo vô ngã mà tu, cuối cùng là Phật thừa, con đường giác ngộ hoàn toàn vô ngã.

 

 

 

BỐN THỜI KỲ KẾT TẬP TAM TẠNG KINH ĐIỂN

SAU KHI PHẬT NHẬP DIỆT

 

Có 4 thời kỳ kết tập kinh điển:

 

1.- Thời kỳ thứ nhất tại thành Vương Xá. Sau khi Phật nhập diệt không lâu, ngài Ca Diếp được vương quốc nước Ma Kiệt Đà là A Xà Thế đồng tình trợ giúp, đứng ra triệu tập và chủ tọa 500 vị Tỳ Kheo được chọn trong số hàng ngàn vị cho công cuộc kết tập kinh, luật, luận. Đia điểm kết tập là tại hang Thất Diệp thuộc ngoại ô kinh thành Vương Xá. Đợt kết tập đầu tiên này, cũng chỉ là cùng nhau hiệp tụng lại kinh, luật, luận mà thôi, chứ chưa ghi chép thành văn. Ba vị Thánh tăng chính yếu đảm trách công việc kết tập lúc bấy giờ là Tôn giả Anan tụng tạng kinh, Tôn giả Ưu Ba Li tụng luật tạng, Tôn giả Phú Lâu Na tụng Luận tạng.

 

2.- Thời kỳ thứ hai tại thành Tỳ Xá Li. Sau đợt tập kết lần đầu của ngài Ca Diếp gần 100 năm, nhiều vị Tỳ Kheo hậu lai kế thừa cũng hợp nhau kết tập. Minh chủ của thời kỳ kết tập thứ hai này là ngài trưởng lão Da Xá làm chủ tọa trước 700 vị Tỳ Kheo ở ngôi vị hiền đức trong việc hội thảo bàn luận về giới luật nhiều giờ hơn kinh, luận. Bởi vì có một số vị Tỳ Kheo lúc bấy giờ cho rằng giới luật quá khắt khe làm cho đời sống đạo bị khó khăn trong sinh hoạt thường nhựt, nên có lời đề nghị điều chỉnh. Cuối cùng, giới luật của Phật đã chế ra, vẫn được đa số đồng thanh đề nghị giữ nguyên và tuân thủ giáo chế của Phật. Cho nên thời kết tập Tam Tạng lần thứ hai này được gọi là thời kỳ mang tư tưởng xét lại Luật nghi. Thời kỳ kết tập lần hai này, cũng chưa ghi chép thành văn, vẫn còn hiệp tụng.

 

3.- Thời kỳ thứ ba tại thành Ba Tri Lị Phất. Sau Phật nhập diệt hơn 200 năm, trong tập thể đại chúng Tỳ Kheo Tăng bị các phần tử ngoại đạo trà trộn đội lốt Tỳ Kheo để phá hoại chánh pháp Phật bằng cách sửa đổi giáo nghĩa kinh điển Phật, do vậy làm cho các Tăng sĩ chưa thông đạt chân lý chánh pháp bị đi vào tà kiến không phải là ít. Trước sự có nhiễu loạn khế lý giáo điển đó, sáu ngàn Tỳ Kheo Tăng chân tu họp nhau lại rồi chọn ra một ngàn vị tinh thông Tam Tạng, trong đó có Tôn giả Mục Kiền Liên Đề Tu làm thượng thủ chủ toạ cho việc kết tập.

Thời kỳ kết tập Tam Tạng kinh điển thứ ba này nhằm vào thời đại vua Asoka (A Dục) vị vua có tín tâm phụng sự đạo pháp, và cũng là thời đại ngôn ngữ Ấn Độ được thành lập có hệ thống văn tự, trong đó văn tự Sankrit được xuất hiện. Nhờ đó mà Kinh, Luật, Luận trong thời kỳ kết tập thứ ba được ghi chép thành văn bản trên lá bối.

 

4.- Thời kỳ thứ tư tại thành Ca Thấp Di La. Sau Phật nhập diệt đúng 400 năm, cuộc kết tập Tam Tạng được diễn ra dưới đời vua Kaniska (Ca Nị Sắc). Vua Ca Nị Sắc là một Phật tử thuần thành, nên chi mỗi ngày ông đều thỉnh một vị Tỳ Kheo vào hoàng cung thuyết một đề kinh, nhưng mỗi vị đều nói khác nhau về khế lý giáo nghĩa. Ông bèn đem điều đó thỉnh ý với Hiếp Tôn giả. Được Hiếp Tôn giả cho biết: sở dĩ chư Tăng không đồng nhất về lý nghĩa của một thứ kinh khi thuyết, là do cá nhân Tăng bảo đó tự ý thêm bớt lời kinh, chứ khế lý của kinh đều đồng nhất. Sau đó vua Ca Ni Sắc xin phát tâm làm công việc kết tập Tam Tạng. Do vậy nhà vua cung thỉnh 500 vị A la hán, trong đó Bồ Tát Thế Hữu được cung cử chức vị Thượng Thủ, chủ tọa công việc tụng lại kinh, luật, luận và ghi chép thành văn bản rồi khắc vào những lá đồng đỏ, và được cất giữ vào các bảo tháp.

Tât cả Kinh, Luật, Luận được kết tập trong đợt thứ tư này làm thành 10 vạn bài tụng, có tên Đại Tỳ Bà Sa Luận.

Thời kết tập ba tạng giáo điển lần thứ tư này nhằm vào thời đại văn tự Sankrit được hoàn chỉnh về văn phạm và phát triển vào nền văn hóa Ấn Độ, do vậy 10 vạn bài tụng được ghi chép thành văn bản rõ ràng lý nghĩa của giáo điển. Chính giữa thời kỳ văn tự Sankrit phát triển này, mà những luận sư Tăng bảo xuất hiện viết ra nhiều bộ luận, như bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận của Bồ Tát Mã Minh, bộ Nhiếp Đại Thừa Lận của Bồ Tát Vô Trước, bộ Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ, bộ Câu Xá và Duy Thức Luận của Bồ Tát Thế Thân, v.v… Từ đó Luận Tạng được thành lập và phát triển kể từ sau lần kết tập thứ tư cho đến ngày nay. Và Tam Tạng Kinh, Luật, Luận được thành lập có hệ thống cũng do từ sau đợt kết tập lần thứ tư đó.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý NGHĨA NĂM THỜI KỲ THUYẾT PHÁP

CỦA PHẬT

 

Năm thời kỳ thuyết pháp của Phật đúng vào 5 ý nghĩa sau đây:

1.- Ý nghĩa thứ nhất. Được biểu thị cho hàng căn cơ tối thượng (cao nhất) về sự hiểu biết rộng lớn có tính cách bác học như những đỉnh núi cao ngất trời xanh nên chi luôn luôn được tiếp nhận ánh sáng của mặt trời vừa mới mọc đầu tiên vào buổi sáng gọi là “Nhật Xuất Chiếu Cao Sơn”. Cho nên Đức Phật thuyết kinh Hoa Nghiêm đầu tiên cho hạng căn cơ bậc thượng (Bồ Tát) sau khi chứng đạo Bồ Đề, như mặt trời vừa mới mọc ở phương đông trước tiên chiếu trên đỉnh núi cao.

2.- Ý nghĩa thứ hai. Được biểu thị cho hàng căn cơ bậc trung và hạ như người đứng ở núi thấp và giữa lưng chừng núi nên chi được tiếp nhận ánh sáng mặt trời khi mặt trời lên cao lúc 8, 9 giờ AM, gọi là “Nhật Thăng Thứ Chiếu Hắc Sơn” (mặt trời lên cao chiếu núi thấp). Cho nên Đức Phật thuyết A Hàm ở thời thứ hai cho hạng căn cơ trung và hạ.

3.- Ý nghĩa thứ ba. Được biểu thị cho hạng hành giả có căn cơ cao và trung như mặt trời càng lên cao thì chiếu lại ánh sáng khắp vùng cao nguyên, gọi là “Nhật Thăng Chiếu Cao Nguyên”. Cho nên Đức Phật thuyết các kinh Lăng Nghiêm, Lăng Già, Bảo Tích, v.v… cho tất cà hành giả có căn cơ cao và trung.

4.- Ý nghĩa thứ tư. Được biểu thị cho tất cả hạng căn cơ bậc thượng, trung và hạ như mặt trời giữa trưa chiếu xuống khắp sơn hà đại địa, ở đâu cũng đều được tiếp nhận ánh sáng mặt trời, gọi là “Nhật Thăng Phổ Chiếu Đại Địa”. Cho nên Đức Phật thuyết kinh Bát Nhã chung cho tất cả mọi căn cơ.

5.- Ý nghĩa thứ năm. Được biểu thị cho hạng hành giả có căn cơ cao như các bậc Bồ Tát, như mặt trời sắp lặn về hướng Tây, ánh sáng chiếu trở lại trên các đỉnh núi cao, gọi là “Nhật Một Hoàn Chiếu Cao Sơn”, như lúc mặt trời vừa mới mọc vào buổi sáng. Cho nên Đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, là thời kỳ cuối cùng trước khi Phật nhập Niết Bàn.

 

 

 

THẾ NÀO LÀ ĐỘ?

 

Hai từ ngữ Độ và Giác Ngộ không khác nghĩa, như đã nói ở mục Ba La Mật. Cho nên ta thường nghe các thầy Tỳ Kheo nói: “Tự độ, độ tha, tự giác, giác tha”. Tuy nhiên về phía Đại thừa, chữ Độ được sử dụng trên lãnh vực các hàng Bồ Tát ở Mười Địa vào đời để thành tựu viên mãn công việc vô lậu trước khi vào Niết Bàn Phật Quả bằng những hành động Bồ Tát Đạo cứu bạt chúng sanh, thường gọi là hoằng hóa độ sanh.

Cụm từ “Hoằng hóa độ sanh” được thuyết minh trên hai mặt cứu độ chúng sanh bằng vật chất và tinh thần. Nói khác hơn, chữ Độ của các hàng Bồ Tát vào đời phải được thực hiện đầy đủ pháp Lục Độ Ba La Mật, được gọi là Sáu Phép Qua Bờ. Lục Độ nghĩa là sáu độ chứ không phải một độ. Độ từ vật chất cho đến tinh thần, tức là bố thí tiền tài của cải và Phật pháp cho tất cả giai cấp chúng sanh. Cho nên Bồ Tát bố thí vật chất cho chúng sanh là độ, bố thí pháp (nhiều cách: thuyết pháp, hay kinh sách) cho chúng sanh là độ. Ngược lại, Bồ Tát được chúng sanh cúng dường vật chất, tiền tài cũng gọi là độ. Bởi vì, sau khi hoan hỷ thọ nhận vật cúng dường, người Bồ Tát nói cho một bài Phật pháp. Ở trường hợp này ta thường nghe, thấy những người Phật tử cư sĩ tại gia sau khi dọn cơm xong, chắp tay mời vị thầy Tỳ Kheo: “A Di Đà Phật, con thỉnh thầy Độ ngọ”. Sau bữa ăn, vị thầy Tỳ Kheo độ cho thí chủ một bài Phật pháp, tức là nói pháp cho thí chủ, để thí chủ được qua bờ (độ) giải thoát sau khi có tu tập Phật pháp.

Bất cứ chư Bồ Tát xuất gia hay tại gia khi thực hành pháp Lục Độ vào đời bằng hành động Bồ Tát Đạo đều phải luôn luôn vượt thoát mọi ý niệm về ngã thì mới được gọi là Lục Độ Ba La Mật. Từ Độ thứ nhất là Bố thí cho đến độ thứ sáu là trí tuệ đều có Ba La Mật theo sau. Bằng không chỉ gọi là Lục Độ . Nếu độ mà không có Ba La Mật, khó có thể đạt được quả vị giác ngộ Phật thừa trên vận hành Mười Địa riêng của hàng Bồ Tát.

 

 

 

CÂU “THƯỢNG CẦU PHẬT ĐẠO HẠ HÓA CHÚNG SANH”, NGHĨA LÀ GÌ?

 

Câu trên nguyên chữ Hán, xin giải nghĩa lại: Trên cầu thành Phật, dưới hóa độ chúng sanh. Câu này chia làm hai vế. Vế một cầu thành Phật. Vế hai hóa độ chúng sanh. Đây là tư tưởng nhập thế của Đại Thừa, mà cũng chính là niềm hoài bão của chư Phật chủ trương phải dắt dẫn các chủng loại chúng sanh từng bước thành Phật bằng giáo pháp phương tiện đúng như lời Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói trong kinh Pháp Hoa ở phẩm Phương Tiện: ”Các đức Phật Thế Tôn vì muốn cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời”. Vì vậy, câu trên là lời Phật dạy các hành giả, nhất là các bậc Bồ Tát, muốn thành Phật phải vào đời hóa độ chúng sanh trước bằng con đường Bồ Tát Đạo, trong đó hành giả thực hành Phật pháp bằng hành động cứu khổ chúng sanh trên nhiều mặt vật chất, tinh thần. Hay nói khác hơn, cứu giúp chúng sanh chính là thực tập Phật pháp, thực tập Phật pháp chính là hành động cứu khổ chúng sanh, cả hai tương dung nhau. Do đó mới có câu “Thế gian pháp tức thị Phật pháp”.

Cho nên vế hai “hóa độ chúng sanh” là chìa khóa mở cánh cửa ngôi nhà Phật thừa. Nếu không thực hiện vế hai, sẽ không đạt được vế một tức là không thành Phật. Vì vế một là quả, vế hai là nhân, có nhân mới có quả, không nhân thì không quả.

 

 

 

TẠI SAO PHẬT DẠY CÁC ĐỆ TỬ:

“LÀM CÔNG VIỆC TỪ THIỆN TỪ VIỆC NHỎ

ĐẾN VIỆC LỚN ĐỀU PHẢI ĐƯỢC

 XÂY DỰNG TRÊN TINH THẦN VÔ NGÔ?

 

Tổng thể nền đạo lý Tam Tạng kinh điển Phật giáo, từ một chân ngôn ngắn, bốn câu kệ, những pháp cú, cho đến những phẩm kinh dài, tất cả đều chung quy vào cốt lõi duy nhất là khế lý phá trừ tính hữu ngã để đạt tâm vô ngã. Vì do tính hữu ngã mà chúng sanh bị sanh tử khổ đau luân hồi không dứt. Muốn dứt trừ sanh tử khổ đau luân hồi, con người (chúng sanh) phải trở về tâm vô ngã. Tâm vô ngã là tâm giác ngộ thực tướng của các pháp là không, vô ngã. Sở dĩ có tướng sanh và diệt là do các duyên giả hợp mà có. Được tâm vô ngã như vậy, con người trong đạo Phật phải thực tập những pháp môn hợp với trình độ căn cơ của mình, chứ không phải thực hành hết biển pháp Phật. Cho nên công việc từ thiện xã hội trong Phật giáo dù lớn hay nhỏ đều là những pháp môn thực tập phá trừ ngã chấp để đạt trí tuệ vô ngã là con đường dứt trừ sanh tử luân hồi khổ đau. Vì vậy mà hành giả trong Phật giáo thực hành sáu độ, độ nào cũng phải vượt thoát mọi ý niệm về ngã, tức là hành ba la mật,trong đó pháp bố thí được đứng hàng đầu, cho nên mới nói rằng tu phước chính là tu huệ gọi là phước huệ song tu.

 

 

 

 

 

NHƯ THẾ NÀO LÀ GIÁC NGỘ?

     

Giác ngộ, theo tư tưởng Phật học là một nhận thức ngược lại với tất cả những gì trước đây mà mình đã nhận thức. Chẳng hạn, trước đây ta nhận thức về bản thể vạn hữu và thân ta là trường tồn hữu ngã do một thượng đế tối cao tạo dựng ra, nên được giàu, nghèo, sang hèn, sống chết đều do thượng đế định đoạt thưởng phạt, do vậy không có đời sau, luân hồi nhân quả. Hay cho rằng kiếp sống của ta do định mệnh an bài.

Nay thì, tâm ta đã thấy biết rõ thực tướng các pháp và ta hoàn toàn không có tự thể, vô ngã, nên mọi hiện hữu chỉ là tương quan duyên khởi chi phối mà có quả sanh, diệt, khổ đau, luân hồi, ra, vô, lên, xuống trong sáu cõi. Tất cả không thể trường tồn đều bị tan rã theo định luật vô thường, luân hồi sanh diệt và kể cả qua bên kia bờ giải thoát đều do định luật nhân duyên nghiệp quả thiện, ác báo ứng.

Tóm lại giác ngộ là tâm đã thấy biết (tri kiến) sâu sắc và thông suốt về bản thể các hoài hữu tình , vô tình chúng sanh đều do định lý nhân duyên chi phối mà có tính chất KHỔ, KHÔNG, VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ, SANH, DIỆT BẤT TỊNH.

Tâm giác ngộ không thể một sớm một chiều mà được, phải trải qua một thời gian không hạn định của quá trình vận hành học và tu tập Phật pháp, trong đó bài kinh Quán Niệm (Tứ Niệm Xứ – cũng gọi Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm) là nền tảng cơ bản thiết yếu đưa đến sự giác ngộ của hành giả.

Giác ngộ là điều thiết yếu của Đạo Phật, nên Đạo Phật được mệnh danh là đạo giác ngộ. Vì vậy, con người quay về Đạo Phật (quy y) không ngoài mục đích tìm cầu cho mình sự giác ngộ giải thoát.

Giác ngộ trong Đạo Phật là giác ngộ thành Phật. Vì thế cho nên suốt 45 năm thuyết pháp độ sanh, Đức Phật đã sử dụng từng pháp phương tiện khác nhau trong việc hướng dẫn các chủng loại chúng sanh tu tập từng chặng giác ngộ (Nhị Thừa) để làm bàn đạp tiến đến mục tiêu cứu cánh giác ngộ Nhứt Thừa thành Phật ở hội Pháp Hoa. Chính là Đức Phật đã làm theo bản hoài của chư Phật trong mười phương đã làm đúng như lời Phật nói: “Các Đức Phật chỉ vì một việc trọng đại duy nhất mà ra đời; đó là muốn khai thị cho chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật.” (Kinh Pháp Hoa, phẩm phương tiện)

 

 

 

THẾ NÀO LÀ GIÁC NGỘ TỪNG PHẦN?

     

Qua câu hỏi trên có một số Phật tử thắc mắc rằng: đã là giác ngộ, sao lại còn có giác ngộ từng phần?

Xin thưa, ngoại trừ các bậc Bồ Tát hiện thân làm người tại thế gian để hóa độ chúng sanh mới không còn vô minh trong tâm, chứ con người phàm phu là do nghiệp báo mà có thân, cho nên ai cũng có một khối vô minh lớn hoặc nhỏ trong tâm thức. Khối vô minh ấy sẽ tiếp tục đưa con người bị trầm luân sanh tử luân hồi. Muốn giải thoát sanh tử, ta phải phá vỡ khối vô minh. Phương pháp phá vỡ bằng khí giới Phật pháp. Sau khi ta học và thực tập Phật pháp, ta thấy được, ví dụ thấy những tính chất tham, sân, si, chấp ngã, giận hờn là những chất ô nhiễm làm cho ta bị trầm luân sanh tử khó mà siêu thoát, liền sinh khởi tâm ý từ bỏ. Tâm đó là tâm giác ngộ, là bước giác ngộ về Tam độc (tham, sân, si). Mỗi lần giác ngộ như vậy, chính là lúc tảng vô minh bị nứt và rơi xuống một mảnh vô minh bởi thanh gươm thực tập Phật pháp. Nhiều lần học và thực tập Phật pháp khác nhau, chứ không phải một pháp. Nhiều lần học và thực tập Phật pháp như vậy, ta sẽ được nhiều bước giác ngộ. Nhiều bước giác ngộ, tảng vô minh bị rơi xuống nhiều mảnh. Từ đó Phật tánh bắt đầu được ngoi lên từ đáy sâu tạng thức. Cho đến khi nào tảng vô minh hoàn tòan bị tan rã hết, Phật tánh hiển lộ ra toàn vẹn một mình.

Phật tánh hiển lộ toàn vẹn một mình như thể lòng đỏ của trứng đã nở thành gà con tự mổ vỏ bước ra, được biểu tượng cho toàn giác, đại giác ngộ tức Phật thừa, mà như thế phải qua nhiều bước giác ngộ của các bậc thánh Thanh Văn ở bốn bậc Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na HàmA La HánDuyên Giác, kể cả Bồ Tát ở mười địa trước đã, rồi mới đến giác ngộ Phật Thừa. Sự giác ngộ của các hàng Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát mười địa gọi là giác ngộ từng phần đúng như lời Đức Phật đã nói trong kinh Kim Cang: “Nhứt thiết Hiền Thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt”.

Giác ngộ từng phần như thể những bước chân đang đi trên con đường một ngàn mét, tức một cây số, để đến cuối cùng là con số một ngàn. Bước chân cuối cùng ở con số một ngàn, đó là Phật Thừa. Muốn được đến điểm cuối cùng ở số một ngàn mét, ta phải khởi hành bước đầu tiên rồi những bước kế tiếp mới đến điểm cuối. Không có bước đầu tiên không có điểm cuối. Cũng như vậy, muốn đến điểm giác ngộ, dù là quả vị giác ngộ của các bậc thánh Thanh Văn, Duyên Giác đủ để giải thoát sanh tử, chưa nói là toàn giác Phật Thừa, ta phải đạt những bước giác ngộ từng phần ở các pháp trước khi đến quả vị của các bậc thánh.

Tâm có giác ngộ thì mới có giải thoát. Chưa có giác ngộ là chưa có thể giải thoát. Tâm được giác ngộ từng phần như vậy, cũng là sự giác ngộ từng phần. Tư tưởng này được Đức Phật long trọng tuyên bố tại đạo tràng Pháp Hoa rằng: Giáo pháp Pháp Hoa là giáo pháp Phật Thừa tu thành Phật, bởi vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, sẽ được thành Phật nếu tu tập khế lý Pháp Hoa. Còn những giáo pháp phương tiện mà Phật đã thuyết ra trước đó vẫn có giá trị giác ngộ, nhưng chưa phải cứu cánh giác ngộ thành Phật, giáo pháp Pháp Hoa mới đích thực là giáo pháp Nhứt Thừa thành Phật.

Trên cơ sở lý thuyết về mục tiêu chủ trương của Đạo Phật là mỗi chúng sanh đều có Phật tánh nên ai cũng có khả năng giác ngộ thành Phật. Nhưng trong thời đại mạt pháp này, người Phật tử chúng ta cố gắng tu tập làm sao đạt cho bằng được quả vị giác ngộ của các bậc Thanh Văn, Duyên Giác là tốt lắm rồi.

Bước giác ngộ ngắn, dài, mau hay chậm, tất cả sẽ được đến bờ giải thoát. Miễn  là ta có các bước tu tập là được. Chỉ sợ rằng ta không có những bước tu tập là điều nguy!

 

 

 

THẾ NÀO LÀ SIÊU THOÁT TRONG ĐẠO PHẬT?

     

Siêu nghĩa là vượt lên như cái bong bóng bay lên không trung. Năng lực làm cho bong bóng bay lên là do chất kinh khí (khí nhẹ) bên trong của nó là sức đẩy. Chỉ có khinh khí nhẹ mới đưa bong bóng bay lên, chứ còn khí nặng, bong bóng không thể bay lên được. Chẳng hạn dùng ống bom xe đạp bom bong bóng phình ra to, tròn trịa giống như bong bóng khinh khí, nhưng nó không thể bay lên được.

Hai bong bóng giống nhau y hệt về thể tướng phình ra, tròn trịa, nhưng một cái tự động bay lên do khinh khí nhẹ, một cái không bay được cứ nằm ì ra đó là do khí nặng.

Cũng như vậy,tâm con người chứa đựng tánh nhẹ thì được siêu. Siêu ngay thực tại lúc sống và siêu lên các cõi trên sau khi chết. Tánh chất nhẹ trong tâm con người, đó là tâm trống rỗng, tánh không, vô ngã, vắng lặng, thanh tịnh là năng lực siêu lên các cõi trên, không cần phải cầu siêu. Lúc sống mà tâm không có tánh chất siêu, đến khi chết khó mà siêu.

Tâm không có chất siêu, tức là tâm đang còn bị trói buộc. Những thứ trói buộc cái tâm, đó là tánh tham, sân, chấp ngã, si mê cuồng vọng, ngã mạn, tật đố, ích kỷ, hẹp hòi, biên kiến, kiến chấp v.v... gọi là vô minh, ác trược là năng lực trầm luân đi xuống. Muốn cởi trói những thứ vô minh đó, ta phải tu tập Phật pháp. Sau khi cởi bỏ tất cả những thứ vô minh, triền phược ra khỏi tâm, đó là tâm giải thoát, tâm có chất siêu. Tâm có siêu mới giải thoát, tâm có giải thoát thì mới được siêu.

 

 

 

THẾ NÀO LÀ TÂM VÔ NIỆM?

     

Tâm vô niệm là tâm thấy hết thảy hiện tượng khi mắt, tai và ý tương giao với nhau là tâm không vướng víu dù cho có hòa nhập vào nguồn sống vũ trụ, thiên nhiên và xã hội con người đang rộn ràng biến động. Cái tâm ấy thấy hết mà không vướng víu gọi là Bát Nhã Tam Muội, như Đức Thích Ca Mâu Ni đã thực hành từ vô lượng kiếp làm người cho đến dưới gốc Bồ Đề tại cõi ta bà này. Đó là Bát Nhã (Trí Tuệ) chính tông, nguồn gốc căn nguyên của vô ngã niết bàn Phật Thừa đúng như lời Đức Phật Thích Ca nói: “Ta sanh ra trong đời, lớn lên trong đời, ta chinh phục đời, không bị đời làm ô nhiễm. Như vậy ta là Phật.”

 

 

 

TU CÁCH NÀO ĐỂ TIÊU DIỆT TÂM HỮU NGÃ THÀNH VÔ NGÃ?

     

Ta phải học và thực tập định lý duyên khởi một cách sâu đậm (hành thâm) để thấy được bản thể mình và vũ trụ được sanh ra và bị chết đi đều do duyên khởi, tức là vạn hữu và ta không có tự thể sanh và diệt, cho nên mới nói rằng thực tướng của các pháp là vô ngã bình đẳng, nên chi mọi hiện tượng chỉ là hiện hữu tương quan duyên khởi khi tất cả các nhân cộng với các duyên có ra quả sanh, khi các duyên không còn hòa hợp, chia lìa nhau, thì quả sanh bị diệt đúng như lời Phật nói: “Phàm hữu vi tướng đều bị diệt, không thể trường tồn. Diệt hiện hữu ngay trong bản thể vạn hữu và thân ta khi vừa mới sanh, gọi là hành vô thường từng sát na, tức là bản thể vạn hữu biến đổi không ngừng.

Hiểu được định lý duyên khởi chính là động cơ tiêu diệt tâm hữu ngã để thành vô ngã. Nếu chúng ta chưa liễu ngộ được định lý duyên khởi, thì chắc chắn chúng ta chưa có thể đạt tâm vô ngã. Vì thế cho nên Đức Phật đã khẳng định: “Vì không hiểu được định lý duyên khởi đó mà tâm chúng sanh bị rối như tơ vò, rối bù như cuộn chỉ, chằng chịt như loài cỏ Munja”.

Tâm hữu ngã chính là tâm ảo vọng, điên đảo, rối bù như tơ vò, cuộn chỉ, cỏ Munja, nên nó thường khởi lên ý niệm tà kiến tức là sự thấy sai lạc. Như thấy thân ta thật có, sống chết do một thượng đế hay định mệnh an bài, chết là hết, không sinh tử luân hồi. Thấy ta khác với mọi người vì ta có sở học khoa bảng, chức tước, danh vị, giàu sang, phú quý hơn người. Vì vậy ta phải được mọi người tôn vinh, quý trọng. Vì vậy khi được người khen lòng cảm thấy vui, khi bị chê sau lưng hay trước mặt lòng giận hờn oán trách. Thấy ta biệt lập với vạn hữu, không liên đới đến, vạn hữu là vạn hữu, ta là ta, súc sanh là súc sanh, muôn đời vẫn súc sanh, không biến đổi thành người. Tâm đó là tâm vô minh ảo vọng, nên luôn luôn cực đoan, bè phái, biên kiến, tham vọng, sân si, chấp ngã... Nguyên nhân là không liễu ngộ định lý duyên khởi, nên không hiểu được mình, không hiểu được vũ trụ vạn hữu với mình đồng tánh vô ngã.

Người Cư Sĩ học và tu tập Phật pháp phải liễu ngộ cho bằng được định lý duyên khởi thì mới thấy mình và vạn pháp có cùng một giới tánh bình đẳng trùng trùng duyên khởi, không tự thể, tức là ta thấy rõ được thực tướng của vạn pháp trong đó có ta là vô ngã. Khi tâm ta thực chứng được chân lý vô ngã của vạn pháp là lúc tâm ta có Niết bàn.

Tâm Niết bàn là tâm không còn vọng động, trống rỗng, vắng lặng, tịch tịnh. Vắng lặng tịch tịnh không phải cứng đơ như sỏi đá không biết gì. Thấy biết hết một cách tinh anh, nhưng tâm không vướng víu vào, dù có hòa mình cứu bạt chúng sanh do trí tuệ bình đẳng tức tâm Niết bàn chỉ đạo, nói như lời kinh Phổ Môn: “Quán âm diệu trí lực năng cứu thế gian khổ”. Cho nên tánh Niết bàn là tánh không, vô ngã thuộc vô vi pháp. Còn định lý duyên khởi là hữu vi pháp.

 

 

 

THẾ NÀO LÀ HỮU VI PHÁP, VÔ VI PHÁP?

     

Hữu vi pháp là các pháp có hình tướng do các duyên sinh, duyên khởi mà sanh ra tướng trạng, chứ chúng không có tánh sanh, tánh diệt gọi là vô tự tánh.

Tịch tịnh Niết bàn là vô vi pháp. Vô vi pháp là pháp vô tướng nên nó không sanh diệt, không sạch dơ, tăng giảm vì nó dứt khỏi các tướng hữu vi gọi là tịch diệt. Xa rời phiền não là tịch, dứt trừ mọi khổ đau là tịnh.

Cái lý tính của Niết bàn không thể dùng ngôn ngữ để diễn đạt, trình bày được. Và cũng không thể dùng trí phân biệt, dùng tâm suy nghĩ mà hiểu nổi, thì con đường ngôn ngữ bị cắt đứt. Gọi theo danh từ Phật học là bất khả ngôn thuyết siêu lý luận, ly ngôn, ngôn ngữ đạo đoạn.

Tất cả giáo lý của Đức Phật trong Tam tạng Kinh điển đều được xây dựng trên hai định lý Duyên khởi hữu vi pháp Tịch tịnh Niết bàn. Dù cho một chơn ngôn pháp cú rất ngắn hay bốn câu kệ cũng không thể ra ngoài hai định lý trên, vì hai định lý ấy tóm thâu hết tất cả vạn pháp, tức là không ngoài hữu vi, vi.

Là hành giả đi tìm cho mình con đường giải thoát trong Đạo Phật, phải hiểu định lý Duyên khởi thì mới tỏ ngộ được nguyên nhân sinh tử và cũng thấy rõ luôn Duyên khởi là phương pháp giải thoát cơ bản và hữu hiệu nhất. Cơ bản, vì giữa lòng bản thân Duyên khởi là kho tàng đạo lý như CHƯ HÀNH VÔ THƯỜNG, CHƯ PHÁP VÔ NGÃ, NIẾT BÀN TỊCH TỊNH, KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC. Mỗi cặp ba định lý ấy được có tên gọi là TAM PHÁP ẤN. Nói theo tiếng Việt là BA CON DẤU

 

 

 

 

BA NỀN TẢNG GIÁO DỤC TRONG ĐẠO PHẬT

(Ý giáo, Khẩu giáo và Thân giáo)

 

1. Ý giáo

Ý giáo, nghĩa là tâm thông đạt mọi khế lý, giáo nghĩa của từng pháp môn tu trong ba tạng Kinh, Luật, Luận gọi là nội điển và văn hóa phổ thông thế gian gọi là  ngoại điển đối với chư Tăng, Ni và Phật tử tại gia, dù có giữ vai trò đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp hay chỉ chuyên tu tập trong am thiền, tịnh thất, tư gia… Tất cả ai cũng phải dung thông lý Đạo trong các Kinh, Luật, Luận và văn hóa thế gian, nói như Lục tổ Huệ Năng “Thế gian pháp tức thị Phật pháp).

Chính trong giai đoạn học tập Phật pháp và văn hóa thế gian là thời kỳ tạo dựng sở học làm cơ bản cho việc tu tâm tích đức, đời gọi là tu thân tích đức. Thật sự Đạo hay Đời đều tu tâm tích đức. Đức ở trong tâm chứ không phải ở thân. Đức là nền tảng của ba bước giáo dục cho Tăng, Ni, Phật tử hậu lai trong lãnh vực Phật giáo, cho dân tộc hậu thế thuộc lãnh vực thế gian. Các hàng hậu lai Đạo, Đời đều được giáo dục bằng Đức qua ngôn ngữ. Đời gọi là lấy Đức để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Trong Phật giáo dùng Đức cho việc hoằng hóa độ sanh, giáo dục Tăng Ni sinh và Phật tử để  kiến Đạo, hành Đạo và chứng thành Phật Đạo.

Đức của người thế gian là tâm hiền hòa, đôn hậu, bao dung, hoan hỷ, sẵn sàng tha thứ, không khó tính điều gì với mọi người, có tấm lòng cứu giúp kẻ khốn cùng, có tình thương yêu tất cả chúng sinh, v.v… gọi là Nhân đức, Thiên đức.

Đức của các hạng người trong Đạo Phật nói chung, có cả hai thế gian đức (Thiên và Nhân) và Phật pháp đức. Đức thế gian như đã nói ở trên; đức Phật pháp là chân tâm, vô ngã, thanh tịnh, trong sáng, rỗng lặng… chính là năng lực giao cảm với chư Phật, Bồ Tát thường gọi là đạo giao cảm, con đường giải thoát sinh tử.

Đức là ánh sáng của Đạo. Đức hiển lộ ra ngoài thân (tính tình), Đạo ẩn tàng trong nội thức, nhưng năng động, hằng chuyển sinh vạn hữu (nhứt thiết duy tâm tạo) được Đức chất chứa vạn hữu của Đạo trong vai trò công dụng, lệ thuộc và bảo vệ Đạo. Cho nên tướng của Đức được biểu thị cho Đạo.

Đức có trước, Đạo có sau. Có Đức rồi mới có Đạo, thấy Đạo. Hai thứ Đức Đạo ở đây đều là Chân, Thiện, Mỹ. Chứ không phải là ác đạo, bởi vì do Đức. Đức không bao giờ có trong ba đường ác. Đức bị mất khi tâm con người bị mất trật tự tức là mất nhân đạo, thiên đạo, Phật đạo, thì nhất định bị thay vào đó ba ác đạo. Do vậy Đức không có trong ác đạo, chỉ có ở nhân đạo, thiên đạo, Phật đạo gọi là Thiện đạo.

Trên thế gian này, mọi sự, mọi vật như mây bay, gió thoảng, nắng mưa, trăng sao, mặt trời, hư không, mặt đất, sỏi đá, nước chảy, cỏ cây, hoa nở, hoa tàn, sáng ra, chiều đến, súc vật, con người, vân vân… Tất cả hiện tượng hiện hữu trong trật tự. Cái trật tự lớn để sanh ra nhiều trật tự nhỏ, đó là con người. Con người sống có trật tự đúng theo pháp luật (Đạo luật) từ trong nhà ra ngoài xã hội ở lãnh vực bản thân. Con người làm theo đúng trật tự thế gian ấy để được có đời sống an bình, hạnh phúc vật chất cho mình, cho tha nhân, chính là do tâm có đức. Tâm có đức mới cảm nhận được mọi thứ trật tự đó. Từ đây cho ta thấy rõ trật tự là Đạo. Đạo trật tự ở đây là Thiên đạo, Nhân đạo, Phật đạo. Tâm có trật tự của Nhân đạo, Thiên đạo (Nho, Lão), Phật đạo. Con người phải sống theo một trong ba cái trật tự ấy để có đời sống thiện đạo. Thiện đạo nhỏ là Đạo Nho Lão mang tính của Thiên Nhân. Còn Thiện đạo lớn là Phật giáo mang tính Phật Đạo, con đường vô sinh, vô tử.

Con người sống không theo trật tự của Đạo thiện, dĩ nhiên là ác Đạo, không có trật tự. Cho nên Đạo có cả hai Thiện đạo và Ác đạo. Là con người, phải chọn Đạo nào để sống có trật tự. Dĩ nhiên là chọn Thiện đạo nhỏ hoặc lớn để có một đời sống thật an bình, hạnh phúc, không gây tác hại cho tha nhân, loài vật bị khổ đau ở bản thân, ưu phiền, oán hận ở tâm linh… Chọn Thiện đạo, con người phải có Đức mới chọn được. Không Đức thì nhất định luôn bị ác đạo xâm nhập vào tâm, liền hiện ra ngôn ngữ và hành động ác.

Nguyên lý của Nhân đạo là Đức. Đức là nền tảng  siêu lên các cõi cao. Do vậy con người phải có Đức. Đức càng cao, Thiện đạo càng lớn theo tỷ lệ thuận, gọi là Đạo cao, Đức trọng. Người thế gian, hay người trong Phật giáo (Tăng, Ni và Phật tử) ai có Đức lớn được các giới xã hội kính trọng, còn ma quỷ thì sợ hãi, nên ngạn ngữ có câu “Đức trọng quỷ thần kinh” hay câu “Người có Đức mặc sức mà ăn”.

Đức có thể được có sẵn trong tâm con người ít hay nhiều do quả báo nghiệp của kiếp trước, nói như Nguyễn Du “Thiện căn bởi tại lòng ta”. Do vậy kiếp này mau ngộ Đạo thánh hiền (Khổng, Lão), Đạo lý Phật giáo sau khi được tiếp nhận đạo lý Khổng, Lão, Phật từ ông bà, cha mẹ, sư trưởng nói lời giáo dục.

Hay Đức chưa có, được có trong thời gian tu thân bằng đạo lý (Khổng, Lão) tại gia do ông bà, cha mẹ nói lời giáo dục, hoặc đọc sách thánh hiền. Đó là hạng người thế gian. Còn các hàng Tăng sĩ, Phật tử được tu tâm bằng Phật pháp trong tu viện, trong chùa, do các danh Tăng chỉ giáo hay tự học hỏi, nghiên cứu qua sách báo, kinh điển Phật giáo mà được có Đức.

Nhờ có Đức, con người mới thấy được Đạo Thiện, Ác. Thấy Đạo Ác để tránh tội lỗi, các điều sai quấy ở lời nói và hành động. Thấy Thiện Đạo để tiến tu lên con đường Chân, Thiện, Mỹ. Người thế gian, người trong Đạo Phật không nghiên cứu học hỏi sách vở thánh hiền, kinh điển Phật giáo để tu tâm, tu thân, làm sao có Đức! Phải có Đức qua công phu học hỏi và tu tập đạo lý thánh hiền, Phật pháp để có Đức. Đức là sự nghiệp của trí tuệ, cây đèn sáng của tâm thức để thấy thiện, ác. Tránh ác, làm thiện để có được một đời sống trật tự (đời sống Thiện Đạo), an bình, hạnh phúc thực tại và giải thoát sinh tử ở mai sau.

Vì thế con người phải tạo Đức tức trí tuệ, sự hiểu biết để thấy Đạo. Thấy dấu Đạo Thiện, chưa phải là đạt Đạo. Muốn đạt Thiên Đạo, Nhân Đạo, Phật Đạo, cần phải tu thân, tu tâm để có Đức mà tu theo dấu Đạo Thiện đã thấy thì sẽ đạt Đạo do Đức trợ duyên nên chi người tu tập, thân tâm họ  luôn được an lạc, thanh tịnh, thảnh thơi, trật tự và im lặng, không bị cảnh trần xen tạp vào tâm.

Đức mà không có Thiện Đạo theo sau, đó là Đức giả, nên chi người đời thường nói “đạo đức giả” là như vậy. Bởi vì hễ có Đức thật là có Thiện Đạo thật. Không Đức thì không có Thiện Đạo (thử vô cố bỉ vô), nếu không nói là thiếu văn hóa và giáo dục đời hay đạo.

Nói khác hơn, người đời nếu chưa có thiện căn, nhờ học hỏi văn chương chữ nghĩa, văn hóa dân tộc và đạo lý thánh hiền (Khổng, Lão) mới được có Đức thấp hay cao (trí thức hiểu biết ít hay nhiều). Từ Đức mới ngộ được đạo lý thánh hiền mà xử thế với nhau có đạo nghĩa từ trong gia đình ra ngoài xã hội, gọi là ăn ở cho phải đạo làm người.

Những hành giả trong Phật giáo nhờ học và tu tập Phật pháp mà được có Đức (trí tuệ). Có trí tuệ mới tỏ ngộ được lý lẽ của Đạo. Lý lẽ của Đạo làm sáng tỏ Đức như lửa làm sáng tỏ tim đèn. Nếu không có lý, Đức không được minh. Không có lý ở đây là không cần mẫn tìm tòi học hỏi lý ở trong đạo, làm sao đức được sáng! Đức thế gian hay Đức đạo Phật, Đức nào cũng phải được kiến tạo bởi tu tập học hỏi. Đúng như Khổng Tử đã nói: “Ta không phải là người sinh ra đã có trí tuệ (Đức), nhưng nhờ chuộng cổ, cần mẫn học tập mà hiểu được đạo (đạo thánh hiền.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn là thái tử, ngài vốn có cái đại Đức trong lòng. Đức ấy là thiện căn lớn, cho nên ngài đã khởi tâm đại bi thương chúng sinh, mong muốn đi tìm phương pháp cứu chúng sinh được thoát 4 cảnh khổ sanh, già, bịnh, chết, sau khi ra dạo chơi ngoài 4 của thành. Đến khi xuất gia tu hành dưới cội cây Bồ Đề, Đức vốn vĩ đại ấy càng lúc càng vươn lên tối cao, tỏa ra ánh sáng lớn khắp 10 phương chư Phật và chúng sinh trong ba cõi, mà cái tim của đại đăng ấy, sở trụ của nó ở tâm thức ngài, do đó ngài đã đạt được tam minh thiên nhãn, túc mạng  minh và lậu tận minh. Liền sau đó ngài đạt Đạo giác ngộ hoàn toàn (đại giác).

Qua cái Đức và Đạo của Đức Phật, cho ta thấy Đức và Đạo là hai điều kiện, hai phương tiện ắt phải có đối với các hành giả trong Đạo Phật ở hai lãnh vực thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh trong việc phá trừ cho hết vô minh vi tế trụ địa ở nội thức để không còn bị biến dịch sinh tử nữa mà vào Niết Bàn vô dư và lãnh vực niệm Phật vãng sanh cực lạc, hay là muốn rong chơi trong sinh tử trên vận hành thuyết pháp độ sanh… Tất cả đều phải tạo Đức và Đạo (nhân bản và Phật giáo). Không có Đức và Đạo thì không được tất cả. Có Đức có Đạo thì được tất cả.

Đức chính là tâm từ bi, Đạo là tâm có trí tuệ Phật, cho nên người có Đức và Đạo Phật giáo, tâm tánh thật hiền lành đôn hậu, ưa tha thứ bao dung độ lượng, tất cả do Đức và Đạo tương duyên nhau mà có. Nói rõ hơn trí tuệ Phật sanh ra từ bi Phật. Từ bi Phật sinh ra trí tuệ Phật. Hai đức tính tương quan nhau tạo nên sự hiểu biết và lòng thương rộng lớn đối với chúng sinh một cách bình đẳng.

Bình đẳng chính là Trung đạo, con đường của hòa bình, an vui, đoàn kết, lợi lạc giải thoát, không có đường ác của độc tài, độc diễn, không có tranh cãi, hận thù nhau trong bất cứ môi trường nào (đạo, đời). Đó là chủ trương của Đạo Phật. Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni khi sống trong cõi ta bà trong vô lượng kiếp đã thực hành cái tâm bình đẳng ấy nên ngài đã thành Phật ngay từ dạo đó (Kinh Pháp Hoa – phẩm Như Lai Thọ Lượng).

Vì thế người Phật tử tại gia không thể không tu cái hạnh bình đẳng ấy. Nhất hạng là chư vị có chức vụ lãnh đạo tập thể hội Phật giáo là những người cầm càng hướng dẫn mọi người thiết lập trật tự để có Tịnh Độ tại chốn thiền môn, lại càng tu hạnh bình đẳng nhiều hơn mọi người: Được như vậy là do tâm có Đức và Đạo, tức là có từ bi bao la và sự hiểu biết rộng lớn nhân bản và Phật giáo. Bằng không sẽ gây ra nhiều hiện tượng mất trật tự hỗn loạn muôn đời.

Sở trụ của Đức và Đạo nhân bản và Phật giáo là ở trong tâm ý con người, nên thường gọi là Ý Giáo. Ý giáo nghĩa là tự mình giáo dục lấy mình do tâm ý thông đạt Phật pháp và đạo lý thánh hiền, do vậy ý giáo tức là Đức và Đạo (nhân bản – Phật đạo) là gốc rễ đưa hành giả đến mục tiêu thấy Đạo, hành Đạo và đạt Đạo. Điều này đích thực cho ta thấy trong quá khứ xa xưa qua các triều đại và hôm nay trên quê hương nước Việt có nhiều vị đạo sư  cũng như Phật tử tại gia đã và đang kiến Đạo, hành Đạo và đạt Đạo giác ngộ bằng Đức và Đạo Phật giáo, trong đó có các vị Vạn Hạnh Thiền sư, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, tổ Liễu Quán, Nguyên Thiều, v.v… Ngày nay có các vị Trí Siêu Lê Mạnh Thát, Tuệ Sỹ, vân vân…, đúng như lời đạo sư Tuệ Sỹ nói “Tôi là con mọt sách”. Vì thế nên chi quý ngài đang có một tình thương lớn đối với dân tộc và Đạo pháp trên cơ sở xây dựng nền văn hóa lớn do có được Đức và Đạo nhân bản và Phật giáo.

 

2. KHẨU GIÁO

Khẩu giáo là ngôn ngữ giáo dục trực tiếp. Dù cho lời nói giáo huấn, huấn luyện, dạy dỗ, diễn thuyết, giảng dạy. Tất cả đều ở nghĩa giáo dục. Như ông bà nói lời chỉ giáo với cha mẹ. Cha mẹ nói lời dạy bảo con cái. Thầy cô ở trường giảng dạy giáo khoa cho học sinh. Các khoa học kỹ thuật gia diễn nói bài vở, công thức cho các sinh viên. Sư trưởng nói lời giáo huấn cho các sư đệ. Bổn sư nói lời giáo huấn cho các đệ tử. Các giáo thọ giảng dạy kinh luật cho các Tăng, Ni sinh. Chư Tăng thuyết pháp cho Phật tử… đều thuộc về lãnh vực giáo dục.

Ngôn ngữ giáo dục khác với ngôn ngữ sân si, tranh cãi, giận hờn, phân bua thua thiệt, v.v… Ngôn ngữ giáo dục có âm Đức, tức là có âm điệu từ tốn, mạch lạc, dịu dàng, hiền hòa, nhẹ nhàng, êm ái, không đanh thép, chát chúa, chậm rãi như rót dầu qua lỗ đồng tiền… được hiển lộ ra thái độ nghiêm trang, đứng đắn, nhưng tình người qua nụ cười kín môi và đôi mắt hiền từ. Đôi mắt được biểu thị cho tâm hồn. Tâm hồn của những người trong Phật giáo và ngoài đời làm công tác giáo dục đều có cùng một tâm niệm thiết tha mong muốn các đối tượng nghe phải tiếp nhận lý nghĩa Đạo trong chủ đề mình đang nói, đang giảng, đang trao truyền, giáo huấn, chỉ giáo, khuyến cáo, vân vân… Tất cả đều là Đạo, có lý nghĩa riêng của nó, gọi chung là đạo lý có lợi ích cho con người về mặt vật chất và tinh thần.

Mặt vật chất là thi đỗ có bằng cấp kỷ sư, bác sĩ, v.v… là những giai cấp nhiều tiền, do thông đạt lý nghĩa trong bài học văn chương, thi phú, toán học, vật lý, khoa học… là những cái Đạo sinh sản ra vật chất. Người giảng nói lý của các Đạo ấy, là những thầy, cô giáo ở trường học.

Về mặt tinh thần, là tâm hồn luôn ở ngôi vị Chân, Thiện, Mỹ trong kiếp này và siêu lên các cõi Phật, cõi Trời ở  kiếp sau do thông đạt lý và hành lý ở các Đạo Nhân, Thiên, Phật Đạo từ lời khẩu giáo của cha mẹ, sư trưởng, giáo thọ, thiện hữu tri thức, v.v… Đó là phần việc ở người được giáo dục.

Phần việc của người nói lời giáo dục bằng miệng là khẩu giáo. Thật sự miệng lưỡi nói ra lời, chỉ là công cụ của cái Đức và Đạo bên trong tâm ý, tức là tâm ý chỉ đạo cho miệng nói. Mặc dù lời nói lý đạo ở miệng lưỡi, nhưng tâm ý không có Đức và Đạo, thì lấy gì để nói. Cho nên ý giáo dẫn đầu chỉ đạo cho khẩu giáo. Khẩu giáo là điều kiện tiên quyết ắt phải có đối với xã hội con người nói chung để thăng tiến lên có một đời sống trật tự thịnh vượng trong an bình. Nói riêng trong Đạo Phật đối với hành giả tu tập để được có tâm tỉnh thức giác ngộ, mà khẩu giáo là phương tiện hữu hiệu nhất. Dù cho kinh Phật, sách vở thánh hiền có chứa đựng nhiều đạo lý đến đâu mà không có người thông đạt đạo lý nói ra lý Đạo, lý Đức, thì hành giả tu tập, kẻ hậu lai ở đời, lấy gì để hiểu đạo mà tu niệm, lấy gì để an dân, trị quốc!

Miệng nói lời giáo dục cho tất cả mọi người của các bậc trưởng thượng thế gian (ông bà, cha mẹ, giáo sư, cán bộ văn hóa) và các bậc giáo thọ, pháp sư, sư trưởng trong Đạo Phật đều cùng giống nhau về phần Đức và Đạo thế gian (nhân bản). Bởi vì các bậc giáo thọ, giáo sư (Tăng sĩ và Cư sĩ), pháp sư, sư trưởng trong Phật giáo vốn đã là người thế gian có qua trường đời học hành văn chương, thi phú dân tộc, đạt được văn bằng văn hóa quốc gia.

Nhưng khi đã trở thành giáo sư, giáo thọ, pháp sư, sư trưởng (Tăng, Ni) trong Phật giáo, các bậc ấy được có thêm cái Đức, cái Đạo của Đạo Phật. Do vậy sư trưởng nói lời chỉ giáo cho các môn đệ trong tông phái, bổn sư giáo huấn cho đệ tử, giáo thọ, giáo sư (Tăng và Cư sĩ) giảng dạy Phật pháp cho các Tăng, Ni sinh, pháp sư thuyết kinh cho Phật tử, nam nữ bạn đạo pháp đàm cho nhau. Tất cả đều lấy cái Đức của Phật giáo (ý giáo) làm đầu cho nền tảng  khẩu giáo để  khiến cho cái tình cảm nhân bản, tình đạo trong sáng của người nghe bừng dậy mà thấy được dấu Đạo trong lời khẩu giáo của người nói do Đức là ánh sáng của Đạo. Sau đó người nghe khởi tâm y giáo phụng hành.

Tuy nhiên, người trong Phật giáo làm công tác giáo dục bằng khẩu giáo, cũng có lúc sử dụng Đức và Đạo của thế gian vào khẩu giáo bài pháp đang nói, như lời thơ của các thi sĩ, ca dao, tục ngữ, vài tư tưởng văn hóa dân tộc có liên quan đến bài pháp đang nói để làm cho cái lý Đạo ở bài pháp được vững mạnh, sáng tỏ thêm. Đó là phương tiện dĩ Đức, dĩ văn thế gian và Phật giáo để tải Đạo Phật giáo vào lòng người đang nghe. (Đức và Đạo thế gian và Đạo Phật đã được nói ở phần ý giáo). Nhờ đó người nghe (cử tọa) có sở tri chướng đến đâu do có sở học cao của thế gian, cũng phải quay về Đạo Phật vì đã cảm nhận được cái lý Đạo, đức tính từ bi, hiền hòa, đôn hậu của người đang nói (khẩu giáo) bài pháp.

Vì thế khẩu giáo trong Đạo Phật đồng loạt cùng lúc được xây dựng trên hai Đức từ bi, trí tuệ Bát Nhã ba la mật (trí tuệ Phật). Hai Đức ấy được luôn hằng chuyển trên dòng tâm hướng về tiêu điểm “Duy tuệ thị nghiệp” Đạo giác ngộ giải thoát sinh tử cho mình, cho mọi người các cấp một cách bình đẳng, không bị lệ thuộc bất cứ cái lực nào của ngoại nhân, nếu không nói là chỉ có một tấm lòng tha thiết mong sao cho tất cả mọi người đang có mặt tại lớp học, đạo tràng, ai cũng được thấy rõ lý Đạo của bài pháp mà tu tập để được giác ngộ giải thoát. Tâm niệm của người giáo thọ, pháp sư, giáo sư nói pháp, diễn giảng giáo khoa Phật học, có tấm lòng thiết tha mong muốn cho tất cả mọi người đang nghe lời khẩu giáo của mình, ai cũng phải tỏ ngộ lý Đạo như vậy, được gọi là thuyết tâm. Mặc dù miệng nói ra lời pháp, nhưng ý giáo bên trong là chủ lực chỉ đạo cho miệng nói. Bởi vì, như đã nói ý giáo là cái Đức, trong nó được chứa đựng lục độ ba la mật, là 6 phép qua bờ giác ngộ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ Phật) bởi cái tâm người nói lúc nào cũng vượt thoát mọi ý niệm về ngã, tức là vô ngã.

Do vì cái lực của ý giáo chỉ đạo cho khẩu giáo nói năng như chánh pháp thân giáo là im lặng như chánh pháp.

 

3. THÂN GIÁO

Thân giáo, nghĩa là giáo dục con người bằng thân tướng, tức là không nói hay chưa nói, mà các đối tượng sống chung, làm việc cùng cơ sở hay mới vừa gặp đã sanh tâm tôn kính lễ bái, chào hỏi một cách trịnh trọng, vâng lời, kính nễ và cả sợ nữa.

Thân tướng như thế nào mà những người cấp dưới hay mới gặp lần đầu mà đã sanh lòng tôn kính? Thân tướng ấy không phải là tấm thân cao ráo, xinh đẹp, các căn đầy đủ. Mà là bản thân nhỏ, thấp hay cao ráo được có trạng thái đứng đắn, trang nghiêm, chững chạc, thật lòng, cho nên lời nói ra điều gì đều chắc nịch như đinh đóng cột, hứa điều gì với ai luôn nhớ và thi hành, khi nhìn ai là nhìn thẳng vào mặt một cách chánh trực, khi đi là đi từng bước chững chạc, khi đứng là đứng ngay người, ngồi là ngồi đúng cách, nằm là nằm tế nhị và kín đáo, ăn thật chậm rãi, ít nói, thường im lặng hơn là nói, khi nói là nói điều lợi ích cho người.

Tất cả những đạo hạnh nói trên được có nơi con người, là do từ ý giáo tạo nên, nói như ngạn ngữ Việt Nam có câu “Có văn có chất mới thật con người”.

Những người được những đạo hạnh ở bản thân đó là ai? Chính là ông bà, cha mẹ, anh chị, chú, bác, cô, dì, cậu, mợ trong quyến thuộc, các giáo thọ, sư trưởng, bổn sư, giáo sư, các thầy, cô giáo, cấp chỉ huy, lãnh đạo tổ chức, ai được có Đức (ý giáo) thế gian và Đạo pháp trong lòng, là người ấy có Đạo  hạnh ở bản thân một cách thường hằng suốt cả cuộc đời, gương mẫu cho các cấp dưới noi theo mà sửa mình, tu thân, tu tâm tích Đức qua thân giáo của các bậc trưởng thượng của mình, rồi mình sẽ là bậc trưởng thượng cho các thế hệ hậu lai.

 

KẾT LUẬN

Ba nền tảng giáo dục ý giáo, khẩu giáo và thân giáo trong Đạo Phật là phạm trù văn hóa đặc sắc để trang hoàng thân tâm 4 chúng đệ tử Phật được trang nghiêm thanh tịnh tâm, là điều cần thiết ắt phải có trong công tác giáo dục, tức là tất cả mọi người trong đại gia đình Phật giáo không thể tránh khỏi ba nền giáo dục ấy. Bởi vì mục tiêu chính yếu của tất cả mọi người đang có mặt trong Phật giáo mong muốn, đó là con đường giải thoát bằng Phật pháp, do vậy không thể không tiếp nhận sự giáo dục bằng Phật pháp. Bởi vì toàn bộ nền đạo lý Phật đều là những chất liệu giáo dục để chuyển hóa tất cả chủng tử vô minh, phiền não, ác trược trong tâm con người thành Bồ Đề thanh tịnh là gốc rễ trật tự của nguyên thủy là con đường giải thoát sinh tử cho mình, cho người.

Vì thế cho nên tất cả hàng Phật tử chúng ta ai cũng phải tự kiến tạo cho mình được có ba nền giáo dục Phật giáo ở thân tâm để được xứng danh là Phật tử. Nhất hạng là các cấp hội trưởng, chủ tịch, các phó trong ban chấp hành của một hội Phật giáo, tập thể Phật tử lại càng có giáo dục Phật giáo nhiều hơn ai hết, bởi vì là giai cấp chỉ huy nên phải có 3 nền giáo dục để đối đãi qua hành vi lễ, nghĩa, trung, tín, ái ngữ, khiêm cung với mọi người, chính là cách vừa tu tập để duy trì và phát triển cái Đức Phật giáo, vừa chỉ giáo, giáo dục cho nhau. Ngược lại người Phật tử không có 3 nền giáo dục vào tâm, thì nhất định 3 đường ác vốn có trong tâm liền trổi dậy vươn cao, hiển lộ ra thân miệng, là động cơ phá vỡ Đạo pháp của tập thể Phật giáo.

 

 

 

 

 

 

 

 

Ý NGHĨA VÀ ĐẶC TÍNH CỦA TỲ KHEO

 

1. Ý NGHĨA TỲ KHEO

Tỳ kheo có 3 nghĩa: khất sĩ, phá ác, bố ma.

a/ Khất sĩ là người xin ăn. Người xin ăn ở đây khác với người xin ăn ở xứ ta, thường gọi là ăn mày, mặc dù cùng nghĩa là xin ăn. Thời xưa ở Ấn Độ những đạo sĩ thường đi ăn xin được dân chúng kính trọng và dâng cúng thức ăn.

Cũng như vậy, sau khi thành đạo Bồ Đề, Đức Phật thành lập Tăng đoàn Tỳ kheo để hoằng dương chánh pháp hóa độ chúng sinh, cho nên Đức Phật và chư Thánh Tăng Tỳ Kheo đều đi khất thực xin ăn. Nhưng cách xin ăn, giờ đi, cách ăn của Phật và chư Thánh Tăng khác với hạng người khất thực khác.

Cách xin ăn của Phật và Tăng đoàn của ngài là mang bình bát trước ngực, đi từng bước thảnh thơi ra các xóm làng gần đó vào buổi sáng, rồi đứng trước nhà dân chúng một cách trang nghiêm im lặng và bình đẳng, không chọn lựa nhà giàu có, luôn thay đổi các xóm làng và nhà dân. Gần đến giờ ngọ, do nhìn bóng nắng, bình bát được có thức ăn đầy hay chưa đầy, chư Tăng Tỳ kheo, và Phật đều đi về tịnh xá. Hoặc là chưa tới giờ ngọ mà bình bát đầy thức ăn, quý ngài đi về, chứ không xin nữa. Về đến tịnh xá, Phật và chư Tỳ kheo tăng đều ngồi, bưng bình bát lên đọc bài kinh cúng dường lên mười phương chư Phật rồi mới ăn một cách chậm rãi và im lặng. Ăn xong, Phật thuyết pháp qua đề tài nào đó do Phật xét thấy cần nói cho đại chúng biết hay là một vị Tỳ kheo trong đại chúng tăng đưa ra lời thỉnh cầu Phật thuyết cho khế lý pháp môn nào đó cảm thấy cần thiết cấp bách cho đại chúng.

Tại tịnh xá, sau giờ ăn ngọ như vậy, thỉnh thoảng có nhiều dân chúng và hàng Phật tử tại gia vào lễ bái và nghe Phật thuyết pháp. Nghĩa khất sĩ của Đạo Phật là như vậy.

Nói khác hơn, cách khất thực xin ăn của Phật và chư thánh tăng trong Đạo Phật không giống với các hàng khất thực khác. Một vài điểm khác,đó là không xin ăn phi thời, chỉ ăn một bữa vào giờ ngọ, không bao giờ nấu nướng, nổi lửa sáng chiều, không tham lam, không chê ít, khen nhiều, luôn luôn sống trong an bần lạc đạo.

Có người hỏi rằng, chư Tăng Ni Phật giáo Việt Nam có phải là khất sĩ không? Tất cả Tăng Ni trong Phật giáo đều là khất sĩ, là Tỳ kheo (Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni). Thay vì mang bình bát đi xin ăn ở xóm làng, phố xá như Phật, Thánh Tăng thời xưa, chư Tăng Ni ngày nay xin ăn (khất sĩ) tại chùa do vì nền văn minh vật chất của nhân loại ở mức độ siêu đẳng làm cho chư vị Tỳ kheo Tăng Ni không có môi trường thuận tiện đi khất thực trên đường phố, đường làng. Nhưng không phải vì thế mà mất ý nghĩa và tính chất Tỳ kheo. Vẫn là Tỳ kheo, khất sĩ trên vận hành hoằng dương chánh pháp một cách đắc lực trong thời đại mới của nhân loại.

b/ Phá ác

Con đường giải thoát sinh tử, mà Đức Phật đã chỉ rõ cho 4 chúng đệ tử Phật được biết, đó là chơn tâm, vô ngã, trống rỗng, thanh tịnh, là phương tiện giải thoát sinh tử, vãng sanh cực lạc, sau khi con người tự phá trừ hết các thứ vô minh, phiền não, ác trược, hữu ngã… ra khỏi tâm thức bằng thực hành Phật pháp đúng như Đức Phật đã dạy rõ trong các kinh.

Cho nên chư vị Tỳ kheo Tăng, Ni nói riêng, Phật tử nói chung, ai muốn được giải thoát sinh tử vãng sanh cực lạc đều phải phá trừ hết các ác nghiệp cũ và không tạo ác nghiệp mới để cho tâm hồn luôn thanh tịnh, vô ngã, trống không, thì mới hy vọng được siêu thoát sau khi xả bỏ báo thân trần thế.

c/ Bố ma

Bố ma nghĩa là làm cho ma sợ. Hạng người làm cho ma quỷ phải sợ và kính trọng, đó là chư Tăng, Ni trong Phật giáo nói chung, do phục sức y áo (cà sa) của Phật. Nói riêng chư vị Tỳ kheo chơn tu có Đạo cao, Đức trọng làm cho các quỷ thần, ma vương, yêu quái, vừa kinh sợ vừa kính trọng lễ bái đúng như ngạn ngữ có câu “Đức trọng quỷ thần kinh”. Nhất hạng là các Tỳ kheo Tăng tu mật tông (trì tụng thần chú Đà La Ni) khi xuất hiện trước mặt người nam nữ bị bịnh tà, người bị bịnh tà liền quỳ xuống sụp lạy, sau đó ngả quỵ rả rời cơ thể một cách im lặng hồi lâu, rồi tỉnh lại do ma quỷ đã ra khỏi thân tâm. Đó là bố ma về mặt tâm linh.

Về mặt bố ma ở thực thể, ở đâu có chư Tăng, Ni hoằng dương chánh pháp Phật, ở đó có các loại ma vương hữu thể sợ sệt và lo lắng cho số phận của họ sẽ bi lu mờ, mất uy danh, uy lực với quần chúng. Do vậy các loại ma vương ấy vừa lo sợ vừa tìm đủ cách để đánh phá chư Tăng Ni của Đạo Phật. Chứ không phải do Tăng, Ni, Phật tử đánh phá Tăng Ni mà sanh tâm nghi ngờ, rồi tỏ thái độ oán hờn nhau, là một tội lớn.

 

ĐẶC TÍNH CỦA TỲ KHEO

Chữ Tỳ kheo được dịch âm từ Phạn ngữ là Bhikkhu. Người Trung Hoa lại dịch ra âm chữ Hán là Bí Sô. Danh từ Bí SôTỳ kheo đều là dịch âm từ chữ Bhikkhu. Bí Sô và Tỳ kheo như nhau, đều là tên gọi đối với giới xuất gia Tăng, Ni, cho nên trong kinh có chỗ gọi Bí Sô, có chỗ gọi Tỳ kheo. (Bí sô Tăng, Bí sô Ni). Danh từ Tỳ kheo được thông dụng hơn là Bí Sô. Chư Tăng Ni Phật giáo Ấn Độ, Tích Lan, Thái Lan, Lào, Campuchia được gọi nguyên gốc chữ Phạn Bhikkhu. Chẳng hạn gọi Hòa Thượng Bhikkhu Narada. Còn Việt Nam và Trung Hoa thì gọi Hòa Thượng Tỳ kheo Thích Chơn Như, v.v…

Bhikkhu là tên của một loài cỏ thơm mọc trên núi tuyết xứ Ấn Độ, nay vẫn còn loài cỏ ấy. Cỏ Bhikkhu thơm cả thân và lá lúc còn non xanh cho đến già úa vẫn còn thơm. Mùi thơm dễ chịu không gay gắt. Thông thường các loài cỏ có thân mảnh khảnh chỉ mọc ở đồng bằng ruộng nương hay núi thấp, không thể mọc trên núi tuyết. Đằng này loài cỏ Bhikkhu lại mọc ở núi tuyết quanh năm. Thân của nó chẳng những không bị hao mòn, rục rả bởi tuyết, trái lại luôn nảy nở, mọc tràn lan ra tứ phía suốt 4 mùa tuyết phủ.

Theo sách “Phiên Dịch Danh Nghĩa” có ghi loài cỏ Bhikkhu (Bí Sô) có năm đặc tính:

1- Thể tánh nhu nhuyễn

2- Dẫn mạn bàng bố

3- Hinh hương viễn văn

4- Năng liệu đông thống

5- Bất bội nhật quang

Năm đặc tính của cỏ Bhikkhu như thế nào mà thời xưa Đức Phật lại chọn tên cỏ ấy để làm tên gọi cho giới xuất gia Tăng, Ni (Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni)? Chắc là đặc biệt lắm nên Phật mới chọn. Vậy chúng ta hãy tìm hiểu 5 đặc tính trên của cỏ Bhikkhu là gì

1- Thể tánh nhu nhuyễn

Thể tánh này được biểu thị cho thể tánh của giới Tăng sĩ Phật giáo một khi đã xuất gia rồi, thì tánh tình được nhu mì, dịu dàng, luôn khiêm cung, ái ngữ, chánh trực, hoan hỷ, thuận hòa, bao dung, không thô tháo, luôn nhã nhặn, không hung dữ, thật thà, tự nhiên, bình đẳng, không nghi ngờ… Tất cả đều do thân, khẩu, ý an trú trên dòng tâm chánh niệm, tỉnh thức sau khi đã được tu tập và hành trì giới luật chín chắn rồi.

2- Dẫn mạn bàng bố

Mạn nghĩa là mọc tràn ra, mọc dài ra. Bàng nghĩa là mọc tràn lan cùng khắp. Hai đặc tính ấy được chỉ cho chư Tăng sĩ trong Phật giáo thường đi khắp đó đây để hoằng dương chánh pháp hóa độ chúng sinh bằng đôi chân trí tuệ ba la mật.

3- Hinh hương viễn văn

Mùi thơm của cỏ Bhikkhu bay xa khắp không gian. Được chỉ cho giới xuất gia trong Phật giáo một khi đã thọ Tỳ kheo giới, ai cũng có giới đức trang nghiêm thanh tịnh ở bản thân. Cho nên ai gặp cũng thích, cũng thương mến kính trọng, cúng dường. Nhất hạng là những vị danh Tăng có đạo cao đức trọng, nền văn hóa Phật giáo lớn trong tâm, được quần chúng khắp thế giới nghe đến, liền khởi tâm hâm mộ, ngưỡng vọng và tiếp xúc, lễ bái, v.v…

4- Năng liệu đông thống

Cỏ Bhikkhu là một vị thuốc chữa trị chứng đau nhức cơ thể. Được chỉ cho tất cả chư Tăng, Ni trong Phật giáo đều có khả năng chữa trị được các thứ bịnh phiền não, tâm thần, cơ thể bằng thần lực tâm thức và các dược thảo.

5- Bất bội nhật quang

Nghĩa là không ngược lại với ánh sáng mặt trời. Đó là đặc tính của cỏ Bí Sô (Bhikkhu) luôn luôn hướng về mặt trời. Mặt trời ở ngả nào, thân và lá cỏ Bí Sô hướng theo ngả đó. Ở đây được biểu thị cho chư Tăng, Ni trong Phật giáo không bao giờ dám đi ngược lại ánh sáng chánh pháp Phật. Thân tâm luôn luôn thấy chơn chánh, nói năng chơn chánh, nhớ nghĩ chơn chánh và lúc nào cũng an trú trong định… một cách thường hằng dù cho sống trong môi trường, hoàn cảnh thuận duyên, nghịch duyên vẫn theo chánh pháp. Bằng không có thể sẽ bị đi ngược lại ánh sáng chánh pháp Phật.

Thứ nữa, chư vị Tỳ kheo Tăng, Ni đang có mặt tại mọi quốc độ trên vận hành tu tập và hoằng hóa độ sanh trong các môi trường thuận duyên, nghịch duyên, hoàn cảnh phú lạc hay không lạc phú, tâm vẫn hướng về tổ quốc đất mẹ qua hành động đãnh lễ, tưởng niệm báo đáp ân đức chư vị tổ sư, giáo thọ, bổn sư, chư tôn đức tiền bối hữu công với đạo pháp, đàn na tín thí, cũng như tổ tiên, ông bà, cha mẹ, các vị anh hùng dân tộc… đã lập quốc và giữ nước.

Vì thế cho nên Đức Phật, ngài chọn danh từ Tỳ kheo (Bhikkhu) tên của loài cỏ thơm để đặt tên cho các thiện nam, tín nữ xuất gia thành Tăng, Ni, ai cũng được gọi là Tỳ kheo sau khi thọ đại giới như vậy, là vì ngài thấy rằng giới luật và giáo lý của ngài, ai xuất gia tu hành đúng theo giới luật và Phật pháp đều được có đủ 5 đặc tính như loài cỏ thơm Bí Sô (Bhikkhu). Đó là về phía Đức Thế Tôn đặt niềm tin và hy vọng nơi hàng đệ tử xuất gia của ngài là chư vị Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni ai cũng có 5 đặc tính  như loài cỏ thơm Bhikkhu. Còn về phía chư vị Tỳ kheo Tăng, Tỳ kheo Ni được có 5 đặc tính ấy hay không là do cá nhân Tăng Ni tự xét mình. Vì thế cho nên danh từ Tỳ kheo không phải là một tước vị, chức vụ, mà là thuộc về đặc thù tư tưởng ở giới tánh thường hằng tịch tịnh trang nghiêm tịnh độ thân tâm. Do vậy hai chữ Tỳ kheo, một danh từ đặc biệt, thuần túy duy nhất chỉ có trong đạo Phật dùng chỉ cho giới xuất gia Tăng, Ni. Các tôn giáo khác không có, họ chỉ có danh từ Sa Môn, tên gọi chung cho tất cả những người thoát ly gia đình dấn thân tu hành theo đạo lý tôn giáo nào đó trong thuở xưa bên Ấn Độ. Do vậy chư Tăng già trong Phật giáo cũng thường dùng danh từ Sa Môn và kể cả Phật tử cư sĩ có tâm xuất gia, còn thân tại gia có tu học Phật pháp chín chắn cũng được dùng danh từ Sa Môn, tuyệt đối không được dùng Tỳ kheo.

 

 

 

THÁI ĐỘ HỌC PHẬT QUA BÀI THƠ

CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH PHÚC HẬU

 

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Năm nay tính lại chừng quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ

 

Đa số Phật tử Việt Nam ai cũng biết và thuộc lòng bài thơ trên của Hòa Thượng Thích Phúc Hậu. Biết và thuộc lòng bài thơ ấy với tâm tư thưởng ngoạn văn chương trong thơ hơn là lấy đó làm đề cương cho việc học và tu tập Phật pháp. Nếu không nói là không thấy được lời của ngài Phúc Hậu nhắn nhủ khuyến cáo Tăng Ni và Phật tử phải học và tu tập Phật pháp với thái độ thật đúng đắn mới có thể kiến Đạo, tu tập Đạo và đạt Đạo giác ngộ.

Sở dĩ Hòa Thượng Phúc Hậu sáng tác bài thơ ấy, là vì ngài đã tự chứng nghiệm 3 điều giáo vụ thường thức sau đây luôn gắn liền với nhau hiện hữu trong nền đạo lý của Phật, mà người trong đạo Phật Tăng Ni hay Cư sĩ, ai cũng phải tiếp nhận vào lòng, tri hành để tu tâm tích đức, nhờ Đức mà được kiến Đạo, tu tập theo Đạo và đạt Đạo giác ngộ giải thoát bằng Phật pháp không còn pháp nào khác hơn. Ba điều chứng nghiệm ấy là:

Một, thấy được lời Phật dặn dò lại chúng đệ tử xuất gia và tại gia trong mọi thời đại sau Phật nhập Niết Bàn, phải tự mình sao chép, khuyên người khác sao chép, in ấn kinh điển để lưu truyền cho các thế hệ Tăng, Ni, Phật tử ở tương lai được có Kinh, Luật, Luận mà học hỏi, tu tập, phụng sự Đạo pháp… thật rõ ràng nhiều lần trong kinh Pháp Hoa đúng như câu thơ “Kinh điển lưu truyền tám vạn tư”. Do đó chư vị tổ sư, chư tôn đức Tăng già, các bậc Cư sĩ trí thức Phật giáo Việt Nam trong quá khứ và hôm nay đã và đang tri hành lời Phật dặn dò qua các công trình phiên dịch, in ấn nhiều thứ Kinh, Luật, Luận ra Việt ngữ.

Hai, nghiệm thấy lời Phật, chư tổ đã hết lòng căn dặn Tăng, Ni, Phật tử thật kỹ lưỡng rằng, phải học Phật, suốt đời học Phật và thực tập Phật pháp thường xuyên trong mọi môi trường địa vị là thứ dân, khoa bảng, con vua, cháu chúa, triệu phú, chức vụ quyền uy, lãnh đạo tập thể, Phật sự, từ thiện… ngoài đời, trong chốn thiền môn. Tất cả đều nhắm đến mục tiêu trọng yếu là phá trừ ba độc tham, sân, si, mê vọng, chấp ngã, ác kiến… thì mới có thể tích Đức mà kiến Đạo giải thoát sau khi tâm thức an trú trên dòng tâm thanh tịnh. Từ đó tu tập theo dấu Đạo vô ngã đã thấy một cách tinh tấn ba la mật. Phải có ba la mật, tức là ý niệm mong muốn, quyết định đến bờ giác, thì nhất định sẽ đạt Đạo giác ngộ.

Ba, nghiệm thấy một số ít Tăng, Ni trung niên xuất gia và nhiều Phật tử không chịu học Phật pháp, chỉ thích tụng niệm ma chay, từ thiện, Phật sự, cúng dường Tam Bảo, tổ chức cúng tế, hội tề tranh cãi… Đó là một bệnh trầm kha di truyền khó chữa cho tới hôm nay vẫn tiếp tục hiện hữu. Đó là một thực trạng ai cũng biết. Vì thế Hòa Thượng Phúc Hậu sáng tác bài thơ ấy như là tiếng chuông cảnh tỉnh, nhắn nhủ và khẳng định rằng, con đường giải thoát sinh tử là phải học Phật pháp để thấy lý Đạo vô ngã, tin và tu tập theo lý đạo ấy một cách tích cực sẽ đạt Đạo giác ngộ. Cách học Đạo giải thoát do mỗi cá nhân tự chọn, nhưng không ngoài kinh sách giảng luận Phật pháp và kể cả băng giảng cassette, DVD, CD, chứ không phải các chức vụ trưởng, phó trong Phật giáo, Phật sự, từ thiện… mà gọi là học Phật pháp, cho là con đường giải thoát! Những ngôi vị ấy, các việc làm ấy là sở trụ ôn tập qua thái độ trí thức Phật giáo là tâm tỉnh thức ở lời nói và hành động vô ngã thanh tịnh, lục hòa, đức độ, ái ngữ, khiêm cung, chan chứa tình người, tình đạo Phật tại chốn thiền môn và phố thị thế gian trong giao tế đối đãi bình đẳng như nhau. Thái độ học và thực tập Phật pháp của người Phật tử là ở chỗ đó, nói như lời kinh:”Phật pháp hiện hữu không hạn định thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai. Ở đâu có vô tình và hữu tình chúng sinh, ở đó có Phật pháp hiện hữu”.

Các chốn chùa chiền, nói theo sở chấp của người chấp tướng, là nơi đó có Phật pháp không đâu khác hơn. Ấy thế vậy mà, có những vị khoa bảng đầy người, giàu có, con vua cháu chúa, trưởng phó chức vụ Phật giáo tại các chùa công cộng, lại thiếu sự nhã nhặn, không ái ngữ, không khiêm cung, tranh cãi hằn học, bất hòa, oán hờn đối với các bạn đạo đồng môn trong đối đãi. Trong khi đó họ đối đãi với các cấp thế nhân ngoài xã hội rất là ái ngữ tuyệt vời, khiêm cung đúng lễ, tay bắt mặt mừng, cười vui hỷ hả tận đáy lòng…! Hai thái độ đối đãi không bình đẳng đó, mà người xưa thường nói “khôn nhà dại chợ”. Khôn chỗ này dại chỗ kia là hạng người thế gian. Người Phật tử phải có tâm bình đẳng, nếu khôn nên khôn cả hai nơi, nếu dại nên dại cả hai nơi.

Nhưng thái độ học và thực tập Phật pháp của người nam nữ Phật tử không khôn và cũng không dại, luôn thấy biết trong tỉnh thức, nếu không nói là tâm tư thường hằng trật tự trong đời sống thực tại, theo nghĩa thực tại là Chân Như.

Là Tăng Ni nói riêng, vai trò hoằng dương chánh pháp hóa độ chúng sinh trên nhiều mặt, nhưng được tựu trung ở 2 mặt chính yếu sau đây: đó là nói pháp khai mở tâm vô minh chúng sinh được chuyển hóa thành Bồ Đề tâm vô ngã thanh tịnh. Tiếp tục duy trì và phát triển tam tạng kinh điển cho các thế hệ Tăng Ni và Phật tử hậu lai. Cho nên Tăng Ni được đào tạo tại các Phật Học Viện để được có 3 nền giáo dục trong thân tâm. Được có 3 nền giáo dục, Tăng Ni đều có thái độ học Phật rất là thông thái cao rộng. Thông thái ở nghĩa là giáo pháp khi đưa vào lòng, tất cả được điều hòa thành sở hữu pháp tánh riêng cho mình, điều đó mới là trọng yếu hơn là được tính năm, tính lớp, văn bằng. Chứng thực điều đó, chư tôn đức Việt Nam trong quá khứ xa xưa, đâu có văn bằng, thứ lớp cao, trung… mà quý ngài đã đạt Đạo giác ngộ giải thoát như Hòa Thượng Thích Phúc Hậu do quý ngài có thái độ trầm tư quán chiếu vào trần cảnh qua suy nghiệm khế lý của bài pháp đã học, nên đã thấy rõ được lý Đạo vô ngã, tu tập theo đó mà đạt Đạo giác ngộ (Phật Đạo) giải thoát cho mình, cho người.

Người Tăng Ni phải học Phật. Không học Phật lấy đâu ra lý Đạo mà phá trừ vô minh, tam độc! Học Phật bằng thái độ quán chiếu vào bản thể vạn hữu trong đó có ta và người để thấy thân tâm ta và người có trật tự hay vô trật tự! So sánh lời Phật nói trong kinh và trần cảnh khác hay giống nhau! Do vậy thái độ học và thực tập Phật pháp của hàng Tăng Ni và Phật tử không hạn định thời gian nào được kiến Đạo. Và cũng không hạn định phải học cho hết ba tạng Kinh, Luật, Luận! Học làm sao cho tâm thức được thấy rõ các thứ Đạo; Phật Đạo, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác Đạo, Thiên, Nhân, Atula, Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sanh Đạo, rồi nói cho mọi người Phật tử được biết, ai muốn giải thoát sinh tử hãy nói lời Phật, làm theo Phật, đối đãi với mọi người như Phật để thành Phật. Nếu chưa thành Phật, thì thành Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác. Tệ lắm thì cũng phải Thiên, Nhân quả vị.

Người Tăng Ni thấy rõ các thứ Đạo rồi nhờ học Phật không nhiều, không ít, không dư, không thiếu, đủ để tích Đức mà kiến rõ lý Đạo giải thoát của Phật, tu tập theo lý Đạo vô ngã ấy cho mình, cho người để đạt Đạo giác ngộ.

Nhờ học Phật đúng cách, đúng thái độ, Tăng Ni, Phật tử được có Đức. Nhờ Đức mà Tăng Ni không quy phục, cúi đầu trước vương quyền, không xu nịnh kẻ giàu có, quyền uy lãnh đạo, không bị các tha lực thế gian lèo lái, không bôn ba đi tìm chức vị, vân vân và vân vân… Tùy duyên và bố thí bất nghịch ý của người Tăng bảo không có các hành vi nói trên ở bản thân.

Pháp tùy duyên là nhắm vào căn cơ chúng sinh mà có. Tức là tùy đối tượng mà Tăng Ni nói bài pháp. Chẳng hạn đối tượng có tâm tham vọng chức quyền dày đặc trong tâm nên gây đau khổ, phiền não cho mọi người suốt bao  nhiêu năm rồi, thì phải nói bài pháp phá trừ tam độc Tham, Sân, Si. Nói một lần đối tượng chưa từ bỏ tâm tham, nói lại bài pháp đó đến những năm, bảy lần cho đến khi nào đối tượng tỏ ngộ rồi trở lại tính người, tính Phật thì mới thôi, nói qua bài pháp khác, từ bi chẳng hạn. Chứ đối tượng còn đang tham sân si, hung dữ, ăn nói cộc cằn, mà nói bài pháp từ bi, thì họ không thể tiếp nhận được lý Đạo từ bi.

Trong thời Phật còn tại thế, tôn giả Mục Kiền Liên xét thấy bà bán bánh ít trần ở cái quán nhỏ bên đường đang có tâm tham lam bỏn xẻn. Ngài Mục Kiền Liên liền đến khất thực. Bà ấy ngỏ lời chào hỏi vui vẻ lắm, nhưng bà không bố thí lúc đó, bà nói lời hẹn: “Thưa ngài Mục Kiền Liên, sáng mai ngài đến, con sẽ cúng dường cho”. Ba lần sáng mai, mà bà không cúng dường cho tôn giả Mục Kiền Liên, rồi bà lại hẹn nữa.

Để gieo vào tâm linh bà bán bánh được có phước báu giàu có ở kiếp sau, tôn giả Mục Kiền Liên liền nói bài pháp về công đức bố thí tài cho Tam Bảo. Ngài Mục Kiền Liên nói bài pháp ấy cho bà bán bánh đến những bảy lần. Nên chi bà ta liền đứng lên chấp tay cung kính lễ bái và dâng cúng cho ngài Mục Kiền Liên một cái bánh. Sau đó ngài Mục Kiền Liên không bao giờ đến lại, vì đã khai mở tâm bỏn xẻn của bà được có tâm từ bi bố thí rồi.

Cách nói pháp của tôn giả Mục Kiền Liên rất đúng theo lời Phật dạy. Nói theo danh từ thời đại là đúng sư phạm. Ta thấy chư tôn đức Phật giáo trên thế giới nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng, chư vị giáo thọ (giáo sư) giảng sư trong quá khứ và hôm nay trên vận hành thuyết pháp độ sanh đều đúng theo lời Phật dạy, tức là đúng sư phạm của thiền môn.

Tuy nhiên bên hành lang ngôi nhà Phật giáo Việt Nam có số ít Tăng Ni trẻ được xuất thân từ các trường cao đẳng Phật Học, nhưng hành đạo không lấy gì làm đúng sư phạm cho lắm. Trong đó bị chắp vá, lúng túng không tự nhiên, bị mất trật tự… Có lẽ do vì quá còn trẻ, mặc dù đúng 30 hay trên 30 tuổi, là tuổi làm nên sự nghiệp của thế gian gọi là “tam thập nhi lập”. Nhưng trong Phật giáo tuổi ấy chưa có thể nhi lập giáo thọ, trù trì, đốc giáo trường sở, phải là tứ thập (40) mới nhi lập các chức vụ, do được có bản lĩnh, khí khái trượng phu. Bằng không, dễ bị các thế lực ma đạo khuynh loát, lèo lái ra khỏi quỹ đạo chánh pháp. Đó là về phía Tăng Ni học Phật.

Về phía Phật tử tại gia nếu mong cầu con đường giải thoát sinh tử, phải học Phật. Không học Phật sẽ bị vấp và vướng vào nhiều thứ phiền não, cực đoan và ngớ ngẩn không trả lời được khi có người ngoài Phật giáo hỏi rằng, nghe nói Đạo Phật chủ trương vô ngã, vậy vô ngã là gì, xin anh chị cho biết! Có người khác thắc mắc rằng, tại sao Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi báu, báu ở chỗ nào? Và người khác lại hỏi, làm các Phật sự, bố thí, cúng dường, từ thiện, xã hội… có phải là pháp môn tu tập để phá trừ cái tâm vô minh chấp pháp, chấp tướng, phải không? Ngay cả trong giới Phật tử cũng thắc mắc hỏi nhau, chị ơi, anh ơi! Tại sao Đức Phật cứ chủ trương không, cái gì cũng không cả, là sao? Gặp các bà, các ông có học và thực tập Phật pháp đúng thái độ liền trả lời: Đức Phật chủ trương không cái gì? Không tham lam địa vị, chức quyền, không sân, si, ngã mạn, chấp trước, không bè phái cực đoan, độc tài, độc diễn, không nghi ngờ, vu oan, chuyện không có nói có, v.v… Chứ Đức Phật đâu có chủ trương không thương yêu nhau! Không vui cười, hạnh phúc! Không mưu sinh cho đời sống! Không ân nghĩa, lễ độ! Vân vân…

Người Phật tử không học Phật thì làm sao có thể biết được những gì trong Phật giáo đang có, đang chủ trương ở các hình thái thực thể và vô tướng ở tâm linh! Không học thì lấy gì để giải thoát sinh tử, lấy gì để trả lời cho người ngoài Đạo Phật? Nếu im lặng là đồng lỏa lời xuyên tạc của kẻ xấu hay nói theo, tức cùng với ma nói sai chánh pháp. Nếu tự trả lời thì không trúng lý đạo, như thế là oan cho Phật ba đời. Cho nên Phật tử phải học Phật pháp. Học bằng cách nào đó, không hạn định phải học kinh này, pháp nọ, nhiều hay ít, học với ai, khi nào, ở đâu… không thành vấn đề, miễn sao đủ để thấy Đạo giải thoát, rồi tu tập theo đó mà đạt Đạo giác ngộ là được, đúng như tinh thần ở hai câu đầu của bài, mà Hòa Thượng Phúc Hậu đã chỉ cho ta thấy sau đây:

Kinh điển lưu truyền tám vạn tư

Học hành không thiếu cũng không dư

Hai câu thơ trên là thời điểm học Phật pháp và thực tập Phật pháp vào lòng ở thực tại tri hành và quán niệm tư duy trước cảnh trần sau khi học qua lý của bài pháp một cách thường trực và miệt mài sâu thẳm vào tâm thức. Đó là thái độ học, hay còn gọi là đi vào Đạo vô ngã giải thoát. Bởi vì tất cả kinh điển Phật nói nhiều cách, cách nào đi nữa vẫn không ra ngoài lý Đạo vô ngã. Cho nên không cần học hết ba tạng kinh điển có đến hàng ngàn thứ kinh khác nhau. Học một vài thứ kinh hay một vài bài pháp ngắn gọi là pháp số hợp với căn cơ hoàn cảnh, trình độ của mình có tính cách đào sâu, đi sát bài học. Nếu học nhiều quá sẽ bị rối trí khó thấy Đạo như người bị lạc vào rừng không biết đường ra do không đủ khả năng, không đúng thái độ và không đúng cách học. Còn học ít quá, lại thêm hời hợt, không quan tâm mong muốn kiến Đạo, học vì phong trào mang hình thức phô trương cho có. Học như vậy là không đúng thái độ.

Cả hai cách học trên không đúng thái độ học Phật của người mong cầu con đường giải thoát, do vậy mà thường nghĩ sai, làm sai chánh đạo trong các Phật sự, huống là  kiến Đạo lại càng không thấy!

Tất cả lời luận giảng trên ở hai hạng người học Phật không đúng thái độ, do vậy có học vào mà không đạt kết quả kiến Đạo như người đi đêm không đèn, được gọi là vào được mà không ra được. Bởi vì một đằng, do không đủ trình độ, thiếu thông minh, có tinh thần học, nhưng quá ham hố học nhiều thứ kinh, lại thêm không tuần tự tư duy, quán chiếu, cố sức nhét vào tâm nhiều lý Đạo, cuối cùng không thấy dấu Đạo vô ngã ở bài pháp nào cả! Trong khi đó Đạo lý vô ngã nằm ngay trong mỗi bài pháp đang học.

Một đằng khác, thấy thiên hạ học, cũng học theo, nhưng hời hợt, không quan tâm, không quyết tâm kiến Đạo, qua loa cho có lệ, để cho Tăng, Ni biết mình có đến tu học.

Nói rõ hơn, Phật tử mong cầu con đường giải thoát là phải học và thực tập Phật pháp cho đúng thái độ, thì mới đủ lý đạo trong tâm. Từ đó tâm mới thấy dấu Đạo vô ngã mà tu theo nó để đạt Đạo giác ngộ giải thoát, giống như người đã thấy được hình tướng vật báu hiện hữu ló dạng trên đồi cao trước mặt, liền tự vạch lối đi thẳng lên không quanh co, đi tuần tự lên ngay vật báu, lấy vật báu mang về. Hay là giống như người bị mất trâu, đi tìm và đã thấy được dấu chân trâu, từ đó cứ theo dấu chân trâu liền bắt gặp con trâu, dắt trâu về.

Tất cả lý giải trên gọi là vào được và ra được. Tức là học Phật đúng cách, đúng thái độ học, nếu không nói là đủ lý Đạo để thấy Đạo, tu Đạo và đạt Đạo, chứ không thiếu, cũng không dư. Cho nên có số hành giả mới học Phật được vài tháng đã ngộ được Đạo vô ngã, có vị một năm, có vị hai năm mới ngộ Đạo vô ngã giải thoát. Thấy một cách thường trực không bị gián đoạn. Bởi vì một khi hành giả đã thấy được lý Đạo vô ngã rồi, liền sau đó không giữ lại trong tâm lý nghĩa bài pháp, xả bỏ hết, quên hết tất cả âm thanh, sắc hình quá khứ, từ bỏ địa vị chức tước thực tại, hết hân hoan vui mừng về sự nghiệp giàu sang, không còn mọi thứ tham vọng, không luyến ái của mất hay còn, hoan hỷ bao dung đầy tình người với mọi người, luôn bố thí cúng dường với tinh thần vô ngã ba la mật, không giận hờn, thương ghét, vân vân… Chỉ nhớ trong tâm là phải tu tập theo dấu Đạo giải thoát để phá trừ cho hết vô minh, hữu ngã, phiền não, ác trược… để cho tâm được trống rỗng. Tâm đó là chân tâm, chân như giữa dòng đời đầy ô trược mà tâm ta không bị dính mắc vào ô trược dòng đời! Đúng như lời của Hòa Thượng Phúc Hậu nói ở hai câu thơ cuối sau đây của bài thơ:

Năm nay tính lại chừng quên hết

Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÓ PHẢI ĐỨC PHẬT SÁNG CHẾ RA

CHÁNH PHÁP?

     

Chánh pháp mà đức Phật đã dày công phu tu tập và chứng đắc đạo giác ngộ, không phải do Phật sáng chế hay hóa hiện. Chánh pháp đó có ngay tại thế gian này, chúng hiện hữu cùng khắp ở mọi bản thể chúng sanh và vạn vật như các thứ kim loại quý, đá quý có ngay trong lòng đất, nhưng muốn tìm thấy chúng, con người phải ra công đào xới lên, rồi thanh lọc cặn bã, gọt giũa, thì chất sáng của chúng mới được hiển lộ ra, sau đó mới dùng được.

Cũng như vậy, chánh pháp có trong vạn hữu thế gian, nhưng không phải ngồi đó chờ Phật bưng chánh pháp đến để cho ta được giác ngộ! Ta phải công phu Tri và Hành chánh pháp, tâm ta mới được giác ngộ chân lý ở các pháp. Chính đức Phật đã dày công Tri và Hành chánh pháp tại thế gian trong vô lượng kiếp trên vận hành vừa cứu khổ chúng sanh vừa tu tập nên mới đạt được đạo giác ngộ chân lý các pháp. Vì thế cho nên mới gọi Phật pháp là ngôi báu thứ hai, tức Pháp Bảo. Bởi vì pháp bảo có năng lực giúp cho con người giải thoát sanh tử luân hồi khổ đau bằng con đường tu tập dù khó nhọc trong tu tập, nhưng hiệu quả giải thoát sẽ đến một cách đích thực không hư dối, cũng như các loại đá và kim loại quý có giá trị lớn là cho con người được nhiều sự giàu sang, ấm no, hạnh phúc vật chất trên đời một cách rõ thực nếu con người được có trong tay những thứ đó. Cho nên đi tìm chánh pháp giải thoát trong đạo Phật còn khó hơn đi tìm các vật báu thế gian. Bởi vì vật báu thế gian không đưa con người qua bờ giải thoát, còn Pháp Bảo có năng lực đưa con người qua bờ giải thoát sinh tử. Nhưng với điều kiện con người phải đi tìm học hỏi và thực hành pháp bảo để được giác ngộ chân lý các pháp thì mới có thể qua bờ giải thoát lục đạo sinh tử.

Vì vậy mà con người và pháp bảo luôn luôn được gắn liền nhau không thể tách rời nhau từ lúc bước đầu học và tu tập Phật pháp cho đến khi được giác ngộ từng phần các bậc thánh, Bồ Tát, Phật, pháp bảo vẫn tồn tại trong tâm thức. Pháp bảo tồn tại trong tâm thức không có nghĩa là chấp chặt theo lời kinh, tôn thờ lời kinh, mà là sự tiêu hóa pháp bảo, biến pháp bảo thành cây đuốc trí tuệ, gọi theo danh từ Phật học là ý giáo tức là thông suốt mọi khế lý của kinh, nói như Hòa Thượng Phúc Hậu: “Kinh điển lưu truyền tám vạn tư. Học hành không thiếu cũng không dư. Năm nay tính lại chừng quên hết. Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ”. Cho nên học và thực hành Phật pháp là đi vào đạo, được giác ngộ đạo là con đường đi ra khỏi Tam giới, Lục đạo sinh tử. Trước khi ra khỏi Tam giới, Lục đạo, con người (Tăng) hành đạo phải tận diệt hết những chủng tử ô nhiễm, ác trược ra khỏi tâm thức. Nếu vào đạo mà không học, không thực tập Phật pháp để tận diệt vô minh, thì lấy gì để đi ra? Vào được mà không ra được là chết chìm trầm luân.

 

 

 

CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẠO PHẬT LÀ GÌ?

     

Chủ trương của đạo Phật là giải thoát sinh tử cho chúng sinh bằng giáo pháp với điều kiện con người phải học và thực tập Phật pháp. Có như thế thì mới ra khỏi Tam giới, Lục đạo. Ra khỏi Tam giới, Lục đạo, thực tại tâm con người (Tăng) trong đạo Phật phải ra khỏi vô minh, phiền não, thì đó mới đích thực là Tăng Bảo, là ngôi báu thứ ba của Tam Bảo bằng con đường Bồ Tát Đạo là trên “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”, nghĩa là trên cầu được thành Phật, dưới hóa độ chúng sanh.

Sự hóa độ chúng sanh của hàng Tăng bảo rất là đa diện, nhưng dù ở diện nào, người Tăng bảo luôn lấy tâm bình đẳng, tức là sự hiểu biết rộng lớn hay còn gọilà trí tuệ Phật trong đối đãi với mọi người bằng bốn tấm lòng cao thượng: Từ, Bi, Hỷ, Xả. Cho nên không bao giờ cực đoan gây bè phái, gây mâu thuẫn giữa người này với người kia trong một tổ chức Phật giáo trong vai trò lãnh đạo tinh thần, là chỗ nương tựa tất cả mọi người để được có niềm an lạc, giác ngộ và học tập Phật pháp. Bởi vì Tăng là biểu tượng cho Phật bảo, Pháp bảo. Cho nên trong TăngPhật, có Pháp. Trong PhápPhậtTăng. Ba ngôi báu luôn luôn hiện hữu trong tâm của các hàng xuất gia và tại gia cư sĩ, chứ không phải riêng cho hàng xuất gia mới gọi là Tăng. Bởi vì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Một khi Phật tánh được phát triển hiển lộ sau khi các thứ phiền não vô minh bị tiêu diệt bằng con đường tu tập Phật pháp mà tiến lên ngôi vị giác ngô từng phần các bậc thánh, Bồ Tát và Phật, thì không ai hơn ai. Vì vậy mà Tăng đoàn của Phật trong thời xưa và nay gồm có chư vị Tỳ Kheo Tăng, Tỳ Kheo Ni Tăng, Sa Di, Sa Di Ni, Ưu Bà Tắt (nam cư sĩ), Ưu Bà Di (nữ cư sĩ).

 

 

 

TĂNG NGHĨA LÀ GÌ?

 

      Nghĩa của Tăngđoàn thể gồm 4 người trở lên tại chùa, tu viện, am cốc thường gọi là chúng tăng, không thể ở một người. Và Tăng còn có nghĩa là hòa hợp bằng sáu nguyên tắc lục hòa để giữ hòa khí trong mọi sinh hoạt đối đãi lẫn nhau và Bốn Nhiếp Sự (Tứ Nhiếp Pháp), trong đó hai pháp Lợi hành, Đồng sự là then chốt cơ bản tiến mạnh, không ngưng đọng trên vận hành duy trì và phát triển chánh pháp vào thế gian (phụng trì – Phật sự) để đem sự lợi ích thiết thực đến cho con người đó là trí tuệ giác ngộ giải thoát.

Một cá nhân xuất gia (Tăng, Ni) dù đồng chơn xuất gia (tu từ lúc tuổi nhỏ) hay đã có vợ, chồng con cái đùm đề rồi mới xuất gia đều phải nhiếp thọ vào tâm thức những giới luật đã thọ, sáu pháp Lục hòa, và bốn pháp Nhiếp sự thì mới được gọi là Tăng bảo.

Một cá nhân, nam, nữ tại gia cư sĩ đều phải nhiếp thọ giới luật đã thọ, sáu pháp lục hòa, và bốn Nhiếp sự thì mới được gọi là Tăng bảo. Bởi vì bảo quý báu. Tâm quý báu của những người trong đạo Phật (Tăng, Ni, Cư sĩ) đó là tâm Từ bi, tâm trí tuệ bình đẳng, gọi là tâm kim cương bất hoại.

Người trong đạo Phật tức Tăng, Ni, nam nữ Cư sĩ tại gia trong ngôi chùa, tu viện mà không có tâm quý báu kim cương bất hoại tức là tâm bị ô nhiệm bất tịnh, chứa đầy tham sân, chấp ngã, cực đoan, bè phái gây chia rẽ, độc đoán quyền hành, độc tôn mưu lợi riêng tư... thì không thể được gọi là Tăng bảo, Phật tử.

 

 

 

ĐỨC PHẬT CHỨNG ĐẠO THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN ĐẦU TIÊN, NHƯNG TẠI SAO PHẬT LẠI GIẢNG TỨ ĐẾ TRƯỚC?

HAI ĐẠO LÝ ĐÓ GIỐNG NHAU HAY

KHÁC NHAU?

 

Hai đạo lý Thập Nhị (12) Nhân Duyên và Tứ Đế (bốn sự thật) rất giống nhau nên liên quan mật thiết với nhau trên khế lý căn bản thuyết minh đặc biệt về sinh mệnh con người. Nhưng sở dĩ Đức Phật nói giáo pháp Tứ Đế trước tiên cho năm vị Tỳ Kheo tại vườn Lộc Uyển, chỉ là một cách trình bày về Thập Nhị Nhân Duyên trên cơ sở quán chiếu theo chiều thuận từ Vô minh... đến Sanh, Lão tử để thấy rõ cái nhân tạo thành một Sinh mệnh con người trên vòng sinh tử, luân hồi khổ đau liên tiếp trong ba đời không dứt là do Vô minh, mà bản thân con người hiện tại chính là biểu tượng cho Khổ đếTập đế cùng thường hằng hiện hữu trong thân và tâm con người từ lúc sống cho đến lúc chết một cách rõ ràng. Vì thế mọi hiện tượng khổ đau đều đến với con người một cách bình đẳng trong mọi giai cấp xã hội hiện tại không chừa một ai, không ai có thể tránh khỏi được, nói như Khổng Tử: “hữu thân hữu khổ”. Nỗi khổ của con người từ bản thân bên ngoài, cho đến bên trong tâm thức là một sự thật khổ đế.

Cho nên bất cứ con người nào trong xã hội hiện tại không thể tránh khỏi những nỗi khổ già nua, bệnh tật, chết chóc, đói, lạnh, bão lụt, hỏa hoạn, chiến tranh, mất mát, tù tội, biệt ly, chia rẽ, đố kỵ, dốt nát, hận thù, bị đối xử bất công, tủi nhục, bị nghi ngờ, bị vu khống v.v... đều là những thứ khổ đau cơ bản không thể tránh được và có thể thường xảy đến cho mọi người, ai cũng phải trải qua.

Nói rằng tìm cách trốn thoát, tránh né khổ đau, e khó có thể được, bởi vì do quả báo nghiệp của đời trước và những thứ lậu hoặc tập khí trong nội thức gây ra. Chỉ có một phương pháp duy nhất, đó là tiêu diệt vô minh là cội gốc sinh ra những thứ khổ đau thường tình trong đời sống hiện tại và luân hồi sinh tử ở kiếp sau bằng con đường tu tập Phật pháp, trong đó có thực tập pháp hoàn diệt quán, tức là quán ngược lại từ : tử, lão, sanh, hữu... cho đến hành, vô minh để thấy vòng sinh tử luân hồi, rồi tự mình nhận thức: “một khi vô minh chìm lặn, thì sinh tử khổ đau chấm dứt (Diệt đế), niềm an lạc và sự giải thoát có mặt (Đạo đế), bởi vì vô minh, lậu hoặc và an lạc, giải thoát luôn luôn là hai mặt hiện hữu trong đời sống con người. Cho nên vô minh càng vơi đi, thì niềm an lạc giải thoát càng hiện hữu to lớn trong đời sống.

 

 

 

 

 

LÝ DO NÀO ĐỨC PHẬT THUYẾT MINH

ĐẠO LÝ MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

 

Đức Phật thuyết minh đạo lý 12 nhân duyên nhằm mục đích hướng dẫn loài hữu tình chúng sanh đoạn trừ cội gốc vô minh trong quá khứ, hiện tại và tương lai, gọi là TAM TẾ ngu.

Vô minh là cái nhân nảy sinh ra nhiều quả báo bất thiện làm cho chúng sanh bị trầm luân sinh tử trong sáu cõi. Muốn vượt thoát sinh tử là phải diệt tận vô minh. Phương pháp diệt trừ vô minh một cách thiết thực, là ngay trong hiện tại ta phải buông xả tâm tham, sân, si, ngã mạn, vọng thức, cực đoan, kiến chấp, ái, thủ... Một khi cái tâm không còn chứa đựng vô minh triền phược trong đời sống hiện tại, chính là năng lượng vượt thoát sinh tử, không có đời sau. Ngược lại hiện tại không diệt được vô minh, ắt có sinh tử ở đời sau, cho nên ngôn ngữ khả ố, hành động bất thiện của con người trong hiện tại như vậy là do vô minh trong vô số đời trước còn tồn tại. Rồi lại tiếp tục mang theo đời sau. Cứ như thế, vô minh lưu chuyển trong ba đời không dứt gọi là Tam Tế ngu.

Để thấy rõ tính chất trầm luân của vô minh như thế nào, ta phải học hỏi đạo lý 12 Nhân Duyên là pháp môn được Đức Phật thu gọn từ định lý Duyên Khởi có tầm vóc tổng thể chung của vạn pháp để dễ bề hướng dẫn loài hữu tình chúng sanh trong việc khảo sát các hoạt động sinh mệnh riêng của loài hữu tình chúng sanh, trong đó đặc biệt là sinh hoạt tâm lý con người qua sự quan hệ giữa DanhSắc, tức là bản thân ngũ uẩn gồm có thể chất (thân) là Sắc và bốn thứ Thọ, Tưởng, Hành, Thức (tâm lý) là Danh.

Trong bốn thứ: Thọ, Tưởng, Hành, Thức thuộc Danh, thì thức là năng sở sống còn của loài hữu tình chúng sanh, gọi thức là cái biết có phân biệt, biết về mình và biết các thứ khác. Từ cái thức này, con người bị sanh tử, vì thức bị vô minh bao phủ nên tâm chúng sanh bị si mê, ngu muội mà đi vào tội ác. Cũng từ cái Thức này, con người được sống trong chơn thế giới đoạn diệt, vì thức được chuyển hóa thành trí.

Vì thế vai trò của 12 Nhân Duyên là diễn dịch lại vòng sinh hóa về kiếp sống của hữu tình chúng sanh. Và chỉ thẳng vào bản thân con người không có cái gì gọi là ngã (cái ta), chỉ vì do 12 nhân duyên giả hợp tương quan mà có ra bản thân ngũ uẩn, tức là thế gian không thật có, chỉ có hiện hữu tương quan theo duyên khởi, chứ bản thể thế gian là chơn thế giới đoạn diệt.

Để thấy rõ vòng sinh hóa về kiếp sống của loài hữu tình, trong đó có con người, ta phải khảo sát và quán niệm vào từng mỗi chi trong 12 chi nhân duyên.

 

 

 

MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN ĐÓ LÀ GÌ?

 

Mười hai nhân duyên gồm có: Vô minhHànhThứcDanh SắcLục nhậpXúcThọÁiThủHữuSinhLão tử.

 

1) Vô minh: tính chất không trong sáng, mờ đục, đần độn gọi là chủng tử ô nhiễm. Chúng bao phủ tâm ý con người là động cơ phát sinh ra những trạng thái tham, sân, si, chấp ngã, mê tín, tà đạo, cực đoan... qua lời nói và hành động bất thiện đó. Vì vậy mà con người có tâm vô minh, không bao giờ thấy được tự tính của mình, không thấy được thực tướng vô ngã của vạn hữu.

 

2) Hành: lưu chuyển, biến động của tâm thức hướng ra ngoại cảnh gọi là tâm hành. Sự tạo tác ra nghiệp nhân từ ý thức rồi hiển lộ ra những hành động và lời nói bất thiện từ thân miệng, do vô minh khởi động, là sự hoạt động của tâm thức.

 

3) Thức: là biết, phân biệt, liễu biệt. Sự biết của mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý được thông qua tâm thức, gọi là sáu thức. Thức A-Lại-Da còn gọi là nghiệp thức. Thức này chỉ đạo cho tất cả thức, nên gọi là Tâm Vương. Chính  Tâm vương A-Lại-Da thức là chủ tể đi vào thọ thai khi tinh trùng của cha và noãn châu của mẹ hợp nhau. Cho nên thức A-Lại-Da là yếu tố tiếp nối kiếp sống con người từ quá khứ đến hiện tại và cả kiếp sau ở tương lai nếu nó chưa được chuyển thành bạch tỉnh thức là ngôi vị của các bậc thánh.

 

4) Danh Sắc: tên chung của năm uẩn. Bốn uẩn: Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều là pháp của tâm ý thuộc vô vi, nên không thể nhìn thấy, nhờ tên gọi mà biết nó là Danh, và bản thân con người do các tế bào và tứ đại hòa hợp gọi là uẩn Sắc tức là phần sinh lý trong bản thân con người. Do bốn uẩn thuộc tâm lý mà con người có trạng thái vui, buồn, giận, hờn, tham, sân, si, chấp ngã... và do sắc uẩn sinh lý mà con người biết nóng, lạnh, đói, no, mùi vị...

Danh và Sắc luôn luôn hiện hữu trong bản thân ngũ uẩn con người ngay trong giây phút đầu tiên khi noãn châu của mẹ và tinh trùng của cha gặp nhau, thì Danh chính là nghiệp thức và Sắc chính là tinh trùng và noãn châu

 

5) Lục nhập: Sáu thứ mắt, tai, mũi, miệng, thân và ý gọi là sáu giác quan trong thân sinh ấm hài nhi ở bào thai được dần dần đầy đủ theo sự phát triển của bào thai mỗi tháng lớn dần. Sáu giác quan, mà đối tượng tiếp xúc của chúng là sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, gọi chung là lục nhập. Sự hoạt động của sáu giác quan, hoàn toàn riêng biệt theo từng đối tượng của lục trần.

 

6) Xúc: Sáu giác quan tiếp xúc với sáu đối tượng; như mắt thấy hình tướng vạn vật – tai nghe âm thanh – mũi ngửi mùi hương – miệng nếm biết mùi vị – thân chạm xúc với các pháp cứng, mềm, nóng, lạnh... và ý (ý căn – Mạt Na Thức) tiếp xúc với ý tượng (pháp trần) phát sinh ra cái biết, tức nhận biết (ý thức).

 

7) Thọ: tâm sở pháp. Vai trò của tâm sở pháp là nhận lãnh và dung nạp những cảnh trần qua sáu giác quan. Cho nên thọ gồm hai thân thọ, tâm thọ ở ba thứ khổ thọ, lạc thọ, xả thọ. Khổ thọ do cảm giác buồn phiền, sợ hãi. Lạc thọ do cảm giác vui sướng, hạnh phúc. Xả thọ là cảm giác không khổ, không vui, không dễ chịu và cũng không khó chịu.

 

8) Ái: tâm nảy sinh nhiều thứ ái dục, tham muốn luyến ái, khát khao ngũ dục trong trần cảnh. Do cảm giác mà sinh tâm ái dục. Tâm có ái dục mạnh mẽ của con người nam, nữ từ 14, 15 tuổi trở lên.

 

9) Thủ: nắm giữ, bám lấy, đuổi theo các đối tượng đã sanh tâm luyến ái, như luyến tiếc gia tài, sự nghiệp đang có, nên ra sức giữ vững, bám chặt. Về bản ngã cái Ta, con người luôn luôn sinh lòng bảo vệ, củng cố những gì thuộc về Ta, như chức tước, danh vọng. Tất cả đều do tư tưởng ý niệm về ngã, mà sai lầm trong nhận thức có bảo thủ về cái Ta.

 

10) Hữu: nghĩa là có, là nghiệp báo, triền phược, vướng bận trong luyến ái. Cho nên do tâm đam mê mà ôm lấy đối tượng đã luyến ái, để rồi bị đi vào các hành động bất thiện là sự quyết định thành nghiệp quả trong tương lai.

 

11) Sinh: do cái quả báo nghiệp (hữu) trong đời hiện tại mà thọ sinh kiếp ở tương lai. Lực dẫn nghiệp đi đầu thai một sinh mệnh mới ở đời sau, chính là thức A-Lại-Da đi tìm chỗ tái sinh. Tái sinh ở quốc độ nào, trong giai cấp nào là do chủng tử có chứa thiện nhiều hay ác nhiều lúc sống trên đời, mà thức A-Lại-Da đã huân tập vào.

 

12) Lão Tử: lão là già, tử là chết. Hai thứ già và chết là hai điều mà con người không thể tránh khỏi. Vì theo luật vô thường, tất cả các pháp hữu vi đều phải bị hoại diệt theo thời gian, trong đó có con người, nên có sanh là có già, già phải chết.

 

 

 

MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN CÓ ĐẦU

CÓ ĐUÔI KHÔNG?

 

Nhìn qua 12 nhân duyên đã được trình bày trên cơ sở định danh và định nghĩa, ta thấy vô minh đứng đầu, ta sẽ cho răng 12 nhân duyên có điểm đầu, điểm cuối. Mười hai nhân duyên không có đầu, đuôi, nó chỉ là một vòng tròn sinh tử luân hồi tiếp nối nhau xoay chuyển từ quá khứ đến hiện tại và vị lai, cứ như thế mà xoay vòng không khởi điểm. Sở dĩ vô minh đứng đầu của 12 nhân duyên, chỉ là theo số thứ tự. Tất cả 12 chi nhân duyên, chi nào cũng có tính chất làm nhân, làm duyên với nhau để tạo nên một sinh mệnh con người. Làm duyên được cắt nghĩa là theo quy luật Hoa Nghiêm: “Cái này có, cái kia có – Cái này sinh, cái kia sinh”. Nói theo luật nhân quả: “Có Nhân là có Quả – Có Hình là có Bóng”.

Cho nên: Do có Vô minh mà có Hành. Do Hành có Thức. Do Thức có Danh Sắc. Do Danh Sắc có Lục nhập. Do Lục nhập có Xúc. Do Xúc có Thọ. Do Thọ có Ái. Do Ái có Thủ. Do Thủ có Hữu. Do Hữu có Sinh. Do Sinh có Lão Tử. Đó là quán theo chiều thuận để thấy rõ cái vòng sinh tử luân hồi của loài hữu tình chúng sinh nói chung, con người nói riêng.

Khi tu tập Phật pháp cho mục đích tìm cầu con đường giải thoát, ta phải quán ngược lại để thấy 12 nhân duyên là giả hợp không thật đúng theo khế lý Bát Nhã: “... kiến ngũ uẩn giai không... vô minh diệt... lão tử diệt...”

Cho nên: Do Sanh diệt nên Lão Tử diệt. Do Hữu diệt nên Sanh diệt. Do Thủ diệt nên Hữu diệt. Do Ái diệt nên Thủ diệt. Do Thọ diệt nên Ái diệt. Do Xúc diệt nên Thọ diệt. Do Lục nhập diệt nên Xúc diệt. Do Danh Sắc diệt nên Lục nhập diệt. Do Thức diệt nên Danh Sắc diệt. Do Hành diệt nên Thức diệt. Do Vô minh diệt nên Hành diệt.

      Thái tử Tất Đạt Đa đã trở thành một bậc Đại Giác Ngộ do ngài quán 12 nhân duyên trên hai chiều thuận nghịch đó trong vô lượng kiếp tại thế giới Ta bà này trên bước đường tự tu tập, chứ không phải chỉ trong sáu năm tu khổ hạnh dưới cội cây Pipalla mà được.

Qua hai chiều quán thuận nghịch, ta thấy 12 nhân duyên là một triết lý cấu trúc bản thân con người rất ư là chằng chịt, nên Đức Phật đã nói: “Pháp này do Ta chứng được, nó thật là sâu kín, khó thấy, siêu lý luận, vi diệu, tịch tịnh, cao thượng. Chỉ có người trí mới hiểu thấu được định lý y tánh duyên khởi pháp này”.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÍNH CHẤT MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN

NHƯ THẾ NÀO?

 

Qua 12 nhân duyên trên cơ sở định nghĩa từng chi một, ta thấy mỗi chi có tính chất riêng biệt. Nhưng cái riêng biệt đó lại là cái chung trong chức năng tiếp sức làm duyên cho các duyên khác, do vậy vô minh chẳng hạn, không những chỉ làm duyên cho Hành để Hành phát sinh và lưu chuyển, mà nó còn có mặt trong Hành và trong tất cả các chi khác. Cho nên trong vòng 12 nhân duyên sinh tử luân hồi, không có chi nào là chi bắt đầu hay cuối cùng, tức không có độc lập, đều tương quan trong sinh, diệt, như một vòng mắc xích khi các khâu đều gắn liền nhau không ngừng nghỉ suốt trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Cứ như thế mà lưu chuyển gọi là Tam Thế Lưỡng Trùng Nhân Quả. Vì vậy mà không những bản thân con người có sinh diệt trong các đời quá khứ, hiện tại, vị lai, mà 12 nhân duyên cũng có đủ quá khứ, hiện tại, vị lai. Cho nên:

a. Vô Minh và Hành là NHÂN quá Khứ.

b. Thức, Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ là Quả hiện tại.

c. Ái, Thủ, Hữu là NHÂN hiện tại.

d. Sinh, Lão, Tử là Quả vị lai.

Trên bước đường tu tập để tìm cầu con đường giải thoát sinh tử, khổ đau, hành giả tu bất cứ pháp môn nào, Tịnh Độ, Thiền Định, Mật Tông... đều phải công phu ngăn chận cái Nhân phát sinh ra nghiệp quả xấu ác ngay trong hiện tại để không chịu quả báo sinh tử vào lục đạo ở vị lai.

 

 

 

 

 

 

 

BA THỨ NÀO CẦN PHẢI NGĂN CHẬN

TRÊN BƯỚC ĐƯỜNG TU TẬP?

 

Trong 12 nhân duyên, cái Nhân phải kịp thời ngăn chận đó là gì? Đó là ba thứ Vô minh, Ái, Thủ, chính là Nhân tố khởi dậy cái Tâm chuyển động (Hành) đi vào tham dục, sân nhuế, si mê, kiến chấp... mà tạo tác ra các nghiệp bất thiện ở thân miệng (Hữu) để rồi có sinh tử ở vị lai đời sau. Để rõ ba thứ Vô minh, Ái, Thủ chính là Nhân phát sinh ra nghiệp quả, hãy nhìn lại bốn cấp a, b, c, d, ở trang trước, ta thấy Vô minh là nhân quá khứ ở phần a. Còn Ái, Thủ là nhân hiện tại ở phần c. Để rõ thêm Vô minh, Ái, Thủ là nhân sinh ra những thứ: vô kiến, hữu kiến, thường kiến, đoạn kiến; ba độc tham, sân, si; năm cái thấy sai lạc: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ; ngũ dục: tài, sắc, danh, thực, thụy; bốn phiền não: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái.

Những thứ trên được gọi là Hoặc, tên gọi chung về phiền não, gọi cho đủ là Lậu Hoặc. Thì ba thứ Vô minh, Ái, Thủ thuộc về Lậu Hoặc. Mười hai nhân duyên được tóm thâu thành ba bậc sau đây:

1.Lậu Hoặc: Vô minh, Ái, Thủ.

2.Nghiệp: Hành, Hữu.

3.Khổ: Thức, Danh Sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Sanh, Lão tử.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VỊ TRÍ THƯỜNG TRÚ CỦA BA THỨ LẬU HOẶC

Ở ĐÂU?

 

Ba thứ Lậu Hoặc, Nghiệp, Khổ đều có đủ trong bản thân sinh mệnh con người. Nói khác hơn, 12 nhân duyên có đủ trong tâm niệm con người, chúng chồng chất lên nhau, chằng chịt quấn quít nhau, không cái nào đầu, không cái nào cuối, nối tiếp sanh tử qua lại trong ba đời, lên xuống trong 6 cõi từ kiếp này qua kiếp khác. Sanh tử trong từng sát na lúc thân còn sống.

Với hành giả tu tập Phật pháp ở bất cứ pháp môn nào, ai cũng phải quyết tâm tận diệt các Lậu Hoặc như đã kê khai ở trên, tức là diệt Vô minh, Ái, Thủ. Cần diệt ba thứ này thôi, thì các thứ khác không thể phát sinh được. Diệt tâm Ái, Thủ thì Vô minh bị chìm lặn. Cho nên dù Vô minh còn, chỉ là tiềm năng không thôi, mà không còn tâm Ái, Thủ, thì hành giả đang tu tập được tiến tới bờ giác ngộ giải thoát sinh tử, không có đời sau, dù tâm giác ngộ đó chưa phải là đại giác như Phật, nhưng cũng đủ năng lực để tiến lên quả vị Vô Thượng  Chánh Đẳng Chánh Giác trong vị lai.

 

Phải nói rằng, đạo lý 12 Nhân Duyên là bài Tuyên Ngôn đầu tiên của Đức Phật gởi đến cho toàn thể nhân loại sau khi Ngài đạt quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác dưới cội Bồ Đề, bởi vì Đức Phật đã thấy được nguyên nhân tạo thành sinh mệnh hữu tình chúng sinh, và đưa đẩy chúng sinh bị sinh tử luân hồi khổ đau, là do 12 nhân duyên kết cấu với nhau. Và được giải thoát sinh tử luân hồi cũng do 12 nhân duyên bị tận diệt, do ta nhận thức thấy tầm nguy hại của chúng mà ra công quán niệm ngược chiều trên bước đường tu tập. Do vậy Đức Phật cần tuyên thuyết lại cho chư vị Tỳ Kheo tại Xá Vệ và cho chúng sanh ở đời vị lai để theo đó mà thấy nguyên nhân sinh tử luân hồi là do vô minh, và muốn giải thoát sinh tử thì phải tận diệt vô minh.

 

 

CHỮ ĐẠO

 

Chữ Đạo là tiếng Trung Quốc, dịch ra tiếng Việt là Con đường.

Con đường có hai loại: có hình tướng và không hình tướng.

1.- Con đường có hình tướng, như là loại đường trên mặt đất (đường làng, đường cái quan, đường mòn …) để cho xe chạy, người đi và đường dưới mặt đất (địa đạo) như đường xe lửa ngầm, đường hầm, v.v…

2.- Con đường không có hình tướng (đạo vô vi). Con đường vô vi thuộc về tâm (tâm đạo). Con đường thuộc về tâm có nhiều ngả đi lên và đi xuống. Đường đi lên là con đường sáng. Đường sáng ở đây là tâm trong sáng, được biểu thị ở ba cấp CHÂN, THIỆN, MỸ.

Con đường CHÂN là đường về cõi Phật (Phật đạo) tức là tâm đã được trí tuệ giác ngộ. Cho nên chữ Đạo trong Đạo Phật là bản thể, chân như.

Con đường THIỆN là đường về các cõi Trời (Thiên đạo) do tâm tu tập các pháp từ thiện (thiện nghiệp), nhưng còn phiền não.

Con đường MỸ là đường về cõi Người (Nhân đạo) do tâm tu tập Phật pháp và hành trì năm giới, nhưng còn nhiều thứ ngã.

Riêng về nhân đạo, có nhiều đường, như nói Đạo vua tôi, Đạo quân sư, Đạo vợ chồng, v.v… Cho nên Đạo còn có nghĩa là bổn phận.

Những con đường đi lên thuộc về tâm, mà tâm con người không thực hành được, ắt sẽ bị đi xuống những con đường ác, như đường vào loài Atula Đạo, Địa Ngục Đạo, Ngạ Quỷ Đạo, Súc Sanh Đạo.

Những con đường thuộc về tâm, ta không thể rờ mó được, không thấy, thật trống rỗng, không có ngôn từ để diễn tả, nói như Lão tử “Đạo mà nói ra được, không còn phải là đạo”.

Đạo không nói ra được, nhưng ta có thể thấy Đạo qua thái độ và lời lẽ đối đãi, đối xử, cư xử của con người với con người, con người với loài vật bằng lời nói và hành động từ bi hỷ xả, ái ngữ, thân thương, làm cho con người, loài vật được lợi ích an lạc, hạnh phúc, thì đó là thiện đạo. Từ đây ta có thể nói đạo là từ bi, đạo hỷ xả, đạo ái ngữ, lễ độ, khiêm cung, trang nghiêm, thanh tịnh…

Tất cả thiện đạo nói trên được xuất phát từ tâm thiện. Tâm thiện là tâm có trật tự. Trật tự là thiện đạo, thiện đạo là trật tự. Trật tự là lý tính tuyệt đối ở mặt thực thể hữu hình, và vô hình.

Hữu hình khi các duyên kết tụ lại một cách có trật tự không chống trái nhau, tạo nên một vật thể hiện hữu trong vũ trụ. Trong vũ trụ này có vô số lượng vật thể lớn nhỏ, li ti như vậy do cái đạo có trật tự. Chẳng hạn có mưa từ không trung rơi xuống đất là do có bầu trời có không khí (vô hình). Không khí chuyển động làm cho hơi nước kết tụ nhau thành mây dày đặc một cách có trật tự, bị sức nóng của mặt trời từ trên cao chiếu xuống làm cho hơi nước tan ra thành nước rồi rơi xuống đất.

Đạo vô hình trong không gian tâm linh con người, một khi tâm ý con người tư duy, suy nghĩ, đạo liền hiện hữu ra thân, miệng có âm thanh ngọt ngào, nhã nhặn ái ngữ và hành động trang nghiêm, bao dung, tha thứ… do tâm ý tư duy ở chiều hướng trật tự thiện đạo. Cho nên ăn, ngủ, đi đứng, nằm ngồi, làm việc, nói năng đúng cách có trật tự là thiện đạo. Ngược lại, không đúng cách, vô trật tự là ác đạo do tâm không làm chủ nên bản thân bị mất trật tự. Như kẻ khùng là do tâm mất trật tự.

Cũng như vậy, vô số vật thể trên vũ trụ này bị tan rã, hư hoại là lúc các duyên trong bản thể của chúng bị mất trật tự.

Đạo vô hình có trong tâm linh con người, gọi là pháp vô tướng và có trong vũ trụ như gió, như không khí, ánh sáng, âm thanh, v.v… Tất cả đều theo quy luật của cái đạo có trật tự mà có cái vô tướng. Từ đây cho ta thấy rằng cái gì hữu tướng và vô tướng theo quy luật trật tự đều là thiện đạo. Hay nói khác hơn, là cái đạo vô tư, nên nó không tranh giành quyền lợi với cái khác, không tranh đua hơn thiệt, nó im lặng muôn đời như hư không bao la, quả đất vĩ đại, mặt trời, trăng sao, gió thoảng, mây bay… Hay âm thầm rục rả hoại diệt trong cô đơn như sỏi đá, núi non, cây cỏ, hoa trái, nhà cửa, xe cộ, vân vân… theo luật vô thường do vì vô ngã.

Với con người, nói như Khổng Tử: “Nhân chi sơ, tánh bản thiện”. Bản thiện của con người được có cả hai. Đó là bản thiện của thân năm uẩn được có theo quy luật trật tự từ lúc nhập thai kiết sử sinh ấm cho đến cấu tạo bản thân. Và bản thiện vốn có của kiếp trước do giữ năm giới có trật tự. Cho nên với những bậc thượng thiện nhân, thánh nhân sau khi chào đời, họ lớn lên giữa cõi đời đầy ô trược, họ vẫn sống bằng cái thiện đạo, tức là cái tâm trống rỗng thanh tịnh, nên chi không ganh đua thiệt hơn, không tranh giành quyền lợi vật chất, tâm luôn hỷ xả bao dung như bầu trời, không khí, như nước cho nên thường đi vào hạ tằng giai cấp thế gian như nước kia thường chảy vào chỗ trũng, chỗ thấp, sâu thẩm vào lòng đất.

Với con người không phải thượng thiện nhân, chân nhân, thánh nhân, tức là kẻ phàm phu hạ cấp, trung cấp, mặc dù thân năm uẩn và thiện đạo nghiệp của họ có theo quy luật trật tự nên có thân; nhưng thiện đạo thấp kém, do vậy tâm của họ dần dần bị mất đạo trật tự, bị thay vào đó cái đạo vô trật tự giữa trường đời đầy dẫy vô số đạo không trật tự. Vì thế họ bị miệng đời mắng chửi là cái thứ “vô đạo”. Vô đạo ở đây được cắt nghĩa là không có thiện đạo, chứ không phải là không có đạo, tức là có đạo, đạo đó là ác đạo (thân tâm sống không theo đạo lý lẽ phải, ngoài pháp luật thế gian, không giới luật lục hòa của Phật).

Các loài súc sanh cũng có bản thân năm uẩn có trật tự theo quy luật kiết sử sinh ấm vào thai sanh, noãn sanh, hóa sanh và thấp sanh; nhưng tâm thức của chúng không có thiện đạo, chỉ có ác đạo. Vì thế chúng không có đời sống thiện đạo có trật tự, rất là vô trật tự từ miếng ăn, chỗ ở, làm tình qua các thứ đạo cắn xé, rượt đuổi, báng lộn, húc đá nhau để tranh giành miếng ăn, chốn ở, làm tình…

Con người có bản thân năm uẩn trật tự, nhưng cái tâm nếu không có đạo trật tự chân tâm thanh tịnh, thì nhất định phải có đạo tâm vô trật tự. Như thế, chẳng khác nào như các loài súc sanh. Điều đó không lấy gì thắc mắc, bực tức khi nghe người này gán người kia là loài súc sanh, là vô đạo, bất nhân, là đồ ngũ quỷ…

Nếu toàn cả nhân loại ai cũng đều là thánh thiện, thánh nhân cả; thì Đức Phật đâu có thuyết bài pháp về 3 đường ác! Và đâu có khuyên người Phật tử phải tích cực tu tập Phật pháp để phá trừ 3 ác đạo (tham, sân, si) trong tâm để thành thiện đạo làm gì! Bởi vì loài người có nhiều ác đạo trong tâm hơn là thiện đạo. Ác đạo là cái nhân sanh ra cái quả sinh tử luân hồi ra vô trong 6 đường khổ đau. Ác đạo là động cơ sanh ra nhiều thứ khổ nạn, khổ ách cho cá nhân, cho nhân quần xã hội trong kiếp sống hiện tại như các thứ chiến tranh, và nhiều cách khủng bố gây chết chóc, thương tật cho nhân loại.

Vì thế cho nên Đức Phật thị hiện ra nơi đời để chỉ và hướng dẫn cho loài người cách tu tập giáo pháp phá trừ tam ác đạo (tham, sân, si) thành thiện đạo là con đường hòa bình, hạnh phúc, an vui trong thực tại và được giải thoát sinh tử ở kiếp sống mai sau.

Đạo Phật đã có mặt giữa trường đời nhân loại kể từ khi thái tử Tất Đạt Đa ra đời tại vườn Lâm Tỳ Ni dưới cây Vô Ưu, lớn lên xuất gia, tu hành khổ hạnh suốt 6 năm, được chứng đạo giác ngộ thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni dưới cội cây Bồ Đề, rồi nói đạo giải thoát độ chúng sinh suốt 45 năm đó đây và nhập Niết Bàn, cho đến nay đã hơn 25 thế kỷ. Được hơn một phần tư nhân loại trên thế giới quay về tiếp nhận và tu tập nền đạo lý giải thoát. Từ đó mỗi quốc gia có đạo Phật hiện hữu đã thành lập những tông phái, đoàn thể Phật giáo Tăng già và Cư sĩ Phật tử tại gia có sắc thái sinh hoạt tu tập khác nhau do căn cơ, trình độ  và văn hóa mỗi quốc gia mà có. Nhưng tất cả chỉ là phương tiện để đạt cứu cánh là đạo giải thoát sinh tử khổ đau sau khi phá trừ tận gốc rễ 3 ác đạo (tham, sân, si) bằng Phật pháp là đạo lý chung của toàn thể nhân loại.

Với con người vốn có thiện căn, thiện đạo từ thấp hay cao, sau khi quay về Đạo Phật liền quyết tâm, tích cực học và thực tập lời Phật dạy, cho nên tâm luôn tỉnh thức trong mọi môi trường, hoàn cảnh thuận duyên, nghịch duyên, an vui hay khó khăn… Tâm ý đều sống có trật tự, nên luôn tạo tịnh độ cho mọi người dù ở ngôi vị điều hành Phật sự hay không có ngôi vị. Đó là hàng Phật tử chính tông. Ngược lại không phải Phật tử chính tông, nên tạo ra bất an cho mọi người.

Qua lý nghĩa vô đạo, Phật tử chính tông, không chính tông, những sắc thái sinh hoạt không chánh đạo ở một số Phật tử không chính tông ở hải ngoại rất phổ biến, cho quý vị được hiểu rõ thêm về chữ ĐẠO.

Chỉ trong phạm vi cá nhân Phật tử không thôi mà có đến trăm thứ đạo trong đó gọi là bá đạo; nào là đạo tham, đạo sân, đạo si, đạo thư rơi, đạo bịa đặt, đạo tranh cãi, đạo vua chúa, đạo tự đắc, đạo nịnh hót, đạo lobby, đạo bè phái… Huống hồ tại các chợ đời, đoàn thể hội tề thế gian có đến hằng ngàn thứ đạo và có hằng triệu thứ đạo trong một đất nước rộng lớn. Nước nào không có dân chủ thì có nhiều ác đạo, ít thiện đạo. Nước nào có dân chủ được có nhiều thiện đạo, ít đạo ác. Cho nên lý thuyết dân chủ là thứ thiện đạo cho toàn dân. Lý thuyết chủ nghĩa thực dân không dân chủ là thứ ác đạo. Cho nên mọi thứ lý lẽ phải, trái, chơn, tục đều là đạo. Mọi thứ lý lẽ ấy được thấy trong sách vở và lời nói. Qua lời nói, người ta nhận ra ngay lời nói ấy chánh đạo, tà đạo, thiện hay ác. Cho nên lời nói là đạo, gọi là ngôn đạo. Nhờ đó mà người ta thấy được tâm tư con người có loại đạo nào: đạo hiền lành, đạo thật thà, đạo gian ác, đạo mánh khoé, đạo dốt, đạo ngã mạn, đạo nói phét, vân vân…

Nói rõ hơn, lý làm sáng tỏ đạo. Người ta thấy được các thứ đạo: Phật đạo, Bồ Tát, Thiên đạo. Nhân đạo, Atula, Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh đạo là nhờ nghe qua lý. Như thế lý có trong đạo, đạo có trong lý. Như lý Phật pháp làm sáng tỏ Phật đạo, lý của Thiên làm sáng tỏ Thiên đạo, lý của Nhân làm sáng tỏ Nhân đạo, lý của Atula làm sáng tỏ Atula đạo, lý của địa ngục là sáng tỏ địa ngục đạo, lý của ngạ quỷ làm sáng tỏ ngạ quỷ đạo, lý của súc sanh làm sáng tỏ súc sanh đạo.

Tất cả những thứ đạo nói trên là vô tướng, vô hình, nhưng cũng có lúc có tướng có hình. Vô tướng khi tâm chưa tác động với cảnh trần, hữu tướng khi tâm được tác động với cảnh trần, cho nên một lời nói nhã hay bất nhã là đạo. Thái độ khiêm cung hay thô bạo là đạo. Đôi mắt liếc ngang là đạo. Lời nói hồ đồ là đạo, vân vân… Qua đó cho ta thấy rằng, đạo có trước vũ trụ, con người. Đạo là mẹ đẻ ra tất cả đất, trời, vạn hữu nhân sinh, chúng sinh hữu tình, vô tình. Đạo ẩn danh, hữu tướng vô tướng, có rồi không, không rồi có. Có muôn đời và không cũng muôn đời. Đạo không tên, không ai có thể đặt tên cho đạo là tên gì. Sở dĩ con người gọi vật thể đó là nước, là mây, là gió, v.v… cũng chỉ là cái tên, gượng ép, không thật.

Ôi! Đạo thật vô cùng tận, nói mãi cũng chưa hết đạo, viết hoài cũng vẫn chưa hết đạo, nói như Lão tử “Đạo mà nói ra được không phải là đạo”.

 

Là Phật tử chính tông, ta không cần biết nhiều thứ đạo. Chỉ cần biết Phật Đạo là chính và phải biết thêm lục đạo luân hồi sinh tử. Phải biết, không thể không biết! Vì đó là những đạo cơ bản cần phải biết, mà tránh, xa lìa...

Biết Phật Đạo là con đường giải thoát sinh tử luân hồi. Biết Phật Đạo là biết nhân quả báo ứng, trong đó thân trung ấm bị đọa vào địa ngục Atỳ là do cái nhân quấy động phá hòa hiệp Tăng (đoàn thể Cư sĩ và Tăng già). Thân trung ấm bị thát sinh vào ngạ quỷ là do cái nhân tham lam của thường trụ Tam Bảo. Thân trung ấm bị lơ lửng không biết đâu là ánh sáng chư Phật, súc sanh, ngạ quỷ… là do cái nhân tâm hữu ngã tự đắc, nghĩ ngợi mưu chước, tính toán cái lợi về cho mình ở chốn thiền môn. Thân trung ấm không nghe lời kinh tiếng kệ của Tăng già là do cái nhân không nghe, không biết đến nỗi khổ tâm của mọi người về sự tranh cãi giành giựt chức vị trưởng thượng của mình bằng tạo dựng phe nhóm làm mất hòa khí, chia cách, không tịnh độ tại chốn thiền môn.

Biết Phật Đạo là phải biết những quả báo ở 3 đường ác do cái nhân tạo tác ra hành động tham lam, quậy phá, tranh cãi, mưu mô kế hoạch để thắng ngôi vị trưởng thượng, v.v… Biết được Phật Đạo là phải học và tu tập lý của Phật Đạo để cho cái tâm được trống rỗng, vô ngã thanh tịnh.

Chứ không phải biết Phật Đạo là phải tranh cãi, tạo phe nhóm với nhau, gây chia rẻ ở chốn thiền môn để giành cho bằng được chức vị trưởng, phó trong các hội Phật giáo.

Biết Phật Đạo là phải biết học Phật và tu tập lý đạo Phật để cho tâm ta được trống rỗng thanh tịnh. Trong đó có những cách buông xả hết tất cả, hòa hợp nhân ái, bao dung, không tự đắc dòng họ vua chúa, khoa bảng, giàu có, không màng chức vị, v.v…

Chứ không phải biết Phật đạo là phải lăng xăng Phật sự, nghi lễ cúng tế đa đoan để rồi đến sớm về muộn rộn ràng ở bước đi khập khểnh, lời nói như hải triều, tự mãn qua thái độ hành xử thiếu văn hóa là vì vai trò của ta là trưởng, ta là người chí thân của các sư, ta là kẻ có công lao tạo dựng ngôi chùa, vân vân…

Phải biết rằng tất cả việc làm nói trên ở chốn thiền môn đều là những cách tu tập Phật pháp để đạt đạo Thiên, đạo Nhân, đạo Bồ Tát, đạo Thanh Vân, đạo Duyên Giác và đạo Phật. Với hàng Phật tử chính tông thì thấy biết được điều ấy nên phát nguyện làm Phật sự với trạng thái thanh tịnh, tỉnh thức. Đó là thiện đạo do biết sử dụng Phật đạo trong tâm ý.

Với hạng người không phải Phật tử chính tông, những việc làm của họ tại ngôi chùa là môi trường cầu danh, trình diễn y phục thời trang, sự giàu có, trưng bày vật báu ở bản thân, show off chức vị của thế gian, dòng họ vua chúa, sự nghiệp giàu có thực tại, v.v… Đó là những thứ đạo bất thiện, do Phật đạo trong tâm bị chìm lặn bởi những ý niệm về nhân ngã, ngã sở vật chất, sở tri chướng ngã… Thường gọi là đạo nhân ngã, đạo ngã sở, đạo sở tri chướng, đạo khoe khoang, đạo tự đắc, đạo bỏn sẻn, đạo bỉ thử, đạo nói thầm, đạo dửng dưng, đạo liếc trộm, đạo nói sau lưng, vân vân…

Ôi! Đạo thật vô cùng tận!

Nói mãi, nói dai, nói nhiều không hết đạo, không thấy đạo, nhưng sau khi tâm khởi lên ý niệm về ngã, liền tự tạo ra đạo nói láo, nói thêm, nói show off…

Càng đọc nhiều kinh điển Phật, thánh hiền và văn nhân, thi hữu thế gian càng mù mờ nghĩa đạo, nhưng cũng càng thấy vô số đạo trong đó. Càng đi trên mọi nẻo đường nhân loại, ta càng thấy vô số thứ đạo hữu hình, đạo vô hình ẩn, hiện khắp đó đây. Càng giáp mặt với cuộc đời ngoài xã hội, trong các chốn thiền môn công, thiền môn tư, chùa hội, chùa thầy… ta càng thấy được đạo trong muôn mặt: nào là đạo từ bi, đạo bác ái, đạo tranh cãi, đạo thương, đạo ghét, đạo tiền, đạo độc tôn, độc diễn giành giựt ngôi vị chỉ huy, vân vân và vân vân. Làm sao nói nết chữ Đạo người ơi!

 

 

 

 

PHẬT PHÁP ĐƯỢC CỬU TRỤ VÀO THẾ GIAN

BẰNG CÁCH NÀO?

 

 

Vận chuyển Phật pháp vào dòng đời thế gian là bổn phận và nghĩa vụ của người con Phật có quy y Tam Bảo và thọ giới ở ngôi vị xuất gia, tại gia cư sĩ, không ai khác hơn. Bởi vì cả hai giới xuất gia và tại gia đều làm theo lời Phật dạy, là phải duy trì và phát triển Tam tạng kinh-luật-luận của Phật để lại luôn trường tồn, cửu trụ trong thế gian. Để làm gì vậy? Làm cho con người luôn được có đời sống an lạc trong ánh hào quang của Phật trong thực tại và được giải thoát sanh tử ở mai sau do có tu tập Phật pháp. Con người trong mọi giai cấp xã hội được có Phật pháp tu tập, là do được tiếp nhận giáo pháp Phật trong các hoàn cảnh, môi trường khác nhau khi ở đó có kinh sách Phật hiện hữu. Kinh sách Phật được hiện hữu khắp thế gian như vậy, là do chư Tăng Ni, Phật tử và chưa phải Phật tử có Bồ Đề tâm phát triển thực hiện bằng nhiều cách. Chẳng hạn những học giả người Anh, Pháp, Đức… sau khi học Phật tại trường Đại học Nalanda, về lại Âu châu, họ viết giảng luận Phật học, rồi đem phổ biến vào mọi nơi xã hội, trong đó có đặt để ở các thư viện; nhờ đó mà dân tộc Âu châu bắt đầu quay về Đạo Phật giữa thời kỳ chưa có bóng dáng Tăng sĩ, chùa chiền. Phật pháp được cửu trụ thế gian là như thế đó.

Hàng Phật tử xuất gia, tại gia nói chung, ai cũng ở trong nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, đó là một quy luật trên vận hành tu tập. Trong những cách tu tập ấy, có cách tu tập bố thí pháp ba la mật, là pháp tối thượng hơn hết, đúng như lời Phật dạy: “Trong tất cả các cách cúng dường, pháp cúng dường (kinh sách Phật pháp) là pháp tối thắng”.

Hai giới Tang, Ni và Phật tử ai cũng tu tập Phật pháp theo 3 quy luật trên dù thiền định, mật tông, Tịnh độ hay bất cứ pháp môn nào khác, mà không quan tâm vận chuyển chánh pháp Phật cửu trụ thế gian, thì quan tâm vận chuyển cái gì?

Thật sự mà nói, đa số Phật tử tại gia nói riêng, dù đã quy y Tam Bảo, thọ giới (5 giới, 10 giới) không quan tâm vận chuyển Phật pháp cửu trụ vào đời, mà chỉ quan tâm vận chuyển các thứ vật chất đa dạng, nhiều hình thức với chủ tâm là tạo dựng phước đức, nếu không nói là những bộ hành cô đơn do không có trí tuệ, chỉ có từ bi hữu ngã là con ghẻ của trí tuệ, nên đặt niềm hy vọng sẽ được về cõi Phật sau khi chết qua các nghi lễ cầu siêu.

Vận chuyển vật chất vào ngôi chùa có Phật tượng và Tăng, Ni thực tại (Hiện tiền nhị bảo hữu vi), chỉ là pháp tu phụ, nó thuộc về phước đức, là những chất liệu xúc tác làm cho tâm thức người Phật tử luôn luôn được tăng thêm sức mạnh vô ngã, nên mới gọi những việc xây chùa, mua cơ sở thế gian làm chùa, thỉnh tượng, tạo chuông, bố thí vật chất cho Tăng, Ni nói riêng là pháp “cung dưỡng”, đọc trại là “cúng dường”. Những cách cúng dường đó phải được thực hành bên cạnh việc vận chuyển ba tạng kinh-luật-luận vào thế gian được cửu trụ muôn đời. Ngay cả hành động vận chuyển Phật pháp cửu trụ vào thế gian, cũng chỉ là tạo năng lực làm mạnh tâm thức lên ngôi vị vô ngã mà thôi, chứ chưa phải đắc đạo. Đó là cách phụng sự Đạo pháp đúng nghĩa đích thực đối với người Phật tử thuần thành trên vận hành giác tha do tâm đã tự giác theo định luật nhân quả. Cho nên nói đến Đạo pháp được trường tồn cửu trụ thế gian, là do Tăng Ni và Phật tử có tâm giác ngộ đạo lý vô ngã thực hiện. Nói đến đây, ta nhớ lại Phật giáo Trung Quốc ở cuối đời nhà Châu bị chính quyền phong kiến đương thời đàn áp tiêu diệt bằng cách bắt ép Tăng Ni hoàn tục, đập phá chùa chiền, đốt kinh sách… Trước tình cảnh pháp nạn đó, những người Phật tử tại gia khắp cả nước vốn có Bồ Đề tâm phát triển liền vào các chùa, đem những kinh luật luận chôn giấu thật kỹ. Nhờ vậy, kinh tạng được hiện hữu sau khi Phật giáo Trung Quốc phục hoạt trở lại. Bởi vì hành động phụng sự Đạo pháp của họ, là phụng sự cùng lúc cả ba ngôi hiện tiền Tam Bảo: Phật bảo (tượng), Pháp bảo (các thứ kinh, luật và giảng luận Phật pháp) và Tăng bảo (Tăng Ni hiện hữu). Từ đó hai chữ Đạo pháp, phải được hiểu là vận hành hóa độ chúng sinh của Đạo Phật có rất nhiều công việc mang hình thái khác nhau, nhưng chung quy vào đủ ở ba ngôi Tam Bảo, không thể thiếu một, không thể phụng sự hai ngôi. Nếu một cá nhân hay nhiều cá nhân trong tập thể Phật giáo, mà hành động phụng sự Đạo pháp chỉ ở hai ngôi (chùa tượng và Tăng), hay một ngôi (Tăng), thì nhất định cá nhân ấy, tập thể đó tự lui dần ra khỏi ngôi nhà Phật Đạo trong tâm. Vì vậy mà có vài tập thể Phật giáo liền bị biến động gây bất an cho mọi người, do phụng sự nhị bảo, để xây dựng ngôi vị chức tước của mình. Không hay biết gì đến cuốn kinh, bất biết đến Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam đi về đâu, đã được hoàn toàn bằng Việt ngữ hay chưa!

Chỉ có những Tăng Ni và Phật tử tại gia vốn có Bồ Đề tâm, là năng lực khởi tâm mong muốn mọi người và mình được giác ngộ đạo lý vô ngã giải thoát thành Phật, siêu thoát về Cực Lạc, thì mới quan tâm đến Phật pháp cửu trụ thế gian. Rõ thực họ là những bộ hành không cô đơn do được có cả 2 đức tính từ bi và trí tuệ Phật; nên chi trên vận hành tu tập của họ, họ đã và đang tri hành cùng lúc những việc cúng dường tài vật trong tiến trình xây dựng chùa chiền, tu viện, thỉnh tượng Phật, các pháp khí và cúng dường Tăng Ni, cũng như các việc từ thiện khác. Bên cạnh đó họ (Tăng, Ni và Phật tử có đạo đức, văn hóa Phật giáo và dân tộc) tri hành công việc chính yếu, đó là pháp bảo. Vì vậy, họ đã và đang cặm cụi dịch thuật kinh luật luận bằng ngoại ngữ như Pali, Sankrit, Hán tự, Anh, Pháp, Đức, Nhật ra chữ Việt, biên khảo Phật học, giảng luận Phật pháp, sáng tác văn thơ Phật giáo, thành lập tập san (Chân Nguyên, Phật Việt, Trúc Lâm, Phật Giáo Việt Nam, Viên Giác, Hoa Sen, Cư Sĩ, Phương Trời Cao Rộng, Khánh Anh, Tâm Giác, …), cũng như sang các băng giảng luận Phật pháp bằng CD, DVD, Video, Cassette ra hàng trăm bản mỗi thứ, rồi đem bố thí cho mọi người khắp các nơi.

Tất cả những hình thái chánh pháp Phật nói trên đã và đang có mặt khắp chốn trần gian qua nhiều triều đại, nhiều thế hệ, nay vẫn còn tiếp tục có mặt tại các chùa, thư viện quốc gia, phòng mạch bác sĩ, các tiệm thuốc tây hay các hiệu sách và kể cả gởi tặng cho nhau. Đó chính là giáo pháp Phật được cửu trụ vào thế gian rất là hiện thực rõ nét đúng nghĩa, không có gì khó khăn, triết lý cả, thật dễ làm, dễ thực hiện. Nhưng với người có Bồ Đề tâm, dù ở mọi lứa tuổi thiếu niên, thanh niên hay cao niên, họ thực hiện rất dễ dàng. Chẳng hạn, có những bà, các chị, các nam nữ thanh niên tu Phật thất, họ vừa cùng nhau tu tập tại đạo tràng lớn có Tăng, Ni hướng dẫn tại chùa và đạo tràng nhỏ tư gia theo nhóm, vừa góp công lực tài lực xây dựng ngôi chùa, Phật tượng, lại vừa in sách giảng luận niệm Phật, sang các băng giảng luận Phật pháp, niệm Phật bằng CD, DVD ra hàng trăm bản mỗi thứ, rồi đem tặng biếu tận tay cho đại chúng trong đạo tràng, ngoài đạo tràng và đem đặt để ở các nơi ngoài xã hội.

Còn những người ở mọi lứa tuổi được gọi là Phật tử chưa có Bồ Đề tâm, không dễ gì làm được công việc chuyển vận Phật pháp vào thế gian. Điển hình rõ nét, một ông cao  niên giữ chức phó điều hành hội Phật giáo có đồng ý lấy 2 vé ăn cơm gây quỹ phiên dịch Đại Tạng Kinh, nhưng sau đó ông ta hoàn trả 2 vé lại cho một nam Phật tử trong ban tổ chức và đòi lại tiền 60$ USD. Ông ta là người giàu có hạng tại địa phương. Trong khi đó một vài cụ ông, cụ bà, các chị nghèo, vừa nhận một vé, hai vé, lại vừa cúng dường thêm tịnh tài ngoài số ấn định 30 USD cho công việc gây quỹ Đại Tạng Kinh.

 

Nhờ những vị Tăng Ni và Phật tử trong mọi giai cấp có Bồ Đề tâm phát triển đem chánh pháp Phật cửu trụ vào các nơi tại xã hội con người, nói như lời kinh: “Phật pháp hiện hữu tại thế gian, không có thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai. Ở đâu có hữu tình giác (Bồ Tát), ở đó có Phật pháp hiện hữu”, mà một số khá đông người Âu Mỹ đã trở thành Phật tử tại bản xứ trong các đạo tràng tu tập thiền định do các nhà sư Việt, Nhật, Tàu hướng dẫn và các đạo tràng tu mật tông do các nhà sư Tây Tạng hướng dẫn…, là do cái nhân đọc sách Phật pháp trong các thư viện hay mua tại các tiệm sách ở bước đầu muốn tìm hiểu Đạo Phật. Nhờ đó mà một số đông các ông, các bà người Việt trong nước và hải ngoại vốn có gốc rễ đạo thờ tổ tiên ông bà có đi chùa chỉ lễ Phật, chưa quy y Tam Bảo, thì nay đã trở thành Phật tử đã quy y Tam Bảo, thọ giới và đến chùa tu tập Phật thất, thiền định…, là do cái duyên đọc được sách Phật pháp hay được nghe các băng giảng Phật pháp bằng CD, DVD, Video, v.v… mà thấy được đạo lý vô thường, vô ngã giải thoát trong đó, là động cơ đưa con người phàm phu quay về Đạo Phật tu tập các thiện nghiệp. Từ đó những cơ sở Phật giáo lớn nhỏ có nhãn hiệu khác nhau được tiếp nhận thêm Phật tử mới ở mọi lứa tuổi vào đó lễ bái, cúng dường hay tu tập, nếu không nói là đóng góp những viên gạch thiện tâm để xây dựng ngôi Nhị Bảo vật chất, mà không cần biết những người điều hành giáo vụ tại cơ sở có Bồ Đề tâm hay không có Bồ Đề tâm!

Sau đó có người tự tiến lên công việc phụng sự Đạo Pháp đủ ba ngôi hiện tiền Tam Bảo khắp nơi, không bám trụ một nơi nào. Cũng có người dậm chân tại chỗ phụng sự Nhị Bảo vật chất thật lâu năm.

Ta nên biết rằng, sự quyến rủ của Đạo Phật là trí tuệ, làm sao cho nhân loại quay về Đạo Phật. Vì Đạo Phật lấy trí tuệ làm sự nghiệp (Duy tuệ thị nghiệp) giải thoát sinh tử, mà Pháp bảo là phương tiện đưa chúng sinh qua bên kia bờ giác do chúng sinh tu tập theo lời Phật dạy trong ba tạng kinh điển, cho nên trong Pháp có Phật hiện hữu. Chứ không phải sự quyến rủ của Đạo Phật là ngôi chùa khang trang có cổng đẹp, hoa viên. Nó chỉ là xác chết không hồn giống như những xác chết con người được tô điểm phấn son lên mặt mày, phục sức y phục lộng lẩy sau khi bị lấy hết bộ đồ lòng ra vất bỏ.

Tuy nhiên, Phật giáo cần có ngôi chùa dù nhỏ hay lớn để cho hiện tiền Tam Bảo được hiện hữu trong đó làm phương tiện dắt dẫn con người tu tập Phật pháp mà giác ngộ qua bờ giải thoát sinh tử. Cho nên ngạn ngữ Việt Nam có câu “Chùa đất Phật vàng” là chỗ đó.

Vì muốn cho chánh pháp Phật phải được cửu trụ vào thế gian để hóa độ chúng sinh giải thoát sinh tử bằng Phật pháp, mà Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện làm cô gái xinh đẹp tại Trung Quốc để nhờ các chàng trai đi thu nhặt lại cho đủ các thứ kinh đại thừa sau khi Phật giáo bị nhà Châu tiêu diệt, được phục hưng lại.

Vì muốn cho chánh pháp Phật được cửu trụ vào thế gian, mà ngài Bồ Tát Huyền Trang đã lặn lội trong gian khổ qua Ấn Độ để học Phật và thỉnh kinh.

Là người Phật tử mong muốn giải thoát sinh tử luân hồi bằng tâm Phật, mà không làm được cái việc cửu trụ Phật pháp vào thế gian, thì làm cái gì?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LỜI BẠT

 

Hình bóng và những sắc thái vận chuyển chánh pháp Phật vào dòng đời thế gian vừa được trình bày ở bài “Làm cách nào để Phật pháp được cửu trụ vào thế gian”, là phần việc của chư vị Tăng Ni và Phật tử có Bồ Đề tâm đang phát triển.

 

Sau đây là phần của tác giả thưa gởi đến quý liệt vị Phật tử thân thương gần, xa một vài lời.

Kính thưa quý vị, tác phẩm “Nhiều Điều Người Phật Tử Cần Biết” đang có trong tay quý vị, là cuốn sách chứa đựng trên 40 bài giảng luận Phật pháp phổ thông, mà Đức Hạnh đã viết cho các tập san Trúc Lâm, Chân Nguyên, Cư Sĩ, Hoa Sen, Phật Giáo Việt Nam, v.v… tại Hoa Kỳ gần 15 năm qua, nay gom lại in thành sách ấn tống để cống hiến đến quý vị một vài cách luận giảng mang tư tưởng mới về Phật học.

Vì phương tiện không được dồi dào, nên chi sách không đủ để phổ cập đến cho hàng vạn Phật tử gần, xa thích đọc sách. Vậy tác giả có lòng mong ước, sau khi đọc sách, quý vị thấy những bài Phật pháp nào trong đó cần phổ biến đến cho Phật tử tại địa phương và các nơi xa, quý vị cứ tùy tiện tự do trích ra đăng trên các tuần báo hay tái bản nguyên cuốn, hoặc chỉ nửa cuốn được chọn lựa, như chọn 12 câu chuyện chư Bồ Tát thị hiện, v.v… Đó là cách vận chuyển Phật pháp được cửu trụ vào lòng người và cũng là cách tạo công đức trong việc cầu siêu cho hương linh ông bà, gia quyến quá cố được ân triêm lợi lạc mau siêu thoát ra khỏi các chốn u minh.

Việc ấn tống kinh sách Phật nói trên chỉ có một hình thức là cửu trụ thế gian, nhưng được có hai lợi ích rất lớn, đó là đem trí tuệ Phật đến cho mọi người và làm cho hương linh quyến thuộc siêu thoát, cho nên Phật đã nói: “Trong tất cả các cách cúng dường, Pháp cúng dường là tối thắng hơn hết.” Do vậy, kinh sách Phật được in ra hay được tái bản ấn tống phải được hữu dụng thực tế ở các mặt tụng niệm, khảo cứu, đem ra giảng dạy, tu tập theo cách thức và lý nghĩa trong đó, mà người Phật tử phát tâm in ra, tái bản ấn tống, là sau khi đọc đã thấy được có các mặt hữu dụng nói trên, nên cần phải in ra, tái bản ấn tống để phổ cập đến cho các tầng lớp con người. Chẳng hạn hai nữ Phật tử Quan Ngọc ở Arizona và một ở San Diego (không nêu tên theo yêu cầu). Cả hai chị đã cùng tái bản cuốn sách “Đất Nước Cực Lạc và Người Vãng Sanh” của tác giả. Chị Quan Ngọc ấn tống năm trăm quyển, còn chị Phật tử San Diego thì đem một cuốn “ĐNCLVNVS” về Saigòn. Sau đó chị tái bản ba ngàn quyển cho Phật tử Saigòn và Ban Mê Thuột. Phải nói đó là lần đầu tiên sách Phật pháp của người Cư Sĩ Phật Giáo Việt Nam ở hải ngoại được in và ấn tống ngay trong nước một cách tự do như vậy với số lượng khá cao.

Tất cả tác phẩm Phật học của tác giả, tác giả không giữ bản quyền. Vậy, quý Phật tử xa, gần, nếu muốn tái bản tác phẩm “Nhiều Điều Người Phật Tử Cần Biết” để được cửu trụ vào lòng người những lý nghĩa về Phật Đạo, xin quý vị liên lạc với nhà in hay tác giả qua số phone hay địa chỉ để được hướng dẫn và trao cho bản in cũ còn giữ lại, hay CD để lấy bài ra theo ý muốn của quý vị cho việc tái bản. Nếu quý vị chỉ tái bản 12 câu chuyện Bồ Tát thị hiện, sẽ được tác giả bổ sung thêm một vài câu chuyện Bồ Tát Quán Thế Âm thị hiện thật mầu nhiệm.

 

Tác giả Đức Hạnh trân trọng cẩn bút

 

ĐỨC HẠNH

8655 GRAVES Ave. # 103

Santee, CA 92071

 

(619) 258-8342

 

 

 

 

 

HOÀI NIỆM ÂN ĐỨC

 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

 

Đức Hạnh chân thành kính gởi lời hoài niệm ân đức đến

-Sư Bà Thích Nữ Diệu Từ viện chủ chùa Diệu Quang - Trung Tâm Phật Giáo Diệu Không

-Quý Sư Cô Thiền viện Sùng Nghiêm

-Chư vị pháp hữu huynh đệ đồng môn gần xa

-Quý đạo hữu trong Tổng Hội Cư Sĩ Phật giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ

-Quý vị giáo sư đồng nghiệp và các nữ sinh trung học thuở trước

-Chư vị nam nữ thiện hữu tri thức Phật tử thân thương xa gần

Đã nhiệt tình hộ lực Bồ Đề tâm và cả tịnh tài ba la mật cao quý cho Đức Hạnh trên bước đường Bồ Tát đạo, chuyển vận chánh pháp vô ngã giải thoát của Phật để lại vào dòng đời thế gian, được thành tựu viên mãn các giáo vụ văn hóa nói chung, tác phẩm “NHIỀU ĐIỀU NGƯỜI PHẬT TỬ CẦN BIẾT” nói riêng.

Đức Hạnh hướng Bồ Đề tâm lên chư Phật, Bồ Tát trong 10 phương lời cầu nguyện gia hộ cho tất cả quý vị, thân tâm luôn an lạc, Bồ Đề tâm tăng trưởng, Phật sự luôn được hanh thông cát tường, Phật Đạo mau viên thành.

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát.

 

Trân trọng cẩn bút

ĐỨC HẠNH

 

 

 

 

 

 

TRI ÂN

 

Kính lạy Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni tam bái.

Con kính cẩn dâng lên cúng dường Đức Thế Tôn đóa bạch liên tâm của con, để báo đáp công ân ngài. Bởi vì ngài đã dạy cho con Đạo giải thoát bằng con đường tu tập đạo lý vô ngã thể, vô ngã tưởng qua kinh điển của ngài. Nay con đã thấy dấu đạo vô ngã và đang thực hành theo dấu đạo ấy.

Kính lạy chư vị Bồ Tát quá khứ đang có mặt ở Ta bà và vô số cõi chúng sinh tam bái.

Con kính cẩn dâng lên cúng dường chư vị Bồ Tát quá khứ đóa bạch liên tâm của con, để báo đáp công ân quý ngài. Bởi vì con đã thấy rõ được đạo Từ Bi vô lượng cứu khổ vô biên chúng sinh của quý ngài.

Kính lạy chư vị hiện tiền Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác tại thế giới Ta bà tam bái.

Con kính dâng lên cúng dường chư vị hiện tiền Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác đóa bạch liên tâm của con, để báo đáp công ân quý ngài. Bởi vì con đã thấy được sự hiện thân làm người thế gian của quý ngài bằng nhiều thân tướng thế gian, xuất thế gian, nên đã và đang đem đạo pháp giải thoát của Phật vào xã hội loài người trong mọi giai cấp.

Kính lạy chư vị Tổ Sư nước Tây Trúc, Trung Hoa, Tây Tạng, Việt Nam và tại các quốc gia khác trên thế giới đang có Đạo Phật hiện hữu tam bái.

Con kính cẩn dâng lên cúng dường chư vị Tổ Sư đóa bạch liên tâm của con, để báo đáp công ân quý ngài. Bởi vì con đã thấy được tâm Phật đạo của quý ngài thật bao la như hư không vô tận, sâu rộng như đại dương đối với nhân loại, nên đã một thời quảy gánh hành trang Phật pháp, lê gót túc tôn trên mọi nẻo đường vạn lý đông, tây, nam, bắc đầy bão táp, chông gai, yêu ma… nhưng Phật tâm vẫn chân cứng đá mềm rảo bước, dấn thân không mệt mỏi vì sự nghiệp truyền thừa giáo pháp Như Lai vào đời.

Kính lạy chư tôn giáo phẩm thượng hạ trong các Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiền bối và hôm nay trong và ngoài nước tam bái.

Con kính cẩn dâng lên cúng dường chư tôn giáo phẩm các cấp đóa bạch liên tâm của con, để báo đáp ân đức quý ngài. Bởi vì con đã cảm niệm được tâm Phật đạo của quý ngài thật là đại từ, đại bi, đại trí và đại dũng bất khuất trước súng đạn, gông cùm, xiềng xích của các bạo lực thực dân ngoại nhập, bạo quyền, vong bản nội địa dù cho có hung hãn, ác độc đến đâu. Tâm Phật đạo của quý ngài vẫn an nhiên tỉnh thức bước tới bằng Bồ Tát đạo, từ đối thoại qua đạo đức nhân bản và từ bi của đạo Phật cho đến đạo đấu tranh bằng bất bạo động trong sự nghiệp quyết tâm duy trì, bảo vệ nền đạo đức, văn hóa cổ truyền dân tộc và đạo pháp trường tồn không thể vong bản. Cũng như quyết chí cùng với toàn dân giành lại độc lập chủ quyền dân tộc, thống nhất tổ quốc, nên chi quý ngài đã từng bị vào tù ra khám, tật nguyền bản thân, vong thân đó đây ở làng quê, nơi nhà tù Côn Sơn hải đảo, nhà lao đất liền ở phố thị bởi bàn tay sắt máu của thực dân và bạo quyền vong bản.

Kính lạy chư vị bổn sư, giáo thọ, đốc giáo, giám viện, thủ chúng trong các Phật Học Viện, Tu Viện ở quá khứ, hiện đang còn trên quê hương, hải ngoại và đã viên tịch tam bái.

Con kính cẩn dâng lên cúng dường quý ngài đóa bạch liên tâm của con, để báo đáp ân đức cao rộng trời biển của quý ngài. Bởi vì con đã cảm niệm được cái đạo tâm nhân bản và Phật đạo của quý ngài đối với hàng Tăng sinh hậu lai chúng con thuở trước thật đúng đạo của người bổn sư đối với đệ tử, thầy đối với trò, thủ chúng đối với học tăng bằng nhiều đạo nghĩa; đó là đạo bổn phận giáo huấn, đạo giáo dưỡng, đạo trách nhiệm giáo dục, đạo nghiêm túc, đạo đòn roi, đạo tình thương, đạo chăm sóc đời sống, vân vân…

Kính lạy song thân phụ mẫu tứ bái.

Con kính cẩn dâng lên cúng dường thân phụ và thân mẫu đóa bạch liên tâm của con, để báo đáp công ân sinh thành dưỡng dục của phụ mẫu đối với con. Bởi vì con đã cảm xúc được đạo nghĩa của thân phụ đối với con thật cao hơn núi Thái Sơn, đạo nghĩa của thân mẫu đối với con thật sâu rộng bao la như biển Thái Bình.

Chân thành  kính gởi đến chư pháp hữu Phật Viện Già Lam Hải Đức đồng thời thuở trước, khác thời lớp sau. Sau trước có mất, trước sau đang còn. Còn cà sa, hết cà sa, cả hai đang có mặt trên quê hương và năm châu hải ngoại… lời truy niệm, tri ân lớn và thống thiết nhất của tôi đối với chư huynh đê thân thương. Bởi vì tôi vẫn thấy những kỷ niệm của thuở ban đầu nhập viện học Phật, tu pháp và hành pháp độ sanh theo sở học, sở trường hạnh nguyện đó đây trên quê hương lúc thịnh suy và hải ngoại bận rộn đôi tay đến nay đã trên một phần hai thế kỷ, mà tâm Phật đạo và đạo tâm nhân bản của các huynh đệ còn cà sa, hết cà sa đối với tôi, với nhau toàn huynh đệ trong và ngoài nước không mất, vẫn sắt son thắm thiết bội phần hơn xưa. Nên chi không ai bảo ai, mà người trong, kẻ ngoài cùng gặp nhau một tư tưởng lớn, đó là  niềm ưu tư mong muốn nền văn hóa Phật giáo và dân tộc phải luôn được tiếp tục phát triển nơi đất mẹ. Từ ưu tư đến hiện thực rõ nét qua những công trình dịch đại tạng kinh ngoại ngữ ra Việt ngữ, lập ban bảo trợ phiên dịch pháp tạng, cũng như đã và đang xây dựng lại các cơ sở Phật giáo, trong đó có Đại Học Phật Giáo sẽ được to lớn hơn ngày xưa.

Tôi chân thành kính gởi đến những thiện hữu trí thức Phật giáo tại các chùa có thầy làm chủ tại hải ngoại lời tri ân lớn của tôi. Bởi vì quý vị đã nhiều lần vô tình cho tôi thấy trực tiếp cái “Nhứt tâm Phật đạo” duy nhất của quý vị không còn tâm nào khác hơn, nếu không nói là tâm vô sở trụ, không chấp tướng, không chấp pháp qua lời nói thật ái ngữ, nhã nhặn, nhẹ nhàng, từ tốn trên đôi môi tươi cười, cùng với hành động khiêm cung ở trạng thái đi đứng vững chắc từng bước, nhìn ngó chánh trực, có giới đức trang nghiêm đối với Tăng Ni và tất cả mọi người không phân biệt Phật tử hay không Phật tử trong bất cứ môi trường  tu Bát Quán Trai, Phật Thất, nghe giảng Phật pháp, dự các lễ hội Phật giáo, sinh hoạt thảo luận Phật sự với nhau, hàn huyên bạn đạo, đi chợ, shopping, lái xe, vân vân…

Tôi cũng chân thành gởi đến quý Phật tử tại các chùa hội Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại đã hết chức, đang có chức bám trụ điều hành Phật sự… lời tri ân nồng nhiệt nhất của tôi. Bởi vì qua ngôn ngữ và hành động đối đãi với mọi người của quý vị, đã cho tôi thấy được nơi tâm ý quý vị có nhiều thứ đạo.

Tôi cũng không quên gửi lời tri ân đến vô số chủng loại hữu tình chúng sinh lớn, nhỏ, li ti, dễ thấy, khó thấy khác nhau về thân tướng, có hai chân, bốn chân, nhiều chân, không chân, ở trên khô, dưới nước. Bởi vì qua vô số loại hữu tình chúng sinh đó, làm cho tôi được biết thân tướng hiện tại hôm nay của chúng như thế nào, là do quả báo nghiệp của kiếp trước đã tạo ra mà có thân ấy.

Và tôi cũng luôn nhớ có lời tri ân đến vô số loại vô tình chúng sinh, đó là các loài hoa, cát bụi, sỏi đá, cỏ cây, vân vân… trên vũ trụ nầy. Bởi vì tôi đã thấy được mọi bản thể của vô số loài vô tình chúng sinh được có, là do các duyên giả hợp tạo nên, chứ thực tướng của tất cả các pháp nói chung là vô ngã, đúng theo định lý Duyên Khởi mà Phật đã đại giác ngộ, rồi chỉ lại cho con người được biết, theo đó mà tu tập để giải thoát sinh tử được ghi lại trong Tam Tạng Kinh, Luật, Luận của Phật.

 

 

SÁCH THAM KHẢO

 

- Tự điển Phật học Hán Việt (Nhà xuất bản khoa học xã hội)

- Giáo khoa Phật học quyển thượng (Cư sĩ Hạnh Cơ – Ban bảo trợ phiên dịch Pháp tạng xuất bản)

- Vô ngã là Niết Bàn (H.T. Thích Thiện Siêu)

- Giáo lý bí mật về thân trung ấm (Nguyễn Pram)

- Lược giải những pháp số căn bản (Cư sĩ Hạnh Cơ)

- Ngũ uẩn vô ngã (H.T. Thích Thiện Siêu)

 

 



* Khách hành hương chính là Bồ Tát Quán Thế Âm sau khi nghe được bà lão vùng Tây Khương khởi tâm mong muốn gặp Phật pháp, để học hỏi mà tu tập sám hối nghiệp chướng, nên ngài thị hiện ra chỉ cho bà lão câu thần chú của ngài là “úm ma ni pát mi hôm”

[1] Tara là tên hóa thân nữ của Quán Thế Âm, trong Phật giáo Ấn Độ và Tây Tạng được nói đến rất nhiều

[2] Văn Thù Bồ Tát, thường hiện thân, tay phải cầm kiếm trí huệ, tay trái cầm kinh Bát Nhã.

[3] Mahasiddha: người tu hành đắc đạo có thần thông.

[4] Simhasana: tòa ngồi chỉ dành cho những hàng Tỳ Kheo Trưởng lão Pháp sư.

Ý kiến bạn đọc
04/11/201704:53
Khách
DẠ A Di Đà Phật!
Con muốn thỉnh quyển sách này thì phải làm sao ạ?
Mới đọc vài bài mà thấy tuyệt vời quá ạ!
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn