Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Ký Sự Hành Hương Đất Phật

09/04/201318:47(Xem: 5672)
Ký Sự Hành Hương Đất Phật

Ký sự Hành Hương Đất Phật

Trần Trọng Thức

---o0o---

Mục Lục

Một sự tình cờ mà cũng là một cơ duyên khiến chúng tôi được gặp Thầy Huyền Diệu hai lần tại Thành phố Hồ Chí Minh vào cuối năm 2002. Thầy là người kín đáo trong giao tiếp và xem ra không muốn được người khác chú ý hay nhắc nhở tới mình.

Chúng tôi chỉ mới biết Thầy gần đây qua bài viết của tác giả Hồ Anh Thái trong cuốn sách “Tiếng thở dài qua rừng kim tước” trong đó có câu chuyện kể về một nhà sư Việt Nam khiêm tốn tự xưng là “Người quét chùa” mặc dù chính ông là người đã đứng ra xây dựng không chỉ một mà đến hai ngôi chùa Việt Nam trên hai thánh địa linh thiêng của Phật giáo ở Ấn Độ và Nepal.

Ngay trong lần đầu gặp gỡ Thầy Huyền Diệu đã khuyên chúng tôi: “Quý vị nên thu xếp qua viếng đất Phật một lần để biết thêm miền đất lạ và để cảm nhận đời sống tâm linh như thế nào”. Không hiểu tại sao khi ấy chúng tôi lại bị những lời gợi ý này thu hút một cách lạ lùng. Cho đến sau khi thực hiện chuyến đi 14 ngày qua bốn thánh tích Phật giáo, chúng tôi nhận ra rằng mình quá may mắn - mà theo cách nói của Thầy Huyền Diệu thì đó là phước duyên – có được cơ hội đến những vùng linh địa này.

Ban đầu chúng tôi hình thành một nhóm thân hữu gồm 14 người trong đó có các chuyên viên kinh tế và vài doanh nhân dự định cùng đi một chuyến du lịch chiêm bái. Vậy mà giờ chót người thì bận rộn trăm công nghìn việc không sắp xếp được, người thì ngại đường xa trắc trở mà chuyến đi lại không được tổ chức chu đáo theo một tour du lịch, người bận chuyện gia đình đột xuất. Và cuối cùng ngày lên đường chỉ còn lại vỏn vẹn hai người.

Theo kế hoạch của chúng tôi thì trước tiên phải quá cảnh tại Bangkok để từ đó vào Ấn Độ qua ngả Kolkata rồi đáp xe lửa đến bang Bihar ở vùng Đông Bắc. Bihar là một trong những bang nghèo nhất của Ấn Độ với dân số 90 triệu người sống chen chúc trên một diện tích bằng phân nửa nước ta. Đây là nơi có đến ba thánh địa Phật giáo nổi tiếng: Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng) là nơi hơn 2 500 năm trước Phật Thích Ca đắc đạo sau khi ngồi thiền định dưới cội bồ đề và được khai minh, Lộc Uyển (Sarnath) nơi Phật thuyết pháp lần đầu tiên sau khi đắc đạo, Câu Thi Na (Kushinagar) nơi Phật nhập Niết bàn. Cả ba nơi này đều là di sản văn hoá của nhân loại, mỗi năm thu hút hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới và là nguồn lợi du lịch quan trọng của Ấn Độ.

Chuyến du lịch chiêm bái không dừng lại nơi đây bởi chỉ cần đi thêm khoảng 300 cây số là đến đất Nepal với Lâm Tỳ Ni (Lumbini) nơi Đức Phật đản sinh, một thánh địa quan trọng trong hệ thống các thánh tích trên đất Phật.

Là quê hương của Phật giáo với nhiều thiền viện nổi tiếng khắp thế giới vậy mà số người theo đạo Phật ở Ấn Độ và Nepal hiện nay chỉ trên dưới 1%, hậu quả từ cơn đại nạn tôn giáo vào thế kỷ 11.

Những người sùng bái đạo Phật ai mà chẳng mong ít nhất một lần trong đời đến được một trong bốn thánh tích nói trên. Thế nhưng tổ chức được chuyến hành hương như vậy quả thật không dễ dàng, nhất là hiện nay chưa có công ty du lịch nào trong nước nghĩ đến một tour chiêm bái đúng nghĩa. Tuy không phải là Phật tử nhưng chúng tôi lại có niềm khao khát tìm đến với một vùng đất lạ. Thế là cuộc hành trình bắt đầu.

 

KOLKATA – THÀNH PHỐ AN LẠC ^

Ấn Độ ngày nay là quốc gia lớn hàng thứ nhì ở châu Á (chỉ sau Trung Quốc) với 25 tiểu bang và dân số khoảng một tỷ người. Đây là một xã hội của tôn giáo, khắp nơi đều mang những dấu ấn khác nhau của các truyền thống tôn giáo tồn tại song hành, trong đó Ấn Độ giáo chiếm vị trí quan trọng nhất. Mặc dù đường sá kém mở mang, điều kiện vệ sinh hạn chế, nhưng Ấn Độ thật ra là một đất nước dành cho du lịch nhờ vào một nền văn minh lâu đời, một nền văn hoá thâm hậu và những công trình kiến trúc xuất sắc thu hút hàng năm cả chục triệu du khách đến nơi đây.

* * *

Trên bản đồ hàng không thế giới, địa danh Kolkata – tức Calcutta trước đây – ngày càng được nhiều người biết đến. Chuyến bay của Hãng hàng không Thái rời Bangkok lúc 22 giờ và đến Kolkata lúc nửa đêm có lẽ là chuyến cuối cùng đáp xuống phi trường quốc tế này. Các nhân viên an ninh sân bay - phần lớn đã hai thứ tóc – thong thả làm nhiệm vụ một cách chậm rãi cứ như thời gian không có ý nghĩa gì với họ và dường như cũng chẳng quan tâm đến vẻ sốt ruột của hàng trăm hành khách đang nóng lòng ra khỏi nhà ga lúc quá nửa đêm.

Vào thời khắc đó, bên ngoài sân bay ở khu dịch vụ hàng không chỉ còn những chiếc taxi nội địa cũ kỷ nhưng mang nhãn hiệu rất oai là “Ambassador” (Đại sứ). Anh tài xế ra giá ồn ào chẳng khác gì đang cãi lộn với khách. Con đường về khu vực bình dân Bowbazar hoàn toàn vắng vẻ giữa khuya, trên các vĩa hè đầy dẫy những người nghèo khó đang ngon giấc với cái lạnh giá của những ngày mùa Đông.

Ngôi chùa có tên Bengal Buddhist Temple không đem đến cho chúng tôi giấc ngủ yên lành vì mùi hương trầm nồng nặc mà phải mất cả tuần lễ trên đất Ấn Độ chúng tôi mới phần nào làm quen được.

Kolkata với hơn 12 triệu dân được xem là thành phố thuộc địa lớn nhất của người Anh vào thế kỷ 17, còn nay là một trong bốn thành phố quan trọng nhất của Ấn Độ (ba thành phố khác là thủ đô New Dehli, Mumbai tức Bombay và Chennay). Cái tên Kolkata đến nay vẫn chưa được hiểu thật đầy đủ. Có người cho rằng tên thành phố này xuất phát từ Kalikata là một nghệ thuật khảm ốc nổi tiếng của người dân vùng vịnh Bengal. Người thì cho rằng đúng ra phải gọi là Kali Kota có nghĩa là “vùng đất Kali thiêng liêng”. Nhưng dù tên gọi mang ý nghĩa gì đi nữa có lẽ cũng không quan trọng đối với người dân Kolkata bởi niềm tự hào của họ không phải là cái tên mà đây là thành phố của nghệ thuật, triết học, là nơi có nhiều viện bảo tàng nhất tại Ấn Độ và là thành phố của những sinh hoạt trí tuệ cao. Kolkata cũng là thành phố gắn liền với những nhân vật nổi tiếng như nhà thơ Tagore vĩ đại, Mẹ Thérésa được toàn thế giới ngưỡng mộ về lòng nhân ái.........

Chúng tôi đón bình minh Kolkata trong tiếng quạ kêu inh ỏi. Mới năm giờ sáng, không gian còn mờ đục mà những bầy quạ đã túa ra bay rợp trời. Chúng thân thiện sà xuống lửng thửng đi từng bước trên những con đường nhựa loang lổ chừng như để kiếm ăn cùng lúc với những hàng quán của khu phố nghèo cũng đang bắt đầu một ngày mưu sinh. Chúng tôi dừng chân uống cốc trà sữa nóng - một thức uống truyền thống phổ biến của Ấn Độ gồm trà pha với sữa dê hoặc sữa bò – tại cơ ngơi cực kỳ khiêm tốn của hai cha con nhà Shaw trên đường Robat. Gọi là cơ ngơi nhưng thực tế đó chỉ là một thùng gỗ hai tầng trông như hai chiếc áo quan nằm chồng lên nhau. Tầng dưới là cửa hàng bán sữa cũng là chiếc giường ngủ vừa đủ cho ông bố nằm vào ban đêm. Tầng trên là nơi Ramesh Shaw con ông ngủ qua đêm để rồi ban ngày trở thành cửa hàng tạp hoá bày bán đủ thứ lỉnh kỉnh mà khách hàng chính là dân nghèo trong khu vực.

Tại khu chợ gần đó, nhiều người bán những vòng hoa đủ màu sặc sỡ kết sẵn từng xâu đang vui vẻ chào khách. Những người phụ nữ khắc khổ ngồi bán mớ củi gồm những loại gỗ đủ kiểu dáng dường như được nhặt nhạnh từ khắp nơi và bán tính theo cân lượng bằng cái cân xách tay cũ kỹ thủng lỗ mà từ lâu ở nước ta không còn sử dụng nữa.

Cái nghèo rõ nét hơn khi nhìn thân hình gầy gò đẫm mồ hôi và đôi chân trần của người phu xe kéo (gọi là rishaw) giữa đường phố đông đúc xe cộ. Đây là loại phương tiện cổ lổ của thời kỳ thuộc địa đã vắng bóng trên đất nước ta gần cả thế kỷ, vậy mà đó là loại phương tiện đi lại phổ biến ở Kolkata. Ngồi ngất ngưỡng trên chiếc xe thật vô cùng ái ngại, chưa kể cảm giác không an toàn khi nhìn anh phu xe thoăn thoắt luồn lách đôi chân trần giữa dòng xe cộ mắc cửi và trên lòng đường khá nhiều rác rưởi. Nhưng nếu không đi thì không giúp người kéo xe nghèo khổ kiếm sống được. Thế là trong suốt một ngày lưu lại tại Kolkata, chúng tôi đành phó thác sinh mạng mình vào đôi chân khẳng khiu của những người kéo xe. Đây còn là thước đo về sự rẻ mạt của sức lao động. Gò lưng kéo xe đi về trên quãng đường hơn bốn cây số, chờ khách ăn sáng cả tiếng đồng hồ, người phu xe kiếm được 35 rupi (tương đương 12 000 đồng VN).

Tại Kolkata - cũng như bất cứ vùng nào trên đất Ấn - chúng ta dễ dàng nhận ra những mặt đối nghịch của đời sống kinh tế xã hội. Ở đây người ăn xin rất nhiều nhưng ăn cắp giựt dọc thì hầu như hiếm hoi. Giữa dòng người xe qua lại hối hả thì những con bò gầy còm vẫn thong dong đi lại và điềm nhiên thải phân trên đường phố. Trong khi Ấn Độ có quá nhiều nhà thông thái và hằng hà sa số các chuyên viên tin học hàng đầu thế giới thì phân nửa dân số vẫn còn mù chữ. Bên cạnh hàng hoá rực rỡ, vải vóc lượt là chào bán trong các cửa hiệu khang trang là nhan nhản cảnh những gia đình vợ chồng con cái bình thản ôm nhau ngũ trên các vĩa hè.

Phân biệt đẳng cấp và phân hoá giàu nghèo dữ dội cũng là nét đặc thù của nơi này. Rời khu phố nghèo chừng 5 phút đi bộ là đến khu trung tâm thương mại Kolkata phồn hoa đô hội với các công trình cổ, các cao ốc sang trọng và những cửa hiệu bóng loáng. Thêm một mặt đối nghịch khác là gương mặt khắc khổ và khép kín của những người nghèo vẫn toát lên vẻ bình an mà nhiều người cho rằng đó là tâm trạng của những đang “trả nghiệp” trong đời này theo quan niệm của Ấn Độ giáo. Đó là sự an lạc chấp nhận số phận đã trở thành triết lý sống.

Lang thang Kolkata một ngày cũng đủ cho chúng ta nhận biết được rằng bên trong cái êm ả của thành phố này là một sức sống của con người rất mãnh liệt, là những thân phận khó khăn vượt quá sức tưởng tượng. Ấy vậy mà tất cả đều thể hiện sự chia sẻ với người khác và tình cảm thương yêu dành cho nhau. Người ta chia sẻ không chỉ nỗi đau mà cả nụ cười như Dominique Lapierre, tác giả quyển sách “The city of joy” (tạm dịch là Thành phố an lạc) một tác phẩm lừng danh thế giới đã được dịch ra 37 thứ tiếng và được chuyển thành phim ảnh, đã viết: “Kolkata có những con người mà bi kịch của họ sẽ làm cho chúng ta xúc động, nhưng họ lại đặt niềm tin vào sự tử tế và quan trọng hơn hết là tình thương không giới hạn sẽ nâng bạn lên, che chở cho bạn và không chừng sẽ thay đổi cả cuộc sống của bạn”.

* * *

Khu vực ga xe lửa Kolkata rộng lớn đông nghịt người từ bên ngoài với từng tốp phu khuân vác tranh giành khách cùng vô số người ăn xin dễ khiến những du khách lần đầu mới đến đây hốt hoảng. Nhưng thật ra cũng không có gì đáng lo ngại, sau khi cho biết số toa xe và ngã giá xong, chúng tôi bám sát theo người phu khuân vác luồn lách qua rừng người ồn ào vào bên trong nhà ga và đứng ngay trước toa của mình khi xe lửa đến. Thật là một cảnh tượng lạ lùng khi ngắm người thanh niên đội trên đầu hai chiếc va li to tướng, hai vai mang hai chiếc xắc tay cồng kềnh đi thoăn thoắt giữa một không gian huyên náo hỗn loạn. Đúng như nhận định của một số người từng sử dụng phương tiện này cho rằng đi xe lửa ở Ấn Độ không khác bao nhiêu so với ở Việt Nam vào giữa thập niên 80. Cũng phải gian nan với cảnh chen lấn la hét ồn ào, mồ hôi ướt đẫm mới chen chân được lên toa vé ngồi. May mắn cái cảnh ấy không diễn ra ở toa xe nằm được tổ chức khá ngăn nắp. Đơn giản vì vé nằm phải trả đến 800 rupi (gần 20 USD), đắt hơn gấp tám lần so với các toa ngồi, do quan điểm của Chính phủ Ấn là điều tiết tối đa nhằm mục đích rút ngắn khoảng cách giàu nghèo. Thế mà trên những toa giường nằm tươm tất, khách vẫn bị phiền hà vì mấy nhóm pê-đê ùa vào xin tiền một cách gần như hỗn xược. Mười giờ đêm khi xe lửa khởi hành chúng tôi mới thật sự yên tâm rằng mình sẽ có mặt tại thị trấn Gaya cách Kolkata 500 cây số vào 5 giờ sáng hôm sau, bởi vì thông thường xe lửa ở đây rất hay trễ giờ.

Ngày mai chúng tôi sẽ đặt chân đến thánh tích Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh Gaya) nổi tiếng, nơi thu hút khách chiêm bái đông nhất trong số ba thánh địa Phật giáo tại Ấn Độ.

Lang thang thánh địa BODHGAYA ^

Tuy chỉ là một nhưng Gaya lại được biết đến nhiều hơn thủ phủ Pantna của bang Bihar (phía Đông Bắc Ấn Độ). Hồi đầu năm 2003, Gaya đã có sân bay quốc tế nhằm mục đích thu hút số du khách ngày càng nhiều đến chiêm bái 3 thánh địa Phật giáo, nhưng do tuyến đường mới đưa vào hoạt động, hành khách chứ đông nên giá vé rất đắt và hàng tuần Hãng hàng không Ấn Độ chỉ có một chuyến bay từ Bangkok đến đây.

Bodh Gaya (tức Bồ Đề Đạo Tràng) nằm cách phố cổ Gaya khoảng 12 cây số về phía bắc và cách thủ phủ Panta 106 km. Đây là một thị trấn nhỏ khá nhộn nhịp với các khách sạn và nhà hàng của nhiều nước, có cả ngân hàng và trụ sở bưu điện. Nhìn bề ngoài thì Bodh Gaya là một nơi thị tứ đang phát triến với san sát những cửa hàng dịch vụ Internet và văn phòng các Công ty du lịch nội địa. Trên những cẩm nang du lịch của Ấn Độ, Bodh Gaya được giới thiệu một cách trang trọng vì là Thánh địa Phật giáo lớn nhất thu hút hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới, không chỉ là khách hành hương châu Á mà còn có rất đông người AÂu tìm về những giá trị tinh thần phương Đông.

Nếu điều kiện thời tiết không quá khắc nghiệt thì Bodh Gaya hẳn đã góp phần đáng kể đưa bang Bihar ra khỏi vị trí đèn đỏ nghèo đói ở Ấn Độ. Hàng năm từ tháng 3 đến tháng 7 là mùa náng cháy da, nhiệt độ có khi lên đến 40-45 độ C rồi tiếp theo là mấy tháng mưa tầm tã, do đó hoạt động du lịch chỉ nở rộ từ tháng 10 đến tháng 2, mặc dù mùa đông nơi đây đây cũng khá khắc nghiệt, có khi thời tiết đột ngột xuống đến 2 hoặc 3 độ C.

Cuối tháng 1 năm 2003 vừa qua, tức khoảng một tuần trước ngày chúng tôi đến đây, chính quyền bang Bihar đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp vì thời tiết trở lạnh đột biến đã cướp đi sinh mạng hơn cả ngàn người nghèo khổ không đủ điều kiện và sức khỏe chịu đựng giá lạnh.

May mắn thay vào đầu tháng 2 thời tiết trở nên dễ chịu hơn. Cảm giác đầu tiên là môi trường nơi đây không được trong sạch lắm, hậu quả của sự có mặt khoảng vài trăm ngàn khách hành hương - trong đó đông nhất là các nhà sư Tây Tạng - tề tựu về Bodh Gaya nhân mùa lễ hội hai tuần lễ trước đó.

Bồ Đề Đạo Tràng hôm nay.

Thánh địa Bồ Đề Đạo Tràng mà tôi háo hức tìm đến ngày hôm nay là một địa danh có bề dày lịch sử vô cùng phong phú. Đây là một thể không gian rộng lớn ghi dấu những nơi Đức Phật đã trải qua từ khi quyết định từ bỏ phương pháp tu khổ hạnh đến khi giác ngộ chân lý dưới gốc cây bồ đề.

Các di tích quan trọng vẫn còn tồn tại hiện nay gồm tháp Đại Giác, cội Bồ đề, Kim cương tỏa, sông Ni Liên Thuyền, một số di tích liên quan đến bảy tuần thất của Đức Phật sau khi giác ngộ cùng vô số những tháp nhỏ quanh tháp Đại Giác. Đa số những di tích mang nét chạm trổ nghệ thuật có thể từ những năm của thế kỷ thứ nhất trước Tây lịch tập trung vào hai chủ đề tôn giáo và thiên văn.

Tiến sĩ D.C. Ahir, nhà nghiên cứu người Ấn khi nhìn lại lịch sử Bồ Đề Đạo Tràng đã cho biết: “Vào năm 259 trước Tây Lịch, Đại đế A Dục (Ashoka) đến làm lễ ở Bodh Gaya và sau đó nơi đây đã thu hút hàng triệu tín đồ trở về chiêm bái không ngừng nghỉ suốt hơn 1.500 năm. Vị vua này đã cho xây dựng ngôi đền thờ đầu tiên tại Thánh địa trong những nam 250 trước Tây lịch mà những bản khắc được phát hiện sau này cho thấy dấu vết cội bồ đề nơi Đức Phật ngồi thiền định và được khai minh, xung quanh cội bồ đề là một vòng rào với cửa ra vào ở phía Đông. Ngôi tháp Đại Giác hùng vĩ đã được xây dựng vào thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch trên nền tháp cũ của ngôi tháp vua A Dục đã xây. Niên đại ngôi của tháp được xác định nhờ những đồng tiền vàng trong số các di vật được chôn theo”.

Tất cả những di tích được đề cập trên đây hiện nay vẫn tồn tại sau bao nhiêu lần bị đập phá rồi trùng tu dưới nhiều triều vua khác nhau ở Ấn Độ. Nổi bật trong quần thể thánh tích này là ngôi tháp Đại Giác vừa được UNESCO chính thức thừa nhận là di sản của nhân loại hồi tháng 6 năm 2002. Đây là ngôi tháp hình chóp nhọn đứng sừng sững với chiều cao 52 mét, mỗi cạnh vuông 15 mét. Bốn mặt tháp được khác chạm tinh vi theo kiến trúc cổ Ấn Độ. Bên trong tháp là tượng Phật Thích Ca bằng đá mạ vàng cao khoảng 2 mét được tạc vào khoảng năm 380 sau Tây lịch với nét mặt thanh thản và dáng ngồi hướng về phía Đông giống y tư thế khi tựa bên cội bồ đề năm xưa và đắc đạo.

Các tài liệu được phát hiện sau này cho thấy vào năm 600 vua Brahmin của xứ Bengal, một người kỳ thị đạo Phật đã đốt phá tháp và hủy hoại cội bồ đề nguyên thủy nơi Đức Phật đã ngồi thiền định phía sau tháp. Rồi 20 năm sau, Raja Purna Varma, một vị vua mộ đạo Phật đã cho phục sinh lại cây bồ đề con mọc lên từ gốc cây bồ đề bị đốt cháy trước đó, kiến tạo lại tháp và xây tường rào cao 7 mét để bảo vệ. Từ đó vè sau thánh địa nay còn phải trải qua không biết bao nhiêu lần bị người Hồi giáo và Ấn Độ giáo tàn phá để rồi cuối cùng suy tàn cùng với Phật giáo tại đây vào thế kỷ 13.

Vào năm 1811, Tiến sĩ Buchanan Hamilton, một nhà khảo cổ học người Anh đến viếng Bồ Đề Đạo Tràng đã phát hiện ra tháp Đại Giác trong tình trạng hoàn toàn đổ nát. May thay vào năm 1871 nhà khảo cổ nổi tiếng khác là Cunningham đã vận động trùng tu làm sống lại thánh địa này và từ đó Bodh Gaya được đặt dưới quyền điều hành của người Ấn Độ giáo. Nhà khảo cổ này cũng là người đã trồng lại cây bồ đề được chiết ra từ nhánh của cây nguyên thủy. Đây chính là cội bồ đề mà khách hành hương được chiêm ngưỡng ngay nay.

Năm 1994 khi Ấn Độ giành được độc lập từ tay người Anh, chính quyền bang Bihar mới ban hành một đạo luật quản lý Bồ Đề Đạo Tràng. Đến năm 1952 Chính phủ Ấn Độ chính thức thành lập một Ủy ban quản trị để điều hành và gìn giữ các di sản gồm 8 thành viên (4 tăng sĩ Phật giáo, 4 tăng sĩ Ấn Độ giáo) do Quận trưởng Gaya làm Chủ tịch, từ đó chấm dứt những tranh chấp về Thánh địa này để nơi đây trở thành một trung tâm Phật giáo thế giới.

Một “Liên hiệp quốc” Phật giáo.

Hiện nay tại Bodh Gaya đã có rất nhiều ngôi chùa - hầu hết tập trung trong khu vực gần tháp Đại giác - của các quốc gia và lãnh thổ như Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Bhutan, Népal, Tây Tạng, Đài Loan, Sri-LanKa...

Ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất Phật cũng đã được xây dựng tại đây từ năm 1987 và vừa mới khánh thành vào đầu năm 2003. Chùa tọa lạc trên một khuôn viên 3 hecta cách tháp Đại Giác hơn 2 cây số, đây cũng là nơi chúng tôi đến đãnh lễ tượng Phật bằng đá trắng của người Nhật xây dựng tại đây - với kinh phí lên cả triệu USD - có tên là Đại Phật (The Great Buddha Statue) có chiều cao hơn 20 mét, với hai dãy tượng hai bên tạc mười đại đệ tử của Đức Phật có kích thước cao bằng người thật.

Tại Bồ Đề Đạo Tràng có đến hai ngôi chùa Nhật Bản, một ngôi “Nhật Bản Tự” (Nippoji) xây dựng vào năm 1973 và ngôi thứ hai có bảng tên bằng chữ Hán “Thích Ca Đường” được xây dựng và trang trí theo phong cách trang nhã của truyền thống Nhật Bản, hoàn thành vào năm 1983.

Phật giáo Tây Tạng có nhiều trường phái khác nhau và ngôi chùa tại Bồ Đề Đạo Tràng thộc phái Kagyu mà theo lời kể của nhiều người đây là cúng dường của một ông vua dầu hỏa Trung Đông đã bỏ ra gần hai triệu đô la Mỹ để tạ ơn vị sư Tây Tặng đã chữa căn bệnh nan y cho mình.

Hoàng gia Thái Lan thì xây dựng ngôi chùa đồ sộ vào năm 1957 với mái cong vút được mạ vàng óng ánh trong một khuôn viên rộng lớn, tại chánh điện có tượng Phật khổng lồ bằng vàng rất gây ấn tượng.

Chùa Trung Quốc tại Bồ Đề Đạo Tràng khá khiêm tốn so với các chùa khác, có lẽ ảnh hưởng về mối bang giao không hữu hảo lắm giữa hai nước. sau đó chúng tôi lần lượt thăm viếng chùa Đài Loan, Miến Điện, Sri LanKa, Bhutan..., mỗi chùa mang một vẻ đẹp riêng với lối kiến trúc đặc thù theo truyền thống Phật giáo của mỗi nước.

Lang thang trên Thánh địa

Từ Việt Nam Phật Quốc Tự nếu đi bộ đến khu vực chính của Bồ Đề Đạo Tràng nơi có tháp Đại Giác chỉ mất khoảng không đầy nửa tiếng đồng hồ. Nhưng nếu không quen với thú vui rảo chân thì những chiếc xe lôi (tiếng địa phương gọi là rishaw) ngồi được hai người là phương tiện dễ chịu nhất với giá rất mềm là 10 rupi (khoảng 3.000 đồng VN). Xe lôi tại đây có phần văn minh hơn tại Kolkata vài sử dụng xe đạp chứ không bằng sức người.

Khu vực trung tâm rất sầm uất thu hút tất cả du khách từ nhiều nước hội tụ về mà nhiều nhất là người châu Á. Hai bên đường là những quầy hàng san sát bán đủ các vật kỷ niệm liên quan đến Phật giáo mà nhiều nhất là tượng Phật và tràng hạt.

Một đặc điểm biệt là tại đây có vô số người ăn xin và chúng tôi đã được ân cần dặn dò không nên cho tiền họ nếu không muốn rước họa vào thân. Nghe nói có lần một du khách nước ngoài đến đây hào phóng biếu khoản tiền khá lớn cho người hành khất đầu tiên mà ông gặp trên đường, thế là chỉ năm phút sau một đội quân “cái bang” nườm nượp xúm vây quanh khiến ông hốt hoảng tưởng sắp bị trấn lột!

Vượt qua một chiếc cổng được dựng tạm nhân mùa chiêm bái của các nhà sư Tây Tạng, chúng tôi bước một khu chợ trời đúng nghĩa với đủ thứ đồ dùng được bày bán trên những tấm ny lông: đồ trang sức bằng đồng và bằng đá, áo quần đủ màu sắc của các dân tộc vùng cao. Góp phần làm nên sự ồn ào náo nhiệt của khu chợ trời này là hàng ngàn nhà sư Tây Tạng thuộc nhiều hệ phái với bộ cà sa màu nâu đỏ và màu vàng rực. Mỗi ngày hai buổi họ đến đây hàng hàng lớp lớp ngồi bên ngoài bức tường đá bao quanh tháp Đại Giác tụng kinh đều đều theo nghi thức riêng đầy chất huyền bí.

Vượt qua cổng chính, mọi người phải gửi lại giày dép bên ngoài có nhận thẻ hẳn hoi và đóng lệ phí cho máy ảnh và máy quay phim. Nơi đầu tiên chúng tôi đến đảnh lễ là bên trong tháp Đại Giác, nơi có tượng Phật thếp vàng với nét mặt cực kỳ thanh tịnh và đầy chật những khách hành hương đang thành kính lễ bái.

Trở ra ngoài, chúng tôi bồi hồi hòa vào dòng người đi tới cội bồ đề linh thiêng được bao bọc bởi một vòng tường đá, bên ngoài có dấu chân Phật in trên phiến đá đen và chung quanh là vô số phướn của Phật tử Tây Tạng treo la liệt. Ngay dưới chân cây bồ đề cao vút là phiến đá phủ tấm lụa đỏ được gọi là Kim Cương Tòa, đánh dấu nới Đức Phật ngồi thiền và đạt giác ngộ.

Người ta tin rằng thiền hành quanh tháp Đại Giác bảy vòng theo chiều kim đồng hồ không chỉ nhằm mục đích cho thân tâm an lạc mà còn là lời cầu nguyện phước may đến với mình. Bên phải tháp Đại Giác - từ cổng chính nhìn vào - là bức tượng Quán Thế AÂm Bồ Tát tạc theo truyền thống Tây Tạng vốn là nam giới và tương truyền rất linh thiêng. Chúng tôi được hướng dẫn thành kính chắp tay khép mắt hướng tượng mà đi thẳng đến, nếu đụng ngay chân tượng thì ước nguyện sẽ thành. (Nhờ vậy chúng tôi vỡ lẽ một điều vẫn thắc mắc từ hôm đầu đến đây khi cố tìm mua đem về làm quà mà không hề thấy một tượng Phật Bà Quan AÂm nào như ở trong nước).

Trong 5 hôm lưu lại Bồ Đề Đạo Tràng, hàng ngày chúng tôi đều đến ngồi cạnh cây bồ đề lịch sử vì bị cuốn hút bởi bầu không khí nhuộm màu tâm linh ở nơi này khiến cho tâm hồn trở nên thanh thản yên bình, trí não nhẹ nhàng như không còn vướng bận điều gì trên đời. Chúng tôi ngồi lặng yên giờ này qua giờ khác ngắm hàng hàng lớp lớp các đoàn khách hành hương lần lượt đến quỳ cạnh gốc cây bồ đề lâm râm khấn nguyện bằng đủ mọi ngôn ngữ khác nhau nhưng lai giống nhau ở cách thể hiện sự thành kính cao độ.

Một cơn gió thoảng qua, vài lá bồ đề rơi rụng cũng là lúc một số người đang thiền hành chung quanh tháp tạm rời bỏ sự tĩnh tâm trong giây phút để hối hả lao tới giành lấy với niềm tin đó là phước lành của đất Phật ban cho. Chúng tôi may mắn nhặt được 5 chiếc lá mang về làm kỷ niệm chuyến hành hương đáng nhớ này.

Một người đàn ông phương Tây ăn mặc theo lối đạo sĩ với búi tóc trên đỉnh đầu ngồi thiền định đã mấy ngày qua và chỉ rời cây bồ đề vào lúc giữa trưa. Với những người khách phương xa như chúng tôi thì đây cũng là lúc đi tìm một nhà hàng để tận hưởng chút hương vị ẩm thực của địa phương. Bodh Gaya không có nhiều nhà hàng bán theo thực đơn Tây phương mà nếu có cũng rất hạn chế về thực phẩm bởi thịt heo, thịt bò và bia không được bán tại vùng này. Phổ biến là các loại thức ăn nấu theo khẩu vị của người Ấn mà nếu không quen thì con như tiền mất mà bụng vẫn đói.

Cách hay nhất là quay về Việt Nam Phật Quốc Tự, nơi có mâm cơm chay đơn giản nhưng gần gũi với khẩu vị quê nhà đang chờ đợi chúng tôi.

Ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất Phật ^

Việt Nam Phật Quốc Tự là một ngôi chùa đẹp tại Bồ Đề Đạo Tràng. Trong thời gian lưu lại Bodh Gaya, khi đã mệt mỏi sau một ngày lang tháng khắp khu vực trung tâm thánh địa này, chúng tôi trở về ngôi chùa Việt Nam với tâm trạng về lại nơi chốn bình yên gần gũi với mình. Việt Nam Phật Quốc Tự tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 3 hecta, giữa những khu ruộng đất bao la cách tháp Đại giác và khu vực chùa các nước hơn 2 cây số về phía Tây Nam, tách biệt với khu thị tứ ồn ào. Từ ngoài lộ chính dẫn vào chùa là đường đất y hệt như con đường quê, với bóng cây đầu làng rợp mát và một cây cổ thụ xanh tươi trước chùa, cạnh cổng tam quan.

Người quét chùa kiêm làm vườn.

Người khéo chọn nơi đây để xây chùa là Thượng tọa Thích Huyền Diệu, nhà sư trụ trì đồng thời là Chủ tịch Liên đoàn Phật giáo Thế giới tại Népal. Tu sĩ Phật giáo 60 tuổi đời này trông nho nhã, có nụ cười dễ mến và luôn luôn tự nhận mình là “người quét chùa kiêm làm vườn”,một danh xưng mà ông yêu thích và tâm đắc.

Ông khiêm tốn khi nói về mình và những gì chúng tôi biết về ông chỉ là những nét chấm phá trong một con người trải qua nhiều nỗi truân chuyên. Quê ở Bến Tre, tên thật là Lâm Trung Quốc, được nương náu cửa chùa từ nhỏ, ông tham gia phong trào Phật giáo chống chế độ Diệm hồi những năm đầu thập niên 60. Trong vụ tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức tại Sài Gòn năm 1963, ông có mặt trong những tu sĩ làm nhiệm vụ bảo vệ. Cái giá phải trả sau đó là bị chính quyền trục xuất. Sang Pháp vừa làm việc để kiếm sống vừa theo học tại Trường đại học Sorbonne ở Paris, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Sử học và trở thành giáo sư đại học ở nhiều nước. Khi còn đang ngồi ghế nhà trường, ông từng hướng dẫn những chuyến du lịch hành hương lần theo con đường của Đức Thích Ca ngày xưa khi rời bỏ kinh thành cho đến lúc đắc đạo.

Đặt chân đến Bồ Đề Đạo Tràng lần đầu tiên vào năm 1967, lòng ông dâng lên niềm xúc cảm vô hạn. Vùng đất thiêng liêng này sau mấy thế kỷ bị những biến cố cực đoan hủy diệt gần hết những di sản quý báu nay đang được nhiều nước - đặc biệt là các nước châu Á - góp sức phục hồi nhằm gìn giữ những di sản vô giá của nhân loại. Thế mà Việt Nam, một đất nước có truyền thống Phật giáo lâu đời không thua kém các nước lại không có một ngôi chùa trên quê hương của Phật.

Kể từ đó trong lòng ông chỉ có một nguyện vọng tha thiết là xây dựng một ngôi chùa tại Bodh Gaya để những người Việt mỗi khi đến chiêm bái thánh địa này có nơi trang nghiêm thanh tịnh dừng chân trú ngụ. Mặt khác ông cũng muốn giới thiệu giá trị văn hóa Việt Nam cho cộng đồng Phật giáo các nước tại đây. Niềm mơ ước đó giúp ông bền chí vượt qua những năm tháng cực kỳ khó khăn để biến ước mơ thành hiện thực. Cuối cùng ông mua được miếng đất và lễ đặt viên đá đầu tiên cho ngôi chùa đã diễn ra vào ngày 24.05.1987.

Việt Nam Phật Quốc Tự được hình thành bàng những khoản tiền dạy học của Thầy Huyền Diệu cùng với sự ủng hộ đóng góp của đồng bào và Phật tử khắp nơi trên thế giới. Chùa các nước tập trung ở khu vực trung tâm Thánh địa đều to lớn uy nghi với dáng dấp những đền đài như muốn biểu dương sức mạnh. Riêng chùa Việt Nam do điều kiện tài chính hạn chế nên xây dựng không to nhưng lại là ngôi chùa cao nhất ở Bodh Gaya. Đứng trên tầng ba của Chánh điện có thể nhìn bao quát được cả một quần thể không gian mà dưới tầm mắt là những ngôi chùa các nước khác.

Vị tu sĩ lại quan niệm rằng một đất nước muốn được hưng thịnh và tiến bộ thì tất cả mọi công dân đều phải đặt Tổ quốc và quyền lợi Tổ quốc lên hàng đầu. Có Tổ quốc rồi mới có Phật giáo và sau hết mới đến ngôi chùa: đó chính là ý nghĩa của tên gọi được đặt cho ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất Phật: Việt Nam Phật Quốc Tự.

Sau hơn 15 năm trời đằng đẵng xây dựng, trải qua mọi gian lao khổ cực, bao nhiêu lượt người đến rồi đi, đầu năm 2003 vừa qua lễ khánh thành chùa được tiến hành trong niềm vui lớn lao của tăng ni Phật tử nói chung v à người Việt Nam nói riêng. Từ nay ngôi chùa mang tên Việt Nam chính thức góp mặt ở vùng linh địa Bodh Gaya.

Tham dự ngày vui này có đông đảo đại diện các tổ chức Phật giáo bạn tại Bồ Đề Đạo Tràng như Nhật Bản, Myanmar, Trung Quốc, Tây Tạng, Népal, Thái Lan, Sri Lanka... Đặc biệt đoàn Phật giáo Hàn Quốc đến dự lễ bằng một máy bay riêng và lưu lại tại khách sạn 5 sao Nikko để khỏi phiền đến nhà chùa đang bị quá tải với số lượng gần 400 khách đổ về. Ngoài ra còn có sự hiện diện của các hòa thượng, đại đức, tăng ni trong nước và hải ngoại, có cả nghiên cứu sinh và sinh viên người Việt đang du học tại Ấn Độ và Phật tử Việt Nam từ mọi nơi trên thế giới. Phật tử trong nước - nhiều nhất là đồng bào các tỉnh phía Bắc - tề tựu về đây như một chuyến hành hương chiêm bái đất Phật.

Riêng Thầy Huyền Diệu thì như trẻ lại 20 tuổi vì đã thực hiện xong tâm nguyện.

Êm ả một ngôi chùa làng.

Từ cổng chính đi vào, hiện ra trước mặt chúng tôi là một công trình được xây dựng kiên cố với hai mái cong vươn cao giữa những tàng cây mang đầy đủ nét kiến trúc truyền thống Việt Nam. Đây là nơi uy nghi nhất trong khuôn viên chùa, cao 24 mét gồm ba tầng.

Tầng trệt là Pháp xá có đủ chỗ cho 30 vị khách tăng lưu lại mỗi khi đến chiêm bái thánh địa. Tầng thứ hai dùng để trưng bày kinh sách, pháp khí trong và ngoài nước. tầng thứ ba là nơi thờ Tam Thế Phật cùng chư vị Bồ Tát.

Điểm độc đáo của Việt Nam Phật Quốc Tự là hậu tổ phía sau chánh điện có bàn thờ tưởng niệm anh linh các vị anh hùng Tổ quốc Việt Nam.

Vào thời điểm chùa đang xây dựng một số thân hữu trong các tổ chức ở Nhật Bản và Hàn Quốc muốn tặng chùa Việt Nam quả Đại Hồng Chung, thế nhưng Thầy Huyền Diệu đã từ chối. Trong suy nghĩ của ông chiếc chuông của ngôi chùa Việt Nam phải được đúc từ Việt Nam, bằng đồng của Việt Nam và do chính những người thợ Việt Nam thực hiện. Ông nói: một cái chuông được làm từ trong nước như vậy đem qua Ấn Độ đánh lên mới thật linh th iêng và có ý nghĩa. Thế là trong lần đầu tiên về nước sau hơn ba chục năm xa cách, ông tìm đến Long Thành gặp một người thợ gốc Phường Đúc ở Huế để đặt làm chiếc chuông. Hiện nay nhà chùa đã có Đại Hồng Chung nặng 2 tấn rưỡi, đường kính 1.5 mét dài 1.5 mét, cả hai đều mang đậm nét văn hóa đặc thù của Việt Nam. Thật không sao diễn tả hết nỗi xúc cảm lớn lao của nhà chùa trong ngày đón hai quả chuông mang tên Chuông Hòa Bình trải qua cuộc hành trình vạn dặm đến với ngôi chùa Việt Nam tại đất Phật.

Các tượng Phật của Việt Nam Phật Quốc Tự cũng là câu chuyện dài. Đầu tiên chùa có các tượng Phật bằng xi măng cốt sắt làm tại Thành phố Hồ Chí Minh mang sang. Mẫu mã các tượng giống như hầu hết các ngôi chùa ở miền Nam với nét mặt mang đường nét hao hao giống người Ấn Độ. Sau đó một số Phật tử sang chiêm bái đất Phật đã đề nghị nhà chùa nên cho tạc tượng bằng gỗ sơn son thếp vàng giống như những bức tượng ở các ngôi chùa miền Trung và miền Bắc, dù trải qua hàng ngàn năm vẫn giữ nguyên dáng vẻ oai nghiêm. Thầy Huyền Diệu rất tâm đắc với ý kiến này và thế là hiện nay ngôi chùa đã có được các tượng Phật gương mặt rất Việt Nam, do chính đôi tay của các nghệ nhân Việt Nam ở miền Bắc tạc nên.

Trong khi đang tiến hành việc tạc tượng Phật thì có người lại bàn: ngôi chùa được xây dựng rất đẹp nhưng các cánh cửa lại quá đơn giản, chỉ làm bằng gỗ thường lại không có hoa văn trang trí. Thế rồi họ đặt các nghệ nhân Hà Nội làm một bộ cửa bằng gỗ lim với những hoa văn trang trí thật sắc sảo đầy tính nghệ thuật truyền thống. Đây là niềm tự hào của nhà chùa và Thầy Huyền Diệu luôn tin tưởng rằng tất cả những điều này được thực hiện là do sự sắp đặt của hồn thiêng sông núi.

Ngôi chùa này có nhiều cây cao bóng mát, không gian yên tĩnh cùng với tiếng chim hót líu lo rất thích hợp cho việc tu tập và thiền định. Bên trong chùa, dọc theo những con đường nhỏ quanh co uốn lượn là các loại cây ăn quả của vùng nhiệt đới rất quen thuộc với người Việt như vải, mít, táo, cam, chanh, bưởi, xoài (gồm 30 loại khác nhau), ổi xá lị (có đến 12 loại) cùng nhiều loại cây trái khác.

Phía trước chánh điện và hai dãy phòng Pháp Xá, chùa có trồng nhiều loại hoa kiểng được mang giống từ quê nhà sang như đào, mai vàng, mai chiếu thủy, la, sứ, thiên lý... cùng các loại cây kiểng: tùng, trắc bá diệp, sao, thông, tre, tầm vông, trúc, cau, phượng vĩ, điệp tây... Mặc dù cây kiểng, hoa quả đã được trồng khá nhiều trong khuôn viên nhưng mỗi lần có ai về thăm quê hương hoặc các Phật tử các nơi sang đây Thầy Huyền Diệu đều nhờ mang thêm nhiều loại khác để giúp cho cây cảnh của chùa trở nên phong phú. Khách hành hương đến đây sẽ cảm nhận được phần nào về thiên nhiên Việt Nam trên mảnh đất trù phú của xứ Ấn Độ.

Thầy không chỉ mơ ước tạo cảnh thiên nhiên thuần túy cho chùa và môi sinh mà còn hướng đến việc duy trì lịch sử Phật giáo qua những cây cỏ có liên quan đến đời sống của Đức Phật ngày xưa như cây Sê-sam, Long hoa (Nagarsana), cỏ Cát tường, cây Diêm phù đề, cây Vô ưu, cây Sala, cây Nimpa... được chăm sóc cẩn thận như giữ một di sản.

Hiện nay chùa đã hoàn thành xong phần cơ bản, chỉ còn một số công trình nhỏ đang được tiếp tục thực hiện như Quan Âm đài có cấu trúc giống chùa Một Cột nhằm giới thiệu văn hóa Phật giáo Việt Nam cho các nước Phật giáo bạn và tháp Vạn Phật để thờ Xá Lợi Phật và 10.000 vị Phật. Sau khi hoàn tất hai công trình này nhà chùa sẽ tiếp tục xây dựng gác chuông và gác trống.

Thời điểm chúng tôi đến đây trong ngôi chùa rộng mênh mông chỉ vỏn vẹn có vài người, ngoài Thầy trụ trì còn có một sư cô là Việt kiều sinh sống tại Mỹ sang làm công quả và phụ trách cơm nước cho chùa. Nhân vật đặc biệt khác là Jean Paul, một người Pháp tuổi trung niên vốn là chủ nhà hàng, do chuyện buồn trong gia đình mà bán hết cả cơ nghiệp rồi kể từ đó anh lên đường lang thang du lịch cùng trời cuối đất. Việt Nam Phật Quốc Tự là nơi anh dừng chân làm công quả từ gần một năm nay, suốt ngày trông coi nhóm thợ người bản xứ xây dựng một số công trình dở dang của chùa. Sáng sớm cũng như buổi tối anh đều đặn lên chánh điện tụng niệm. Tuy không biết đọc kinh nhưng anh vẫn ê a với tất cả lòng thành hệt như một Phật tử thuần thành.

Đã có không ít người trong nước ghé chùa lưu lại nhiều ngày trong những chuyến hành hương chiêm bái đất Phật. Tuy chùa không có được phòng ốc đầy đủ tiện nghi như khách sạn, không có những bữa cơm thịnh soạn như những nhà hàng nhưng lại là nơi ấm áp tình nghĩa quê hương. Quà tặng ở đây thường chỉ là chiếc lá bồ đề mà thầy trò của chàu chịu khó thức dậy thật sớm đến tháp Đại giác lượm đem về. Ấy vậy mà không phải lúc nào cũng có sẵn, nhiều người phải chờ đợi mấy tháng trời mới nhận được quà tặng tâm linh này từ ngôi chùa Việt Nam đầu tiên trên đất Phật.

VARANASI ^

Ngồi trên băng đá giữa vườn cây xanh mát của ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc Tự, chúng tôi hỏi thuê một chiếc xe sáu chỗ ngồi khởi hành từ Bồ Đề Đạo Tràng đi viếng các thánh địa khác cũng tại bang Bihar rồi thẳng qua biên giới Ấn Độ - Népal. Chủ xe là Raju Kumar người Ấn vui tính và nói thạo tiếng Anh. Trong mấy ngày trên đất Ấn, chúng tôi được dặn dò phải luôn luôn mặc cả mỗi khi di chuyển, hay mua sắm vì người địa phương có thói quen nói thách với khách du lịch, đặc biệt tài xế đều xin thêm chút ít tiền khi đến nơi dù trước đó đã thỏa thuận giá cả. Lần này cũng vậy, Kumar ra giá 8.000 rupi cho chuyến đi bốn ngày dài hơn 600 cây số và mô tả đủ thứ vất vả trên đường. Sau hồi lâu, hai bên thỏa thuận với giá 6.000 rupi (tương đương 130 USD).

Năm giờ sáng hôm sau, chiếc xe pick-up hiệu Omi do Ấn Độ và Nhật hợp tác sản xuất đã có mặt trước cổng chùa. Ngày đầu tiên chúng tôi sẽ phải vượt qua con đường dài 260 cây số đến thành phố Varanasi, nơi tạm dừng chân để viếng Thánh địa Sarnath ở ngoại vi thành phố này. Kutmar cho biết phải khởi hành thật sớm và nếu không gặp trở ngại dọc đường thì có thể đến nơi vào buổi trưa.

Quả thật trên đường đi xe thường xuyên bị kẹt mỗi khi qua các thị trấn đông đúc. Hầu hết các xe chuyên chở công cộng Ấn Độ đều có đặt tượng thần với vòng hoa ở phía trước tay lái, đó vừa là đức tin của tài xế đồng thời cũng là cách tạo cảm giác yên lòng cho người ngồi trên xe đỡ phải căng thẳng vì thói quen chạy bạt mạng của các bác tài xứ Ấn. Xe đang chạy ngon trớn bổng thắng gấp vì một con mèo chạy ngang. Tài xế lập tức ngừng xe tắt máy, rồi lát sau cho nổ máy lại tiếp tục lên đường: hóa ra đó là cách “xả xui”, coi như bắt đầu một chuyến đi khác!

Một thoáng Varanasi

Chúng tôi đến Varanasi - mà nhiều người Việt Nam thường nghe nói đến với cái tên Ba la Nại - vào xế chiều. Đây là một thành phố cổ được xây dựng từ 3.000 năm trước Công nguyên năm bên bờ sông Hằng và được xem là vùng đất thiêng liêng nhất của Ấn Độ giáo. Chính vì thế, nhiều người Ấn làm ăn giàu có nơi đất khách nhưng khi qua đời vẫn được con cháu mang về thiêu xác tại đây. Trong nước thì tín đồ Ấn Độ giáo đổ về hành hương bằng mọi phương tiện, thậm chí lội bộ, có cả những người già đến đây sống những ngày cuối đời mình với niềm tin rằng ai vĩnh biệt cõi đời tại vùng đất thánh này sẽ thoát khỏi vòng luân hồi.

Trong cuốn sách viết về hành hương đất Phật xuất bản năm 1997, tác giả Brij Tankha đã giới thiệu Varanasi từng là một thành phố thương mại quan trọng và là trung tâm về tư tưởng học thuật. Thành phố này cũng là nơi ghi lại nhiều dấu ấn liên quan đến cuộc đời Đức Phật. Một trong những giai thoại là khi chuẩn bị tổ chức đám cưới cho Thái tử Tất Đạt Đa, vua cha Tịnh Phạn đã sai người đến đây mua lụa về may y phục cho cô dâu. Varanasi là thành phố nổi tiếng về tơ lụa của Ấn Độ, một mặt hàng từ thời xa xưa đã được bán đi khắp thế giới. Trong một cuộc đấu xảo, các nghệ nhân Varanasi đã làm cho mọi người phải thán phục khi đưa chiếc sari rất dài của phụ nữ Ấn được xếp vừa trong một hộp thuốc lá hoặc nằm gọn trong lòng bàn tay! Ngày nay trên khắp phố phường tại đây, đầy dẫy các cửa hàng trưng bày rực rỡ với sản phẩm chính là tơ lụa. Mặt hàng đặc sắc khác là các loại gia vị nổi tiếng của người Ấn được bày bán trong các cửa hàng nhỏ n ồng nặc đủ thứ mùi quyện lẫn với mùi hương trầm quen thuộc.

Trong quyển ký sự của mình, ngài Huyền Trang - tức Đường Tăng - đã mô tả thành phố Ba La Nại khi dừng chân tại đây vào thế kỷ thứ 7: “dân cư đông đúc, cây cối tốt tươi, ruộng nương sung túc, đền thờ Bà La Môn rất nhiều với nghệ thuật điêu khắc và sơn phết vô cùng tráng lệ”.Bức tượng Phật ngồi thuyết pháp với dáng vẽ hiền hòa và trang nghiêm mà ông từng chiêm ngưỡng nay hãy còn và được trưng bày trong viện bảo tàng tại Sarnath. Krishnamurti, vị đại sư Ấn Độ lừng danh thế giới, cũng đã chọn thành phố này làm nơi thuyết giảng trong những năm cuối đời. Còn nhà văn nổi tiếng người Mỹ Mark Twain (1835-1910), khi dừng chân tại đây trong một chuyến đi vòng quanh thế giới, đã ca tụng rằng Varanasi vượt qua cả chiều dài lịch sử, lâu đời hơn truyền thống, xa xưa và huyền thoại về bề dày văn hóa của nó bao gồm tất cả những điều vừa nói.

Là đô thị 5.000 năm, Varanasi vẫn còn nhiều con đường hẻm chật hẹp chỉ vừa cho một người đi dọc ngang giữa các khu phố cổ, ngày nay được bảo tồn gần như nguyên vẹn. Kiến trúc cổ gây ấn tượng đậm nét là những đền đài xây dựng bằng đá trên bờ sông Hằng dọc theo các bến mà người Ấn gọi là Ghat. Quần thể kiến trúc ấy mang đến cho du khách một hòai niệm sâu sắc, tưởng chừng như thời gian đang quay ngược lại hàng ngàn năm.

Chiếc Omi vất vả len lỏi trên những đường phố chật hẹp giữa dòng xe cộ như mắc cửi, vượt qua những chiếc xe thồ chở những cô gái Ấn Độ trẻ đẹp mặc AÂu phục, những phụ nữ Hồi giáo với y phục truyền thống một màu đen trùm kín mặt. Xe đưa chúng tôi về một khách sạn trung bình ở khu trung tâm nhưng có cái tên rất kêu “Vijay International” phòng ốc tươm tất với giá khá rẽ chỉ 250 rupi (khoảng 5 USD) một ngày.

Khu trung tâm thương mại sầm uất của Varanasi nằm cách bến sông không xa, đông đúc người mua kẻ bán từ sáng sớm đến giữa khuya. Ban đêm phố xá sáng trưng, người ta chen chân trên những con đường không mấy rộng rãi. Bên cạnh những cửa hàng tơ lụa vải vóc rực rỡ những đèn và màu sắc là rất nhiều các quán ăn bình dân.

Bình minh trên sông Hằng.

Tác giả Nguyễn Tường Bách trong cuốn ký sự đường xa “Mùi hương trầm”đã viết rằng: “Đến Varanasi mà không đi thăm sông Hàng lúc mặt trời mọc là xem như chưa đến”.Nhận định đầy sức thu hút cùng vài hình ảnh được tác giả này mô tả đã gợi cho chúng tôi sự háo hức chờ mau đến sáng để hưởng cảm giác ngắm cảnh bình minh trên sông Hằng.

Năm giờ sáng, trời còn tối đen mà bến sông đã ồn ào những lời mời lôi kéo khách du lịch và hét giá cao gấp năm, bảy lần. Chúng tôi may mắn gặp một ông lão chèo thuyền khoảng 70 tuổi hiền lành chân chất bằng lòng chở đi với giá 50 rupi (hơn 1 USD) cho một người, thời gian khoảng một tiếng đồng hồ. Bước chân xuống thuyền mưói nhận ra trên mặt sông đen như mực và yên lặng lúc ấy chỉ có một chiếc thuyền với ba chúng tôi. Một bé gái trên chiếc ghe nhỏ nhanh chóng cập vào mạn thuyền chào bán những chiếc đèn hoa có ngọn bấc sáng lung linh. Chúng tôi nhẹ nhàng thả những chiếc đèn nhấp nhô trên mặt nước như một lời cầu xin được an lạc. Chiếc thuyền êm đềm trôi trong khi bầu trời dần hừng sáng. Nhìn lớp cát dưới dòng sông mà hơn hai ngàn năm trước đây, Đức Phật đã dùng để nói về một khái niệm so sánh “Hằng hà sa số” (nhiều như cát sông Hằng), ngắm những tòa nhà đến tháp đồ sộ kiến trúc kỳ vĩ trên bờ, ai mà chẳng thấy lòng bồi hồi, cảm giác như trong giây phút được sống lùi lại nhiều thế kỷ.

Giờ đây trên khúc sông ngắn này đã ngược xuôi nhiều chiếc thuyền chở đầy du khách nước ngoài, có lẽ họ cũng đang chờ được ngắm cảnh mặt trời lên. Đang lúc chúng tôi còn ngẩn ngơ với cảnh vật thì ông lão chèo thuyền ái ngại cho biết suốt mấy ngày qua trời đầy mây nên không thể nhìn thấy mặt trời vào buổi sáng, điều ông nói khiến chúng tôi vô cùng tiếc rẻ.

Ông đưa thuyền đến gần các bãi thiêu xác - tập tục mai táng đặc thù của Ấn Độ. Dọc theo bến sông là những thuyền chở đầy ắp củi. Trên bờ bập bùng ánh lửa của những dàn thiêu, gần đó là thân nhân người đã khuất đang trầm lặng và trang nghiêm đứng nhìn lễ hỏa táng.

Các tín dồ Ấn Độ giáo đã bắt đầu xuống tắm gội bên bờ sông. Những con người khỏe mạnh thoải mái ngâm mình trong dòng sông đầy ô nhiểm, thành kính khấn nguyện giữa đám đông ồn ào, những hoa đèn thanh khiết lững lờ trôi một cách an nhiên giữa nhiều rác rưởi: tất cả cho thấy một sự tương phản sâu sắc.

Chắc hẳn dòng sông này ngày càng bị ô nhiễm do đã chứa đựng trong lòng nó không biết bao nhiêu tro xác và chất thải trong sinh hoạt của con người. Ấy vậy mà người ta vẫn ngày ngày ngụp lặn với niềm tin tuyệt đối sẽ được dòng nước thiêng giúp cho họ lành bệnh, bình an và kéo dài tuổi thọ. Trong lúc tín đồ Ấn Độ giáo dựa vào niềm tin tâm linh thì các nhà khoa học đã chứng minh rằng sông Hằng có khả năng làm sạch chính mình, vì trong dòng nước có những hóa chất cùng một số loại vi sinh vật mang tính kháng khuẩn rất cao, có thể tiêu diệt đến 99% vi khuẩn có trong nước sông. Người ta từng thử nghiệm bằng cách đổ chất dịch có nuôi cấy vi trùng dịch tả và bệnh lỵ vào mẫu nước sông Hằng, vài ngày sau kết quả khảo nghiệm cho thấy toàn bộ vi khuẩn đều đã chết.

Khi chúng tôi đang nghĩ rằng mình không có may mắn được ngắm bình minh trên sông Hằng thì đột nhiên khung cảnh kỳ diệu ấy biện ra ngay trước mắt, như món quà quý giá của trời đất ưu ái ban cho. Từ chân trời, vầng dương lừng lững hiện ra, lộng lẫy một màu đỏ nhưng không hề chói chang, nên tất cả mọi người đều hướng tầm mắt về khối cầu lửa sáng rực ấy để chiêm ngưỡng. Hóa ra tín đồ Ấn Độ giáo gọi Varanasi là kinh đô ánh sáng chính là vậy. Tại nơi con sông vươn ra phía biển Đông này, họ có thể vừa ngâm mình trong dòng nước thiêng liêng, vừa tận hưởng tia sáng đầu tiên trong ngày mà Thần Shiva ban phát.

Cảnh tượng rực rỡ của buổi bình minh trên sông Hằng suýt chút nữa làm chúng tôi quên mất đã đến giờ phải từ giã Varanasi để lên đường, kịp qua Népal trước giờ biên giới đóng cửa vào buổi tối.

CÂU-THI-NA nơi chốn yên bình. ^

Cách Varanasi không đầy tám cây số là Sarnath (Lộc Uyển) một thánh tích ghi dấu lần đầu thuyết giảng đầu tiên của Phật Thích Ca sau khi đắc đạo. Ngày nay Sarnath là một công viên rộng bao la, nơi duy nhất trong ba thánh địa trên đất Ấn bán vé vào tham quan. xe chúng tôi dừng lại bên ngoài một bãi đậu rợp bóng cây cổ thụ, bảng giá cổng vào khiến hầu hết du khách nước ngoài khi đến đây cảm thấy như bị “móc túi”; vé vào cửa cho người trong nước là 5 rupi còn người nước ngoài là 100 rupi tức gấp đến 20 lần, mặc dù với số tiền này chỉ tương đương khoảng hơn 2 đô la Mỹ mà thôi.

Lối xưa vườn cũ.

Từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, dưới triều đại vua A-dục (269-232), Lộc uyển (Vườn Nai) là một thiền viện to lớn và uy nghi với nhiều cây cao bóng mát thích hợp cho việc tham thiền đủ chỗ cho khoảng 1.500 tu sĩ đến tụ tập hoặc nghe thuyết giảng. Từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ thứ 7 sau Công nguyên là thời đại hoàng kim của Sarnath, ấy vậy mà dấu vết còn lại của thiền viện mênh mông với vô số giảng đường, trai phòng giờ đây chỉ là những bức tường cao thấp nhấp nhô và các nền gạch hoang tàn.

Khi chúng tôi đến vườn Lộc Uyển, nhiều đoàn hành hương gồm du khách người Nhật, Thái Lan và nhóm tu sĩ người Sri-Lanka với y phục hoàn toàn màu trắng cũng đang có mặt.

Theo kinh sách thì sau khi đắc đạo, Đức Thích Ca băng rừng tìm về Sarnath gặp lại năm vị tỳ kheo trước đây đã rời bỏ Phật vì không đồng tình với quyết định từ bỏ phương pháp tu khổ hạnh của Ngài. Lần đó khi Phật trở lại Vườn Nai, năm người bảo nhau không tiếp rước, nhưng khi tới gần thì họ bị thu hút bởi một mãnh lực lạ thường toát ra từ dáng dấp, phong thái uy nghi của Ngài. Thế là cả năm người cùng chạy đến cung kính tiếp đón, chia nhau nâng áo, cầm bình bát, dọn chỗ cho Phật ngồi. Đức Thế Tôn cho biết Ngài đã chứng ngộ được chân lý rồi thuyết giảng cho họ nghe bài kinh Chuyển pháp luân nói về Bốn chân lý diệu kỳ (Tứ diệu đế) và dạy rằng có hai điều cực đoan con người cần phải tránh xa, đó là hoặc một mực chạy theo lạc thú hoặc hoàn toàn chối bỏ lạc thú. Các vị tỳ kheo ấy trở thành tăng đoàn (sanghas) đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Sự tích này được mô tả qua quần thể tượng tại vườn Lộc Uyển ngày nay gồm tượng Phật ngồi với hai bàn tay đặt trước ngực trong tư thế bắt ấn, phía trước là năm vị tỳ keo đang cung kính cúi đầu ngồi quây quần nghe thuyết giảng.

Khi đến đây vào thế kỷ thứ 7, Huyền Trang đã nhìn thấy cột đá do vua A-dục cho xây mà ông mô tả tỉ mỉ cao hơn 20 mét và sáng loáng như gương, trên đỉnh có hình bốn con sư tử (ngày nay là quốc huy của nước Ấn Độ). Đỉnh cột đá về sau đã được tìm thấy và hiện được trưng bày trong bảo tàng ở Sarnath. Cột đá này - cũng như thiền viện - đã bị con người đập phá tang hoang sau những biến cố tôn giáo vào thế kỷ thứ 13, nay chỉ còn lại chân cột cao hơn 1 mét. Người ta tin rằng khi đến nơi đây, ai nhìn vào cột đá nầy mà thấy được bóng mình thì cầu xin điều gì cũng sẽ được linh ứng.

Tại Sarnath hiện nay vẫn còn tồn tại bảo tháp Dhamekh được xây dựng khoảng thế kỷ thứ 5, cao 13 mét đứng sừng sững giữa những bãi cỏ xanh tươi.

Cùng thời với tháp Dhamekh là bảo tháp Dharmarajka mà bên trong có chiếc hộp bằng đá cẩm thạch chứa đựng một phần xá lợi Phật, ngày nay chỉ còn lại nền đá hình tròn nhưng vẫn được nhiều khách hành hương chọn ngồi thiền định. Vào cuối thế kỷ 18, tháp này đã bị một vị thủ hiến của Ba-la-nại (Banaras, tên cũ của Varanasi) ra lệnh đập phá để lấy gạch dùng vào việc xây dựng các công trình trong đó có ngôi chợ của thành phố. Khi nhặt được hộp đá đựng tro cốt trong lòng bảo tháp, người dân địa phương đã mang ra rải trên sông Hằng theo đúng phong tục của Ấn Độ giáo.

Tại Ba-la-nại người ta cũng thường truyền tụng nhau như những câu chuyện về tiền thân Đức Phật trải qua nhiều kiếp mà một trong những kiếp đó là làm vua một đàn đông đúc khoảng 500 con nai. Truyền thuyết kể rằng một hôm vị vua xứ Ba-la-nại sai thợ săn vây bắt cả đàn nai, vua Nai - tức là tiền thân Đức Phật - liền vào thành cầu xin nhà vua tha cho thần dân của mình và hứa mỗi ngày sẽ cống nộp cho triều đình một con nai. Một hôm có con nai cái đang mang thai đến gặp vua Nai khẩn thiết xin cho hoãn ngày nạp mạng để chờ đến sau khi sinh nở, vua Nai động lòng trắc ẩn bèn tình nguyện thế mạng. Nhà vua xứ Ba-la-nại biết chuyện xúc động bèn tha cho loài nai và còn truyền lệnh không ai được phép giết hại một con nai nào cả. Không biết truyền thuyết ấy thấm vào từ tâm con người như thế nào nhưng khi chúng tôi đến đay chỉ trong thấy trong Vườn Nai năm xưa có một con nai duy nhất ốm yếu với cặp mắt mờ đục nằm buồn rầu sau hàng kẽm gai. Nhìn cảnh tượng ấy ai mà chẳng ngậm ngùi khi liên tưởng đến số phận đàn nai đông đúc thuở trước cũng chẳng khác gì ngôi thiền viện mênh mông nay đã điêu tàn.

Nơi chốn bình yên

Sau khi cùng dòng người tham quan đi thiền hành ba vòng chung quanh tháp Dhamek, chúng tôi lên đường đến Câu-thi-na (Kushinagar). Đây là nơi Phật viên tịch vào năm 483 trước công nguyên, thọ 80 tuổi.

Sau 45 năm hành đạo, một hôm tại khu rừng thôn Trúc Phương gần thành phố Vaishali, Phật báo trước với các tỳ kheo khoảng ba tháng sau sẽ đến thành Câu-thi-na thủ phủ của tộc Malla - mà nhập niết bàn.

Trong tập du ký của mình, Huyền Trang khi đến viếng nơi này vào năm 637 đã mô tả chi tiét từ căn nhà cũ của ông thợ rèn Kunda người đã cúng dường bữa cơm cuối cùng cho Phật, đến cảnh rừng cây sala nơi có một tịnh xá bằng gạch với bức tượng Đức Như Lai trong tư thế nằm đầu hướng về phía Bắc, cũng như ngọn tháp nơi cử hành lễ hỏa thiêu kim thân Phật.

Tịnh xá bằng gạch nơi Huyền Trang nhắc đến ngày nay là mọt ngôi đền màu trắng được xây lại vào năm 1956. Bên trong ngôi đền vẫn còn bức tượng Phật bằng đá hơn 6 mét mà Huyền Trang đã trong thấy xưa kia. Bức tượng có tuổi thọ ít nhất từ thế kỷ thứ 5 này được nhà khảo cổ người Anh Alexander Cunningham tìm thấy lại vào năm 1876 khi khai quật đóng đổ nát của tịnh xá xưa kia, đoàn khảo cổ phát hiện nhiều bộ hài cốt phủ phục trên bức tượng Phật nằm và người ta tin rằng đó là thi thể của những tăng sĩ liều chết lấy thân mình che chở bức tượng thiêng liêng không cho những kẻ cuồng tín hủy hoại.

Trong quyền sách tựa đề “Truyện Phật Thích Ca Mâu Ni”được dịch ra nhiều thứ tiếng, tác giả Nghiêm Khoan Hộ người Trung Quốc đã ghi rằng: “Sau khi Phật viên tịch, xá lợi đầu tiên thuộc về tộc người Malla. Tuy nhiên vua các nước chung quanh không đồng ý nên mang quân đến Câu-thi-na tranh đoạt. Sau đó nhà vua của Tiểu vương quốc Ma-kiệt-đà (Magadha) là A-xà-thế (Ajatasatru) đã đứng ra hòa giải và đi đến thỏa thuận chia xá lợi Phật ra cho tám nước mang về đặt trong bảo tháp cung dưỡng”.

Chúng tôi lặng lẽ bước vào ngôi đền, giữa không gian tĩnh lặng và trang nghiêm, tượng Phật nằm thếp vàng với nét mặt thanh thản trong lớp áo cà sa quen thuộc. Chung quanh tượng, nhiều khách hành hương thắp nến khẩn nguyện, một số người khác lấy những vuông vải mang theo cung kính đắp vào than tưởng rồi xếp lại cẩn thận vào chiếc túi nhỏ mang trước ngực.

Cùng với những khách chiêm bái khác, chúng tôi đi chậm rãi từng bước quanh tượng Phật ba vòng theo chiều kim đồng hồ, và cũng như tại những thách tích khác chúng tôi cảm nhận trong lòng một niềm an lạc vô song.

Bên ngoài ngôi đền đông đảo khách hành hương đang tụ tập, một số du khách người Nhật ngồi thiền định rải rác đây đó trên những bãi cỏ. Chúng tôi tiếc nuối giã từ nơi đây vì còn phải chạy đua với thời gian, vượt qua quãng đường hơn 200 cây số để kịp đến bên giới Ấn Độ-Népal trước 9 giờ đêm, vì sau giờ này xe hơi không được qua biên giới mà chỉ người đi bộ mới được vào đất Népal.

Lái xe có lẽ cũng trong tâm trạng nôn nóng nên khi bóng chiều dần buông xuống thì anh bắt đầu tăng tốc. Trời tối dần, chiếc xe phóng nhanh trên con đường không hề có ánh đèn. Đường ra biên giới được xem là an ninh tuyệt đối nhưng vẫn không làm cho chúng tôi yên lòng vì vào giờ ấy có quá ít xe cộ di chuyển. Các bác tài xế ở đây có cách lái xe đường dài đặc biệt là chạy gần như nghênh ngang giữa đường, vì thế mỗi khi có xe người chiều phía trước chiếu ánh đèn pha chói mắt thì chúng tôi luôn có cảm giác hai chiếc xe đang lao thẳng vào nhau. Chỉ đến khoảng cách thật gần tài xế mới nhanh nhẹn bẻ tay lái tránh đường.

Xe đến nơi chỉ vừa 15 phút trước giờ biên giới đóng cửa, chúng tôi vội vàng làm thủ tục ở Trạm biên phòng Ấn Độ, chỉ mất khoảng 5 phút, rồi nhanh chóng đến trạm kiểm soát của Népal gần kề. Các viên chức ở đây đón khách với thái độ thân thiện và chưa đầy 15 phút sau chúng tôi đã có visa nhập cảnh vào Népal sau khi đóng lệ phí 30 USD.

Từ đây đến vùng Lâm Tỳ ni chỉ còn khoảng 20 cây số, chúng tôi thở phào nhẹ nhõm và tiếp tục lên đường. Con đường dẫn đến ngôi chùa Việt Nam tại thánh địa này vắng tanh vắng ngắt gợi lên một vài lo ngại, bởi vào thời điểm ấy đất nước Népal đang được trong tình trạng chiến tranh. Hai tuần trước khi chúng tôi đến đây, báo chí quốc tế đã đưa tin về những cuộc giao tranh giữa quân Chính phủ và lực lượng Mao-ít, ngoài ra cũng vừa xảy ra vụ ám sát viên Cảnh sát trưởng Kathmandu ngay tại thủ đô Népal.

Thời tiết Népal mùa này còn rất lạnh nhất là về đêm. Trăng rằm dịu dàng phủ nhẹ một ánh sáng thanh khiết xuống khu rừng Lâm Tỳ Ni - nơi hơn 2.500 trước Phật ra đời. Khung cảnh ấy đã xua tan mọi lo âu của chúng tôi.

Mười giờ đêm, chúng tôi vui sướng bước vào ngôi chùa Việt Nam ấm áp trước sự tiếp đón niềm nở của thầy trò nhà chùa.

Lâm Tỳ Ni, thánh địa hồi sinh ^

Mới bảy giờ sáng mà trong khuôn viên ngôi chùa Việt Nam ở Lâm Tỳ Ni (Lumbini) đã rộn ràng khung cảnh của một công trường. Trên mái cong của ngôi chánh điện, mấy người thợ làng nghề xứ Huế sang đây xây dựng chùa đang cần mẫn lợp những viên ngói đỏ, bên dưới vài người lao động bản xứ khuân vác vật liệu tới lui quanh các thảm cỏ xanh.

Huệ Dũng, một thanh niên đôi mươi người Hà Nội có gương mặt thanh tú, hơn sáu tháng nay tình nguyện qua đây làm công quả, vui vẻ hỏi thăm chúng tôi đêm qua có ngủ được hay không. Chúng tôi thú thật không thể ngon giấc vì cả đêm cứ nghe văng vẳng vọng lại những âm thanh lạ lùng tựa như tiếng la hét của bầy trẻ con đang chơi đùa. Huệ Dũng bật cười cho biết đó là tiếng tru của bầy chó rừng đi kiếm mồi trong đêm và trấn an rằng không có gì nguy hiểm, vì chưa bao giờ chúng rời khỏi lãnh địa ở trong khu rừng chối cách chùa vài ba cây số.

Việt Nam Phật Quốc Tự tại Lâm Tỳ Ni tuy chưa hoàn thành nhưng đã cho thấy một quần thể kiến trúc hài hòa. Trước khi vào chùa, khách hành hương phải ngang qua cây cầu mang tên Thanh Tịnh ngụ ý nhắc nhở mọi người gột rửa những vướng bận trong đầu để cho tâm hoàn toàn thanh thản. Bước vào cổng tam quan, bên trái là chiếc cầu được thiết kế theo hình bản đồ Việt Nam có khắc tên 61 tỉnh thành, phía dưới là một hồ nhỏ trồng nhiều sen và súng. Qua khỏi một vườn hoa mọi người bắt đầu bước lên những bậc thang với hai ngọn giả sơn đồ sộ hai bên, mang ý nghĩa như một hành trình vươn lên tầm cao để đến được chánh điện.

Chánh điện có 3 tầng, tầng dưới dành để tàng trữ kinh sách, các phòng nghiên cứu ở tầng giữa còn tầng cao nhất là nơi thờ Phật. Phía sau chánh điện là hậu tổ, nơi thờ các vị thánh đệ tử và thánh tăng Phật giáo qua các niên đại. Đối diện bàn thờ Tổ là bàn thờ tưởng niệm anh linh các vị anh hùng Tổ quốc Việt Nam.

Sau tòa chánh điện là dãy pháp xá gồm thư viện, phòng làm việc và phòng ở dành cho các nghiên cứu sinh và học giả đến chùa tu tập. Một khu nhà văn hóa hai tầng cùng với dãy pháp xá thứ hai cũng sắp hoàn tất trong khuôn viên chùa hơn hai hecta.

Vùng đất bị lãng quên

Lâm Tỳ Ni thuộc quận Basti của Népal- nơi mà cách đây hơn 2.500 năm Phật được sinh ra - nay vẫn là một vùng đất xanh tươi nằm dưới chân dãy Hy Mã Lạp Sơn. Sử gia nổi tiếng thế giới Will Durant, trong tập Di sản phương Đông của bộ sách đồ sộ “Lịch sử văn minh”đã ghi lại về sự ra đời của Đức Phật như sau:

“Quốc vương Suddhodana (Tịnh Phạn) là một người thuộc giới thượng lưu của thị tộc Gautama trị vì tiểu quốc Shakya (Thích Ca), đặt thủ phủ tại Kapilavatsu (Ca-tì-la-vệ) ở chân núi Himalaya. Vào năm 563 trước Công nguyên, hoàng hậu tiểu quốc này là Maya Devi khi gần tới ngày sinh nở đã tâu với nhà vua xin được trở về quê nhà tại Devadha để sinh con đầu lòng theo đúng tục lệ thời bấy giờ.

Khi đến khoảng giữa hai châu thành, ngang qua khu vườn Lâm Tỳ Ni nơi có rất nhiều cây sala đang lúc hoa nở rộ rực rỡ, hoàng hậu ra lệnh dừng lại để dạo cảnh và tắm mát tại hồ nước trong vườn. Đến dưới gốc cây sala cổ thụ to lớn, bà vói tay định vít một cành thì nhánh cây tự nhiên rủ xuống đúng tầm tay và khi hoàng hậu vừa nắm lấy thì bổng chuyển dạ. Đám hộ giá vội vã giăng màn chung quanh và ngay lúc còn đang đứng, tay vẫn nắm cành sala, hoàng hậu hạ sinh hoàng tử. Thế là việc trở về quê nhà không cần thiết nữa và thị thần đưa hoàng hậu cùng hoàng tử trở về. Cả kinh thành mở hội ăn mừng và vị hoàng tử được đặt tên là Siddhartha (Tất Đạt Đa) có nghĩa là người mang đến điều tốt lành với tên họ (thị tộc) là Gautama (Cồ Đàm). Về sau Ngài còn được gọi là Shakya-Mumi (Thích Ca Mâu Ni) nghĩa là vị minh triết của tiểu quốc Shakya hay một tên khác là Tathagata (Như Lai) nghĩa là người nắm được chân lý.

Cũng theo Sử gia Will Durant thì đó là những tôn danh người ta đặt cho Phật chứ Ngài chưa hề có lần nào tự xưng như vậy.

Lâm Tỳ Ni đã sớm trở thành một nơi chốn hành hương. Vào năm 250 trước Công nguyên, Hoàng đế Ashoka (A-dục) trong chuyến du hành qua những vùng thánh tích Phật giáo khi đến nơi đây đã cho dựng một trụ cột với bức tường đá bao quanh để ghi dấu chuyến viếng thăm của mình. Tại Lâm Tỳ Ni còn có đền thờ Bà Maya được xây dựng khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, bên trong có phiến đá khắc họa sự tích Phật đản sinh. Vào thế kỷ thứ 7 khi Huyền Trang đến Lâm Tỳ Ni, ông vẫn còn nhìn thấy trụ đá vua A-dục lúc ấy đã bị gãy đổ phần trụ và mô tả: “Bức tường hầu như đổ nát còn trụ đá đã bị hư hại ở phần đỉnh, không phải do thời gian mà do bị sấm sét từ miệng một con rồng hung hãn thổi sập”. Sau đó không bao lâu Lâm Tỳ Ni chìm vào bóng tối của quên lãng trong hơn mười thế kỷ.

Thánh địa hồi sinh.

Lâm Tỳ Ni bắt đầu phục hồi vào năm 1985. Khi một nhà khảo cổ người Đức, Tiến sĩ Alois FÜhrer, trong một cuộc khai quật đã tìm thấy được cột đá của vua A-dục ngày xưa. Sau bao thế kỷ bị chôn vùi trong lòng đất, lạ lùng thay dòng chữ ghi lại sự kiện vị vua này đến viếng nơi này đã được viết bằng chữ Brahmi và Prakrik trên thân trụ vẫn còn nguyên vẹn: “Do sự kiện Đức Phật đã từng đản sinh tại đây, vùng Lâm Tỳ Ni được miễn thuế và giảm mức lợi tức còn một phần tám”.

Phát hiện có giá trị cực kỳ lớn lao của vị tiến sĩ khảo cổ học người Đức lúc ấy vẫn không giúp Lâm Tỳ Ni lấy lại tầm vóc lịch sử đích thực của mình. Phải hơn 70 năm sau, một lần nữa nơi đây mới được thế giới chú ý đến trong một chiến dịch quảng bá rầm rộ vào năm 1967, khi vị Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ là Ngài U Thant (người Myanmar) đến viếng thánh tích và tiến hành lễ khai mạc “Chương trình phát triển Lâm Tỳ Ni”. Khoảng 13 quốc gia, trong đó có Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Mỹ... đóng góp tài chính cho đề án qui hoạch tổng thể Lâm Tỳ Ni của vị kiến trúc sư Nhật Bản là Giáo sư Kenzo Tange. Kế hoạch này bắt đầu tiến hành bằng việc xây dựng Nhà bảo tàng, Trung tâm nghiên cứu Phật học tại đây và con đường dẫn đến vùng Lâm Tỳ Ni.

Sẽ rất thiếu sót nếu đề cập đến sự hồi sinh của Lâm Tỳ Ni mà không nhắc đến một con người suốt mấy chục năm qua đã kiên trì và âm thầm đóng góp vào việc đem lại nhiều khởi sắc cho vùng này. Đó là Thượng tọa Huyền Diệu, vị sư trù trì “Việt Nam Phật Quốc Tự” tại Lâm Tỳ Ni.

Mọi việc bắt đầu từ năm 1987, khi một số môn sinh của ông đang làm việc ở các cơ quan quốc tế sau nhiều năm kiên trì vận động đã tranh thủ được sự chấp thuận của Quốc vượng Birendra và Thủ tướng xứ Népal cấp cho thầy Huyền Diệu mảnh đất để xây dựng ngôi chùa Việt Nam tại Lâm Tỳ Ni. Một máy bay được đưa sang đón ông tại Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) về Kathmandu yết kiến nhà vua, ngay sau đó lễ ký kết giao đất đã được tiến hành với các vị đại diện Chính phủ Népal. Thầy Huyền Diệu quyết định chọn khoảnh đất gần nơi Đức Phật đản sinh, với ý nghĩ sau này sẽ thuận lợi cho Phật tử ngụ tại chùa Việt Nam đi viếng thánh tích.

Song song với việc cất chùa - bằng tiền dạy học cùng những khoản đóng góp của Phật tử khắp nơi trên thế giới - thầy Huyền Diệu cũng đã cùng với các môn sinh đi đến một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc... thuyết phục các chính phủ cũng như tổ chức tôn giáo các nước ấy nhanh chóng xây dựng ngôi chùa tại Lâm Tỳ Ni với mơ ước hình thành một Liên hiệp quốc Phật giáo nơi này. Chẳng những vậy, ông còn ra điều trần trước Quốc hội Népal để tranh thủ Chính phủ nước sở tại cấp đất cho các ngôi chùa quốc tế xây dựng tại đây, mà theo suy nghĩ của ông đó là cách tốt nhất để làm hồi sinh vùng thánh địa.

Cho đến nay có tất cả 17 ngôi chùa và trung tâm văn hóa của các nước đã và đang xây dựng tại Lâm Tỳ Ni, đây là một kết quả tốt đẹp đem lại niềm vui lớn lao cho tất cả những người thiết tha đến sự hồi sinh của thánh địa này.

Ngay từ khi ngôi chùa đầu tiên được xây dựng thì chung quanh khu vực Lâm Tỳ Ni đã hình thành vài thị trấn qui tụ đông đảo người dân các nơi khác đến sinh sống lập nghiệp làm cho nơi đây trở nên nhộn nhịp trù phú hơn. Sự hiện diện của những ngôi chùa không những tạo thêm công ăn việc làm cho người dân mà còn giúp cho ngành du lịch phát triển. Những hội nghị quốc tế về môi sinh, văn hóa, tôn giáo thường xuyên được tổ chức tại đây đã mang lại những nguồn lợi lớn cho người dân địa phương và uy tín quốc tế cho Chính phủ Népal.

Lâm Tỳ Ni hôm nay

Vào tháng 2 Lâm Tỳ Ni vẫn còn lạnh, buổi tối nhiệt độ xuống dưới 5 độ còn ban ngày thì trung bình 20 độ. Chúng tôi lưu lại đây chưa đầy 48 tiếng đồng hồ nên chỉ có một buổi tham quan thi trấn Bhairahawa và dành trọn một ngày viếng thăm Khu vườn thiêng Lâm Tỳ Ni cùng chùa chiền của các nước.

Tuy trong vùng đã xuất hiện một vài khách sạn và nhà nghỉ, như khách sạn Nhật Bản với kiến trúc mang đậm phong cách xứ mặt trời mọc hay khu nhà nghỉ của Sri Lanka dành cho khách hành hương. Lâm Tỳ Ni ngày nay vẫn chưa mang dáng dấp của một khu du lịch hấp dẫn, do vậy hầu hết du khách đến đây đều lưu lại vùng Sunauli h ay Bhairhawa cách thánh tích khoảng hơn 20 cây số.

Chỉ mất hơn nữa giờ xe hơi chúng tôi đã đến thị trấn này. Đường sá Bhairahawa còn chật hẹp nhưng khách sạn, cửa hàng internet và hàng quán tương đối tiện nghi. Đặc biệt thị trấn này có một sân bay nội địa nối với thủ đô Kathmandu của Népal. Có lẽ đây là nơi duy nhất trên thế giới mang đến cho con người những tiện ích vật chất cụ thể qua những từ ngữ đầy màu sắc tôn giáo, chẳng hạn như quốc lộ Tất Đạt Đa (Siddhartha Highway), khách sạn Niết bàn(Nirvana Hotel) hay Hãng máy bay Đức Phật (Buddha Air). Quả là sống ở trần gian mà cứ tưởng như lạc vào cõi Phật!

Khu vườn thiêng (The sacred Garden) tọa lạc ở vùng cực Nam của Lâm Tỳ Ni là một không gian rộng lớn rợp bóng mát nhiều cây cổ thụ. Khi chúng tôi đến đây, đền thờ Hoàng hậu Maya Devi đang được UNESCO trùng tu.

Kế bên đền thờ Hoàng hậu Maya là trụ đá vua A-dục cao hơn 7 mét, bao bọc chung quanh là một hàng rào sắt. Chúng tôi theo chân những khách hành hương thành kính đi thiền hành mấy vòng quanh trụ đá uy nghiêm có tuổi thọ trên 20 thế kỷ, ngắm nhìn những dòng chữ lịch sử được khác cách đây hơn 2.250 năm mà trong lòng dâng lên một niềm xúc cảm.

Một di tích quan trọng khác hơn đây là hồ Pushkarni, nơi Hoàng hậu Maya đã tắm trước khi lâm bồn mà cũng là nơi hoàng tử Tất Đạt Đa được tắm lần đầu tiên sau khi được sinh ra. Hồ này được xây lại vào năm 1933 với hình vuông, trong khi theo các nhà khảo cổ thì hồ nguyên thủy có hình tròn hoặc hình chữ nhật.

Cách Khu vườn thiêng chưa đầy một cây số là ngôi chùa Myanmar rộng lớn gồm năm khu vực điện thờ và pháp xá cùng với ngọn tháp vàng rực rỡ uy nghi. Chùa Hàn

Quốc thì được xây dựng mà khi hoàn thành sẽ có chánh điện rộng lớn chứa đến 3.000 người và pháp xá đủ chỗ cho 500 người lưu lại. Gần ấn tượng hơn cả là chùa Trung Quốc được xây dựng theo mô hình Thiếu Lâm tự thu nhỏ mà hầu hết nguyên vật liệu và nhân công được đừa từ Bắc Kinh sang. Bên trong ngôi chùa rộng lớn sạch bóng là những hành lang dài lát đá cẩm thạch đẹp đẽ dẫn đến những dãy điện thờ ngang dọc, điều này giải thích tại sao Chính phủ Trung Quốc phải tốn kém đến hơn 5 triệu đô la để xây dựng ngôi chùa này. Tại Lâm Tỳ Ni còn có các chùa Ấn Độ, Nhật Bản, Tây Tạng, Sri Lankar, Thái Lan...

Hai ngày lưu lại Lâm Tỳ Ni là quá ít nhưng không còn cách nào khác hơn theo chương trình chúng tôi phải có mặt tại Kathmandu - thủ đô Népal - để kịp chuyến bay hàng tuần về Bangkok vào ngày thứ Bảy. Nếu đi xe đò từ Bharahawa đến Kathmadu chỉ mất khoảng 200 rupi Népal (tương đương 3 USD) trong khi vé máy bay giá lên đến 81 USD. Tuy nhiên e ngại phải vượt đèo ban đêm trong một đất nước đang có chiến tranh, chúng tôi đành chọn cách đi tốn kém hơn nhưng cũng an toàn hơn.

Trưa hôm đó, sư cô Huệ Đức - một Việt kiều tại Úc sang chùa làm công quả - ân cần chuẩn bị bữa cơm chay thật tươm tất tiễn khách. Chúng tôi từ giã mọi người lên đường với tâm trạng áy náy như vừa bỏ lại sau lưng những người bạn đơn độc trong ngôi chùa Việt Nam mênh mông vắng lặng.

 

Dưới chân Hy Mã Lạp Sơn^

Phi trường Bhairahawa - cách Lâm Tì Ny khoảng hơn 20 cây số - mỗi ngày có ba chuyến bay đến thủ đô kathmandu của Nepal. Sân bay nội địa này có lẽ thuộc vào loại nhỏ nhất mà chúng tôi đã từng đi qua với một nhà ga không quá 200 mét vuông và việc kiểm tra hành lý hoàn toàn thủ công. Trước khi vào phòng cách ly, hành khách sắp hàng nam một bên nữ một bên để được khám xét. Hành khách nam đã vào cả bên trong, riêng phòng dành cho phụ nữ vẫn đóng cửa im ỉm. Anh nhân viên an ninh sân bay tất tả đi tìm người đồng nghiệp của mình đang bận đi chăm sóc ba đứa con có lẽ sinh năm một mà đứa lớn nhất mới khoảng 5 tuổi. Chị vội vã chạy vào phòng làm nhiệm vụ khám xét qua loa các nữ hành khách rồi lục tìm hộp mực, cẩn thận hà hơi lên con dấu trước khi đóng vào thẻ lên máy bay cho khách. Xong việc chị lại chạy ra ngoài chơi đùa với các con.

Hãng hàng không mang cái tên đáng kính “Đức Phật” sử dụng loại máy bay nhỏ 19 chỗ ngồi. Chuyến bay của chúng tôi bị trễ một tiếng đồng hồ, gấp đôi thời gian bay từ Bhairahawa đến Kathmandu. Nhưng rồi thời gian trễ nãi ấy được đền bù bằng sự xuất hiện của một nàng tiên trên máy bay Đức Phật với nụ cười duyên dáng. Cô tiếp viên người Nepal xinh đẹp của Hãng hàng không Buddha Air khá vất vã trong 25 phút của chuyến bay. Hành khách an vị vừa, nàng tiên đã tươi cười mang đến một cái khay trên đó có nhiều viên kẹo xanh xanh đỏ đỏ cùng những miếng bông gòn nho nhỏ xinh xinh: một thứ để ngậm miệng còn thứ kia để nhét vào lỗ tai. Đợt phục vụ thứ hai là món ăn tinh thần gồm mấy tờ báo tiếng Anh. Kế đến là hai đợt mang thức uống, cô cầm một chai Coca Cola loại lớn cùng chồng ly giấy ân cần rót cho từng vị khách. Sau đó xuất hiện với chai nước tinh khiết mời mọc lần nữa. Một lúc sau nàng tiên quay lại để thu hồi các ly giấy bỏ trong cái bao nylon lớn mà cô cầm bằng cả hai tay. Đợt cuối cùng cô vừa thu xong mấy tờ báo thì cũng là lúc máy bay chuẩn bị hạ cánh xuống thung lũng Kathmandu, bên dưới là núi đồi với những dãy ruộng lúa nằm trên bậc cấp.

Chuyến bay qua núi

Nepal có điều kiện thiên nhiên thật đa dạng - đặc biệt là dãy Himalaya kì vĩ nhất thế giới nằm ở phía Bắc - với khí hậu lục địa, nhiệt độ trung bình trong năm rất thấp do ảnh hưởng của độ cao. Bức tranh nhân chủng học ở đất nước này vô cùng phong phúc với 36 dân tộc sử dụng 70 thứ ngôn ngữ và thổ ngữ khác nhau. Nepal lại có đến 10 di sản văn hóa thế giới được UNESCO thừa nhận.

Mặc dù đất nước Nepal đang trong tình trạng chiến tranh, nhưng mấy ngày lưu lại đây chúng tôi chỉ thoáng cảm nhận không khí này khi nhìn thấy một chiếc máy bay quân sự nằm phơi mình bình yên ở phi trường Kathmandu và sau đó gặp một chiếc xe chở đầy binh lính chạy giữa đường phố của thủ đô.

Chiếc taxi đưa chúng tôi từ sân bay đến trung tâm thành phố phải len lõi giữa dòng xe cộ đông đúc trên những con đường không được bằng phẳng và khá chật hẹp. Kathmandu được xây dựng từ thế kỷ thứ X là thành phố của đền đài có kiến trúc đa dạng, các viện bảo tàng lịch sử tự nhiên với những bộ sưu tập vô cùng phong phú cùng các khu bảo tàng thiên nhiên. Thành phố rộng chưa đầy 200 dặm vuông này có nửa triệu người sinh sống, mật độ tập trung các công trình tôn giáo dày đặc đến độ người ta ví von rằng Kathmandu có đền thờ nhiều như nhà ở và tượng thánh thần nhiều như con người ở đây.

Kathmandu là trung tâm văn hóa và chính trị của Nepal, với cung điện hoàng gia ở khu trung tâm thành phố, bao bọc chung quanh là một quần thể những đền đài phần lớn bằng gỗ. Đây là một thành phố du lịch, tôn giáo và thể thao, đặc biệt môn thể thao leo núi lôi cuốn nhiều du khách phương Tây.

Chúng tôi tìm đến khu phố (....) nghĩa là thành phố sùng đạo được xây dựng vào năm 889 là nơi tập trung nhiều đền đài của cả Phật giáo lẫn Ấn độ giáo với những kiệt tác về nghệ thuật và kiến trúc của Nepal. Tại đây, mỗi công trình xây dựng đều đượm màu tôn giáo và mỗi tảng đá đều có lịch sử riêng của nó. Bhaktapur cũng là trung tâm điểm của hành hương tín đồ Ấn Độ giáo.

Một cuốn sách hướng dẫn du lịch của Nepal xuất bản năm 2002 đã ghi lại nhận xét của E.V. Powell - Nhà Đông phương học lỗi lạc đồng thời cũng là một nhà du lịch nổi tiếng thế giới - về thành phố này như sau: “Những ngôi chùa ở Cung điện mùa Hè của Từ Hy Thái hậu tại Bắc kinh. Những công trình kiến trúc bằng đá ven bờ sông Hằng ở Varanasi, các đền chùa của Thái Lan, nghệ thuật chạm khắc ở Đế Thiên Đế Thích, đền thờ Shinto ở Nhật Bản..., Bhaktapur mang một chút dáng vẻ của tất cả những cái đó mà thực ra lại không giống bất cứ nơi đây có giá trị ngang bằng với việc tham gia nửa vòng trái đất. Tại thung lũng đáng nhớ này, nghệ thuật, tăng sĩ và thợ thủ công đã cùng nhau làm nên một công trình tuyệt tác. Những kiến trúc sư tài ba của Phật giáo và Ấn Độ giáo đã gặp gỡ trong việc tạo nên vẻ nguy nga tráng lệ của những đền đài, tượng đá với chạm khắc vô cùng tinh xảo đến từng chi tiết mà không nơi nào có thể sánh kịp”.

Lang thang qua những đường phố lát đá xưa cũ, ngắm nhìn những đền thờ xây dựng bằng đá hoặc bằng gỗ cổ kính, trong một thoáng chúng tôi tưởng chừng như mình đang sống lùi lai hàng mấy trăm năm.

Dưới chân núi tuyết.

Từ giã Bhaktapur, chúng tôi háo hức tìm đến Nagarkot, địa điểm lý tưởng nhất để ngắm nhìn dãy Hy Mã Lạp Sơn. Nagarkot ở miền cực Đông của thung lũng, cách thủ đô 32 km và ở độ cao 2.190 mét, do vậy mà nhiệt độ tại đây thấp hơn ở Kathmandu.

Nagarkot trước đây là một ngôi làng khiêm tốn cùng với vài ngôi đền, nay đã mọc lên nhiều khách sạn nhỏ đúng tiêu chuẩn quốc tế đón du khách đến đây thư giãn và ngày ngày chiêm ngưỡng dãy núi tuyết vạn niên. Nagarkot có một trại lính, do vùng này có vị trí chiến lược trên đỉnh cao với tầm ngắm rõ nét 360 độ khắp chung quanh nên lực lượng quân sự đã hiện diện tại đây từ nhiều thế kỷ qua. (Địa danh Nagarkot xuất phát từ ý nghĩa này vì từ KOT có nghĩa là pháo đài, công sự). Điểm đặc biệt những người lính gác chỉ nhận xét người bản xứ đi ngang qua khu vực này còn du khách nước ngoài thì họ không hỏi đến.

Khu nghỉ mát xinh đẹp và đầy đủ tiện nghi mà chúng tôi lưu lại một đêm có tên là Manda với giá 16 USD một ngày. Từ trên khu đỉnh đồi của khu resort có thể phóng tầm mắt ch iêm ngưỡng cả một dãy núi tuyết nhấp nhô đẹp lạ thường trong sắc cầu vồng huyền ảo của buổi hoàng hôn. Nhiệt độ tại đây xuống chỉ còn 2 độ vào ban đêm nên ai cũng ngại đi ra ngoài, vì vậy khách sạn phục vụ buổi ăn tối cho khách trong phòng ngủ ấm cúng.

Chúng tôi rất hạnh phúc trải qua buổi sáng cuối cùng của chuyến du lịch cùng Thượng tọa Huyền Diệu và đệ tử của thầy là Trịnh Ngọc Phụng, một kỹ sư chuyên về phần mềm vi tính ở Úc, trẻ tuổi đẹp trai sang đây làm công quả tại chùa Việt Nam. Cả hai đến Kathmandu tối hôm qua.

Bữa điểm tâm được dọn trên sân thượng, chúng tôi vừa đón bình minh vừa ngắm dãy núi tuyết hiển hiện rực rỡ ngay trước tầm mắt. Cảnh núi non bao la nơi đây đem lại cho con người một cảm giác tự do thật lớn lao, không còn vướng bận đến những ràng buộc nhỏ nhoi và quên đi mọi lo toan cuộc sống. Sự hùng vĩ và uy nghi của những ngọn băng sơn dường như mang lại cho con người một niềm kính sợ khi cảm nhận uy lực của nó tràn ngập trong lòng. Có lẽ chính vì vậy mà trong suy nghĩ của những người thiên về tâm linh họ không bao giờ có tham vọng lên lên đỉnh cao để chinh phục. Mỗi khi đến viếng các ngọn núi thiêng của dãy Himalaya - chẳng hạn như ngọn Kailas (Ngân sơn) ở Tây tạng - khách hành hương chỉ đi vòng chung quanh, mở lòng ra để đón nhận cái thần của núi tràn ngập tâm hồn và chiêm nghiệm bản thân).

Chín giờ sáng, chúng tôi lưu luyến ngắm nhìn lần cuối dãy núi tuyết trắng xóa một màu và thầm nói lời từ biệt. Từ đây chúng tôi đi thẳng ra phi trường để kịp đáp chuyến bay quá cảnh sang Bangkok trước khi về Việt Nam.

* * *

Do nghề nghiệp mà chúng tôi có hàng bao nhiêu chuyến đi không thể nhớ hết. Có chuyến đi không để lại dấu ấn gì, lại có những nơi thậm chí chỉ vài tuần lễ đã quên mất là mình từng đi qua. Vậy mà lần này chúng tôi biết chắc rằng những kỷ niệm trong chuyến đi hành hương tìm về đất Phật sẽ mãi mãi là dấu ấn sâu đậm không bao giờ phai nhạt trong tâm tưởng.

Xin cám ơn bạn đọc đã cùng đi với chúng tôi một đoạn đường trong hành trình tìm về những giá trị xa xưa. Cũng phải đến lúc chia tay, giờ đây chúng tôi xin nói lời tạm biệt và hy vọng sẽ lại có dịp gặp gỡ nhau trong một chuyến ngao du thú vị khác.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2003

---o0o---


Chân thành cảm ơn Nhạc sĩ Võ Tá Hân đã gởi tặng phiên bản điện tử tài liệu này để bổ sung những phần thiếu sót mà trước đó Đạo hữu Nguyên Trang đã đánh máy lại từ Tạp Chí Kiến Thức Ngày Nay , Số 459-->465 /2003. ( Thích Nguyên Tạng, 4-2004)

---o0o---
Vi tính: Nguyên Trang; trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn