Tản Mạn Về Một Bữa Ăn Sáng

10/10/201406:57(Xem: 6566)
Tản Mạn Về Một Bữa Ăn Sáng
batcomhuongtich2
         
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.

Mấy ngày qua mưa gió dầm dề, không gian nặng nề u ám, thế gian ẩm ướt nhạt nhòa, vạn vật co ro run rẩy trước cơn thịnh nộ của tạo hóa, bão giông. Hôm nay nắng đẹp, mặt trời rạng rỡ giữa không gian trong suốt như pha lê, một nguồn năng lượng khổng lồ từ mặt trời tuôn trào như thác đổ xuống nuôi sống và sưởi ấm thế gian, vạn vật mừng vui hớn hở, nhảy múa tưng bừng.

Anh Sinh rủ tôi đi chợ. Mấy ngày ngồi thu lu như con mèo bên xó bếp, tê cóng tay chân, nay trời trong nắng ấm cũng nên hòa mình vào điệu múa của vũ trụ cho giãn gân giãn cốt. Ngang nhà anh Đẹp, thấy anh đứng trước sân, chúng tôi rủ anh cùng đi cho vui.

Ba chúng tôi bước vào một quán ăn đông khách. Cô chạy bàn mau mắn đến lau dọn một bàn khách vừa ăn xong, mời chúng tôi ngồi và hỏi chúng tôi ăn gì. Anh Sinh hỏi cô ấy quán có gì ăn. Cô ấy liệt kê một hơi nào là cơm, cháo, hủ tiếu, bánh lọt, bún thịt xào…Tôi kêu tô cháo, anh Sinh dĩa cơm sườn, anh Đẹp tô hủ tiếu. Lát sau cô ấy bưng thức ăn ra, riêng tô cháo của tôi có kèm thêm dĩa bánh hỏi nhỏ, hỏi chúng tôi uống gì. Tôi uống trà đá đường, anh Sinh anh Đẹp uống cà phê đá.

Chúng tôi vừa ăn vừa trò chuyện. Anh Sinh nhìn lướt qua các món ăn, nói vui: “Cơm cháo hủ tiếu đều làm từ gạo, chỉ khác ở cách làm và tên gọi. Nghĩ ra dân mình giỏi thiệt, rất khéo tay. Nấu khô là cơm, lỏng là cháo, ép thành cọng là bún, cắt thành sợi là hủ tiếu. Nếu không khéo tay làm sao chế ra được nhiều món ăn và nhiều thứ bánh khác nữa, hai anh thấy đúng không?”. Anh Đẹp ngước lên, nói :“Theo tui thì do gạo là chính. Nếu khéo tay sao người ta không làm các loại đậu mè khoai bắp thành nhiều món ăn và nhiều thứ bánh như gạo?”.

Tôi lại nghĩ khác. Nói gạo và khéo tay là hai yếu tố chính làm ra các món ăn và các thứ bánh thì chưa đủ. Bởi vì, chỉ có gạo mà không có phương tiện làm sao nấu thành cơm, xây ra bột? Có cơm có bột mà không có các phụ liệu, gia vị khác làm sao chế biến thành các món ăn và các thứ bánh? Bản thân hạt gạo cũng do thân rễ lá cây lúa cùng đất nước, nắng mưa, sương gió…và cả mồ hôi nước mắt của nông dân hợp lại tạo thành. 
 
Khéo tay cũng không phải trời cho, vốn sẳn có của con người mà phải trải qua quá trình lao động con người mới nảy sinh óc sáng tạo. Do đó, tự hạt gạo và sự khéo tay không quyết định được sự hiện hữu của các món ăn và các thứ bánh mà chúng là tổng hợp của sức lao động, nguyên liệu, phương tiện, phụ liệu, gia vị chứ không có thứ nào là thành phần chủ yếu như anh Sinh và anh Đẹp nói. Nếu thiếu vài thứ hoặc tách rời chúng ra, mỗi thứ đều tồn tại độc lập sẽ không bao giờ có các món ăn và các thứ bánh.

Cách nghĩ của hai bạn tôi thì na ná như khái niệm “hạt cơ bản” xuất phát từ thời Hy Lạp cổ đại. Khái niệm nầy cho rằng nguyên tử là hạt nhỏ nhất, cứng chắc, đầy đặc, không thể phân chia và là “hạt cơ bản” của vật chất, tạo ra vật chất. Từ đó, thuyết nguyên tử được xây dựng và nhanh chóng trở thành cơ sở, nền tảng vững chắc cho triết học và khoa học cổ điển phát triển rực rỡ cùng với những thành tựu to lớn do nó mang lại suốt một thời gian dài. Mãi đến cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, nền khoa học hiện đại phát hiện nhiều điều mới mẻ, lạ lùng về nguyên tử thì khái niệm “hạt cơ bản” bị lung lay và gần như sụp đổ.

Những phát hiện mới mẻ, lạ lùng đó cho thấy nguyên tử không phải “hạt cơ bản” của vật chất và tạo ra vật chất, không phải là hạt nhỏ nhất, đầy đặc, cứng chắc mà nó rỗng không, được cấu tạo bởi các hạt nhỏ hơn như electron, hạt nhân, neutron, proton. Ngoài những hạt đó ra, người ta còn tìm được vài trăm hạt khác nữa, tạo nên một thế giới hạt hạ nguyên tử phong phú, đa dạng. 
 
Chúng vừa là khối lượng vừa là năng lượng nằm rải rác khắp nơi trong mạng lưới “trường” bao la trong không gian. Chúng vận động và tương tác lẫn nhau liên tục, tạo ra quá trình sinh diệt của thiên hình vạn trạng hiện tượng và biến cố trong vũ trụ, biến vũ trụ thành một sinh cơ và biến sự vận hành của vũ trụ thành một điệu múa hoành tráng, hài hòa, năng động .    

Thật ra, những phát hiện của khoa học hiện đại không có gì mới mẻ, lạ lùng do chúng đã được Phật Thích Ca biết đến hơn hai ngàn năm trăm năm trước. Bằng phương pháp quán chiếu, Ngài thấy vạn pháp (mọi sự vật và cả thân ngũ uẩn của chúng ta) đều do duyên sanh, hễ duyên hợp thì pháp thành, duyên tan thì pháp hoại. Do đó, các pháp đều không có tự tánh, tự thể riêng biệt mà Ngài gọi là “bản ngã” (cái tôi, cái ta). 
 
Khái niệm “bản ngã” của Phật giáo tương đương với khái niệm “hạt cơ bản” của khoa học cổ điển, và “duyên” của Phật giáo tương đương với “hạt năng lượng” của khoa hoc hiện đại. Cũng như các hạt năng lượng, không có duyên nào cơ bản tạo ra các pháp mà các pháp được tạo ra bằng sự tương tức tương nhập của chúng với nhau, cái nầy có cái kia mới có, pháp nầy sinh pháp kia mới sinh. Đối với con người cũng vậy, cơ thể chúng ta là tổng hợp của rất nhiều cơ quan, bộ phận và rất nhiều thành phần khác của tự nhiên, xã hội và gia đình từ vật chất đến tinh thần…ngoại trừ cái “bản ngã” là không có. 
 
Nói thế có nghĩa là cơ thể chúng ta không chứa “bản ngã” và tự nó không thể tạo ra cơ thể chúng ta. Nếu lấy ra vài cơ quan, bộ phận của cơ thể, vài thành phần khác của tự nhiên, xã hội và gia đình trong cái tổng thể thì nó sẽ không thành cơ thể con người. Tóm lại, do vạn pháp không có tự tính, tự thể riêng biệt nên chúng chỉ là giả tướng chứ không phải thật tướng.

Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.

Thuyết “Vô ngã” là một trong những nguyên lý tự nhiên được Phật Thích Ca đưa xuống bình diện con người mang tính tâm lý thực tiễn sinh động chứ không mang tính huyền thoại siêu hình và đã được thực tế chứng minh. Ngoài thuyết “Vô ngã” còn có khái niệm Nghiệp (Karma) là đầu mối của mọi cái “Khổ” và nguyên lý vũ trụ luôn luôn vận động, biến dịch mà Phật giáo gọi là “Vô thường”. 
 
Nhà Vật lý học hạt nhân người Mỹ J.R.Oppenheimer (1904-1967) thừa nhận :“những quan điểm chung về nhận thức của con người, được minh họa bởi những phát hiện của vật lý nguyên tử, tự nó không xa lạ hay khó hiểu. Ngay trong nền văn hóa của chúng ta, chúng đã có lịch sử và trong tư tưởng Phật giáo hay Ấn Độ giáo chúng có một chỗ đứng trung tâm đáng kể. Điều mà ta phát hiện chỉ nêu thêm thí dụ, xác nhận và làm tinh tế thêm cho một nền minh triết cổ xưa./
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/03/2026(Xem: 1619)
Trong các kinh điển Phật giáo sơ kỳ—như Nikāya và Āgama—Đức Phật thường nhắc đến những loài động vật sinh sống trong rừng sâu, núi cao và sông ngòi của Ấn Độ cổ đại. Rất nhiều loài vật như voi, sư tử, hươu, rùa, ngựa, chim chóc và nhiều loài khác xuất hiện trong những lời dạy này; chúng không hiện diện như những sinh vật hung dữ hay đáng sợ, mà là những người bạn hiền trí, giúp chúng ta thấu hiểu cách sống với lòng từ bi, sự dũng cảm và tâm trí sáng suốt.
16/03/2026(Xem: 2308)
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù.
07/02/2026(Xem: 1417)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 2375)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 3602)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 2529)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 4320)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 2391)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 2894)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 5338)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T