Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Kinh Hoa Nghiêm (quyển 1)

06/11/201318:11(Xem: 6665)
Kinh Hoa Nghiêm (quyển 1)
Kinh Hoa Nghiem HT Tri Tinh


QUYỂN 1

K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM THẾ CHỦ DIỆU NGHIÊM

THỨ NHỨT

I. Ðại Hội Vân Tập

*Như vậy, tôi nghe một lúc Phật ở nước Ma Kiệt Đà trong đạo tràng Bồ đề, ban đầu thành Vô Thượng Chánh Giác. Nơi đó đất cứng chắc bằng kim cang. Có các luân báu, hoa báu, châu ma ni thanh tịnh dùng trang nghiêm. Các châu ma ni sắc tướng hải làm tràng, thường phóng quang minh, luôn vang ra tiếng vi diệu. Các mành lưới báu, chuỗi hoa hương thơm bủa giăng rũ bốn phía. Châu ma ni bửu vương biến hiện tự tại, mưa vô tận châu báu và những hoa đẹp rải khắp mặt đất.
Cây báu giăng hàng, nhánh lá sum sê sáng rỡ.

Do thần lực của Phật làm cho đạo tràng nầy ảnh hiện tất cả sự trang nghiêm.

Cây bồ đề cao lớn lạ thường: thân bằng kim cang và lưu ly, cành cây bằng nhiều chất báu tốt đẹp, lá báu giăng che như mây, hoa báu nhiều màu đơm sáng các nhánh, trái bồ đề bằng châu ma ni chiếu sáng, như lửa ngọn xen lẫn trong hoa.

Quanh cây bồ đề đều phóng quang minh, trong quang minh rưới ma ni bửu, trong ma ni bửu có các Bồ tát xuất hiện đông nhiều như mây.

Lại do thần lực của Như Lai, cây bồ đề nầy thường vang ra tiếng vi diệu, nói các thứ pháp môn vô cùng vô tận.

Cung điện lâu đài của đức Như Lai ở rộng rãi trang nghiêm tốt đẹp khắp đến mười phương. Lâu đài nầy do châu ma ni nhiều màu hiệp thành, các thứ hoa báu đơm đẹp, những đồ trang nghiêm trong lâu đài tuôn ánh sáng như mây.

Từ trong lâu đài chói sáng kết thành bửu tràng, vô biên Bồ tát và đạo tràng chúng hội đều họp nơi đó, vì có thể xuất hiện quang minh của chư Phật. Ma ni bửu vương bất tư nghì âm kết lại thành lưới. Thần thông tự tại của Như Lai làm cho tất cả cảnh giới đều hiện trong lưới báu. Tất cả chúng sanh, cùng nơi chỗ nhà cửa của họ đều hiện bóng trong đó. Lại do thần lực của chư Phật, trong khoảng một niệm cả pháp giới đều bao gồm trong lưới.

Tòa sư tử cao rộng tốt đẹp: đài bằng châu ma ni, lưới bằng hoa sen, vòng quanh bằng bửu châu vi diệu thanh tịnh, hoa đẹp nhiều màu kết thành chuỗi.

Cung điện lâu đài cửa nẻo thềm bực, tất cả đều hoàn toàn trang nghiêm. Cây báu nhánh lá bông trái xen nhau rực rỡ. Châu ma ni chiếu sáng như mây. Chư Phật mười phương hóa hiện nơi châu vương. Bửu châu vi diệu trong búi tóc của tất cả Bồ tát đều phóng quang minh chói sáng lâu đài.

Lại do oai thần của chư Phật, chư Bồ tát diễn nói cảnh giới rộng lớn của Như Lai, tiếng đó vi diệu vang xa khắp đến tất cả chỗ.

Lúc đó, đức Thế Tôn ngự trên tòa sư tử nầy thành Vô Thượng Chánh Giác: trí Phật chứng nhập thời gian ba đời đều bình đẳng, thân Phật khắp đầy tất cả thế gian, tiếng Phật thuận khắp cõi nước mười phương. Ví như hư không bao gồm các sắc tượng, đối với các cảnh giới không chỗ phân biệt. Lại như hư không khắp cùng tất cả, bình đẳng vào trong tất cả quốc độ. Thân Phật thường khắp ngồi trong tất cả đạo tràng của chúng Bồ tát, oai quang của Phật chói rỡ như mặt trời mọc lên soi sáng thế giới. Phước đức của Phật rộng lớn như biển cả, đều đã thanh tịnh, mà luôn thị hiện sanh vào quốc độ chư Phật. Vô biên sắc tướng đầy đủ ánh sáng cùng khắp pháp giới bình đẳng không sai khác. Diễn thuyết tất cả pháp như giăng bủa mây lớn. Mỗi đầu sợi lông đều có thể dung thọ tất cả thế giới mà vẫn không chướng ngại. Ðều hiện vô lượng thần thông giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh. Thân Phật khắp mười phương mà không có tướng qua lại. Trí Phật vào tất cả tướng mà rõ thấu các pháp đều không tịch. Tất cả thần biến của chư Phật ba đời đều thấy cả trong quang minh. Tất cả sự trang nghiêm của tất cả Phật độ trong kiếp số bất tư nghì đều làm cho hiển hiện.

Có mười thế giới vi trần số đại Bồ tát theo hầu quanh Phật. Danh hiệu của các ngài là: Phổ Hiền Bồ tát, Phổ Ðức Tối Thắng Ðăng Quang Chiếu Bồ tát, Phổ Quang Sư Tử Tràng Bồ tát, Phổ Bửu Diệm Diệu Quang Bồ tát, Phổ Âm Công Ðức Hải Tràng Bồ tát, Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh Bồ tát, Phổ Bửu Kế Hoa Tràng Bồ tát, Phổ Giác Duyệt Ý Thanh Bồ Tát, Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Quang Bồ tát, Phổ Quang Minh Tướng Bồ tát, Hải Nguyệt Quang Ðại Minh Bồ tát, Vân Âm Hải Quang Vô Cấu Tạng Bồ tát, Công Ðức Bửu Kế Trí Sanh Bồ tát, Công Ðức Tự Tại Vương Ðại Quang Bồ tát, Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa Kế Bồ tát, Phổ Trí Vân Nhựt Tràng Bồ tát, Ðại Tinh Tấn Kim Cang Tê Bồ tát, Hương Diệm Quang Tràng Bồ tát, Ðại Minh Ðức Thâm Mỹ Âm Bồ tát, Ðại Phước Quang Trí Sanh Bồ tát, có mười thế giới vi trần số đại Bồ tát như vậy làm bực thượng thủ.

Từ xưa chư Bồ tát nầy cùng với Tỳ Lô Giá Na Như Lai đồng tu tập thiện căn thực hành Bồ tát hạnh, từ biển căn lành của Như Lai sanh ra, đã đầy đủ các môn ba la mật, huệ nhãn sáng suốt thấy ba đời, nơi các môn tam muội đều đầy đủ thanh tịnh, biện tài rộng lớn vô tận như biển, đủ công đức Phật tôn nghiêm đáng kính, biết căn tánh của chúng sanh thuận theo giáo hóa điều phục, vào tạng pháp giới, trí vô phân biệt, chứng giải thoát của Phật rất sâu rộng lớn, có thể tùy phương tiện vào nơi một bực mà dùng tất cả hạnh nguyện thường đi chung với trí tuệ, cùng tận thuở vị lai rõ thấu cảnh giới bí mật rộng lớn của chư Phật, khéo biết tất cả pháp bình đẳng của Phật, đã đi trên bực Phổ quang minh của Như Lai, nhập nơi vô lượng môn tam muội, đều tùy loại hiện thân khắp tất cả chỗ, đồng sự với thế gian mà thực hành thế pháp, tổng trì rộng lớn chứa nhóm tất cả pháp, biện tài thiện xảo chuyển pháp luân bất thối, biển cả công đức của tất cả Như Lai đều vào nơi thân của các Ngài, tất cả quốc độ của chư Phật các Ngài đều phát nguyện đi đến, đã từng cúng dường tất cả chư Phật trải qua vô biên số kiếp luôn hoan hỷ không nhàm, chỗ tất cả chư Phật chứng đạo Bồ đề các Ngài thường ở trong đó gần gũi không rời, thường đem nguyện thệ Phổ Hiền đã được làm cho trí thân của tất cả chúng sanh đều đầy đủ. Chư Bồ tát trên đây trọn nên vô lượng công đức như vậy.

Lại có thế giới vi trần số chấp kim cang thần: Diệu Sắc Na La Diên Thần, Nhựt Luân Tốc Tật Tràng Thần, Tu Di Hoa Quang Thần, Thanh Tịnh Vân Âm Thần, Chư Căn Mỹ Diệu Thần, Khả Ái Lạc Quang Minh Thần, Ðại Thọ Lôi Âm Thần, Sư Tử Vương Quang Minh Thần, Mật Diệm Thắng Mục Thần, Liên Hoa Quang Ma Ni Kế Thần… thế giới vi trần số kim cang thần như vậy làm bực tối thượng thủ. Chư Thần nầy thường phát nguyện lớn trong vô lượng kiếp quá khứ: nguyện thường gần gũi cúng dường chư Phật, nguyện hạnh đã được viên mãn, đã đến bỉ ngạn, chứa nhóm vô biên phước nghiệp thanh tịnh, đã thông đạt cảnh giới của các môn tam muội, đã được thần thông theo ở bên Như Lai, nhập cảnh giới bất khả tư nghì giải thoát, oai quang các Ngài rất hùng mãnh nơi chúng hội, tùy theo chúng sanh mà hiện thân để điều phục, tất cả chư Phật hóa thân ở chỗ nào thời các Ngài cũng hóa thân theo qua, chỗ của tất cả Như Lai ở các Ngài thường siêng năng hộ vệ.

Lại có thế giới vi trần số Thân Chúng Thần: Hoa Kế Trang Nghiêm Thần, Quang Chiếu Thập Phương Thần, Hải Âm Ðiều Phục Thần, Tịnh Hoa Nghiêm Kế Thần, Vô Lượng Oai Nghi Thần, Tối Thượng Quang Nghiêm Thần, Tịnh Quang Hương Vân Thần, Thủ Hộ Nhiếp Trì Thần, Phổ Hiện Nhiếp Thủ Thần, Bất Ðộng Quang Minh Thần… có thế giới vi trần số Thân Chúng Thần như vậy làm bực thượng thủ. Từ xưa chư Thần nầy đã thành tựu đại nguyện cúng dường phụng sự tất cả chư Phật.

Lại có thế giới vi trần số Túc Hành Thần: Bửu Ấn Thủ Thần, Liên Hoa Quang Thần, Thanh Tịnh Hoa Kế Thần, Nhiếp Chư Thiện Kiến Thần, Diệu Bửu Tinh Tràng Thần, Lạc Thổ Diệu Âm Thần, Chiên Ðàn Thọ Quang Thần, Liên Hoa Quang Minh Thần, Vi Diệu Quang Minh Thần, Tích Tập Diệu Hoa Thần… có thế giới vi trần số Túc Hành Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy trong vô lượng kiếp quá khứ thường gần gũi Như Lai.

Lại có thế giới vi trần số Ðạo Tràng Thần: Tịnh Trang Nghiêm Tràng Thần, Tu Di Bửu Quang Thần, Lôi Âm Tràng Tướng Thần, Vũ Hoa Diệu Nhãn Thần, Hoa Anh Quang Kế Thần, Vũ Bửu Trang Nghiêm Thần, Dõng Mãnh Hương Nhãn Thần, Kim Cang Thể Vân Thần, Liên Hoa Quang Minh Thần, Diệu Quang Chiếu Diệu Thần… có thế giới vi trần số Ðạo Tràng Thần như vậy làm bực thượng thủ. Thuở quá khứ, chư Thần nầy đã gặp vô lượng Phật thành tựu nguyện lực thường cúng dường Phật.

Lại có thế giới vi trần số Chủ Thành Thần: Bửu Phong Quang Diệu Thần, Diệu Nghiêm Cung Ðiện Thần, Thanh Tịnh Hỷ Bửu Thần, Ly Ưu Thanh Tịnh Thần, Hoa Ðăng Diệm Nhãn Thần, Diệm Tràng Minh Hiện Thần, Thạnh Phước Quang Minh Thần, Thanh Tịnh Quang Minh Thần, Hương Kế Trang Nghiêm Thần, Diệu Bửu Quang Minh Thần… có thế giới vi trần số Chủ Thành Thần như vậy làm bực thượng thủ. Trong vô lượng bất tư nghì kiếp, chư Thần nầy đều trang nghiêm thanh tịnh cung điện của Như Lai.

Lại có thế giới vi trần số Chủ Ðịa Thần: Phổ Ðức Tịnh Hoa Thần, Kiên Phước Trang Nghiêm Thần, Diệu Hoa Nghiêm Thọ Thần, Phổ Tán Chúng Bửu Thần, Tịnh Mục Quán Thời Thần, Diệu Sắc Thắng Nhãn Thần, Hương Mao Phát Quang Thần, Duyệt Ý Âm Thanh Thần, Diệu Hoa Triền Kế Thần, Kim Cang Nghiêm Thể Thần… có thế giới vi trần số Chủ Ðịa Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy thuở xưa phát nguyện rộng lớn thường gần gũi chư Phật đồng tu phước nghiệp.

Lại có vô lượng Chủ Sơn Thần: Bửu Phong Khai Hoa Thần, Hoa Lâm Diệu Kế Thần, Cao Tràng Phổ Chiếu Thần, Ly Trần Tịnh Kế Thần, Quang Chiếu Thập Phương Thần, Ðại Lực Quang Minh Thần, Oai Quang Phổ Thắng Thần, Vi Mật Quang Luân Thần, Phổ Nhãn Hiện Kiến Thần, Kim Cang Mật Nhãn Thần… có vô lượng Chủ Sơn Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đã được pháp nhãn thanh tịnh đối với các pháp.

Lại có bất tư nghì số Chủ Lâm Thần: Bố Hoa Như Vân Thần, Trạc Cán Thơ Quang Thần, Sanh Nha Phát Diệu Thần, Cát Tường Tịnh Diệp Thần, Thùy Bố Diệm Tàng Thần, Thanh Tịnh Quang Minh Thần, Khả Ý Lôi Âm Thần, Quang Hương Phổ Biến Thần, Diệu Quang Hoánh Diệu Thần, Hoa Quả Quang Vị Thần… Bất tư nghì số Chủ Lâm Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đều có vô lượng quang minh khả ái.

Lại có vô lượng Chủ Dược Thần: Cát Tường Thần, Chiên Ðàn Lâm Thần, Thanh Tịnh Quang Minh Thần, Danh Xưng Phổ Văn Thần, Mao Khổng Quang Minh Thần, Phổ Trị Thanh Tịnh Thần, Đại Phát Hống Thanh Thần, Tế Nhựt Quang Tràng Thần, Minh Kiến Thập Phương Thần, Ích Khí Minh Mục Thần… vô lượng Chủ Dược Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đều lìa cấu nhiễm, lòng nhơn từ cứu giúp muôn vật.

Lại có vô lượng Chủ Giá Thần: Nhu Nhuyến Thắng Vị Thần, Thời Hoa Tịnh Quang Thần, Sắc Lực Dũng Kiện Thần, Tăng Trưởng Tinh Khí Thần, Phổ Sanh Căn Quả Thần, Diệu Nghiêm Hoàn Kế Thần, Nhuận Trạch Tịnh Hoa Thần, Thành Tựu Diệu Hương Thần, Kiến Giả Ái Nhạo Thần, Ly Cấu Tịnh Quang Thần… có vô lượng Chủ Giá Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đều được thành tựu đại hỷ.

Lại có vô lượng Chủ Hà Thần: Phổ Phát Tánh Lưu Thần, Phổ Khiết Tuyền Giản Thần, Ly Trần Tịnh Nhãn Thần, Thập Phương Biến Hống Thần, Cứu Hộ Chúng Sanh Thần, Vô Nhiệt Tịnh Quang Thần, Phổ Sanh Hoan Hỷ Thần, Quảng Ðức Thắng Tràng Thần, Quang Chiếu Phổ Thế Thần, Hải Ðức Quang Minh Thần… có vô lượng Chủ Hà Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đều ân cần để ý lợi ích chúng sanh.

Lại có vô lượng Chủ Hải Thần: Xuất Hiện Bửu Quang Thần, Thành Kim Cang Tràng Thần, Viễn Ly Trần Cấu Thần, Phổ Thủy Cung Ðiện Thần, Cát Tường Bửu Nguyệt Thần, Diệu Hoa Long Kế Thần, Phổ Trì Quang Vị Thần, Bửu Diệm Hoa Quang Thần, Kim Cang Diệu Kế Thần, Hải Triều Lôi Âm Thần… có vô lượng Chủ Hải Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đều dùng biển cả công đức của Như Lai để đầy đủ thân mình.

Lại có vô lượng Chủ Thủy Thần: Phổ Hưng Vân Tràng Thần, Hải Triều Vân Âm Thần, Diệu Sắc Luân Kế Thần, Thiện Xảo Triền Phục Thần, Ly Cấu Hương Tích Thần, Phước Kiều Quán Âm Thần, Tri Túc Tự Tại Thần, Tịnh Hỷ Thiện Âm Thần, Phổ Hiện Oai Quang Thần, Hống Âm Biến Hải Thần… có vô lượng Chủ Thủy Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy thường siêng năng cứu hộ và làm lợi ích tất cả chúng sanh.

Lại có vô số Chủ Hỏa Thần: Phổ Quang Diệm Tàng Thần, Phổ Tập Quang Tàng Thần, Ðại Quang Phổ Chiếu Thần, Chúng Diệu Cung Ðiện Thần, Vô Tận Quang Kế Thần, Chủng Chủng Diệm Nhãn Thần, Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn Thần, Oai Quang Tự Tại Thần, Quang Minh Phá Ám Thần, Lôi Âm Ðiển Quang Thần… có vô số Chủ Hỏa Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đều có thể thị hiện các thứ quang minh làm cho chúng sanh dứt trừ những nhiệt não.

Lại có vô lượng Chủ Phong Thần: Vô Ngại Quang Minh Thần, Phổ Hiện Dũng Nghiệp Thần, Phiêu Kích Vân Tràng Thần, Tịnh Quang Trang Nghiêm Thần, Lực Năng Kiệt Thủy Thần, Ðại Thanh Biến Hống Thần, Thọ Sóc Thùy Kế Thần, Sở Hành Vô Ngại Thần, Chủng Chủng Cung Ðiện Thần, Ðại Quang Phổ Chiếu Thần… có vô lượng Chủ Phong Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy đều siêng năng làm tan dứt tâm ngã mạn.

Lại có vô lượng Chủ Không Thần: Tịnh Quang Phổ Chiếu Thần, Phổ Du Thâm Quảng Thần, Sanh Cát Tường Phong Thần, Ly Chướng An Trụ Thần, Quảng Bộ Diệu Kế Thần, Vô Ngại Quang Diệm Thần, Vô Ngại Thắng Lực Thần, Ly Cấu Quang Minh Thần, Thâm Viễn Diệu Âm Thần, Quang Biến Thập Phương Thần… có vô lượng Chủ Không Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư thần này đều xa lìa trần cấu tâm rộng lớn sáng suốt trong sạch.

Lại có vô lượng Chủ Phương Thần: Biến Trụ Nhứt Thiết Thần, Phổ Hiện Quang Minh Thần, Quang Hạnh Trang Nghiêm Thần, Châu Hành Bất Ngại Thần, Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Thần, Phổ Du Tịnh Không Thần, Ðại Vân Tràng Âm Thần, Kế Mục Vô Loạn Thần, Phổ Quán Thế Nghiệp Thần, Châu Biến Du Lãm Thần… có vô lượng Chủ Phương Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy có thể dùng phương tiện phóng quang minh thường chiếu khắp mười phương chẳng dứt.

Lại có vô lượng Chủ Dạ Thần: Phổ Ðức Tịnh Quang Thần, Hỷ Nhãn Quán Thế Thần, Hộ Thế Tinh Khí Thần, Tịch Tịnh Hải Âm Thần, Phổ Hiện Cát Tường Thần, Phổ Phát Thọ Hoa Thần, Bình Ðẳng Hộ Dục Thần, Du Hí Khoái Lạc Thần, chư Căn Thường Hỷ Thần, Xuất Sanh Tịnh Phước Thần… có vô lượng Chủ Dạ Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy thường siêng năng tu tập, vui với chánh pháp.

Lại có vô lượng Chủ Trú Thần: Thị Hiện Cung Ðiện Thần, Phát Khởi Huệ Hương Thần, Lạc Thắng Trang Nghiêm Thần, Hương Hoa Diệu Quang Thần, Phổ Tập Diệu Dược Thần, Nhạo Tác Hỷ Mục Thần, Phổ Hiện Chư Phương Thần, Ðại Bi Quang Minh Thần, Thiện Căn Quang Chiếu Thần, Diệu Hoa Anh Lạc Thần… có vô lượng Chủ Trú Thần như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thần nầy có thể sanh lòng tin hiểu nơi diệu pháp, thường cùng nhau siêng năng nghiêm sức cung điện.

Lại có vô lượng A tu la vương: La Hầu Vương, Tỳ Ma Chất Ða La Vương, Xảo Huyễn Thuật Vương, Ðại Quyến Thuộc Vương, Ðại Lực Vương, Biến Chiếu Vương, Kiên Cố Hành Diệu Trang Nghiêm Vương, Quảng Ðại Nhơn Huệ Vương, Xuất Hiện Thắng Ðức Vương, Diệu Hảo Âm Thanh Vương… có vô lượng A tu la vương như vậy làm bực thượng thủ. Các A tu la vương nầy đều đã siêng năng xô dẹp ngã mạn và những phiền não.

Lại có bất tư nghì số Ca lâu la vương: Ðại Tốc Tật Lực Vương, Vô Năng Hoại Bửu Cái Vương, Thanh Tịnh Tốc Tật Vương, Tâm Bất Thối Chuyển Vương, Ðại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực Vương, Kiên Cố Tịnh Quang Vương, Xảo Nghiêm Quang Kế Vương, Phổ Thiệp Thị Hiện Vương, Phổ Quán Hải Vương, Phổ Âm Quảng Mục Vương… có bất tư nghì số Ca lâu la vương như vậy làm thượng thủ. Các Ca lâu la vương nầy đều đã thành tựu sức phương tiện lớn, có thể cứu hộ tất cả chúng sanh.

Lại có vô lượng Khẩn na la vương: Thiện Huệ Quang Minh Thiên Vương, Diệu Hoa Tràng Vương, Chủng Chủng Trang Nghiêm Vương, Duyệt Ý Hống Thanh Vương, Bửu Thọ Quang Minh Vương, Kiến Giả Hân Lạc Vương, Tối Thắng Quang Trang Nghiêm Vương, Vi Diệu Hoa Tràng Vương, Ðộng Ðịa Lực Vương, Nhiếp Phục Ác Chúng Vương… có vô lượng Khẩn na la vương như vậy làm bực thượng thủ. Các Khẩn na la vương nầy đều siêng năng tinh tấn quán tất cả pháp, lòng thường khoái lạc du hí tự tại.

Lại có vô lượng Ma hầu la già vương: Thiện Huệ Vương, Thanh Tịnh Oai Âm Vương, Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế Vương, Diệu Mục Chủ Vương, Như Ðăng Tràng Vi Chúng Sở Quy Vương, Tối Thắng Quang Minh Tràng Vương, Sư Tử Ức Vương, Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm Vương, Tu Di Kiên Cố Vương, Khả Ái Nhạo Quang Minh Vương… có vô lượng Ma hầu la già vương như vậy làm bực thượng thủ. Các Ma hầu la già vương nầy đều siêng tu tập phương tiện rộng lớn làm cho chúng sanh dứt hẳn ngu si.

Lại có vô lượng Dạ xoa vương: Tỳ Sa Môn Vương, Tự Tại Âm Vương, Nghiêm Trì Khí Trượng Vương, Ðại Trí Huệ Vương, Diệm Nhãn Chủ Vương, Kim Cang Nhãn Vương, Dũng Kiện Tý Vương, Dũng Ðịch Đại Quân Vương, Phú Tư Tài Vương, Lực Hoại Cao Sơn Vương… có vô lượng Dạ xoa vương như vậy làm bực thượng thủ. Các Dạ xoa vương nầy đều siêng thủ hộ tất cả chúng sanh.

Lại có vô lượng Ðại Long Vương: Tỳ Lâu Bát Xoa Vương, Ta Kiệt La Vương, Vân Âm Diệu Tràng Vương, Diệm Khẩu Hải Quang Vương, Phổ Cao Vân Tràng Vương, Ðức Xoa Ca Vương, Vô Biên Bộ Vương, Thanh Tịnh Sắc Vương, Phổ Vận Ðại Thanh Vương, Vô Nhiệt Não Vương… có vô lượng Ðại Long Vương như vậy làm bực thượng thủ. Các Long Vương nầy đều siêng năng kéo mây rưới mưa làm tiêu trừ sự nhiệt não cho chúng sanh.

Lại có vô lượng Cưu bàn trà vương: Tăng Trưởng Vương, Long Chúa Vương, Thiện Trang Nghiêm Tràng Vương, Phổ Nhiêu Ích Hành Vương, Thậm Khả Bố Úy Vương, Mỹ Mục Trang Nghiêm Vương, Cao Phong Huệ Vương, Dũng Kiện Tý Vương, Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn Vương, Quảng Ðại Thiên Diệu A Tu La Nhãn Vương… có vô lượng Cưu bàn trà vương như vậy làm bực thượng thủ. Các Cưu bàn trà vương nầy đều siêng tu học pháp môn vô ngại phóng quang minh lớn.

Lại có vô lượng Càn thát bà vương: Trì Quốc Càn thát bà Vương, Thọ Quang Vương, Tịnh Mục Vương, Hoa Quan Vương, Phổ Âm Vương, Nhạo Diêu Ðộng Diệu Mục Vương, Diệu Âm Sư Tử Tràng Vương, Phổ Phóng Bửu Quang Minh Vương, Kim Cang Thọ Hoa Tràng Vương, Nhạo Phổ Hiện Quang Nghiêm Vương… có vô lượng Càn thát bà vương như vậy làm bực thượng thủ. Các Càn thát bà vương nầy đều tin hiểu sâu xa đối với đại pháp, hoan hỷ kính mến, siêng năng tu tập chẳng mỏi nhàm.

Lại có vô lượng Nguyệt Thiên Tử: Nguyệt Thiên Tử, Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử, Chúng Diệu Tịnh Quang Minh Thiên Tử, An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử, Thọ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử, Thị Hiện Thanh Tịnh Quang Thiên Tử, Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên Tử, Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử, Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử, Ðại Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử… có vô lượng Nguyệt Thiên Tử như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Tử nầy đều siêng năng mở bày tâm bửu của chúng sanh.

Lại có vô lượng Nhựt Thiên Tử: Nhựt Thiên
Tử, Quang Diệm Nhãn Thiên Tử, Tu Di Quang Khả Úy Kính Tràng Thiên Tử, Ly Cấu Bửu Trang Nghiêm Thiên Tử, Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử, Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử, Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử, Bửu Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử, Quang Minh Nhãn Thiên Tử, Trì Thắng Ðức Thiên Tử, Phổ Quang Minh Thiên Tử… có vô lượng Nhựt Thiên Tử như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Tử nầy đều siêng tu tập lợi ích chúng sanh thêm lớn căn lành cho họ.

Lại có vô lượng Ðao Lợi Thiên Vương: Thích Ca Nhơn Ðà La Thiên Vương, Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương, Từ Mục Bửu Kế Thiên Vương, Bửu Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương, Phát Sanh Hỷ Lạc Kế Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Chánh Niệm Thiên Vương, Tu Di Thắng Âm Thiên Vương, Thành Tựu Niệm Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Tịnh Hoa Quang Thiên Vương, Trí Nhựt Nhãn Thiên Vương, Tự Tại Quang Minh Năng Giác Ngộ Thiên Vương… có vô lượng Ðao Lợi Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều siêng phát khởi phước nghiệp rộng lớn của tất cả thế gian.

Lại có vô lượng Dạ Ma Thiên Vương: Thiện Thời Phần Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương, Vô Tận Huệ Công Ðức Tràng Thiên Vương, Thiện Biến Hóa Ðoan Nghiêm Thiên Vương, Tổng Trì Ðại Quang Minh Thiên Vương, Bất Tư Nghì Trí Huệ Thiên Vương, Luân Tê Thiên Vương, Quang Diệm Thiên Vương, Quang Chiếu Thiên Vương, Phổ Quan Sát Ðại Danh Xưng Thiên Vương… có vô lượng Dạ Ma Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều siêng năng tu tập căn lành rộng lớn, thường có lòng hỷ túc.

Lại có bất tư nghì số Ðâu Suất Thiên Vương: Tri Túc Thiên Vương, Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương, Tối Thắng Công Ðức Tràng Thiên Vương, Tịch Tịnh Quang Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Diệu Mục Thiên Vương, Bửu Phong Tịnh Nguyệt Thiên Vương, Tối Thắng Dũng Kiện Lực Thiên Vương, Kim Cang Diệu Quang Minh Thiên Vương, Tinh Tú Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Trang Nghiêm Thiên Vương, có bất tư nghì Ðâu Suất Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều siêng trì niệm danh hiệu của tất cả chư Phật.

Lại có vô lượng Hóa Lạc Thiên Vương: Thiện Biến Hóa Thiên Vương, Tịch Tịnh Âm Quang Minh Thiên Vương, Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương, Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương, Niệm Quang Thiên Vương, Tối Thượng Vân Âm Thiên Vương, Chúng Diệu Tối Thắng Quang Thiên Vương, Diệu Kế Quang Minh Thiên Vương, Thành Tựu Hỷ Huệ Thiên Vương, Hoa Quang Kế Thiên Vương, Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương… có vô lượng Hóa Lạc Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều siêng điều phục tất cả chúng sanh cho họ được giải thoát.

Lại có vô số Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương: Ðắc Tự Tại Thiên Vương, Diệu Mục Chủ Thiên Vương, Diệu Quang Tràng Thiên Vương, Dõng Mãnh Huệ Thiên Vương, Diệu Âm Cú Thiên Vương, Diệu Quang Tràng Thiên Vương, Tịch Tịnh Cảnh Giới Môn Thiên Vương, Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, Hoa Nhụy Huệ Tự Tại Thiên Vương, Nhơn Ðà La Lực Diệu Trang Nghiêm Quang Minh Thiên Vương… có vô lượng Tự Tại Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều siêng tu tập pháp môn rộng lớn phương tiện tự tại.

Lại có vô số Ðại Phạm Thiên Vương: Thi Khí Thiên Vương, Huệ Quang Thiên Vương, Thiện Huệ Quang Minh Thiên Vương, Phổ Vân Âm Thiên Vương, Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Thiên Vương, Tịch Tịnh Quang Minh Nhãn Thiên Vương, Quang Biến Thập Phương Thiên Vương, Biến Hóa Âm Thiên Vương, Quang Minh Chiếu Diệu Nhãn Thiên Vương, Duyệt Ý Hải Âm Thiên Vương… có vô số Phạm Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều đủ đại từ thương xót chúng sanh, phóng quang chiếu khắp làm cho chúng sanh đều vui đẹp.

Lại có vô lượng Quang Âm Thiên Vương: Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương, Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương, Năng Tự Tại Âm Thiên Vương, Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Thanh Tịnh Diệu Âm Thiên Vương, Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương, Phổ Âm Biến Chiếu Thiên Vương, Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương, Vô Cấu Xưng Quang Minh Thiên Vương, Tối Thắng Tịnh Huệ Quang Thiên Vương… có vô lượng Quang Âm Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều an trụ nơi pháp môn hỷ lạc tịch tịnh rộng lớn vô ngại.

Lại có vô lượng Biến Tịnh Thiên Vương: Thanh Tịnh Danh Xưng Thiên Vương, Tối Thắng Kiến Thiên Vương, Tịch Tịnh Ðức Thiên Vương, Tu Di Âm Thiên Vương, Tịnh Niệm Nhãn Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Tối Thắng Quang Chiếu Thiên Vương, Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương, Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương, Nhạo Tư Duy Pháp Biến Hóa Thiên Vương, Biến Hóa Tràng Thiên Vương, Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương… có vô lượng Biến Tịnh Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều đã an trụ pháp môn rộng lớn, siêng làm lợi ích cho thế gian.

Lại có vô lượng Quảng Quả Thiên Vương: Ái Nhạo Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương, Thanh Tịnh Trang Nghiêm Hải Thiên Vương, Tối Thắng Huệ Quang Minh Thiên Vương, Tự Tại Trí Huệ Tràng Thiên Vương, Nhạo Tịch Tịnh Thiên Vương, Phổ Trí Nhãn Thiên Vương, Nhạo Triền Huệ Thiên Vương, Thiện Chủng Huệ Quang Minh Thiên Vương, Vô Cấu Tịch Tịnh Quang Thiên Vương, Quảng Ðại Thanh Tịnh Quang Thiên Vương… có vô lượng Quảng Quả Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều dùng pháp tịch tịnh mà làm cung điện và an trụ trong đó.

Lại có vô số Ðại Tự Tại Thiên Vương: Diệu Diệm Hải Thiên Vương, Tự Tại Danh Xưng Quang Thiên Vương, Thanh Tịnh Công Ðức Nhãn Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Ðại Huệ Thiên Vương, Bất Ðộng Quang Tự Tại Thiên Vương, Diệu Trang Nghiêm Nhãn Thiên Vương, Thiện Tư Duy Quang Minh Thiên Vương, Khả Ái Nhạo Ðại Trí Thiên Vương, Phổ Âm Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương, Cực Tinh Tấn Danh Xưng Quang Thiên Vương, có vô số Ðại Tự Tại Thiên Vương như vậy làm bực thượng thủ. Chư Thiên Vương nầy đều siêng quán sát pháp vô tướng, chỗ thật hành bình đẳng.

*Lúc bấy giờ, hải chúng đều đã vân tập nơi đạo tràng của Như Lai. Tất cả đều nhất tâm chiêm ngưỡng Ðức Thế Tôn.

Cả chúng hội nầy đều đã rời tất cả tâm cấu nhiễm phiền não và những tập khí thừa, xô ngã tòa núi trọng chướng, được thấy Phật không bị trệ ngại. Ðại chúng nầy, từ vô lượng kiếp xa xưa, đã được sự nhiếp thọ của đức Tỳ Lô Giá Na Phật, trong thời kỳ tu Bồ tát hạnh. Họ đã được giáo hóa thành thục và đều được an trụ nơi đạo Nhứt thiết chủng trí, đã vun trồng vô lượng đức lành và đều được đại phước, đã vào nơi nguyện hải phương tiện, chỗ thực hành đều hoàn toàn thanh tịnh, đã khéo xuất ly, thường thấy Phật được rõ ràng, dùng sức thắng giải vào trong biển lớn công đức của Như Lai, đã được du hí thần thông nơi môn giải thoát của chư Phật.

II. Chư Thiên Vương Giải Thoát Môn

Diệu Diệm Hải Ðại Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn có sức phương tiện tịch tịnh khắp pháp giới hư không giới.

Tự Tại Danh Xưng Quang Thiên Vương được giải thoát môn quan sát khắp tất cả pháp đều tự tại.

Thanh Tịnh Công Ðức Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn biết tất cả pháp vô tướng, không sanh diệt, không lai khứ, vô công dụng hạnh.

Khả Ái Nhạo Ðại Huệ Thiên Vương được giải thoát môn biển trí huệ hiện thấy thiệt tướng của tất cả pháp.

Bất Ðộng Quang Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn đại định phương tiện đem lại vô biên sự an lạc cho chúng sanh.

Diệu Trang Nghiêm Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn quán sát pháp tịch tịnh dứt những si mê bố úy.

Thiện Tư Duy Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn công hạnh tư duy khéo vào vô biên cảnh giới chẳng khởi tất cả cõi hữu lậu.

Khả Ái Nhạo Ðại Trí Thiên Vương được giải thoát môn đến thuyết pháp khắp mười phương nhưng vẫn bất động vô sở y.

Phổ Âm Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương được giải thoát môn vào cảnh giới tịch tịnh khắp hiện quang minh của Phật.

Danh Xưng Quang Thiện Tinh Tấn Thiên Vương được giải thoát môn an trụ nơi chỗ tự ngộ mà dùng vô biên cảnh giới rộng lớn làm cảnh sở duyên.

Bấy giờ, Diệu Diệm Hải Thiên Vương nương oai lực của Phật, quan sát khắp các chúng Ðại Tự Tại Thiên, rồi nói kệ rằng:

Thân Phật phổ biến các đại hội

Ðầy khắp pháp giới không cùng tận

Tịch diệt vô tánh bất khả thủ

Vì cứu thế gian mà xuất hiện.

Như Lai Pháp Vương xuất thế gian

Thắp đèn diệu pháp chiếu cõi đời

Cảnh giới vô biên cũng vô tận

Ðây chỗ chứng của Tự Tại Danh.

Phật bất tư nghị rời phân biệt

Rõ mười phương đều không có tướng

Mở đạo thanh tịnh để dạy đời

Tịnh Nhãn Thiên Vương quan sát thấy.

Như Lai trí huệ vô biên tế

Tất cả thế gian chẳng lường được

Diệt lòng si tối của chúng sanh

Ðại Huệ Thiên Vương được an trụ.

Như Lai công đức bất tư nghị

Chúng sanh thấy Phật hết phiền não

Khiến khắp thế gian được an vui

Bất Ðộng Thiên Vương đã được thấy.

Chúng sanh tối tăm thường lầm lỗi

Như Lai dạy cho pháp tịch tịnh

Là đèn trí huệ sáng soi đời

Diệu Nhãn Thiên Vương có thể biết.

Sắc thân tịnh diệu của Như Lai

Hiện khắp mười phương không gì sánh

Thân Phật vô tánh vô sở y

Thiện Tư Thiên Vương quan sát được.

Thanh âm của Phật vô hạn ngại

Kẻ đáng được độ đều được nghe

Nhưng Phật vắng lặng thường bất động

Nhạo Trí Thiên Vương chứng môn nầy.

Như Lai tịch tịnh, bực giải thoát

Hiện khắp mười phương không sót chỗ

Quang minh soi sáng khắp thế gian

Nghiêm Tràng Thiên Vương đã được thấy.

Vô biên kiếp hải thuở quá khứ

Phật vì chúng sanh cầu giác đạo

Vô lượng thần thông độ muôn loài

Danh Xưng Thiên Vương đã thấy được.

Khả Ái Nhạo Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương được giải thoát môn quán sát khắp căn cơ tất cả chúng sanh để thuyết pháp dứt nghi.

Tịnh Trang Nghiêm Hải Thiên Vương được môn giải thoát theo sự tưởng niệm làm cho được thấy Phật.

Tối Thắng Huệ Quang Minh Thiên Vương được môn giải thoát thân pháp tánh bình đẳng trang nghiêm vô sở y.

Tự Tại Trí Huệ Tràng Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả pháp thế gian, trong một niệm an lập bất tư nghì biển trang nghiêm.

Nhạo Tịch Tịnh Thiên Vương được giải thoát môn nơi một lỗ chân lông hiện bất tư nghì Phật độ không chướng ngại.

Phổ Trí Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn quán sát pháp giới.

Nhạo Triền Huệ Thiên Vương được giải thoát môn vì tất cả chúng sanh trong vô biên kiếp thường xuất hiện vô lượng thân.

Thiện Chủng Huệ Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn quán tất cả cảnh giới thế gian chứng nhập pháp giới bất tư nghì.

Vô Cấu Tịch Tịnh Quang Thiên Vương được
giải thoát môn khai thị pháp xuất yếu cho tất cả chúng sanh.

Quảng Ðại Thanh Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát môn quán sát tất cả chúng sanh đáng được hóa độ làm cho họ chứng nhập Phật pháp.

Lúc đó, Khả Ái Nhạo Pháp Quang Minh Tràng Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả thiên chúng Thiểu Quảng Thiên, Vô Lượng Quảng Thiên, Quảng Quả Thiên rồi kệ rằng:

Cảnh giới của Phật bất tư nghì

Tất cả chúng sanh chẳng lường được

Khiến chúng sanh kia đều tin hiểu

Ý nguyện rộng lớn không cùng tận.

Nếu có chúng sanh kham thọ pháp

Thần lực của Phật dìu dắt họ

Khiến họ thường thấy Phật hiện tiền

Nghiêm Hải Thiên Vương thấy như vậy.

Tất cả pháp tánh vô sở y

Phật hiện thế gian cũng như vậy

Khắp trong các cõi không chỗ nương

Nghĩa nầy, Thắng Huệ quan sát được.

Theo lòng chúng sanh chỗ mong muốn

Thần lực của Phật đều hiện được

Mỗi mỗi sai khác bất tư nghì

Huệ Tràng Thiên Vương đã được chứng.

Bao nhiêu cõi nước thuở quá khứ

Trong lỗ chân lông hiện đủ cả

Ðây là chư Phật đại thần thông

Tịch Tịnh Thiên Vương tuyên thuyết được.

Tất cả pháp môn không cùng tận

Hội trong đạo tràng của một pháp

Pháp tánh như vậy Phật nói ra

Môn phương tiện nầy Trí Nhãn biết.

Bao nhiêu cõi nước ở mười phương

Xuất hiện trong đó mà thuyết pháp

Thân Phật không đến cũng không đi

Ðây, cảnh giới của Nhạo Triền Huệ.

Phật xem thế pháp như vang bóng

Vào chỗ rất sâu của pháp kia

Nói các pháp tánh thường lặng yên

Thiện Chủng Thiên Vương hay thấy biết.

Phật khéo rõ biết các cảnh giới

Theo cơ chúng sanh rưới pháp mầu

Dạy môn xuất yếu bất tư nghì

Tịch Tịnh Thiên Vương hay ngộ nhập.

Thế Tôn thường dùng từ bi lớn

Vì độ chúng sanh mà hiện thân

Bình đẳng thuyết pháp đều được nhờ

Quảng Ðại Thiên Vương đã chứng được.

Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn rõ thấu đạo phương tiện giải thoát tất cả chúng sanh.

Tối Thắng Kiến Thiên Vương được giải thoát môn khắp thị hiện theo chỗ ưa thích của tất cả chư Thiên như vang, như bóng.

Tịch Tịnh Ðức Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện lớn trang nghiêm thanh tịnh khắp tất cả cảnh giới Phật.

Tu Di Âm Thiên Vương được giải thoát môn mãi lưu chuyển trong biển sanh tử theo các chúng sanh.

Tịnh Niệm Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn nghĩ nhớ công hạnh điều phục chúng sanh của Như Lai.

Khả Ái Nhạo Phổ Chiếu Thiên Vương được giải thoát môn vô lượng phổ môn đà la ni thường diễn thuyết.

Thế Gian Tự Tại Chủ Thiên Vương được giải thoát môn có thể làm cho tất cả chúng sanh gặp Phật sanh tín tâm.

Quang Diệm Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn có thể làm cho tất cả chúng sanh nghe pháp tin mừng mà được xuất ly.

Nhạo Tư Duy Pháp Biến Hóa Thiên Vương được giải thoát môn chứng nhập công hạnh điều phục của tất cả Bồ tát vô biên vô tận như hư không.

Biến Hóa Tràng Thiên Vương được giải thoát môn bi, trí rộng lớn quán sát vô lượng phiền não của chúng sanh.

Tinh Tú Âm Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương được giải thoát môn phóng quang minh hiện thân khẩu ý của Phật nhiếp hóa chúng sanh.

Lúc đó, Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng Thiên Vương, thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả thiên chúng Thiểu Tịnh Thiên, Vô lượng Tịnh Thiên, Biến Tịnh Thiên rồi nói kệ rằng:

Rõ biết pháp tánh là vô ngại

Hiện khắp mười phương vô lượng cõi

Nơi cảnh giới Phật chẳng nghĩ bàn

Khiến chúng đồng quy biển giải thoát.

Như Lai ở đời vô sở y

Hiện trong các cõi như vang bóng

Pháp tánh rốt ráo không khởi sanh

Thắng Kiến Thiên Vương được ngộ nhập.

Từ vô lượng kiếp tu phương tiện

Thanh tịnh các cõi khắp mười phương

Pháp giới bất động thường như như

Tịnh Ðức Thiên Vương đã tỏ ngộ.

Chúng sanh ngu si bị chướng che

Mù tối thường ở trong sanh tử

Như Lai dạy cho đạo sạch trong

Tu Di Âm Vương được giải thoát.

Chư Phật thực hành đạo vô thượng

Tất cả chúng sanh không lường được

Thị hiện các thứ phương tiện môn

Tịnh Nhãn Thiên Vương quan sát rõ.

Như Lai thường dùng môn tổng trì

Nhiều như vi trần trong các cõi

Dạy bảo chúng sanh khắp mọi nơi

Phổ Chiếu Thiên Vương đã chứng nhập.

Như Lai ra đời rất khó gặp

Qua vô lượng kiếp gặp một lần

Làm cho chúng sanh hiểu biết tin

Tự Tại Chủ Thiên đã chứng được.

Phật nói pháp tánh đều vô tánh

Rộng lớn rất sâu chẳng nghĩ bàn

Khiến khắp chúng sanh khởi lòng tin

Quang Diệm Thiên Vương khéo rõ biết.

Tam thế Như Lai công đức đủ

Hóa độ chúng sanh bất tư nghì

Suy nghĩ nơi kia sanh mừng vui

Nhạo Pháp Thiên Vương khai diễn được.

Chúng sanh chìm trong biển phiền não

Kiến trược ngu si rất đáng sợ

Như Lai thương xót khiến thoát ly

Hoá Tràng Thiên Vương quan sát thấy.

Như Lai thường phóng đại quang minh

Trong mỗi quang minh vô lượng Phật

Ðều hiện Phật sự hóa chúng sanh

Diệu Âm Thiên Vương đã chứng nhập.

Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn thường hưởng thọ vui tịch tịnh mà có thể hóa hiện tiêu diệt khổ thế gian.

Thanh Tịnh Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn tâm đại bi tương ứng lòng hỷ lạc của tất cả chúng sanh.

Tự Tại Âm Thiên Vương được giải thoát môn trong một niệm khắp hiện năng lực phước đức cho tất cả chúng sanh trong vô biên kiếp.

Tối Thắng Niệm Trí Thiên Vương được giải thoát môn khiến khắp tất cả thế gian thành trụ hoại đều như hư không thanh tịnh.

Khả Ái Nhạo Tịnh Diệu Âm Thiên Vương được giải thoát môn ưa thích tin nhận giáo pháp của tất cả Thánh nhơn.

Thiện Tư Duy Âm Thiên Vương được giải thoát môn có thể trải qua kiếp số diễn thuyết nghĩa và phương tiện của tất cả địa.

Diễn Trang Nghiêm Âm Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện cúng dường tất cả Bồ tát lúc từ Ðâu Suất thiên cung giáng sanh.

Thậm Thâm Quang Âm Thiên Vương được giải thoát môn quán sát biển vô tận thần thông trí huệ.

Quảng Ðại Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn biển công đức của tất cả chư Phật đầy đủ sức phương tiện xuất hiện thế gian.

Tối Thắng Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát môn phát sanh lòng tin sâu ưa thích đối với nguyện lực thuở trước của Như Lai.

Lúc đó, Khả Ái Nhạo Quang Minh Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả thiên chúng Thiểu Quang Thiên, Vô Lượng Quang Thiên, Quang Âm Thiên rồi nói kệ rằng:

Tôi nhớ Như Lai thuở trước tu

Kính thờ cúng dường vô biên Phật

Như hạnh thanh tịnh tín tâm xưa

Thừa Phật oai thần nay đều thấy.

Thân Phật vô tướng lìa cấu nhiễm

Thường trụ từ bi luôn xót thương

Thế gian ưu khổ đều khiến trừ

Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát.

Phật pháp rộng lớn không ngằn mé

Tất cả quốc độ hiện vào trong

Cõi kia thành hoại đều chẳng đồng

Tự Tại Âm Vương môn giải thoát.

Như Lai thần lực không ai sánh

Hiện khắp mười phương cõi rộng lớn

Trang nghiêm thanh tịnh thường hiện tiền

Niệm Trí Thiên Vương đã chứng được.

Vi trần số cõi khắp mười phương

Có bao nhiêu Phật đều thờ kính

Nghe pháp dứt nhiễm chẳng luống công

Diệu Âm Thiên Vương đã chứng nhập.

Phật trong vô lượng vô số kiếp

Diễn thuyết phương tiện không ai hơn

Phật pháp vô cùng cũng vô biên

Thiện Tư Thiên Vương đã được thấy.

Như Lai thần biến vô lượng môn

Một niệm hiện ở tất cả chỗ

Giáng sanh, thành đạo phương tiện lớn

Là môn giải thoát của Nghiêm Âm.

Thần lực gia hộ hay diễn thuyết

Và hiện thần thông của chư Phật

Làm cho thanh tịnh theo căn cơ

Quang Âm Thiên Vương đã được chứng.

Như Lai trí huệ không ngằn mé

Thế gian không sánh không nhiễm trước

Từ tâm ứng vật khắp hiện tiền

Danh Xưng Thiên Vương đã được ngộ.

Phật xưa tu tập Bồ đề hạnh

Cúng dường thập phương tất cả Phật

Ở trước chư Phật phát đạo tâm

Tối Thắng Thiên Vương đã thấy biết.

Thi Khí Phạm Vương được giải thoát môn trụ khắp trong đạo tràng mười phương thuyết pháp chỗ thực hành thanh tịnh không nhiễm trước.

Huệ Quang Phạm Vương được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh nhập chánh thiền định.

Thiện Tư Huệ Quang Minh Phạm Vương được giải thoát môn vào khắp tất cả pháp bất tư nghì.

Phổ Vân Âm Phạm Vương được giải thoát môn vào tất cả biển âm thanh của chư Phật.

Quán Thế Ngôn Âm Tự Tại Phạm Vương được giải thoát môn có thể ghi nhớ phương tiện giáo hóa tất cả chúng sanh của Bồ tát.

Tịch Tịnh Quang Minh Nhãn Phạm Vương được giải thoát môn hiện tất cả tướng nghiệp báo thế gian đều sai khác.

Phổ Quang Minh Phạm Vương được giải thoát môn tùy phẩm loại sai khác của tất cả chúng sanh đều hiện thân ra trước họ để điều phục.

Biến Hóa Âm Phạm Vương được giải thoát môn trụ cảnh giới hành tướng tịch diệt thanh tịnh của tất cả pháp.

Quang Diệu Nhãn Phạm Vương được giải thoát môn đối với tất cả cõi hữu lậu không chấp trước, không y chỉ, không ngằn mé, thường siêng xuất hiện.

Duyệt Y Hải Âm Phạm Vương được giải thoát môn thường tư duy quán sát vô tận pháp.

Lúc đó, Thi Khí Ðại Phạm Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Thiên chúng Phạm Chúng Thiên, Phạm Phụ Thiên, Ðại Phạm Thiên, rồi nói kệ rằng:

Thân Phật thanh tịnh thường tịch diệt

Quang minh chói sáng khắp thế gian

Không tướng không hành không hình bóng

Ví như mây nổi giữa không gian.

Phật thân như vậy cảnh giới định

Tất cả chúng sanh không thể lường

Thị hiện phương tiện khó nghĩ bàn

Huệ Quang Thiên Vương đã ngộ được.

Thế giới vi trần biển pháp môn

Một lời diễn thuyết không còn sót

Kiếp hải như vậy nói không cùng

Thiện Tư Phạm Vương được giải thoát.

Viên âm chư Phật khắp thế gian

Chúng sanh tùy loại đều được hiểu

Nhưng nơi âm thanh vô phân biệt

Phổ Âm Phạm Vương ngộ như vậy.

Bao nhiêu chư Phật trong ba đời

Hướng đến phương tiện Bồ đề hạnh

Tất cả đều hiện nơi Phật thân

Âm Tự Tại Vương môn giải thoát.

Tất cả chúng sanh nghiệp sai khác

Tùy chỗ nhơn cảm đều khác nhau

Thế gian như vậy Phật hiện đều

Tịch Tịnh Quang Vương được ngộ nhập.

Vô lượng pháp môn đều tự tại

Ðiều phục chúng sanh khắp mười phương

Cũng chẳng phân biệt nơi trong đây

Phổ Quang Thiên Vương đã rõ biết.

Phật thân vô tận như hư không

Vô tướng vô ngại khắp mười phương

Như huyễn như hóa khắp ứng hiện

Biến Hóa Âm Vương đã ngộ được.

Thân tướng Như Lai không ngằn mé

Trí huệ âm thanh cũng như thế

Hiện thân vô trước ở thế gian

Quang Diệu Thiên Vương đã chứng nhập.

Pháp Vương an trụ cung diệu pháp

Pháp thân quang minh soi tất cả

Pháp tánh vô tướng không gì bằng

Hải Âm Phạm Vương được giải thoát.

Tự Tại Thiên Vương được giải thoát môn hiện tiền thành thục vô lượng chúng sanh tự tại.

Thiện Mục Chủ Thiên Vương được giải thoát môn quan sát sự vui của tất cả chúng sanh làm cho họ được vào cảnh giới vui của Thánh nhơn.

Diệu Bửu Tràng Quan Thiên Vương được giải thoát môn tùy theo những chỗ muốn hiểu biết của chúng sanh làm cho họ thực hành.

Dũng Mãnh Huệ Thiên Vương được giải thoát môn khắp nhiếp tất cả nghĩa diễn thuyết vì tất cả chúng sanh.

Diệu Âm Cú Thiên Vương được giải thoát môn ghi nhớ đại từ rộng lớn của Như Lai, tăng tấn công hạnh của tự mình.

Diệu Quang Tràng Thiên Vương được giải thoát môn thị hiện đại bi dứt trừ tất cả tràng kiêu mạn.

Tịch Tịnh Cảnh Thiên Vương được giải thoát môn điều phục tâm sân hại của tất cả thế gian.

Diệu Luân Trang Nghiêm Tràng Thiên Vương được giải thoát môn tùy sự nghĩ nhớ đều đến phó hội nơi đạo tràng của vô biên chư Phật mười phương.

Hoa Quang Huệ Thiên Vương được giải thoát môn tùy tâm niệm của chúng sanh khắp hiện thành chánh giác.

Nhơn Ðà La Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn oai lực tự tại lớn vào khắp tất cả thế gian.

Lúc đó, Tự Tại Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Tha Hóa Tự Tại Thiên Chúng rồi nói kệ rằng:

Phật thân cùng khắp đồng pháp giới

Khắp ứng chúng sanh đều hiện tiền

Các thứ giáo môn thường dạy trao

Nơi pháp tự tại hay khai ngộ.

Thế gian chỗ có các điều vui

Thánh tịch diệt lạc là hơn hết

Trụ trong pháp tánh lớn mênh mông

Diệu Nhãn Thiên Vương quan sát thấy.

Như Lai xuất hiện khắp mười phương

Theo tâm chúng sanh mà thuyết pháp

Tất cả lòng nghi đều dứt trừ

Diệu Tràng Thiên Vương được giải thoát.

Chư Phật khắp nơi diễn pháp mầu

Những pháp đã nói vô lượng kiếp

Hay nói hết cả nơi một lời

Dũng Mãnh Thiên Vương đã rõ biết.

Ðức từ rộng lớn của thế gian

Chẳng bằng mảy lông của đức Phật

Từ tâm của Phật như hư không

Diệu Âm Thiên Vương đã được ngộ.

Núi cao ngã mạn của chúng sanh

Phật lực dứt trừ không còn sót

Công dụng đại bi của Như Lai

Quang Tràng Thiên Vương được giải thoát.

Huệ quang thanh tịnh khắp thế gian

Những người được thấy trừ si ác

Các đường ác đạo cũng được lìa

Tịnh Cảnh Thiên Vương được tỏ ngộ.

Ánh sáng chân lông hay diễn thuyết

Hiệu chư Phật đồng số chúng sanh

Tùy chỗ thích ưa đều được nghe

Nghiêm Tràng Thiên Vương môn giải thoát.

Như Lai tự tại chẳng thể lường

Pháp giới hư không đều đầy khắp

Tất cả chúng hội thấy rõ ràng

Hoa Quang Thiên Vương chứng nhập được.

Vô lượng vô biên biển đại kiếp

Hiện khắp mười phương mà thuyết pháp

Chưa từng thấy Phật có đến đi

Diệu Quang Thiên Vương đã tỏ ngộ.

Thiện Hóa Thiên Vương được giải thoát môn khai thị tất cả thần lực biến hóa.

Tịch Tịnh Âm Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn rời bỏ tất cả phan duyên.

Biến Hóa Lực Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn trừ diệt tâm si ám của tất cả chúng sanh cho họ được đầy đủ trí huệ.

Trang Nghiêm Chủ Thiên Vương được giải thoát môn thị hiện vô biên âm thanh vừa ý.

Niệm Quang Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết vô tận tướng phước đức của tất cả chư Phật.

Tối Thượng Vân Âm Thiên Vương được giải thoát môn biết khắp thứ lớp thành hoại của tất cả kiếp quá khứ.

Thắng Quang Thiên Vương được giải thoát môn khai ngộ trí huệ tất cả chúng sanh.

Diệu Kế Thiên Vương được giải thoát môn phóng quang khắp đến hư không giới mười phương.

Hỷ Huệ Thiên Vương được giải thoát môn sức tinh tấn tất cả công việc làm không ai phá hoại được.

Hoa Quang Kế Thiên Vương được giải thoát môn biết tất cả chúng sanh tạo nghiệp thọ báo.

Phổ Kiến Thập Phương Thiên Vương được giải thoát môn thị hiện bất tư nghì thân hình chúng sanh sai khác.

Lúc đó, Thiện Hóa Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Hóa Lạc Thiên chúng rồi nói kệ rằng:

Thế gian nghiệp tánh chẳng nghĩ bàn

Phật vì quần mê đều khai thị

Khéo nói lý chơn thiệt nhơn duyên

Tất cả chúng sanh nghiệp sai khác.

Các môn quán Phật vô sở hữu

Mười phương tìm cầu bất khả đắc

Pháp thân thị hiện không chơn thiệt

Tịch Âm Thiên Vương thấy pháp nầy.

Công hạnh Phật trong vô lượng kiếp

Vì dứt si mê cho thế gian

Nên dùng tịnh quang thường chiếu soi

Lực Quang Thiên Vương đã được ngộ.

Âm thanh vi diệu của thế gian

Không thể sánh được tiếng của Phật

Phật dùng một tiếng khắp mười phương

Trang Nghiêm Thiên Vương môn giải thoát.

Bao nhiêu phước lực của thế gian

Chẳng bằng một tướng nơi thân Phật

Phước đức của Phật đồng hư không

Niệm Quang Thiên Vương đã được thấy.

Tam thế có nhiều vô lượng kiếp

Bao nhiêu hình tướng thành cùng hoại

Hiện đủ nơi trong chân lông Phật

Vân Âm Thiên Vương đã rõ biết.

Thập phương hư không có thể lường

Chân lông của Phật không lường được

Như vậy vô ngại bất tư nghì

Diệu Kế Thiên Vương đã tỏ ngộ.

Phật trong vô lượng kiếp quá khứ

Rộng tu đầy đủ ba la mật

Tinh tấn thực hành không mỏi nhàm

Hỷ Huệ Thiên Vương đã được biết.

Nhơn duyên nghiệp tánh bất tư nghì

Phật vì thế gian đều diễn thuyết

Pháp tánh thanh tịnh vốn không nhơ

Hoa Quang Thiên Vương ngộ nhập được.

Ông nên quán Phật một chân lông

Tất cả chúng sanh ở trong đó

Chúng cũng chẳng đến cũng chẳng đi

Phổ Kiến Thiên Vương đã hiểu biết.

Tri Túc Thiên Vương được giải thoát môn tất cả Phật xuất thế đều viên mãn pháp luân giáo hóa.

Hỷ Lạc Hải Kế Thiên Vương được giải thoát môn thân quang minh thanh tịnh khắp hư không giới.

Tối Thắng Công Ðức Tràng Thiên Vương được giải thoát môn nguyện hải thanh tịnh tiêu diệt khổ thế gian.

Tịch Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát môn khắp hiện thân thuyết pháp.

Thiện Mục Thiên Vương được giải thoát môn khắp thanh tịnh tất cả chúng sanh giới.

Bửu Phong Nguyệt Thiên Vương được giải thoát môn tạng vô tận thường hiện tiền giáo hóa khắp thế gian.

Dũng Kiện Lực Thiên Vương được giải thoát
môn khai thị tất cả cảnh giới Chánh giác của chư Phật.

Kim Cang Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn kiên cố tâm Bồ đề của chúng sanh làm cho không hư hoại.

Tinh Tú Tràng Thiên Vương được giải thoát môn chư Phật xuất thế đều thân cận quán sát phương tiện điều phục chúng sanh.

Diệu Trang Nghiêm Thiên Vương được giải thoát môn một niệm biết rõ tâm chúng sanh tùy cơ ứng hiện.

Lúc đó, Tri Túc Thiên Vương thừa oai lực Phật, quan sát khắp tất cả Ðâu Suất Ðà Thiên chúng rồi nói kệ rằng:

Như Lai rộng lớn khắp pháp giới

Với các chúng sanh đều bình đẳng

Khắp ứng quần sanh xiển pháp mầu

Khiến vào pháp nan tư thanh tịnh.

Phật thân hiện khắp cả mười phương

Vô trước vô ngại bất khả thủ

Các thứ sắc tượng chúng đều xem

Hỷ Kế Thiên Vương được ngộ nhập.

Như Lai thuở xưa đã tu hành

Đại nguyện thanh tịnh sâu như biển

Tất cả Phật pháp đều được đầy

Thắng Đức Thiên Vương đã được biết.

Như Lai pháp thân bất tư nghì

Như bóng phân thân khắp pháp giới

Khắp nơi xiển minh pháp diệu mầu

Tịnh Quang Thiên Vương được giải thoát.

Chúng sanh nghiệp hoặc luôn che đậy

Kiêu mạn phóng dật lòng buông lung

Như Lai vì họ dạy pháp lành

Thiện Mục Thiên Vương đã rõ biết.

Nhứt thiết thế gian chơn Đạo Sư

Vì cứu vì độ mà xuất hiện

Chỉ cho chúng sanh chỗ an vui

Phong Nguyệt Thiên Vương đã thâm nhập.

Cảnh giới chư Phật bất tư nghì

Tất cả pháp giới đều cùng khắp

Vào nơi các pháp đến bờ kia

Dũng Huệ thấy được lòng mừng rỡ.

Nếu có chúng sanh đáng dạy bảo

Nghe Phật công đức phát đạo tâm

Khiến trụ phước hải thường sạch trong

Diệu Quang Thiên Vương hay quan sát.

Mười phương quốc độ số vi trần

Tất cả chư Phật đều đến họp

Cung kính nghe pháp lại cúng dường

Tinh Tú Tràng Vương đã được thấy.

Chúng sanh tâm hải chẳng nghĩ bàn

Không trụ không nương cũng không động

Phật nơi một niệm thấy rõ ràng

Diệu Trang Nghiêm Vương khéo rõ biết.

Thời Phần Thiên Vương được giải thoát môn phát khởi thiện căn của chúng sanh khiến họ lìa hẳn ưu não.

Diệu Quang Thiên Vương được giải thoát môn vào khắp tất cả cảnh giới.

Vô Tận Huệ Công Ðức Tràng Thiên Vương được giải thoát môn sức đại bi dứt trừ tất cả khổ hoạn.

Thiện Hóa Ðoan Nghiêm Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết tâm của tất cả chúng sanh trong ba đời.

Tổng Trì Ðại Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn đà la ni quang minh ghi nhớ tất cả pháp không quên mất.

Bất Tư Nghị Huệ Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện bất tư nghì khéo vào tự tánh của tất cả nghiệp.

Luân Tê Thiên Vương được giải thoát môn phương tiện chuyển pháp luân thành thục chúng sanh.

Quang Diệm Thiên Vương được giải thoát môn quảng đại nhãn quan sát khắp chúng sanh mà đến điều phục.

Quang Chiếu Thiên Vương được giải thoát môn siêu xuất tất cả nghiệp chướng chẳng thuận theo chỗ làm của ma.

Phổ Quán Sát Ðại Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn khéo dạy bảo tất cả Thiên chúng khiến thực hành tâm thanh tịnh.

Lúc đó, Thời Phần Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Dạ Ma Thiên chúng rồi nói kệ rằng:

Phật nơi vô lượng kiếp lâu xa

Ðã cạn thế gian biển ưu não

Mở rộng đạo ly trần sạch trong

Soi sáng chúng sanh đèn trí huệ.

Như Lai pháp thân rất rộng lớn

Thập phương biên tế bất khả đắc

Tất cả phương tiện không thể lường

Diệu Quang Thiên Vương trí khéo nhập.

Sanh lão bịnh tử ưu bi khổ

Bức ngặt thế gian không tạm dứt

Như Lai xót thương nguyện dứt trừ

Vô Tận Thiên Vương đã tỏ ngộ.

Phật trí như huyễn không chướng ngại

Nơi tất cả pháp đều thấu suốt

Vào trong tâm hành của chúng sanh

Cảnh giới của Thiên Vương Thiện Hóa.

Tổng trì biên tế bất khả đắc

Biện tài đại hải cũng vô tận

Hay chuyển thanh tịnh diệu pháp luân

Ðại Quang Thiên Vương môn giải thoát.

Nghiệp tánh rộng lớn không cùng tận

Trí huệ giác ngộ khéo khai thị

Tất cả phương tiện bất tư nghì

Bất Tư Nghì Vương được ngộ nhập.

Chuyển bất tư nghì diệu pháp luân

Hiển thị tu tập Bồ đề đạo

Dứt hẳn các khổ của chúng sanh

Luân Tê Thiên Vương môn phương tiện.

Như Lai chơn thân vốn không hai

Tùy hình thế gian khắp ứng hiện

Chúng sanh đều thấy ở trước mình

Cảnh giới nầy Diệm Thiên đã chứng.

Chúng sanh một phen thấy được Phật

Tất cả nghiệp chướng sẽ trừ sạch

Lìa các nghiệp ma trọn không thừa

Là đạo sở hành của Quang Chiếu.

Tất cả chúng hội như đại hải

Phật ngự trong đó rất oai diệu

Khắp rưới pháp vũ nhuận chúng sanh

Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát.

Thích Ca Nhơn Ðà La Thiên Vương được giải thoát môn ghi nhớ chư Phật ba đời xuất thế, nhẫn đến quốc độ thành hoại đều thấy rõ rất vui mừng.

Phổ Xưng Mãn Âm Thiên Vương được giải thoát môn có thể làm cho sắc thân của Phật rất thanh tịnh rộng lớn thế gian không gì sánh bằng.

Từ Mục Bửu Kế Thiên Vương được giải thoát môn từ vân khắp che trùm.

Bửu Quang Tràng Danh Xưng Thiên Vương được giải thoát môn hằng thấy Phật hiện các thứ thân hình tướng oai đức ở trước tất cả Thế chủ.

Phát Sanh Hỷ Lạc Kế Thiên Vương được giải thoát môn biết thành ấp cung điện của tất cả chúng sanh từ phước nghiệp nào cảm ra.

Ðoan Chánh Niệm Thiên Vương được giải thoát môn khai thị công việc thành thục chúng sanh của chư Phật.

Cao Thắng Âm Thiên Vương được giải thoát môn biết tướng kiếp thành kiếp hoại chuyển biến của tất cả thế gian.

Thành Tựu Niệm Thiên Vương được giải thoát môn ghi nhớ hạnh điều phục chúng sanh của vị lai Bồ tát.

Tịnh Hoa Quang Thiên Vương được giải thoát môn rõ biết nhơn duyên khoái lạc của tất cả chư Thiên.

Trí Nhựt Nhãn Thiên Vương được giải thoát môn khai thị thiện căn thọ sanh của tất cả Thiên tử khiến không mê lầm.

Tự Tại Quang Minh Thiên Vương được giải thoát môn khai ngộ tất cả Thiên chúng dứt hẳn các điều nghi.

Lúc đó, Thích Ca Nhơn Ðà La Thiên Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Ðao Lợi Thiên chúng rồi nói kệ rằng:

Tôi nhớ tất cả tam thế Phật

Bao nhiêu cảnh giới đều bình đẳng

Các quốc độ kia hoại hoặc thành

Oai thần của Phật đều được thấy.

Phật thân rộng lớn khắp mười phương

Tướng hảo quần sanh đều lợi ích

Quang minh chói sáng khắp mọi nơi

Ðạo nầy, Phổ Xưng đã được thấy.

Ðại từ phương tiện của Như Lai

Kiếp xưa tu hành rất thanh tịnh

Hóa đạo chúng sanh thật vô biên

Bửu Kế Thiên Vương đã tỏ ngộ.

Tôi nhớ công đức của Pháp Vương

Trên hết trong đời không ai sánh

Phát sanh quảng đại hoan hỷ tâm

Bửu Quang Thiên Vương được giải thoát.

Phật biết nghiệp lành của chúng sanh

Các thứ thắng nhơn sanh đại phước

Ðiều khiến hiển hiện không có thừa

Hỷ Kế Thiên Vương đã được thấy.

Chư Phật xuất hiện khắp mười phương

Tất cả thế gian đều cùng khắp

Quán sát điều phục tâm chúng sanh

Chánh Niệm Thiên Vương đã tỏ ngộ.

Như Lai trí thân mắt rộng lớn

Vi trần thế giới đều thấy suốt

Như vậy cùng khắp nơi mười phương

Thắng Âm Thiên Vương được giải thoát.

Phật tử thực hành hạnh Bồ đề

Chân lông của Phật đều hiện đủ

Số kia vô lượng bất tư nghì

Thành Niệm Thiên Vương đã thấy rõ.

Thế gian tất cả sự an vui

Tất cả đều do Phật xuất thế

Như Lai công đức bất tư nghì

Hoa Quang Thiên Vương môn giải thoát.

Nếu niệm Như Lai chút công đức

Nhẫn đến một niệm tâm kính ngưỡng

Lo sợ ác đạo đều dứt trừ

Trí Nhãn Thiên Vương được tỏ ngộ.

Trong pháp tịch diệt đại thần thông

Tùy chúng sanh tâm đều khắp ứng

Bao nhiêu nghi hoặc khiến dứt trừ

Quang Minh Thiên Vương đã chứng được.

Nhựt Thiên Tử được giải thoát môn tịnh quang chiếu khắp mười phương chúng sanh tận kiếp vị lai thường làm lợi ích.

Quang Diệm Nhãn Thiên Tử được giải thoát môn dùng tất cả tùy loại ứng thân khai ngộ chúng sanh làm cho vào biển trí huệ.

Tu Di Quang Hoan Hỷ Tràng Thiên Tử được giải thoát môn làm chúa tất cả chúng sanh khiến siêng tu vô biên công đức thanh tịnh.

Tịnh Bửu Nhựt Thiên Tử được giải thoát môn tu tất cả khổ hạnh thâm tâm hoan hỷ.

Dũng Mãnh Bất Thối Chuyển Thiên Tử được giải thoát môn quang minh vô ngại soi khắp khiến tất cả chúng sanh được thêm tinh sáng.

Diệu Hoa Anh Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn tịnh quang chiếu khắp thân chúng sanh khiến sanh lòng vui mừng tin hiểu.

Tối Thắng Tràng Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn quang minh chiếu khắp tất cả thế gian khiến thành tựu những công đức vi diệu.

Bửu Kế Phổ Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn biển đại bi hiện vô biên cảnh giới các thứ sắc tướng trang nghiêm.

Quang Minh Nhãn Thiên Tử được giải thoát môn làm cho chúng sanh được pháp nhãn thanh tịnh thấy tạng pháp giới.

Trì Ðức Thiên Tử được giải thoát môn phát sanh tâm thanh tịnh tương tục làm cho chẳng hư hoại.

Phổ Vận Hành Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn phổ vận nhựt cung điện chiếu thập phương chúng sanh khiến việc làm được thành tựu.

Lúc đó, Nhựt Thiên Tử thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Nhựt Thiên Tử rồi nói kệ rằng:

Trí huệ quang Như Lai rộng lớn

Chiếu khắp mười phương các quốc độ

Chúng sanh đều thấy đức Như Lai

Ðiều phục quần mê nhiều phương tiện.

Như Lai sắc tướng thật vô biên

Hiện thân theo lòng chúng sanh thích

Khắp mở trí huệ cho thế gian

Diệm Nhãn Thiên Tử quan sát thấy.

Phật thân vô tỷ không ai bằng

Quang minh chiếu sáng khắp mười phương

Là bực vô thượng hơn tất cả

Pháp môn như vậy Hoan Hỷ được.

Vì lợi cho đời tu khổ hạnh

Qua lại các cõi vô lượng kiếp

Quang minh biến tịnh như hư không

Tịnh Bửu Thiên Tử đã được biết.

Phật diễn diệu âm không chướng ngại

Cùng khắp mười phương các quốc độ

Ðều dùng pháp vị lợi quần sanh

Phương tiện như đây Dũng Mãnh rõ.

Phóng quang minh lớn bất tư nghì

Thanh tịnh tất cả loài hàm thức

Ðều khiến phát sanh tin hiểu sâu

Hoa Âm Thiên Tử được ngộ nhập.

Thế gian chỗ có những quang minh

Chẳng bằng ánh sáng chân lông Phật

Phật quang như vậy bất tư nghì

Thắng Tràng Thiên Tử được giải thoát.

Tất cả chư Phật pháp như vậy

Ngồi cội Bồ đề thành Chánh giác

Khiến kẻ tà ác về đường lành

Bửu Kế Thiên Tử thấy như vậy.

Chúng sanh ngu si khổ tối tăm

Vì muốn cho họ được tịnh nhãn

Nên Phật vì họ thắp huệ đăng

Thiện Mục Thiên Tử quan sát thấy.

Ðấng tự tại phương tiện giải thoát

Nếu ai được gặp cúng một lần

Phước nầy giúp họ lần chứng quả

Phương tiện trên đây Trì Ðức được.

Vô lượng môn trong một pháp môn

Vô lượng ngàn kiếp nói như vậy

Diễn thuyết pháp môn nghĩa nhiệm mầu

Phổ Vận Quang Thiên đã hiểu rõ.

Nguyệt Thiên Tử được giải thoát môn tịnh quang chiếu khắp pháp giới nhiếp hóa chúng sanh.

Hoa Vương Kế Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn quan sát tất cả chúng sanh khiến họ vào khắp vô biên pháp.

Chúng Diệu Tịnh Quang Thiên Tử được giải thoát môn rõ biết tâm niệm phan duyên của tất cả chúng sanh.

An Lạc Thế Gian Tâm Thiên Tử được giải thoát môn đem sự vui bất tư nghì cho tất cả chúng sanh.

Thọ Vương Nhãn Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn tùy thời thủ hộ khiến được thành tựu như nông gia gieo giống.

Xuất Hiện Tịnh Quang Thiên Tử được giải thoát môn từ bi cứu hộ tất cả chúng sanh khiến họ được thấy những sự thọ khổ thọ vui.

Phổ Du Bất Ðộng Quang Thiên Tử được giải thoát môn có thể cầm mặt nguyệt thanh tịnh hiện khắp mười phương.

Tinh Tú Vương Tự Tại Thiên Tử được giải thoát môn khai thị tất cả pháp như huyễn như hư không vô tướng không tự tánh.

Tịnh Giác Nguyệt Thiên Tử được giải thoát môn vì khắp tất cả chúng sanh khởi công dụng lớn.

Ðại Oai Ðức Quang Minh Thiên Tử được giải thoát môn dứt tất cả nghi hoặc.

Lúc đó, Nguyệt Thiên Tử thừa oai lực của
Phật, quan sát khắp tất cả chư Thiên trong Nguyệt cung điện rồi nói kệ rằng:

Phật phóng quang minh khắp thế gian

Chiếu sáng mười phương các quốc độ

Chuyển pháp rộng lớn bất tư nghì

Phá hẳn chúng sanh nghiệp si ám.

Cảnh giới vô biên lại vô tận

Trong vô lượng kiếp thường khai thị

Thần lực tự tại độ quần sanh

Hoa Kế như vậy quan sát Phật.

Tâm lượng chúng sanh niệm niệm khác

Phật trí rộng lớn đều rõ biết

Thuyết pháp cho họ được vui mừng

Diệu Quang Thiên Tử được giải thoát.

Chúng sanh không có thiệt an vui

Mê chìm ác đạo thọ sự khổ

Như Lai dạy họ pháp tánh môn

Lạc Tâm Thiên Tử suy gẫm thấy.

Như Lai hy hữu đại từ bi

Vì lợi chúng sanh vào các cõi

Thuyết pháp khuyên họ khiến làm lành

Nhãn Quang Thiên Tử đã rõ biết.

Thế Tôn khai thị pháp quang minh

Phân biệt thế gian các nghiệp tánh

Chỗ làm thiện ác không mất hư

Tịnh Quang Thiên Tử lòng vui đẹp.

Phật là chỗ nương tất cả phước

Ví như địa cầu gìn cung điện

Khéo truyền đạo mầu rất an vui

Phương tiện như đây Bất Ðộng thấy.

Lửa trí sáng lớn cùng pháp giới

Hiện hình vô số đồng chúng sanh

Mở bày chơn thiệt vì muôn loài

Tinh Tú Vương Thiên được tỏ ngộ.

Phật như hư không không tự tánh

Vì lợi chúng sanh hiện thế gian

Tướng hảo trang nghiêm như bóng hình

Tịnh Giác Nguyệt Thiên thấy như vậy.

Chân lông thân Phật diễn thanh âm

Mây pháp thế gian che trùm khắp

Người thấy kẻ nghe đều vui mừng

Ðại Oai Ðức Thiên được giải thoát.

III. Chư Thần Vương Giải Thoát Môn

*Trì Quốc Càn thát bà vương được giải thoát môn phương tiện tự tại nhiếp tất cả chúng sanh.

Thọ Quang Càn thát bà vương được giải thoát môn thấy khắp tất cả công đức trang nghiêm.

Tịnh Mục Càn thát bà vương được giải thoát môn dứt hẳn ưu khổ của tất cả chúng sanh làm cho sanh lòng vui mừng.

Hoa Quan Càn thát bà vương được giải thoát môn dứt hẳn tà kiến mê lầm của tất cả chúng sanh.

Hỷ Bộ Phổ Âm Càn thát bà vương được giải thoát môn khắp che chở rưới nhuần tất cả chúng sanh như mây che mát.

Nhạo Diêu Ðộng Mỹ Mục Càn thát bà vương được giải thoát môn hiện thân xinh đẹp rộng lớn làm cho tất cả được an vui.

Diệu Âm Sư Tử Tràng Càn thát bà vương được giải thoát môn danh đồn lớn tốt lan khắp mười phương.

Phổ Phóng Bửu Quang Minh Càn thát bà vương được giải thoát môn hiện tất cả thân thanh tịnh quang minh đại hoan hỷ.

Kim Cang Thọ Hoa Tràng Càn thát bà vương được giải thoát môn khắp nhuần sum sê tất cả cây cối làm cho người thấy vui mừng.

Phổ Hiện Trang Nghiêm Càn thát bà vương được giải thoát môn khéo vào tất cả cảnh giới Phật cho chúng sanh sự an vui.

Lúc đó, Trì Quốc Càn thát bà vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Càn thát bà rồi nói kệ rằng:

Chư Phật cảnh giới vô lượng môn

Tất cả chúng sanh chẳng vào được

Phật tánh thanh tịnh như hư không

Vì khắp thế gian khai chánh đạo.

Mỗi mỗi chân lông của Như Lai

Ðầy đủ công đức như biển cả

Tất cả thế gian đều an vui

Thọ Quang Vương đây đã thấy được.

Biển khổ rộng lớn của thế gian

Phật đều có thể tiêu trừ sạch

Phật nhiều phương tiện đại từ bi

Tịnh Mục Vương nầy hiểu biết được.

Mười phương cõi nước rộng vô biên

Trí Quang của Phật đều chói sáng

Dứt trừ tất cả chấp ác tà

Môn giải thoát nầy Hoa Quan được.

Phật từ thuở xưa vô lượng kiếp

Tu tập đại từ hạnh phương tiện

Tất cả thế gian đều an vui

Phổ Âm Thần Vương hay ngộ nhập.

Phật thân thanh tịnh đều thích thấy

Hay sanh thế gian vui vô lượng

Nhơn quả giải thoát thứ đệ thành

Diêu Ðộng Mỹ Mục khéo khai thị.

Chúng sanh mê lầm thường lưu chuyển

Ngu si che chướng rất kín chắc

Như Lai vì họ nói pháp mầu

Sư Tử Tràng Vương diễn thuyết được.

Như Lai khắp hiện diệu sắc thân

Vô lượng sai khác khắp chúng sanh

Nhiều thứ phương tiện soi thế gian

Phổ Phóng Bửu Quang thấy như vậy.

Ðại Trí phương tiện vô lượng môn

Phật vì chúng sanh mà khai diễn

Vào hạnh chơn thiệt đại Bồ đề

Kim Cang Tràng Vương khéo quan sát.

Trong một sát na trăm ngàn kiếp

Phật lực hay hiện không động diêu

Khắp đem an lạc thí quần sanh

Phổ Hiện Trang Nghiêm môn giải thoát.

Tăng Trưởng Cưu bàn trà vương được giải thoát môn trừ diệt tất cả oán thù.

Long Chúa Cưu bàn trà vương được giải thoát môn tu tập vô biên công hạnh.

Trang Nghiêm Tràng Cưu bàn trà vương được
giải thoát môn biết tất cả lòng ưa thích của chúng sanh.

Nhiêu Ích Hạnh Cưu bàn trà vương được giải thoát môn khắp thành tựu công hạnh thanh tịnh sáng suốt.

Khả Bố Úy Cưu bàn trà vương được giải thoát môn khai thị đạo an ổn vô úy cho tất cả chúng sanh.

Diệu Trang Nghiêm Cưu bàn trà vương được giải thoát môn tiêu trừ biển ái dục của tất cả chúng sanh.

Cao Phong Huệ Cưu bàn trà vương được giải thoát môn khắp hiện mây sáng chói che muôn loài.

Dũng Kiện Tý Cưu bàn trà vương được giải thoát môn khắp phóng quang minh dứt chướng nặng như núi.

Vô Biên Tịnh Hoa Nhãn Cưu bàn trà vương được giải thoát môn khai thị tâm đại bi bất thối chuyển.

Quảng Ðại Diện Cưu bàn trà vương được giải thoát môn khắp hiện thân lưu chuyển trong các loài.

Lúc đó, Tăng Trưởng Cưu bàn trà vương thừa
oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Cưu bàn trà mà nói kệ rằng:

Thành tựu nhẫn lực Thế Ðạo Sư

Vì người tu hành vô lượng kiếp

Lìa hẳn kiêu mạn cùng mê lầm

Nên thân của Phật rất nghiêm tịnh.

Từ xưa đức Phật đã tu hành

Giáo hóa thập phương vô lượng chúng

Các thứ phương tiện lợi quần sanh

Môn giải thoát nầy Long Chúa được.

Phật dùng đại trí cứu chúng sanh

Thấy biết rõ ràng tâm của họ

Phương tiện tự tại khéo dắt dìu

Nghiêm Tràng Vương thấy lòng hoan hỷ.

Thần thông ứng hiện như bóng vang

Pháp luân như không thường chơn thiệt

Vô ương số kiếp ở nơi đời

Nhiêu Ích Hạnh Vương đã được chứng.

Chúng sanh mù lòa thường tối tăm

Phật quang chiếu hiện đường an ổn

Cứu hộ muôn loài khổ được trừ

Khả Bố Úy Vương quan sát thấy.

Biển dục trôi chìm đủ sự khổ

Trí quang chiếu khắp đều tiêu diệt

Khổ đã dứt trừ dạy pháp mầu

Diệu Trang Nghiêm Vương được tỏ ngộ.

Phật thân phổ ứng người đều thấy

Nhiều môn phương tiện độ chúng sanh

Tiếng như sấm nổ rưới mưa pháp

Cao Phong Huệ Vương được chứng nhập.

Quang minh thanh tịnh thường lợi ích

Gặp được Phật quang tiêu chướng nặng

Công đức của Phật vốn vô biên

Thâm lý như đây Dũng Tý biết.

Vì muốn an vui các chúng sanh

Phật tu đại bi vô lượng kiếp

Tất cả khốn khổ phương tiện trừ

Vô Biên Tịnh Hoa đã thấy rõ.

Thần thông tự tại bất tư nghì

Thân Phật hiện khắp mười phương cõi

Nhưng vẫn bất động không khứ lai

Quảng Ðại Diện Vương đã hiểu rõ.

Tỳ Lâu Bát Xoa Long Vương được giải thoát môn tiêu diệt tất cả khổ hoạn của loài rồng.

Ta Kiệt La Long Vương được giải thoát môn trong một niệm chuyển hình rồng hiện vô lượng thân chúng sanh.

Vân Âm Tràng Long Vương được giải thoát
môn ở trong các loài dùng tiếng thanh tịnh nói vô biên danh hiệu của chư Phật.

Diệm Khẩu Long Vương được giải thoát môn hiện khắp vô biên thế giới kiến lập sai khác.

Diệm Nhãn Long Vương được giải thoát môn Như Lai từ mẫn trừ diệt sân si của tất cả chúng sanh.

Vân Tràng Long Vương được giải thoát môn khai thị phước đức hỷ lạc lớn cho tất cả chúng sanh.

Ðức Xoa Ca Long Vương được giải thoát môn dùng tiếng thanh tịnh cứu hộ dứt trừ tất cả sự bố úy.

Vô Biên Bộ Long Vương được giải thoát môn thị hiện tất cả sắc thân của Phật và trụ kiếp thứ đệ.

Thanh Tịnh Sắc Tốc Tật Long Vương được giải thoát môn xuất sanh sự ưa thích vui mừng lớn cho tất cả chúng sanh.

Phổ Hành Ðại Âm Long Vương được giải thoát môn thị hiện tất cả âm thanh vô ngại bình đẳng thích ý.

Vô Nhiệt Não Long Vương được giải thoát môn dùng mây đại bi che khắp dứt sự khổ của tất cả thế gian.

Lúc đó, Tỳ Lâu Bát Xoa Long Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả Long chúng rồi nói kệ rằng:

Quán sát Như Lai pháp chơn thường

Tất cả chúng sanh đều lợi ích

Dùng lòng đại từ luôn xót thương

Cứu kẻ trôi chìm lo sợ khổ.

Tất cả chúng sanh đều sai khác

Một chân lông Phật đủ thị hiện

Thần thông biến hóa khắp thế gian

Ta Kiệt Long Vương quan sát thấy.

Phật dùng thần thông không hạn lượng

Rộng nói danh hiệu khắp chúng sanh

Tùy lòng ưa thích đều được nghe

Vân Âm Long Vương được tỏ ngộ.

Vô lượng vô biên các quốc độ

Có thể đem vào một chân lông

Như Lai an tọa chúng hội kia

Diệm Khẩu Long Vương đã thấy được.

Tất cả chúng sanh lòng sân hận

Ngu si ràng buộc chìm biển khổ

Như Lai xót thương đều dứt trừ

Diệm Nhãn Long Vương quan sát thấy.

Bao nhiêu phước đức của chúng sanh

Trong chân lông Phật đều hiển hiện

Hiện rồi đồng về biển đại phước

Vân Tràng Long Vương đã quan sát.

Chân lông thân Phật phát trí quang

Trí quang khắp nơi thuyết diệu pháp

Chúng sanh được nghe hết sợ lo

Ðức Xoa Long Vương đã được ngộ.

Tam thế tất cả chư Như Lai

Quốc độ trang nghiêm kiếp thứ đệ

Như vậy đều hiện nơi Phật thân

Biên Bộ Long Vương được thấy biết.

Như Lai công hạnh thuở xa xưa

Cúng dường tất cả vô lượng Phật

Cúng rồi thêm lớn lòng vui mừng

Tốc Tật Long Vương được chứng nhập.

Âm thanh của Phật thuận theo loài

Vì họ thuyết pháp được hỷ lạc

Tiếng Phật thanh nhã chúng vui lòng

Ðại Âm Long Vương lòng tỏ ngộ.

Chúng sanh bức ngặt trong các cõi

Nghiệp hoặc trôi chìm không người cứu

Phật dùng đại bi khiến thoát lìa

Vô Nhiệt Long Vương đã chứng được.

Tỳ Sa Môn Dạ xoa vương được giải thoát
môn dùng vô biên phương tiện cứu khổ chúng sanh ác.

Tự Tại Âm Dạ xoa vương được giải thoát môn quan sát khắp chúng sanh dùng phương tiện cứu hộ.

Nghiêm Trì Khí Trượng Dạ xoa vương được giải thoát môn có thể giúp ích tất cả chúng sanh rất ác.

Ðại Trí Huệ Dạ xoa vương được giải thoát môn xưng dương công đức của tất cả thánh nhơn.

Diệm Nhãn Chúa Dạ xoa vương được giải thoát môn đại bi trí quán sát khắp tất cả chúng sanh.

Kim Cang Nhãn Dạ xoa vương được giải thoát môn các thứ phương tiện lợi ích an lạc tất cả chúng sanh.

Dũng Kiện Tý Dạ xoa vương được giải thoát môn khắp vào nghĩa lý của tất cả pháp.

Dũng Ðịch Ðại Quân Dạ xoa vương được giải thoát môn hộ vệ tất cả chúng sanh khiến đều trụ nơi chánh đạo.

Phú Tài Dạ xoa vương được giải thoát môn tăng trưởng phước đức của tất cả chúng sanh khiến họ luôn được khoái lạc.

Lực Hoại Cao Sơn Dạ xoa vương được giải thoát môn tùy thuận ức niệm xuất sanh trí lực quang minh của Phật.

Lúc đó, Ða Văn Ðại Dạ xoa vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Dạ Xoa rồi nói kệ rằng:

Chúng sanh tội ác đã quá sâu

Trăm ngàn kiếp qua chẳng thấy Phật

Trôi chìm sanh tử thọ khổ nhiều

Vì cứu chúng sanh Phật xuất thế.

Như Lai cứu hộ các thế gian

Tất cả chúng sanh hiện trước họ

Dứt khổ luân chuyển hết sợ lo

Tự Tại Âm Vương đã ngộ nhập.

Chúng sanh tạo ác nghiệp chướng nhiều

Phật dạy lý mầu khiến rõ biết

Ví như đèn sáng chiếu thế gian

Nghiêm Trì Xoa Vương đã được thấy.

Thuở xưa nhiều kiếp Phật tu hành

Xưng tán mười phương tất cả Phật

Nên có tiếng đồn lớn cao xa

Ðại Trí Huệ Vương được rõ biết.

Trí huệ như không vô lượng biên

Pháp thân rộng lớn bất tư nghị

Do đây mười phương đều hiện thân

Diệm Nhãn Chúa Vương quan sát thấy.

Trong tất cả loài diễn diệu âm

Thuyết pháp lợi ích vô lượng chúng

Tiếng Phật đến đâu khổ dứt trừ

Kim Cang Nhãn Vương được phương tiện.

Tất cả nghĩa rộng lớn rất sâu

Phật dùng một câu diễn thuyết được

Giáo lý như vậy khắp thế gian

Dũng Kiện Tý Vương đã được ngộ.

Vô lượng chúng sanh chấp đạo tà

Phật dạy chánh đạo bất tư nghị

Khiến khắp thế gian thành pháp khí

Dũng Ðịch Quân Vương rõ biết được.

Bao nhiêu phước nghiệp của thế gian

Tất cả đều do Phật quang chiếu

Phật trí rộng lớn khó nghĩ lường

Phú Tài Xoa Vương được giải thoát.

Nhớ đến kiếp xưa vô lượng số

Phật từ lâu xa tu thập lực

Hay khiến trí lực đều tròn đầy

Lực Hoại Cao Sơn được rõ biết.

Thiện Huệ Ma hầu la già Vương được giải thoát môn dùng tất cả thần thông phương tiện khiến chúng sanh chứa nhóm công đức.

Tịnh Oai Âm Vương được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh trừ phiền não được thanh lương vui sướng.

Thắng Huệ Trang Nghiêm Kế Vương được giải thoát môn khiến khắp tất cả chúng sanh suy tưởng lành hay chẳng lành đều vào pháp thanh tịnh.

Diệu Mục Chủ Vương được giải thoát môn rõ thấu tất cả tướng phước đức tự tại bình đẳng vô sở trước.

Ðăng Tràng Vương được giải thoát môn khai thị tất cả chúng sanh khiến lìa đường tối tăm sợ sệt.

Tối Thắng Quang Minh Tràng Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả công đức của Phật sanh lòng vui mừng.

Sư Tử Úc Vương được giải thoát môn sức dũng mãnh làm chủ cứu hộ chúng sanh.

Chúng Diệu Trang Nghiêm Âm Vương được giải thoát môn khiến chúng sanh tùy ý niệm sanh vô biên hỷ lạc.

Tu Di Úc Vương được giải thoát môn quyết định bất động nơi tất cả cảnh duyên và được đầy đủ đến bờ kia.

Khả Ái Nhạo Quang Minh Vương được giải thoát môn bình đẳng vì tất cả chúng sanh khai thị đạo bình đẳng.

Lúc đó, Thiện Huệ Ma hầu la già vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Ma hầu la già rồi nói kệ rằng:

Ông xem Như Lai tánh thanh tịnh

Phổ hiện oai quang lợi quần phẩm

Khai đạo cam lồ khiến thanh lương

Các khổ dứt hẳn không còn sót.

Tất cả chúng sanh ở biển khổ

Các nghiệp hoặc ác tự ràng buộc

Ðem pháp tịch tịnh dạy chúng sanh

Tịnh Oai Âm Vương khéo rõ biết.

Phật trí vô đẳng bất tư nghì

Tâm chúng sanh đều rõ biết cả

Vì họ xiển minh pháp thanh tịnh

Trang Nghiêm Kế Vương đã tỏ ngộ.

Vô lượng chư Phật hiện thế gian

Vì khắp chúng sanh làm ruộng phước

Biển phước rộng lớn rất khó lường

Diệu Mục Chủ Vương thấy tất cả.

Chúng sanh ở mãi biển sợ lo

Phật khắp hiện tiền mà cứu hộ

Pháp giới hư không đều khắp cùng

Ðăng Tràng Vương đây đã thấy được.

Công đức nơi một chân lông Phật

Thế gian chung tính không biết được

Vô biên vô tận đồng hư không

Quang minh Tràng Vương quan sát thấy.

Như Lai thông đạt tất cả pháp

Nơi pháp tánh kia đều chiếu rõ

Không nghiêng không động như Tu Di

Sư Tử Úc Vương môn giải thoát.

Phật từ thuở trước kiếp lâu xa

Biển rộng hoan hỷ sâu vô tận

Vì thế ai thấy đều thích ưa

Trang Nghiêm Âm Vương được chứng nhập.

Rõ biết pháp giới không hình tướng

Biển ba la mật đều đầy đủ

Ðại quang phổ tế các chúng sanh

Tu Di Úc Vương đã tỏ ngộ.

Ông xem Như Lai sức tự tại

Mười phương thị hiện khắp đồng đều

Sáng soi tỏ ngộ các chúng sanh

Nhạo Quang Minh Vương đã khéo chứng.

Thiện Huệ Quang Minh Thiên Khẩn na la vương được giải thoát môn khắp sanh tất cả công hạnh hỷ lạc.

Diệu Hoa Tràng Khẩn na la vương được giải thoát môn có thể sanh pháp hỷ vô thượng khiến tất cả được an vui.

Chủng Chủng Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn tất cả công đức đầy đủ tâm tin hiểu thanh tịnh rộng lớn.

Duyệt Ý Hống Thanh Vương được giải thoát môn thường nói ra tất cả tiếng duyệt ý khiến người nghe lìa khỏi ưu bố.

Bửu Thọ Quang Minh Vương được giải thoát môn đại bi an lập tất cả chúng sanh khiến giác ngộ cảnh sở duyên.

Phổ Nhạo Kiến Vương được giải thoát môn thị hiện tất cả sắc thân vi diệu.

Tối Thắng Quang Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả quả thù thắng trang nghiêm từ nghiệp não sanh.

Vi Diệu Hoa Tràng Vương được giải thoát môn khéo quán sát tất cả nghiệp thế gian sanh ra quả báo.

Ðộng Ðịa Lực Vương được giải thoát môn thường khởi tất cả sự lợi ích chúng sanh.

Oai Mãnh Chủ Vương được giải thoát môn khéo biết và khéo nhiếp phục tâm niệm của tất cả Khẩn na la.

Lúc đó, Thiện Huệ Quang Minh Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Khẩn na la rồi nói kệ rằng:

Thế gian tất cả sự an vui

Tất cả đều do Phật xuất thế

Ðạo Sư lợi ích các chúng sanh

Khắp làm chỗ quy y cứu hộ.

Xuất sanh tất cả những hỷ lạc

Thế gian đều được không cùng tận

Hay khiến người thấy chẳng luống qua

Diệu Hoa Tràng Vương được tỏ ngộ.

Biển công đức Phật không cùng tận

Cầu biên tế kia bất khả đắc

Quang Minh chiếu sáng khắp mười phương

Trang Nghiêm Vương đây môn giải thoát.

Như Lai đại âm thường diễn thông

Khai pháp chơn thiệt lìa ưu não

Chúng sanh nghe được đều đẹp vui

Duyệt Ý Hống Thanh hay tín thọ.

Tôi xem Như Lai sức tự tại

Ðều do thuở trước siêng hành đạo

Ðại bi cứu người khiến sạch trong

Bửu Thọ Quang Minh hay ngộ nhập.

Như Lai khó được thấy và nghe

Ức kiếp chúng sanh mới được gặp

Tướng hảo đầy đủ để trang nghiêm

Phổ Nhạo Kiến Vương đã xem thấy.

Ông xem Như Lai đại trí huệ

Quần sanh tâm nguyện đều khắp ứng

Ðạo Nhứt thiết trí đều tuyên bày

Tối Thắng Trang Nghiêm hay rõ biết.

Biển nghiệp rộng lớn bất tư nghì

Chúng sanh khổ vui đều do đó

Tất cả như vậy hay chỉ bày

Vi Diệu Hoa Tràng quan sát thấy.

Chư Phật thần thông không xen dứt

Mười phương đại địa thường chấn động

Tất cả chúng sanh chẳng biết hay

Ðộng Ðịa Lực Vương hằng thấy rõ.

Ở nơi chúng hội hiện thần thông

Phóng đại quang minh khiến giác ngộ

Hiển bày tất cả cảnh Như Lai

Oai Mãnh Chủ Vương hay quan sát.

Ðại Tốc Tật Lực Ca lâu la vương được giải thoát môn vô ngại vô trước nhãn quan sát khắp chúng sanh giới.

Bất Khả Hoại Bửu Kế Vương được giải thoát môn khắp an trụ pháp giới giáo hóa chúng sanh.

Thanh Tịnh Tốc Tật Vương được giải thoát môn khắp thành tựu sức tinh tấn ba la mật.

Bất Thối Tâm Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn sức dũng mãnh vào cảnh giới Như Lai.

Ðại Hải Xứ Nhiếp Trì Lực Vương được giải thoát môn vào biển công hạnh trí huệ rộng lớn của Phật.

Kiên Pháp Tịnh Quang Vương được giải thoát môn thành tựu vô biên chúng sanh sai biệt trí.

Diệu Nghiêm Quan Kế Vương được giải thoát môn trang nghiêm thành Phật pháp.

Phổ Tiệp Thị Hiện Vương được giải thoát môn thành tựu sức bình đẳng bất khả hoại.

Phổ Quán Hải Vương được giải thoát môn rõ biết tất cả thân chúng sanh mà vì hiện hình.

Long Âm Ðại Mục Tinh Vương được giải thoát môn trí hạnh vào khắp sanh tử của tất cả chúng sanh.

Lúc đó, Ðại Tốc Tật Lực Vương thừa oai lực của Phật, quan sát tất cả chúng Ca Lâu La rồi nói kệ rằng:

Phật nhãn rộng lớn không ngằn mé

Thấy khắp mười phương các quốc độ

Trong đó chúng sanh chẳng thể lường

Hiện đại thần thông đều điều phục.

Thần thông của Phật sức vô ngại

Ngồi khắp mười phương cội Bồ đề

Thuyết pháp như mây đều khắp đầy

Bửu Kế lóng nghe lòng tin thuận.

Phật thuở xa xưa tu các hạnh

Phổ tịnh quảng đại ba la mật

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Thanh Tịnh Tốc Tật sâu tin hiểu.

Như Lai trong mỗi một chân lông

Một niệm hiện khắp vô biên hạnh

Cảnh giới Như Lai rất khó suy

Bất Thối Trang Nghiêm đều thấy rõ.

Phật hạnh rộng lớn bất tư nghì

Tất cả chúng sanh không lường được

Công đức trí huệ của Ðạo Sư

Nhiếp Trì Lực Vương đạo giải thoát.

Như Lai vô lượng trí huệ quang

Hay dứt chúng sanh lưới nghi hoặc

Cứu hộ tất cả các thế gian

Kiên Pháp Tịnh Quang thọ trì được.

Pháp thành rộng lớn không thể cùng

Các thứ pháp môn vô lượng số

Ðức Phật ra đời rộng mở bày

Diệu Nghiêm Quan Kế đã tỏ rõ.

Tất cả chư Phật một pháp thân

Chơn như bình đẳng vô phân biệt

Phật dùng sức nầy thường an trụ

Phổ Tiệp Thị Hiện diễn thuyết đủ.

Phật ở các cõi nhiếp chúng sanh

Quang minh thế gian đều chiếu khắp

Các thứ phương tiện hiện điều phục

Phổ Quán Hải Vương đã được ngộ.

Phật xem tất cả các quốc độ

Ðều nương nghiệp hải mà an trụ

Rưới khắp pháp vũ ở trong kia

Long Âm Tinh Vương được giải thoát.

La Hầu A tu la Vương được giải thoát môn hiện làm chủ tôn thắng trong đại hội.

Tỳ Ma Chất Ða Vương được giải thoát môn thị hiện vô lượng kiếp.

Xảo Huyễn Thuật Vương được giải thoát môn tiêu diệt khổ tất cả chúng sanh khiến thanh tịnh.

Ðại Quyến Thuộc Vương được giải thoát môn tu tất cả khổ hạnh tự trang nghiêm.

Bà Trí Vương được giải thoát môn chấn động thập phương vô biên cảnh giới.

Biến Chiếu Vương được giải thoát môn các thứ phương tiện an lập tất cả chúng sanh.

Kiên Cố Hạnh Diệu Trang Nghiêm Vương được giải thoát môn khắp họp thiện căn sạch các nhiễm trước chẳng thể phá hoại.

Quảng Ðại Nhơn Huệ Vương được giải thoát môn sức đại bi không nghi lầm.

Hiện Thắng Ðức Vương được giải thoát môn khắp khiến thấy Phật thờ kính cúng dường tu các thiện căn.

Thiện Âm Vương được giải thoát môn công hạnh quyết định bình đẳng khắp vào tất cả loài.

Lúc đó, La Hầu Vương thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng A tu la rồi nói kệ rằng:

Tất cả mười phương quảng đại chúng

Phật thù đặc nhứt trong tất cả

Quang minh chiếu khắp đồng hư không

Trước các chúng sanh đều khắp hiện.

Trăm ngàn muôn kiếp các quốc độ

Trong một sát na đều hiện rõ

Phóng quang độ người đồng khắp đều

Tùy Ma Chất Ða vui khen ngợi.

Như Lai cảnh giới không ai bằng

Các thứ pháp môn thường lợi ích

Chúng sanh có khổ đều dứt trừ

Xảo Huyễn Thuật Vương đã được thấy.

Trong vô lượng kiếp tu khổ hạnh

Lợi ích chúng sanh làm thanh tịnh

Do đây Phật trí trọn viên thành

Ðại Quyến Thuộc Vương đã thấy rõ.

Vô ngại vô đẳng đại thần thông

Khắp động mười phương tất cả cõi

Chẳng khiến chúng sanh có sợ kinh

Ðại lực nơi đây đã rõ biết.

Phật hiện ra đời cứu chúng sanh

Ðạo Nhứt thiết trí đều khai thị

Ðều khiến bỏ khổ được an vui

Nghĩa đây, Biến Chiếu xiển dương rộng.

Tất cả biển phước của thế gian

Phật lực hay sanh khiến thanh tịnh

Phật hay khai thị đạo giải thoát

Kiên Cố Trang Nghiêm được chứng nhập.

Phật đại bi thân không ai bằng

Ði khắp vô ngại đều khiến thấy

Dường như hình bóng hiện thế gian

Nhơn Huệ hay tuyên công đức Phật.

Thần thông rộng lớn không ai sánh

Khắp chốn hiện thân đầy pháp giới

Ðều ngồi dưới cội đại Bồ đề

Nghĩa nầy, Thắng Ðức hay tuyên thuyết.

Như Lai ngày trước tu công hạnh

Trải qua các loài đều cùng khắp

Thoát khổ chúng sanh không có thừa

Thiên Âm ca ngợi công đức Phật.

IV. Chư Thần Chủ Giải Thoát Môn

Thị Hiện Cung Ðiện Chủ Trú Thần được giải thoát môn khắp vào tất cả thế gian.

Phát Khởi Huệ Hương Thần được giải thoát môn quan sát khắp tất cả chúng sanh đều khiến lợi ích vui mừng đầy đủ.

Nhạo Thắng Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn hay phóng vô biên pháp quang minh đáng thích ưa.

Hoa Hương Diệu Quang Thần được giải thoát môn khai phát tâm tin hiểu thanh tịnh của tất cả chúng sanh.

Phổ Tập Diệu Dược Thần được giải thoát môn chứa nhóm trang nghiêm công lực quang minh rộng khắp.

Nhạo Tác Hỷ Mục Thần được giải thoát môn khai ngộ khắp tất cả chúng sanh khổ vui đều khiến được pháp lạc.

Quán Phương Phổ Hiện Thần được giải thoát môn thân sai biệt thập phương pháp giới.

Ðại Bi Oai Lực Thần được giải thoát môn cứu hộ tất cả chúng sanh khiến được an lạc.

Thiện Căn Quang Chiếu Thần được giải thoát môn công đức lực khắp sanh vui mừng đầy đủ.

Diệu Hoa Anh Lạc Thần được giải thoát môn tiếng tăm đồn khắp nơi chúng sanh thấy Phật đều được lợi ích.

Lúc đó, Thị Hiện Cung Ðiện Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Trú Thần rồi nói kệ rằng:

Phật trí như không vô cùng tận

Quang minh soi sáng khắp mười phương

Tâm hành chúng sanh đều biết rành

Thế gian không nơi nào chẳng đến.

Biết lòng sở thích của chúng sanh

Theo cơ diễn nói vô lượng pháp

Cú nghĩa rộng lớn đều không đồng

Phát Khởi Huệ Hương thấy được rõ.

Phật phóng quang minh chiếu thế gian

Thấy nghe vui mừng không luống mất

Chỉ bày tịch diệt chỗ rộng sâu

Nhạo Thắng Trang Nghiêm lòng tỏ ngộ.

Phật rưới Pháp vũ vô biên lượng

Hay khiến người thấy đều mừng rỡ

Thiện căn tối thắng từ đây sanh

Hoa Hương Diệu Quang rõ biết được.

Khắp vào pháp môn sức khai ngộ

Nhiều kiếp tu tập đều thanh tịnh

Như vậy đều vì nhiếp chúng sanh

Phổ Tập Diệu Dược hay thấu suốt.

Nhiều môn phương tiện hóa quần sanh

Hoặc thấy hoặc nghe đều thọ ích

Ðều khiến hớn hở rất vui mừng

Nhạo Tác Hỷ Mục thấy như vậy.

Thập lực ứng hiện khắp thế gian

Mười phương pháp giới đều không sót

Thể tánh chẳng có cũng chẳng không

Quán Phương Phổ Hiện hay chứng nhập.

Chúng sanh lưu chuyển trong hiểm nạn

Như Lai xuất thế vì thương xót

Tất cả khổ hoạn đều dứt trừ

Ðại Bi Oai Lực môn giải thoát.

Chúng sanh trôi chìm trong đêm dài

Phật vì thuyết pháp cho thông hiểu

Ðều khiến được vui trừ khổ lo

Thiện Căn Quang Chiếu môn ngộ nhập.

Như Lai phước đức đồng hư không

Từ đây nở sanh thế gian phước

Chỗ làm của Phật trọn không hư

Diệu Hoa Anh Lạc được giải thoát.

Phổ Ðức Tịnh Quang Chủ Dạ Thần được giải thoát môn tịch tịnh thiền định lạc đại dũng kiện.

Hỷ Nhãn Quán Thế Thần được giải thoát môn tướng công đức thanh tịnh rộng lớn khả ái.

Hộ Thế Tinh Khí Thần được giải thoát môn hiện khắp thế gian điều phục chúng sanh.

Tịch Tịnh Hải Âm Thần được giải thoát môn chứa nhóm lòng hoan hỷ rộng lớn.

Phổ Hiện Kiết Tường Thần được giải thoát môn ngôn âm duyệt ý tự tại rộng lớn.

Phổ Phát Thọ Hoa Thần được giải thoát môn tạng quang minh rộng lớn đầy đủ hoan hỷ.

Bình Ðẳng Hộ Dục Thần được giải thoát môn khai ngộ chúng sanh khiến thành thục thiện căn.

Du Hí Khoái Lạc Thần được giải thoát môn vô biên từ cứu hộ chúng sanh.

Chư Căn Thường Hỷ Thần được giải thoát môn đại bi khắp hiện trang nghiêm.

Thị Hiện Tịnh Phước Thần được giải thoát môn khiến khắp tất cả chúng sanh sở thích được đầy đủ.

Lúc đó, Phổ Ðức Tịnh Quang Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Dạ Thần mà nói kệ rằng:

Các Ngài nên xem công hạnh Phật

Quảng đại tịch tịnh tướng hư không

Biển dục không bờ làm sạch trong

Chiếu mười phương đoan nghiêm thanh tịnh.

Tất cả thế gian đều thích thấy

Vô lượng ức kiếp một lần gặp

Ðại bi thương người đều khắp cùng

Hỷ Nhãn Quán Thế quan sát thấy.

Ðạo Sư cứu hộ các thế gian

Chúng sanh thấy Phật hiện trước mình

Làm cho các loài đều thanh tịnh

Hộ Thế Tinh Khí đã biết rõ.

Phật xưa tu tập biển hoan hỷ

Rộng lớn vô biên chẳng lường được

Vì thế người thấy đều thích ưa

Tịch Tịnh Hải Âm hiểu biết được.

Như Lai cảnh giới chẳng thể lường

Diễn khắp mười phương mà hằng tịch

Khiến khắp chúng sanh ý sạch trong

Phổ Hiện Kiết Tường nghe vui đẹp.

Giữa nhóm chúng sanh không phước đức

Phật bực Đại Phước trang nghiêm sáng

Khai pháp tịch diệt lìa cấu trần

Phổ Phát Thọ Hoa đã được ngộ.

Muời phương khắp hiện đại thần thông

Tất cả chúng sanh đều điều phục

Các thứ sắc tướng đều khiến xem

Bình Ðẳng Hộ Dục quan sát được.

Như Lai thuở xưa trong mỗi niệm

Từ bi phương tiện đều thanh tịnh

Cứu hộ chúng sanh đã khắp cùng

Du Hí Khoái Lạc môn giải thoát.

Chúng sanh ngu si thường loạn đục

Tâm họ cứng độc rất đáng sợ

Như Lai xuất thế vì xót thương

Chư Căn Thường Hỷ được tỏ ngộ.

Xưa Phật tu hành vì chúng sanh

Tất cả chí nguyện đều đầy đủ

Do đây đức tướng đều viên thành

Thị Hiện Tịnh Phước được chứng nhập.

Biến Trụ Nhứt Thiết Chủ Phương Thần được giải thoát môn năng lực khắp cứu hộ.

Phổ Hiện Quang Minh Thần được giải thoát môn trọn nên công lực thần thông hóa độ khắp tất cả chúng sanh.

Quang Hạnh Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn đại quang minh phá tất cả chướng, sanh hỷ lạc.

Châu Hành Bất Ngại Thần được giải thoát môn hiện khắp tất cả chỗ chẳng luống nhọc.

Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc Thần được giải thoát môn thị hiện danh hiệu phát sanh công đức đồng số tất cả chúng sanh.

Biến Du Tịnh Không Thần được giải thoát môn hằng phát diệu âm khiến người nghe đều hoan hỷ.

Vân Tràng Ðại Âm Thần được giải thoát môn như rồng khắp rưới mưa khiến chúng sanh hoan hỷ.

Kế Mục Vô Loạn Thần được giải thoát môn năng lực tự tại vô sai biệt thị hiện hạnh nghiệp tất cả chúng sanh.

Phổ Quán Thế Nghiệp Thần được giải thoát môn quán sát các thứ hạnh nghiệp trong tất cả thú sanh.

Châu Biến Du Lãm Thần được giải thoát môn công việc làm đều rốt ráo sanh sự hoan hỷ tất cả chúng sanh.

Lúc đó, Biến Trụ Nhứt Thiết Thần thừa oai
lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Phương Thần rồi nói kệ rằng:

Như Lai tự tại hiện ra đời

Tất cả quần sanh đều giáo hóa

Chỉ bày khiến ngộ các pháp môn

Ðều khiến được thành vô lượng trí.

Thần thông vô lượng khắp chúng sanh

Tùy họ sở thích mà hiện tướng

Người thấy đều được lìa khổ lo

Phổ Hiện Quang Minh môn giải thoát.

Trong biển mê tối của chúng sanh

Phật hiện đuốc pháp rất sáng suốt

Sáng đó chiếu khắp người đều thấy

Quang Hạnh Trang Nghiêm đã tự tại.

Ðầy đủ các tiếng của thế gian

Khắp chuyển pháp luân người đều hiểu

Chúng sanh nghe pháp phiền não trừ

Châu Hành Bất Ngại được tỏ ngộ.

Tất cả danh tự của thế gian

Hồng danh của Phật đồng số đó

Ðều khiến chúng sanh lìa mê lầm

Vĩnh Ðoạn Mê Hoặc quan sát biết.

Nếu có chúng sanh đến trước Phật

Ðược nghe diệu âm của Như Lai

Họ đều sanh lòng rất vui mừng

Biến Du Tịnh Không ngộ pháp đó.

Phật ở trong mỗi mỗi sát na

Khắp rưới vô biên đại pháp vũ

Ðều khiến chúng sanh phiền não trừ

Vân Tràng Ðại Âm rõ biết được.

Tất cả thế gian những biển nghiệp

Phật xưa khai thị đồng không khác

Khắp khiến chúng sanh nghiệp hoặc trừ

Kế Mục Vô Loạn đã rõ thấu.

Nhứt thiết trí địa vốn vô biên

Tất cả tâm niệm của chúng sanh

Như Lai soi thấy đều rõ ràng

Phổ Quán Thế Nghiệp môn rộng lớn.

Phật xưa nhiều kiếp tu công hạnh

Ðủ vô lượng môn ba la mật

Ðại bi thương xót lợi chúng sanh

Châu Biến Du Lãm được giải thoát.

Tịnh Quang Phổ Chiếu Chủ Không Thần được giải thoát môn biết khắp tất cả tâm chúng sanh trong các loài.

Phổ Du Thâm Quảng Thần được giải thoát môn khắp vào pháp giới.

Sanh Kiết Tường Phong Thần được giải thoát
môn rõ thấu vô biên cảnh giới thân tướng.

Ly Chướng An Trụ Thần được giải thoát môn hay trừ nghiệp hoặc chướng tất cả chúng sanh

Quảng Bộ Diệu Kế Thần được giải thoát môn khắp quán sát tư duy biển công hạnh rộng lớn.

Vô Ngại Quang Diệm Thần được giải thoát môn đại bi quang khắp cứu hộ ách nạn tất cả chúng sanh.

Vô Ngại Thắng Lực Thần được giải thoát môn vào khắp tất cả phước đức lực vô sở trước.

Ly Cấu Quang Minh Thần được giải thoát môn hay khiến tâm tất cả chúng sanh lìa cái chướng được thanh tịnh.

Thâm Viễn Diệu Âm Thần được giải thoát môn trí quang minh thấy khắp mười phương.

Quang Biến Thập Phương Thần được giải thoát môn chẳng động bổn xứ mà hiện khắp thế gian.

Lúc đó, Tịnh Quang Phổ Chiếu Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Không Thần rồi nói kệ rằng:

Như Lai mắt rộng lớn

Như hư không thanh tịnh

Thấy khắp các chúng sanh

Tất cả đều tỏ rõ.

Thân Phật rất sáng chói

Chiếu khắp mười phương cõi

Mọi nơi đều hiện tiền

Phổ Du Thần xem thấy.

Thân Phật như hư không

Vô sanh vô sở thủ

Vô tánh vô khả đắc

Cát Tường Thần rõ thấu.

Phật từ vô lượng kiếp

Rộng nói các Thánh đạo

Dứt trừ chướng chúng sanh

Ly Chướng Thần được ngộ.

Tôi xem Phật thuở xưa

Tu tập Bồ đề hạnh

Vì an lạc thế gian

Diệu Kế Thần được thấy.

Tất cả cõi chúng sanh

Lưu chuyển biển sanh tử

Phật phóng diệt khổ quang

Vô Ngại Thần thấy rõ.

Tạng công đức thanh tịnh

Làm phước điền thế gian

Dùng trí huệ hiển bày

Thắng Lực Thần tỏ ngộ.

Chúng sanh thường si mê

Lưu chuyển trong đường hiểm

Vì họ Phật phóng quang

Ly Cấu Thần chứng được.

Trí huệ không ngằn mé

Hiện khắp các quốc độ

Quang minh chiếu thế gian

Diệu Âm Thần thấy Phật.

Phật vì độ chúng sanh

Khắp mười phương tu tập

Tâm nguyện lớn không lường

Quang Biến Thần thấy biết.

Vô Ngại Quang Minh Chủ Phong Thần được giải thoát môn vào khắp Phật pháp và tất cả thế gian.

Phổ Hiện Dũng Nghiệp Thần được giải thoát môn Phật xuất hiện trong vô lượng quốc độ đều cúng dường rộng lớn.

Phiêu Kích Vân Tràng Thần được giải thoát môn dùng hương phong khắp dứt trừ bịnh của tất cả chúng sanh.

Tịnh Quang Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn khắp sanh thiện căn tất cả chúng sanh khiến dứt trừ núi chướng nặng.

Lực Năng Kiệt Thủy Thần được giải thoát môn có thể phá vô biên chúng ác ma.

Ðại Thanh Biến Hống Thần được giải thoát môn dứt hẳn sự sợ hãi tất cả chúng sanh.

Thọ Diểu Thùy Kế Thần được giải thoát môn biển biện tài vào thiệt tướng của tất cả pháp.

Phổ Hành Vô Ngại Thần được giải thoát môn tạm phương tiện điều phục tất cả chúng sanh.

Chủng Chủng Cung Ðiện Thần được giải thoát môn nhập thiền định tịch tịnh dứt trừ ngu si rất nặng.

Ðại Quang Phổ Chiếu Thần được giải thoát môn tùy thuận tất cả chúng sanh thực hành vô ngại.

Lúc đó, Vô Ngại Quang Minh Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Phong Thần rồi nói kệ rằng:

Tất cả Phật Pháp rất rộng sâu

Phương tiện vô ngại khắp vào được

Phật thường xuất hiện khắp thế gian

Không tướng, không hình, không ảnh tượng.

Ông xem Như Lai thuở xa xưa

Một niệm cúng dường vô lượng Phật

Như vậy dũng mãnh hạnh Bồ đề

Phổ Hiện Dũng Nghiệp được tỏ ngộ.

Như Lai cứu thế bất tư nghì

Tất cả phương tiện không luống uổng

Ðều khiến chúng sanh lìa khổ lo

Phiêu Kích Vân Tràng môn giải thoát.

Chúng sanh vô phước, chịu khổ đau

Chướng nặng, cái dầy, thường che đậy

Ðều khiến tất cả được thoát lìa

Tịnh Quang Trang Nghiêm được rõ biết.

Thần thông rộng lớn của Như Lai

Dẹp trừ tất cả loài ma chướng

Bao nhiêu phương tiện dùng nhiếp trừ

Lực Năng Kiệt Thủy quan sát thấy.

Chân lông của Phật diễn diệu âm

Tiếng Phật thế gian đều cùng khắp

Tất cả khổ sợ đều dứt trừ

Ðại Thanh Biến Hống rõ biết được.

Phật ở tất cả các quốc độ

Trong vô lượng kiếp thường diễn thuyết

Biện tài vi diệu của Như Lai

Thọ Diểu Thùy Kế đã được hiểu.

Như Lai tất cả môn phương tiện

Trí vào trong đó đều vô ngại

Cảnh giới vô biên không ai bằng

Phổ Hành Vô Ngại được giải thoát.

Như Lai cảnh giới không ngằn mé

Nơi nơi phương tiện đều khiến thấy

Mà thân tịch tịnh không tướng hình

Chủng Chủng Cung Ðiện được chứng nhập.

Như Lai nhiều kiếp tu công hạnh

Tất cả trí lực đều viên mãn

Thuận theo thế pháp ứng chúng sanh

Ðại Quang Phổ Chiếu đã được thấy.

*Phổ Quang Diệm Tạng Chủ Hỏa Thần được giải thoát môn đều trừ tối tăm tất cả thế gian.

Phổ Tập Quang Tràng Thần được giải thoát môn có thể dứt các nghiệp hoặc trôi chìm khổ của tất cả chúng sanh.

Ðại Quang Biến Chiếu Thần được giải thoát môn tạng đại bi phước lạc vô động.

Chúng Diệu Cung Ðiện Thần được giải thoát môn quán sát Như Lai thần thông lực thị hiện vô biên tế.

Vô Tận Quang Kế Thần được giải thoát môn quang minh chiếu diệu vô biên hư không giới.

Chủng Chủng Diệm Nhãn Thần được giải thoát môn các thứ phước trang nghiêm quang minh tịch tịnh.

Thập Phương Cung Ðiện Như Tu Di Sơn Thần được giải thoát môn dứt những khổ não của tất cả các loài.

Oai Quang Tự Tại Thần được giải thoát môn tự tại khai ngộ tất cả thế gian.

Quang Chiếu Thập Phương Thần được giải thoát môn phá hẳn tất cả kiến chấp ngu si.

Lôi Âm Ðiển Quang Thần được giải thoát môn thành tựu tất cả nguyện lực âm thanh chấn động.

Lúc đó, Phổ Quang Diệm Tạng Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Hỏa thần rồi nói kệ rằng:

Ông xem Như Lai tinh tấn lực

Rộng lớn ức kiếp bất tư nghì

Vì độ chúng sanh hiện thế gian

Bao nhiêu ám chướng khiến đều dứt.

Chúng sanh ngu si sanh kiến chấp

Phiền não như thác, như lửa cháy

Ðạo Sư phương tiện đều dứt trừ

Phổ Tập Quang Tràng được tỏ ngộ.

Phước đức như không vô cùng tận

Cầu tìm biên tế bất khả đắc

Phật đại bi lực không động lay

Ðại Quang Biến Chiếu lòng vui đẹp.

Tôi xem công hạnh của Như Lai

Trải vô lượng kiếp không ngằn mé

Như vậy thị hiện sức thần thông

Chúng Diệu Cung Thần đã rõ biết.

Ức kiếp tu hành chẳng thể suy

Cầu tìm biên tế chẳng thể biết

Diễn pháp thiệt tướng khiến vui mừng

Vô Tận Quang Thần quan sát thấy.

Mười phương chỗ có vô lượng chúng

Ðại chúng hiện tiền chiêm ngưỡng Phật

Quang minh tịch tịnh chiếu thế gian

Chủng Chủng Diệm Nhãn hay rõ thấu.

Như Lai xuất hiện khắp thế gian

Ngồi trong tất cả cung điện báu

Tuyên thuyết đại pháp rộng vô biên

Thập Phương Cung Thần môn giải thoát.

Chư Phật trí huệ rất rộng sâu

Thế gian tự tại đều khắp hiện

Thuyết minh rành rẽ chơn thiệt lý

Oai Quang Tự Tại ngộ môn nầy.

Kiến chấp ngu si bị che tối

Chúng sanh mê lầm thường lưu chuyển

Vì họ Phật dạy diệu pháp môn

Quang Chiếu Phương Thần hay ngộ nhập.

Chí nguyện rộng lớn bất tư nghì

Thập lực lục độ đã thanh tịnh

Theo bổn nguyện xưa hiện ra đời

Lôi Âm Ðiển Quang rõ biết được.

Phổ Hưng Vân Tràng Chủ Thủy Thần được giải thoát môn từ tâm bình đẳng lợi ích tất cả chúng sanh.

Hải Triều Vân Âm Thần được giải thoát môn vô biên pháp trang nghiêm.

Diệu Sắc Luân Kế Thần được giải thoát môn quán sát chúng sanh đáng giáo hóa dùng phương tiện nhiếp thọ.

Thiện Xảo Triền Phục Thần được giải thoát môn khắp diễn bày cảnh giới thậm thâm của chư Phật.

Ly Cấu Hương Tích Thần được giải thoát môn khắp hiện đại quang minh thanh tịnh.

Phước Kiều Quang Âm Thần được giải thoát môn thanh tịnh pháp giới vô tướng vô tánh.

Tri Túc Tự Tại Thần được giải thoát môn biển đại bi vô tận.

Tịnh Hỷ Thiện Âm Thần được giải thoát môn đại hoan hỷ trong đạo tràng chúng hội Bồ tát.

Phổ Hiện Oai Quang Thần được giải thoát môn dùng sức đại phước đức vô ngại khắp xuất hiện.

Hống Thanh Biến Hải Thần được giải thoát môn quán sát tất cả chúng sanh phát khởi phương tiện điều phục như hư không.

Lúc đó, Phổ Hưng Vân Tràng Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Thủy Thần rồi nói kệ rằng:

Thanh Tịnh từ bi sát trần số

Cộng sanh một tướng của Như Lai

Mỗi mỗi tướng hảo đều như vậy

Do đây nhìn Phật không nhàm đủ.

Thế Tôn thuở xưa lúc tu hành

Khắp đến chỗ ngự tất cả Phật

Công hạnh tu hành không nhàm mỏi

Phương tiện như đây Vân Âm biết.

Phật trong tất cả mười phương cõi

Vắng lặng bất động không lai khứ

Ðều khiến chúng sanh thấy thân Phật

Diệu Sắc Luân Kế hay ngộ nhập.

Như Lai cảnh giới vô biên lượng

Tất cả chúng sanh chẳng biết được

Diệu Âm diễn thuyết khắp mười phương

Thiện Xảo Triền Phục tu tập được.

Thế Tôn quang minh vô cùng tận

Chiếu khắp pháp giới bất tư nghị

Thuyết pháp giáo hóa độ chúng sanh

Ly Cấu Hương Tích quan sát thấy.

Như Lai thanh tịnh đồng hư không

Vô tướng vô hình mười phương khắp

Tất cả chúng hội đều được thấy

Phước Quang Âm Thần khéo quan sát.

Phật xưa tu tập môn đại bi

Tâm Phật rộng khắp đồng chúng sanh

Dường như mây lớn hiện thế gian

Môn giải thoát nầy Tri Túc biết.

Tất cả thập phương các quốc độ

Ðều thấy Như Lai ngự pháp tòa

Khai ngộ rành rẽ đại Bồ đề

Tịnh Hỷ Thiện Âm được chứng nhập.

Chư Phật chỗ làm không chướng ngại

Qua khắp mười phương tất cả cõi

Các nơi thị hiện đại thần thông

Phổ Hiện Oai Quang đã ngộ được.

Tu tập vô biên hạnh phương tiện

Khắp cõi chúng sanh đều đầy đủ

Thần thông diệu dụng chẳng tạm dừng

Hống Thanh Biến Hải chứng nhập được.

Xuất Hiện Bửu Quang Chủ Hải Thần được giải thoát môn dùng thân châu báu trang nghiêm tâm bình đẳng bố thí phước đức cho tất cả chúng sanh.

Bất Khả Hoại Kim Cang Tràng Thần được giải thoát môn phương tiện khéo giữ gìn thiện căn của tất cả chúng sanh.

Bất Tạp Ly Cấu Thần được giải thoát môn có thể làm cạn biển phiền não của tất cả chúng sanh.

Hằng Trụ Ba Lãng Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh lìa ác đạo.

Cát Tường Bửu Nguyệt Thần được giải thoát môn khắp dứt trừ đại si ám.

Diệu Hoa Long Kế Thần được giải thoát môn dứt trừ tất cả sự khổ của các loài mà ban cho sự an lạc.

Phổ Trì Quang Vị Thần được giải thoát môn chữa sạch kiến chấp ngu si của tất cả chúng sanh.

Bửu Diệm Hoa Quang Thần được giải thoát môn xuất sanh tất cả bửu chủng tánh Bồ đề tâm.

Kim Cang Diệu Kế Thần được giải thoát môn biển công đức tâm bất động.

Hải Triều Lôi Âm Thần được giải thoát môn vào khắp môn pháp giới tam muội.

Lúc đó, Xuất Hiện Bửu Quang Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Hải Thần rồi nói kệ rằng:

Bất khả tư nghì biển đại kiếp

Cúng dường tất cả mười phương Phật

Khắp đem công đức thí quần sanh

Do đây đoan nghiêm không ai sánh.

Tất cả thế gian đều xuất hiện

Chúng sanh căn dục đều biết rõ

Vì họ hoằng tuyên biển pháp môn

Bất Hoại Kim Tràng vui được ngộ.

Phật là Đạo Sư của thế gian

Pháp vân pháp vũ chẳng lường được

Tiêu cạn biển khổ vốn vô cùng

Bất Tạp Trần Cấu môn ngộ nhập.

Phiền não che đậy các chúng sanh

Lưu chuyển các loài chịu khổ não

Vì họ khai thị cảnh Như Lai

Hằng Trụ Ba Thần đã chứng được.

Phật trong nhiều kiếp khó nghĩ bàn

Tu hành công hạnh vô cùng tận

Dứt hẳn lưới nghi của chúng sanh

Cát Tường Bửu Nguyệt đã được biết.

Phật thấy chúng sanh thường khủng bố

Lưu chuyển trong biển sanh tử lớn

Khai đạo vô thượng của Như Lai

Diệu Hoa Long Kế đã hiểu được.

Chư Phật cảnh giới bất tư nghì

Pháp giới hư không tướng bình đẳng

Trừ sạch lưới nghi của chúng sanh

Trì Quang Vị Thần hay tuyên thuyết.

Phật nhãn thanh tịnh bất tư nghì

Tất cả cảnh giới đều gồm thấy

Ðem đạo vi diệu dạy chúng sanh

Bửu Diệm Hoa Quang tâm tỏ ngộ.

Ma quân rộng lớn số vô lượng

Trong một sát na đều trừ diệt

Tâm không lay động khó nghĩ lường

Kim Cang Diệu Kế được phương tiện.

Khắp mười phương cõi diễn diệu âm

Mười phương pháp giới đều cùng khắp

Cảnh giới tam muội của Như Lai

Hải Triều Âm Thần được rõ biết.

Phổ Phát Tấn Lưu Chủ Hà Thần được giải thoát môn khắp mưa vô biên pháp vũ.

Phổ Khiết Tuyền Giản Thần được giải thoát môn khắp hiện trước tất cả chúng sanh khiến lìa hẳn phiền não.

Ly Trần Tịnh Nhãn Thần được giải thoát môn dùng phương tiện đại bi khắp rửa sạch phiền não trần cấu của tất cả chúng sanh.

Thập Phương Biến Hống Thần được giải thoát môn hằng ra tiếng lợi ích chúng sanh.

Phổ Cứu Hộ Chúng Sanh Thần được giải thoát môn thường sanh lòng từ không não hại đối với tất cả hàm thức.

Vô Nhiệt Tịnh Quang Thần được giải thoát môn khắp thị hiện tất cả căn lành mát mẻ.

Phổ Sanh Hoan Hỷ Thần được giải thoát môn tu hành đầy đủ bố thí khiến tất cả chúng sanh lìa hẳn bỏn sẻn.

Quảng Ðức Thắng Tràng Thần được giải thoát môn làm tất cả phước điền hoan hỷ.

Quang Chiếu Phổ Thế Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh người tạp nhiễm được thanh tịnh, kẻ sân độc được hoan hỷ.

Hải Ðức Quang Minh Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh vào biển giải thoát thường hưởng vui đầy đủ.

Lúc đó, Phổ Phát Tấn Lưu Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Hà Thần rồi nói kệ rằng:

Như Lai thuở trước vì chúng sanh

Tu tập pháp hải vô biên hạnh

Dường như mưa rưới tan nóng nực

Dứt hết phiền não của chúng sanh.

Phật xưa nhiều kiếp bất tư nghì

Quang minh đại nguyện sạch thế gian

Căn tánh thuần thục khiến ngộ đạo

Phổ Khiết Tuyền Thần tâm được ngộ.

Ðại bi phương tiện khắp chúng sanh

Ðều hiện trước họ thường giáo hóa

Khiến họ dứt sạch phiền não nhơ

Tịnh Nhãn thấy đây rất vui đẹp.

Phật diễn diệu âm đều khiến nghe

Chúng sanh ưa thích lòng hoan hỷ

Ðều khiến trừ sạch vô lượng khổ

Biến Hống Thần đây được giải thoát.

Phật xưa tu tập hạnh Bồ đề

Vì lợi chúng sanh vô lượng kiếp

Do đó quang minh khắp thế gian

Phổ Cứu Hộ Thần nhớ biết rõ.

Phật xưa tu hành vì chúng sanh

Phương tiện giáo hóa khiến thành thục

Biển phước thanh tịnh trừ khổ phiền

Vô Nhiệt Quang Thần đã được thấy.

Bố thí rất rộng lớn vô cùng

Tất cả chúng sanh đều lợi ích

Hay khiến người thấy hết xan tham

Phổ Hoan Hỷ Thần được tỏ ngộ.

Phật xưa tu hành thiệt phương tiện

Thành tựu vô biên biển công đức

Người thấy được Phật đều mừng rỡ

Ðức Thắng Tràng Thần lòng vui thích.

Chúng sanh phiền não đều trừ sạch

Từ tâm bình đẳng với oán thù

Nên được quang minh chiếu khắp nơi

Phổ Chiếu Thế Thần được thấy rõ.

Phật là biển phước điền công đức

Hay khiến chúng sanh lìa điều ác

Nhẫn đến thành tựu đại Bồ đề

Hải Ðức Minh Thần được giải thoát.

Nhu Nhuyến Thắng Vị Chủ Giá Thần được giải thoát môn đem pháp vị cho chúng sanh khiến thành tựu thân Phật.

Thời Hoa Tịnh Quang Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh được sự vui mừng rộng lớn.

Sắc Lực Dũng Kiện Thần được giải thoát môn dùng tất cả pháp môn viên mãn làm cho các cảnh giới đều thanh tịnh.

Tăng Ích Tinh Khí Thần được giải thoát môn thấy đại bi vô lượng thần thông biến hóa của Phật.

Phổ Sanh Căn Quả Thần được giải thoát môn khắp hiện Phật phước điền khiến gieo giống không hư mất.

Diệu Nghiêm Hoàn Kế Thần được giải thoát môn khắp phát hoa tịnh tín của chúng sanh.

Nhuận Trạch Tịnh Hoa Thần được giải thoát môn đại từ cứu tế chúng sanh khiến thêm lớn biển phước đức.

Thành Tựu Diệu Hương Thần được giải thoát môn rộng khai thị tất cả hành pháp.

Kiến Giả Ái Nhạo Thần được giải thoát môn hay khiến pháp giới chúng sanh xa lìa những điều ác, giải đãi ưu não đều được thanh tịnh.

Ly Cấu Quang Minh Thần được giải thoát môn quán sát thiện căn của tất cả chúng sanh tùy thuận thuyết pháp khiến chúng hội được vui mừng đầy đủ.

Lúc đó, Nhu Nhuyến Thắng Vị Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Giá Thần rồi nói kệ rằng:

Như Lai vô thượng biển công đức

Khắp hiện đèn sáng chiếu thế gian

Tất cả chúng sanh đều cứu độ

Ban cho an lạc chẳng sót thừa.

Thế Tôn công đức vô lượng biên

Chúng sanh được nghe chẳng luống bỏ

Ðều khiến lìa khổ thường vui mừng

Thời Hoa Quang Thần được chứng nhập.

Như Lai trí lực đều viên mãn

Công đức trang nghiêm hiện thế gian

Ðiều phục tất cả loài chúng sanh

Pháp nầy Dũng Kiện được chứng rõ.

Phật xưa tu tập biển đại bi

Tâm Phật niệm niệm khắp thế gian

Thần thông của Phật thật vô biên

Tăng Tinh Khí Thần quan sát thấy.

Phật khắp thế gian thường hiện tiền

Tất cả phương tiện không luống bỏ

Chúng sanh phiền não đều sạch trừ

Sanh Căn Quả Thần được giải thoát.

Phật là biển trí của thế gian

Phóng tịnh quang minh đều cùng khắp

Tin hiểu rộng lớn từ đây sanh

Diệu Nghiêm Kế Thần được ngộ nhập.

Phật quán thế gian khởi từ tâm

Vì lợi chúng sanh mà xuất hiện

Khai thị thắng đạo rất vui lành

Nhuận Tịnh Hoa Thần môn giải thoát.

Thiện Thệ tu hành hạnh thanh tịnh

Dưới cội Bồ đề tuyên thuyết đủ

Giáo hóa như vậy khắp mười phương

Thành Diệu Hương Thần lãnh hội được.

Phật nơi tất cả các thế gian

Khiến lìa ưu não sanh đại hỷ

Bao nhiêu căn dục khiến sạch trừ

Kiến Ái Nhạo Thần được ngộ nhập.

Như Lai xuất hiện nơi thế gian

Quán sát chúng sanh lòng ưa thích

Các môn phương tiện khiến thành thục

Ly Cấu Quang Thần môn giải thoát.

Kiết Tường Chủ Dược Thần được giải thoát môn quán sát khắp tâm của tất cả chúng sanh mà siêng năng nhiếp thủ.

Chiên Ðàn Lâm Thần được giải thoát môn dùng quang minh nhiếp thủ chúng sanh khiến họ được lợi ích.

Ly Trần Quang Minh Thần được giải thoát môn hay dùng phương tiện thanh tịnh dứt trừ phiền não của tất cả chúng sanh.

Danh Xưng Phổ Văn Thần được giải thoát môn hay dùng đại danh xưng thêm lớn vô biên thiện căn.

Mao Khổng Hiện Quang Thần được giải thoát môn đại bi tràng mau đến tất cả cảnh giới bịnh tật.

Phá Ám Thanh Tịnh Thần được giải thoát môn chữa trị tất cả chúng sanh mù lòa khiến được trí nhãn thanh tịnh.

Phổ Phát Hống Thanh Thần được giải thoát môn hay diễn Phật âm giảng nghĩa sai biệt của các pháp.

Tế Nhựt Quang Tràng Thần được giải thoát môn hay làm thiện tri thức khiến chúng sanh đều phát thiện căn.

Minh Kiến Thập Phương Thần được giải thoát môn tạng đại bi thanh tịnh hay dùng phương tiện khiến chúng sanh tín giải.

Phổ Phát Oai Quang Thần được giải thoát môn phương tiện khiến niệm Phật dứt trừ bịnh của tất cả chúng sanh.

Lúc đó, Kiết Tường Thần, thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Dược Thần rồi nói kệ rằng:

Như Lai trí huệ bất tư nghì

Chúng sanh tâm niệm đều rõ biết

Hay dùng vô lượng phương tiện môn

Dứt trừ chúng sanh vô lượng khổ.

Ðại Hùng thiện xảo khó nghĩ lường

Hành động thi vi không luống uổng

Tất khiến chúng sanh khổ dứt trừ

Chiên Ðàn Lâm Thần đã ngộ được.

Ông xem chư Phật pháp dường ấy

Thuở xưa siêng tu vô lượng kiếp

Ðối với các cõi không chấp tham

Ly Trần Quang Thần được chứng nhập.

Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp Phật

Ai được thấy Phật và nghe danh

Tất được lợi ích không luống qua

Danh Xưng Phổ Văn đã biết rõ.

Trong mỗi chân lông của Như Lai

Ðều phóng quang minh dứt các khổ

Thế gian phiền não đều dứt trừ

Mao Khổng Quang Thần môn ngộ nhập.

Chúng sanh ngu si bị mù lòa

Nghiệp hoặc khổ não nhiều vô lượng

Phật đều dứt trừ khai trí huệ

Phá Ám Tịnh Thần quan sát thấy.

Như Lai nhứt âm vô hạn lượng

Khai diễn tất cả biển pháp môn

Chúng sanh được nghe đều biết rành

Phát Hống Thanh Thần được giải thoát.

Ông xem Phật trí khó nghĩ bàn

Hiện vào các loài để cứu độ

Hay khiến người thấy đều thuận theo

Tế Nhựt Tràng Thần rõ biết được.

Như Lai phương tiện biển đại bi

Vì cứu chúng sanh mà xuất hiện

Rộng khai chánh đạo dạy chúng sanh

Kiến Thập Phương Thần đã rõ thấu.

Như Lai khắp phóng đại quang minh

Tất cả mười phương đều chiếu đến

Chúng sanh niệm Phật sanh công đức

Phổ Phát Quang Thần môn giải thoát.

Bố Hoa Như Vân Chủ Lâm Thần được giải thoát môn biển trí rộng lớn vô biên.

Trạc Cán Thơ Quang Thần được giải thoát môn sửa sang rộng lớn khắp thanh tịnh.

Sanh Nha Phát Diệu Thần được giải thoát môn tăng trưởng các thứ mầm tịnh tín.

Kiết Tường Tịnh Diệp Thần được giải thoát môn trang nghiêm tất cả công đức thanh tịnh.

Thùy Bố Diệm Tạng Thần được giải thoát môn trí huệ phổ môn thanh tịnh thường xem khắp pháp giới.

Diệu Trang Nghiêm Quang Thần được giải thoát môn biết khắp công hạnh của tất cả chúng sanh mà bủa giăng mây pháp.

Khả Ý Lôi Thanh Thần được giải thoát môn nhẫn thọ tất cả tiếng trái ý mà diễn thuyết âm thanh thanh tịnh.

Hương Quang Phổ Biến Thần được giải thoát môn hiện khắp mười phương những cảnh giới rộng lớn đã làm từ thuở xưa.

Diệu Quang Hoánh Diệu Thần được giải thoát môn dùng tất cả công đức nhiêu ích thế gian.

Hoa Quả Quang Vị Thần được giải thoát môn hay khiến tất cả chúng sanh thấy Phật ra đời thường kính nhớ chẳng quên trang nghiêm tạng công đức.

Lúc đó, Hoa Bố Như Vân Thần thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Lâm Thần rồi nói kệ rằng:

Phật xưa tu tập hạnh Bồ đề

Phước đức trí huệ đều viên mãn

Tất cả trí lực trọn đủ đầy

Phóng đại quang minh mà xuất thế.

Ðại bi vô lượng khắp chúng sanh

Như Lai thuở xưa tu thanh tịnh

Nên nay hay làm lợi thế gian

Trạc Thơ Quang Thần biết rõ được.

Nếu người thấy Phật được một lần

Tất được thẳng vào biển thâm tín

Khai thị tất cả đạo Như Lai

Sanh Nha Diệu Thần môn giải thoát.

Chân lông chứa nhóm các công đức

Ức kiếp tuyên dương chẳng thể hết

Chư Phật phương tiện khó nghĩ bàn

Cát Tường Diệp Thần hay hiểu rõ.

Tôi nhớ Như Lai thuở xa xưa

Cúng dường sát trần vô lượng Phật

Trí huệ lần lần thêm sáng suốt

Bố Diệm Tạng Thần rõ biết được.

Tất cả chúng sanh nhiều công hạnh

Thế Tôn một niệm đều rõ biết

Trí huệ vô ngại rộng vô biên

Diệu Nghiêm Quang Thần hay ngộ nhập.

Hằng diễn Như Lai tịch diệu âm

Khắp sanh vô lượng đại hoan hỷ

Tùy theo căn tánh đều được ngộ

Lôi Âm Thần đây đã làm được.

Như Lai thị hiện đại thần thông

Mười phương quốc độ đều cùng khắp

Phật xưa tu hành khiến được thấy

Phổ Hương Quang Thần được chứng nhập.

Chúng sanh gian ác chẳng biết tu

Mê hoặc trầm luân trong sanh tử

Vì họ mở bày đường trí huệ

Diệu Quang Lâm Thần đã được thấy.

Phật vì nghiệp chướng các chúng sanh

Qua vô lượng kiếp mới xuất hiện

Người khác niệm niệm thường khiến thấy

Hoa Quả Vị Thần quan sát được.

Bửu Phong Khai Hoa Chủ Sơn Thần được giải thoát môn nhập đại tịch định quang minh.

Hoa Lâm Diệu Kế Thần được giải thoát môn tu tập từ thiện căn thành thục bất khả tư nghì số chúng sanh.

Cao Tràng Phổ Chiếu Thần được giải thoát môn quán sát tất cả tâm ưa thích của chúng sanh làm nghiêm tịnh các căn.

Ly Trần Bửu Kế Thần được giải thoát môn vô biên kiếp tinh tấn không nhàm trễ.

Quang Chiếu Thập Phương Thần được giải
thoát môn dùng vô biên công đức quang khắp giác ngộ.

Ðại Lực Quang Minh Thần được giải thoát môn hay tự thành thục, lại khiến chúng sanh xa lìa ngu mê.

Oai Quang Phổ Thắng Thần được giải thoát môn trừ tất cả khổ khiến không còn thừa.

Vi Mật Quang Luân Thần được giải thoát môn diễn giáo pháp quang minh hiển bày tất cả công đức của Như Lai.

Phổ Nhãn Hiện Kiến Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh, nhẫn đến trong chiêm bao, đều thêm lớn thiện căn.

Kim Cang Kiên Cố Nhãn Thần được giải thoát môn xuất hiện vô biên đại nghĩa.

Lúc đó, Bửu Phong Khai Hoa Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Sơn Thần rồi nói kệ rằng :

Xưa tu thắng hạnh rộng vô biên

Nay được thần thông cũng vô lượng

Rộng mở pháp môn nhiều vô số

Ðều khiến chúng sanh được tỏ ngộ.

Tướng hảo nghiêm thân khắp thế gian

Ánh sáng chân lông đều thanh tịnh

Ðại từ phương tiện bày tất cả

Diệu Kế Sơn Thần ngộ môn nầy.

Phật thân hiện khắp vô biên cõi

Thập phương thế giới đều đủ cả

Tướng hảo nghiêm tịnh người vui mừng

Phổ Chiếu Sơn Thần được ngộ nhập.

Nhiều kiếp siêng tu không lười mỏi

Chẳng nhiễm thế pháp như hư không

Các môn phương tiện độ chúng sanh

Môn nầy Bửu Kế Thần được ngộ.

Chúng sanh tối tăm vào đường hiểm

Phật xót thương họ phóng quang chiếu

Khiến khắp thế gian tỉnh giấc mơ

Quang Chiếu vui mừng tâm được ngộ.

Xưa ở các cõi rộng tu hành

Cúng dường thập phương vô số Phật

Chúng sanh được thấy phát nguyện to

Ðại Lực Sơn Thần đã thấy rõ.

Thấy các chúng sanh lưu chuyển khổ

Tất cả nghiệp chướng luôn ràng buộc

Dùng trí huệ quang đều dứt trừ

Phổ Thắng Sơn Thần được giải thoát.

Mỗi mỗi chân lông vang tiếng diệu

Tùy chúng sanh tâm ca ngợi Phật

Khắp cả mười phương vô lượng kiếp

Quang Luân Sơn Thần chứng môn nầy.

Khắp cả mười phương Phật hiện tiền

Các môn phương tiện thuyết diệu pháp

Lợi ích chúng sanh nhiều công hạnh

Hiện Kiến Sơn Thần được tỏ ngộ.

Pháp môn vô lượng dường biển cả

Nhứt âm diễn thuyết người đều hiểu

Cả kiếp diễn bày vẫn chẳng cùng

Môn phương tiện nầy Kim Cang được.

Phổ Ðức Tịnh Hoa Chủ Ðịa Thần được giải thoát môn dùng tâm từ bi niệm niệm quan sát khắp tất cả chúng sanh.

Kiên Phước Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn hiện khắp năng lực phước đức của tất cả chúng sanh.

Diệu Hoa Nghiêm Thọ Thần được giải thoát môn vào khắp các pháp xuất sanh tất cả cõi Phật trang nghiêm.

Phổ Tán Chúng Bửu Thần được giải thoát môn tu tập các môn tam muội khiến các chúng sanh trừ chướng cấu.

Tịnh Mục Quán Thời Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh thường du hí khoái lạc.

Kim Sắc Diệu Nhãn Thần được giải thoát môn thị hiện tất cả thân thanh tịnh điều phục chúng sanh.

Hương Mao Phát Quang Thần được giải thoát môn rõ biết biển công đức đại oai lực của tất cả Phật.

Tịch Âm Duyệt Ý Thần được giải thoát môn nhiếp trì khắp biển âm thanh của tất cả chúng sanh.

Diệu Hoa Triền Kế Thần được giải thoát môn đầy đủ tánh ly cấu.

Kim Cang Phổ Trì Thần được giải thoát môn khắp xuất hiện tất cả pháp luân của Phật nhiếp trì.

Lúc đó, Phổ Ðức Tịnh Hoa Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Chủ Ðịa Thần rồi nói kệ rằng:

Như Lai thuở xưa trong mỗi niệm

Môn đại từ bi bất khả thuyết

Tu hành như vậy không thôi ngừng

Nên được bền chắc thân bất hoại.

Tam thế chúng sanh và Bồ tát

Tất cả phước đức đã tạo được

Ðều hiện chân lông của Như Lai

Phước Nghiêm Ðịa Thần đã được thấy.

Tam muội tịch tịnh rất rộng lớn

Bất sanh bất diệt không lai khứ

Nghiêm tịnh quốc độ dạy chúng sanh

Diệu Hoa Ðịa Thần được giải thoát.

Phật thuở xa xưa tu các hạnh

Vì khiến chúng sanh tiêu chướng nặng

Phổ Tán Chúng Bửu Chủ Ðịa Thần

Thấy giải thoát nầy lòng mừng rỡ.

Như Lai cảnh giới không ngằn mé

Thế gian niệm niệm đều hiện khắp

Tịnh Mục Quán Thời Chủ Ðịa Thần

Thấy công hạnh Phật lòng vui đẹp.

Diệu âm vô hạn bất tư nghì

Khắp vì chúng sanh trừ phiền não

Thấy Phật công đức rộng vô biên

Kim Sắc Nhãn Thần hay tỏ ngộ.

Tất cả sắc hình đều hóa hiện

Mười phương pháp giới đều đầy khắp

Như vậy hóa độ các chúng sanh

Hương Mao Ðịa Thần thường thấy Phật.

Diệu âm cùng khắp cả mười phương

Trải vô lượng kiếp thường diễn thuyết

Duyệt Ý Ðịa Thần được suốt thông

Theo Phật được nghe rất mừng kính.

Chân lông thân Phật tuôn mây thơm

Tùy chúng sanh tâm khắp các cõi

Những ai được thấy thành căn lành

Diệu Hoa Kế Thần thường quan sát.

Kiên cố khó hoại như Kim Cang

Chẳng thể lay động hơn Tu Di

Phật thân như vậy ở thế gian

Phổ Trì Ðịa Thần được thấy rõ.

Bửu Phong Quang Diệu Chủ Thành Thần được giải thoát môn phương tiện lợi ích chúng sanh.

Diệu Nghiêm Cung Ðiện Thần được giải thoát môn biết căn tánh chúng sanh giáo hóa thành thục.

Thanh Tịnh Hỷ Bửu Thần được giải thoát môn thường vui mừng khiến tất cả chúng sanh hưởng thọ phước đức.

Ly Ưu Thanh Tịnh Thần được giải thoát môn tạng đại bi cứu những kẻ bố úy.

Hoa Ðăng Diệm Nhãn Thần được giải thoát môn đại trí huệ khắp rõ suốt.

Diệm Tràng Minh Hiện Thần được giải thoát môn phương tiện khắp thị hiện.

Thạnh Phước Oai Quang Thần được giải thoát


môn quan sát khắp tất cả chúng sanh khiến tu biển phước đức rộng lớn.

Tịnh Quang Minh Thân Thần được giải thoát môn khai ngộ tất cả chúng sanh ngu ám.

Hương Tràng Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn quan sát thần lực tự tại của Như Lai khắp thế gian điều phục chúng sanh.

Bửu Phong Quang Mục Thần được giải thoát môn có thể dùng đại quang minh phá núi chướng ngại của tất cả chúng sanh.

Lúc đó, Bửu Phong Quang Diệu Thần, thừa oai lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Chủ Thành Thần rồi nói kệ rằng:

Ðạo Sư thần lực bất tư nghì

Quang minh chiếu khắp mười phương cõi

Chúng sanh hiện tiền thấy Như Lai

Giáo hóa thành thục vô lượng số.

Chúng sanh căn tánh đều sai khác

Phật rõ biết cả không dư sót

Diệu Nghiêm Cung Ðiện Chủ Thành Thần

Chứng được môn nầy lòng mừng rỡ.

Như Lai vô lượng kiếp tu hành

Hộ trì chánh pháp của chư Phật

Tâm thường thừa phụng sanh hoan hỷ

Môn nầy Diệu Bửu Thần được ngộ.

Như Lai từ xưa đã trừ được

Tất cả khủng bố của chúng sanh

Luôn luôn với họ khởi từ bi

Ly Ưu Thành Thần mừng được ngộ.

Phật trí quảng đại vô hạn biên

Ví như hư không chẳng lường được

Hoa Ðăng Diệm Nhãn Chủ Thành Thần

Học được Như Lai môn diệu huệ.

Phật thân sắc tướng đồng chúng sanh

Tùy họ ưa thích đều khiến thấy

Diệm Tràng Minh Hiện Chủ Thành Thần

Học phương tiện nầy lòng hoan hỷ.

Như Lai ngày trước tu phước đức

Thanh tịnh quảng đại vô biên tế

Thạnh Phước Oai Quang Chủ Thành Thần

Quán sát tỏ ngộ lòng vui thích.

Chúng sanh ngu mê trong các cõi

Như kẻ sanh manh trọn không thấy

Vì lợi ích họ, Phật ra đời

Tịnh Quang Minh Thần được chứng nhập.

Như Lai tự tại rộng vô biên

Như mây che khắp cùng thế giới

Nhẫn đến hiện mộng khiến điều phục

Môn nầy Hương Tràng quan sát thấy.

Chúng sanh si tối như mù lòa

Các thứ chướng cái theo ràng buộc

Phật quang chiếu suốt khiến mở ra

Quang Mục Thành Thần được chứng nhập.

Tịnh Trang Nghiêm Tràng Ðạo Tràng Thần được giải thoát môn đủ sức thệ nguyện xuất hiện cúng dường Phật rộng lớn trang nghiêm.

Tu Di Bửu Quang Ðạo Tràng Thần được giải thoát môn thành tựu Bồ đề hạnh rộng lớn hiện ra trước tất cả chúng sanh.

Lôi Âm Tràng Tướng Ðạo Tràng Thần được giải thoát môn tùy tâm ưa thích của tất cả chúng sanh khiến trong chiêm bao thấy Phật thuyết pháp.

Vũ Hoa Diệu Nhãn Thần được giải thoát môn hay mưa tất cả đồ báu trang nghiêm.

Thanh Tịnh Diệm Hình Thần được giải thoát môn có thể hiện đạo tràng trang nghiêm vi diệu rộng giáo hóa chúng sanh khiến thành thục.

Hoa Anh Thùy Kế Thần được giải thoát môn theo căn cơ thuyết pháp khiến sanh chánh niệm.

Vũ Bửu Trang Nghiêm Thần được giải thoát môn hay dùng biện tài khắp mưa vô biên pháp hoan hỷ.

Dũng Mãnh Hương Nhãn Thần được giải thoát môn rộng khen ngợi công đức của chư Phật.

Kim Cang Thể Vân Thần được giải thoát môn thị hiện vô biên sắc tướng trang nghiêm đạo tràng.

Liên Hoa Quang Minh Thần được giải thoát môn dưới cội Bồ đề yên lặng bất động mà đến khắp mười phương.

Diệu Quang Chiếu Diệu Thần được giải thoát môn hiển thị những trí lực của Như Lai.

Lúc đó, Tịnh Trang Nghiêm Tràng Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Ðạo Tràng Thần rồi nói kệ rằng:

Tôi nhớ Như Lai thuở xa xưa

Trong vô lượng kiếp tu công hạnh

Chư Phật xuất thế đều cúng dường

Ðược công đức lớn dường hư không.

Phật xưa bố thí vô cùng tận

Vô lượng cõi nước như vi trần

Tu Di Bửu Quang Ðạo Tràng Thần

Nhớ đến Như Lai lòng hớn hở.

Như Lai sắc tướng vốn vô cùng

Biến hóa rộng khắp tất cả cõi

Chúng sanh mơ mộng thường thị hiện

Lôi Âm Tràng Thần quan sát thấy.

Phật vô lượng kiếp tu hạnh xả

Xả được khó xả trí như biển

Xả hạnh như vậy vì chúng sanh

Diệu Nhãn Hoa Thần tỏ ngộ được.

Vô biên sắc tướng như mây báu

Hiện Bồ đề tràng khắp thế gian

Thanh Tịnh Diệm Hình Ðạo Tràng Thần

Thấy Phật tự tại sanh hoan hỷ.

Chúng sanh công hạnh biển vô biên

Như Lai cùng khắp rưới mưa pháp

Tùy căn tánh họ trừ nghi hoặc

Hoa Anh Tràng Thần đã được ngộ.

Vô lượng pháp môn nghĩa sai khác

Biện tài rộng lớn đều vào được

Vũ Bửu Nghiêm Cụ Ðạo Tràng Thần

Nơi tâm niệm niệm thường như vậy.

Tất cả quốc độ bất khả thuyết

Dùng hết ngôn từ ca ngợi Phật

Nên được danh dự công đức to

Dũng Mãnh Nhãn Thần ghi nhớ được.

Các thứ sắc tướng nhiều vô biên

Dưới cội Bồ đề đều khắp hiện

Kim Thể Vân Thần ngộ môn nầy

Hằng quán đạo thọ sanh hoan hỷ.

Biên tế mười phương bất khả đắc

Phật tọa đạo tràng trí cũng vậy

Liên Hoa Quang Minh Ðạo Tràng Thần

Ðược giải thoát nầy rất vui thích.

Ðạo tràng tất cả xuất diệu âm

Ca ngợi Như Lai trí thanh tịnh

Cũng khen nhơn hạnh đã viên thành

Diệu Quang Chiếu Thần nghe hiểu được.

Bửu Ấn Thủ Túc Hành Thần được giải thoát môn khắp rưới những châu báu sanh hoan hỷ rộng lớn.

Liên Hoa Quang Thần được giải thoát môn thị hiện Phật thân ngồi tất cả tòa liên hoa sáng đẹp khiến người thấy vui mừng.

Tối Thắng Hoa Kế Thần được giải thoát môn trong mỗi tâm niệm kiến lập chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai.

Nhiếp Chư Thiện Kiến Thần được giải thoát môn cất chân bước đi đều điều phục vô biên chúng sanh.

Diệu Bửu Tinh Tràng Thần được giải thoát môn trong mỗi niệm hóa hiện các thứ lưới liên hoa chiếu sáng rưới những châu báu vang ra thanh âm vi diệu.

Nhạo Thổ Diệu Âm Thần được giải thoát môn xuất sanh vô biên hoan hỷ.

Chiên Ðàn Thọ Quang Thần được giải thoát môn dùng hương phong giác ngộ khắp tất cả chúng hội đạo tràng.

Liên Hoa Quang Minh Thần được giải thoát môn tất cả chân lông phóng quang minh diễn pháp âm vi diệu.

Vi Diệu Quang Minh Thần được giải thoát môn nơi thân phóng ra các thứ lưới quang minh chiếu sáng khắp nơi.

Tích Tập Diệu Hoa Thần được giải thoát môn khai ngộ tất cả chúng sanh khiến sanh nhiều thiện căn.

Lúc đó, Bửu Ấn Thủ Thần, thừa thần lực của Phật, quan sát khắp tất cả chúng Túc Hành Thần rồi nói kệ rằng:

Phật xưa tu hành vô lượng kiếp

Cúng dường tất cả mười phương Phật

Tâm thường vui đẹp chẳng mỏi nhàm

Tâm hoan hỷ rộng sâu như biển.

Niệm niệm thần thông chẳng thể lường

Hóa hiện hoa sen hương thơm ngát

Phật ngồi tòa sen đi khắp nơi

Liên Hoa Quang Thần đều thấy rõ.

Chư Phật Như Lai pháp như vậy

Chúng hội rộng lớn khắp mười phương

Thị hiện thần thông bất tư nghì

Tối Thắng Hoa Thần đều thấy biết.

Cõi nước mười phương tất cả chỗ

Nơi đó dở chân hoặc hạ chân

Ðều hay thành tựu các chúng sanh

Nhiếp Thiện Kiến Thần tâm được ngộ.

Như số chúng sanh khắp hiện thân

Mỗi mỗi thân nầy khắp pháp giới

Ðều phóng tịnh quang rưới các báu

Diệu Bảo Tinh Thần được chứng nhập.

Như Lai cảnh giới vô biên tế

Khắp rưới pháp vũ đều cùng khắp

Chúng hội thấy Phật sanh vui mừng

Thổ Diệu Âm Thần thấy biết được.

Âm thanh của Phật đồng hư không

Tất cả âm thanh đều ở trong

Ðiều phục chúng sanh đều cùng khắp

Chiên Ðàn Thọ Thần nghe hiểu được.

Tất cả chân lông vang tiếng pháp

Diễn thuyết hồng danh tam thế Phật

Người nghe tiếng nầy đều vui mừng

Liên Hoa Quang Thần thấy như vậy.

Phật thân biến hiện bất tư nghì

Mỗi bước hiện tướng dường như biển

Tùy tâm chúng sanh khiến được thấy

Diệu Quang Minh Thần được giải thoát.

Mười phương khắp hiện đại thần thông

Tất cả chúng sanh đều khai ngộ

Tập Diệu Hoa Thần nơi pháp nầy

Thấy biết trong lòng rất hoan hỷ.

Tịnh Hỷ Cảnh Giới Thân Chúng Thần được giải thoát môn nhớ biển thệ nguyện thuở xưa của Phật.

Quang Chiếu Thập Phương Thần được giải thoát môn quang minh phổ chiếu vô biên thế giới.

Hải Âm Ðiều Phục Thần được giải thoát môn đại âm khắp giác ngộ tất cả chúng sanh khiến vui mừng điều phục.

Tịnh Hoa Nghiêm Kế Thần được giải thoát môn thân ở cùng khắp như hư không.

Vô Lượng Oai Nghi Thần được giải thoát môn thị hiện cảnh giới chư Phật cho tất cả chúng sanh.

Tối Thắng Quang Nghiêm Thần được giải thoát môn khiến tất cả chúng sanh đói thiếu được sắc lực đầy đủ.

Tịnh Quang Hương Vân Thần được giải thoát môn trừ phiền não cấu của tất cả chúng sanh.

Thủ Hộ Nhiếp Trì Thần được giải thoát môn chuyển nghiệp ma ngu si của tất cả chúng sanh.

Phổ Hiện Nhiếp Hóa Thần được giải thoát môn khắp ở nơi trong tất cả cung điện của Thế Chủ hiển thị tướng trang nghiêm.

Bất Ðộng Quang Minh Thần được giải thoát môn nhiếp khắp tất cả chúng sanh đều khiến sanh thiện căn thanh tịnh.

Lúc đó, Tịnh Hỷ Cảnh Giới Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả Thân Chúng Thần rồi nói kệ rằng:

Tôi nhớ vi trần kiếp về trước

Có Phật Diệu Quang hiện xuất thế

Thế Tôn nơi đức Như Lai kia

Phát tâm cúng dường tất cả Phật.

Như Lai thân phóng đại quang minh

Quang chiếu pháp giới đều đầy khắp

Chúng sanh gặp được, tâm điều phục

Quang Chiếu Phương Thần đã được thấy.

Như Lai tiếng tăm khắp các cõi

Ngôn âm của Phật đều viên mãn

Giác ngộ quần sanh không sót thừa

Âm Ðiều Phục Thần lòng hớn hở.

Phật thân thanh tịnh thường tịch diệt

Khắp hiện nhiều thân vẫn vô tướng

Như vậy khắp ở nơi thế gian

Tịnh Hoa Nghiêm Thần chứng nhập được.

Ðạo Sư thần lực bất tư nghì

Tùy tâm chúng sanh đều khiến thấy

Hoặc ngồi hoặc đứng hoặc nằm đi

Vô lượng oai nghi được tỏ ngộ.

Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp Phật

Ra đời lợi ích sức tự tại

Khiến chúng xa lìa khổ nghèo cùng

Thắng Quang Nghiêm Thần môn chứng nhập.

Trong mỗi tướng răng của Như Lai

Phóng quang minh thơm như mây phủ

Dứt trừ hoặc nghiệp của chúng sanh

Tịnh Quang Hương Vân quan sát thấy.

Chúng sanh nhiễm trước vì chướng nặng

Chạy theo đường ma thường lưu chuyển

Như Lai khai thị giải thoát môn

Thủ Hộ Nhiếp Thần ngộ nhập được.

Tôi xem Như Lai sức tự tại

Phóng đại quang minh khắp pháp giới

Ở tại vương cung hóa chúng sanh

Phổ Hiện Hóa Thần được giải thoát.

Chúng sanh mê vọng đủ sự khổ

Phật ở trong đó thường cứu hộ

Khiến dứt phiền não tâm vui mừng

Bất Ðộng Quang Thần đã thấy biết.

Diệu Sắc Na La Diên Chấp Kim Cang Thần được giải thoát môn thấy Như Lai thị hiện thân vô biên sắc tướng.

Nhựt Luân Tốc Tật Tràng Thần được giải thoát môn mỗi sợi lông nơi thân Phật như mặt nhựt hiện ra các thứ quang minh.

Tu Di Hoa Quang Thần được giải thoát môn hóa hiện vô lượng thân đại thần biến.

Thanh Tịnh Vân Âm Thần được giải thoát môn vô biên âm thanh tùy theo mọi loài.

Diệu Tý Thiên Chủ Thần được giải thoát môn hiện vì tất cả Thế Chủ khai ngộ chúng sanh.

Khả Ái Nhạo Quang Minh Thần được giải thoát môn khắp khai thị tất cả môn sai biệt trong Phật pháp.

Ðại Thọ Lôi Âm Thần được giải thoát môn dùng đồ trang nghiêm khả ái nhiếp tất cả thọ thần.

Sư Tử Vương Quang Minh Thần được giải thoát môn phước đức trang nghiêm rộng lớn của
Như Lai đều đầy đủ rõ ràng.

Mật Diệm Cát Tường Mục Thần được giải thoát môn quán sát khắp tâm của chúng sanh hiểm ác vì họ hiện thân oai nghiêm.

Liên Hoa Ma Ni Kế Thần được giải thoát môn khắp rưới tất cả đồ trang nghiêm như ý của Bồ tát.

Lúc đó, Diệu Sắc Na La Diên Thần thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng Kim Cang Thần rồi nói kệ rằng:

Ông nên xem Pháp Vương

Pháp Vương pháp như vậy

Sắc tướng vô lượng biên

Thế gian đều hiện khắp.

Mỗi lông nơi thân Phật

Lưới sáng bất tư nghì

Dường như vừng mặt trời

Khắp soi mười phương cõi.

Như Lai sức thần thông

Pháp giới đều cùng khắp

Trước tất cả chúng sanh

Thị hiện thân vô tận.

Như Lai thuyết pháp âm

Mười phương đều được nghe

Tùy các loài chúng sanh

Ðều khiến tâm đầy đủ.

Chúng thấy đấng Mâu Ni

Ở trong cung điện vua

Khắp vì các quần sanh

Xiển dương pháp rộng lớn.

Chỗ biển pháp xây vần

Tất cả nghĩa sai biệt

Các thứ môn phương tiện

Diễn thuyết không cùng tận.

Vô biên phương tiện lớn

Khắp ứng mười phương cõi

Gặp Phật tịnh quang minh

Ðều thấy thân của Phật.

Cúng dường lên chư Phật

Số vạn ức vi trần

Công đức như hư không

Tất cả đều chiêm ngưỡng.

Thần thông lực bình đẳng

Tất cả cõi đều hiện

An tọa diệu đạo tràng

Khắp hiện trước quần chúng.

Quang minh chiếu thế gian

Ánh sáng đều viên mãn

Pháp giới chiếu khắp cùng

Hiển bày công hạnh Phật.

V. Đại Bồ Tát Giải Thoát Môn

*Phổ Hiền Bồ tát ma ha tát nhập bất tư nghì giải thoát môn phương tiện hải, nhập Như Lai công đức hải, chính là những môn giải thoát nghiêm tịnh tất cả quốc độ điều phục chúng sanh khiến họ được xuất ly rốt ráo, giải thoát môn khắp đến chỗ của tất cả Như Lai tu tập đầy đủ công đức, giải thoát môn an lập tất cả địa vị những đại nguyện của Bồ tát, có giải thoát môn khắp hiện vô số vô lượng thân, giải thoát môn diễn thuyết bất tư nghì số danh tự sai khác khắp tất cả quốc độ, giải thoát môn trong tất cả vi trần đều hiện vô biên cảnh giới thần thông của chư Bồ tát, có giải thoát môn trong một niệm hiện những sự kiếp thành kiếp hoại trong ba đời, có giải thoát môn hiện tất cả Bồ tát đều nhập cảnh giới của mình, có giải thoát môn hay dùng thần thông lực hóa hiện nhiều thân khắp vô biên pháp giới, có giải thoát môn hiển thị những pháp môn thứ đệ tu hành vào Nhứt thiết trí rộng lớn của tất cả Bồ tát. Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát ma ha tát dùng công đức của mình lại nương oai thần của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội rồi nói kệ rằng:

Như Lai trang nghiêm cõi rộng lớn

Ðồng với tất cả vi trần số

Phật tử thanh tịnh đều khắp đầy

Mưa bất tư nghì pháp vi diệu.

Như trong hội nầy thấy Phật ngồi

Tất cả vi trần đều như vậy

Phật thân không đến cũng không đi

Bao nhiêu quốc độ đều hiện rõ.

Hiển bày Bồ tát chỗ tu hành

Vô lượng quốc độ các phương tiện

Và nói chơn lý bất tư nghì

Khiến các Phật tử vào pháp giới

Xuất sanh hóa Phật số vi trần

Khắp ứng quần sanh lòng họ muốn

Thâm nhập pháp giới môn phương tiện

Rộng lớn vô biên đều khai diễn.

Như Lai danh hiệu đồng thế gian

Mười phương quốc độ đều đầy khắp

Tất cả phương tiện không luống qua

Ðiều phục chúng sanh lìa cấu nhiễm.

Phật ở trong tất cả vi trần

Thị hiện vô biên đại thần lực

Ðều ngồi đạo tràng hay diễn thuyết

Như Phật thuở xưa Bồ đề hạnh.

Tam thế vô biên kiếp rộng lớn

Phật trong mỗi niệm đều thị hiện

Tất cả kiếp hoại và kiếp thành

Trí bất tư nghì đều biết rõ.

Chúng hội Phật tử rộng vô hạn

Cùng nhau muốn lường cảnh giới Phật

Pháp môn của Phật vô lượng biên

Rõ biết được cả rất là khó.

Phật như hư không vô phân biệt

Ðồng chơn pháp giới vô sở y

Hóa hiện đi khắp đến mọi nơi

Ðều ngồi đạo tràng thành Chánh giác.

Phật dùng diệu âm rộng tuyên dương

Tất cả các địa đều rành rõ

Hiện trước khắp mỗi mỗi chúng sanh

Ðều ban pháp Như Lai bình đẳng.

Tịnh Ðức Diệu Quang Bồ tát ma ha tát được giải thoát môn qua khắp đạo tràng trang nghiêm của chúng hội Bồ tát ở mười phương.

Phổ Ðức Tối Thắng Ðăng Quang Chiếu đại Bồ tát được giải thoát môn trong một niệm hiện vô tận thân thành Chánh giác giáo hóa thành thục bất tư nghì chúng sanh.

Phổ Quang Sư Tử Tràng đại Bồ tát được giải thoát môn tu tập phước đức trang nghiêm của Bồ tát thành tựu tất cả Phật độ.

Phổ Bửu Diệm Diệu Quang đại Bồ tát được giải thoát môn quan sát thần thông cảnh giới không mê lầm.

Phổ Âm Công Ðức Hải Tràng đại Bồ tát được giải thoát môn ở trong một chúng hội đạo tràng thị hiện tất cả Phật độ trang nghiêm.

Phổ Trí Quang Chiếu Như Lai Cảnh đại Bồ tát được giải thoát môn theo Như Lai quan sát tạng pháp giới quảng đại thậm thâm.

Phổ Giác Duyệt Ý Thanh đại Bồ tát được giải thoát môn gần gũi phụng thờ tất cả chư Phật.

Phổ Thanh Tịnh Vô Tận Phước Oai Quang đại Bồ tát được giải thoát môn xuất sanh tất cả đà la ni thần thông biến hóa rộng lớn.

Phổ Bửu Kế Hoa Tràng đại Bồ tát được giải thoát môn công hạnh vào khắp tất cả thế gian xuất sanh vô biên hạnh môn của Bồ tát.

Phổ Tướng Tối Thắng Quang đại Bồ tát được giải thoát môn có thể ở nơi trong pháp giới vô tướng xuất hiện tất cả cảnh giới của chư Phật.

Lúc đó, Tịnh Ðức Diệu Quang đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp biển giải thoát môn của tất cả Bồ tát rồi nói kệ rằng:

Tất cả mười phương những quốc độ

Trong một sát na đều nghiêm tịnh

Dùng diệu âm thanh chuyển pháp luân

Cùng khắp thế gian không gì sánh.

Như Lai cảnh giới vô biên tế

Nhứt niệm pháp giới đều đầy đủ

Trong mỗi vi trần lập đạo tràng

Ðều chứng Bồ đề hiện thần biến.

Thế Tôn ngày trước tu các hạnh

Trải qua trăm ngàn vô lượng kiếp

Tất cả Phật độ đều trang nghiêm

Vô ngại như không thường xuất hiện.

Thần thông của Phật không hạn lượng

Sung mãn vô biên tất cả kiếp

Giả sử trải qua vô lượng kiếp

Niệm niệm quan sát không nhàm mỏi.

Nên quan sát Phật cảnh thần thông

Thập phương quốc độ đều nghiêm tịnh

Tất cả nơi đây đều hiện tiền

Niệm niệm chẳng đồng vô lượng thứ.

Xem Phật trăm ngàn vô lượng kiếp

Chẳng hết một lông nơi thân Phật

Phương tiện vô ngại của Như Lai

Phật quang chiếu khắp vô lượng cõi.

Kiếp xưa đức Phật ở thế gian

Kính thờ chư Phật vô biên số

Do đây đại chúng như sông đổ

Ðều đến cúng dường biển Thế Tôn.

Như Lai xuất hiện khắp mười phương

Trong mỗi vi trần vô lượng cõi

Vô lượng cảnh giới đều hiện ra

Ðều trụ vô biên vô tận kiếp.

Phật trong nhiều kiếp vì chúng sanh

Tu tập vô biên đại bi hạnh

Tùy thuận chúng sanh vào thế gian

Giáo hóa chúng hội khiến thanh tịnh.

Phật trụ chơn như pháp giới tạng

Vô tướng vô hình không cấu nhiễm

Chúng sanh xem thấy được Phật thân

Tất cả khổ nạn đều tiêu diệt.

Hải Nguyệt Quang Ðại Minh Bồ tát ma ha hát được giải thoát môn phương tiện xuất sanh các địa các ba la mật giáo hóa chúng sanh và nghiêm tịnh tất cả Phật độ.

Vân Âm Hải Quang Ly Cấu Tạng đại Bồ tát được giải thoát môn trong mỗi niệm vào khắp pháp giới các nơi sai khác.

Trí Sanh Bửu Kế đại Bồ tát được giải thoát môn trong vô lượng kiếp hiện công đức rộng lớn thanh tịnh ra trước tất cả chúng sanh.

Công Ðức Tự Tại Vương Tịnh Quang đại Bồ tát được giải thoát môn thấy các thứ trang nghiêm lúc thập phương tất cả Bồ tát tối sơ đến đạo tràng.

Thiện Dũng Mãnh Liên Hoa Kế đại Bồ tát được giải thoát môn tùy thuận căn trí của chúng sanh khắp hiển bày tất cả Phật pháp.

Phổ Trí Vân Nhựt Tràng đại Bồ tát được giải thoát môn thành tựu Phật trí an trụ vĩnh viễn vô lượng kiếp.

Ðại Tinh Tấn Kim Cang Tê đại Bồ tát được giải thoát môn công lực vào khắp tất cả vô biên pháp ấn.

Hương Diệm Quang Tràng đại Bồ tát được giải thoát môn hiển bày tất cả Phật hiện tại lúc bắt đầu tu hạnh Bồ tát nhẫn đến thành tựu đại trí huệ.

Ðại Minh Ðức Thâm Mỹ Âm đại Bồ tát được giải thoát môn an trụ biển đại nguyện của Phật Tỳ Lô Giá Na.

Ðại Phước Quang Trí Sanh đại Bồ tát được giải thoát môn hiển bày cảnh giới thậm thâm khắp pháp giới của Như Lai.

Lúc đó, Hải Nguyệt Quang Ðại Minh đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp biển trang nghiêm của tất cả chúng Bồ tát rồi nói kệ rằng:

Các ba la mật và các địa

Rộng lớn vô biên đều viên mãn

Vô lượng chúng sanh điều phục hết

Tất cả Phật độ đều nghiêm tịnh.

Như Phật giáo hóa chúng sanh giới

Mười phương quốc độ đều sung mãn

Trong mỗi tâm niệm chuyển pháp luân

Khắp ứng quần sanh không bỏ sót.

Phật trong vô lượng kiếp rộng lớn

Khắp hiện trước tất cả chúng sanh

Như Phật thuở xưa rộng tu hành

Ðem dạy cho họ hạnh thanh tịnh.

Tôi thấy mười phương không thừa sót

Cũng thấy chư Phật hiện thần thông

Ðều ngồi đạo tràng chứng Bồ đề

Chúng hội nghe pháp bao quanh Phật.

Quang minh rộng lớn Phật pháp thân

Hiện ở thế gian dùng phương tiện

Khắp theo chúng sanh lòng thích ưa

Xứng căn trí họ mà thuyết pháp.

Chơn như bình đẳng thân vô tướng

Pháp thân thanh tịnh lìa cấu nhiễm

Trí huệ tịch tịnh thân vô lượng

Ứng khắp mười phương mà thuyết pháp.

Trí lực của Phật đều thanh tịnh

Trí huệ vô biên như hư không

Vì chúng khai thị không ẩn sót

Khiến khắp chúng sanh đồng ngộ nhập.

Như Phật thuở xưa đã tu hành

Nhẫn đến thành tựu Nhứt thiết trí

Nay phóng quang minh khắp pháp giới

Trong đó hiện bày đều sáng rõ.

Phật dùng bổn nguyện hiện thần thông

Chiếu khắp mười phương không chỗ sót

Như Phật thuở xưa đã tu hành

Trong lưới quang minh đều diễn thuyết.

Thập phương cảnh giới vô cùng tận

Vô đẳng vô biên đều sai khác

Phật lực vô ngại phóng đại quang

Tất cả quốc độ đều sáng rõ.

VI. Chư Bồ Tát Cúng Dường Tán Thán

Lúc bấy giờ, tòa sư tử của Như Lai, những hoa báu đẹp, luân đài, thềm bực và các cửa nẻo, mỗi mỗi đều xuất hiện Phật sát vi trần số đại Bồ tát. Danh hiệu của các Ngài là: Hải Huệ Tự Tại Thần Thông Vương đại Bồ tát, Lôi Âm Phổ Chấn đại Bồ tát, Chúng Bửu Quang Minh Kế đại Bồ tát, Ðại Trí Nhựt Dũng Mãnh Huệ đại Bồ tát, Bất Tư Nghì Công Ðức Bửu Trí Ấn đại Bồ tát, Bá Mục Liên Hoa Kế đại Bồ tát, Kim Diệm Viên Mãn Quang đại Bồ tát, Pháp Giới Phổ Âm đại Bồ tát, Vân Âm Tịnh Nguyệt đại Bồ tát, Thiện Dũng Mãnh Quang Minh Tràng đại Bồ tát. Vi Trần số đại Bồ tát như vậy làm bực thượng thủ đồng thời xuất hiện. Chư Bồ tát nầy đều sắm những thứ cúng dường như mây: mây bửu hoa như ý, mây liên hoa diệu hương, mây bửu quang, mây hương diệm, mây quang minh như ý, mây nhạc âm duyệt ý, mây bửu đăng quang, mây cây nhánh bông trái bằng châu báu, mây vô tận bửu như ý quang minh thanh tịnh, mây tất cả đồ trang nghiêm như ý. Chư Bồ tát nầy đem những mây báu đẹp như vậy rưới khắp tất cả chúng hội đạo tràng để cúng dường, rồi đi nhiễu Phật vô lượng trăm ngàn vòng. Sau đó chư Bồ tát nầy hóa hiện vô lượng tòa sư tử liên hoa báu đẹp, rồi ngồi kiết già trên ấy. Công hạnh của chư Bồ tát nầy thanh tịnh rộng lớn như biển, được trí huệ lớn soi sáng pháp phổ môn, tùy thuận chư Phật được công hạnh vô ngại, đầy đủ biện tài, được bất tư nghì môn giải thoát, trụ nơi bực phổ môn của Như Lai, đã được tất cả môn đà la ni, có thể dung thọ tất cả pháp, khéo trụ bậc trí huệ tam thế bình đẳng, đã được hỷ lạc rộng lớn rất sâu, rất khéo thanh tịnh vô biên phước đức, quan sát khắp hư không pháp giới chư Phật xuất thế ở mười phương quốc độ đều siêng cần đến cúng dường. Lúc đó, Hải Huệ Tự Tại Thần Thông Vương đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Chư Phật tỏ ngộ đều đã biết

Vô ngại như không đều chiếu rõ

Sáng khắp mười phương vô lượng cõi

Ở nơi chúng hội rất nghiêm khiết.

Như Lai công đức chẳng thể lường

Thập phương pháp giới đều sung mãn

Khắp ngồi dưới tất cả thọ vương

Bực đại tự tại đồng vân tập.

Phật có sức thần thông như vậy

Một niệm hiện ra vô lượng tướng

Như Lai cảnh giới thật vô biên

Tùy môn giải thoát hay xem thấy.

Như Lai thuở xưa vô lượng kiếp

Ở trong các cõi siêng tu hành

Các môn phương tiện độ chúng sanh

Khiến họ tuân hành các Phật pháp.

Tỳ Lô Giá Na đủ tướng hảo

Ngồi liên hoa tạng sư tử tòa

Tất cả chúng hội đều thanh tịnh

An trụ vắng lặng đồng chiêm ngưỡng.

Ma ni bảo tạng phóng quang minh

Khắp phát vô biên mây hương diệm

Vô lượng chuỗi đẹp đồng thòng rũ

Bảo tọa như vậy Như Lai ngồi.

Các thứ trang nghiêm cửa cát tường

Thường phóng đăng quang mây bửu diệm

Lửa sáng rộng lớn chiếu khắp nơi

Ðức Phật ngồi trên thêm nghiêm hảo.

Các thứ cửa sổ ma ni đẹp

Hoa sen đẹp báu khắp trang nghiêm

Thường vang tiếng diệu người nghe vui

Phật ngồi trên tòa minh hiển nhứt.

Luân báu chở tòa hình bán nguyệt

Kim cang làm đài màu lửa sáng

Chư đại Bồ tát thường bao quanh

Phật ngồi giữa chúng sáng chói nhứt.

Các thứ biến hóa khắp mười phương

Diễn nói Như Lai nguyện rộng lớn

Tất cả ảnh tượng đều hiện trong

Trên tòa như vậy Phật an tọa.

Lúc đó, Vân Âm Phổ Chấn đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Ngày xưa Phật tu Bồ đề hạnh

Cúng dường thập phương vô lượng Phật

Như Lai oai lực thường hộ trì

Trong tòa Như Lai đều thấy rõ.

Như ý châu vương như lửa chói

Hoa đẹp trang nghiêm tòa sư tử

Các thứ trang nghiêm đều ảnh hiện

Tất cả chúng hội đồng thấy rõ.

Phật tòa khắp hiện tướng trang nghiêm

Niệm niệm sắc loại đều sai biệt

Tùy các chúng sanh hiểu chẳng đồng

Riêng thấy Phật ngồi nơi trên đó.

Nhánh báu bủa giăng lưới liên hoa

Hoa nở hiện ra chư Bồ tát

Tiếng vui vi diệu thường vang ra

Ca ngợi Như Lai ngồi bửu tòa.

Công đức Như Lai rộng vô lượng

Tất cả trang nghiêm từ đây sanh

Những sự nghiêm sức trong mỗi địa

Tất cả chúng sanh chẳng rõ được.

Kim cang làm đất không hư hoại

Rộng lớn thanh tịnh rất bằng phẳng

Ma ni làm lưới giăng hư không

Dưới cội Bồ đề đều cùng khắp.

Nơi đó vô biên sắc tướng sáng

Chơn kim làm cát rải khắp nơi

Khắp nơi rải hoa và châu báu

Ðều dùng sáng đẹp tòa Như Lai.

Ðịa Thần hoan hỷ nên hớn hở

Sát na thị hiện vô cùng tận

Khắp hiện tất cả mây trang nghiêm

Luôn ở trước Phật đứng chiêm ngưỡng.

Bửu đăng rộng lớn rất sáng chói

Hương diệm phóng quang không dừng ngớt

Tùy thời thị hiện đều sai khác

Ðịa Thần dùng đây cúng dường Phật.

Tất cả mười phương những quốc độ

Những sự trang nghiêm trong các cõi

Nay đạo tràng nầy đều hiện đủ

Do Phật oai thần nên được vậy.

Lúc đó, Chúng Bửu Quang Minh Kế đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Thế Tôn thuở trước lúc tu hành

Thấy các Phật độ đều viên mãn

Vô lượng vô tận việc đã thấy

Trong đạo tràng nầy đều hiện đủ.

Thần lực quảng đại của Thế Tôn

Phóng quang khắp rưới ma ni bửu

Bửu châu như vậy rải đạo tràng

Khắp cả mặt đất trang nghiêm đẹp.

Như Lai phước đức đại thần thông

Ma ni châu bửu khắp trang nghiêm

Mặt đất cùng dưới cội Bồ đề

Ðều phóng quang minh mà diễn thuyết.

Bửu đăng vô lượng từ trên xuống

Bửu vương xen lẫn để trang nghiêm

Khắp nơi đều diễn diệu pháp âm

Ðây là Ðịa Thần tự hiển hiện.

Bửu địa khắp nơi hiện mây sáng

Bửu cự chói sáng như chớp nháng

Bửu võng bủa giăng trùm trên không

Bửu chi bày hàng trang nghiêm đẹp.

Các Ngài nên xem nơi chốn nầy

Nhiều thứ diệu bảo dùng trang nghiêm

Hiển bày biển nghiệp của chúng sanh

Khiến họ rõ biết chơn pháp tánh.

Cùng khắp mười phương tất cả Phật

Những cội Bồ đề đều viên mãn

Tất cả đều hiện trong đạo tràng

Diễn nói Như Lai pháp thanh tịnh.

Tùy lòng ưa thích của chúng sanh

Nơi ấy vang ra tiếng vi diệu

Như trên Phật tòa đã diễn thuyết

Mỗi mỗi pháp môn đều nói đủ.

Nơi ấy thường phóng diệu hương quang

Hương quang diễn nói tiếng thanh tịnh

Nếu có chúng sanh kham thọ pháp

Ðều khiến được nghe trừ phiền não.

Mỗi mỗi trang nghiêm đều viên mãn

Giả sử ức kiếp nói không hết

Như Lai thần lực khắp mọi nơi

Vì thế chỗ kia đều nghiêm tịnh.

Lúc đó, Ðại Trí Nhựt Dũng Mãnh Huệ đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Thế Tôn nghiêm nhìn ngồi pháp đường

Chói sáng rực rỡ trong cung điện

Tùy lòng ưa thích của chúng sanh

Thân Phật hiện khắp mười phương cõi.

Như Lai cung điện chẳng nghĩ bàn

Ma ni bửu tạng dùng trang sức

Những đồ trang nghiêm đều sáng trưng

Trong đó Phật ngồi minh hiển nhứt.

Ma ni làm trụ đủ các màu

Linh lạc chơn kim như mây bủa

Thềm báu bốn mặt liệt thành hàng

Cửa nẻo tùy phương đều mở rộng.

Màn trướng trang nghiêm lụa bông đẹp

Cây báu nhánh lá đều nghiêm sức

Chuỗi ngọc ma ni rũ bốn phương

Pháp Vương yên lặng ngồi trong đó.

Ma ni làm lưới tràng đẹp thơm

Ðèn sáng chói rực như mây bủa

Che trên dùng những vật trang nghiêm

Ðấng Chánh Biến Tri ngồi nơi đó.

Hiện mây biến hóa khắp mười phương

Mây ấy diễn thuyết khắp thế gian

Tất cả chúng sanh đều thuận phục

Hiện rõ như vậy trong điện Phật.

Ma ni làm cây đơm bông đẹp

Mười phương các cõi không sánh được

Những sự trang nghiêm trong ba đời

Bóng hình đều hiện nơi trong ấy.

Các nơi đều có châu ma ni

Ánh sáng rực rỡ vô lượng thứ

Cửa nẻo tùy phương xen nhau bày

Trụ nóc trang nghiêm rất tráng lệ.

Như Lai cung điện bất tư nghì

Thanh tịnh quang minh đủ các tướng

Tất cả cung điện hiện nơi trong

Nơi nơi đều có Như Lai tọa.

Như Lai cung điện vô lượng biên

Ðức Phật tự nhiên ngự trong ấy

Mười phương tất cả các chúng hội

Ðều hướng về Phật mà vân tập.

Lúc đó, Bất Tư Nghì Công Ðức Bửu Trí Ấn đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Xưa Phật tu hành những biển phước

Tất cả quốc độ vi trần số

Thần thông nguyện lực cảm sanh ra

Ðạo tràng nghiêm tịnh không cấu nhiễm.

Châu vương như ý làm gốc cây

Kim cang như ý làm thân cây

Bửu võng che giăng trên không gian

Diệu hương ngào ngạt lan tràn khắp.

Cây nhánh nghiêm sức đủ châu báu

Thân bằng ma ni đua cao vọi

Nhánh lá che đầy như mây giăng

Ðây là đạo tràng nơi Phật ngự.

Ðạo tràng rộng lớn bất tư nghì

Cây báu giáp vòng đều che khắp

Lá dầy bông sai soi sáng nhau

Trong hoa đều kết ma ni quả.

Tất cả nhánh cây phát diệu quang

Chiếu khắp đạo tràng đều sáng rỡ

Quang minh thanh tịnh sáng vô tận

Hiển hiện như đây do Phật lực.

Ma ni bửu tạng dùng làm bông

Bóng sáng chói giăng dường mây gấm

Quanh cây khắp nơi đều thơm tho

Trong đạo tràng nầy khắp nghiêm sức.

Các Ngài nên xem Phật đạo tràng

Lưới báu liên hoa đều thanh tịnh

Tia sáng kết vừng đây hiện ra

Tiếng lạc tiếng linh trong mây phát.

Mười phương tất cả các quốc độ

Những cây trang nghiêm màu sắc tốt

Trong cội Bồ đề hiện rõ ràng

Phật ngự nơi đây sạch cấu nhiễm.

Ðạo tràng rộng lớn do phước thành

Cây nhánh mưa báu luôn vô tận

Trong báu xuất hiện các Bồ tát

Ðều đến mười phương cúng dường Phật.

Chư Phật cảnh giới bất tư nghì

Khiến khắp cây báu vang tiếng nhạc

Như đạo Bồ đề tu thuở trước

Chúng hội nghe tiếng đều được thấy.

Lúc đó, Bá Mục Liên Hoa Kế đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Tất cả ma ni vang diệu âm

Xưng dương hồng danh tam thế Phật

Chư Phật vô lượng sự thần thông

Trong đạo tràng đây đều hiện thấy.

Các bông đua nở như chuỗi giăng

Mây sáng phủ tuôn khắp mười phương

Thần cây Bồ đề hướng Thế Tôn

Nhứt tâm chiêm ngưỡng cúng dường Phật.

Lửa sáng ma ni kết thành tràng

Trong tràng hừng hực phát hương thơm

Hương thơm huân khắp tất cả chúng

Do đây đạo tràng đều nghiêm khiết.

Liên hoa thòng tuôn sáng màu vàng

Sáng vàng vang ra tiếng của Phật

Che khắp mười phương các quốc độ

Dứt hẳn nóng phiền của đại chúng.

Bồ đề thọ vương tự tại lực

Thường phóng quang minh rất thanh tịnh

Chúng hội mười phương vô lượng biên

Trong đạo tràng nầy đều hiện rõ.

Nhánh báu chói rõ như đèn sáng

Ánh sáng tuyên thuyết bổn nguyện lớn

Như Phật thuở xưa nơi các cõi

Công hạnh tu hành đều nói đủ.

Dưới cây chư Thần đông vô số

Nơi đạo tràng nầy đồng hội đến

Trước cây đạo thọ của Như Lai

Cùng nhau tuyên dương môn giải thoát.

Thế Tôn thuở xưa thường tu tập

Cúng dường tất cả mười phương Phật

Công hạnh tu hành và hồng danh

Trong châu ma ni đều hiện rõ.

Tất cả đạo tràng vang tiếng diệu

Diệu âm rộng lớn khắp mười phương

Nếu có chúng sanh thọ được pháp

Liền điều phục họ khiến thanh tịnh.

Như Lai thuở xưa khắp tu hành

Tất cả vô lượng trang nghiêm sự

Mười phương tất cả cội Bồ đề

Mỗi cây trang nghiêm vô lượng thứ.

Lúc đó, Kim Diệm Viên Mãn Quang đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Xưa Phật tu hành hạnh Bồ đề

Nơi các cảnh giới hiểu rành rõ

Xứ cùng phi xứ trọn không nghi

Ðây là trí lực đầu tiên cả.

Như xưa khắp quan sát pháp tánh

Tất cả biển nghiệp đều sáng suốt

Việc ấy ngày nay trong lưới sáng

Cùng khắp mười phương diễn thuyết đủ.

Thuở xưa tu hành đại phương tiện

Theo cơ chúng sanh mà hóa độ

Khiến khắp chúng hội lòng sạch trong

Nên nay Phật thành căn trí lực.

Như các chúng sanh hiểu chẳng đồng

Ý muốn việc làm đều sai khác

Thuận theo mỗi người để thuyết pháp

Phật dùng trí lực được như vậy.

Khắp hết mười phương những cõi nước

Tất cả vô lượng chúng sanh giới

Phật trí bình đẳng như hư không

Trong chân lông Phật đều hiện đủ.

Việc làm mọi nơi Phật đều biết

Nhứt niệm tam thế đều không sót

Thập phương quốc độ các chúng sanh

Có thể khai thị khiến được rõ.

Thiền định giải thoát sức vô biên

Tam muội phương tiện cũng như vậy

Vì chúng thị hiện khiến vui mừng

Tối tăm phiền não đều trừ sạch.

Trí Phật vô ngại gồm tam thế

Sát na đều hiện trong chân lông

Phật pháp quốc độ và chúng sanh

Hiện rõ đều do sức tùy niệm.

Phật nhãn rộng lớn như hư không

Thấy khắp pháp giới đều không sót

Lực dụng vô thượng bực Vô ngại

Phật nhãn vô lượng hiển bày được.

Tất cả chúng sanh đủ phiền não

Tất cả tùy miên cùng tập khí

Như Lai xuất hiện khắp thế gian

Ðều dùng phương tiện khiến trừ diệt.

Lúc đó, Pháp Giới Phổ Âm đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Oai thần của Phật khắp mười phương

Thị hiện rộng lớn vô phân biệt

Hạnh đại Bồ đề ba la mật

Từ xưa đầy đủ đều khiến thấy.

Xưa với chúng sanh khởi đại bi

Tu hành bố thí ba la mật

Do đây thân Phật rất đẹp xinh

Chúng sanh thấy Phật đều mừng rỡ.

Thuở xưa vô biên vô lượng kiếp

Tu trì tịnh giới ba la mật

Thân Phật thanh tịnh khắp mười phương

Dứt trừ thế gian những đau khổ.

Thuở xưa tu hành nhẫn thanh tịnh

Tín giải chơn thiệt vô phân biệt

Nên sắc tướng Phật đều viên mãn

Phóng quang chiếu sáng khắp mười phương.

Thuở xưa nhiều kiếp tinh tấn tu

Chuyển được chúng sanh chướng sâu nặng

Nên Phật phân thân khắp mười phương

Dưới cội Bồ đề đều có Phật.

Xưa Phật tu hành vô lượng kiếp

Vô lượng thiền định đều thanh tịnh

Người thấy được Phật tâm vui mừng

Phiền não chướng cấu đều trừ dứt.

Như Lai thuở xưa tu các hạnh

Ðầy đủ Bát nhã ba la mật

Nên Phật phóng quang khắp sáng soi

Trừ được tất cả ngu si ám.

Các môn phương tiện độ chúng sanh

Khiến chỗ tu hành đều thành tựu

Tất cả mười phương đều khắp qua

Vô biên kiếp số chẳng thôi dứt.

Xưa Phật tu hành trải nhiều kiếp

Trọn nên đại nguyện ba la mật

Nên Phật xuất hiện khắp thế gian

Cứu chúng sanh tận vị lai tế.

Từ vô lượng kiếp Phật tu hành

Tất cả pháp lực ba la mật

Do đây được thành sức tự nhiên

Hiện khắp mười phương các quốc độ.

Xưa Phật tu hành trí phổ môn

Trí tánh rộng lớn như hư không

Do đây được thành sức vô ngại

Phóng quang chiếu khắp mười phương cõi.

Lúc đó, Vân Âm Tịnh Nguyệt đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp tất cả chúng hội đạo tràng rồi nói kệ rằng:

Thần thông cảnh giới khắp hư không

Thập phương chúng sanh đều được thấy

Như xưa tu hành đã được thành

Trong quả ma ni đều nói đủ.

Thanh tịnh siêng tu vô lượng kiếp

Vào bực Sơ địa cực hoan hỷ

Xuất sanh pháp giới trí rộng lớn

Thấy khắp mười phương vô lượng Phật.

Trong tất cả pháp bực Ly cấu

Khắp chúng sanh số trì tịnh giới

Ðã nhiều đại kiếp rộng tu hành

Cúng dường vô biên vô lượng Phật.

Chứa nhóm phước đức bực Phát quang

Tạng xa ma tha trí kiên cố

Pháp vân rộng lớn đều đã nghe

Trong trái ma ni nói như vậy.

Diệm huệ sáng chói bực Vô đẳng

Khéo rõ cảnh giới khởi từ bi

Tất cả quốc độ bình đẳng thân

Như Phật đã tu đều diễn nói.

Các môn pháp tạng bực Nan thắng

Ðộng tịch thuận nhau không trái phản

Cảnh giới Phật pháp đều bình đẳng

Như Phật đã tu đều nói được.

Tu hành rộng lớn bực Hải huệ

Tất cả pháp môn đều rõ khắp

Hiện khắp quốc độ như hư không

Pháp âm nầy trong cây diễn nói.

Cùng khắp pháp giới thân hư không

Khắp soi chúng sanh đèn trí huệ

Tất cả phương tiện đều thanh tịnh

Bực Viễn hành xưa nay nói đủ.

Tất cả nguyện hạnh đã trang nghiêm

Vô lượng quốc độ đều thanh tịnh

Tất cả phân biệt không động được

Ðây bực Vô đẳng đều tuyên thuyết.

Vô lượng cảnh giới sức thần thông

Khéo vào giáo pháp quang minh lực

Thanh tịnh như đây bực Thiện huệ

Nhiều kiếp tu hành đều nói đủ.

Pháp vân rộng lớn đệ Thập địa

Chứa trùm tất cả khắp hư không

Cảnh giới chư Phật đều tuyên bày

Tiếng nầy Bồ tát oai thần Phật.

Lúc đó, Thiện Dũng Mãnh Quang Tràng đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Vô lượng chúng sanh ở trong hội

Các môn tin hiểu tâm thanh tịnh

Ðều ngộ nhập được trí Như Lai

Liễu đạt tất cả trang nghiêm cảnh.

Ðều khởi tịnh nguyện tu các hạnh

Ðều từng cúng dường vô lượng Phật

Thấy thân chơn thiệt của Như Lai

Cũng thấy tất cả những thần biến.

Hoặc có thấy được Phật pháp thân

Vô đẳng vô ngại đều cùng khắp

Tất cả vô biên các pháp tánh

Ðều vào trong thân không thừa sót.

Hoặc có thấy Phật diệu sắc thân

Quang minh sắc tướng đều vô biên

Tùy các chúng sanh hiểu chẳng đồng

Trong mười phương đều hiện biến khắp.

Hoặc thấy vô ngại trí huệ thân

Tam thế bình đẳng như hư không

Thuận tâm chúng sanh mà chuyển biến

Các môn sai biệt đều khiến thấy.

Có người rõ được âm thanh Phật

Cùng khắp mười phương các cõi nước

Tùy theo chúng sanh chỗ nên hiểu

Ngôn âm nói ra không chướng ngại.

Hoặc thấy Như Lai phóng quang minh

Sáng soi mọi nơi khắp thế gian

Có người ở trong Phật quang minh

Lại thấy chư Phật hiện thần biến.

Có người thấy Phật phóng quang minh

Từ nơi chân lông tuôn ánh sáng

Thị hiện thuở xưa đạo tu hành

Khiến sanh tin sâu vào Phật trí.

Hoặc thấy tướng Phật phước trang nghiêm

Và thấy phước nầy từ đâu sanh

Thuở xưa tu hành ba la mật

Ðều trong tướng Phật được thấy rõ.

Như Lai công đức chẳng thể lường

Ðầy khắp pháp giới không ngằn mé

Nhẫn đến thần thông các cảnh giới

Do nơi Phật lực tuyên nói được.

Lúc đó, Hoa Tạng thế giới trang nghiêm do thần lực của Phật, khắp nơi chấn động sáu cách mười tám tướng: động, biến động, phổ biến động; khởi, biến khởi, phổ biến khởi; dũng, biến dũng, phổ biến dũng; chấn, biến chấn, phổ biến chấn; hống, biến hống, phổ biến hống; kích, biến kích, phổ biến kích. Các Thế Chủ trên đây mỗi vị đều hiện bất tư nghì những cụm mây báu cúng dường rưới xuống nơi chúng hội đạo tràng của Như Lai: những mây hoa hương trang nghiêm, những mây ma ni tốt đẹp, những mây lưới báu rực rỡ, những mây vô biên các loại châu ma ni sáng chói, những mây chơn châu nhiều màu, những mây hương chiên đàn, những mây bửu cái, những mây châu ma ni vang ra tiếng vi diệu thanh tịnh, những mây chuỗi ngọc ma ni sáng như mặt nhựt, những mây bảo tạng quang minh, những mây các thứ đồ trang nghiêm sai khác. Như trong thế giới nầy mỗi vị Thế Chủ hoan hỷ cúng dường như vậy, trong Hoa Tạng thế giới trang nghiêm tất cả Thế Chủ cũng cúng dường như vậy. Trong tất cả thế giới, đều có Như Lai ngồi đạo tràng, mỗi vị Thế Chủ đều riêng tin hiểu, đều riêng cảnh duyên, đều riêng môn tam muội phương tiện, đều riêng tu tập pháp trợ đạo, đều riêng thành tựu, đều riêng hoan hỷ, đều riêng chứng nhập, đều riêng ngộ hiểu các pháp môn, đều riêng nhập cảnh giới thần thông của Như Lai, đều riêng vào cảnh giới trí lực của Như Lai, đều riêng nhập môn giải thoát của Như Lai. Như Hoa Tạng thế giới nầy, thập phương tận pháp giới hư không giới trong tất cả thế giới cũng đều như vậy.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM NHƯ LAI HIỆN TƯỚNG

THỨ HAI

*Lúc bấy giờ, chư Bồ tát và tất cả Thế Gian Chủ nghĩ rằng: Thế nào là địa vị của chư Phật? Thế nào là cảnh giới của chư Phật? Thế nào là chư Phật gia trì? Thế nào là chỗ làm của chư Phật? Thế nào là lực của chư Phật? Thế nào là vô sở úy của chư Phật? Thế nào là tam muội của chư Phật? Thế nào là thần thông của chư Phật? Thế nào là chư Phật tự tại? Thế nào là chư Phật không ai nhiếp thủ được? Thế nào là mắt của chư Phật? Thế nào là tai của chư Phật? Thế nào là mũi của chư Phật? Thế nào là lưỡi của chư Phật? Thế nào là thân của chư Phật? Thế nào là ý của chư Phật? Thế nào là thân quang của chư Phật? Thế nào là quang minh của chư Phật? Thế nào là tiếng của chư Phật? Thế nào là trí của chư Phật? Mong đức Thế Tôn xót thương chúng tôi mà khai diễn cho.

Lại thập phương chư Phật đều vì chư Bồ tát mà diễn thuyết thế giới hải, chúng sanh hải, pháp hải, an lập hải, Phật hải, Phật ba la mật hải, Phật giải thoát hải, Phật biến hóa hải, Phật diễn thuyết hải, Phật danh hiệu hải, Phật thọ lượng hải và diễn nói Bồ tát thệ nguyện hải, Bồ tát phát thú hải, Bồ tát trợ đạo hải, Bồ tát thừa hải, Bồ tát hạnh hải, Bồ tát xuất ly hải, Bồ tát thần thông hải, Bồ tát ba la mật hải, Bồ tát địa hải, Bồ tát trí hải. Mong đức Thế Tôn cũng vì chúng tôi mà diễn thuyết như vậy.

Lúc đó, do thần lực của chư Bồ tát, nơi trong tất cả lùm mây đồ cúng dường tự nhiên vang ra tiếng nói kệ rằng:

Vô lượng kiếp tu hành viên mãn

Dưới cội Bồ đề thành Chánh giác

Vì độ chúng sanh khắp hiện thân

Như mây đầy khắp vị lai tế.

Chúng sanh có nghi đều khiến dứt

Tin hiểu rộng lớn đều khiến phát

Vô biên khổ não đều khiến trừ

An lạc của Phật đều khiến chứng.

Vô số Bồ tát đồng sát trần

Cùng đến pháp hội chiêm ngưỡng Phật

Mong theo ý mình chỗ nên thọ

Phật thuyết diệu pháp trừ nghi hoặc.

Thế nào rõ biết Như Lai địa

Thế nào quan sát Như Lai cảnh

Phật chỗ gia trì pháp vô biên

Mong dạy pháp nầy khiến thanh tịnh.

Thế nào là Phật chỗ thật hành

Mà dùng trí huệ có thể vào

Phật lực thanh tịnh rộng vô biên

Vì các Bồ tát nên khai thị.

Thế nào rộng lớn các tam muội

Thế nào tịnh trị pháp vô úy

Thần thông lực dụng chẳng thể lường

Nguyện tùy chúng sanh tâm thích nói.

Chư Phật Pháp Vương như Thế Chủ

Chỗ làm tự tại không chướng ngại

Tất cả những pháp rộng lớn kia

Vì lợi chúng sanh nên khai diễn.

Tại sao Phật nhãn là vô lượng

Nhĩ, tỷ, thiệt, thân cũng như vậy

Phật ý vô lượng lại thế nào

Mong giải cho biết phương tiện đó.

Như các chúng sanh vô lượng cõi

Pháp giới chỗ có sự an lành

Chư Phật rộng lớn cũng vô biên

Mong vì Phật tử đều khai diễn.

Ra hẳn các độ khả tư nghì

Khắp vào giải thoát môn phương tiện

Chỗ có tất cả biển pháp môn

Trong đạo tràng nầy xin tuyên thuyết.

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn biết tâm niệm của chư Bồ tát liền từ trên mặt, trong răng phóng ra vi trần số quang minh. Những là quang minh bửu hoa khắp soi sáng, những quang minh các thứ tiếng trang nghiêm pháp giới, những quang minh giăng bủa mây vi diệu, những quang minh thập phương chư Phật ngồi đạo tràng hiện thần biến, những quang minh mây lọng báu, những quang minh đầy khắp pháp giới vô ngại, những quang minh trang nghiêm khắp soi tất cả cõi Phật, những quang minh kiến lập bửu tràng kim cang thanh tịnh, những quang minh khắp trang nghiêm chúng hội đạo tràng Bồ tát, những quang minh diệu âm xưng dương tất cả danh hiệu chư Phật… Phật phóng ra vi trần số quang minh như vậy. Mỗi quang minh nầy lại có vi trần số quang minh làm quyến thuộc. Tất cả quang minh đủ màu báu đẹp, chiếu khắp mười phương đều một ức Phật sát vi trần số thế giới. Chúng Bồ tát trong những thế giới đó từ nơi quang minh đều được thấy Hoa Tạng thế giới trang nghiêm nầy. Do thần lực của Phật quang minh đó ở trước tất cả chúng hội Bồ tát xướng kệ rằng:

Trong vô lượng kiếp chỗ tu hành

Cúng dường thập phương vô lượng Phật

Hóa độ tất cả loài chúng sanh

Nay thành đấng Thế Tôn Diệu Giác.

Trong chân lông Phật tuôn mây báu

Quang minh chiếu khắp mười phương cõi

Người đáng được độ đều thấy hiểu

Khiến đến Bồ đề không chướng ngại.

Phật xưa qua lại trong các loài

Giáo hóa thành thục những quần sanh

Thần thông tự tại vô lượng biên

Một niệm đều khiến được giải thoát.

Cây báu Bồ đề châu ma ni

Các thứ trang nghiêm đều đặc thắng

Phật ở dưới cây thành Chánh giác

Phóng đại quang minh khắp soi sáng.

To tiếng chấn động khắp mười phương

Vì chúng rộng tuyên pháp tịch diệt

Tùy tâm chúng sanh chỗ ưa thích

Các môn phương tiện khiến tỏ ngộ.

Xưa tu các độ đều viên mãn

Ðồng số vi trần ngàn quốc độ

Tất cả trí lực đều đã thành

Các ông nên qua đồng lễ kính.

Thập phương Phật tử như sát trần

Ðều cùng vui mừng vân tập đến

Ðã rưới mây báu để cúng dường

Nay ở trước Phật chuyên chiêm ngưỡng.

Như Lai nhứt âm vô lượng số

Hay diễn Khế kinh sâu rộng lớn

Khắp rưới diệu pháp ứng quần tâm

Ðấng Lưỡng Túc Tôn nên qua thấy.

Tam thế chư Phật phát nguyện lớn

Dưới cội Bồ đề đều tuyên thuyết

Trong một sát na đều hiện tiền

Ông nên mau đến chỗ Như Lai.

Tỳ Lô Giá Na biển đại trí

Diện môn phóng quang đều được thấy

Nay chờ chúng nhóm để phát tâm

Ông nên qua kia nghe Phật dạy.

Lúc đó, tất cả chúng hội trong thập phương thế giới đã nhờ quang minh của Phật khai thị, đều cùng nhau đến chỗ Phật Tỳ Lô Giá Na cung kính cúng dường.

Phương đông Hoa Tạng trang nghiêm thế giới hải nầy, có thế giới hải tên Thanh Tịnh Quang Liên Hoa Trang Nghiêm. Trong thế giới nầy có quốc độ, tên Ma Ni Anh Lạc Kim Cang Tạng, Phật hiệu Pháp Thủy Giác Hư Không Vô Biên Phương. Trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát tên Quán Sát Thắng Pháp Liên Hoa Tràng cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật, đều hiện mười thứ thân tướng của Bồ tát đầy khắp hư không mà chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây mưa tất cả hoa sen báu sáng rỡ. Lại hiện mười thứ mây núi báu Tu Di. Lại hiện mười thứ mây ánh sáng mặt trời. Lại hiện mười thứ mây chuỗi hoa báu. Lại hiện mười thứ mây tất cả anh lạc. Lại hiện mười thứ mây hương bột. Lại hiện mười thứ mây hương thoa hương đốt. Lại hiện mười thứ mây tất cả gỗ thơm. Vi trần số mây cúng dường như vậy đều khắp cả hư không mà chẳng tan mất. Chư Bồ tát nầy hướng Phật kính lễ cúng dường, rồi ở phương đông đều hóa làm những thứ tòa sư tử tốt đẹp sáng chói, chư Bồ tát nầy ngồi kiết già trên những pháp tòa ấy.

Phương nam của Hoa Tạng thế giới hải nầy có thế giới tên Nhứt Thiết Bửu Nguyệt Quang Minh Trang Nghiêm Tạng. Trong thế giới chủng nầy có quốc độ tên Vô Biên Quang Viên Mãn Trang Nghiêm. Phật hiệu Phổ Trí Quang Minh Ðức Tu Di Vương. Trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát tên Phổ Chiếu Pháp Hải Huệ cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật, đều hiện mười thứ mây báu ma ni châu vương trang nghiêm sáng chói đầy khắp hư không mà chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu hiện ra đồ trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu xưng dương hồng danh của Phật. Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu nói tất cả Phật pháp. Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu những cây đẹp trang nghiêm đạo tràng. Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu hiện các hóa Phật. Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu khắp hiện hình tượng trang nghiêm của tất cả đạo tràng. Lại hiện mười thứ mây ma ni bửu châu nói cảnh giới của chư Phật. Lại hiện mười thứ mây hình tượng vô số cung điện bất tư nghì. Lại hiện mười thứ mây khắp hiện thân tượng của tam thế Phật. Hiện vô số mây ma ni châu vương như vậy đầy khắp hư không mà chẳng tan mất. Chư Bồ tát nầy hướng Phật kính lễ cúng dường rồi ở phương nam hóa làm vi trần số tòa sư tử đế thanh bửu diêm phù đàn kim liên hoa tạng, đồng ngồi kiết già trên bửu tòa ấy.

Phương tây của Hoa Tạng thế giới hải nầy có thế giới hải tên Khả Ái Nhạo Bửu Quang Minh. Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Xuất Sanh Thượng Diệu Tư Thân Cụ. Phật hiệu Hương Diệm Công Ðức Bửu Trang Nghiêm. Trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát tên Nguyệt Quang Hương Diệm Phổ Trang Nghiêm cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật, đều hiện mười thứ mây lầu các châu báu tốt đẹp thơm sáng, khắp hư không chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây lầu các vô biên sắc tướng. Lại hiện mười thứ mây lầu các đèn báu sáng chói. Lại hiện mười thứ mây lầu các chơn châu. Lại hiện mười thứ mây lầu các hoa báu. Lại hiện mười thứ mây lầu các chuỗi ngọc báu trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây lầu các trang nghiêm sáng chói hiện khắp mười phương. Lại hiện mười thứ mây lầu các những bột báu xen lẫn trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây lầu các những châu báu cùng khắp mười phương. Lại hiện mười thứ mây lầu các cửa đẹp lưới báu.

Chư Bồ tát nầy hiện vi trần số mây lầu các rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở nơi phương tây hóa làm tòa sư tử chơn kim đại bửu, rồi đều ngồi kiết già trên bửu tòa ấy.

Phương bắc của Hoa Tạng thế giới hải nầy, có thế giới hải tên Tỳ Lưu Ly Liên Hoa Quang Viên Mãn Tạng. Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Ưu Bát La Hoa Trang Nghiêm. Phật hiệu Phổ Trí Tràng Âm Vương. Trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát Sư Tử Phấn Tấn Quang Minh cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật. Chư Bồ tát nầy đều hiện mười thứ mây những cây đẹp ma ni thơm tho khắp hư không chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm lá dầy đẹp thơm. Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hóa hiện vô biên sắc tướng. Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hoa đẹp. Lại hiện mười thứ mây cây trang nghiêm ánh sáng báu. Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hóa hiện thân Bồ tát. Lại hiện mười thứ mây những cây trang nghiêm hiển hiện chỗ đạo tràng bất tư nghì thuở trước. Lại hiện mười thứ mây cây báu y phục sáng như mặt trời. Lại hiện mười thứ mây cây phát ra tất cả âm thanh vừa ý.

Chư Bồ tát hiện những mây cây báu trang nghiêm rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương bắc đều hóa làm tòa sư tử liên hoa ma ni, rồi đều ngồi kiết già trên bửu tòa đó.

Phương đông bắc của Hoa Tạng thế giới hải nầy, có thế giới hải tên Diêm Phù Ðàn Kim Pha Lê Sắc Tràng. Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Chúng Bửu Trang Nghiêm. Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Vô Úy Ðăng, trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát tên Tối Thắng Quang Minh Ðăng Vô Tận Công Ðức Tạng cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật. Chư Bồ tát nầy đều hiện mười thứ mây bửu liên hoa vô biên sắc tướng khắp hư không chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử ma ni sáng chói. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tất cả đồ trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tràng hoa báu. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử khắp rưới chuỗi ngọc báu. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tất cả hoa hương chuỗi ngọc báu. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử thị hiện tòa trang nghiêm ma ni của tất cả Phật. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử cửa nẻo thềm bực và những chuỗi ngọc trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử tất cả cây nhánh báu ma ni. Lại hiện mười thứ mây tòa sư tử hương báu xen lẫn trang nghiêm sáng chói như mặt nhựt. Chư Bồ tát nầy hiện vô số mây báu tòa sư tử rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương đông bắc đều hóa làm tòa sư tử bửu liên hoa ma ni, rồi đều ngồi kiết già trên bửu tòa đó.

Phương đông nam của Hoa Tạng thế giới hải nầy, có thế giới hải tên Kim Trang Nghiêm Lưu Ly Quang Phổ Chiếu. Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Thanh Tịnh Hương Quang Minh. Phật hiệu Phổ Hỷ Thâm Tín Vương. Trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát tên Huệ Ðăng Phổ Minh cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật. Chư Bồ tát nầy đều hiện mười thứ mây màn trướng tất cả châu ma ni khắp hư không chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây màn trướng tất cả hoa trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây màn trướng tất cả hương. Lại hiện mười thứ mây màn trướng bửu đăng. Lại hiện mười thứ mây màn trướng thị hiện Phật thần thông thuyết pháp. Lại hiện mười thứ mây màn trướng hiển hiện tất cả y phục trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây màn trướng tất cả bửu hoa. Lại hiện mười thứ mây màn trướng lưới báu khua tiếng lạc tiếng linh. Lại hiện mười thứ mây màn trướng đài liên hoa lưới ma ni. Lại hiện mười thứ mây màn trướng tất cả đồ trang nghiêm bất tư nghì. Chư Bồ tát nầy hiện ra vi trần số mây màn lưới báu như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương đông nam đều hóa làm tòa sư tử bửu liên hoa, rồi ngồi trên bửu tòa đó.

Phương tây nam của Hoa Tạng thế giới hải
nầy có thế giới hải tên Nhựt Quang Biến Chiếu. Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Sư Tử Nhựt Quang Minh. Phật hiệu Phổ Trí Quang Minh Âm. Trong đại chúng của đức Phật đó có đại Bồ tát tên Phổ Hoa Quang Diệm Kế cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật. Chư Bồ tát nầy đều hiện mười thứ mây bửu cái vi diệu trang nghiêm khắp hư không chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây bửu cái đẹp trang nghiêm sáng chói. Lại hiện mười thứ mây bửu cái tạng chơn châu vô biên sắc. Lại hiện mười thứ mây bửu cái châu ma ni vang ra tiếng bi mẫn của tất cả Bồ tát. Lại hiện mười thứ mây bửu cái tràng hoa đẹp báu. Lại hiện mười thứ mây bửu cái rủ lưới lục lạc. Lại hiện mười thứ mây bửu cái cây ma ni nhánh trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây bửu cái châu ma ni chói sáng như mặt nhựt. Lại hiện mười thứ mây bửu cái tất cả hương thoa hương đốt. Lại hiện mười thứ mây bửu cái tạng chiên đàn. Lại hiện mười thứ mây bửu cái cảnh giới Phật rộng lớn khắp sáng chói. Chư Bồ tát nầy hiện vi trần số mây bửu cái như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương tây nam đều hóa làm tòa sư tử đế thanh bửu trang nghiêm sáng rỡ rồi ngồi kiết già trên đó.

Phương tây bắc của Hoa Tạng thế giới hải
nầy, có thế giới hải tên Bửu Quang Chiếu Diệu. Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Chúng Hương Trang Nghiêm. Phật hiệu Vô Lượng Công Ðức Hải Quang Minh. Trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát tên Vô Tận Quang Ma Ni Vương cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật. Chư Bồ tát nầy đều hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả châu bửu khắp hư không chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả bửu diệm. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả diệu hoa. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả hóa Phật. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang mười phương Phật độ. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang Phật cảnh giới. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tất cả lưu ly bửu ma ni. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang trong một niệm hiện vô biên tướng chúng sanh. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang tiếng diễn nói đại nguyện của tất cả Như Lai. Lại hiện mười thứ mây viên mãn quang ma ni vương tiếng diễn hóa tất cả chúng sanh. Chư Bồ tát nầy hiện vi trần số mây viên mãn quang như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở phương tây bắc đều hóa làm tòa sư tử vô tận quang minh oai đức tạng rồi ngồi kiết già trên bửu tòa ấy.

Phương dưới của Hoa Tạng thế giới hải nầy, có thế giới hải tên Liên Hoa Hương Diệu Ðức Tạng. Trong thế giới hải đó có quốc độ tên Bửu Sư Tử Quang Minh Chiếu Diệu. Phật hiệu Pháp Giới Quang Minh. Trong đại chúng của đức Phật đó có đại Bồ tát tên Pháp Giới Quang Diệm Huệ cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật. Chư Bồ tát nầy đều hiện mười thứ mây quang minh tất cả tạng ma ni, khắp hư không chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả hương. Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả bửu diệm. Lại hiện mười thứ mây quang minh vang tiếng thuyết pháp của tất cả Phật. Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả Phật độ trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây quang minh tất cả diệu hoa lầu các. Lại hiện mười thứ mây quang minh việc chư Phật giáo hóa chúng sanh trong tất cả kiếp. Lại hiện mười thứ mây quang minh hoa nhụy vô tận bửu. Lại hiện mười thứ mây quang minh bửu tòa quang minh. Chư Bồ tát nầy hiện mười thứ mây quang minh như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở nơi phương dưới đều hóa làm tòa sư tử liên hoa bửu diệm rồi ngồi kiết già trên đó.

Phương trên của Hoa Tạng thế giới hải nầy, có thế giới hải tên Ma Ni Bửu Chiếu Diệu Trang Nghiêm. Trong thế giới chủng đó có quốc độ tên Vô Tướng Diệu Quang Minh. Phật hiệu Vô Ngại Công Ðức Quang Minh Vương. Trong đại chúng của Như Lai đó có đại Bồ tát tên Vô Ngại Lực Tinh Tấn Huệ cùng vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật. Chư Bồ tát nầy đều hiện mây quang diệm báu vô biên sắc tướng đầy hư không mà chẳng tan mất. Lại hiện mười thứ mây quang diệm lưới báu ma ni. Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả Phật độ trang nghiêm rộng lớn. Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả diệu hương. Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả trang nghiêm. Lại hiện mười thứ mây quang diệm chư Phật biến hóa. Lại hiện mười thứ mây quang diệm các cây hoa đẹp. Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả kim cang. Lại hiện mười thứ mây quang diệm châu ma ni hiện công hạnh của vô biên Bồ tát. Lại hiện mười thứ mây quang diệm tất cả đèn chơn châu. Chư Bồ tát nầy hiện vi trần số mây quang diệm như vậy rồi hướng Phật kính lễ cúng dường, liền ở nơi thượng phương đều hóa làm tòa sư tử liên hoa quang minh diễn thanh âm của Phật, rồi ngồi trên bửu tòa đó.

Trong mười ức Phật sát vi trần số thế giới hải như vậy có mười ức vi trần số đại Bồ tát, mỗi đại Bồ tát có thế giới hải vi trần số chúng Bồ tát đồng đến tập hội. Mỗi Bồ tát đều hiện thế giới hải vi trần số mây các thứ đồ trang nghiêm cúng dường đều khắp hư không mà chẳng tan mất. Hiện những mây như thế rồi, chư Bồ tát đồng hướng Phật kính lễ cúng dường. Tùy theo phương hướng của mình đến, chư Bồ tát đều hóa làm các thứ bửu tòa sư tử trang nghiêm rồi ngồi kiết già trên bửu tòa đó.

Sau khi ngồi xong, trong chân lông nơi thân của chư Bồ tát, mỗi mỗi đều hiện mười thế giới hải vi trần số các thứ bửu sắc quang minh.

Trong mỗi quang minh đều hiện mười thế giới hải vi trần số chư Bồ tát đều ngồi tòa sư tử liên hoa tạng.

Chư Bồ tát nầy đều có thể vào khắp trong tất cả vi trần của tất cả pháp giới hải.

Trong mỗi vi trần đó đều có mười thế giới vi trần số những cõi rộng lớn. Trong mỗi cõi nầy đều có tam thế chư Phật Thế Tôn.

Chư Bồ tát nầy đều có thể qua gần gũi cúng dường khắp chư Thế Tôn đó. Lại có thể trong mỗi niệm dùng pháp môn tự tại thị hiện để khai ngộ thế giới hải vi trần số chúng sanh. Trong mỗi niệm lại dùng pháp môn thị hiện tất cả chư Thiên chết rồi sanh để khai ngộ vi trần số chúng sanh. Trong mỗi niệm lại dùng pháp môn nói tất cả công hạnh Bồ tát, dùng pháp môn chấn động tất cả cõi tán thán công đức thần biến của Phật, dùng pháp môn nghiêm tịnh tất cả cõi Phật hiển thị tất cả đại nguyện hải, dùng pháp môn thanh âm của Phật nhiếp khắp tất cả ngôn từ của chúng sanh, dùng pháp môn hay rưới tất cả Phật pháp, dùng pháp môn quang minh chiếu khắp mười phương quốc độ khắp pháp giới thị hiện thần biến, dùng pháp môn hiện Phật thân đầy khắp pháp giới giải thoát lực của tất cả Như Lai, dùng pháp môn Phổ Hiền Bồ tát kiến lập tất cả chúng hội đạo tràng, trong mỗi niệm dùng những pháp môn như vậy để khai ngộ thế giới hải vi trần số chúng sanh.

Trong mỗi niệm, mỗi quốc độ đều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh, kẻ đọa ác đạo được lìa hẳn khổ não. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh, kẻ trụ tà định được vào chánh định. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh tùy lòng ưa thích được sanh lên cõi trời. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh an trụ bực Thanh văn, bực Bích chi Phật. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh thờ bực thiện tri thức đủ những phước hạnh. Ðều khiến Tu Di sơn vi trần số chúng sanh phát Bồ đề tâm. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh thẳng đến bực Bồ tát bất thối chuyển. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh được trí nhãn thanh tịnh thấy tất cả pháp bình đẳng của Như Lai đã thấy. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh an trụ trong những lực, những nguyện, dùng trí vô tận làm phương tiện thanh tịnh các Phật độ. Ðều làm cho Tu Di sơn vi trần số chúng sanh đều được an trụ nguyện hải rộng lớn Tỳ Lô Giá Na sanh trong nhà Như Lai.

Lúc đó, chư Bồ tát ở trong quang minh đồng thời nói kệ:

Trong các quang minh vang diệu âm

Cùng khắp mười phương tất cả nước

Diễn thuyết Phật tử các công đức

Hay vào đạo Bồ đề vi diệu.

Kiếp hải tu hành không mỏi nhàm

Khiến chúng sanh khổ được giải thoát

Tâm không hạ liệt không nhọc nhằn

Phật tử khéo vào phương tiện đạo.

Tất cả kiếp hải tu phương tiện

Vô lượng vô biên không thừa sót

Tất cả pháp môn đều khắp vào

Mà thường nói kia tánh tịch diệt.

Tam thế chư Phật bao nhiêu nguyện

Tu hành tất cả đều trọn vẹn

Bèn dùng lợi ích các chúng sanh

Mà tự thật hành nghiệp thanh tịnh.

Tất cả chư Phật trong chúng hội

Cùng khắp mười phương đều qua đến

Ðều dùng biển trí huệ thậm thâm

Vào pháp tịch diệt của chư Phật.

Mỗi mỗi quang minh đều vô biên

Ðều vào nan tư các quốc độ

Trí nhãn thanh tịnh khắp thấy đều

Là cảnh sở hành của Bồ tát.

Bồ tát hay trụ một đầu lông

Ðộng khắp mười phương các quốc độ

Chẳng khiến chúng sanh có sợ ngờ

Ðây là phương tiện bực Thanh tịnh.

Trong mỗi mỗi trần vô lượng thân

Lại hiện trang nghiêm các cõi nước

Một niệm sống chết khắp khiến thấy

Ðược bực Trang nghiêm ý vô ngại.

Tam thế chỗ có tất cả kiếp

Trong một sát na đều hiện được

Biết thân như huyễn không thể tướng

Chứng minh pháp tánh bực vô ngại.

Phổ Hiền thắng hạnh đều được vào

Tất cả chúng sanh đều thích thấy

Phật tử trụ được pháp môn nầy

Trong các quang minh vang tiếng lớn.

Lúc đó, đức Thế Tôn muốn khiến tất cả đại chúng Bồ tát được sức thần thông vô biên cảnh giới của Như Lai, nên phóng quang minh nơi giữa chặn mày, gọi là nhứt thiết Bồ tát trí quang minh, chiếu khắp mười phương, trạng như mây sáng bửu sắc, tất cả quốc độ và chúng sanh trong tất cả Phật độ ở mười phương đều làm cho hiển hiện. Quang minh ấy lại chấn động khắp các thế giới. Trong mỗi trần hiện vô số Phật. Tùy theo tánh ưa thích chẳng đồng của các chúng sanh khắp rưới mây diệu pháp luân của tam thế chư Phật, hiển thị biển ba la mật của Như Lai. Lại rưới vô lượng những mây xuất ly khiến các chúng sanh thoát hẳn sanh tử. Lại rưới mây đại nguyện của chư Phật hiển bày chúng hội đạo tràng của Phổ Hiền Bồ tát trong thập phương thế giới. Quang minh ấy chiếu hiện những việc như vậy rồi trở về nhiễu vòng quanh Phật rồi nhập vào dưới chân Phật.

Lúc đó, trước Phật có hoa sen lớn thoạt hiện ra. Hoa ấy có đủ mười thứ trang nghiêm: các châu báu xen lẫn làm cọng, ma ni bửu vương làm gương, các báu làm cánh, các hương ma ni làm tua, vàng diêm phù đàn trang nghiêm đài hoa, lưới đẹp trùm trên màu sáng thanh tịnh, trong một niệm thị hiện vô biên thần biến của chư Phật, khắp phát khởi tất cả thanh âm, ma ni bửu vương ảnh hiện thân Phật, trong âm thanh có thể diễn thuyết tất cả hạnh nguyện của Bồ tát.

Khi hoa sen nầy hiện ra rồi, trong khoảng một niệm trong tướng bạch hào của Như Lai đồng thời xuất hiện đại Bồ tát tên Nhứt Thiết Pháp Thắng Âm và thế giới hải vi trần số Bồ tát. Chư Bồ tát nầy đi nhiễu Phật vô lượng vòng, lễ chân Phật. Thắng Âm Bồ tát ngồi đài liên hoa, các Bồ tát ngồi trên tua sen.

Thắng Âm Bồ tát nầy rõ pháp giới lòng rất hoan hỷ, nhập sở hành của Phật trí không nghi trệ, vào biển pháp thân chẳng thể lường của Phật, qua tất cả cõi chỗ của các Như Lai. Các chân lông đều hiện thần thông, niệm niệm đều quán khắp tất cả pháp giới. Thập phương chư Phật đồng ban thần lực khiến chư Bồ tát nầy khắp an trụ tất cả tam muội, cùng tận kiếp vị lai thường thấy thân vô biên pháp giới công đức hải của Phật, nhẫn đến tất cả tam muội, giải thoát thần thông biến hóa.

Chư Bồ tát nầy liền ở trong chúng thừa oai thần của Phật quan sát mười phương mà nói kệ rằng:

Phật thân đầy khắp nơi pháp giới

Hiện khắp trước tất cả chúng sanh

Tùy duyên phó cảm đều khắp cùng

Mà hằng ở tòa Bồ đề nầy.

Trong mỗi chân lông của Như Lai

Tất cả sát trần chư Phật ngồi

Chúng hội Bồ tát cùng vây quanh

Diễn nói thắng hạnh của Phổ Hiền.

Như Lai ngồi yên nơi Bồ đề

Một lông thị hiện nhiều sát hải

Mỗi mỗi lông đều hiện như vậy

Như vậy khắp cùng cả pháp giới.

Trong mỗi mỗi cõi đều an tọa

Tất cả sát độ đều cùng khắp

Thập phương Bồ tát như mây nhóm

Tất cả đồng đến hội đạo tràng.

Tất cả quốc độ vi trần số

Công đức quang minh chúng Bồ tát

Ở khắp trong hội của Như Lai

Nhẫn đến pháp giới đều đầy khắp.

Pháp giới vi trần các quốc độ

Trong tất cả chúng đều xuất hiện

Như vậy phân thân trí cảnh giới

Trong hạnh Phổ Hiền hay kiến lập.

Ở giữa chúng hội của chư Phật

Thắng trí Bồ tát đều an tọa

Tất cả nghe pháp đều hoan hỷ

Nơi nơi tu hành vô lượng kiếp.

Ðã vào hạnh nguyện của Phổ Hiền

Tất cả xuất sanh các Phật pháp

Trong pháp hải Tỳ Lô Giá Na

Tu hành chứng được Như Lai địa.

Phổ Hiền Bồ tát đã khai giác

Tất cả Như Lai đồng khen mừng

Ðã được chư Phật đại thần thông

Pháp giới châu lưu đều cùng khắp.

Tất cả quốc độ vi trần số

Thường hiện hóa thân đều đầy khắp

Khắp vì chúng sanh phóng đại quang

Ðều rưới pháp giới xứng lòng họ.

Lúc đó, trong đại chúng lại có đại Bồ tát tên Quán Sát Nhứt Thiết Thắng Pháp Liên Hoa Quang Huệ Vương thừa oai thần của Phật, quán sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Như Lai trí rất sâu

Vào khắp nơi pháp giới

Hay chuyển theo ba đời

Vì đời làm minh đạo.

Chư Phật đồng pháp thân

Vô y, vô sai biệt

Tùy theo ý chúng sanh

Khiến thấy thân hình Phật.

Ðầy đủ Nhứt thiết trí

Biết khắp tất cả pháp

Trong tất cả quốc độ

Tất cả đều hiện đủ.

Thân Phật và quang minh

Sắc tướng chẳng nghĩ bàn

Chúng sanh ai ưa thích

Tùy ưng đều khiến thấy.

Nơi trên một thân Phật

Hóa làm vô lượng Phật

Lôi âm khắp các cõi

Diễn pháp sâu như biển.

Trong mỗi mỗi chân lông

Lưới sáng khắp mười phương

Diễn diệu âm của Phật

Ðiều phục kẻ khó phục.

Trong quang minh Như Lai

Thường vang tiếng thâm diệu

Ca ngợi công đức Phật

Và công hạnh Bồ tát.

Phật chuyển chánh pháp luân

Vô biên vô lượng số

Pháp nói ra vô đẳng

Trí cạn không lường được.

Trong tất cả thế giới

Hiện thân thành Chánh giác

Mỗi mỗi khởi thần biến

Pháp giới đều đầy đủ.

Như Lai mỗi mỗi thân

Hiện Phật đồng chúng sanh

Tất cả vi trần cõi

Khắp hiện thần thông lực.

Lúc đó, trong đại chúng lại có đại Bồ tát tên Pháp Hỷ Huệ Quang Minh thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật thân thường hiển hiện

Pháp giới đều đầy đủ

Hằng diễn quảng đại âm

Chấn động mười phương cõi.

Như Lai khắp hiện thân

Thế gian đều vào khắp

Tùy chúng sanh thích ưa

Hiển thị thần thông lực.

Phật tùy tâm chúng sanh

Hiện khắp ở trước họ

Chúng sanh chỗ được thấy

Ðều là Phật thần lực.

Quang minh chiếu vô biên

Thuyết pháp cũng vô lượng

Phật tử tùy trí mình

Vào được, quan sát được.

Phật thân vốn vô sanh

Mà thị hiện xuất sanh

Pháp tánh như hư không

Chư Phật trụ trong đó.

Không trụ cũng không đi

Mọi nơi đều thấy Phật

Quang minh chiếu cùng khắp

Tiếng tăm đồn khắp cõi.

Vô thể vô sở trụ

Cũng không có chỗ sanh

Không tướng cũng không hình

Chỗ hiện đều như bóng.

Phật tùy tâm chúng sanh

Vì họ hiện pháp vân

Các thứ môn phương tiện

Khai ngộ và điều phục.

Trong tất cả thế giới

Thấy Phật ngồi đạo tràng

Ðại chúng đồng bao quanh

Chói sáng mười phương cõi.

Tất cả thân chư Phật

Ðều có tướng vô tận

Thị hiện dầu vô lượng

Sắc tướng vô cùng tận.

Lúc đó, trong đại chúng lại có đại Bồ tát tên Hương Diệm Quang Phổ Minh Huệ thừa oai thần của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Bồ tát trong hội nầy

Vào Phật địa khó lường

Mỗi mỗi đều được thấy

Thần lực của chư Phật.

Trí thân khắp vào được

Tất cả vi trần cõi

Thấy thân ở trong đó

Thấy khắp các đức Phật.

Như bóng hiện các cõi

Tất cả chỗ Như Lai

Trong tất cả chỗ đó

Ðều hiện sự thần thông.

Phổ Hiền các hạnh nguyện

Tu tập đã sáng sạch

Có thể tất cả cõi

Thấy khắp Phật thần biến.

Thân ở tất cả chỗ

Tất cả đều bình đẳng

Trí có thể như vậy

Vào cảnh giới của Phật.

Ðã chứng trí Như Lai

Chiếu khắp trong pháp giới

Khắp vào chân lông Phật

Tất cả những cõi nước.

Tất cả quốc độ Phật

Ðều hiện thần thông lực

Thị hiện các thứ thân

Và các thứ danh hiệu.

Nơi trong khoảng một niệm

Hiện khắp những thần biến

Ðạo tràng thành Chánh giác

Và chuyển diệu pháp luân.

Tất cả cõi rộng lớn

Ức kiếp chẳng nghĩ bàn

Bồ tát trong chánh định

Một niệm đều hiện được.

Tất cả những Phật độ

Chư Bồ tát mỗi vị

Khắp vào nơi thân Phật

Vô biên cũng vô tận.

Lúc đó, lại có đại Bồ tát tên Sư Tử Phấn Tấn Huệ Quang Minh thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Tỳ Lô Giá Na Phật

Hay chuyển chánh pháp luân

Pháp giới các cõi nước

Như mây đều cùng khắp.

Trong mười phương chỗ có

Những thế giới rộng lớn

Phật nguyện lực thần thông

Chuyển pháp luân khắp chỗ.

Tất cả những cõi nước

Trong chúng hội rộng lớn

Danh hiệu đều chẳng đồng

Tùy ưng diễn diệu pháp.

Như Lai oai lực lớn

Phổ Hiền nguyện tạo thành

Trong tất cả cõi nước

Diệu âm đều khắp đến.

Phật thân khắp pháp giới

Khắp rưới những mưa pháp

Vô sanh vô sai biệt

Thế gian hiện tất cả.

Muôn ức vô số kiếp

Trong tất cả quốc độ

Việc làm từ thuở xưa

Diệu âm đều nói đủ.

Mười phương vi trần cõi

Lưới sáng trùm khắp nơi

Ánh sáng đều có Phật

Khắp hóa độ quần sanh.

Phật thân vô sai biệt

Ðầy khắp trên pháp giới

Ðều khiến thấy sắc thân

Tùy cơ khéo điều phục.

Tam thế tất cả cõi

Tất cả đấng Ðạo Sư

Danh hiệu sai khác nhau

Tuyên thuyết đều khiến thấy.

Quá hiện và vị lai

Tất cả chư Như Lai

Chuyển vi diệu pháp luân

Chúng hội đều nghe được.

Lúc đó, trong đại chúng lại có đại Bồ tát tên Pháp Hải Huệ Công Ðức Tạng, thừa oai thần của Phật, quan sát thập phương rồi nói kệ rằng:

Phật tử trong hội nầy

Khéo tu các trí huệ

Người nầy đã vào được

Môn phương tiện như vậy.

Trong tất cả cõi nước

Khắp diễn quảng đại âm

Nói công hạnh Phật làm

Nghe khắp mười phương cõi.

Trong mỗi mỗi tâm niệm

Xem khắp tất cả pháp

An trụ chơn như địa

Rõ thấu biển chánh pháp.

Trong mỗi mỗi Phật thân

Ức kiếp chẳng nghĩ bàn

Tu tập ba la mật

Và nghiêm tịnh quốc độ.

Trong mỗi mỗi vi trần

Chứng được tất cả pháp

Ðược vô ngại như vậy

Ði khắp mười phương cõi.

Trong mỗi mỗi cõi Phật

Qua đến đều không sót

Thấy Phật xuất thần thông

Vào công hạnh của Phật.

Chư Phật tiếng rộng lớn

Pháp giới đều khắp nghe

Bồ tát rõ biết được

Khéo vào biển âm thanh.

Kiếp hải diễn diệu âm

Diệu âm đồng không khác

Bực trí khắp ba đời

Vào diệu âm của Phật.

Thanh âm của chúng sanh

Tiếng tự tại của Phật

Ðều được trí thanh âm

Tất cả đều rõ được.

Từ địa mà được địa

Trụ ở trong lực địa

Ức kiếp siêng tu hành

Chỗ được pháp như vậy.

Lúc đó, trong chúng lại có đại Bồ tát tên Huệ Ðăng Phổ Minh, thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Tất cả chư Như Lai

Xa lìa các hình tướng

Nếu biết được pháp nầy

Mới thấy đấng Ðạo Sư.

Bồ tát trong chánh định

Huệ quang khắp sáng rõ

Biết được tất cả Phật

Thể tánh vốn tự tại.

Thấy Phật thể chơn thiệt

Thì ngộ pháp thậm thâm

Khắp quan sát pháp giới

Tùy nguyện mà thọ thân.

Từ nơi biển phước sanh

An trụ trong trí địa

Quan sát tất cả pháp

Tu hành đạo tối thắng.

Trong tất cả Phật sát

Chỗ tất cả Như Lai

Khắp pháp giới như vậy

Ðều thấy thể chơn thiệt.

Mười phương cõi rộng lớn

Ức kiếp siêng tu hành

Ði trong Chánh biến tri

Biển tất cả các pháp.

Chỉ một thân dầy cứng

Trong vi trần đều thấy

Vô sanh cũng vô tướng

Hiện khắp trong các cõi.

Tùy tâm của chúng sanh

Hiện khắp ở trước họ

Hiện các môn điều phục

Khiến mau đến Phật đạo.

Do oai thần của Phật

Xuất hiện các Bồ tát

Phật lực thường gia trì

Thấy khắp các Như Lai.

Tất cả đấng Ðạo Sư

Vô lượng oai thần lực

Khai ngộ các Bồ tát

Pháp giới đều cùng khắp.

Lúc đó, trong chúng lại có đại Bồ tát tên Hoa Diệm Kế Phổ Minh Trí, thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Trong tất cả quốc độ

Khắp diễn tiếng vi diệu

Ca ngợi công đức Phật

Pháp giới đều đầy đủ.

Phật dùng pháp làm thân

Thanh tịnh như hư không

Hiện ra những sắc hình

Khiến vào trong pháp đó.

Nếu có người tin mừng

Và được Phật nhiếp thọ

Nên biết người như vầy

Sanh được Phật trí huệ.

Những người trí kém ít

Không biết được pháp nầy

Người huệ nhãn thanh tịnh

Nơi đây mới thấy được.

Do oai lực của Phật

Quan sát tất cả pháp

Nhập trụ và lúc xuất

Chỗ thấy đều sáng rõ.

Trong tất cả các pháp

Pháp môn nhiều vô biên

Thành tựu Nhứt thiết trí

Vào nơi biển pháp sâu.

An trụ Phật quốc độ

Hiện ra tất cả chỗ

Không đến cũng không đi

Pháp chư Phật như vậy.

Tất cả biển chúng sanh

Phật thân như bóng hiện

Tùy họ hiểu sai khác

Ðều được thấy Ðạo Sư.

Trong tất cả chân lông

Mỗi mỗi hiện thần thông

Tu hành nguyện Phổ Hiền

Người thanh tịnh được thấy.

Phật dùng mỗi mỗi thân

Nơi nơi chuyển pháp luân

Pháp giới đều cùng khắp

Nghĩ bàn chẳng thể đến.

Lúc đó, trong chúng lại có đại Bồ tát tên Oai Ðức Huệ Vô Tận Quang thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Trong mỗi mỗi cõi Phật

Nơi nơi ngồi đạo tràng

Chúng hội đồng bao quanh

Ma quân đều xô dẹp.

Thân Phật phóng quang minh

Ðầy khắp cả mười phương

Tùy ưng mà thị hiện

Sắc tướng hiện nhiều thứ.

Trong mỗi mỗi vi trần

Quang minh đều đầy đủ

Thấy khắp mười phương cõi

Chủng loại đều sai khác.

Mười phương những quốc độ

Vô lượng vô biên cõi

Ðều bình thản thanh tịnh

Ðế thanh bửu làm thành.

Hoặc trùm hoặc ở bên

Hoặc giống hoa sen búp

Hoặc tròn hoặc bốn góc

Những hình tướng sai khác.

Cõi nước trong pháp giới

Ði khắp không chướng ngại

Trong tất cả chúng hội

Thường chuyển diệu pháp luân.

Phật thân chẳng nghĩ bàn

Quốc độ đều ở trong

Nơi tất cả chỗ kia

Nói pháp giáo hóa chúng.

Diệu pháp luân đã chuyển

Pháp tánh không sai khác

Nương nơi một thiệt lý

Diễn thuyết các pháp tướng.

Phật dùng tiếng viên mãn

Thuyết minh lý chơn thiệt

Tùy chúng hiểu sai khác

Hiện vô tận pháp môn.

Trong tất cả quốc độ

Thấy Phật ngồi đạo tràng

Phật thân như bóng hiện

Sanh diệt bất khả đắc.

Lúc đó, trong chúng lại có đại Bồ tát tên Pháp
Giới Phổ Minh Huệ thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Như Lai thân vi diệu

Sắc tướng chẳng nghĩ bàn

Người thấy lòng vui mừng

Cung kính tin Phật pháp.

Phật thân tất cả tướng

Ðều hiện vô lượng Phật

Vào khắp mười phương cõi

Trong mỗi mỗi vi trần.

Thập phương những quốc độ

Vô lượng vô biên Phật

Đều ở trong mỗi niệm

Ðều riêng hiện thần thông.

Chư Bồ tát đại trí

Thâm nhập nơi pháp hải

Phật lực thường gia trì

Phương tiện nầy biết được.

Nếu người đã an trụ

Các hạnh nguyện Phổ Hiền

Thấy những quốc độ kia

Thần lực của chư Phật.

Nếu người có tin hiểu

Nhẫn đến các đại nguyện

Ðầy đủ trí huệ sâu

Thông đạt tất cả pháp.

Có thể nơi thân Phật

Mỗi mỗi quan sát được

Sắc thanh không chướng ngại

Rõ thấu nơi các cảnh.

Có thể nơi thân Phật

An trụ cảnh trí huệ

Mau vào Như Lai địa

Nhiếp khắp cả pháp giới.

Số vi trần Phật sát

Những quốc độ như vậy

Hay khiến trong một niệm

Hiện trong mỗi vi trần.

Tất cả những quốc độ

Nhẫn đến sự thần thông

Ðều hiện trong một cõi

Sức Bồ tát như vậy.

Lúc đó, trong chúng có đại Bồ tát tên Tinh Tấn Lực Vô Ngại Huệ thừa oai thần của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật diễn một diệu âm

Nghe khắp mười phương cõi

Các tiếng đều đầy đủ

Pháp vũ đều cùng khắp.

Tất cả biển ngôn từ

Tất cả tiếng tùy loại

Trong tất cả Phật độ

Chuyển pháp luân thanh tịnh.

Tất cả các cõi nước

Ðều thấy Phật thần biến

Nghe pháp âm Phật nói

Nghe rồi đến Bồ đề.

Pháp giới các cõi nước

Trong mỗi mỗi vi trần

Giải thoát lực của Phật

Nơi kia khắp hiện thân.

Pháp thân đồng hư không

Vô ngại vô sai biệt

Sắc hình như ảnh tượng

Các thứ tướng hiển hiện.

Ảnh tượng không nơi chỗ

Vô tánh như hư không

Người trí huệ rộng lớn

Rõ thấu tánh bình đẳng.

Phật thân bất khả thủ

Vô sanh cũng vô tác

Ứng vật khắp hiện tiền

Bình đẳng như hư không.

Thập phương vô lượng Phật

Ðều nhập một chân lông

Ðều riêng hiện thần thông

Trí nhãn xem thấy được.

Tỳ Lô Giá Na Phật

Nguyện lực khắp pháp giới

Trong tất cả quốc độ

Thường chuyển pháp vô thượng.

Một lông hiện thần thông

Tất cả Phật đồng nói

Trải qua vô lượng kiếp

Ngằn mé không thể hết.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM PHỔ HIỀN TAM MUỘI

THỨ BA

*Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ tát ma ha tát ngồi trên tòa liên hoa tạng sư tử ở trước Phật, thừa thần lực của Phật mà nhập tam muội tên là Nhứt thiết chư Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai tạng thân, vào khắp tánh bình đẳng của tất cả Phật, có thể ở nơi pháp giới thị hiện những ảnh tượng rộng lớn vô ngại đồng hư không, pháp giới xoay vần đều theo vào, xuất sanh tất cả tam muội, có thể bao nạp khắp mười phương pháp giới, trí quang minh của tam thế chư Phật đều từ đây mà sanh những sự an lập trong mười phương đều có thể thị hiện, trùm chứa tất cả lực giải thoát của Phật và trí của chư Bồ tát, có thể khiến tất cả quốc độ vi trần đều có thể dung thọ vô biên pháp giới, thành tựu biển công đức của tất cả Phật, hiển thị biển đại nguyện của Như Lai, bao nhiêu pháp luân của tất cả chư Phật đều lưu thông hộ trì không đoạn tuyệt.

Như trong thế giới nầy, Phổ Hiền Bồ tát ở trước Phật nhập tam muội đây, cũng vậy, khắp pháp giới hư không giới thập phương tam thế vi tế vô ngại quang minh rộng lớn, Phật nhãn chỗ thấy được, Phật lực đến được, Phật thân hiện được tất cả quốc độ, trong quốc độ nầy có bao nhiêu vi trần, trong mỗi vi trần có thế giới vi trần số Phật độ, trong mỗi độ có thế giới vi trần số Phật, trước mỗi đức Phật có thế giới vi trần Phổ Hiền Bồ tát cũng đều nhập tam muội Nhất thiết chư Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai tạng thân nầy.

Lúc đó, trước mỗi Phổ Hiền Bồ tát đều có thập phương tất cả chư Phật hiện ra. Chư Phật nầy đồng khen rằng:

Lành thay, lành thay! Nầy Thiện nam tử! Ông có thể nhập tam muội Nhất thiết chư Phật Tỳ Lô Giá Na Như Lai tạng thân nầy.

Nầy Phật tử! Ðây là mười phương tất cả chư Phật đồng gia hộ cho ông, do vì nguyện lực của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, mà cũng do nguyện lực tu tập tất cả Phật hạnh của ông. Chính là ông có thể chuyển pháp luân của chư Phật, khai hiển biển trí huệ của chư Phật, chiếu khắp những biển an lập ở mười phương không sót, khiến tất cả chúng sanh trừ tạp nhiễm được thanh tịnh, nhiếp khắp tất cả quốc độ không chấp trước, sâu vào cảnh giới của chư Phật không chướng ngại, hiện bày công đức của chư Phật, vào được thật tướng của các pháp, thêm lớn trí huệ, quan sát tất cả pháp môn, rõ biết căn của tất cả chúng sanh, hay thọ trì giáo văn của Như Lai.

Lúc đó, thập phương tất cả chư Phật liền ban cho Phổ Hiền Bồ tát trí lực vào được Nhất thiết trí tánh, ban cho trí vào pháp giới vô biên vô lượng, ban cho trí thành tựu cảnh giới chư Phật, ban cho trí biết tất cả thế giới thành hoại, ban cho trí biết chúng sanh giới rộng lớn, ban cho trí trụ những tam muội giải thoát thậm thâm vô sai biệt của chư Phật, ban cho trí nhập căn tánh của tất cả Bồ tát, ban cho trí biết ngôn ngữ của tất cả chúng sanh và từ biện chuyển pháp luân, ban cho trí vào khắp thân pháp giới, ban cho trí được thanh âm của tất cả Phật.

Như trong thế giới nầy Phổ Hiền Bồ tát ở trước Như Lai được chư Phật ban cho những trí như vậy, tất cả Phổ Hiền Bồ tát ở trong tất cả vi trần thế giới cũng được như vậy. Tại sao thế? Vì chứng tam muội đó thì được như vậy.

Lúc đó, thập phương chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Phổ Hiền Bồ tát.

Tay Phật đủ tướng hảo trang nghiêm phóng lưới quang minh thơm sáng, đồng thời phát ra tiếng vi diệu và những sự thần thông tự tại. Tất cả Phổ Hiền nguyện hải của tất cả Bồ tát quá khứ, hiện tại, vị lai những pháp luân thanh tịnh và ảnh tượng của tam thế chư Phật cũng đều hiện cả trong quang minh ấy.

Tất cả Phổ Hiền Bồ tát trong tất cả thế giới vi trần cũng đều được xoa đảnh như vậy.

Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ tát liền từ tam muội ấy mà xuất, đồng thời cũng từ vi trần số tam muội mà xuất: từ môn tam muội trí biết tam thế niệm niệm vô sai biệt mà xuất, từ môn tam muội biết số vi trần trong tam thế tất cả pháp giới mà xuất, từ môn tam muội hiện tam thế tất cả Phật độ mà xuất, từ môn tam muội hiện xá trạch của tất cả chúng sanh mà xuất, từ môn tam muội biết tâm hải của tất cả chúng sanh mà xuất, từ môn tam muội biết danh tự sai khác của tất cả chúng sanh mà xuất, từ môn tam muội biết thập phương pháp giới chỗ nơi đều sai khác mà xuất, từ môn tam muội biết trong tất cả vi trần đều có vô biên Phật thân rộng lớn mà xuất, từ môn tam muội diễn nói lý thú của tất cả pháp mà xuất.

Lúc Phổ Hiền Bồ tát từ những môn tam muội như vậy mà xuất, chư Bồ tát đều được thế giới vi trần số tam muội, được thế giới vi trần số đà la ni, được thế giới vi trần số pháp phương tiện, được thế giới vi trần số môn biện tài, được thế giới vi trần số môn tu hành, được thế giới vi trần số trí quang minh công đức của chư Phật khắp chiếu pháp giới, được thế giới vi trần số phương tiện lực trí huệ vô sai biệt của chư Phật, được thế giới vi trần số hải vân trong mỗi chân lông của tất cả chư Phật đều hiện các quốc độ, được thế giới vi trần số hải vân mỗi Bồ tát thị hiện từ Ðâu suất thiên cung giáng sanh thành Phật chuyển pháp luân nhập niết bàn.

Lúc đó, tất cả thế giới ở mười phương do thần lực của Phật và do sức tam muội của Phổ Hiền Bồ tát, nên các báu trang nghiêm đều lay động nhẹ, đồng thời vang ra diệu âm diễn nói các pháp. Lại nơi trong chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai khắp rưới mười thứ mây đại ma ni vương: mây ma ni vương kim tràng vi diệu, mây ma ni vương quang minh chiếu sáng, mây ma ni vương bửu luân rũ xuống, mây ma ni vương bửu tạng hiện tượng Bồ tát, mây ma ni vương xưng dương danh hiệu Phật, mây ma ni vương quang minh chiếu sáng tất cả Phật độ đạo tràng, mây ma ni vương chiếu sáng mười phương tất cả biến hóa, mây ma ni vương ca ngợi công đức của tất cả Bồ tát, mây ma ni vương sáng chói như mặt nhựt, mây ma ni vương tiếng nhạc thích ý vang khắp mười phương.

Rưới khắp mười thứ mây ma ni vương như vậy rồi trong các chân lông của chư Phật đều phóng quang minh. Trong quang minh nói kệ rằng:

Phổ Hiền ở khắp các quốc độ

Ngồi bửu liên hoa chúng đều thấy

Tất cả thần thông đều hiện ra

Vô lượng tam muội đều hay nhập.

Phổ Hiền thường dùng các thứ thân

Châu lưu pháp giới đều đầy khắp

Tam muội phương tiện sức thần thông

Viên âm rộng nói đều vô ngại.

Trong tất cả cõi chư Phật ngự

Các môn tam muội hiện thần thông

Mỗi mỗi thần thông đều khắp cùng

Thập phương quốc độ không chỗ sót.

Như tất cả cõi Như Lai ngự

Trong sát trần kia cũng như vậy

Chỗ hiện tam muội sự thần thông

Nguyện lực Tỳ Lô Giá Na Phật.

Phổ Hiền thân tướng như hư không

Nương chơn tánh ở chẳng phải cõi

Tùy lòng chúng sanh chỗ thích ưa

Thị hiện thân hình đồng tất cả.

Phổ Hiền an trụ các đại nguyện

Vô lượng thần thông sức tự tại

Tất cả Phật thân các quốc độ

Ðều hiện hình kia mà đến đó.

Tất cả sát hải vô lượng biên

Phân thân ở đó cũng vô lượng

Cõi nước hiện ra đều trang nghiêm

Trong một sát na thấy nhiều kiếp.

Phổ Hiền an trụ tất cả cõi

Hiện đại thần thông hơn tất cả

Chấn động mười phương đều khắp cùng

Khiến chúng quan sát đều được thấy.

Tất cả công đức Phật trí lực

Các môn đại pháp đều thành đủ

Dùng các tam muội phương tiện môn

Bày hạnh Bồ đề mình đã tập.

Tự tại như vậy bất tư nghì

Thập phương quốc độ đều thị hiện

Vì bày tam muội đã khắp vào

Trong mây Phật quang khen công đức.

Lúc đó, tất cả chúng Bồ tát đều hướng về phía Phổ Hiền chấp tay chiêm ngưỡng, thừa thần lực của Phật đồng nói kệ rằng:

Từ các Phật pháp mà sanh ra

Cũng do Như Lai nguyện lực khởi

Chơn như bình đẳng tạng hư không

Pháp thân của Ngài đã nghiêm tịnh.

Tất cả Phật độ trong chúng hội

Phổ Hiền ở khắp nơi trong đó

Quang minh công đức bực Trí hải

Chiếu khắp mười phương đều được thấy.

Phổ Hiền công đức biển rộng lớn

Qua khắp mười phương gần gũi Phật

Tất cả vi trần có các cõi

Ðều đến được kia mà hiện rõ.

Phật tử chúng tôi thường thấy Ngài

Gần gũi tất cả chư Như Lai

Trụ trong tam muội cảnh chơn thiệt

Số kiếp vi trần tất cả cõi.

Phật tử hay dùng thân phổ biến

Ðều đến thập phương các cõi nước

Biển cả chúng sanh đều tế độ

Pháp giới vi trần đều vào cả.

Vào nơi pháp giới tất cả trần

Thân đó vô tận không sai khác

Ví như hư không đều khắp cùng

Diễn nói Như Lai pháp rộng lớn.

Bực tất cả công đức sáng chói

Rộng lớn như mây sức thù thắng

Trong biển chúng sanh đều qua đến

Nói công hạnh Phật pháp vô đẳng.

Vì độ chúng sanh nơi kiếp hải

Thắng hạnh Phổ Hiền đều tu tập

Diễn nói các pháp như mây to

Thanh âm quảng đại đều nghe khắp.

Quốc độ thế nào mà xuất hiện

Chư Phật thế nào mà xuất hiện

Nhẫn đến tất cả biển chúng sanh

Mong theo nghĩa đó nói như thiệt.

Trong đây vô lượng vô biên chúng

Ở trước đức Phật đều cung kính

Vì chuyển thanh tịnh diệu pháp luân

Tất cả chư Phật đều tùy hỉ.

*




K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM THẾ GIỚI THÀNH TỰU

THỨ TƯ

Lúc bấy giờ, Phổ Hiền Bồ tát ma ha tát do thần lực của Phật quán sát khắp tất cả thế giới hải, tất cả chúng sanh hải, tất cả chư Phật hải, tất cả pháp giới hải, tất cả chúng sanh nghiệp hải, tất cả chúng sanh căn dục hải, tất cả chư Phật pháp luân hải, tất cả tam thế hải, tất cả Như Lai nguyện lực hải, tất cả Như Lai thần biến hải.

Quán sát xong, Phổ Hiền Bồ tát bảo khắp tất cả chư Bồ tát trong chúng hội đạo tràng rằng:

Chư Phật tử! Chư Phật Thế Tôn có trí huệ thanh tịnh bất tư nghì biết tất cả thế giới hải thành hoại, biết tất cả chúng sanh nghiệp hải, biết tất cả pháp giới an lập hải, nói tất cả vô biên Phật hải, vào tất cả căn dục hải, một niệm biết khắp tất cả tam thế, hiển thị tất cả Như Lai vô lượng nguyện hải, thị hiện tất cả Phật thần biến hải, chuyển pháp luân, kiến lập diễn thuyết hải, thanh tịnh Phật thân, vô biên sắc tướng hải phổ chiếu minh, tướng hảo và tùy hình hảo đều thanh tịnh, vô biên sắc tướng quang minh luân hải, cụ túc thanh tịnh, các thứ sắc tướng quang minh vân hải, thù thắng bửu diệm hải, thành tựu ngôn âm hải, thị hiện ba thứ tự tại điều phục thành thục tất cả chúng sanh, dũng mãnh điều phục chúng sanh hải không luống qua, an trụ Phật địa, vào cảnh giới Như Lai, oai lực hộ trì, quan sát tất cả chỗ làm của Phật trí, trí lực viên mãn không ai điều phục được, công đức vô úy không ai hơn, trụ nơi tam muội vô sai biệt, thần thông biến hóa, trí thanh tịnh tự tại, tất cả Phật pháp không ai hủy hoại được.

Tất cả pháp bất tư nghì như vậy, tôi sẽ thừa thần lực của Phật và oai thần của tất cả Như Lai mà tuyên thuyết đầy đủ. Vì muốn khiến chúng sanh vào trí huệ hải của Phật, vì muốn khiến tất cả Bồ tát được an trụ trong biển công đức của Phật, vì muốn khiến tất cả thế giới hải tất cả Phật tự tại được trang nghiêm, vì muốn khiến trong tất cả kiếp hải chủng tánh Phật thường chẳng dứt, vì muốn khiến trong tất cả thế giới hải hiển thị tánh chơn thiệt của các pháp, vì muốn khiến tùy vô lượng sự hiểu biết của chúng sanh mà diễn thuyết, vì muốn khiến tùy căn hải của tất cả chúng sanh mà phương tiện làm cho sanh Phật pháp, vì muốn khiến tùy chỗ ưa thích của tất cả chúng sanh mà dẹp phá tất cả núi chướng ngại, vì muốn khiến tùy tâm hành tất cả chúng sanh khiến tu tập thanh tịnh đạo xuất yếu, vì muốn khiến tất cả Bồ tát an trụ trong nguyện hải Phổ Hiền.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại muốn khiến chúng hội đạo tràng sanh lòng hoan hỷ, thêm lớn sự ưa thích đối với tất cả pháp, sanh lòng tin rộng lớn chơn thiệt thanh tịnh pháp giới thân, an lập nguyện hải Phổ Hiền tu tập vào trí nhãn tam thế bình đẳng, thêm lớn trí huệ chiếu khắp tất cả thế gian, sanh sức đà la ni trì tất cả pháp luân và cũng muốn trong tất cả đạo tràng tất cả Phật cảnh giới đều khai thị, mở bày tất cả pháp môn của Như Lai, thêm lớn tất cả trí tánh pháp giới rộng lớn rất sâu, liền nói kệ rằng:

Trí huệ công đức biển rất sâu

Hiện khắp mười phương vô lượng cõi

Tùy các chúng sanh chỗ nên thấy

Quang minh soi khắp chuyển pháp luân.

Thập phương quốc độ bất tư nghì

Phật vô lượng kiếp đều nghiêm tịnh

Vì độ chúng sanh khiến thành thục

Xuất hiện tất cả các quốc độ.

Phật cảnh rất sâu khó nghĩ được

Khắp dạy chúng sanh khiến được vào

Lòng họ thích nhỏ chấp hữu lậu

Chẳng thông đạt được cảnh giới Phật.

Nếu có lòng tin trong sạch chắc

Thường được gần gũi thiện tri thức

Tất cả chư Phật hộ niệm cho

Ðây mới được vào Như Lai trí.

Lìa các dua dối lòng thanh tịnh

Thường thích từ bi tánh hoan hỷ

Chí nguyện rộng lớn tin hiểu sâu

Kia nghe pháp nầy lòng vui đẹp.

An trụ Phổ Hiền những hạnh nguyện

Tu hành Bồ tát đạo thanh tịnh

Quán sát pháp giới như hư không

Bèn biết được chỗ làm của Phật.

Chư Bồ tát đây được lợi lành

Thấy Phật tất cả thần thông lực

Tu những đạo khác không biết được

Học hạnh Phổ Hiền mới tỏ ngộ.

Chúng sanh rộng lớn vốn vô biên

Như Lai tất cả đều hộ niệm

Chuyển chánh pháp luân khắp mọi nơi

Cảnh giới Tỳ Lô Giá Na Phật.

Tất cả cõi nước vào thân tôi

Chỗ chư Phật ngự cũng như vậy

Chúng nên xem các chân lông tôi

Nay tôi hiện bày cảnh giới Phật.

Phổ Hiền hạnh nguyện không ngằn mé

Tôi đã tu hành được đầy đủ

Cảnh giới phổ nhãn thân rộng lớn

Là Phật chỗ làm phải nghe kỹ.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Thế giới hải có mười việc mà chư Phật trong ba thuở quá khứ, hiện tại, vị lai đã nói, hiện nói và sẽ nói.

Những gì là mười?

Chính là nhơn duyên khởi thế giới hải, chỗ trụ nương của thế giới hải, hình trạng của thế giới hải, thể tánh của thế giới hải, sự trang nghiêm của thế giới hải, sự thanh tịnh của thế giới hải, Phật xuất hiện nơi thế giới hải, kiếp trụ của thế giới hải, kiếp chuyển biến sai biệt của thế giới hải; môn vô sai biệt của thế giới hải.

Chư Phật tử! Lược nói thế giới hải có mười việc nầy. Nếu nói rộng ra thời đồng với thế giới hải vi trần số, mà tam thế chư Phật đã nói, hiện nói và sẽ nói.

Chư Phật tử! Lược nói do mười thứ nhơn duyên mà tất cả thế giới hải đã thành, hiện thành và sẽ thành. Những gì là mười? Chính là do vì thần lực của Như Lai, vì pháp phải như vậy, vì hạnh nghiệp của tất cả chúng sanh, vì chỗ sở đắc của tất cả Bồ tát thành Nhứt thiết trí, vì các chúng sanh và chư Bồ tát đồng chứa nhóm thiện căn, vì nguyện lực nghiêm tịnh Phật độ của chư Bồ tát, vì hạnh nguyện thành tựu bất thối của chư Bồ tát, vì thắng giải tự tại thanh tịnh của chư Bồ tát, vì chỗ lưu xuất do thiện căn của chư Như Lai và thế lực tự tại lúc chư Phật thành đạo, vì nguyện lực tự tại của Phổ Hiền Bồ tát.

Chư Phật tử! Ðó là lược nói mười thứ nhơn duyên. Nếu rộng nói thời có thế giới hải vi trần số.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương mà nói kệ rằng:

Ðã nói vô biên sát độ hải

Tỳ Lô Giá Na đều nghiêm tịnh

Thế Tôn cảnh giới bất tư nghì

Trí huệ thần thông lực như vậy.

Bồ tát tu hành những nguyện hải

Khắp tùy chúng sanh tâm chỗ muốn

Chúng sanh tâm hạnh rộng vô biên

Bồ tát quốc độ khắp mười phương.

Bồ tát thẳng đến Nhứt thiết trí

Siêng tu các môn tự tại lực

Vô lượng nguyện hải khắp xuất sanh

Sát độ rộng lớn đều thành tựu.

Tu những hạnh hải vô lượng biên

Vào cảnh giới Phật cũng vô lượng

Thanh tịnh thập phương các cõi nước

Mỗi mỗi cõi trải vô lượng kiếp.

Chúng sanh phiền não làm loạn đục

Phân biệt ưa thích chẳng phải một

Tùy tâm tạo nghiệp bất tư nghì

Tất cả sát hải đây thành lập.

Phật tử sát hải tạng trang nghiêm

Ly cấu quang minh báu làm thành

Ðây do rộng lớn tâm tín giải

Chỗ ở mười phương đều như vậy.

Bồ tát hay tu Phổ Hiền

Du hành pháp giới vi trần đạo

Trong trần đều hiện vô lượng cõi

Rộng lớn thanh tịnh như hư không.

Khắp cõi hư không hiện thần thông

Ðều đến đạo tràng chỗ chư Phật

Trên tòa liên hoa hiện các tướng

Mỗi thân bao trùm tất cả cõi.

Một niệm hiện khắp nơi tam thế

Tất cả sát hải đều thành lập

Phật dùng phương tiện đều vào trong

Là Phật Tỳ Lô chỗ nghiêm tịnh.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Mỗi mỗi thế giới hải có thế giới hải vi trần số chỗ nương trụ. Hoặc nương tất cả trang nghiêm mà trụ. Hoặc nương hư không mà trụ. Hoặc nương bửu quang minh mà trụ. Hoặc nương Phật quang minh mà trụ. Hoặc nương bửu sắc quang minh mà trụ. Hoặc nương thanh âm chư Phật mà trụ. Hoặc nương kim cang hình đại lực A tu la nghiệp sanh như huyễn mà trụ. Hoặc nương thân các Thế Chủ mà trụ. Hoặc nương thân chư Bồ tát mà trụ. Hoặc nương tất cả biển trang nghiêm sai khác hạnh nguyện Phổ Hiền mà trụ.

Chư Phật tử! Thế giới hải có thế giới vi trần số chỗ nương trụ như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Khắp cả mười phương cõi hư không

Chỗ có tất cả những quốc độ

Như Lai thần lực thường gia trì

Khắp nơi hiện tiền đều thấy được.

Hoặc có các thứ những quốc độ

Ðều do ly cấu bửu làm thành

Ma ni thanh tịnh rất tốt xinh

Quang minh sáng rỡ khắp hiển hiện.

Hoặc có cõi nước sáng thanh tịnh

Nương hư không giới mà an trụ

Hoặc ở trong biển ma ni bửu

Lại có an trụ tạng quang minh.

Như Lai ở trong chúng hội nầy

Diễn thuyết pháp luân đều xảo diệu

Cảnh giới chư Phật rộng vô biên

Chúng sanh được thấy lòng hoan hỷ.

Có cõi nghiêm sức bằng ma ni

Hình như đèn sáng giăng cùng khắp

Lửa thơm mây sáng màu chói rực

Lưới báu sáng chói dùng phủ che.

Hoặc có quốc độ không ngằn mé

An trụ liên hoa biển lớn sâu

Rộng rãi thanh tịnh khác thế gian

Chư Phật diệu thiện trang nghiêm đó.

Hoặc có quốc độ theo luân chuyển

Do Phật oai thần được an trụ

Ðại chúng Bồ tát đều ở trong

Thường thấy vô lượng báu rộng lớn.

Có cõi nước ở tay kim cang

Hoặc cõi nước ở thân Thiên Chủ

Tỳ Lô Giá Na đấng Vô Thượng

Thường ở cõi nầy chuyển pháp luân.

Hoặc nương cây báu trụ bằng thẳng

Trong mây sáng thơm cũng như vậy

Có cõi nương trong những biển lớn

Hoặc trụ kim cang rất bền chắc.

Có cõi nương trụ kim cang tràng

Có cõi trụ trong biển Hoa Tạng

Thần biến rộng lớn khắp các nơi

Tỳ Lô Giá Na Phật hay hiện.

Hoặc dài hoặc ngắn vô lượng thứ

Tướng đó xoay vần cũng chẳng đồng

Hoa Tạng trang nghiêm khác thế gian

Tu hành thanh tịnh mới thấy được.

Các cõi như vậy đều sai khác

Tất cả đều nương nguyện hải trụ

Hoặc có cõi thường ở hư không

Chư Phật như mây đều đầy khắp.

Có ở hư không lưới che trùm

Hoặc lúc hiện ra hoặc không hiện

Hoặc có cõi nước rất thanh tịnh

Trụ trong bửu quan của Bồ tát.

Thập phương chư Phật thần thông lớn

Tất cả đều hiện thấy trong đây

Chư Phật thanh âm đều cùng khắp

Ðây do nghiệp lực mà hóa hiện.

Hoặc có cõi nước khắp pháp giới

Ly cấu thanh tịnh tùng tâm khởi

Như ảnh như huyễn rộng vô biên

Như lưới Thiên Đế đều sai khác.

Hoặc hiện các thứ tạng trang nghiêm

Hoặc ở hư không mà kiến lập

Nghiệp nhơn cảnh giới chẳng nghĩ bàn

Phật lực hiển thị đều khiến thấy.

Trong mỗi cõi nước số vi trần

Niệm niệm thị hiện những Phật độ

Số đều vô lượng khắp chúng sanh

Phổ Hiền chỗ làm thường như vậy.

Vì muốn thành thục các chúng sanh

Trong đây tu hành trải kiếp hải

Thần thông rộng lớn hiện khắp nơi

Trong các pháp giới đều cùng khắp.

Pháp giới quốc độ mỗi vi trần

Những cõi nước lớn ở trong đó

Phật vân bình đẳng đều giăng che

Tất cả mọi nơi đều đầy đủ.

Lực dụng tự tại trong mỗi trần

Tất cả vi trần cũng như vậy

Chư Phật Bồ tát đại thần thông

Tỳ Lô Giá Na đều hay hiện.

Tất cả quốc độ rộng vô biên

Như ảnh, như huyễn, như dương diệm

Mười phương chẳng thấy từ đâu sanh

Cũng không có chỗ đi và đến.

Diệt hoại, sanh thành xoay vần mãi

Trong cõi hư không chẳng tạm dừng

Tất cả đều do nguyện thanh tịnh

Cũng do nghiệp lực chỗ giữ gìn.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Thế giới hải có nhiều hình tướng sai khác, hoặc tròn, hoặc vuông, hoặc chẳng phải tròn vuông, hoặc hình như nước xoáy, hoặc hình như núi lửa, hoặc hình như cây, hình như bông, hoặc hình như cung điện, như hình chúng sanh, như hình Phật, có thế giới vi trần số hình sai khác như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Vô lượng quốc độ sai khác nhau

Vô lượng trang nghiêm vô lượng trụ

Hình trạng sai khác khắp mười phương

Các Ngài đều nên đồng quan sát.

Hình kia hoặc tròn, hoặc vuông vức

Hoặc có ba góc và tám cạnh

Hình châu ma ni, hình liên hoa

Tất cả đều do nghiệp mà khác.

Có cõi thanh tịnh sáng trang nghiêm

Vàng ròng xen lẫn nhiều tốt đẹp

Cửa nẻo mở trống không bít lấp

Ðây do nghiệp rộng ý tinh thuần.

Sát hải vô biên tạng sai khác

Ví như mây bủa giữa không gian

Bửu châu trải đất trang nghiêm tốt

Ở trong quang minh sáng của Phật.

Tất cả quốc độ tâm phân biệt

Quang minh soi đến mà hiện ra

Chư Phật ở trong những cõi ấy

Nơi nơi thị hiện thần thông lực.

Có cõi tạp nhiễm hoặc thanh tịnh

Chịu khổ hưởng vui đều sai khác

Ðây do biển nghiệp chẳng nghĩ bàn

Các pháp lưu chuyển thường như vậy.

Trong một chân lông vô lượng cõi

Như số vi trần mà an trụ

Mỗi cõi đều có đấng Thế Tôn

Ở trong chúng hội tuyên diệu pháp.

Trong mỗi vi trần cõi lớn nhỏ

Nhiều loại sai khác số vi trần

Bằng phẳng cao thấp đều chẳng đồng

Phật đều qua đến mà thuyết pháp.

Tất cả vi trần hiện quốc độ

Ðều là bổn nguyện thần thông lực

Tùy lòng ưa thích sai khác nhau

Trong khoảng hư không đều làm được.

Tất cả quốc độ những vi trần

Trong mỗi vi trần Phật đều nhập

Khắp vì chúng sanh hiện thần thông

Tỳ Lô Giá Na pháp như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có các loại thể. Hoặc dùng tất cả bửu trang nghiêm làm thể. Hoặc dùng một bửu trang nghiêm làm thể. Hoặc dùng tất cả bửu quang minh làm thể. Hoặc dùng các thứ sắc quang minh làm thể. Hoặc dùng tất cả quang minh trang nghiêm làm thể. Hoặc dùng kim cang làm thể. Hoặc dùng Phật lực nhiếp trì làm thể. Hoặc dùng tướng diệu bửu làm thể. Hoặc dùng Phật biến hóa làm thể. Hoặc dùng nhựt ma ni làm thể. Hoặc dùng cực vi bửu làm thể. Hoặc dùng tất cả bửu diệm làm thể. Hoặc dùng các thứ hương làm thể. Hoặc dùng bửu hoa quan làm thể. Hoặc dùng bửu ảnh tượng làm thể. Hoặc dùng trang nghiêm thị hiện làm thể. Hoặc dùng nhứt tâm thị hiện cảnh giới làm thể. Hoặc dùng bửu hình Bồ tát làm thể. Hoặc dùng bửu hoa nhụy làm thể. Hoặc dùng ngôn âm của Phật làm thể... Có thế giới vi trần số thể như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Hoặc có những quốc độ

Diệu bửu hiệp lại thành

Bền chắc không hư hoại

Ðều ở bửu liên hoa.

Hoặc là bửu quang minh

Xuất sanh chẳng biết được

Tất cả quang trang nghiêm

Nương hư không mà ở.

Hoặc tịnh quang làm thể

Lại nương quang minh ở

Mây sáng làm trang nghiêm

Chở Bồ tát đi đến.

Hoặc có những quốc độ

Từ nơi nguyện lực sanh

An trụ như ảnh tượng

Ðem nói chẳng thể được.

Hoặc ma ni hiệp thành

Chói sáng như mặt trời

Bảo châu dùng trang nghiêm

Bồ tát đều đầy khắp.

Bửu diệm thành quốc độ

Mây sáng trùm trên đó

Bửu quang rất xinh đẹp

Ðều do nghiệp cảm nên.

Hoặc từ tướng tốt sanh

Các tướng trang nghiêm đẹp

Như mão tốt đội đầu

Ðây do Phật hóa hiện.

Hoặc từ tâm niệm sanh

Tùy tâm chỗ hiểu biết

Như huyễn không chỗ nơi

Tất cả là phân biệt.

Hoặc do Phật quang minh

Ma ni quang làm thể

Chư Phật hiện trong đó

Ðều thị hiện thần thông.

Hoặc Phổ Hiền Bồ tát

Hóa hiện các quốc độ

Dùng nguyện lực trang nghiêm

Tất cả đều tốt đẹp.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có nhiều loại trang nghiêm. Hoặc dùng trong những đồ trang nghiêm hiện ra mây đẹp nhứt để trang nghiêm. Hoặc dùng thuyết minh công đức của chư Bồ tát để trang nghiêm. Hoặc dùng thuyết minh nghiệp báo của tất cả chúng sanh để trang nghiêm. Hoặc dùng thị hiện nguyện lực của chư Bồ tát để trang nghiêm. Hoặc dùng biểu thị ảnh tượng của tam thế chư Phật để trang nghiêm. Hoặc dùng trong khoảng một niệm thị hiện cảnh giới thần thông trải vô biên kiếp để trang nghiêm. Hoặc dùng xuất hiện thân của chư Phật để trang nghiêm. Hoặc dùng xuất hiện tất cả mây hương báu để trang nghiêm. Hoặc dùng thị hiện những vật trân diệu quang minh chiếu sáng trong tất cả đạo tràng để trang nghiêm. Hoặc dùng thị hiện tất cả Phổ Hiền hạnh nguyện để trang nghiêm…

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Sát hải rộng lớn vô lượng biên

Thành nên đều do nghiệp thanh tịnh

Nhiều thứ trang nghiêm nhiều nơi ở

Tất cả mười phương đều đầy khắp.

Vô biên sắc tướng mây báu sáng

Rộng lớn trang nghiêm chẳng phải một

Mười phương sát hải thường xuất hiện

Khắp dùng diệu âm mà thuyết pháp.

Bồ tát vô biên biển công đức

Những nguyện rộng lớn để trang nghiêm

Khắp cõi đồng thời vang diệu âm

Chấn động mười phương các quốc độ.

Chúng sanh biển nghiệp rộng vô lượng

Tùy kia cảm báo đều chẳng đồng

Trong tất cả chỗ được trang nghiêm

Ðều do chư Phật hay diễn thuyết.

Tất cả Như Lai trong ba thuở

Thần thông hiện khắp thế giới hải

Trong mỗi sự có tất cả Phật

Các Ngài xem sự trang nghiêm đó.

Quá khứ, vị lai, kiếp hiện tại

Mười phương tất cả những quốc độ

Những sự trang nghiêm ở nơi kia

Ðều thấy ở trong một cõi nước.

Vô lượng Phật trong tất cả sự

Số đồng chúng sanh khắp thế gian

Vì khiến điều phục hiện thần thông

Dùng đây trang nghiêm thế giới hải.

Tất cả trang nghiêm tuôn mây đẹp

Nhiều thứ mây hoa, mây hương sáng

Mây báu ma ni thường xuất hiện

Sát hải dùng đây để trang nghiêm.

Mười phương những nơi Phật thành đạo

Các thứ trang nghiêm đều đầy đủ

Phóng quang chiếu xa như mây sáng

Trong thế giới hải đều khiến thấy.

Phổ Hiền hạnh nguyện chư Bồ tát

Vô biên kiếp hải siêng tu tập

Vô biên quốc độ đều trang nghiêm

Trong tất cả chỗ đều hiển hiện.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số môn phương tiện thanh tịnh. Chính là do thiện căn của chư Bồ tát gần gũi thiện tri thức. Do thêm lớn những công đức khắp pháp giới. Do tu tập những thắng giải rộng lớn. Do quan sát cảnh giới của tất cả Bồ tát mà an trụ. Do tu tập những môn ba la mật đều viên mãn. Do quan sát những địa vị của chư Bồ tát mà nhập trụ. Do xuất sanh tất cả thệ nguyện thanh tịnh. Do tu tập những hạnh xuất yếu. Do nhập tất cả biển trang nghiêm. Do thành tựu sức phương tiện thanh tịnh...

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Tất cả cõi nước những trang nghiêm

Do nguyện lực phương tiện sanh ra

Tất cả quốc độ thường chói sáng

Vô lượng nghiệp thanh tịnh hiện thành.

Bồ tát lâu xa gần tri thức

Ðồng tu nghiệp lành đều thanh tịnh

Từ bi rộng lớn khắp chúng sanh

Dùng đây trang nghiêm các quốc độ.

Tất cả pháp môn, những tam muội

Thiền định giải thoát, môn phương tiện

Nơi chỗ chư Phật đều tu hành

Do đây sanh ra những quốc độ.

Phát sanh vô lượng trí thắng giải

Hiểu được Như Lai đồng không khác

Phương tiện nhẫn nhục đã tu hành

Nên nghiêm tịnh được vô biên cõi.

Vì lợi chúng sanh tu thắng hạnh

Phước đức rộng lớn thường tăng trưởng

Ví như mây bủa khắp hư không

Tất cả quốc độ đều thành tựu.

Môn ba la mật nhiều vô lượng

Ðều đã tu hành khiến đầy đủ

Nguyện ba la mật vô cùng tận

Quốc độ thanh tịnh từ đây sanh.

Những pháp vô thượng đều tu hành

Sanh ra vô biên hạnh xuất yếu

Nhiều môn phương tiện độ chúng sanh

Như vậy trang nghiêm các quốc độ.

Tu tập trang nghiêm môn phương tiện

Chứng Phật công đức biển pháp môn

Khiến khắp chúng sanh cạn nguồn khổ

Cõi nước rộng lớn đều thành tựu.

Nguyện lực rộng lớn không gì sánh

Khiến khắp chúng sanh gieo thiện căn

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Vô biên quốc độ đều thanh tịnh.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nên biết mỗi mỗi thế giới hải có thế giới hải vi trần số Phật xuất hiện sai khác: hoặc hiện thân nhỏ, hoặc hiện thân lớn, hoặc hiện đoản thọ, hoặc hiện trường thọ, hoặc chỉ nghiêm tịnh một quốc độ, hoặc hiện nghiêm tịnh vô lượng quốc độ, hoặc chỉ hiển thị pháp Nhứt thừa, hoặc hiển thị vô lượng thừa, hoặc hiện điều phục thiểu số chúng sanh, hoặc hiện điều phục vô biên chúng sanh... có vi trần số sai khác như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Chư Phật có các môn phương tiện

Xuất hiện tất cả những quốc độ

Ðều tùy sở thích của chúng sanh

Ðây là Như Lai quyền lực khéo.

Pháp thân chư Phật bất tư nghì

Không sắc, không hình, không ảnh tượng

Vì chúng sanh hiện tướng sai khác

Theo lòng họ ưa khiến họ thấy.

Hoặc vì chúng sanh hiện đoản thọ

Hoặc hiện trường thọ vô lượng kiếp

Pháp thân mười phương khắp hiện tiền

Trong thế gian tùy nghi xuất hiện.

Hoặc hiện nghiêm tịnh bất tư nghì

Mười phương vô biên các quốc độ

Hoặc chỉ nghiêm tịnh một cõi nước

Nơi một thị hiện đủ không sót.

Hoặc tùy sở thích của chúng sanh

Thị hiện vô lượng vô biên thừa

Hoặc chỉ tuyên thuyết pháp Nhứt thừa

Trong một thừa hiện vô lượng pháp.

Hoặc hiện tự nhiên thành Chánh giác

Ðộ thiểu số người vào chánh pháp

Hoặc lại thị hiện trong một niệm

Khai ngộ quần sanh vô lượng số.

Hoặc nơi chân lông tuôn mây sáng

Thị hiện vô lượng vô biên Phật

Tất cả thế gian đều hiện thấy

Các môn phương tiện độ quần sanh.

Hoặc hiện thanh âm khắp mọi nơi

Tùy lòng họ ưa mà thuyết pháp

Vô lượng vô biên những đại kiếp

Ðiều phục vô lượng các chúng sanh.

Phật có vô lượng cõi trang nghiêm

Chúng hội thanh tịnh ngồi nghiêm chỉnh

Phật như vầng mây che trong đó

Thập phương quốc độ đều đầy khắp.

Chư Phật phương tiện bất tư nghì

Tùy tâm chúng sanh hiện ra trước

Ngự trong các cõi rất trang nghiêm

Tất cả quốc độ đều cùng khắp.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp trụ: hoặc có a tăng kỳ kiếp trụ, hoặc có vô lượng kiếp trụ, hoặc có vô biên kiếp trụ, hoặc có vô đẳng kiếp trụ, hoặc có bất khả sổ kiếp trụ, hoặc có bất khả xưng kiếp trụ, hoặc có bất khả tư kiếp trụ, hoặc có bất khả lượng kiếp trụ, hoặc có bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp trụ… có vi trần số kiếp trụ như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Trong thế giới hải nhiều kiếp trụ

Phương tiện rộng lớn để trang nghiêm

Mười phương cõi nước đều xem thấy

Số lượng sai khác đều rành rẽ.

Tôi thấy mười phương thế giới hải

Kiếp số vô lượng đồng chúng sanh

Hoặc dài hoặc ngắn hoặc vô biên

Dùng Phật thanh âm nay diễn nói.

Hoặc thấy mười phương những quốc độ

Hoặc trụ quốc độ vi trần kiếp

Hoặc chỉ một kiếp hoặc vô số

Bởi những tâm nguyện đều chẳng đồng.

Hoặc có thuần tịnh hoặc thuần nhiễm

Hoặc lại nhiễm tịnh chung lộn lạo

Nguyện lực an lập nhiều sai khác

Trong tâm chúng sanh mà an trụ

Thuở xưa tu hành vi trần kiếp

Ðược thế giới hải thanh tịnh lớn

Cảnh giới chư Phật đều trang nghiêm

Trụ mãi vô biên kiếp rộng lớn

Dùng bửu quang minh để đặt tên

Hoặc tên Ðẳng Âm Diệm Nhãn Tạng

Tên Ly Quang Minh và Hiền Kiếp

Kiếp thanh tịnh nầy nhiếp tất cả.

Có kiếp thanh tịnh một Phật hiện

Hoặc trong một kiếp nhiều Phật hiện

Vô tận phương tiện đại nguyện lực

Vào trong tất cả thời gian kiếp.

Hoặc vô lượng kiếp vào một kiếp

Hoặc lại một kiếp vào nhiều kiếp

Tất cả kiếp hải phương tiện môn

Thập phương quốc độ đều hiện rõ.

Hoặc tất cả kiếp sự trang nghiêm

Ở trong một kiếp đều hiện thấy

Hoặc sự trang nghiêm trong một kiếp

Vào khắp tất cả vô biên kiếp.

Trước từ một niệm sau thành kiếp

Sanh ra đều do tâm chúng sanh

Tất cả quốc độ kiếp vô biên

Dùng một phương tiện đều thanh tịnh.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số kiếp chuyển biến sai khác. Như là: vì pháp như vậy nên thế giới hải có vô lượng kiếp thành kiếp hoại chuyển biến. Vì chúng sanh nhiễm ô ở nên thế giới hải thành kiếp nhiễm ô chuyển biến. Vì chúng sanh tu phước rộng lớn ở nên thế giới hải thành kiếp nhiễm tịnh chuyển biến. Vì tín giải Bồ tát ở nên thế giới hải thành kiếp nhiễm tịnh chuyển biến. Vì vô lượng chúng sanh phát Bồ đề tâm nên thế giới hải thuần kiếp thanh tịnh chuyển biến. Vì chư Bồ tát đều đi khắp các thế giới nên thế giới hải vô biên kiếp trang nghiêm chuyển biến. Vì thập phương tất cả chư Bồ tát vân tập nên thế giới hải vô lượng kiếp đại trang nghiêm chuyển biến. Vì chư Phật Thế Tôn nhập niết bàn nên thế giới hải kiếp trang nghiêm diệt chuyển biến. Vì chư Phật xuất hiện ra đời nên tất cả thế giới hải kiếp rộng lớn trang nghiêm thanh tịnh chuyển biến. Vì Như Lai thần thông biến hóa nên thế giới hải kiếp khắp thanh tịnh chuyển biến... Có vi trần số kiếp chuyển biến như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa oai lực của Phật quan sát mười phương mà nói kệ rằng:

Tất cả những quốc độ

Ðều tùy nghiệp lực sanh

Các Ngài nên quan sát

Tướng chuyển biến như vậy.

Những chúng sanh nhiễm ô

Nghiệp phiền não đáng sợ

Tâm họ khiến quốc độ

Tất cả thành nhiễm ô

Nếu có tâm thanh tịnh

Tu những hạnh phước đức

Tâm họ khiến quốc độ

Tạp nhiễm và thanh tịnh.

Chư Bồ tát tín giải

Sanh vào trong kiếp kia

Tùy tâm Bồ tát nầy

Quốc độ đủ tịnh nhiễm.

Vô lượng số chúng sanh

Ðều phát Bồ đề tâm

Tâm họ khiến quốc độ

Trụ kiếp thường thanh tịnh.

Vô lượng ức Bồ tát

Qua đến mười phương cõi

Trang nghiêm không có khác

Trong kiếp thấy sai khác.

Trong mỗi mỗi vi trần

Cõi Phật như số bụi

Bồ tát đồng vân tập

Quốc độ đều thanh tịnh.

Thế Tôn nhập niết bàn

Cõi đó dứt trang nghiêm

Chúng sanh không pháp khí

Thế giới thành tạp nhiễm.

Nếu có Phật ra đời

Cõi nước đều tốt đẹp

Tùy theo tâm thanh tịnh

Ðầy đủ sự trang nghiêm.

Thần thông của chư Phật

Thị hiện bất tư nghì

Lúc đó, những quốc độ

Tất cả đều thanh tịnh.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nên biết thế giới hải có thế giới hải vi trần số vô sai biệt. Như là: trong mỗi thế giới hải, có thế giới hải vi trần số thế giới vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, chư Phật xuất hiện oai đức thần lực vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, tất cả đạo tràng khắp thập phương pháp giới vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, quang minh của chư Phật khắp pháp giới vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, chúng hội đạo tràng của chư Phật vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, chư Phật biến hóa danh hiệu vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, thanh âm của chư Phật khắp thế giới hải vô biên kiếp trụ vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, pháp luân phương tiện vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, tất cả thế giới hải vào khắp một vi trần vô sai biệt. Trong mỗi thế giới hải, mỗi vi trần cảnh giới rộng lớn của tất cả tam thế chư Phật đều hiện trong đó vô sai biệt… có vi trần số vô sai biệt như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Trong một vi trần nhiều sát hải

Chỗ nơi riêng khác đều nghiêm tịnh

Vô lượng như vậy vào một cõi

Mỗi mỗi chia khác không xen tạp.

Trong mỗi vi trần vô lượng Phật

Tùy tâm chúng sanh khắp hiện tiền

Tất cả quốc độ đều cùng khắp

Phương tiện như vậy vô sai biệt.

Trong mỗi vi trần những thọ vương

Nhiều thứ trang nghiêm đều thòng rủ

Thập phương quốc độ đều đồng hiện

Tất cả như vậy vô sai biệt.

Trong mỗi trần có vi trần chúng

Cùng nhau bao quanh đức Thế Tôn

Siêu việt tất cả khắp thế gian

Cũng chẳng chật hẹp tạp loạn nhau.

Trong mỗi trần có vô lượng quang

Chiếu khắp mười phương các cõi nước

Ðều hiện chư Phật hạnh Bồ đề

Tất cả sát độ vô sai biệt.

Trong mỗi trần có vô lượng thân

Biến hóa như mây đều cùng khắp

Phật dùng thần thông độ chúng sanh

Thập phương quốc độ vô sai biệt.

Trong mỗi trần diễn nói các pháp

Pháp đó thanh tịnh như luân chuyển

Các môn phương tiện đều tự tại

Tất cả diễn thuyết vô sai biệt.

Một trần diễn khắp tiếng chư Phật

Ðầy khắp pháp khí các chúng sanh

Trụ khắp sát hải vô biên kiếp

Thanh âm như vậy cũng không khác.

Sát hải vô lượng trang nghiêm đẹp

Trong một vi trần đều vào cả

Thần thông chư Phật sức tự tại

Tất cả đều do nghiệp tánh hiện.

Trong mỗi vi trần tam thế Phật

Tùy chỗ sở thích đều khiến thấy

Thể tánh không đến cũng không đi

Do nơi nguyện lực khắp thế gian.

*




K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM HOA TẠNG THẾ GIỚI

THỨ NĂM

*Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Hoa Tạng thế giới hải nầy, được nghiêm tịnh là do đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, thuở xưa lúc tu hạnh Bồ tát trải qua thế giới hải vi trần số kiếp, trong mỗi kiếp gần gũi vi trần số Phật, nơi mỗi Phật tu tập vi trần số đại nguyện thanh tịnh.

Chư Phật tử! Hoa Tạng thế giới trang nghiêm nầy, có Tu Di sơn vi trần số phong luân nhiếp trì. Phong luân dưới chót tên Bình Đẳng Trụ có thể nhiếp trì phong luân trên, trang nghiêm với vô số ngọn lửa báu sáng rực rỡ. Phong luân kế trên tên Xuất Sanh Chủng Chủng Bửu Trang Nghiêm có thể nhiếp trì từng trên tràng ma ni vương sáng rỡ.

Phong luân kế trên tên Bửu Oai Đức có thể nhiếp trì từng trên vô số bửu linh. Phong luân kế trên tên Bình Đẳng Diệm có thể nhiếp trì từng trên ma ni vương sáng như mặt trời. Phong luân kế trên tên Chủng Chủng Phổ Trang Nghiêm có thể nhiếp trì từng vòng hoa sáng chói. Phong luân kế trên tên Phổ Thanh Tịnh có thể nhiếp trì từng trên tòa sư tử hoa báu chiếu sáng. Phong luân kế trên tên Thanh Biến Thập Phương có thể nhiếp trì từng trên tràng vô số châu vương. Phong luân kế trên tên Nhứt Thiết Bửu Quang Minh có thể nhiếp trì từng trên cây báu vô số ma ni vương. Phong luân kế trên tên Tốc Tật Phổ Trì có thể nhiếp trì từng trên mây Tu Di tất cả hương ma ni. Phong luân kế trên tên Chủng Chủng Cung Điện Du Hành có thể nhiếp trì từng trên mây hương đài tất cả bửu sắc.

Chư Phật tử! Lần lượt đến Tu Di sơn vi trần số phong luân trên hết tên Thù Thắng Oai Quang Tạng có thể nhiếp trì biển Hương Thủy Phổ Quang Ma Ni Trang Nghiêm. Biển Hương Thủy nầy có liên hoa lớn tên Chủng Chủng Quang Minh Nhụy Hương Tràng. Hoa Tạng thế giới hải trụ trong tràng đó, bốn phương bằng thẳng thanh tịnh kiên cố, Kim Cang Luân Sơn bao giáp vòng, những cây nơi đất biển đều có khu vực sai khác.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa oai thần của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Thế Tôn thuở xưa nơi các cõi

Chỗ chư Phật ngự tu tịnh nghiệp

Nên được các thứ bửu quang minh

Hoa Tạng trang nghiêm thế giới hải.

Từ bi rộng lớn khắp tất cả

Xả thân vô lượng số vi trần

Do xưa nhiều kiếp sức tu hành

Nay thế giới nầy không cấu nhiễm.

Phóng đại quang minh trụ không gian

Phong luân nhiếp trì không dao động

Phật tạng ma ni khắp nghiêm sức

Nguyện lực Như Lai khiến thanh tịnh

Khắp rải hoa ma ni diệu tạng

Do đại nguyện lực trụ không gian

Các thứ biển kiên cố trang nghiêm

Mây sáng bủa giăng khắp mười phương.

Trong hoa ma ni chúng Bồ tát

Khắp đến mười phương sáng rực rỡ

Lửa sáng thành vòng hoa đẹp tốt

Pháp giới châu lưu khắp tất cả.

Trong tất cả báu phóng quang minh

Quang minh đó chiếu khắp chúng sanh

Cõi nước mười phương đều chiếu đến

Khiến chúng khỏi khổ, đến Bồ đề.

Trong báu, Phật số đồng chúng sanh

Từ chân lông Phật hiện hóa thân

Phạm Vương, Ðế Thích, Chuyển Luân Vương

Tất cả chúng sanh và chư Phật.

Hóa hiện quang minh khắp pháp giới

Quang minh diễn nói tên chư Phật

Các thứ phương tiện hiện điều phục

Ứng khắp lòng chúng không bỏ sót.

Những vi trần trong Hoa Tạng giới

Trong mỗi mỗi trần thấy pháp giới

Bửu quang hiện Phật như mây nhóm

Chư Phật như vậy ngự tự tại.

Nguyện lực quảng đại khắp pháp giới

Trong tất cả kiếp độ chúng sanh

Hạnh nguyện Phổ Hiền trí đều thành

Tất cả trang nghiêm do đây có.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Trong Hoa Tạng Trang Nghiêm thế giới hải nầy, Đại Luân Vi Sơn ở trên liên hoa nhựt châu vương, chiên đàn ma ni làm thân, oai đức bửu vương làm chót, diệu hương ma ni làm luân, diệm tạng kim cang hiệp thành, tất cả hương thủy chảy trong đó, rừng bằng châu báu, hoa tốt đua nở, cỏ thơm trải đất, minh châu xen trang nghiêm, khắp nơi đầy những hoa thơm, châu ma ni làm lưới giăng trùm... có thế giới hải vi trần số sự trang nghiêm tốt đẹp như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa thần lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Thế giới đại hải vô lượng biên

Bửu luân thanh tịnh nhiều màu sắc

Những sự trang nghiêm đều đẹp lạ

Ðây do thần lực của Như Lai.

Ma ni bửu luân, diệu hương luân

Nhẫn đến chơn châu như đèn sáng

Các thứ diệu bửu dùng trang nghiêm

Thanh tịnh bửu luân chỗ an trụ.

Ma ni kiên cố dùng làm tạng

Diêm phù đàn kim dùng trang sức

Phóng quang phát sáng khắp mười phương

Trong ngoài chói suốt đều thanh tịnh.

Kim cang ma ni hợp lại thành

Lại rưới ma ni các diệu bửu

Bửu đó đẹp lạ đều khác nhau

Phóng quang thanh tịnh khắp tráng lệ.

Hương thủy chảy xen vô lượng sắc

Rưới những bửu hoa và chiên đàn

Hoa sen đua nở khắp mọi nơi

Cỏ thơm trải đất hương ngào ngạt.

Vô lượng cây báu khắp trang nghiêm

Hoa nở nhị đơm màu sáng rỡ

Y phục xinh đẹp ở trong đó

Mây sáng bốn phương thường viên mãn.

Vô lượng vô biên đại Bồ tát

Cầm lọng, thắp hương đầy pháp giới

Ðều phát tất cả diệu thanh âm

Chuyển chánh pháp luân của chư Phật.

Những cây ma ni bằng chất báu

Mỗi chất báu đều phóng quang minh

Tỳ Lô Giá Na thanh tịnh thân

Hiện vào trong đó đều khiến thấy.

Trong những trang nghiêm hiện thân Phật.

Sắc tướng vô biên vô lượng số

Qua đến mười phương khắp mọi nơi

Hóa độ chúng sanh cũng vô lượng.

Tất cả trang nghiêm vang tiếng diệu

Diễn nói bổn nguyện của Như Lai

Sát hải thanh tịnh khắp mười phương

Thần lực của Phật khiến đầy khắp.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Trong Đại Luân Vi Sơn nơi thế giới hải nầy, tất cả đại địa đều do kim cang hiệp thành, kiên cố trang nghiêm chẳng thể hư hoại, bằng phẳng thanh tịnh, ma ni làm luân, các thứ báu làm tạng, những ma ni bửu xen lẫn trong đó, rải những mạt châu báu, hoa sen trải đất, hương tạng ma ni xen trong hoa. Những đồ trang nghiêm đầy khắp như mây, tất cả sự trang nghiêm trong tất cả quốc độ của tam thế chư Phật đều hợp lại để nghiêm sức, ma ni diệu bửu làm lưới hiện tất cả cảnh giới của Như Lai như lưới Thiên Đế giăng hàng trong đó.

Chư Phật tử! Ðại địa của thế giới hải nầy có thế giới hải vi trần số sự trang nghiêm như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa thần lực của Phật quan sát mười phương mà nói kệ rằng:

Ðại địa bằng phẳng rất thanh tịnh

An trụ kiên cố không hư hoại

Khắp chốn, ma ni dùng trang nghiêm

Trong đó các báu cùng xen lẫn.

Kim cang làm đất rất đáng thích

Bửu luân, bửu võng trang nghiêm đủ

Hoa sen trải trên đều viên mãn

Diệu y giăng trùm đều cùng khắp.

Thiên quan anh lạc chuỗi ngọc báu

Trải giăng đầy đất trang nghiêm đẹp

Chiên đàn ma ni rải khắp nơi

Ðều phóng quang minh đẹp thanh tịnh.

Bửu hoa sáng chói phóng quang minh

Tia sáng như mây chiếu tất cả

Rải hoa đẹp nầy và các báu

Trùm khắp mặt đất để nghiêm sức.

Mây dầy giăng bủa khắp mười phương

Quang minh quảng đại vô cùng tận

Khắp đến mười phương tất cả cõi

Diễn pháp cam lồ của Như Lai.

Trong châu ma ni đều khắp hiện

Ðại nguyện của Phật vô biên kiếp

Công hạnh thuở xưa của Như Lai

Trong châu báu nầy đều hiện đủ.

Những báu ma ni nơi đại địa

Tất cả quốc độ đều đến nhập

Những quốc độ kia mỗi vi trần

Tất cả quốc độ nhập trong đó.

Diệu bửu trang nghiêm Hoa Tạng giới

Bồ tát du hành khắp mười phương

Diễn nói hoằng thệ của Đại sĩ

Ðây là thần lực của đạo tràng.

Ma ni diệu bửu khắp trang nghiêm

Phóng tịnh quang minh đủ sự đẹp

Ðầy khắp pháp giới khắp hư không

Phật lực tự nhiên hiện như vậy.

Những ai tu tập nguyện Phổ Hiền

Vào cảnh giới Phật bực Đại trí

Biết được trong thế giới hải nầy

Như vậy tất cả sự thần biến.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Trong đại địa của thế giới hải nầy có mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy hải. Tất cả diệu bửu trang nghiêm đáy biển. Diệu hương ma ni trang nghiêm bờ biển. Tỳ lô giá na ma ni bửu vương dùng làm lưới. Trong biển đầy những nước thơm đủ màu chói suốt, nhiều thứ hoa báu xoay giăng trên mặt nước, bột mịn chiên đàn lóng đọng dưới nước, diễn ngôn âm của Phật, phóng quang minh báu. Vô biên Bồ tát cầm các thứ lọng, hiện thần thông. Bao nhiêu sự trang nghiêm của tất cả thế giới đều hiện trong đó. Thềm bực bằng mười chất báu liệt hàng khắp nơi. Bao quanh bằng lan can mười báu. Tứ thiên hạ vi trần số châu báu trang nghiêm. Bạch liên hoa đua nở trong nước. Bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha số tràng thi la mười báu. Hằng hà sa số tràng y linh lưới báu. Hằng hà sa số lâu các báu đẹp vô biên sắc tướng. Trăm ngàn ức na do tha thành liên hoa mười báu. Tứ thiên hạ vi trần rừng cây báu. Bửu diệm ma ni dùng làm lưới. Có hằng hà sa số hương chiên đàn, ngọc ma ni sáng chói vang ngôn âm chư Phật. Bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha rào tường bằng châu báu bao quanh khắp nơi để trang nghiêm.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa thần lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ðại địa ở trong thế giới nầy

Có Hương Thủy hải ma ni đẹp

Diệu bửu thanh tịnh trải đáy biển

Ở trên kim cang chẳng hư hoại.

Hương tạng ma ni xây thành bờ

Châu luân nhựt diệm như mây bủa

Diệu bửu liên hoa làm anh lạc

Nơi nơi trang nghiêm rất thanh tịnh;

Nước thơm đứng trong đủ các màu

Hoa báu xoay giăng phóng ánh sáng

Tiếng vang chấn động khắp gần xa

Do Phật oai thần nên diễn pháp.

Thềm bực trang nghiêm đủ chất báu

Lại dùng ma ni để trang sức

Lan can bao quanh bằng châu báu

Lưới báu liên hoa như mây bủa.

Cây báu ma ni liệt thành hàng

Hoa nhụy đua nở sáng rực rỡ

Các thứ tiếng nhạc luôn hòa tấu

Thần thông của Phật khiến như vậy.

Hương diệm chói ngời không tạm dừng

Những bạch liên hoa đơm báu đẹp

Giăng bủa trang nghiêm biển nước thơm

Quảng đại viên mãn đều đầy khắp.

Tràng báu minh châu thường sáng rực

Y đẹp rủ thòng để nghiêm sức

Lưới linh như ý diễn pháp âm

Khiến người nghe tiếng, hướng Phật trí.

Liên hoa diệu bửu làm thành quách

Những ma ni màu trang nghiêm đẹp

Chơn châu như mây giăng bốn phương

Như vậy trang nghiêm biển Hương Thủy.

Rào tường bao quanh đều khắp vòng

Lâu các vọng nhau giăng trên đó

Vô lượng tia sáng thường chói rực

Nhiều thứ trang nghiêm biển thanh tịnh.

Tỳ Lô Như Lai thuở xa xưa

Tất cả sát hải đều nghiêm tịnh

Như vậy rộng lớn vô lượng biên

Ðều là Như Lai tự tại lực.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Mỗi biển Hương Thủy đều có tứ thiên hạ vi trần số sông Hương Thủy chảy vòng bên hữu. Tất cả con sông nầy đều dùng kim cang làm bờ, tịnh quang ma ni dùng để trang nghiêm, thường hiện mây sáng màu báu đẹp của chư Phật và những ngôn âm của các chúng sanh. Những chỗ nước xoáy trong các sông ấy, hiện ra hình tướng tất cả công hạnh của chư Phật đã tu tập. Lưới giăng bằng ma ni treo linh và lạc báu, những sự trang nghiêm của các thế giới hải đều hiện trong lưới đó. Mây báu ma ni trùm trên đó. Mây nầy khắp hiện sự thần thông của đức Tỳ Lô Giá Na, thập phương hóa Phật và tất cả chư Phật. Lại vang ra tiếng vi diệu xưng dương danh hiệu của tam thế chư Phật và Bồ tát.

Trong Hương Thủy đó thường xuất sanh tất cả bửu diệm, mây sáng nối luôn chẳng dứt. Nếu nói rộng ra, thời mỗi con sông đều có thế giới hải vi trần số sự trang nghiêm.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Dòng nước thơm trong đầy cả sông

Kim cang diệu bửu làm bờ bực

Mạt báu làm luân trải đáy sông

Những thứ nghiêm sức đều báu đẹp.

Thềm báu liệt hàng đẹp trang nghiêm

Lan can bao vòng rất tráng lệ

Chơn châu làm tạng những hoa đẹp

Những tràng chuỗi ngọc đồng rũ xuống.

Nước thơm sáng báu màu thanh tịnh

Thường tuôn ma ni dòng chảy xiết

Các hoa theo sóng đều động dao

Ðồng tấu nhạc âm tuyên diệu pháp.

Bột mịn chiên đàn làm bùn đọng

Tất cả diệu bửu đồng xoáy khoắn

Hương tạng ngào ngạt đầy mặt nước

Phát sáng tuôn thơm khắp mọi nơi.

Trong sông xuất sanh những diệu bửu

Ðều phóng quang minh màu chói rực

Quang minh ảnh hiện thành đài tòa

Lọng báu chuỗi ngọc đều đầy đủ.

Trong ma ni vương hiện thân Phật

Quang minh chiếu khắp mười phương cõi

Dùng đây làm luân đẹp mặt đất

Nước thơm chói suốt thường đầy khắp.

Ma ni làm lưới, vàng làm lạc

Trùm khắp Hương Hà diễn tiếng Phật

Tuyên đủ tất cả đạo Bồ đề

Cùng với hạnh Phổ Hiền vi diệu.

Bờ báu ma ni rất thanh tịnh

Thường vang tiếng nói bổn nguyện Phật

Tất cả chư Phật xưa tu hành

Tiếng vang diễn nói đều nghe được.

Trong sông những chỗ nước xoáy khoắn

Bồ tát như mây thường hiện ra

Những quốc độ lớn đều qua đến

Nhẫn đến pháp giới đều đầy khắp.

Châu vương thanh tịnh bủa như mây

Tất cả Hương Hà đều che khắp

Châu kia đồng Phật tướng bạch hào

Sáng rỡ hiển hiện bóng chư Phật.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Hai bên bờ đất của những sông Hương Thủy nầy đều trang nghiêm bằng những diệu bửu. Mỗi mỗi đều có tứ thiên hạ vi trần số những báu trang nghiêm. Bạch liên hoa khắp các nơi. Mỗi nơi đều có tứ thiên hạ vi trần số rừng cây báu hàng lối thứ tự. Trong mỗi mỗi cây thường tuôn ra những mây đẹp, ma ni bửu vương chiếu sáng trong đó. Các thứ hoa thơm đầy trên cây. Những cây báu ấy lại vang ra tiếng vi diệu diễn nói đại nguyện của chư Phật đã tu hành trong nhiều kiếp.

Lại rưới các thứ ma ni bửu vương đầy khắp mặt đất. Những là: liên hoa luân ma ni bửu vương, hương diệm quang vân ma ni bửu vương, chủng chủng nghiêm sức ma ni bửu vương, hiện bất tư nghì trang nghiêm sắc ma ni bửu vương, nhựt quang minh ma ni bửu vương, quang võng vân ma ni bửu vương, hiện Phật thần biến ma ni bửu vương, hiện chúng sanh nghiệp báo hải ma ni bửu vương… Có thế giới hải vi trần số ma ni bửu vương như vậy. Hai bên bờ đất của những sông Hương Thủy đều có đủ những sự trang nghiêm như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa thần lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ðất kia bằng phẳng, rất thanh tịnh

Chơn kim ma ni đồng nghiêm sức

Cây báu thẳng hàng che trong đó

Cao vọi buông nhành rợp như mây.

Nhánh lá toàn bằng báu trang nghiêm

Hoa nở phóng quang chiếu bốn phía

Trái bằng ma ni như mây giăng

Khiến khắp mười phương thường hiện thấy.

Ma ni trải đất đều đầy khắp

Bột báu màu đẹp đồng trang nghiêm

Lại dùng ma ni làm cung điện

Ðều hiện tượng hình của chúng sanh.

Châu ma ni vương hiện ảnh Phật

Khắp trên mặt đất đều rải khắp

Như vậy sáng chói khắp mười phương

Trong mỗi vi trần đều thấy Phật

Diệu bửu trang nghiêm khéo chia giăng

Lưới đèn chơn châu xen lẫn nhau

Nơi nơi đều có ma ni luân

Mỗi châu hiện thần thông của Phật.

Châu báu trang nghiêm phóng sáng lớn

Trong tia sáng đó hiện hóa Phật

Nơi nơi chốn chốn đều cùng khắp

Ðều dùng thập lực khai diễn rộng.

Ma ni diệu bửu bạch liên hoa

Trong tất cả sông đều mọc khắp

Hoa sen nhiều loại chẳng đồng nhau

Ðều hiện quang minh không dứt hết.

Những sự trang nghiêm trong ba thuở

Trong trái ma ni đều hiển hiện

Thể tánh vô sanh bất khả thủ

Ðây là Như Lai tự tại lực.

Tất cả trang nghiêm mặt đất nầy

Ðều hiện Như Lai thân quảng đại

Kia cũng chẳng đến cũng chẳng đi

Phật xưa nguyện lực đều khiến thấy.

Trong mỗi vi trần mặt đất nầy

Tất cả Phật tử đương hành đạo

Ðều thấy cõi mình được thọ ký

Tùy theo ý nguyện đều thanh tịnh.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Thế giới hải trang nghiêm của chư Phật Thế Tôn đều bất tư nghì. Vì sao vậy? Nầy Chư Phật tử! Tất cả cảnh giới của Hoa Tạng thế giới hải nầy, mỗi mỗi đều dùng thế giới hải vi trần số công đức thanh tịnh để trang nghiêm.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa thần lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Tất cả chỗ trong sát hải nầy

Ðều trang sức với nhiều thứ báu

Phát sáng trên không bủa như mây

Quang minh rỗng suốt thường giăng đậy.

Ma ni tuôn mây không cùng tận

Ảnh Phật mười phương hiện trong đó

Thần thông biến hóa chẳng tạm dừng

Tất cả Bồ tát đồng vân tập.

Những ngọc ma ni diễn Phật âm

Tiếng Phật mỹ diệu bất tư nghì

Tỳ Lô Giá Na xưa tu hành

Trong bửu châu nầy luôn nghe thấy.

Quang minh thanh tịnh đấng Biến Tri

Trong đồ trang nghiêm đều hiện bóng

Biến hóa phân thân chúng vây quanh

Tất cả sát hải đều cùng khắp.

Tất cả hóa Phật đều như huyễn

Tìm chỗ đến kia đều chẳng được

Bởi sức oai thần cảnh giới Phật

Trong tất cả cõi hiện như vậy.

Thần thông tự tại của Như Lai

Ðều khắp mười phương các quốc độ

Trong sự trang nghiêm của cõi nầy

Nơi các bửu châu đều hiện rõ.

Những sự biến hóa ở mười phương

Tất cả đều như ảnh trong gương

Chỉ do Như Lai xưa tu hành

Thần thông nguyện lực cấu tạo được.

Nếu Phật tử tu hạnh Phổ Hiền

Vào biển thắng trí của Bồ tát

Có thể nơi trong các vi trần

Khắp hiện thân mình tịnh quốc độ.

Bất khả tư nghì ức đại kiếp

Gần gũi tất cả chư Như Lai

Tất cả công hạnh đã tu hành

Trong một sát na đều hiện được.

Chư Phật quốc độ như hư không

Vô đẳng, vô sanh và vô tướng

Vì lợi chúng sanh mà trang nghiêm

Vì bổn nguyện nên trụ trong đó.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Nay tôi sẽ nói trong đây có những thế giới nào an trụ.

Chư Phật tử! Trong mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy hải nầy, có mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới chủng an trụ. Mỗi thế giới chủng lại có mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới.

Chư Phật tử! Ở trong thế giới hải, các thế giới chủng kia đều riêng nương ở, đều riêng hình trạng, đều riêng thể tánh, đều riêng phương sở, đều riêng thú nhập, đều riêng trang nghiêm, đều riêng chừng ngằn, đều riêng bày hàng, đều riêng vô sai biệt, đều riêng năng lực gia trì.

Chư Phật tử! Các thế giới chủng nầy, hoặc có nương đại liên hoa hải mà an trụ, hoặc có nương vô biên sắc bửu hoa hải mà an trụ, hoặc có nương nhứt thiết chơn châu tạng bửu anh lạc hải mà an trụ, hoặc có nương Hương Thủy hải mà an trụ, hoặc có nương nhứt thiết hoa hải mà an trụ, hoặc có nương ma ni bửu võng hải mà an trụ, hoặc có nương triền lưu quang hải mà an trụ, hoặc có nương Bồ tát bửu trang nghiêm quan hải mà an trụ, hoặc có nương chủng chủng chúng sanh thân hải mà an trụ, hoặc có nương nhứt thiết Phật âm thanh ma ni vương hải mà an trụ. Có thế giới hải vi trần số sự an trụ như vậy.

Chư Phật tử! Tất cả thế giới chủng đó hình trạng đều khác nhau: hoặc hình núi Tu Di, hoặc hình sông, hoặc hình xoay chuyển, hoặc hình nước xoáy, hoặc hình bánh xe, hoặc hình lễ đàn, hoặc hình rừng cây, hoặc hình lầu gác, hoặc hình sơn tràng, hoặc hình vuông góc, hoặc hình hoa sen, hoặc hình thai tạng, hoặc hình khư lặc ca, hoặc hình thân chúng sanh, hoặc hình mây, hoặc hình tướng hảo của Phật, hoặc hình quang minh viên mãn, hoặc hình lưới chơn châu, hoặc hình cửa ngách, hoặc hình đồ trang nghiêm, có thế giới hải vi trần số hình trạng như vậy.

Chư Phật tử! Những thế giới chủng đó hoặc dùng thập phương ma ni vân làm thể, hoặc dùng những ánh lửa màu làm thể, hoặc dùng quang minh làm thể, hoặc dùng lửa báu thơm làm thể, hoặc dùng tất cả hoa báu trang nghiêm làm thể, hoặc dùng ảnh tượng Bồ tát làm thể, hoặc dùng quang minh chư Phật làm thể, hoặc dùng sắc tướng của Phật làm thể, hoặc dùng một bửu quang làm thể, hoặc dùng nhiều bửu quang làm thể, hoặc dùng thanh âm biển phước đức hải của tất cả chúng sanh làm thể, hoặc dùng thanh âm những nghiệp hải của tất cả chúng sanh làm thể, hoặc dùng thanh âm thanh tịnh cảnh giới của tất cả chư Phật làm thể, hoặc dùng thanh âm đại nguyện hải của tất cả Bồ tát làm thể, hoặc dùng thanh âm phương tiện của tất cả Phật làm thể, hoặc dùng thanh âm đồ trang nghiêm thành hoại của tất cả cõi làm thể, hoặc dùng thanh âm của vô biên Phật làm thể, hoặc dùng thanh âm biến hóa của chư Phật làm thể, hoặc dùng thanh âm thiện của tất cả chúng sanh làm thể, hoặc dùng thanh âm thanh tịnh biển công đức của tất cả Phật làm thể... Có thế giới vi trần số thể tánh như vậy.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy thừa thần lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Sát chủng kiên cố diệu trang nghiêm

Quảng đại thanh tịnh quang minh tạng

An trụ nơi bửu hải liên hoa

Hoặc an trụ nơi Hương Thủy hải.

Hình Tu Di, thành, cây, lễ đàn

Tất cả sát chủng khắp mười phương

Các loại trang nghiêm hình chẳng đồng

Ðều riêng bủa giăng mà an trụ.

Hoặc thể tánh là tịnh quang minh

Hoặc là hoa tạng và bửu vân

Hoặc do những ánh lửa cấu thành

An trụ ma ni tạng bất hoại.

Mây đèn màu lửa quang minh thảy

Nhiều loại vô biên màu thanh tịnh

Hoặc dùng ngôn âm để làm thể

Là tiếng bất tư nghì của Phật.

Hoặc do nguyện lực vang ra tiếng

Thần biến âm thanh làm thể tánh

Phước nghiệp rộng lớn của chúng sanh

Công đức âm của Phật cũng vậy.

Sát chủng mỗi môn đều sai khác

Chẳng thể nghĩ bàn vô cùng tận

Mười phương như vậy đều cùng khắp

Quảng đại trang nghiêm hiện thần lực.

Những cõi rộng lớn ở mười phương

Ðều hiện vào trong thế giới nầy

Dầu thấy mười phương hiện trong đây

Mà thiệt không vào cũng không đến.

Ðem một sát chủng vào tất cả

Tất cả vào một cũng không thừa

Thể tướng như cũ không đổi dời

Vô đẳng vô lượng đều cùng khắp.

Trong vi trần của tất cả cõi

Ðều thấy Như Lai hiện trong đó

Nguyện hải ngôn âm như sấm vang

Tất cả chúng sanh đồng điều phục.

Phật thân cùng khắp tất cả cõi

Vô số Bồ tát đều đầy khắp

Như Lai tự tại không ai bằng

Hóa độ tất cả các hàm thức.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Mười bất khả thuyết Phật sát vi
trần số Hương Thủy hải nầy ở trong Hoa Tạng thế giới hải giăng bày như lưới báu của Thiên Đế.

Chư Phật tử! Hương Thủy hải ở trung ương tên Vô Biên Diệu Hoa Quang. Ðáy biển là tràng ma ni vương hiện tất cả hình Bồ tát, xuất sanh một đại liên hoa tên Nhứt Thiết Hương Ma Ni Vương Trang Nghiêm. Trên đó có thế giới chủng tên Phổ Chiếu Thập Phương Xí Nhiên Bửu Quang Minh, dùng tất cả đồ trang nghiêm làm thể. Trong đây có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới. Phương dưới tất cả, có thế giới tên Tối Thắng Quang Biến Chiếu, dùng kim cang trang nghiêm quang diệu luân làm tế, nương bửu ma ni hoa mà trụ. Trạng như hình ma ni bửu. Mây bửu hoa trang nghiêm giăng trùm trên đó. Trong đây có một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh. Phật hiệu Tịnh Nhãn Ly Cấu Ðăng.

Qua khỏi Phật sát vi trần số thế giới về thượng phương, có thế giới tên Chủng Chủng Hương Liên Hoa Diệu Trang Nghiêm, dùng tất cả đồ trang nghiêm làm tế, nương bửu liên hoa võng mà trụ, trạng như tòa sư tử, mây bửu sắc châu che trùm, hai Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Sư Tử Quang Thắng Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế
giới tên Bửu Trang Nghiêm Phổ Chiếu Quang, dùng hương phong luân làm tế, nương bửu hoa anh lạc mà trụ, hình tám góc, mây ma ni nhựt luân giăng che, ba Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Tịnh Quang Trí Thắng Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chủng Chủng Quang Minh Hoa Trang Nghiêm, dùng bửu vương làm tế, nương biển Kim Cang Thi La Tràng mà trụ, hình như liên hoa ma ni, mây kim cang ma ni bửu quang che giăng, bốn Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, đều thuần thanh tịnh, Phật hiệu Kim Cang Quang Minh Vô Lượng Tinh Tấn Lực Thiện Xuất Hiện.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Phóng Diệu Hoa Quang, dùng bửu linh trang nghiêm võng làm tế, nương biển Thọ Lâm Trang Nghiêm Bửu Luân Võng mà trụ, hình khắp vuông vức mà có nhiều cạnh góc, mây Phạm âm ma ni vương che giăng, năm Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Hương Quang Hỷ Lực Hải.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Quang Minh, dùng tràng bửu vương trang nghiêm làm tế, nương biển Kim Cang Cung Điện mà trụ, hình vuông, mây ma ni luân kế trướng giăng che, sáu Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Phổ Quang Tự Tại Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Hoa Diệm Trang Nghiêm, dùng hoa trang nghiêm làm tế, nương biển Bửu Sắc Diệm mà trụ, hình như lầu gác, mây bửu sắc y chơn châu lan thuẫn giăng che, bảy Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Hoan Hỷ Hải Công Ðức Danh Xưng Tự Tại Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Oai Lực Ðịa, dùng xuất nhứt thiết âm thanh ma ni vương trang nghiêm làm tế, nương biển Bửu Sắc Liên Hoa Tòa Hư Không mà trụ, hình như lưới nhơn đà la, mây vô biên sắc hoa võng giăng che, tám Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Quảng Ðại Danh Xưng Trí Hải Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Diệu Âm Thanh, dùng tâm vương ma ni trang nghiêm luân làm tế, nương biển Ma Ni Vương hằng xuất diệu âm thanh trang nghiêm vân mà trụ, hình như thân Phạm Thiên, mây tòa sư tử vô lượng bửu trang nghiêm giăng che, chín Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Thanh Tịnh Nguyệt Quang Minh Tướng Vô Năng Tồi Phục.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Cang Tràng, dùng vô biên trang nghiêm chơn châu tạng bửu anh lạc làm tế, nương biển Trang Nghiêm Bửu Sư Tử Tòa Ma Ni mà trụ, hình tròn, mười Tu Di sơn vi trần số mây ma ni hoa hương giăng che, mười Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Hải Tối Thắng Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hằng Xuất Hiện Ðế Thanh Bửu Quang Minh, dùng kim cang trang nghiêm rất bền chắc chẳng hư hoại làm tế, nương biển Chủng Chủng Thù Dị Hoa mà trụ, hình bán nguyệt, mây thiên bửu trướng giăng che, mười một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Vô Lượng Công Ðức Pháp.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Minh Chiếu Diệu, dùng phổ quang trang nghiêm làm tế, nương biển Hoa Triền Hương Thủy mà trụ, hình như hoa triền, nhiều thứ y vân giăng che, mười hai Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Siêu Thích Phạm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế
giới tên Ta Bà, dùng kim cang trang nghiêm làm tế, nương Liên Hoa Võng do phong luân nhiều màu nhiếp trì mà trụ, hình như hư không, dùng mây phổ viên mãn thiên cung điện trang nghiêm giăng che, mười ba Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật chánh là đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịch Tịnh Ly Trần Quang, dùng bửu trang nghiêm làm tế, nương biển Chủng Chủng Bửu Y mà trụ, trạng như hình chấp kim cang, mây vô biên sắc kim cang giăng che, mười bốn Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Biến Pháp Giới Thắng Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Quang Minh Ðăng, dùng trướng trang nghiêm làm tế, nương biển Tịnh Hoa Võng mà trụ, hình như chữ vạn (), mây ma ni thọ hương thủy hải giăng che, mười lăm Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Bất Khả Tồi Phục Lực Phổ Chiếu Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Quang Biến Chiếu, dùng vô tận bửu vân ma ni vương làm tế, nương biển Chủng Chủng Hương Diệm Liên Hoa mà trụ, hình như quy giáp, mây viên quang ma ni luân chiên đàn giăng che, mười sáu Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Thanh Tịnh Nhựt Công Ðức Nhãn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Tạng, dùng chúng sanh hình ma ni vương làm tế, nương biển Quang Minh Tạng Ma Ni Vương mà trụ, hình tám góc, dùng lưới luân vi sơn bửu trang nghiêm hoa thọ giăng che, mười bảy Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Vô Ngại Trí Quang Minh Biến Chiếu Thập Phương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Trần, dùng diệu tướng trang nghiêm làm tế, nương biển Chúng Diệu Hoa Sư Tử Tòa mà trụ, hình như chuỗi ngọc, dùng mây nhứt thiết bửu hương ma ni vương viên quang giăng che, mười tám Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Vô Lượng Phương Tiện Tối Thắng Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Quang Phổ Chiếu, dùng xuất vô tận bửu vân ma ni vương làm tế, nương biển Vô Lượng Sắc Hương Diệm Tu Di sơn mà trụ, hình như bửu hoa xoay nở, mây vô biên sắc quang minh ma ni vương đế thanh giăng che, mười chín Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Phổ Chiếu Pháp Giới Hư Không Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Bửu Diệm, dùng phổ quang minh nhựt nguyệt bửu làm tế, nương biển Thiên Hình Ma Ni Vương mà trụ, trạng như đồ bửu trang nghiêm, mây bửu y tràng và lưới ma ni đăng tạng giăng che, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Phước Ðức Tướng Quang Minh.

Chư Phật tử! Thế giới chủng Biến Chiếu Thập Phương Xí Nhiên Bửu Quang Minh nầy, có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới rộng lớn như vậy mỗi mỗi đều riêng y trụ, đều riêng hình trạng, đều riêng thể tánh, đều riêng phương diện, đều riêng thú nhập, đều riêng trang nghiêm, đều riêng chừng ngằn, đều riêng hàng liệt, đều riêng vô sai biệt, đều riêng sức gia trì, giáp vòng bao quanh, chính là:

Mười Phật sát vi trần số thế giới hình xoay chuyển. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình giang hà. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình nước xoáy. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình bánh xe. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình lễ đàn. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình rừng cây. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình nhà lầu. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình tràng thi la. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình khắp vuông. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình thai tạng. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình liên hoa. Mười Phật sát vi trần số hình khư lặc ca. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình các loại chúng sanh. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình Phật tướng. Mười Phật sát vi trần số hình viên quang. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình mây. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình lưới. Mười Phật sát vi trần số thế giới hình cửa ngách.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới như vậy. Mỗi thế giới nầy đều có mười Phật sát vi trần số thế giới rộng lớn bao quanh. Mỗi thế giới sau đây lại có vi trần số thế giới làm quyến thuộc.

Tất cả thế giới đã thuyết trình trên đây đều ở nơi biển Vô biên diệu hoa hương thủy và trong sông Hương Thủy bao quanh biển nầy.

*Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng:

Chư Phật tử! Phương đông của biển Vô Biên Diệu Hoa Hương Thủy nầy, giáp biển Ly Cấu Diệm Tạng Hương Thủy, có đại liên hoa tên nhứt thiết hương ma ni vương diệu trang nghiêm. Trên đại liên hoa nầy có thế giới chủng tên Biến Chiếu Sát Triền, dùng Bồ tát hạnh hống âm làm thể. Trong đây, phương dưới hết có thế giới tên Cung Điện Trang Nghiêm Tràng, hình vuông nương biển Nhứt Thiết Bửu Trang Nghiêm mà trụ, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Mi Gian Quang Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðức Hoa Tạng, hình tròn, hai Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Nhứt Thiết Vô Biên Pháp Hải Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Biến Hóa Diệu Hương Luân, hình như kim cang, ba Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Công Ðức Tướng Quang Minh Phổ Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Sắc Quang Minh, trạng như ma ni bửu luân, bốn Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Thiện Quyến Thuộc Xuất Hưng Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Cái Phúc, hình liên hoa, năm Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Pháp Hỷ Vô Tận Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thi Lợi Hoa Quang Luân, hình tam giác, sáu Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Thanh Tịnh Phổ Quang Minh Vân.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Liên Hoa Trang Nghiêm, hình bán nguyệt, bảy Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Công Ðức Hoa Thanh Tịnh Nhãn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Cấu Diệm Trang Nghiêm, hình như bửu đăng giăng hàng, tám Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Huệ Lực Vô Năng Thắng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Phạm Âm, hình như chữ vạn (), chín Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Quảng Ðại Mục Như Không Trung Tịnh Nguyệt.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vi Trần Số Âm Thanh, trạng như lưới nhơn đà la, mười Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Kim Sắc Tu Di Ðăng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Sắc Trang Nghiêm, hình chữ vạn (), mười một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Hồi Chiếu Pháp Giới Quang Minh Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Sắc Diệu Quang, hình như thành quách rộng lớn, mười hai Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Bửu Ðăng Phổ Chiếu Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Biến Chiếu Quang Minh Luân, hình như hoa xoắn tròn, mười ba Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Liên Hoa Diệm Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Tạng Trang Nghiêm, hình tứ châu, mười bốn Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Vô Tận Phước Khai Phu Hoa.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Như Cảnh Tượng Phổ Hiện, trạng như thân A tu la, mười lăm Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Cam Lộ Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Ðàn Nguyệt, hình tám góc, mười sáu Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Tối Thắng Pháp Vô Ðẳng Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Cấu Quang Minh, trạng như dòng Hương Thủy xoáy, mười bảy Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Biến Chiếu Hư Không Quang Minh Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Trang Nghiêm, trạng như hình xoay quanh, mười tám Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Phổ Hiện Thắng Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thắng Âm Trang Nghiêm, trạng như tòa sư tử, mười chín Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Vô Biên Công Ðức Xưng Phổ Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Cao Thắng Ðăng, trạng như Phật chưởng, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Phổ Chiếu Hư Không Ðăng.

Chư Phật tử! Phương nam của biển Ly Cấu Diệm Tạng Hương Thủy nầy, giáp biển Vô Tận Quang Minh Luân Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phật Tràng Trang Nghiêm, dùng Phật công đức hải âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết có thế giới tên Ái Kiến Hoa, hình như bửu luân, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Liên Hoa Quang Hoan Hỷ Diện.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Âm, Phật hiệu Tu Di Bửu Ðăng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Bửu Trang Nghiêm Quang, Phật hiệu Pháp Giới Âm Thanh Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Tạng Kim Cang, Phật hiệu Quang Minh Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Âm, Phật hiệu Tối Thắng Tinh Tấn Lực.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Liên Hoa Trang Nghiêm, Phật hiệu Pháp Thành Vân Lôi Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Dữ An Lạc, Phật hiệu Ðại Danh Xưng Trí Huệ Ðăng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Cấu Võng, Phật hiệu Sư Tử Quang Công Ðức Hải.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hoa Lâm Tràng Biến Chiếu, Phật hiệu Ðại Trí Liên Hoa Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Trang Nghiêm, Phật hiệu Phổ Nhãn Pháp Giới Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Quang Minh Trang Nghiêm, Phật hiệu Thắng Trí Ðại Thương Chủ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hoa Vương, Phật hiệu Nguyệt Quang Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Cấu Tạng, Phật hiệu Thanh Tịnh Giác.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Quang Minh, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Hư Không Ðăng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Bửu Anh Lạc, Phật hiệu Chư Ðộ Phước Hải Tướng Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Luân Biến Phú, Phật hiệu Ðiều Phục Nhứt Thiết Nhiễm Trước Tâm Linh Hoan Hỷ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế
giới tên Bửu Hoa Tràng, Phật hiệu Quảng Bác Công Ðức Âm Ðại Danh Xưng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Trang Nghiêm, Phật hiệu Bình Ðẳng Trí Quang Minh Công Ðức Hải.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Tận Quang Trang Nghiêm Tràng, hình như liên hoa, nương biển Bửu Võng mà trụ, lưới liên hoa quang ma ni giăng che, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Pháp Giới Tịnh Quang Minh.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Vô Tận Quang Minh Luân Hương Thủy nầy giáp biển Kim Cang Bửu Diệm Quang Minh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phật Quang Trang Nghiêm Tạng, dùng âm thanh xưng nói hồng danh của tất cả Như Lai làm thể.

Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Bửu Diệm Liên Hoa, hình như tướng lông màu ma ni giữa chặn mày, nương biển Bửu Sắc Thủy Triền mà trụ, mây lâu các trang nghiêm giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Vô Cấu Bửu Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Diệm Tạng, Phật hiệu Vô Ngại Tự
Tại Trí Huệ Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Luân Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Bửu Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Ðàn Thọ Hoa Tràng, Phật hiệu Thanh Tịnh Trí Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phật sát Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Quảng Ðại Hoan Hỷ Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Quang Trang Nghiêm, Phật hiệu Pháp Giới Tự Tại Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Tướng, Phật hiệu Vô Ngại Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệm Vân Tràng, Phật hiệu Diễn Thuyết Bất Thối Luân.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Bửu Trang Nghiêm Thanh Tịnh Luân, Phật hiệu Ly Cấu Hoa Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quảng Ðại Xuất Ly, Phật hiệu Vô Ngại Trí Nhựt Nhãn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Trang Nghiêm Kim Cang Tòa, Phật hiệu Pháp Giới Trí Ðại Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Trí Huệ Phổ Trang Nghiêm, Phật hiệu Trí Cự Quang Minh Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Trì Thâm Diệu Âm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Phổ Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chủng Chủng Sắc Quang Minh, Phật hiệu Phổ Quang Hoa Vương Vân.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Bửu Tràng, Phật hiệu Công Ðức Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ma Ni Hoa Hào Tướng Quang, Phật hiệu Phổ Âm Vân.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thậm Thâm Hải, Phật hiệu Thập Phương Chúng Sanh Chủ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tu Di Quang, Phật hiệu Pháp Giới Phổ Trí Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Liên Hoa, Phật hiệu Phước Ðức Tạng Phổ Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Tạng, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Ðại Biến Hóa Quang Minh Võng.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Kim Cang Bửu Diệm Hương Thủy nầy, giáp biển Ðế Thanh Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Quang Chiếu Thập Phương, nương mây Diệu trang nghiêm liên hoa hương mà trụ, dùng vô biên Phật âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Thập Phương Vô Tận Sắc Tạng Luân, hình xoay vòng có vô lượng góc, nương biển Vô Biên Sắc Bửu Tạng mà trụ, lưới nhơn đà la giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Liên Hoa Nhãn Quang Minh Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Trang Nghiêm Tạng, Phật hiệu Vô Thượng Huệ Ðại Sư Tử.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Hiện Liên Hoa Tòa, Phật hiệu Biến Chiếu Pháp Giới Quang Minh Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Tràng Âm, Phật hiệu Ðại Công Ðức Phổ Danh Xưng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Cang Bửu Trang Nghiêm Tạng, Phật hiệu Liên Hoa Nhựt Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Nhơn Đà La Hoa Nguyệt, Phật hiệu Pháp Tự Tại Trí Huệ Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Luân Tạng, Phật hiệu Ðại Hỷ Thanh Tịnh Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Âm Tạng, Phật hiệu Ðại Lực Thiện Thương Chủ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Nguyệt, Phật hiệu Tu Di Quang Trí Huệ Lực.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô biên trang nghiêm tướng, Phật hiệu Phương Tiện Nguyện Tịnh Nguyệt Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Âm, Phật hiệu Pháp Hải Ðại Nguyện Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Nhứt Thiết Bửu Trang Nghiêm, Phật hiệu Công Ðức Bửu Quang Minh Tướng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kiên Cố Địa, Phật hiệu Mỹ Âm Tối Thắng Thiên.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Quang Thiện Hóa, Phật hiệu Ðại Tinh Tấn Tịch Tịnh Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Thủ Hộ Trang Nghiêm Hạnh, Phật hiệu Kiến Giả Sanh Hoan Hỷ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Ðàn Bửu Hoa Tạng, Phật hiệu Thậm Thâm Bất Khả Ðộng Trí Huệ Quang Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hiện Chủng Chủng Sắc Tướng Hải, Phật hiệu Phổ Phóng Bất Tư Nghị Thắng Nghĩa Vương Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hóa Hiện Thập Phương Đại Quang Minh, Phật hiệu Thắng Công Ðức Oai Quang Vô Dữ Ðẳng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tu Di Vân Tràng, Phật hiệu Cực Tịnh Quang Minh Nhãn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Biến Chiếu, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Giải Thoát Tinh Tấn Nhựt.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Ðế Thanh Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy nầy giáp biển Kim Cang Luân Trang Nghiêm Để Hương Thủy, có thế giới chủng tên Diệu Gián Thố, dùng âm thanh do nhơn đà la võng trí Phổ Hiền sanh ra làm thể. Trong đây, phương dưới hết có thế giới tên Liên Hoa Võng, trạng như hình núi Tu Di, nương biển Chúng Diệu Hoa Sơn Tràng mà trụ, mây Phật cảnh giới ma ni vương đế võng giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Pháp Thân Phổ Giác Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Tận Nhựt Quang Minh, Phật hiệu Tối Thắng Ðại Giác Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Phóng Diệu Quang Minh, Phật hiệu Ðại Phước Vân Vô Tận Lực.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thọ Hoa Tràng, Phật hiệu Vô Biên Trí Pháp Giới Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chơn Châu Cái, Phật hiệu Ba La Mật Sư Tử Tần Thân.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Âm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Diệu Giác Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Kiến Thọ Phong, Phật hiệu Phổ Hiện Chúng Sanh Tiền.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Sư Tử Ðế Võng Quang, Phật hiệu Vô Cấu Nhựt Kim Sắc Quang Diệm Vân.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Bửu Gián Thố, Phật hiệu Ðế Tràng Tối Thắng Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Cấu Quang Minh Địa, Phật hiệu Nhứt Thiết Lực Thanh Tịnh Nguyệt.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hằng Xuất Thán Phật Công Đức Âm, Phật hiệu Như Hư Không Phổ Giác Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Cao Diệm Tạng, Phật hiệu Hóa Hiện Thập Phương Ðại Vân Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Nghiêm Đạo Tràng, Phật hiệu Vô Ðẳng Trí Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Nhứt Thiết Bửu Trang Nghiêm, Phật hiệu Quảng Ðộ Chúng Sanh Thần Thông Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Nghiêm Diệu Cung Điện, Phật hiệu Nhứt Thiết Nghĩa Thành Quảng Ðại Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ly Trần Tịch Tịnh, Phật hiệu Bất Ðường Hiện.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ma Ni Hoa Tràng, Phật hiệu Duyệt Ý Kiết Tường Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Vân Tạng, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Tối Thắng Giác Thần Thông Vương.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Kim
Cang Luân Trang Nghiêm Để Hương Thủy nầy giáp biển Liên Hoa Nhơn Đà La Võng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Hiện Thập Phương Ảnh, nương liên hoa ma ni trang nghiêm mà trụ, dùng Phật trí quang âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Chúng Sanh Hải Bửu Quang Minh, hình như tạng chơn châu, nương biển Ma Ni Anh Lạc mà trụ, mây thủy quang minh ma ni giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Bất Tư Nghị Công Ðức Biến Chiếu Nguyệt.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hương Luân, Phật hiệu Vô Lượng Lực Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Quang Luân, Phật hiệu Pháp Giới Quang Âm Giác Ngộ Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hống Thanh Ma Ni Tràng, Phật hiệu Liên Hoa Quang Hằng Thùy Diệu Tý.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Cực Kiên Cố Luân, Phật hiệu Bất Thối Chuyển Công Ðức Hải Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế
giới tên Chúng Hạnh Quang Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Phổ Thắng Tôn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Sư Tử Tòa Biến Chiếu, Phật hiệu Sư Tử Quang Vô Lượng Lực Giác Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Diệm Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Thanh Tịnh Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Ðăng, Phật hiệu Vô Ưu Tướng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thường Văn Phật Âm, Phật hiệu Tự Nhiên Thắng Oai Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Biến Hóa, Phật hiệu Kim Liên Hoa Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Nhập Thập Phương, Phật hiệu Quán Pháp Giới Tần Thân Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xí Nhiên Diệm, Phật hiệu Quang Diệm Thọ Khẩn Na La Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Quang Biến Chiếu, Phật hiệu Hương Ðăng Thiện Hóa Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Hoa Tụ Luân, Phật hiệu Phổ Hiện Phật Công Ðức.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Phổ Thanh Tịnh, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Bình Ðẳng Thần Thông Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Quang Hải, Phật hiệu Thập Phương Tự Tại Ðại Biến Hóa.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chơn Châu Hoa Tạng, Phật hiệu Pháp Giới Bửu Quang Minh Bất Khả Tư Nghị Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðế Thích Tu Di Sư Tử Tòa, Phật hiệu Thắng Lực Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Bửu Phổ Chiếu, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Biến Chiếu Thế Gian Tối Thắng Âm.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Liên Hoa Nhơn Đà La Võng Hương Thủy nầy giáp biển Tích Tập Bửu Hương Tạng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Oai Đức Trang Nghiêm, dùng Phật pháp luân âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Chủng Chủng Xuất Sanh, hình như kim cang, nương tràng chủng chủng kim cang sơn mà trụ, mây kim cang bửu quang giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Liên Hoa Nhãn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hỷ Kiến Âm, Phật hiệu Sanh Hỷ Lạc.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Tràng, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ða La Hoa Phổ Chiếu, Phật hiệu Vô Cấu Tịch Diệu Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Biến Hóa Quang, Phật hiệu Thanh Tịnh Không Trí Huệ Nguyệt.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Gián Thố, Phật hiệu Khai Thị Phước Ðức Hải Mật Vân Tướng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Trang Nghiêm Cụ Diệu Âm thanh, Phật hiệu Hoan Hỷ Vân.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Trì, Phật hiệu Danh Xưng Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm, Phật hiệu Tần Thân Quán Sát Nhãn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Diệu Hoa, Phật hiệu Vô Tận Kim Cang Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Trang Nghiêm Thành, Phật hiệu Nhựt Tạng Nhãn Phổ Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Thọ Phong, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Lôi Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Nhựt Quang Minh, Phật hiệu Khai Thị Vô Lượng Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Y Chỉ Liên Hoa Diệp, Phật hiệu Nhứt Thiết Phước Ðức Sơn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phong Phổ Trì, Phật hiệu Nhựt Diệu Căn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Minh Hiển Hiện, Phật hiệu Thân Quang Phổ Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế
giới tên Hương Lôi Âm Kim Cang Bửu Phổ Chiếu, Phật hiệu Tối Thắng Hoa Khai Phu Tướng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðế Võng Trang Nghiêm, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Thị Hiện Vô Úy Vân.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Tích Tập Bửu Hương Tạng Hương Thủy nầy giáp biển Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Vô Cấu, dùng Phật sát thần biến âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Tịnh Diệu Bình Thản, hình như bửu thân, nương biển Bửu Quang Luân mà trụ, mây chiên đàn ma ni chơn châu giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Nan Tồi Phục Vô Ðẳng Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xí Nhiên Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Liên Hoa Huệ Thần Thông Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vi Diệu Tướng Luân Tràng, Phật hiệu Thập Phương Ðại Danh Xưng Vô Tận Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệm Tạng Ma Ni Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Ðại Trí Huệ Kiến Văn Giai Hoan Hỷ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Trang Nghiêm, Phật hiệu Vô Lượng Lực Tối Thắng Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Sanh Tịnh Vi Trần, Phật hiệu Siêu Thắng Phạm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Quang Minh Biến Hóa Hương, Phật hiệu Hương Tượng Kim Cang Ðại Lực Thế.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Minh Triền, Phật hiệu Nghĩa Thành Thiện Danh Xưng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Anh Lạc Hải, Phật hiệu Vô Tỉ Quang Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Hoa Đăng Tràng, Phật hiệu Cứu Cánh Công Ðức Vô Ngại Huệ Ðăng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thiện Xảo Trang Nghiêm, Phật hiệu Huệ Nhựt Ba La Mật.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chiên Ðàn Hoa Phổ Quang Minh, Phật hiệu Vô Biên Huệ Pháp Giới Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðế Võng Tràng, Phật hiệu Ðăng Quang Hoánh Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tịnh Hoa Luân, Phật hiệu Pháp Giới Nhựt Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðại Oai Diệu, Phật hiệu Vô Biên Công Ðức Hải Pháp Luân Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðồng An Trụ Bửu Liên Hoa Trì, Phật hiệu Khai Thị Nhập Bất Khả Tư Nghị Trí.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bình Thản Ðịa, Phật hiệu Công Ðức Bửu Quang Minh Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Ma Ni Tụ, Phật hiệu Vô Tận Phước Ðức Hải Diệu Trang Nghiêm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vi Diệu Quang Minh, Phật hiệu Vô Ðẳng Lực Phổ Biến Âm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thập Phương Phổ Kiên Cố Quang Minh Chiếu Diệu, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Phổ Nhãn Ðại Minh Ðăng.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy nầy, giáp biển Kim Cang Bửu Tụ Hương Thủy, có thế giới chủng tên Pháp Giới Hành, dùng Bồ tát phương tiện âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Tịnh Quang Chiếu Diệu, hình như xâu chuỗi, nương biển Bửu Sắc Châu Anh mà trụ, mây Bồ tát châu kế quang minh ma ni giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Tối Thắng Công Ðức Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Diệu Cái, Phật hiệu Pháp Tự Tại Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Bửu Trang Nghiêm Sư Tử Tòa, Phật hiệu Ðại Long Uyên.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Xuất Hiện Kim Cang Tòa, Phật hiệu Thăng Sư Tử Tòa Liên Hoa Ðài.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Liên Hoa Thắng Âm, Phật hiệu Trí Quang Phổ Khai Ngộ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế
giới tên Thiện Quán Tập, Phật hiệu Trì Ðịa Diệu Quang Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hỷ Lạc Âm, Phật hiệu Pháp Ðăng Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ma Ni Tạng Nhơn Đà La Võng, Phật hiệu Bất Không Kiến.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Địa Tạng, Phật hiệu Diệm Thân Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Quang Luân, Phật hiệu Tịnh Trị Chúng Sanh Hạnh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tu Di Sơn Trang Nghiêm, Phật hiệu Nhứt Thiết Công Ðức Vân Phổ Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Thọ Hình, Phật hiệu Bửu Hoa Tướng Tịnh Nguyệt Giác.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Bố Úy, Phật hiệu Tối Thắng Kim Quang Cự.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðại Danh Xưng Long Vương Tràng, Phật hiệu Quán Ðẳng Nhứt Thiết Pháp.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thị Hiện Ma Ni Sắc, Phật hiệu Biến Hóa Nhựt.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Quang Diệm Đăng Trang Nghiêm, Phật hiệu Bửu Cái Quang Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Quang Vân, Phật hiệu Tư Duy Huệ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Oán Thù, Phật hiệu Tinh Tấn Thắng Huệ Hải.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Trang Nghiêm Cụ Quang Minh Tràng, Phật hiệu Phổ Hiện Duyệt Y Liên Hoa Tự Tại Vương.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hào Tướng Trang Nghiêm, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Thanh Tịnh Nhãn.

Chư Phật tử! Vòng qua phía hữu của biển Kim Cang Bửu Tụ Hương Thủy này giáp biển Thiên Thành Bửu Điệp Hương Thủy, có thế giới chủng tên Ðăng Diệm Quang Minh, dùng phổ thị bình đẳng pháp luân âm thanh làm thể. Trong đó, phương dưới hết, có thế giới tên Bửu Nguyệt Quang Diệm Luân, hình như đồ trang nghiêm, nương biển Bửu Trang Nghiêm Hoa mà trụ, mây lưu ly sắc sư tử tòa giăng che, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Nhựt Nguyệt Tự Tại Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tu Di Bửu Quang, Phật hiệu Vô Tận Pháp Bửu Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Diệu Quang Minh Tràng, Phật hiệu Ðại Hoa Tụ.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ma Ni Quang Minh Hoa, Phật hiệu Nhơn Trung Tối Tự Tại.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Phổ Âm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Biến Chiếu.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Ðại Thọ Khẩn Na La Âm, Phật hiệu Vô Lượng Phước Ðức Tự Tại Long.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Biên Tịnh Quang Minh, Phật hiệu Công Ðức Bửu Hoa Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Tối Thắng Âm, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Trang Nghiêm.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chúng Bửu Gián Sức, Phật hiệu Bửu Diệm Tu Di Sơn.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Thanh Tịnh Tu Di Âm, Phật hiệu Xuất Hiện Nhứt Thiết Hạnh Quang Minh.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Hương Thủy Cái, Phật hiệu Nhứt Thiết Ba La Mật Vô Ngại Hải.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Sư Tử Hoa Võng, Phật hiệu Bửu Diệm Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Cang Diệu Hoa Đăng, Phật hiệu Nhứt Thiết Ðại Nguyện Quang.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Nhứt Thiết Pháp Quang Minh Địa, Phật hiệu Nhứt Thiết Pháp Quảng Ðại Chơn Thiệt Nghĩa.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Chơn Châu Mạt Bình Thản Trang Nghiêm, Phật hiệu Thắng Huệ Quang Minh Võng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Lưu Ly Hoa, Phật hiệu Bửu Tích Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Vô Lượng Diệu Quang Luân, Phật hiệu Ðại Oai Lực Trí Hải Tạng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Minh Kiến Thập Phương, Phật hiệu Tịnh Tu Nhứt Thiết Công Ðức Tràng.

Trên đó, quá Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Khả Ái Nhạo Phạm Âm, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Phổ Chiếu Pháp Giới Vô Ngại Quang.

*Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Phương đông của biển Ly Cấu Diệm Tạng Hương Thủy giáp biển Biến Hóa Vi Diệu Thân Hương Thủy, có thế giới chủng tên Thiện Bố Sai Biệt Phương.

Kế đó là biển Kim Cang Nhãn Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Trang Nghiêm Pháp Giới Kiều.

Kế đó là biển Chủng Chủng Liên Hoa Diệu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hằng Xuất Thập Phương Biến Hóa.

Kế đó là biển Vô Gián Bửu Vương Luân, có thế giới chủng tên Bửu Liên Hoa Hành Mật Vân.

Kế đó là biển Diệu hương diệu phổ trang nghiêm, có thế giới chủng tên Tỳ Lô Giá Na Biến Hóa Hạnh.

Kế đó là biển Bửu Mật Diệm Phủ Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Chư Phật Hộ Niệm Cảnh Giới.

Kế đó là biển Nhứt Thiết Sắc Xí Nhiên Quang, có thế giới chủng tên Tối Thắng Quang Biến Chiếu.

Kế đó là biển Nhứt Thiết Trang Nghiêm Cụ Cảnh Giới, có thế giới chủng tên Bửu Diệm Ðăng.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số biển Hương Thủy như vậy.

Biển Hương Thủy gần Luân Vi Sơn nhứt tên Pha Lê Ðịa, có thế giới chủng tên Thường Phóng Quang Minh, dùng thanh tịnh kiếp âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Khả Ái Nhạo Tịnh Quang Tràng, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Tối Thắng Tam Muội Tinh Tấn Huệ.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Hương Trang Nghiêm Tràng, mười Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Vô Chướng Ngại Pháp Giới Ðăng.

Trên đó, quá ba Phật sát vi trần số thế giới, ngang với Ta Bà Thế Giới, có thế giới tên Phóng Quang Tạng, Phật hiệu Biến Pháp Giới Vô Chướng Ngại Huệ Minh.

Trên đó, quá bảy Phật sát vi trần số thế giới, phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Tối Thắng Thân Hương, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Giác Phần Hoa.

Chư Phật tử! Ngoài biển Vô Tận Quang Minh Luân Hương Thủy, đến biển Cụ Túc Diệu Quang Hương Thủy, có thế giới chủng tên Biến Vô Cấu.

Kế đó là biển Quang Diệu Cái Hương Thủy có thế giới chủng tên Vô Biên Phổ Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Diệu Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hương Ma Ni Quỹ Ðộ Hình.

Kế đó là biển Xuất Phật Âm Thanh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Thiện Kiến Lập Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Hương Tràng Tu Di Tạng
Hương Thủy, có thế giới chủng tên Quang Minh Biến Mãn.

Kế đó là biển Chiên Đàn Diệu Quang Minh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Diệm Luân.

Kế đó là biển Phong Lực Trì Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Diệm Vân Tràng.

Kế đó là biển Ðế Thích Thân Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Chơn Châu Tạng.

Kế đó là biển Bình Thản Nghiêm Tịnh Hương Thủy, có thế giới chủng tên là Tỳ Lưu Ly Mạt Chủng Chủng Trang Nghiêm.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số biển Hương Thủy như vậy. Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Diệu Thọ Hoa Hương Thủy, có thế giới chủng tên Xuất Sanh Chư Phương Quảng Ðại Sát, dùng Phật tồi phục ma âm thanh làm thể.

Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Diệm Cự Tràng, Phật hiệu Thế Gian Công Ðức Hải.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Xuất Sanh Bửu, Phật hiệu Sư Tử Lực Bửu Vân.

Trên đó, quá ba Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Y Phục Tràng, Phật hiệu Nhứt Thiết Trí Hải Vương.

Trên đó, quá bảy Phật sát vi trần số thế giới, phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Bửu Anh Lạc Sư Tử Quang Minh, Phật hiệu Thiện Biến Hóa Liên Hoa Tràng.

Chư Phật tử! Ngoài biển Kim Cang Diệm Quang Minh Hương Thủy, đến biển Nhứt Thiết Trang Nghiêm Cụ Oánh Sức Tràng, có thế giới chủng tên Thanh Tịnh Hạnh Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Bửu Hoa Quang Diệu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Công Ðức Tướng Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Liên Hoa Khai Phu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bồ tát Ma Ni Quan Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Diệu Bửu Y Phục Hương Thủy, có thế giới chủng tên Tịnh Châu Luân.

Kế đó là biển Khả Ái Hoa Biến Chiếu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bá Quang Vân Chiếu Diệu.

Kế đó là biển Biến Hư Không Đại Quang Minh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Quang Phổ Chiếu.

Kế đó là biển Diệu Hoa Trang Nghiêm Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Kim Nguyệt Nhãn Anh Lạc.

Kế đó là biển Chơn Châu Hương Hải Tạng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phật Quang Minh.

Kế đó là biển Bửu Luân Quang Minh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Thiện Hóa Hiện Phật Cảnh Giới Quang Minh.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải như vậy. Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Vô Biên Luân Trang Nghiêm Để Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Lượng Phương Sai Biệt, dùng những loại ngôn thuyết âm thanh của tất cả quốc độ làm thể.

Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Kim Cang Hoa Cái, Phật hiệu Vô Tận Tướng Quang Minh Phổ Môn Âm.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Xuất Sanh Bửu Y Tràng, Phật hiệu Phước Ðức Vân Ðại Oai Thế.

Trên đó, quá ba Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Chúng Bửu Cụ Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Thắng Huệ Hải.

Trên đó, quá bảy Phật sát vi trần số thế giới, phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Nhựt Quang Minh Y Phục Tràng, Phật hiệu Trí Nhựt Liên Hoa Vân.

Chư Phật tử! Ngoài biển Ðế Thanh Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy, đến biển A Tu La Cung Điện Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hương Thủy Quang Sở Trì.

Kế đó là biển Bửu Sư Tử Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Biến Thị Thập Phương Nhứt Thiết Bửu.

Kế đó là biển Cung Điện Sắc Quang Minh Vân Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Luân Diệu Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Xuất Đại Liên Hoa Hương Thủy, có thế giới chủng tên Diệu Trang Nghiêm Biến Chiếu Pháp Giới.

Kế đó là biển Ðăng Diệm Diệu Nhãn Hương Thủy, có thế giới chủng tên Biến Quán Sát Thập Phương Biến Hóa.

Kế đó là biển Bất Tư Nghì Trang Nghiêm Luân Hương Thủy, có thế giới chủng tên Thập Phương Quang Minh Phổ Danh Xưng.

Kế đó là biển Bửu Tích Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Ðăng Quang Chiếu Diệu.

Kế đó là biển Thanh Tịnh Bửu quang Minh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Tu Di Vô Năng Vi Ngại Phong.

Kế đó là biển Bửu Y Lan Thuẫn Hương Thủy, có thế giới chủng tên Như Lai Thân Quang Minh.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải như vậy.

Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Thọ Trang Nghiêm Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên An Trụ Ðế Võng, dùng Bồ tát trí địa âm thanh làm thể. Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Diệu Kim Sắc, Phật hiệu Hương Diệm Thắng Oai Quang.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Ma Ni Thọ Hoa, Phật hiệu Vô Ngại Phổ Hiện.

Trên đó, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Tỳ Lưu Ly Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Pháp Tự Tại Kiên Cố Huệ.

Phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Phạm Âm Diệu Trang Nghiêm, Phật hiệu Liên Hoa Khai Phu Quang Minh Vương.

Chư Phật tử! Ngoài biển Kim Cang Luân Trang Nghiêm Để Hương Thủy, đến biển Hóa Hiện Liên Hoa Xứ Hương Thủy, có thế giới chủng tên Quốc Ðộ Bình Chánh.

Kế đó là biển Ma Ni Quang Hương Thủy, có thế giới chủng tên Biến Pháp Giới Vô Mê Hoặc.

Kế đó là biển Chúng Diệu Hương Nhựt Na Ni Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Hiện Thập Phương.

Kế đó là biển Hằng Nạp Bửu Lưu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Hành Phật Ngôn Âm.

Kế đó là biển Vô Biên Thâm Diệu Âm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Biên Phương Sai Biệt.

Kế đó là biển Kiên Thiệt Tích Tụ Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Lượng Xứ Sai Biệt.

Kế đó là biển Thanh Tịnh Phạm Âm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Thanh Tịnh Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Chiên Đàn Lan Thuẫn Âm Thanh Tạng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hoánh Xuất Tràng.

Kế đó là biển Diệu Hương Bửu Vương Quang Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Hiện Quang Minh Lực.

Chư Phật tử! Ngoài biển Liên Hoa Nhơn Đà La Võng, đến biển Ngân Liên Hoa Diệu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Biến Hành.

Kế đó là biển Tỳ Lưu Ly Trúc Mật Diệm Vân, có thế giới chủng tên Phổ Xuất Thập Phương Âm.

Kế đó là biển Thập Phương Quang Diệm Tụ Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hằng Xuất Biến Hóa Phân Bố Thập Phương.

Kế đó là biển Xuất Hiện Chơn Kim Ma Ni Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Kim Cang Tràng Tướng.

Kế đó là biển Bình Đẳng Đại Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Pháp Giới Dũng Mãnh Triền.

Kế đó là biển Bửu Hoa Tòng Vô Tận Quang Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Biên Tịnh Quang Minh.

Kế đó là biển Diệu Kim Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Diễn Thuyết Vi Mật Xứ.

Kế đó là biển Quang Ảnh Biến Chiếu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Tịch Âm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hiện Tiền Thùy Bố.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải như vậy. Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Mật Diệm Vân Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Nhứt Thiết Quang Trang Nghiêm, dùng Như Lai đạo tràng chúng hội âm thanh làm thể.

Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Tịnh Nhãn Trang Nghiêm, Phật hiệu Kim Cang Nguyệt Biến Chiếu Thập Phương.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Liên Hoa Đức, Phật hiệu Ðại Tinh Tấn Thiện Giác Huệ.

Trên đó, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Kim Cang Mật Trang Nghiêm, Phật hiệu Ta La Vương Tràng.

Trên đó, quá bảy Phật sát vi trần số thế giới, phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Tịnh Hải Trang Nghiêm, Phật hiệu Oai Ðức Tuyệt Luân Vô năng Chế Phục.

Chư Phật tử! Ngoài biển Tích Tập Bửu Hương Tạng Hương Thủy, đến biển Bửu Quang Minh Biến Chiếu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Cấu Xưng Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Chúng Bửu Hoa Khai Phu hương thủy, có thế giới chủng tên Hư Không Tướng.

Kế đó là biển Cát Tường Ốc Biến Chiếu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Ngại Quang Phổ Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Chiên Đàn Thọ Hoa Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Hiện Thập Phương Triền.

Kế đó là biển Xuất Sanh Diệu Sắc Bửu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Thắng Tràng Châu Biến Hành.

Kế đó là biển Phổ Sanh Kim Cang Hoa Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hiện Bất Tư Nghì Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Tâm Vương Ma Ni Luân Nghiêm Sức Hương Thủy, có thế giới chủng tên Thị Hiện Vô Ngại Phật Quang Minh.

Kế đó là biển Tích Tập Bửu Anh Lạc Hương Thủy, có thế giới chủng tên Tịnh Trừ Nghi.

Kế đó là biển Chơn Châu Luân Phổ Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Chư Phật Nguyện Sở Lưu.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới hải như vậy. Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Diêm Phù Đàn Bửu Tạng Luân Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Âm Tràng, dùng nhập nhứt thiết trí môn âm thanh làm thể.

Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Hoa Nhụy Diệm, Phật hiệu Tinh Tấn Thí.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Liên Hoa Quang Minh Tràng, Phật hiệu Nhứt Thiết Công Ðức Tối Thắng Tâm Vương.

Trên đó, quá ba Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Thập Lực Trang Nghiêm, Phật hiệu Thiện Xuất Hiện Vô Lượng Công Ðức Vương.

Phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Ma Ni Hương Sơn Tràng, Phật hiệu Quảng Ðại Thiện Nhãn Tịnh Trừ Nghi.

Chư Phật tử! Ngoài biển Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy, đến biển Trì Tu Di Quang Minh Tạng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Xuất Sanh Quảng Đại Vân.

Kế đó là biển Trang Nghiêm Đại Oai Lực Cảnh Giới Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Ngại Tịnh Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Mật Bố Bửu Liên Hoa Hương
Thủy, có thế giới chủng tên Tối Thắng Ðăng Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Y Chỉ Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Nhựt Quang Minh Võng Tạng.

Kế đó là biển Chúng Đa Nghiêm Tịnh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Hoa Y Xứ.

Kế đó là biển Cực Thông Huệ Hành Hương Thủy, có thế giới chủng tên Tối Thắng Hình Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Trì Diệu Ma Ni Phong Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Tịnh Hư Không Tạng.

Kế đó là biển Ðại Quảng Biến Chiếu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Ðế Thanh Cự Quang Minh.

Kế đó là biển Khả Ái Ma Ni Châu Biến Chiếu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Hống Thanh.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải như vậy.

Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Xuất Đế Thanh Bửu Hương Thủy, có thế giới chủng tên Châu Biến Vô Sai Biệt, dùng Bồ tát chấn hống
âm thanh làm thể.

Trong đây, phương dưới hết có thế giới tên Diệu Thắng Tạng, Phật hiệu Tối Thắng Công Ðức Huệ.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Trang Nghiêm Tướng, Phật hiệu Siêu Thắng Ðại Quang Minh.

Trên đó, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Lưu Ly Luân Phổ Trang Nghiêm, Phật hiệu Tu Di Ðăng.

Phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Hoa Tràng Hải, Phật hiệu Vô Tận Biến Hóa Diệu Huệ Vân.

Chư Phật tử! Ngoài biển Kim Cang Bửu Tụ Hương Thủy, đến biển Sùng Sức Bửu Tê Nghê Hương Thủy, có thế giới chủng tên tú Xuất Bửu Tràng.

Kế đó là biển Bửu Tràng Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hiện Nhứt Thiết Quang Minh.

Kế đó là biển Diệu Bửu Vân Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Trang Nghiêm Quang Minh Biến Chiếu.

Kế đó là biển Bửu Thọ Hoa Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Diệu Hoa Gián Sức.

Kế đó là biển Diệu Bửu Y Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Quang Minh Hải.

Kế đó là biển Bửu Thọ Phong Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Diệm Vân.

Kế đó là biển Thị Hiện Quang Minh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Nhập Kim Cang Vô Sở Ngại.

Kế đó là biển Liên Hoa Phổ Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Vô Biên Ngạn Hải Uyên.

Kế đó là biển Diệu Bửu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Thị Hiện Quốc Ðộ Tạng.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải như vậy.

Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Bất Khả Hoại Hương Thủy, có thế giới chủng tên Diệu Luân Gián Thố Liên Hoa Tràng, dùng Phật lực sở xuất âm thanh làm thể.

Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên
Tối Diệu Hương, Phật hiệu Hóa Vô Lượng Trần Số Quang.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Bất Tư Nghị Sai Biệt Trang Nghiêm Môn, Phật hiệu Vô Lượng Trí.

Trên đó, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Thập Phương Quang Minh Diệu Hoa Tạng, Phật hiệu Sư Tử Nhãn Quang Diệm Vân.

Phương trên hết, có thế giới tên Hải Âm thanh, Phật hiệu Thủy Thiên Quang Diệm Môn.

Chư Phật tử! Ngoài biển Thiên Thành Bửu Điệp Hương Thủy, đến biển Diệm Luân Hách Dịch Quang Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bất Khả Thuyết Chủng Chủng Trang Nghiêm.

Kế đó là biển Bửu Trần Lộ Hương Thủy, có thế giới chủng tên Phổ Nhập Vô Lượng Triền.

Kế đó là biển Cụ Nhứt Thiết Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Bửu Quang Biến Chiếu.

Kế đó là biển Bố Chúng Bửu Võng Hương Thủy, có thế giới chủng tên An Bố Thâm Mật.

Kế đó là biển Diệu Bửu Trang Nghiêm Tràng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Thế Giới Hải Minh Liễu Âm.

Kế đó là biển Nhựt Cung Thanh Tịnh Ảnh Hương Thủy, có thế giới chủng tên Biến Nhập Nhơn Ðà La Võng.

Kế đó là biển Cổ Nhạc Mỹ Diệu Âm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Viên Mãn Bình Chánh.

Kế đó là biển Chủng Chủng Diệu Trang Nghiêm Hương Thủy, có thế giới chủng tên Tịnh Mật Quang Diệm Vân.

Kế đó là biển Châu Biến Bửu Diệm Đăng Hương Thủy, có thế giới chủng tên Tùy Phật Bổn Nguyện Chủng Chủng Hình.

Có bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải như vậy.

Gần Luân Vi Sơn nhứt, là biển Tích Tập Anh Lạc Y Hương Thủy, có thế giới chủng tên Hóa Hiện Diệu Y, dùng tam thế chư Phật âm thanh làm thể.

Trong đây, phương dưới hết, có thế giới tên Phát Sanh Hoan Hỷ, nương biển Nhơn Đà La Hoa Tạng Hương Thủy mà trụ, một Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Kiên Ngộ Trí.

Trên đó, quá mười Phật sát vi trần số thế giới,
ngang với thế giới Kim Cang Tràng, có thế giới tên Bửu Võng Trang Nghiêm, mười Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Vô Lượng Hoan Hỷ Quang.

Trên đó, quá ba Phật sát vi trần số thế giới, ngang với thế giới Ta Bà, có thế giới tên Bửu Liên Hoa Sư Tử Tòa, mười ba Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, Phật hiệu Tối Thanh Tịnh Bất Không Văn.

Trên đó, quá bảy Phật sát vi trần số thế giới, phương trên nhứt của thế giới chủng nầy, có thế giới tên Bửu Sắc Long Quang Minh, hai mươi Phật sát vi trần số thế giới bao quanh, thuần thanh tịnh, Phật hiệu Biến Pháp Giới Phổ Chiếu Minh.

Chư Phật tử! Trong mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số Hương Thủy Hải như vậy, có mười bất khả thuyết Phật sát vi trần số thế giới chủng, đều nương hiện nhứt thiết Bồ tát hình ma ni vương tràng trang nghiêm liên hoa mà trụ, đều riêng bửu tế trang nghiêm không gián đoạn, đều riêng phóng bửu sắc quang minh, đều riêng quang minh vân giăng che, đều đồ riêng trang nghiêm, đều riêng kiếp sai khác, đều riêng Phật xuất hiện, đều riêng diễn pháp hải, đều riêng chúng sanh khắp đầy dẫy, đều riêng vào đến khắp mười phương, đều riêng sự gia trì của thần lực chư Phật. Trong mỗi thế giới chủng nầy, tất cả thế giới đều nương các loại trang nghiêm mà trụ, liên tiếp lẫn nhau thành thế giới võng, kiến lập nhiều loại sai khác khắp cùng nơi Hoa Tạng Trang Nghiêm Thế Giới Hải.

Lúc đó, Phổ Hiền Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa oai lực của Phật mà nói kệ rằng:

Hoa Tạng thế giới hải

Pháp giới đồng không khác

Trang nghiêm rất thanh tịnh

An trụ nơi hư không.

Trong thế giới hải nầy

Sát chủng khó nghĩ bàn

Mỗi mỗi đều tự tại

Ðều riêng không tạp loạn

Biển Hoa Tạng Thế Giới

Sát chủng khéo an bày

Hình khác, trang nghiêm khác

Các loại tướng không đồng.

Chư Phật biến hóa âm

Nhiều loại làm thể đó

Tùy nghiệp lực mà thấy

Sát chủng nghiêm sức đẹp.

Hình Tu Di, thành, lưới,

Nước xoáy, hình tròn, vuông

Hoa sen nở rộng lớn

Cõi cõi bao quanh nhau.

Hình sơn tràng, lâu các

Hình kim cang xoay vòng

Những sát chủng quảng đại

Bất tư nghì như vậy.

Ðại hải, lửa chơn châu

Quang võng bất tư nghì

Những sát chủng như vậy

Ðều trụ nơi liên hoa.

Mỗi mỗi những sát chủng

Quang võng bất khả thuyết

Trong quang hiện các cõi

Khắp cả mười phương biển.

Tất cả những sát chủng

Bao nhiêu đồ trang nghiêm

Quốc độ hiện trong đó

Thấy khắp vô cùng tận.

Sát chủng bất tư nghì

Thế giới vô biên tế

Nhiều thứ trang nghiêm đẹp

Ðều do oai lực Phật.

Trong tất cả sát chủng

Thế giới bất tư nghì

Hoặc thành, hoặc hư hoại

Hoặc cõi đã hư hoại

Ví như lá trong rừng

Có mọc cũng có rụng

Trong sát chủng như vậy

Thế giới có thành hoại.

Ví như trong rừng cây

Các thứ quả sai khác

Như vậy nương sát chủng

Các loài chúng sanh trụ.

Ví như chủng tử khác

Sanh quả đều sai khác

Vì nghiệp lực sai khác

Cõi chúng sanh không đồng.

Ví như tâm vương bửu

Tùy tâm thấy màu sắc

Vì tâm chúng sanh tịnh

Ðược thấy cõi thanh tịnh.

Ví như đại Long vương

Nổi mây khắp hư không

Như vậy Phật nguyện lực

Xuất sanh các quốc độ.

Như thuật sĩ ảo thuật

Hiện được các đồ vật

Vì nghiệp lực chúng sanh

Quốc độ bất tư nghì.

Ví như những tượng màu

Của họa sĩ sáng tác

Như vậy tất cả cõi

Tâm họa sĩ làm thành.

Thân chúng sanh khác nhau

Tùy tâm phân biệt khởi

Như vậy các cõi nước

Không gì chẳng do nghiệp.

Ví như thấy chư Phật

Nhiều hình sắc sai khác

Tùy tâm hành chúng sanh

Thấy các cõi cũng khác.

Ngàn đáy của các cõi

Bủa giăng lưới liên hoa

Những tướng trạng không đồng

Trang nghiêm rất thanh tịnh.

Những lưới liên hoa kia

Nơi sát võng an trụ

Bao nhiêu sự trang nghiêm

Các loài chúng sanh ở.

Hoặc có trong cõi nước

Hiểm trở không bình thản

Do chúng sanh phiền não

Thấy trong đó như vậy.

Tạp nhiễm và thanh tịnh

Vô lượng thế giới chủng

Tùy tâm chúng sanh khởi

Bồ tát lực gia trì.

Hoặc có trong cõi nước

Tạp nhiễm và thanh tịnh

Hoặc do nghiệp lực khởi

Bồ tát chỗ hóa độ.

Có cõi phóng quang minh

Ly cấu bửu làm thành

Các thứ nghiêm sức đẹp

Chư Phật khiến thanh tịnh.

Trong mỗi thế giới chủng

Kiếp thiêu bất tư nghì

Hiện bày đầy hư ác

Nơi đó thường kiên cố.

Do nghiệp lực chúng sanh

Xuất sanh nhiều quốc độ

Nương trụ nơi phong luân

Và nương thủy luân trụ.

Thế giới tự như vậy

Thấy nhiều loại không đồng

Nhưng thiệt không có sanh

Cũng lại không diệt hoại.

Trong mỗi mỗi tâm niệm

Xuất sanh vô lượng cõi

Do oai thần của Phật

Ðều thấy tịnh không nhơ.

Có cõi bùn đất thành

Thể chất rất cứng rắn

Ðen tối không ánh sáng

Kẻ ác nghiệp ở đó.

Có cõi kim cang thành

Tạp nhiễm nhiều lo sợ

Khổ nhiều mà vui ít

Kẻ phước mỏng ở đó.

Có cõi toàn bằng sắt

Hoặc cõi xích đồng thành

Núi đá hiểm đáng sợ

Kẻ tội ác đầy dẫy.

Trong cõi có địa ngục

Chúng sanh khổ khó cứu

Luôn ở trong đen tối

Biển lửa thường thiêu đốt.

Hoặc lại có súc sanh

Biết bao hình xấu xí

Do nơi tự ác nghiệp

Thường thọ các khổ não.

Hoặc có cõi Diêm La

Luôn khổ nỗi đói khát

Trèo lên núi lửa to

Chịu những khổ rất nặng.

Hoặc có các quốc độ

Bảy báu hiệp lại thành

Bao nhiêu là cung điện

Do tịnh nghiệp tạo nên.

Các Ngài xem thế gian

Trong đó trời và người

Quả tịnh nghiệp thành tựu

Tùy thời hưởng khoái lạc.

Trong mỗi mỗi chân lông

Ức cõi bất tư nghì

Các thứ tướng trang nghiêm

Chưa từng có chật hẹp.

Chúng sanh nghiệp sai khác

Thế giới nhiều vô lượng

Trong đó sanh thủ trước

Thọ khổ vui chẳng đồng.

Có cõi thuần châu báu

Thường phóng vô biên quang

Kim cang diệu liên hoa

Trang nghiêm tịnh vô cấu

Có cõi bằng ánh sáng

Nương quang luân an trụ

Kim sắc hương chiên đàn

Diệm vân khắp sáng soi.

Có cõi bằng nguyệt luân

Hương y trải khắp nơi

Nơi trong một liên hoa

Bồ tát ngồi đầy khắp.

Có cõi bằng châu báu

Hình sắc không bợn nhơ

Ví như lưới Thiên Đế

Quang minh thường chiếu sáng.

Có cõi bằng chất hương

Hoặc là hoa kim cang

Ma ni quang hiện bóng

Nhìn xem rất thanh tịnh.

Hoặc có nan tư cõi

Hoa xoay kết hợp thành

Trong đó đầy hóa Phật

Bồ tát khắp sáng rực.

Hoặc có cõi thanh tịnh

Toàn là những cây hoa

Nhánh đẹp che đạo tràng

Mây ma ni giăng khắp.

Có cõi tịnh quang chiếu

Hoa kim cang làm thành

Có âm thanh hóa Phật

Vô biên giăng thành lưới.

Có cõi như Bồ tát

Mão tốt đẹp ma ni

Hoặc cõi hình bửu tòa

Từ quang minh biến hóa.

Hoặc là mạt chiên đàn

Hoặc là bạch hào quang

Hoặc tiếng trong Phật quang

Mà thành cõi đẹp đó.

Hoặc thấy cõi thanh tịnh

Dùng một quang trang nghiêm

Hoặc thấy nhiều trang nghiêm

Các cõi đều kỳ diệu.

Hoặc dùng mười quốc độ

Vật đẹp để trang sức

Hoặc dùng ngàn quốc độ

Tất cả để trang nghiêm.

Hoặc dùng ức quốc độ

Trang nghiêm nơi một cõi

Những hình tướng chẳng đồng

Ðều như bóng tượng hiện.

Bất khả thuyết quốc độ

Trang nghiêm nơi một cõi

Mỗi vật phóng quang minh

Do nguyện lực của Phật.

Hoặc có những quốc độ

Do nguyện lực thanh tịnh

Trong các vật trang nghiêm

Khắp thấy những sát hải.

Người tu nguyện Phổ Hiền

Cảm thành cõi thanh tịnh

Tam thế cõi trang nghiêm

Trong đây hiện đủ cả.

Phật tử nên quán sát

Sát chủng oai thần lực

Những quốc độ vị lai

Như mộng đều khiến thấy.

Những thế giới mười phương

Những quốc độ quá khứ

Ðều ở trong một cõi

Hiện tượng như huyễn hóa.

Tất cả Phật tam thế

Và quốc độ chư Phật

Ở trong một sát chủng

Ðều xem thấy tất cả.

Thần lực của chư Phật

Trong trần hiện các cõi

Các loại đều thấy rõ

Như bóng không chơn thiệt.

Hoặc có nhiều cõi nước

Hình trạng như biển cả

Hoặc như núi Tu Di

Thế giới bất tư nghì.

Có cõi an trụ tốt

Hình như lưới Thiên Ðế

Hoặc hình như rừng cây

Chư Phật đầy trong đó.

Hoặc hình như bửu luân

Hoặc trạng như liên hoa

Tám góc trang nghiêm đẹp

Mọi nơi đều thanh tịnh.

Hoặc như hình bửu tòa

Hoặc có cõi ba góc

Hoặc như khư lặc ca

Thành quách, thân Phạm Vương.

Hoặc như tóc Thiên Chủ

Hoặc như hình bán nguyệt

Hoặc như núi Ma Ni

Hoặc như hình mặt nhựt.

Hoặc có những thế giới

Hình như hương hải xây

Hoặc làm vòng quang minh

Xưa Phật đã nghiêm tịnh.

Hoặc như hình bánh xe

Hoặc hình đàn cúng tế

Hoặc như tướng bạch hào

Nhục kế, mắt rộng dài.

Có cõi hình Phật thủ

Hoặc như chày kim cang

Hoặc như hình diệm sơn

Bồ tát ở đầy khắp.

Hoặc hình như sư tử

Hoặc như hình con ngao

Vô lượng những sắc tướng

Thể tánh đều sai khác.

Ở trong một sát chủng

Hình các cõi vô tận

Ðều nhờ nguyện lực Phật

Hộ niệm nên an trụ.

Có cõi trụ một kiếp

Có cõi trụ mười kiếp

Nhẫn đến hơn trăm ngàn

Thế giới vi trần số.

Hoặc ở trong một kiếp

Thấy cõi có thành hoại

Hoặc vô lượng vô số

Nhẫn đến bất tư nghì.

Hoặc có cõi có Phật

Hoặc có cõi không Phật

Hoặc có chỉ một Phật

Hoặc có vô lượng Phật.

Cõi nào nếu không Phật

Thời có Phật cõi khác

Biến hóa đến cõi đó

Ðể thị hiện Phật sự:

Từ trời giáng thần xuống

Trụ thai và đản sanh

Hàng ma thành Chánh Giác

Chuyển vô thượng pháp luân.

Tùy lòng chúng ưa thích

Thị hiện nhiều tướng mạo

Vì họ chuyển pháp luân

Hạp căn tánh của họ.

Trong mỗi mỗi cõi Phật

Một Phật hiện ra đời

Trải qua ngàn ức năm

Diễn thuyết pháp vô thượng.

Chúng chẳng phải pháp khí

Không thấy được chư Phật,

Nếu ai tâm mến thích

Mọi nơi đều thấy Phật.

Trong mỗi mỗi sát độ

Ðều có Phật ra đời

Chư Phật trong các cõi

Ức số bất tư nghì.

Mỗi mỗi Phật trong đây

Hiện vô lượng thần biến

Ðều khắp trong pháp giới

Ðiều phục các chúng sanh.

Có cõi không ánh sáng

Ðen tối nhiều lo sợ

Ðau khổ tợ dao đâm

Kẻ thấy tự đau xót.

Hoặc ánh sáng chư Thiên

Hoặc ánh sáng cung điện

Hoặc ánh sáng nhựt nguyệt

Sát võng khó nghĩ bàn.

Có cõi tự chiếu sáng

Hoặc cây báu chói rực

Chưa từng có khổ não

Do phước lực chúng sanh.

Hoặc có núi chiếu sáng

Hoặc ánh sáng ma ni

Hoặc dùng đèn soi sáng

Ðều do nghiệp lực cả.

Hoặc quang minh của Phật

Trong đó đầy Bồ tát

Hoặc liên hoa chiếu sáng

Màu rực rỡ rất xinh.

Có cõi bông chiếu sáng

Hoặc dùng hương thủy chiếu

Hương đốt, hương thoa sáng

Ðều do nguyện lực tốt.

Có cõi mây sáng chiếu

Ngọc ma ni chiếu sáng

Hoặc Phật quang sáng soi

Tuyên thuyết tiếng đẹp dạ.

Hoặc châu báu chiếu sáng

Hoặc kim cang sáng chiếu

Tiếng thanh tịnh vang xa

Dứt trừ các sự khổ.

Hoặc có sáng ma ni

Hoặc đồ trang nghiêm sáng

Hoặc ánh sáng đạo tràng

Chiếu sáng khắp chúng hội.

Phật phóng đại quang minh

Hóa Phật đầy trong đó

Quang minh chiếu mọi nơi

Khắp cùng cả pháp giới.

Có cõi rất đáng sợ

Tiếng gào thét kêu khổ

Tiếng rên rỉ não nùng

Ai nghe cũng ghê sợ.

Ðường địa ngục súc sanh

Và đến cõi diêm la

Thế giới trược ác nầy

Thường vang tiếng sầu khổ.

Hoặc có những cõi nước

Thường vang tiếng đáng vui

Ðẹp ý thuận chánh pháp

Ðây do tịnh nghiệp được.

Hoặc có những quốc độ

Thường nghe tiếng Ðế Thích

Hoặc nghe tiếng Phạm Thiên

Và tiếng các Thế Chủ.

Hoặc có những quốc độ

Trong mây vang tiếng diệu

Biển báu cây ma ni

Và tiếng nhạc đầy khắp.

Trong viên quang chư Phật

Hóa thanh vô cùng tận

Và Bồ tát tiếng diệu

Nghe khắp mười phương cõi.

Quốc độ bất tư nghì

Tiếng pháp luân thường chuyển

Nguyện hải vang ra tiếng

Tiếng diệu âm tu hành.

Tam thế tất cả Phật

Xuất sanh các thế giới

Danh hiệu đều đầy đủ

Thanh âm vô cùng tận.

Có cõi thường được nghe

Lực âm của chư Phật

Ðịa độ và vô lượng

Diễn nói những pháp đó.

Sức thệ nguyện Phổ Hiền

Ức cõi diễn diệu âm

Tiếng đó như sấm vang

Trụ kiếp cũng vô tận.

Phật ở cõi thanh tịnh

Thị hiện tiếng tự tại

Trong pháp giới mười phương

Tất cả đều được nghe.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM TỲ LÔ GIÁ NA

THỨ SÁU

*Phổ Hiền Bồ tát lại bảo đại chúng rằng:

Chư Phật tử! Quá thế giới vi trần số kiếp về thuở quá khứ, lại quá gấp bội thời gian đó, có thế giới hải tên Phổ Môn Tịnh Quang Minh.

Trong thế giới hải nầy có thế giới tên Thắng Âm, y biển ma ni võng mà trụ, có Tu Di sơn vi trần số thế giới bao quanh, hình tròn và bằng phẳng. Cõi nầy đủ vô lượng sự trang nghiêm. Ba trăm lớp bửu thọ Luân Vi sơn bao bọc. Những bửu vân giăng che. Thanh tịnh không nhơ uế, ánh sáng rực rỡ. Thành ấp cung điện như Tu Di sơn. Y phục cùng thức ăn uống tùy niệm hiện đến. Kiếp đó tên Chủng Chủng Trang Nghiêm.

Chư Phật tử! Trong cõi Thắng Âm đó có biển Thanh Tịnh Quang Minh Hương Thủy. Trong biển nầy có đại liên hoa Tu Di sơn xuất hiện, tên Hoa diệm phổ trang nghiêm tràng, lan can bằng mười chất báu bao vòng. Trên núi đó có một khu rừng lớn, tên Ma Ni Hoa Chi Luân. Nơi đây có vô lượng lâu các đẹp, vô lượng nhà viện báu, vô lượng tràng diệu hương, vô lượng tràng bửu sơn, rất mực trang nghiêm. Vô lượng bạch liên hoa báu đua nở khắp nơi, vô lượng lưới hương ma ni liên hoa bủa giăng. Tiếng nhạc hòa vui, hương vân chói sáng, số đều vô lượng không thể kể hết. Lại có trăm muôn ức na do tha thành bao quanh với vô số chủng loại chúng sanh ở trong đó.

Phía đông của khu rừng có đại thành Diệm Quang Minh, chỗ đóng đô của Nhơn vương, vòng quanh có trăm muôn ức na do tha thành, ngang rộng đều bảy ngàn do tuần, xây dựng bằng những diệu bửu thanh tịnh, quách bằng bảy báu, những lầu tháp ngừa giặc đều tráng lệ, bảy lớp hào báu đầy những hương thủy, nơi đây hoa sen bốn màu xanh, vàng, đỏ, trắng đua nở khoe xinh. Cây đa la báu bao bọc bảy lớp. Lâu các cung điện đều bằng châu báu, trên đó, lưới báu che giăng. Hoa hương thơm sáng rải khắp nơi. Có trăm muôn ức na do tha cửa lớn, đều bằng châu báu. Trước mỗi cửa đều có bốn mươi chín tràng thi la, bày hàng thứ tự. Lại có trăm muôn ức khu vườn bao vòng. Trong đây đều có nhiều loại cây tạp hương, cây ma ni hương, mùi thơm lan khắp nơi. Bầy chim đẹp hòa hót, ai nghe cũng đẹp ý cả.

Trong đại thành nầy, cư dân không ai là chẳng có sanh đắc thần thông bay đi tự tại, nết hạnh như chư Thiên, những vật nhu cầu, theo ý muốn hiện đến.

Kế cận đại thành nầy về hướng nam, có một Thiên thành tên Thọ Hoa Trang Nghiêm.

Xoay theo phía hữu của Thiên thành, có Ðại Long thành tên Cứu Cánh.

Kế đó là Dạ xoa thành tên Kim Cang Thắng Diệu Tràng.

Kế đó là Càn thát bà thành tên Diệu Cung.

Kế đó là A tu la thành tên Bửu Luân.

Kế đó là Ca lâu la thành tên Diệu Bửu Trang Nghiêm.

Kế đó là Khẩn na la thành tên Du Hý Khoái Lạc.

Kế đó là Ma hầu la thành tên Kim Cang Tràng.

Kế đó là Phạm Thiên Vương thành tên Chủng Chủng Diệu Trang Nghiêm.

Có trăm vạn ức na do tha thành như vậy. Mỗi thành nầy đều có trăm vạn ức na do tha lâu các trang nghiêm vô lượng.

Chư Phật tử! Trong khu rừng lớn Ma Ni Hoa Chi Luân nầy có một đạo tràng tên Bửu Hoa Biến Chiếu, dùng những châu báu trang nghiêm khắp nơi. Hoa báu ma ni đua nở một chỗ. Thắp hương đăng đủ những màu báu đẹp. Mây sáng giăng che, lưới sáng rực rỡ. Những vật trang nghiêm luôn sản xuất diệu bửu. Tất cả nhạc khí thường tấu tiếng hòa nhã. Châu ma ni vương hiện thân Bồ tát. Các loại hoa đẹp cùng khắp mười phương.

Trước đạo tràng đó có một biển to tên Hương Ma Ni Kim Cang, có đại liên hoa tên hoa nhụy diệm luân. Hoa đó rộng lớn trăm ức do tuần. Cọng, cánh, tua, gương đều bằng diệu bửu. Mười bất khả thuyết trăm ngàn ức na do tha liên hoa bao quanh. Thường phóng quang minh, luôn vang tiếng diệu, khắp đến mười phương.

Chư Phật tử! Thế giới Thắng Âm, trong kiếp tối sơ, có mười Tu Di sơn vi trần số Như Lai ra đời. Ðệ nhứt là đức Nhứt Thiết Công Ðức Sơn Tu Di Thắng Vân.

Chư Phật tử! Trước lúc đức Phật đó xuất thế một trăm năm, trong rừng Ma Ni Hoa Chi Luân, tất cả đều trang nghiêm thanh tịnh. Những là xuất hiện mây bửu diệm, vang tiếng ca ngợi công đức của Phật, diễn nói âm thanh của vô số Phật. Phóng ánh sáng như lưới giăng che mười phương. Cung điện lâu các chiếu sáng lẫn nhau. Hoa báu sáng bay nhóm thành mây. Lại vang ra tiếng vi diệu trình bày căn lành quảng đại của chúng sanh tu hành từ thuở trước, kể danh hiệu của tam thế chư Phật, thuật đạo cứu cánh và hạnh nguyện của Bồ tát tu hành, nói những lời của Như Lai chuyển pháp luân. Hiện ra những tướng trang nghiêm như vậy, để ứng điềm đức Như Lai xuất thế.

Tất cả vua chúa trong thế giới Thắng Âm, vì thấy nghe những tướng trang nghiêm đó nên căn lành được thành thục, đều muốn gặp Phật mà đến đạo tràng.

Lúc đó, trong đại liên hoa nơi đạo tràng, đức Nhứt Thiết Công Ðức Sơn Tu Di Thắng Vân Phật thoạt xuất hiện, đủ tướng báu tốt, vô biên diệu sắc thanh tịnh.

Tất cả cung điện đều hiện bóng Phật. Tất cả chúng sanh đều được thấy Phật.

Từ nơi thân Phật xuất hiện vô biên hóa Phật, nhiều loại màu sắc sáng rỡ khắp pháp giới.

Trong thế giới Thắng Âm có sáu mươi tám ngàn ức Tu Di sơn, Phật đều hiện thân ngồi trên đảnh núi, như hiện đang ngự trên bửu tọa tại rừng Ma Ni Hoa Chi Luân.

Ðức Phật phóng bạch hào tướng quang, quang minh nầy tên Phát khởi nhứt thiết thiện căn âm, kèm theo mười Phật sát vi trần số quang minh, chiếu khắp cả quốc độ ở mười phương.

Nếu có chúng sanh đáng được điều phục, thì ánh sáng đó chiếu đến họ, liền được tự khai ngộ, dứt phiền não, phá lưới mê, xô ngã núi chướng, sạch cấu trược, phát tín giải lớn, sanh thiện căn thù thắng, lìa hẳn tất cả nạn khủng bố, diệt trừ tất cả khổ não nơi thân tâm, khởi tâm thấy Phật, hướng đến Nhứt thiết trí.

Bấy giờ tất cả vua chúa cùng vô lượng trăm ngàn quyến thuộc, nhờ quang minh của Phật khai giác nên đều đến chỗ Phật ngự, đầu mặt lạy chân Phật.

Chư Phật tử! Trong đại thành Diệm Quang Minh, quốc vương Hỷ Kiến Thiện Huệ thống lãnh cả trăm vạn ức na do tha thành. Phu nhơn Phước Kiết Tường làm thượng thủ ba vạn bảy ngàn phu nhơn thể nữ. Thái tử Ðại Oai Quang làm thượng thủ trong năm trăm vương tử. Thái tử có một vạn phu nhơn và Diệu Kiến phu nhơn là thượng thủ.

Khi đã được thấy quang minh của Phật, nhờ sức tu căn lành từ trước, thái tử Ðại Oai Quang liền chứng được mười pháp môn:

Một là môn Chư Phật công đức luân tam muội. Hai là môn Chư Phật pháp phổ môn đà la ni. Ba là môn Quảng đại phương tiện tạng bát nhã ba la mật. Bốn là môn Ðiều phục chúng sanh đại trang nghiêm đại từ. Năm là môn Phổ vân âm đại bi. Sáu là môn Sanh vô biên công đức tối thắng tâm đại hỷ. Bảy là môn Như thiệt giác ngộ nhứt thiết pháp đại xả. Tám là môn Quảng đại phương tiện bình đẳng tạng đại thần thông. Chín là môn Tăng trưởng tín giải lực đại nguyện. Mười là môn Phổ nhập nhứt thiết trí quang minh biện tài.

Lúc đó, Ðại Oai Quang thái tử thừa oai lực của Phật, quan sát khắp đại chúng, rồi nói kệ rằng:

Thế Tôn ngồi đạo tràng

Ðại quang minh thanh tịnh

Như ngàn mặt nhựt mọc

Chiếu khắp cõi hư không.

Vô lượng ức ngàn kiếp

Phật mới hiện một lần

Nay Phật hiện ra đời

Mọi người đều mến kính.

Xem trong quang minh Phật

Hóa Phật bất tư nghì

Trong tất cả cung điện

Tịch tịnh mà chánh thọ.

Hãy xem thần thông Phật

Chân lông tuôn mây sáng

Chói rực cả thế gian

Quang minh vô cùng tận.

Hãy nhìn xem thân Phật

Lưới sáng rất thanh tịnh

Hiện hình đồng tất cả

Cùng khắp đến mười phương.

Diệu âm khắp thế gian

Ai nghe cũng vui đẹp

Tùy theo tiếng chúng sanh

Ca ngợi công đức Phật.

Phật quang chiếu đến đâu

Chúng sanh đều an lạc

Khổ não đều dứt trừ

Trong lòng rất mừng rỡ.

Hãy xem chúng Bồ tát

Mười phương đến đạo tràng

Ðều phóng mây báu đẹp

Hiện tiền ca ngợi Phật.

Ðạo tràng vang diệu âm

Tiếng đó rất sâu xa

Hay dứt khổ chúng sanh

Ðây là thần lực Phật.

Chúng hội đều cung kính

Lòng họ rất mừng vui

Ðồng ở trước Thế Tôn

Chiêm ngưỡng đấng Vô Thượng.

Chư Phật tử! Lúc thái tử Ðại Oai Quang nói kệ, do thần lực của Phật, tiếng của thái tử vang khắp thế giới Thắng Âm.

Quốc vương Hỷ Kiến Thiện Huệ, sau khi nghe lời kệ, rất vui mừng. Nhà vua quan sát các quyến thuộc rồi nói kệ rằng:

Hỡi tất cả chư vương

Vương tử và đại thần

Các tể quan thành ấp

Phải mau họp lại đây!

Phổ cáo trong các thành

Mau đánh trống truyền rao

Họp tất cả mọi người

Ðồng đến ra mắt Phật!

Tất cả các nẻo đường

Ðều phải rung lạc báu

Dắt vợ con quyến thuộc

Ðồng đến lễ Như Lai.

Tất cả các thành quách

Phải sửa sang sạch sẽ

Khắp nơi dựng tràng phan

Nghiêm sức bằng châu ngọc!

Mành lưới báu che giăng

Kỹ nhạc bủa như mây

Trang nghiêm giữa hư không

Mọi nơi phải đầy đủ!

Ðường xá phải dọn sạch

Y phục phải đẹp xinh

Ngồi trên xe báu tốt

Cùng ta đồng đến Phật!

Mỗi người tùy tự lực

Rải những vật trang nghiêm

Rợp trời như mây che

Cùng khắp cả không gian!

Lửa thơm, lọng liên hoa

Chuỗi ngọc hình bán nguyệt

Và nhiều y phục đẹp

Mọi người nên đồng rải!

Ðem nhiều thứ nước thơm

Luân ma ni thượng diệu

Và chiên đàn thanh tịnh

Ðều rải đầy hư không!

Những hoa báu chuỗi ngọc

Trang nghiêm sạch không nhơ

Cùng với đèn ma ni

Ðều treo ở trên không!

Mọi người hướng phía Phật

Lòng đều rất vui mừng

Cùng vợ con quyến thuộc

Ðến ra mắt Thế Tôn.

Lúc đó, quốc vương Hỷ Kiến Thiện Huệ cùng phu nhơn, vương tử, đại thần và quyến thuộc, bảy mươi bảy trăm ngàn ức na do tha người đồng ra khỏi thành Diệm Quang Minh, thừa phước lực của quốc vương, bay trên không mà đi. Những đồ cúng dường đầy khắp hư không. Khi đến đạo tràng đại chúng đồng lễ Phật rồi ngồi qua một phía.

Thiên vương Thiện Hóa Tràng ở thành Diệu Hoa cùng với quyến thuộc mười ức na do tha đồng câu hội.

Long vương Tịnh Quang ở thành Cứu Cánh cùng với hai mươi lăm ức quyến thuộc câu hội.

Dạ xoa vương Mãnh Kiện ở thành Kim Cang Thắng Tràng cùng quyến thuộc bảy mươi bảy ức câu hội.

Càn thát bà vương Hỷ Kiến ở thành Vô Cấu cùng chín mươi bảy ức quyến thuộc câu hội.

A tu la vương Tịnh Sắc Tư Duy ở thành Diệu Luân cùng năm mươi tám ức quyến thuộc câu hội.

Ca lâu la vương Thập Lực Hành ở thành Diệu Trang Nghiêm cùng chín mươi chín ngàn quyến thuộc câu hội.

Khẩn na la vương Kim Cang Ðức ở thành Du Hý Khoái Lạc cùng mười tám ức quyến thuộc câu hội.

Ma hầu la già vương Bửu Xưng Tràng ở thành Kim Cang Tràng cùng ba ức trăm ngàn na do tha quyến thuộc câu hội.

Phạm Vương Tối Thắng ở thành Tịnh Diệu Trang Nghiêm cùng mười tám ức quyến thuộc câu hội.

Trong trăm vạn ức na do tha đại thành như vậy, tất cả chư vương cùng với quyến thuộc đồng đến đạo tràng đảnh lễ đức Nhứt Thiết Công Ðức Sơn Tu Di Thắng Vân Như Lai, rồi ngồi qua một phía.

Lúc đó, vì muốn điều phục các chúng sanh, đức Thắng Vân Như Lai ở trong hải hội đạo tràng diễn thuyết khế kinh Phổ Tập Nhứt Thiết Tam Thế Chư Phật Tự Tại Pháp, cùng với thế giới vi trần số khế kinh khác. Tùy tâm chúng sanh đều khiến được lợi ích.

Ðại Oai Quang Bồ tát, sau khi nghe pháp nầy, liền chứng được Pháp hải quang minh của đức Phật Thắng Vân đã tích tập từ đời trước. Những là:

Chứng được Trí quang minh tất cả pháp tụ bình đẳng tam muội, Trí quang minh tất cả pháp đều vào trụ trong tâm Bồ đề tối sơ, Trí quang minh thập phương pháp giới phổ quang minh tạng thanh tịnh nhãn, Trí quang minh quán sát tất cả Phật pháp đại nguyện hải, Trí quang minh vào vô biên công đức hải thanh tịnh hạnh, Trí quang minh hướng đến bất thối chuyển đại lực tốc tật tạng, Trí quang minh sức vô lượng biến hóa trong pháp giới xuất ly luân, Trí quang minh quyết định vào biển vô lượng công đức viên mãn, Trí quang minh rõ biết biển trang nghiêm thành tựu hiểu quyết định của chư Phật, Trí quang minh rõ biết biển thần thông hiện trước tất cả chúng sanh của vô biên Phật trong pháp giới, Trí quang minh rõ biết pháp lực vô sở úy của chư Phật.

Ðại Oai Quang Bồ tát được vô lượng trí quang minh như vậy rồi, thừa oai lực của Phật mà nói kệ rằng:

Tôi nghe Phật pháp diệu

Mà được trí quang minh

Do đây thấy Thế Tôn

Việc đã làm thuở trước.

Tất cả chỗ sanh ra

Danh hiệu thân sai khác

Và cúng dường nơi Phật

Như vậy tôi đều thấy.

Thuở xưa chỗ chư Phật

Ðều kính thờ tất cả

Vô lượng kiếp tu hành

Nghiêm tịnh các thế giới.

Thí xả chính thân mình

Quảng đại không ngằn mé

Tu tập hạnh tối thắng

Nghiêm tịnh các quốc độ.

Tai, mũi, đầu, tay, chân

Và đến những cung điện

Thí xả số vô lượng

Nghiêm tịnh các sát hải.

Nơi mỗi mỗi thế giới

Ức kiếp bất tư nghì

Tu tập hạnh Bồ đề

Nghiêm tịnh các thế giới.

Phổ Hiền đại nguyện lực

Trong tất cả chư Phật

Tu hành vô lượng hạnh

Nghiêm tịnh các quốc độ.

Như do nhựt quang chiếu

Trở lại thấy mặt trời

Tôi do Phật trí quang

Thấy đạo của Phật làm.

Tôi xem Phật sát hải

Thanh tịnh rất sáng suốt

Tịch tịnh chứng Bồ đề

Pháp giới đều cùng khắp.

Tôi sẽ như Thế Tôn

Nghiêm tịnh các sát hải

Nhờ oai thần của Phật

Tu tập hạnh Bồ đề.

Chư Phật tử! Lúc đó, Ðại Oai Quang Bồ tát, do thấy và cúng dường đức Phật Nhứt Thiết Công Ðức Sơn Tu Di Thắng Vân, nên tâm được tỏ ngộ, rồi vì thế gian mà hiển thị hạnh hải thuở xưa của Như Lai, hiển thị phương tiện tu hành của Bồ tát thuở xưa, hiển thị biển công đức của chư Phật, hiển thị trí thanh tịnh vào khắp tất cả pháp giới, hiển thị sức thành Phật tự tại trong tất cả đạo tràng, hiển thị lực vô sở úy trí vô sai biệt của Phật, hiển thị khắp thị hiện thân Như Lai, hiển thị thần biến bất khả tư nghì của Phật, hiển thị trang nghiêm thanh tịnh vô lượng Phật độ, hiển thị những hạnh nguyện của Phổ Hiền Bồ tát.

Vì thế gian hiển thị như vậy khiến Tu Di sơn vi trần số chúng sanh phát Bồ đề tâm. Phật sát vi trần số chúng sanh thành tựu Như Lai thanh tịnh quốc độ.

Lúc đó, Nhứt Thiết Công Ðức Sơn Tu Di Thắng Vân Như Lai vì Ðại Oai Quang Bồ tát mà nói kệ rằng:

Lành thay! Ðại Oai Quang

Phước tạng danh tiếng lớn

Vì lợi ích chúng sanh

Hướng đến Bồ đề đạo.

Ông được trí quang minh

Pháp giới đều đầy khắp

Phước huệ đều rộng lớn

Sẽ được biển trí sâu.

Trong một cõi tu hành

Trải qua sát trần kiếp

Như ông thấy nơi Phật

Sẽ được trí như vậy.

Chẳng phải kẻ hạnh kém

Biết được phương tiện nầy

Ðược sức đại tinh tấn

Mới tịnh sát hải được.

Trong mỗi mỗi vi trần

Tu hành vô lượng kiếp

Người đó mới làm được

Trang nghiêm các Phật độ.

Vì mỗi mỗi chúng sanh

Luân hồi trải kiếp hải

Trong lòng chẳng nhàm mỏi

Sẽ thành đại Ðạo Sư.

Cúng dường mỗi mỗi Phật

Cùng tận thuở vị lai

Lòng không chút nhàm mỏi

Sẽ thành Vô thượng đạo.

Tam thế tất cả Phật

Sẽ khiến ông toại nguyện

Trong tất cả Phật hội

Thân ông đều ở đó.

Tất cả chư Như Lai

Thệ nguyện vô lượng biên

Người đại trí thông đạt

Biết được phương tiện nầy.

Ðại Quang cúng dường Phật

Nên được oai lực lớn

Khiến trần số chúng sanh

Thành thục hướng Bồ đề.

Người tu hạnh Phổ Hiền

Bồ tát tiếng tăm lớn

Trang nghiêm Phật sát hải

Pháp giới đều cùng khắp.

Chư Phật tử! Trong kiếp Ðại Trang Nghiêm đó, có hằng hà sa số tiểu kiếp, loài người thọ hai tiểu kiếp.

Chư Phật tử! Ðức Nhứt Thiết Công Ðức Sơn Tu Di Thắng Vân Phật thọ năm mươi ức tuổi. Sau khi đức Phật đây diệt độ, thì đức Ba La Mật Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương Phật ra đời, cũng thành Chánh giác nơi đạo tràng ở rừng Ma Ni Hoa Chi Luân.

Lúc đó, Ðại Oai Quang Ðồng tử thấy đức Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương thành Phật hiện thần thông, liền chứng được niệm Phật tam muội tên Vô biên hải tạng môn và được đà la ni tên Đại trí lực pháp uyên, được đại từ tên Phổ tùy chúng sanh điều phục độ thoát, được đại bi tên Biến phú nhứt thiết cảnh giới vân, được đại hỷ tên Nhứt thiết Phật công đức hải oai lực tạng, được đại xả tên Pháp tánh hư không bình đẳng thanh tịnh, được bát nhã ba la mật tên Tự tánh ly cấu pháp giới thanh tịnh thân, liền được thần thông tên Vô ngại quang phổ tùy hiện, được biện tài tên Thiện nhập ly cấu uyên và được trí quang tên Nhứt thiết Phật pháp thanh tịnh tạng. Ðược thông đạt mười ngàn pháp môn như vậy.

Ðại Oai Quang Ðồng tử thừa oai lực của Phật, vì các quyến thuộc mà nói kệ rằng:

Trong số bất tư nghì ức kiếp

Ðấng đại Ðạo Sư khó gặp gỡ

Cõi nầy chúng sanh nhiều lợi lành

Nên nay được thấy đệ nhị Phật.

Thân Phật khắp phóng đại quang minh

Sắc tướng vô biên rất thanh tịnh

Như mây đầy khắp tất cả cõi

Mọi nơi ca ngợi công đức Phật.

Phật quang chiếu đến đều hoan hỷ

Chúng sanh có khổ đều trừ diệt

Ðều khiến cung kính khởi từ tâm

Ðây là Như Lai tự tại dụng.

Tuôn mây biến hóa bất tư nghì

Phóng lưới quang minh vô lượng sắc

Mười phương thế giới đều đầy khắp

Ðây thần thông của Phật biến hiện.

Mỗi chân lông Phật hiện mây sáng

Chiếu khắp hư không vang tiếng lớn

Những nơi tối tăm đều chiếu đến

Những khổ địa ngục đều trừ diệt.

Như Lai diệu âm khắp mười phương

Tất cả ngôn âm đều diễn đủ

Tùy các chúng sanh có thiện nghiệp

Ðây là thần biến của đức Phật.

Vô lượng vô biên đại chúng hải

Trong các pháp hội Phật đều hiện

Khắp chuyển vô tận diệu pháp luân

Tất cả chúng sanh được điều phục.

Thần thông của Phật vốn vô biên

Trong tất cả cõi đều xuất hiện

Phật trí như vậy thường vô ngại

Vì độ chúng sanh thành Chánh giác.

Ðại chúng nên sanh lòng vui mừng

Hớn hở mến ưa rất kính trọng

Ta sẽ cùng nhau đồng đến Phật

Nếu thấy Như Lai tất hết khổ.

Phát tâm hồi hướng đến Bồ đề

Xót thương tất cả các chúng sanh

Trụ nơi Phổ Hiền nguyện rộng lớn

Sẽ như Pháp Vương được tự tại.

Nhờ thần lực của đức Phật, nên tiếng kệ của Ðại Oai Quang đồng tử được vô ngại. Tất cả thế giới đều được nghe. Vô lượng chúng sanh phát Bồ đề tâm.

Ðại Oai Quang đồng tử cùng vương phụ, vương mẫu và quyến thuộc, với vô lượng trăm ngàn ức na do tha chúng sanh giăng lọng báu như mây, cùng đến đạo tràng Phật Ba La Mật Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương.

Ðức Phật vì đại chúng nầy diễn nói khế kinh Pháp Tánh Thanh Tịnh Trang Nghiêm, cùng với thế giới hải vi trần số khế kinh.

Ðại chúng nầy, sau khi nghe kinh, được trí thanh tịnh tên Nhập nhất thiết thanh tịnh phương tiện, được bực Ly cấu quang địa, được môn ba la mật Thị hiện nhứt thiết thế gian ái nhạo trang nghiêm, được môn tăng quảng hạnh tên Phổ nhập nhứt thiết sát độ vô biên quang minh thanh tịnh kiến, được môn Thú hướng hạnh ly cấu phước đức vân quang minh tràng, được môn Tùy nhập chứng nhứt thiết pháp hải quảng đại quang minh, được hạnh chuyển thâm phát thú tên Ðại trí trang nghiêm, được quán đảnh trí tên Vô công dụng tu cực diệu kiến, được đại quang minh hiển liễu tên Như Lai công đức hải tướng quang ảnh biến chiếu, được nguyện lực trí tên Vô lượng nguyện lực tín giải tạng.

Ðức Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương Phật vì Ðại Oai Quang Bồ tát mà nói kệ rằng:

Lành thay biển công đức trí huệ

Phát tâm hướng đến đại Bồ đề

Ông sẽ thành Phật bất tư nghì

Khắp vì chúng sanh làm chỗ tựa.

Ông đã xuất sanh biển đại trí

Ðều hay rõ khắp tất cả pháp

Sẽ dùng vô lượng diệu phương tiện

Vào cảnh vô tận của Phật làm.

Ðã thấy mây công đức của Phật

Ðã vào bực trí huệ vô tận

Các biển phương tiện ba la mật

Bực danh hiệu lớn sẽ đầy đủ.

Ðã được môn phương tiện tổng trì

Cùng với môn biện tài vô tận

Bao nhiêu hạnh nguyện đều tu tập

Sẽ thành vô thượng đại trí huệ.

Ông đã xuất sanh những nguyện hải

Ông đã vào nơi tam muội hải

Sẽ đủ các môn đại thần thông

Bất khả tư nghì các Phật pháp.

Pháp giới rốt ráo bất tư nghì

Thâm tâm rộng lớn đã thanh tịnh

Thấy khắp mười phương tất cả Phật

Ly cấu trang nghiêm các sát hải.

Ông đã vào hạnh Bồ đề Phật

Thuở xưa bổn sự biển phương tiện

Như Phật tu hành chỗ dứt trừ

Diệu hạnh như vậy ông đều ngộ.

Phật ở vô lượng trong mỗi cõi

Nhiều thứ cúng dường vô lượng Phật

Như Phật tu hành đã chứng quả

Trang nghiêm như vậy ông đều thấy.

Kiếp hải rộng lớn vô cùng tận

Trong tất cả cõi tu tịnh hạnh

Thệ nguyện kiên cố không thể lường

Sẽ được thần thông lực của Phật.

Cúng dường chư Phật không thiếu sót

Quốc độ trang nghiêm đều thanh tịnh

Trong tất cả kiếp tu diệu hạnh

Ông sẽ thành Phật đại công đức.

Chư Phật tử! Sau khi đức Ba La Mật Thiện Nhãn Trang Nghiêm Vương Phật nhập Niết bàn, quốc vương Hỷ Kiến Thiện Huệ cũng băng hà. Ðại Oai Quang đồng tử lên ngôi Chuyển luân vương.

Lúc đó, nơi đạo tràng ở rừng Ma Ni Hoa Chi Luân, đức Phật thứ ba xuất thế hiệu là Tối Thắng Công Ðức Hải.

Ðại Oai Quang Vương cùng quyến thuộc, nhơn dân đồng đến chỗ Phật ngự đem lâu các trang nghiêm lớn dâng cúng Phật.

Ðức Phật diễn nói khế kinh Bồ Tát Phổ Nhãn Quang Minh Hạnh và thế giới vi trần số khế kinh khác.

Ðại Oai Quang Vương sau khi nghe kinh, được tam muội tên Ðại phước đức phổ quang minh. Do được tam muội nầy, nên có thể rõ biết biển phước cùng chẳng phải biển phước thuở quá khứ, hiện tại, vị lai của tất cả Bồ tát và tất cả chúng sanh.

Lúc đó, đức Phật vì Ðại Oai Quang Vương mà nói kệ rằng:

Lành thay! Ðại Oai Quang phước đức

Các ông nay đến chỗ Phật ngự

Xót thương tất cả chúng sanh hải

Phát tâm Bồ đề thắng đại nguyện.

Ông vì tất cả chúng sanh khổ

Khởi tâm đại bi khiến giải thoát

Sẽ làm chỗ tựa cho quần mê

Ðây gọi phương tiện của Bồ tát.

Nếu có Bồ tát hay kiên cố

Tu những thắng hạnh không nhàm mỏi

Trí giải vô ngại tối thượng thắng

Diệu trí như vậy đó sẽ được.

Ðấng Phước Đức Quang, đấng Phước Tràng

Bực Phước Đức Xứ, bực Phước Hải

Phổ Hiền Bồ tát những hạnh nguyện

Chánh Ðại Oai Quang hay chứng nhập.

Ông đem được nguyện rộng lớn nầy

Vào biển bất tư nghì của Phật

Phước hải chư Phật vốn vô biên

Ông dùng diệu giải đều thấy được.

Ông ở trong thập phương quốc độ

Ðều thấy vô lượng vô biên Phật

Chư Phật thuở xưa chỗ tu hành

Tất cả như vậy ông đều thấy.

Nếu ai trụ nơi phương tiện nầy

Tất được vào nơi trong trí địa

Ðây là tùy thuận chư Phật học

Quyết định sẽ thành Nhứt thiết trí.

Ông ở trong tất cả sát hải

Vi trần kiếp hải tu các hạnh

Tất cả Như Lai những hạnh hải

Ông đều đã học sẽ thành Phật.

Như ông đã thấy trong mười phương

Tất cả sát hải rất nghiêm tịnh

Cõi ông nghiêm tịnh cũng như vậy

Vô biên nguyện lớn đều sẽ được.

Nay đây chúng hội đạo tràng nầy

Nghe ông phát nguyện đều mừng rỡ

Ðều vào nguyện lớn của Phổ Hiền

Phát tâm hồi hướng Bồ đề đạo.

Vô biên quốc độ trong mỗi cõi

Ðều vào tu hành trải kiếp hải

Bởi những nguyện lực được viên mãn

Phổ Hiền Bồ tát tất cả hạnh.

Chư Phật tử! Trong đạo tràng Ma Ni Hoa Chi Luân, sau đó lại có Phật xuất thế hiệu là Danh Xưng Phổ Văn Liên Hoa Nhãn Tràng. Ðại Oai Quang Vương băng trong thời kỳ nầy, rồi sanh tại Tịch Tịnh Bửu cung trong Thiên thành trên núi Tu Di, làm đại Thiên vương hiệu là Ly Cấu Phước Ðức Tràng, cùng Thiên chúng đồng đến chỗ Phật rải hoa báu cúng dường.

Lúc đó, đức Phật Danh Xưng Phổ Văn Liên Hoa Nhãn Tràng vì Thiên vương mà diễn nói khế kinh Quảng Ðại Phương Tiện Phổ Môn Biến Chiếu và thế giới hải vi trần số khế kinh khác.

Nghe kinh xong, Thiên vương và Thiên chúng được tam muội tên Phổ môn hoan hỷ tạng. Do sức tam muội, nên được nhập thiệt tướng hải của tất cả pháp. Sau đó Thiên vương và Thiên chúng lễ Phật, rời đạo tràng trở về bổn cung.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM NHƯ LAI DANH HIỆU

THỨ BẢY

*Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn ở nước Ma Kiệt Đà, trong đạo tràng Bồ đề, sơ thỉ thành Chánh giác, nơi điện Phổ Quang Minh, ngồi trên tòa liên hoa tạng sư tử, diệu ngộ đều viên mãn, tuyệt hẳn hai hạnh, đạt pháp vô tướng, an trụ nơi chỗ trụ của chư Phật, được Phật bình đẳng, đến chỗ vô chướng, chỗ làm vô ngại, đứng nơi bất tư nghì, thấy khắp tam thế.

Cùng với mười Phật sát vi trần số chư Bồ tát câu hội, tất cả đều là bực Nhứt sanh bổ xứ, từ phương khác đồng vân tập đến, đều khéo quan sát chúng sanh giới, pháp giới, thế giới, Niết bàn giới, các nghiệp quả báo, tâm hành thứ đệ, tất cả văn nghĩa thế gian, xuất thế gian, hữu vi, vô vi, quá khứ, hiện tại, vị lai, những pháp như vậy đều khéo quan sát cả.

Chư Bồ tát nghĩ rằng: nếu đức Thế Tôn có lòng mẫn niệm chúng tôi, xin tùy theo sự ưa thích mà khai thị những điều: Phật sát, Phật trụ, Phật sát trang nghiêm, Phật pháp tánh, Phật sát thanh tịnh, Phật thuyết pháp, Phật sát thể tánh, Phật oai đức, Phật sát thành tựu, Phật đại Bồ đề.

Như chư Phật Thế Tôn trong thập phương thế giới, vì thành tựu tất cả Bồ tát, vì khiến chủng tánh Như Lai không dứt, vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì khiến chúng sanh lìa hẳn tất cả phiền não, vì rõ biết tất cả công hạnh, vì diễn thuyết các pháp, vì dứt trừ tất cả tạp nhiễm, vì dứt hẳn tất cả lưới nghi, vì trừ bỏ tất cả tham vọng, vì hoại diệt tất cả chỗ ái trước mà diễn nói thập Trụ, thập Hạnh, thập Hồi hướng, thập Tạng, thập Địa, thập Nguyện, thập Định, thập Thông, thập Đảnh của Bồ tát. Và cũng diễn nói Như Lai địa, Như Lai cảnh giới, Như Lai thần lực, công hạnh của Như Lai, Như Lai lực, Như Lai vô úy, Như Lai tam muội, Như Lai thần thông, Như Lai tự tại, Như Lai vô ngại, nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý của Như Lai, Như Lai biện
tài, Như Lai trí huệ, Như Lai tối thắng.

Mong đức Thế Tôn cũng vì chúng tôi mà diễn thuyết cho!

Lúc đó, đức Thế Tôn rõ tâm niệm của chư Bồ tát, đều tùy theo từng loại mà vì họ hiện thần thông.

Sau khi đức Phật hiện thần thông, phương đông, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới tên Kim Sắc, Phật hiệu Bất Ðộng Trí, nơi đó có Bồ tát tên Văn Thù Sư Lợi, cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía đông mà ngồi kiết già trên đó.

Phương nam, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Diệu Sắc, Phật hiệu Vô Ngại Trí, có Bồ tát Giác Thủ cùng mười Phật sát vi trần số chư Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía nam mà ngồi kiết già trên đó.

Phương tây, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Liên Hoa Sắc, Phật hiệu Diệt Ám Trí, có Bồ tát Tài Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía tây mà ngồi kiết già trên đó.

Phương bắc, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Chiêm Bặc Hoa Sắc, Phật hiệu Oai Nghi Trí, có Bồ tát Nhựt Bửu Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía bắc mà ngồi kiết già trên đó.

Phương đông bắc, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Ưu Bát La Hoa Sắc, Phật hiệu Minh Tướng Trí, có Bồ tát Công Ðức Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía đông bắc mà ngồi kiết già trên đó.

Phương đông nam, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Kim Sắc, Phật hiệu Cứu Cánh Trí, có Bồ tát Mục Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía đông nam mà ngồi kiết già trên đó.

Phương tây nam, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Bửu Sắc, Phật hiệu Tối Thắng Trí, có Bồ tát Tinh Tấn Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía tây nam mà ngồi kiết già trên đó.

Phương tây bắc, quá mười Phật sát vi trần số
hế giới, có thế giới Kim Cang Sắc, Phật hiệu Tự Tại Trí, có Bồ tát Pháp Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở phía tây bắc mà ngồi kiết già trên đó.

Hạ phương, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Pha Lê Sắc, Phật hiệu Phạm Trí, có Bồ tát Trí Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở hạ phương mà ngồi kiết già trên đó.

Thượng phương, quá mười Phật sát vi trần số thế giới, có thế giới Bình Ðẳng Sắc, Phật hiệu Quán Sát Trí, có Bồ tát Hiền Thủ cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến đây lễ Phật, rồi hóa hiện tòa liên hoa tạng sư tử ở thượng phương mà ngồi kiết già trên đó.

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi đại Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát tất cả chúng hội Bồ tát mà nói rằng:

Chư Bồ tát nầy rất hy hữu.

Chư Phật tử! Phật quốc độ chẳng thể nghĩ bàn. Phật trụ, Phật sát trang nghiêm, Phật pháp tánh, Phật sát thanh tịnh, Phật thuyết pháp, Phật xuất hiện, Phật sát thành tựu, Phật Vô thượng Bồ đề đều chẳng thể nghĩ bàn.

Tại sao thế?

Chư Phật tử! Tất cả chư Phật trong mười phương biết rằng chúng sanh ưa thích không đồng, nên tùy chỗ thích nghi mà thuyết pháp điều phục họ, nhẫn đến khắp pháp giới, hư không giới.

Chư Phật tử! Ðức Như Lai nơi thế giới Ta Bà nầy, trong những tứ châu thiên hạ, thị hiện nhiều thân, nhiều hiệu, nhiều sắc tướng, nhiều dài ngắn, nhiều tuổi thọ, nhiều xứ sở, nhiều căn, nhiều chỗ sanh, nhiều tiếng lời, nhiều quán sát, khiến chúng sanh đều thấy biết khác nhau.

Chư Phật tử! Ðức Như Lai ở trong tứ châu thiên hạ nầy, hoặc hiệu Nhứt Thiết Nghĩa Thành, hoặc hiệu Viên Mãn Nguyệt, hoặc hiệu Sư Tử Hống, hoặc hiệu Thích Ca Mâu Ni, hoặc hiệu Ðệ Thất Tiên, hoặc hiệu Tỳ Lô Giá Na, hoặc hiệu Cù Ðàm Thị, hoặc hiệu Ðại Sa Môn, hoặc hiệu Tối Thắng, hoặc hiệu Ðạo Sư, có mười ngàn hiệu như vậy khiến chúng sanh thấy biết riêng khác.

Chư Phật tử! Phương đông của tứ thiên hạ nầy, có thế giới tên Thiện Hộ. Ðức Như Lai ở tại thế giới đó, hoặc hiệu Kim Cang, hoặc hiệu Tự Tại, hoặc hiệu Hữu Trí Huệ, hoặc hiệu Nan Thắng, hoặc hiệu Vân Vương, hoặc hiệu Vô Tránh, hoặc hiệu Năng Vi Chủ, hoặc hiệu Tâm Hoan Hỷ, hoặc hiệu Vô Dữ Ðẳng, hoặc hiệu Ðoạn Ngôn Luận, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết riêng khác.

Chư Phật tử! Phương nam của tứ thiên hạ nầy, có thế giới tên Nan Nhẫn. Đức Như Lai ở thế giới đó hoặc tên Ðế Thích, hoặc hiệu Bửu Xưng, hoặc hiệu Ly Cấu, hoặc hiệu Thiệt Ngữ, hoặc hiệu Năng Ðiều Phục, hoặc hiệu Cụ Túc Hỷ, hoặc hiệu Ðại Danh Xưng, hoặc hiệu Năng Lợi Ích, hoặc hiệu Vô Biên, hoặc hiệu Tối Thắng, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết riêng khác.

Chư Phật tử! Phương tây của tứ thiên hạ nầy, có thế giới tên Thân Huệ. Ðức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu Thủy Thiên, hoặc hiệu Hỷ Kiến, hoặc hiệu Tối Thắng Vương, hoặc hiệu Điều Phục Thiên, hoặc hiệu Chơn Thiệt Huệ, hoặc hiệu Ðáo Cứu Cánh, hoặc hiệu Hoan Hỷ, hoặc hiệu Pháp Huệ, hoặc hiệu Sở Tác Dĩ Biện, hoặc hiệu Thiện Trụ, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.

Chư Phật tử! Phương bắc của tứ thiên hạ nầy có thế giới tên Hữu Sư Tử. Ðức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu Ðại Mâu Ni, hoặc hiệu Khổ Hạnh, hoặc hiệu Thế Sở Tôn, hoặc hiệu Tối Thắng Ðiền, hoặc hiệu Nhứt Thiết Trí, hoặc hiệu Thiện Ý, hoặc hiệu Thanh Tịnh, hoặc hiệu Kề La Bạt Na, hoặc hiệu Tối Thượng Thí, hoặc hiệu Khổ Hạnh Ðắc, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.

Chư Phật tử! Phương đông bắc của tứ thiên hạ nầy có thế giới tên Diệu Quán Sát. Ðức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu Ðiều Phục Ma, hoặc hiệu Thành Tựu, hoặc hiệu Tức Diệt, hoặc hiệu Hiền Thiên, hoặc hiệu Ly Tham, hoặc hiệu Thắng Huệ, hoặc hiệu Tâm Bình Ðẳng, hoặc hiệu Vô Năng Thắng, hoặc hiệu Trí Huệ Âm, hoặc hiệu Nan Xuất Hiện, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.

Chư Phật tử! Phương đông nam của tứ thiên hạ nầy có thế giới tên Hỷ Lạc. Ðức Như Lai ở thế giới đó, hoặc hiệu Cực Oai Nghiêm, hoặc hiệu Quang Diệm Tụ, hoặc hiệu Biến Tri, hoặc hiệu Bí Mật, hoặc hiệu Giải Thoát, hoặc hiệu Tánh An Trụ, hoặc hiệu Như Pháp Hành, hoặc hiệu Tịnh Nhãn Vương, hoặc hiệu Ðại Dũng Kiện, hoặc hiệu Tinh Tấn Lực, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.

Chư Phật tử! Phương tây nam của tứ thiên hạ nầy có thế giới tên Thậm Kiên Lao. Ðức Như Lai ở thế giới đó hoặc hiệu An Trụ, hoặc hiệu Trí Vương, hoặc hiệu Viên Mãn, hoặc hiệu Bất Ðộng, hoặc hiệu Diệu Nhãn, hoặc hiệu Ðảnh Vương, hoặc hiệu Tự Tại Âm, hoặc hiệu Nhứt Thiết Thí, hoặc hiệu Trì Chúng Tiên, hoặc hiệu Thắng Tu Di, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.

Chư Phật tử! Phương tây bắc của tứ thiên hạ nầy có thế giới tên Diệu Ðịa. Ðức Như Lai ở đó hoặc hiệu Phổ Biến, hoặc hiệu Quang Diệm, hoặc hiệu Ma Ni Kế, hoặc hiệu Khả Ức Niệm, hoặc hiệu Vô Thượng Nghĩa, hoặc hiệu Thường Hỷ Lạc, hoặc hiệu Tánh Thanh Tịnh, hoặc hiệu Viên Mãn Quang, hoặc hiệu Tu Tý, hoặc hiệu Trụ Bổn, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Hạ phương của tứ thiên hạ nầy có thế giới tên Diệm Huệ. Ðức Như Lai ở đó hoặc hiệu là Tập Thiện Căn, hoặc hiệu Sư Tử Tướng, hoặc hiệu Mãnh Lợi Huệ, hoặc hiệu Kim Sắc Diệm, hoặc hiệu Nhứt Thiết Tri Thức, hoặc hiệu Cứu Cánh Âm, hoặc hiệu Tác Lợi Ích, hoặc hiệu Ðáo Cứu Cánh, hoặc hiệu Chơn Thiệt Thiên, hoặc hiệu Phổ Biến Thắng, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết khác nhau.

Chư Phật tử! Thượng phương của tứ thiên hạ nầy có thế giới tên Trì Ðịa. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Hữu Trí Huệ, hoặc hiệu Thanh Tịnh Diện, hoặc hiệu Giác Huệ, hoặc hiệu Thượng Thủ, hoặc hiệu Hạnh Trang Nghiêm, hoặc hiệu Phát Hoan Hỷ, hoặc hiệu Ý Thành Mãn, hoặc hiệu Như Thạnh Hỏa, hoặc hiệu Trì Giới, hoặc hiệu Nhứt Ðạo, có mười ngàn hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Cõi Ta Bà nầy có trăm ức tứ châu thiên hạ. Ðức Như Lai ở đây có tất cả trăm vạn ức danh hiệu, khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương đông của cõi Ta Bà nầy, có thế giới tên Mật Huấn. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Bình Ðẳng, hoặc hiệu Thù Thắng, hoặc hiệu An Úy, hoặc hiệu Khai Hiểu Ý, hoặc hiệu Văn Huệ, hoặc hiệu Chơn Thiệt Ngữ, hoặc hiệu Ðắc Tự Tại, hoặc hiệu Tối Thắng Thân, hoặc hiệu Ðại Dũng Mãnh, hoặc hiệu Vô Ðẳng Trí, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương nam của cõi Ta Bà nầy có thế giới tên Phong Dật. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Bổn Tánh, hoặc hiệu Cần Ý, hoặc hiệu Vô Thượng Tôn, hoặc hiệu Ðại Trí Cự, hoặc hiệu Vô Sở Y, hoặc hiệu Quang Minh Tạng, hoặc hiệu Trí Huệ Tạng, hoặc hiệu Phước Ðức Tạng, hoặc hiệu Thiên Trung Thiên, hoặc hiệu Ðại Tự Tại, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương tây của cõi Ta Bà nầy có thế giới tên Ly Cấu. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Ý Thành, hoặc hiệu Tri Ðạo, hoặc hiệu An Trụ Bổn, hoặc hiệu Năng Giải Phược, hoặc hiệu Thông Ðạt Nghĩa, hoặc hiệu Nhạo Phân Biệt, hoặc hiệu Tối Thắng Kiến, hoặc hiệu Ðiều Phục Hạnh, hoặc hiệu Chúng Khổ Hạnh, hoặc hiệu Cụ Túc Lực, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương bắc của cõi Ta Bà nầy, có thế giới tên Phong Lạc. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Chiêm Bặc Hoa Sắc, hoặc hiệu Nhựt Tạng, hoặc hiệu Thiện Trụ, hoặc hiệu Hiện Thần Thông, hoặc hiệu Tánh Siêu Mại, hoặc hiệu Huệ Nhựt, hoặc hiệu Vô Ngại, hoặc hiệu Như Nguyệt Hiện, hoặc hiệu Tấn Tật Phong, hoặc hiệu Thanh Tịnh Thân, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương đông bắc của cõi Ta Bà
nầy, có thế giới tên Nhiếp Thủ. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Vĩnh Ly Khổ, hoặc hiệu Phổ Giải Thoát, hoặc hiệu Ly Thế Gian, hoặc hiệu Vô Ngại Ðịa, hoặc hiệu Ðại Phục Tạng, hoặc hiệu Giải Thoát Trí, hoặc hiệu Quá Khứ Tạng, hoặc hiệu Bửu Quang Minh, hoặc hiệu Tịnh Tín Tạng, hoặc hiệu Tâm Bất Ðộng, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương đông nam của cõi Ta Bà nầy có thế giới tên Nhiêu Ích. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Hiện Quang Minh, hoặc hiệu Tận Trí, hoặc hiệu Mỹ Âm, hoặc hiệu Thắng Căn, hoặc hiệu Trang Nghiêm Cái, hoặc hiệu Tinh Tấn Căn, hoặc hiệu Ðáo Phân Biệt Bỉ Ngạn, hoặc hiệu Thắng Ðịnh, hoặc hiệu Giản Ngôn Từ, hoặc hiệu Trí Huệ Hải, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương tây nam của cõi Ta Bà nầy, có thế giới tên Tiển Thiểu. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Mâu Ni Chủ, hoặc hiệu Cụ Chúng Bửu, hoặc hiệu Thế Giải Thoát, hoặc hiệu Biến Tri Căn, hoặc hiệu Thắng Ngôn Từ, hoặc hiệu Minh Liễu Kiến, hoặc hiệu Căn Tự Tại, hoặc hiệu Ðại Tiên Sư, hoặc hiệu Khai Ðạo Nghiệp, hoặc hiệu Kim Cang Sư Tử, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Phương tây bắc của thế giới Ta Bà nầy, có thế giới tên Hoan Hỷ. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Diệu Hoa Tụ, hoặc hiệu Chiên Ðàn Cái, hoặc hiệu Liên Hoa Tạng, hoặc hiệu Siêu Việt Chư Pháp, hoặc hiệu Pháp Bửu, hoặc hiệu Phục Xuất Sanh, hoặc hiệu Tịnh Diệu Cái, hoặc hiệu Quảng Ðại Nhãn, hoặc hiệu Hữu Thiện Pháp, hoặc hiệu Chuyên Niệm Pháp, hoặc hiệu Võng Tạng, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Hạ phương của cõi Ta Bà nầy, có thế giới tên Quan Thược. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Phát Khởi Diệm, hoặc hiệu Ðiều Phục Ðộc, hoặc hiệu Ðế Thích Cung, hoặc hiệu Vô Thường Sở, hoặc hiệu Giác Ngộ Bổn, hoặc hiệu Ðoạn Tăng Trưởng, hoặc hiệu Ðại Tốc Tật, hoặc hiệu Thường Lạc Thí, hoặc hiệu Phân Biệt Ðạo, hoặc hiệu Tồi Phục Tràng, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Thượng phương của cõi Ta Bà nầy, có thế giới tên Chấn Âm. Ðức Như Lai ở đó, hoặc hiệu Dũng Mãnh Tràng, hoặc hiệu Vô Lượng Bửu, hoặc hiệu Lạc Ðại Thí, hoặc hiệu Thiên Quang, hoặc hiệu Cát Hưng, hoặc hiệu Siêu Cảnh Giới, hoặc hiệu Nhứt Thiết Chủ, hoặc hiệu Bất Thối Luân, hoặc hiệu Ly Chúng Ác, hoặc hiệu Nhứt Thiết Trí, có trăm vạn ức hiệu như vậy khiến các chúng sanh thấy biết sai khác.

Chư Phật tử! Mười phương quanh cõi Ta Bà nầy, mỗi phương đều có trăm ngàn ức vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết thế giới, tận pháp giới, hư không giới, trong đó danh hiệu của Như Lai đều không đồng.

Như thuở xa xưa, lúc đức Như Lai còn là Bồ tát, do nhiều thứ đàm luận, nhiều thứ ngôn ngữ, nhiều thứ âm thanh, nhiều thứ nghiệp, nhiều thứ báo, nhiều thứ xứ sở, nhiều thứ phương tiện, nhiều thứ căn, nhiều thứ tín giải, nhiều thứ địa vị mà được thành thục, cũng khiến các chúng sanh thấy biết như vậy nên vì họ thuyết pháp.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM TỨ THÁNH ĐẾ

THỨ TÁM

Lúc bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi đại Bồ tát bảo chư Bồ tát rằng:

Chư Phật tử! Khổ Thánh đế, trong cõi Ta Bà nầy, hoặc gọi là tội, là bức ngặt, là biến dị, là phan duyên, là nhóm, là đâm, là căn tựa, là hư dối, là chỗ nhọt ghẻ, là kẻ ngu si.

Chư Phật tử! Khổ-tập Thánh đế, cõi Ta Bà nầy, hoặc gọi là trói buộc, là diệt hoại, là ái trước, là vọng niệm, là thú nhập, là quyết định, là lưới, là hý luận, là tùy hành, là gốc điên đảo.

Chư Phật tử! Khổ-diệt Thánh đế, cõi Ta Bà nầy, hoặc gọi là vô tránh, là ly trần, là tịch tịnh, là vô tướng, là vô một, là vô tự tánh, là vô chướng ngại, là diệt, là thể chơn thiệt, là trụ tự tánh.

Chư Phật tử! Khổ-diệt-đạo Thánh đế, cõi Ta Bà nầy, hoặc gọi là Nhứt thừa, là thú tịch, là đạo dẫn, là cứu cánh vô phân biệt, là bình đẳng, là xả đảm, là vô sở thú, là tùy thánh ý, là tiên nhơn hành, là thập tạng.

Chư Phật tử! Nơi cõi Ta Bà nầy, nói về Tứ Thánh đế có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, theo tâm ý của chúng sanh khiến họ được điều phục.

Chư Phật tử! Như cõi Ta Bà nầy nói về Khổ Thánh đế, trong thế giới Mật Huấn hoặc gọi là doanh cầu căn, là bất xuất ly, là hệ phược bổn, là làm điều không nên làm, là khắp tranh đấu, là phân tích đều vô lực, là chỗ để tựa, là cực khổ, là tháo động, là hình trạng vật.

Chư Phật tử! Về Khổ-tập Thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là thuận sanh tử, là nhiễm trước, là đốt cháy, là lưu chuyển, là gốc bại hoại, là mối hữu lậu, là ác hạnh, là ái trước, là nguồn bịnh, là phân số.

Chư Phật tử! Về Khổ-diệt Thánh đế, trong thế giới Mật Huấn, hoặc gọi là đệ nhứt nghĩa, là xuất ly, là tán thán, là an ổn, là thiện thú nhập, là điều phục, là nhứt phần, là vô tội, là ly tham, là quyết định.

Chư Phật tử! Về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, trong thế giới Mật Huấn hoặc gọi là mãnh tướng, là thượng hạnh, là siêu xuất, là hữu phương tiện, là bình đẳng nhãn, là ly biên, là liễu ngộ, là nhiếp thủ, là tối thắng nhãn, là quán phương.

Chư Phật tử! Về Tứ Thánh đế, ở thế giới Mật Huấn có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh để khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Về Khổ Thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là khủng bố, là phần đoạn, là khả yểm ố, là phải thừa sự, là biến dị, là chiêu dẫn oán, là hay khi đoạt, là khó cộng sự, là vọng phân biệt, là có thế lực.

Chư Phật tử! Về Khổ-tập Thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là bại hoại, là si căn, là đại oán, là dao bén, là dứt mùi vị, là cừu thù, là chẳng phải vật của mình, là ác đạo dẫn, là thêm đen tối, là hư lợi lành.

Chư Phật tử! Về Khổ-diệt Thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là đại nghĩa, là nhiêu ích, là nghĩa trung nghĩa, là vô lượng, là chỗ phải thấy, là ly phân biệt, là tối thượng điều phục, là thường bình đẳng, là khả đồng trụ, là vô vi.

Chư Phật tử! Về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, ở thế giới Tối Thắng, hoặc gọi là hay đốt cháy, là tối thượng phẩm, là quyết định, là vô năng phá, là thâm phương tiện, là xuất ly, là bất hạ liệt, là thông đạt, là giải thoát tánh, là năng độ thoát.

Chư Phật tử! Ở thế giới Tối Thắng, về Tứ Thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về Khổ Thánh đế, hoặc gọi là hối hận, là tư đãi, là triển chuyển, là trụ thành, là nhứt vị, là phi pháp, là cư trạch, là chỗ vọng trước, là thấy hư vọng, là không có số.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là vật không thiệt, là chỉ có lời nói, là chẳng trong trắng, là sanh địa, là chấp thủ, là bỉ tiện, là tăng trưởng, là gánh nặng, là hay sanh, là thô rắn.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là vô đẳng đẳng, là khắp trừ sạch, là ly cấu, là tối thắng căn, là xưng hội, là không tư đãi, là diệt hoặc, là tối thượng, là tất cánh, là phá noãn.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là vật kiên cố, là phương tiện phần, là giải thoát bổn, là bổn tánh thiệt, là chẳng thể chê mắng, là rất thanh tịnh, là mé hữu lậu, là toàn nhận gởi, là làm rốt ráo, là tịnh phân biệt.

Chư Phật tử! Ở thế giới Ly Cấu, Tứ Thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở Phong Dật thế giới, về Khổ Thánh đế, hoặc gọi là chỗ ái nhiễm, là gốc hiểm hại, là phần biển hữu lậu, là chứa nhóm lên, là gốc sai biệt, là tăng trưởng, là sanh diệt, là chướng ngại, là cây dao gươm, là số làm thành.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là đáng ghét, là danh tự, là vô tận, là phân số, là chẳng đáng ưa, là hay chụp cắn, là vật thô bỉ, là ái trước, là khí cụ, là dao động.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là dứt tương tục, là khai hiển, là vô văn tự, là vô sở tu, là vô sở kiến, là vô sở tác, là tịch diệt, là đã đốt sạch, là xả trọng đảm, là đã trừ hoại.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là hạnh tịch diệt, là hạnh xuất ly, là siêng tu chứng, là đi an ổn, là vô lượng thọ, là khéo rõ biết, là đạo cứu cánh, là khó tu tập, là đến bờ kia, là vô năng thắng.

Chư Phật tử! Ở thế giới Phong Dật, về Tứ Thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về Khổ Thánh đế, hoặc gọi là hay cướp giựt, là bạn chẳng lành, là nhiều khủng bố, là những hý luận, là địa ngục tánh, là không thiệt nghĩa, là gánh tham dục, là gốc sâu nặng, là tùy tâm chuyển, là căn bổn trống rỗng.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là tham trước, là ác thành biện, là quá ác, là tốc tật, là hay chấp thủ, là tưởng, là có quả, là vô khả thuyết, là vô khả thủ, là lưu chuyển.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là bất thối chuyển, là ly ngôn thuyết, là vô tướng trạng, là khả hân lạc, là kiên cố, là thượng diệu, là ly si, là diệt tận, là viễn ác, là xuất ly.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiếp Thủ, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là ly ngôn, là vô tránh, là giáo đạo, là thiện hồi hướng, là đại thiện xảo, là sai biệt phương tiện, là như hư không, là tịch tịnh hạnh, là thắng trí, là năng liễu nghĩa.

Chư Phật tử! Về Tứ Thánh đế, ở Nhiếp Thủ
thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về Khổ Thánh đế, hoặc gọi là trọng đảm, là chẳng bền, là như giặc, là lão tử, là ái sở thành, là lưu chuyển, là mệt nhọc, là tướng trạng ác, là sanh trưởng, là dao bén.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là bại hoại, là hỗn trược, là thối thất, là vô lực, là táng thất, là quai vi, là bất hòa hợp, là sở tác, là thủ, là ý dục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là xuất ngục, là chơn thiệt, là ly nạn, là phúc hộ, là ly ác, là tùy thuận, là căn bổn, là xả nhơn, là vô vi, là không tương tục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Nhiêu Ích, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là đạt vô sở hữu, là nhứt thiết ấn, là tam muội tạng, là đắc quang minh, là bất thối pháp, là năng tận hữu, là quảng đại lộ, là năng điều phục, là hữu an ổn, là gốc bất lưu chuyển.

Chư Phật tử! Về Tứ Thánh đế, ở thế giới Nhiêu Ích, có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Tiển Thiểu, về Khổ
Thánh đế, hoặc gọi là hiểm lạc dục, là chỗ hệ phược, là tà hạnh, là tùy thọ, là vô tàm sĩ, là tham dục căn, là hằng hà lưu, là thường phá hoại, là tánh khói lửa, là nhiều ưu não.

Chư Phật tử! Ở thế giới Tiển Thiểu, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là quảng địa, là năng thú, là viễn huệ, là lưu nạn, là khủng bố, là phóng dật, là nhiếp thủ, là trước xứ, là trạch chủ, là liên phược.

Chư Phật tử! Ở Tiển Thiểu thế giới, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là sung mãn, là bất tử, là vô ngã, là tự tánh, là phân biệt tận, là an lạc trụ, là vô hạn lượng, là đoạn luân chuyển, là tuyệt hành xứ, là bất nhị.

Chư Phật tử! Ở Tiển Thiểu thế giới, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là đại quang minh, là diễn thuyết hải, là giản trạch nghĩa, là hòa hiệp pháp, là ly thủ trước, là đoạn tương tục, là quảng đại lộ, là bình đẳng nhơn, là tịnh phương tiện, là tối thắng kiến.

Chư Phật tử! Về Tứ Thánh đế, ở Tiển Thiểu thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỷ, về Khổ Thánh đế, hoặc gọi là lưu chuyển, là xuất sanh, là thất lợi, là nhiễm trước, là trọng đảm, là sai biệt, là nội hiểm, là tập hội, là ác xá trạch, là khổ não tánh.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỷ, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là địa, là phương tiện, là phi thời, là phi thiệt pháp, là vô để, là nhiếp thủ, là ly giới, là phiền não pháp, là hiếp liệt kiến, là cấu tụ.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỷ, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là phá y chỉ, là bất phóng dật, là chơn thiệt, là bình đẳng, là thiện tịnh, là vô bịnh, là vô khúc, là vô tướng, là tự tại, là vô sanh.

Chư Phật tử! Ở thế giới Hoan Hỷ, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là nhập thắng giới, là đoạn tập, là siêu đẳng loại, là quảng đại tánh, là phân biệt tận, là thần lực đạo, là chúng phương tiện, là chánh niệm hạnh, là thường tịch lộ, là nhiếp giải thoát.

Chư Phật tử! Về Tứ Thánh đế, ở Hoan Hỷ thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở Quan Thược thế giới, về Khổ Thánh đế, hoặc gọi là bại hoại tướng, là như phôi khí, là ngã sở thành, là chư thú thân, là sát lưu chuyển, là chúng ác môn, là tánh khổ, là khả khí xả, là vô vị, là lai khứ.

Chư Phật tử! Ở Quan Thược thế giới, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là hành, là phẩn độc, là hòa hiệp, là thọ chi, là ngã tâm, là tạp độc, là hư xưng, là quai vi, là nhiệt não, là kinh hãi.

Chư Phật tử! Ở Quan Thược thế giới, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là vô tích tập, là bất khả đắc, là diệu dược, là bất khả hoại, là vô trước, là vô lượng, là quảng đại, là giác phần, là ly nhiễm, là vô chướng ngại.

Chư Phật tử! Ở Quan Thược thế giới, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là an ổn hạnh, là ly dục, là cứu cánh thiệt, là nhập nghĩa, là tánh cứu cánh, là tịnh hiện, là nhiếp niệm, là thú giải thoát, là cứu tế, là thắng hạnh.

Chư Phật tử! Về Tứ Thánh đế, ở Quan Thược thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về Khổ Thánh đế, hoặc gọi là giấu lỗi, là thế gian, là sở y, là ngạo mạn, là tánh nhiễm trước, là dòng chảy mau, là chẳng vui được, là che giấu, là mau diệt, là khó điều.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về Khổ-tập Thánh đế, hoặc gọi là cần chế phục, là tâm thú, là năng phược, là tùy niệm khởi, là đến hậu biên, là cộng hòa hiệp, là phân biệt, là môn, là phiêu động, là ẩn che.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về Khổ-diệt Thánh đế, hoặc gọi là vô y xứ, là bất khả thủ, là chuyển huờn, là ly tránh, là tiểu, là đại, là thiện tịnh, là vô tận, là quảng bác, là vô đẳng giá.

Chư Phật tử! Ở Chấn Âm thế giới, về Khổ-diệt-đạo Thánh đế, hoặc gọi là quán sát, là năng tồi địch, là liễu tri ấn, là năng nhập tánh, là nan địch đối, là vô hạn nghĩa, là năng nhập trí, là hòa hiệp đạo, là hằng bất động, là thù thắng nghĩa.

Chư Phật tử! Về Tứ Thánh đế, ở Chấn Âm thế giới có bốn trăm ức mười ngàn danh từ như vậy, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ điều phục.

Chư Phật tử! Như cõi Ta Bà nầy nói Tứ Thánh đế, có bốn trăm ức mười ngàn danh hiệu. Cũng vậy, mười phương tất cả vô lượng, vô biên, bất khả thuyết thế giới, tận pháp giới hư không giới, trong mỗi thế giới nói Tứ Thánh đế đều có bốn trăm ức mười ngàn danh từ, tùy tâm ý của chúng sanh khiến họ được điều phục.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM QUANG MINH GIÁC

THỨ CHÍN

*Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn từ dưới lòng hai bàn chân, phóng ra trăm ức tia sáng chiếu khắp Đại thiên thế giới: trăm ức Diêm Phù Đề, trăm ức Phất Bà Đề, trăm ức Cù Gia Ni, trăm ức Uất Đơn Việt, trăm ức đại hải, trăm ức Luân Vi Sơn, trăm ức Bồ tát thọ sanh, trăm ức Bồ tát xuất gia, trăm ức Như Lai thành Chánh giác, trăm ức Như Lai chuyển pháp luân, trăm ức Như Lai nhập Niết bàn, trăm ức Tu Di Sơn, trăm ức Tứ Vương Thiên, trăm ức Ðao Lợi Thiên, trăm ức Dạ Ma Thiên, trăm ức Ðâu Suất Thiên, trăm ức Hóa Lạc Thiên, trăm ức Tha Hóa Thiên, trăm ức Sơ Thiền Thiên, trăm ức Nhị Thiền Thiên, trăm ức Tam Thiền Thiên, trăm ức Tứ Thiền Thiên, nhẫn đến trăm ức Sắc Cứu Cánh Thiên. Tất cả vật cảnh trong Đại thiên thế giới đều được quang minh của Thế Tôn soi sáng hiển hiện cả.

Như nơi đây hiện thấy đức Thế Tôn ngồi tòa liên hoa tạng sư tử, mười Phật sát vi trần số Bồ tát vây quanh. Trong trăm ức Diêm Phù Đề khác, cũng đều có Như Lai an tọa như thế cả.

Do thần lực của Phật, trong mười phương, mỗi phương đều có một đại Bồ tát cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội đến chỗ đức Phật ngự: đông phương Kim Sắc thế giới có Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, nam phương Diệu Sắc thế giới có Giác Thủ Bồ tát, tây phương Liên Hoa Sắc thế giới có Tài Thủ Bồ tát, bắc phương Chiêm Bặc Hoa Sắc thế giới có Bửu Thủ Bồ tát, đông bắc phương Ưu Bát La Hoa Sắc thế giới có Bồ tát Công Ðức Thủ, đông nam phương Kim Sắc thế giới có Mục Thủ Bồ tát, tây nam phương Bửu Sắc thế giới có Tinh Tấn Thủ Bồ tát, tây bắc phương Kim Cang Sắc thế giới có Pháp Thủ Bồ tát, hạ phương Pha Lê Sắc thế giới có Trí Thủ Bồ tát, thượng phương Bình Ðẳng Sắc thế giới có Hiền Thủ Bồ tát.

Lúc đó, trong tất cả trăm ức đạo tràng, nơi chư Phật ngự, trăm ức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đồng thời ứng thanh nói kệ rằng:

Nếu có ai thấy Phật

Giải thoát lìa hữu lậu

Chẳng tham trước thế gian

Người nầy chẳng chứng đạo.

Nếu ai biết Như Lai

Thể tướng vô sở hữu

Tu tập được rõ ràng

Người nầy mau thành Phật.

Nếu thấy thế giới nầy

Tâm được chẳng dao động

Với Phật thân cũng vậy

Sẽ thành bực Thắng trí.

Nếu với Phật cùng pháp

Ðược tâm trọn bình đẳng

Chẳng móng khởi nhị niệm

Sẽ lên bực Nan tư.

Nếu thấy Phật và thân

Bình đẳng mà an trụ

Vô trụ, vô sở nhập

Sẽ thành bực Nan ngộ.

Sắc, thọ không có số

Tưởng, hành, thức cũng vậy

Nếu biết được như đây

Sẽ làm đại Mâu Ni.

Kiến chấp thế, xuất thế

Tất cả đều vượt khỏi

Mà hay khéo biết pháp

Sẽ thành bực Ðại quang.

Nếu nơi đấng Toàn Trí

Phát sanh tâm hồi hướng

Thấy tâm không chỗ sanh

Sẽ được bực Hồng danh.

Chúng sanh không có sanh

Cũng lại không có hoại

Nếu được trí như vậy

Sẽ thành Vô thượng đạo.

Trong một: hiểu vô lượng

Trong vô lượng: hiểu một

Rõ kia sanh lẫn nhau

Sẽ thành vô sở úy.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu ra ngoài thế giới nầy suốt đến mười phương, mỗi phương đều chiếu mười quốc độ. Trong những cõi đó, tất cả vật cảnh từ Diêm Phù Đề đến Sắc Cứu Cánh Thiên đều được chói sáng và đều có đức Phật ngự trên tòa sư tử như ở cõi nầy.

Do thần lực của đức Phật, mười phương đều có một đại Bồ tát cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội đến chỗ Phật, cũng chánh là Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v...

Bấy giờ, ở trước mỗi Như Lai, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đồng thời ứng thanh nói kệ rằng:

Chúng sanh không trí huệ

Bị gai độc tham ái

Vì cứu họ nên Phật

Cầu Bồ đề Vô thượng.

Thấy khắp nơi các pháp

Ðều xa rời hai bên

Ðạo thành trọn chẳng thối

Chuyển pháp luân vô đẳng.

Bất khả tư nghì kiếp

Tinh tấn tu các hạnh

Vì độ các chúng sanh

Là nguyện lực của Phật.

Ðạo sư hàng quân ma

Dũng kiện không ai hơn

Quang minh diễn diệu nghĩa

Từ bi nên như vậy.

Dùng tâm trí huệ kia

Phá các chướng phiền não

Một niệm thấy tất cả

Là thần lực của Phật.

Ðánh trống lớn chánh pháp

Giác ngộ mười phương cõi

Ðều khiến đến Bồ đề

Sức tự tại như vậy.

Chẳng hoại vô biên cảnh

Mà đi ức cõi nước

Với cõi không trệ trước

Kia tự tại như Phật.

Chư Phật như hư không

Rốt ráo thường thanh tịnh

Nghĩ nhớ lòng hoan hỷ

Kia các nguyện đầy đủ.

Trong mỗi mỗi địa ngục

Trải qua vô lượng kiếp

Vì cứu độ chúng sanh

Mà nhẫn được khổ nầy.

Chẳng tiếc nơi thân mạng

Thường hộ các Phật pháp

Vô ngã tâm điều nhu

Hay được đạo Như Lai.

Lúc đó, quang minh của đức Phật chiếu quá mười phương thế giới, rồi chiếu suốt trăm thế giới ở mỗi phương trong mười phương. Nơi các thế giới ấy đều có Như Lai ngự tòa sư tử như ở tại đây và do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ tát, tức là Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v... cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng đến chỗ Phật.

Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đồng ứng thanh nói kệ rằng:

Phật rõ pháp như huyễn

Thông đạt không chướng ngại

Tâm tịnh lìa tham chấp

Ðiều phục các chúng sanh.

Hoặc có thấy sơ sanh

Sắc đẹp như núi vàng

Trụ thân tối hậu nầy

Làm mặt nguyệt nhơn loại

Hoặc thấy Phật kinh hành

Ðủ vô lượng công đức

Niệm huệ đều thiện xảo

Bước đi đại sư tử.

Hoặc thấy mắt xanh biếc

Quan sát khắp mười phương

Có lúc hiện vui cười

Vì thuận lòng quần chúng.

Hoặc thấy sư tử hống

Thân thù thắng vô tỷ

Thị hiện tối hậu sanh

Nói lời đều chơn thiệt.

Hoặc có thấy xuất gia

Giải thoát những hệ phược

Tu tập hạnh chư Phật

Thường thích quán tịch diệt.

Hoặc thấy ngồi đạo tràng

Rõ biết tất cả pháp

Ðến bờ công đức kia

Phiền não si đã hết.

Hoặc thấy thắng trượng phu

Ðầy đủ tâm đại bi

Chuyển pháp luân vi diệu

Ðộ vô lượng chúng sanh.

Hoặc thấy sư tử hống

Oai quang rất thù đặc

Siêu tất cả thế gian

Thần thông lực vô đẳng

Hoặc thấy tâm tịch tịnh

Như ngọn đèn tắt hẳn

Hiện các loại thần thông

Ðấng Thập Lực như vậy.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu khỏi trăm thế giới, suốt đến khắp ngàn thế giới ở mỗi phương trong mười phương. Nơi mười phương thế giới nầy cũng đều có đức Phật ngự đạo tràng giữa chúng hội mười Phật sát vi trần số Bồ tát.

Do thần lực của đức Phật, mỗi phương trong mười phương đều có một đại Bồ tát, chính là Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v... cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.

Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đồng ứng thanh nói kệ rằng:

Phật nơi pháp thậm thâm

Thông đạt không ai sánh

Chúng sanh không thấy được

Phật tuần tự khai thị.

Ngã tánh chưa từng có

Ngã sở cũng không tịch

Cớ sao chư Như Lai

Lại được có thân thể.

Ðấng giải thoát Minh Hạnh

Vô số, vô đẳng luân

Các nhơn lượng thế gian

Tìm lỗi không thể được.

Phật chẳng phải những loại

Uẩn, xứ, giới, sanh tử

Số pháp vẫn không thành

Nên hiệu bực Nhơn Sư.

Tánh Phật vốn không tịch

Trong ngoài đều giải thoát

Rời tất cả vọng niệm

Pháp vô đẳng như vậy.

Thể tánh thường bất động

Không ngã, không đến đi

Mà hay giác ngộ đời

Vô biên đều điều phục.

Thường thích quán tịch diệt

Một tướng không có hai

Tâm Phật không tăng giảm

Hiện vô lượng thần lực.

Chẳng làm hạnh nghiệp báo

Nhơn duyên của chúng sanh

Mà rõ thấu vô ngại

Ðấng Thiện Thệ như vậy.

Tất cả loài chúng sanh

Lưu chuyển trong mười phương

Như Lai không phân biệt

Ðộ thoát vô biên loại.

Chư Phật thân kim sắc

Chẳng cõi khắp các cõi

Tùy chúng sanh sở thích

Diễn thuyết pháp tịch diệt.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá ngàn thế giới, suốt khắp mười ngàn thế giới, ở mỗi phương trong mười phương. Nơi những thế giới nầy cũng đều có đức Phật ngự nơi đạo tràng giữa chúng hội mười Phật sát vi trần số Bồ tát.

Do thần lực của Phật, mỗi phương trong mười phương đều có một đại Bồ tát, chánh là Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v… cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát, đồng câu hội đến chỗ đức Phật ngự.

Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đồng ứng thanh nói kệ rằng:

Phát khởi tâm đại bi

Cứu hộ các chúng sanh

Thoát hẳn chúng Nhơn Thiên

Nên làm việc như vậy.

Lòng thường tin ưa Phật

Tâm đó không thối chuyển

Gần gũi chư Như Lai

Nên làm việc như vậy.

Chí thích công đức Phật

Tâm đó trọn không thối

Trụ nơi huệ thanh lương

Nên làm việc như vậy.

Trong tất cả oai nghi

Thường nhớ công đức Phật

Ngày đêm không tạm dứt

Việc như vậy nên làm.

Quán tam thế vô biên

Học công đức của Phật

Thường không lòng nhàm mỏi

Việc như vậy nên làm.

Quán thân như thiệt tướng

Tất cả đều tịch diệt

Lìa ngã, không chấp ngã

Việc như vậy nên làm.

Bình đẳng quán chúng sanh

Chẳng móng niệm phân biệt

Vào nơi cảnh chơn thiệt

Việc như vậy nên làm.

Bưng cả vô biên cõi

Uống hết tất cả biển

Thần thông đại trí lực

Việc như vậy nên làm.

Tư duy các quốc độ

Tướng sắc và phi sắc

Ðều biết được tất cả

Việc như vậy nên làm.

Vi trần mười phương cõi

Một trần là một Phật

Ðều biết được số đó

Việc như vậy nên làm.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá mười ngàn thế giới, suốt khắp đến trăm ngàn thế giới, ở mỗi phương trong mười phương. Nơi đó đều có đức Phật ngự giữa đạo tràng chúng hội mười Phật sát vi trần số Bồ tát.

Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v... cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội đến chỗ Phật.

Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đồng ứng thanh nói kệ rằng:

Nếu dùng oai đức, sắc, chủng tộc

Ðể thấy đấng Ðiều Ngự trong đời

Ðây là mắt bịnh thấy điên đảo

Người nầy chẳng biết pháp tối thắng.

Như Lai sắc, hình những tướng tốt

Tất cả thế gian chẳng lường được

Ức na do kiếp đồng nghĩ lường

Sắc tướng, oai đức chuyển vô biên.

Như Lai chẳng lấy tướng làm thể

Chính là pháp tịch diệt vô tướng

Thân tướng oai nghi đều đầy đủ

Thế gian tùy thích đều được thấy.

Phật pháp vi diệu khó lường được

Tất cả ngôn thuyết chẳng đến được

Chẳng phải hòa hiệp, bất hòa hiệp

Thể tánh tịch diệt không các tướng.

Phật thân vô sanh ngoài hý luận

Chẳng phải uẩn tụ, pháp sai biệt

Ðược sức tự tại thấy quyết định

Sở hành vô úy lìa ngôn thuyết.

Thân tâm đều bình đẳng

Trong ngoài đều giải thoát

Nhiều kiếp trụ chánh niệm

Vô trước, không hệ phược.

Bực tâm sạch sáng suốt

Sở hành không nhiễm trước

Trí nhãn đều cùng khắp

Rộng lớn lợi chúng sanh.

Một thân là vô lượng

Vô lượng lại là một

Rõ biết các thế gian

Hiện hình khắp tất cả.

Thân nầy không từ đâu

Cũng không nơi tích tụ

Vì chúng sanh phân biệt

Thấy Phật có nhiều thân.

Tâm phân biệt thế gian

Tâm nầy vô sở hữu

Như Lai biết pháp nầy

Thấy thân Phật như vậy.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Thế Tôn chiếu quá trăm ngàn thế giới, suốt đến trăm vạn thế giới, ở mỗi phương trong mười phương. Nơi đó đều có đức Phật ngự đạo tràng chúng hội mười Phật sát vi trần số Bồ tát.

Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v... cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.

Bấy giờ, trước mỗi đức Phật, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát đồng ứng thanh nói kệ rằng:

Như Lai rất tự tại

Siêu thế vô sở y

Ðủ tất cả công đức

Ðộ thoát nơi các cõi.

Không nhiễm cũng không trước

Vô tưởng, vô y chỉ

Thể tánh không thể lường

Ai thấy cũng ca ngợi.

Quang minh khắp thanh tịnh

Trần lụy đều rửa bỏ

Bất động lìa hai bên

Ðây là trí Như Lai.

Nếu ai thấy Như Lai

Thân tâm lìa phân biệt

Thì với tất cả pháp

Thoát hẳn những nghi trệ.

Trong tất cả thế gian

Nơi nơi chuyển pháp luân

Vô tánh, vô sở chuyển

Ðạo Sư phương tiện nói.

Nơi pháp không nghi lầm

Tuyệt hẳn những hý luận

Chẳng sanh tâm phân biệt

Là niệm Phật Bồ đề.

Rõ biết pháp sai biệt

Chẳng chấp trước ngôn thuyết

Chẳng có một cùng nhiều

Ðây là thuận lời Phật.

Trong nhiều không một tánh

Một cũng không có nhiều

Bỏ cả hai như vậy

Khắp vào Phật công đức.

Chúng sanh và quốc độ

Tất cả đều tịch diệt

Vô y, vô phân biệt

Vào được Phật Bồ đề.

Chúng sanh và quốc độ

Ðồng, dị đều chẳng được

Khéo quán sát như vậy

Là biết nghĩa Phật pháp.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá trăm vạn thế giới, suốt đến một ức thế giới, ở mỗi phương trong mười phương. Nơi đó đều có đức Phật ngự giữa chúng hội mười Phật sát vi trần số Bồ tát.

Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v... cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.

Bấy giờ Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ở trước mỗi đức Phật, đồng thời ứng thanh nói kệ rằng:

Trí huệ vô đẳng, pháp vô biên

Vượt biển hữu lậu đến bờ kia

Thọ lượng quang minh đều vô tỷ

Phương tiện lực của đấng Công Đức.

Bao nhiêu Phật pháp đều rõ ràng

Thường quán tam thế không nhàm mỏi

Dầu duyên cảnh giới không phân biệt

Ðây phương tiện của bực Nan tư.

Thích quán chúng sanh vốn vô sanh

Khắp thấy các loài vốn không loài

Hằng trụ thiền tịch chẳng hệ lụy

Ðây phương tiện của Vô ngại huệ.

Khéo léo thông đạt tất cả pháp

Chánh niệm siêng tu đạo Niết bàn

Thích nơi giải thoát lìa bất bình

Ðây phương tiện của bực Tịch diệt.

Hay khuyên người hướng Phật Bồ đề

Ðến Nhứt thiết trí như pháp giới

Khéo dạy chúng sanh vào đế lý

Ðây phương tiện người Trụ tâm Phật.

Phật chỗ thuyết pháp đều thuận vào

Trí huệ quảng đại không chướng ngại

Tất cả xứ hành đều bước lên

Phương tiện tu tập của Tự tại.

Hằng trụ Niết bàn như hư không

Tùy tâm hóa hiện đều cùng khắp

Ðây tựa vô tướng mà làm tướng

Phương tiện của bực Ðáo nan đáo.

Sáng tối ngày tháng và năm kiếp

Thế giới thỉ chung và thành hoại

Như vậy nhớ nghĩ đều rõ biết

Ðây sức phương tiện Thời số trí.

Tất cả chúng sanh có sanh diệt

Sắc, phi sắc cùng tưởng, phi tưởng

Bao nhiêu danh tự đều rõ biết

Ðây phương tiện của bực Nan tư.

Thời quá khứ, hiện tại, vị lai

Bao nhiêu ngôn thuyết đều rõ được

Mà biết ba thời đều bình đẳng

Ðây phương tiện của Vô tỷ giải.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá một ức thế giới, suốt khắp mười ức thế giới, ở mỗi phương trong mười phương. Nơi đó đều có đức Phật ngự giữa đạo tràng mười Phật sát vi trần số Bồ tát.

Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v... đều cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội nơi Phật ngự.

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, ở trước mỗi đức Phật, đồng ứng thanh nói kệ rằng:

Khổ hạnh lớn, khó đều tu tập

Ngày đêm tinh cần không nhàm trễ

Ðã độ khó độ sư tử hống

Ðộ khắp chúng sanh là hạnh Phật.

Chúng sanh lưu chuyển biển ái dục

Vô minh che đậy rất khổ ngặt

Chí nhơn dũng mãnh đều dứt trừ

Thệ nguyện như vậy là hạnh Phật.

Thế gian phóng dật say ngũ dục

Phân biệt sai lầm chịu những khổ

Phụng hành Phật giáo đều nhiếp tâm

Nguyện độ chúng sanh là hạnh Phật.

Chúng sanh chấp ngã vào sanh tử

Cầu tột mé kia không thể được

Khắp thờ chư Phật được diệu pháp

Vì họ giảng pháp là hạnh Phật.

Chúng sanh bơ vơ bịnh khổ vây

Thường trôi nẻo ác khởi ba độc

Ngọn lửa hừng lớn luôn đốt cháy

Tịnh tâm độ chúng là hạnh Phật.

Chúng sanh mê lầm mất chánh đạo

Thường đi đường tà vào nhà tối

Vì họ thắp sáng đèn chánh pháp

Luôn luôn soi sáng là hạnh Phật.

Chúng sanh trôi chìm biển hữu lậu

Khổ lo không bờ chẳng ở được

Vì họ sửa sang đại pháp thuyền

Ðều khiến thoát khổ là hạnh Phật.

Chúng sanh vô tri chẳng thấy cội

Mê lầm cuồng si trong hiểm nạn

Phật thương xót họ xây pháp kiều

Khiến trụ chánh niệm là hạnh Phật.

Thấy các chúng sanh ở đường hiểm

Khổ già bịnh chết luôn bức ngặt

Tu các phương tiện không hạn lượng

Thệ độ tất cả là hạnh Phật.

Nghe pháp tin hiểu không nghi lầm

Rõ tánh không tịch chẳng kinh sợ

Tùy hình lục đạo khắp mười phương

Cứu khắp quần mê là hạnh Phật.

Lúc bấy giờ, quang minh của đức Phật chiếu quá mười ức thế giới, suốt khắp đến trăm ức thế giới, ngàn ức, vạn ức, trăm ngàn ức, na do tha ức, trăm na do tha ức, ngàn na do tha ức, trăm ngàn na do tha ức, nhẫn đến vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận pháp giới, hư không giới, tất cả thế giới ở mười phương. Nơi mỗi thế giới từ Diêm Phù Đề đến Sắc Cứu Cánh Thiên, mọi vật cảnh đều được hiển hiện. Nơi mỗi Diêm Phù Đề đều có đức Phật ngự giữa đạo tràng mười Phật sát vi trần số Bồ tát.

Do thần lực của đức Phật, mỗi phương đều có một đại Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát v.v... đều cùng mười Phật sát vi trần số Bồ tát đồng câu hội đến chỗ Phật ngự.

Bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ở trước mỗi đức Phật, đều ứng thanh nói kệ rằng:

Một niệm quán khắp vô lượng kiếp

Vô khứ, vô lai cũng vô trụ

Như vậy rõ biết việc ba thời

Siêu xuất phương tiện thành thập lực.

Mười phương vô tỷ hồng danh tốt

Lìa hẳn các hạnh thường hoan hỷ

Khắp đến trong tất cả quốc độ

Vì người tuyên dương pháp như vậy.

Vì lợi chúng sanh cúng dường Phật

Ðúng ý nguyện được quả tương tợ

Với tất cả pháp đều thuận biết

Khắp trong mười phương hiện thần lực.

Tối sơ cúng Phật ý nhu nhẫn

Nhập đại thiền định quán pháp tánh

Khuyên khắp chúng sanh phát đạo tâm

Do đây mau thành quả Vô thượng.

Mười phương cầu pháp lòng không đổi

Vì tu công đức cho đầy đủ

Hai tướng có không đều dứt trừ

Người nầy thấy Phật đúng chơn thiệt.

Qua khắp các cõi nước mười phương

Nói rộng diệu pháp hưng lợi ích

Trụ nơi thiệt tế chẳng động dao

Công đức người nầy đồng với Phật.

Pháp luân vi diệu của Phật dạy

Tất cả đều là Bồ đề phần

Nếu được nghe rồi ngộ pháp tánh

Người như đây là thường thấy Phật.

Chẳng thấy thập lực không, như huyễn

Dầu thấy mà chẳng thấy, như lòa

Phân biệt chấp tướng chẳng thấy Phật

Rốt ráo lìa chấp mới thấy Phật.

Chúng sanh tùy nghiệp đều sai khác

Mười phương trong ngoài khó thấy hết

Thân Phật vô ngại khắp mười phương

Chẳng thể thấy hết cũng như vậy.

Như trong không giới vô lượng cõi

Không lai, không khứ khắp mười phương

Sanh thành diệt hoại vô sở y

Phật khắp hư không cũng như vậy.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM BỒ TÁT VẤN MINH

THỨ MƯỜI

Lúc bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Giác Thủ Bồ tát:

Phật tử! Tâm tánh vốn là một, sao lại thấy có các thứ sai khác? Những là:

Ðến đường lành nẻo dữ, căn thân có đủ có thiếu, thọ sanh đồng và khác, đẹp đẽ cùng xấu xí, nào vui nào khổ, nghiệp không biết tâm mà tâm cũng chẳng biết nghiệp, thọ không rõ báo mà báo cũng chẳng rõ thọ, tâm chẳng biết thọ mà thọ cũng không biết tâm, nhơn không biết duyên mà duyên cũng chẳng biết nhơn, trí chẳng biết cảnh mà cảnh cũng chẳng biết trí.

Giác Thủ Bồ tát nói kệ để đáp:

Nay Ngài hỏi nghĩa nầy

Vì hiểu ngộ quần mông

Cứ tánh kia, tôi đáp

Xin Ngài lóng nghe cho.

Các pháp không tác dụng

Cũng không có thể tánh

Vì thế nên các pháp

Ðều chẳng biết được nhau.

Ví như nước trong sông

Các dòng đua nhau chảy

Chúng đều chẳng biết nhau

Các pháp cũng như vậy.

Lại cũng như đống lửa

Ðồng thời phát ngọn to

Chúng đều chẳng biết nhau

Các pháp cũng như vậy.

Lại như gió lớn thổi

Xao động các cảnh vật

Chúng đều chẳng biết nhau

Các pháp cũng như vậy.

Lại như các địa giới

Xoay vần nương tựa nhau

Chúng đều chẳng biết nhau

Các pháp cũng như vậy.

Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân

Tâm ý sáu tình căn

Do đây thường lưu chuyển

Nhưng vẫn không năng chuyển.

Pháp tánh vốn vô sanh

Thị hiện mà có sanh

Trong đây không năng hiện

Cũng không vật sở hiện.

Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân

Tâm ý sáu tình căn

Tất cả rỗng vô tánh

Vọng phân biệt mà có.

Cứ đúng lý quán sát

Tất cả đều vô tánh

Pháp nhãn bất tư nghì

Ðây là thấy chơn thiệt.

Hoặc vọng hay chẳng vọng

Hoặc thiệt hoặc chẳng thiệt

Thế gian cùng xuất thế

Chỉ là giả ngôn thuyết.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Tài Thủ Bồ tát:

Phật tử! Ðức Như Lai tùy thời gian như thế
nào, cũng như tùy mạng sống, tùy thân thể, tùy hành vi, tùy hiểu biết, tùy ngôn luận, tùy sở thích, tùy phương tiện, tùy tư duy, tùy quan sát của chúng sanh như thế nào, mà hiện thân Phật để giáo hóa điều phục các chúng sanh ấy?

Tài Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Ðây là cảnh của bực

Ða Văn thích tịch diệt,

Nay tôi vì Ngài đáp

Xin Ngài chú ý nghe.

Phân biệt quán nội thân

Trong đây gì là ta?

Nếu hiểu được như vậy

Thời biết là ta không.

Thân nầy là giả tạo

Chỗ trụ không nơi chỗ

Người thiệt biết thân nầy

Trong đây không chấp trước.

Nơi thân khéo quan sát

Tất cả đều thấy rõ

Biết pháp đều hư vọng

Chẳng khởi tâm phân biệt.

Mạng sống nhơn gì có

Rồi nhơn gì tan mất

Khác nào vòng lửa xoay

Ðầu đuôi chẳng biết được.

Người trí hay quán sát

Có tướng đều vô thường

Các pháp không, vô ngã

Lìa hẳn tất cả tướng.

Các báo tùy nghiệp sanh

Giả dối như giấc mơ

Luôn luôn thường diệt hoại

Như trước sau cũng vậy.

Những pháp thấy ở đời

Chỉ do tâm làm chủ,

Tùy hiểu chấp lấy tướng

Ðiên đảo chẳng đúng thiệt.

Những ngôn luận trong đời

Ðều do phân biệt cả

Chưa từng có một pháp

Ðược vào nơi pháp tánh.

Sức năng duyên, sở duyên

Sanh ra những pháp tướng

Chóng diệt chẳng tạm dừng

Niệm niệm đều như vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Bửu Thủ Bồ tát:

Phật tử! Tất cả chúng sanh đồng có tứ đại, không ngã, không ngã sở, tại sao lại có những sự khác biệt như khổ vui, tốt xấu, ưa trong chuộng ngoài, thọ ít hưởng nhiều, hoặc hiện báo, hoặc hậu báo. Nhưng trong pháp giới vẫn không tốt xấu?

Bửu Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Cứ theo nghiệp đã tạo

Sanh quả báo như vậy

Ðều không có tác giả

Ðây là lời chư Phật.

Như mặt gương sáng sạch

Tùy theo cảnh đối tượng

Hiện bóng sai khác nhau

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Cũng như ruộng gieo giống

Chúng đều chẳng biết nhau

Tự nhiên mọc lên cây

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Như nhà ảo thuật giỏi

Ở tại ngã tư đường

Hiện ra những sắc tướng

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Như người gỗ, máy móc

Hay vang ra các tiếng

Nó không ngã, ngã sở

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Cũng như giống chim bay

Từ trứng nở sanh ra

Tiếng kêu không đồng nhau

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Ví như trong thai tạng

Căn thân đều thành tựu

Thể tướng không từ đâu

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Lại như ở địa ngục

Bao nhiêu là sự khổ

Kia đều không từ đâu

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Như vua Chuyển Luân Vương

Có đủ bảy thứ báu

Chỗ đến không từ đâu

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Lại như các thế giới

Lúc đại hỏa cháy tan

Lửa nầy không từ đâu

Nghiệp tánh cũng như vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Ðức Thủ Bồ tát:

Phật tử! Chỗ giác ngộ của đức Như Lai chỉ là một pháp duy nhứt, sao lại bảo là vô lượng pháp, hiện vô lượng cõi, hóa vô lượng chúng, diễn vô lượng âm, thị vô lượng thân, biết vô lượng tâm, hiện vô lượng thần thông, có thể chấn động khắp vô lượng thế giới, thị hiện vô lượng sự thù thắng trang nghiêm, hiển thị vô biên nhiều loại cảnh giới. Nhưng trong pháp tánh các tướng sai biệt nầy đều bất khả đắc.

Ðức Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Nghĩa của Phật tử hỏi

Rất sâu khó rõ được

Người trí biết nghĩa nầy

Thường chứa công đức Phật.

Như đất chỉ một tánh

Mọi loài ở riêng chỗ

Ðất không nghĩ đồng, khác

Pháp chư Phật như vậy.

Cũng như một đại hải

Ngàn vạn lượn sóng trào

Nước biển vẫn duy nhứt

Pháp chư Phật như vậy.

Cũng như gió một tánh

Thổi động tất cả vật

Gió không nghĩ đồng khác

Pháp chư Phật như vậy.

Cũng như mây sấm lớn

Mưa khắp cả mọi nơi

Nước mưa vẫn không khác

Pháp chư Phật như vậy.

Cũng như mặt đất kia

Mọc lên nhiều mầm mộng

Mặt đất chỉ là một

Pháp chư Phật như vậy.

Mặt nhựt không mây mờ

Chiếu sáng khắp mười phương

Quang minh không sai khác

Pháp chư Phật như vậy.

Như mặt nguyệt trên cao

Mọi nơi đều nhìn thấy

Mặt nguyệt vẫn một chỗ

Pháp chư Phật như vậy.

Ví như Ðại Phạm Vương

Ứng hiện khắp Đại thiên

Thân Ngài vẫn không khác

Pháp chư Phật như vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Mục Thủ Bồ tát:

Phật tử! Như Lai phước điền đồng một không sai khác, sao lại thấy chúng sanh bố thí được quả báo chẳng đồng? Những là:

Nhiều loại sắc, nhiều loại thân, nhiều loại căn, nhiều loại nhà, nhiều loại chủ, nhiều loại quyến thuộc, nhiều loại quan chức, nhiều loại công đức, nhiều loại trí huệ. Nhưng đức Phật đối với họ, tâm Phật thường bình đẳng, không có quan niệm riêng khác?

Mục Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Thí như một đại địa

Tùy giống mọc mầm khác

Ðất không ý thân sơ

Phật phước điền cũng vậy.

Lại như nước một vị

Nhơn đồ đựng có khác

Phật phước điền vẫn một

Do tâm người thành khác.

Như nhà ảo thuật khéo

Làm mọi người hoan hỷ

Phật phước điền cũng vậy

Khiến chúng sanh kính vui.

Như vua có tài trí

Hay khiến nhơn dân mừng

Phật phước điền cũng vậy

Khiến chúng đều an vui.

Như mặt gương sáng sạch

Theo hình mà hiện bóng

Phật phước điền cũng vậy

Tùy tâm được báo khác.

Như thuốc A già đà

Trị được tất cả độc

Phật phước điền cũng vậy

Dứt các họa phiền não.

Như lúc mặt trời mọc

Chiếu sáng khắp thế gian

Phật phước điền cũng vậy

Phá trừ những tối tăm.

Như mặt nguyệt tròn sáng

Chiếu khắp cõi đại địa

Phật phước điền cũng vậy

Bình đẳng với tất cả.

Ví như gió Tỳ lam

Chấn động khắp đại địa

Phật phước điền cũng vậy

Ðộng chúng sanh ba cõi.

Như đại hỏa nổi lên

Ðốt cháy tất cả vật

Phật phước điền cũng vậy

Ðốt tất cả hữu vi.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Cần Thủ Bồ tát:

Phật tử! Phật giáo là một, chúng sanh được thấy biết, cớ sao không liền đều dứt trừ tất cả phiền não hệ phược mà được xuất ly? Nhưng nơi chúng sanh, sắc, thọ, tưởng, hành và thức năm uẩn; Dục, Sắc, Vô Sắc ba cõi; vô minh, tham ái đều không sai khác. Như thế thì Phật giáo, đối với chúng sanh, hoặc có lợi ích, hoặc không có lợi ích?

Cần Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Phật tử khéo lóng nghe

Nay tôi cứ thiệt đáp

Hoặc có mau giải thoát

Hoặc có khó xuất ly.

Nếu muốn cầu dứt trừ

Vô lượng những lỗi ác

Nên ở trong Phật pháp

Dũng mãnh thường tinh tấn.

Ví như chút ít lửa

Ðốt ướt thì chóng tắt

Ở nơi trong Phật pháp

Người giải đãi cũng vậy.

Như cọ cây lấy lửa

Chưa cháy mà nghỉ luôn

Thế lửa liền tắt nguội

Người giải đãi cũng vậy.

Như người cầm nhựt châu

Chẳng dùng vật tiếp bóng

Trọn không thể được lửa

Người giải đãi cũng vậy.

Như ánh nắng quá chói

Trẻ nít nhắm đôi mắt

Tự nói sao không thấy

Người giải đãi cũng vậy.

Như người không tay chân

Muốn dùng cỏ làm tên

Bắn phá cả đại địa

Người giải đãi cũng vậy.

Như lấy một đầu lông

Muốn chấm khô đại hải

Người giải đãi cũng vậy

Không thể dứt hoặc nghiệp.

Lại như kiếp hỏa nổi

Muốn tắt với ít nước

Ở nơi trong Phật pháp

Người giải đãi cũng vậy.

Như người ngó hư không

Ngồi yên không dao động

Nói mình bay đi khắp

Người giải đãi cũng vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Pháp Thủ Bồ tát:

Phật tử! Như lời đức Phật dạy: Nếu có chúng sanh thọ trì chánh pháp thì đều có thể dứt trừ tất cả phiền não? Nhưng cớ sao có người thọ trì chánh pháp lại tùy thế lực của tham, sân, si, mạn; tùy thế lực của phú, phẫn, hận, tật, xan, cuống, siểm... xoay chuyển không rời nơi tâm. Người hay thọ trì pháp, cớ sao lại ở trong tâm hành khởi các phiền não?

Pháp Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Phật tử khéo lóng nghe

Thiệt nghĩa Ngài đã hỏi

Vì chẳng phải đa văn

Mà vào được Phật pháp.

Như người trôi giữa dòng

Sợ chìm mà chết khát

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Như trần thiết vật thực

Chẳng ăn nên phải đói

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Như người giỏi dược phương

Chẳng cứu được bịnh mình

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Như người đếm châu báu

Tự mình vẫn nghèo nàn

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Như người ở vương cung

Mà tự chịu đói rét

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Như điếc tấu âm nhạc

Người nghe mình chẳng nghe

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Như mù họa hình tượng

Người thấy mình chẳng thấy

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Ví như nhà hàng hải

Mà tự chết trong biển

Nơi pháp chẳng tu hành

Ða văn cũng như vậy.

Như ở ngã tư đường

Giảng nói những điều tốt

Mà tự không thiệt đức

Chẳng tu cũng như vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Trí Thủ Bồ tát:

Phật tử! Trong Phật pháp trí huệ là trên tất cả. Cớ sao với các chúng sanh, đức Phật hoặc ca ngợi sự bố thí, sự trì giới, hoặc ca ngợi sự nhẫn nhục, sự tinh tấn, thiền định, trí huệ, từ bi, hỷ xả... mà chẳng chỉ dùng một pháp để được giải thoát, thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác?

Trí Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Phật tử rất hy hữu

Biết rõ tâm chúng sanh

Xin lóng nghe tôi đáp

Những nghĩa Ngài đã hỏi.

Chư Phật thuở quá khứ

Hiện tại và vị lai

Không có nói một pháp

Mà chứng được đạo quả.

Phật biết tâm chúng sanh

Tánh, phận đều chẳng đồng

Tùy chỗ họ đáng thọ

Theo đó mà thuyết pháp.

Vì kẻ tham khuyên thí

Vì người lỗi khen giới

Nhiều sân thì khuyên nhẫn

Giải đãi thì khuyên siêng.

Loạn tâm phải tu định

Ngu si trau trí huệ

Bất nhơn phải từ mẫn

Giận hại khuyên rèn bi.

Lo rầu thì ngợi hỷ

Chấp trước thì khen xả

Tuần tự tu như vậy

Lần đủ các Phật pháp.

Như trước xây nền móng

Rồi sau tạo nhà cửa

Thí và giới cũng vậy

Là gốc hạnh Bồ tát.

Ví như dựng thành quách

Ðể bảo hộ dân chúng

Nhẫn và tấn cũng vậy

Phòng hộ chư Bồ tát.

Ví như đại lực vương

Cả nước đều ngưỡng vọng

Ðịnh huệ cũng như vậy

Chỗ tựa của Bồ tát.

Cũng như vua Chuyển Luân

Ban vui cho nhân loại

Từ bi và hỷ xả

Làm Bồ tát an vui.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Hiền Thủ Bồ tát rằng:

Phật tử! Chư Phật chỉ do một đạo mà được giải thoát. Cớ sao hiện nay thấy tất cả Phật độ lại có nhiều sự không đồng? Những là: thế giới, chúng sanh giới, thuyết pháp, điều phục, thọ lượng, quang minh, thần thông, chúng hội, giáo nghĩa, pháp trụ v.v... đều sai khác nhau.

Không có Vị nào chẳng đủ tất cả Phật pháp mà được thành Vô thượng Bồ đề?

Hiền Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Thưa Ngài! Pháp thường vậy

Pháp Vương pháp duy nhất

Tất cả chư Như Lai

Một đạo mà giải thoát.

Thân của tất cả Phật

Chỉ là một pháp thân

Nhứt tâm, nhứt trí huệ

Lực vô úy cũng vậy.

Như trước đến Bồ đề

Bao nhiêu tâm hồi hướng

Ðược cõi nước như vậy

Chúng hội và thuyết pháp.

Tất cả các cõi Phật

Trang nghiêm đều viên mãn

Tùy chúng sanh hạnh khác

Thấy chẳng đồng như vậy.

Cõi Phật cùng thân Phật

Chúng hội và ngôn thuyết

Các Phật pháp như vậy

Chúng sanh chẳng thấy được.

Tâm ý đã thanh tịnh

Hạnh nguyện đều đầy đủ

Người sáng suốt như vậy

Mới được thấy nơi đây.

Tùy chúng sanh tâm thích

Và cùng sức nghiệp quả

Thấy sai khác như vậy

Do oai thần của Phật.

Cõi Phật vô sai biệt

Không ghét cũng không thương

Chỉ tùy tâm chúng sanh

Thấy có khác như vậy.

Do đây nơi thế giới

Chỗ thấy đều sai khác

Chẳng phải chư Như Lai

Bực Ðại Tiên có lỗi.

Tất cả các thế giới

Người đáng được giáo hóa

Thường được thấy Thế Tôn

Pháp chư Phật như vậy.

Lúc đó, chư Bồ tát nói với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát:

Phật tử! Chúng tôi đã tự nói chỗ hiểu biết của mình rồi. Xin Ngài dùng diệu biện tài diễn xướng những cảnh giới của Như Lai: Những gì là cảnh giới của Phật? Những gì là nhơn của cảnh giới Phật? Những gì là sự tế độ của cảnh giới Phật? Những gì là sự nhập vào của cảnh giới Phật? Những gì là trí của cảnh giới Phật? Những gì là pháp của cảnh giới Phật? Những gì là ngôn thuyết của cảnh giới Phật? Những gì là sự hiểu biết của cảnh giới Phật? Những gì là sự chứng của cảnh giới Phật? Những gì là sự hiện ở của cảnh giới Phật? Những gì là sự rộng lớn của cảnh giới Phật?

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Như Lai cảnh giới sâu

Lượng đó khắp hư không

Tất cả chúng sanh vào

Mà thật không chỗ nhập.

Như Lai cảnh giới sâu

Bao nhiêu nhơn thắng diệu

Ức kiếp thường tuyên nói

Cũng lại chẳng thể hết.

Tùy tâm trí huệ mình

Khuyến tấn đều khiến lợi

Ðộ chúng sanh như vậy

Là cảnh giới chư Phật.

Những cõi nước thế gian

Tất cả đều theo vào

Trí thân không có sắc

Chẳng phải kia thấy được.

Chư Phật trí tự tại

Tam thế không chướng ngại

Cảnh giới huệ như vậy

Bình đẳng như hư không.

Pháp giới, chúng sanh giới

Rốt ráo không sai khác

Tất cả đều rõ biết

Ðây là cảnh giới Phật.

Trong tất cả thế giới

Bao nhiêu những âm thanh

Phật trí đều tùy rõ

Cũng không có phân biệt.

Chẳng phải thức biết được

Chẳng phải tâm cảnh giới

Tánh đó vốn thanh tịnh

Khai thị các quần sanh.

Chẳng nghiệp, chẳng phiền não

Không vật, không trụ xứ

Không chiếu, không sở hành

Bình đẳng đi thế gian.

Tất cả tâm chúng sanh

Khắp ở trong ba thời

Như Lai nơi một niệm

Tất cả đều rõ thấu.

Lúc bấy giờ trong cõi Ta Bà nầy, tất cả chúng sanh bao nhiêu pháp sai biệt, nghiệp sai biệt, thế gian sai biệt, thân sai biệt, căn sai biệt, thọ sanh sai biệt, trì giới quả sai biệt, phạm giới quả sai biệt, quốc độ quả sai biệt, do thần lực của Phật thảy đều hiện rõ.

Phương đông, trăm ngàn ức na do tha vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả sổ, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới, bao nhiêu chúng sanh pháp sai biệt nhẫn đến quốc độ quả sai biệt, đều do thần lực của Phật mà hiển hiện rõ ràng.

Những phương nam, tây, bắc, đông bắc, đông nam, tây nam, tây bắc, thượng, hạ, cũng đều như vậy.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM TỊNH HẠNH

THỨ MƯỜI MỘT

*Lúc bấy giờ, Trí Thủ Bồ tát hỏi Văn Thù Sư Lợi Bồ tát:

Phật tử! Bồ tát làm thế nào thân, ngữ, ý ba nghiệp được không lỗi lầm? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được chẳng tổn hại? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được không thể bị hủy hoại? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được bất thối chuyển? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được chẳng dao động? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được thù thắng? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được thanh tịnh? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được vô nhiễm? Thân, ngữ, ý ba nghiệp được trí dẫn đạo?

Bồ tát làm thế nào được sanh xứ đầy đủ? Chủng tộc đầy đủ? Gia thế đầy đủ? Sắc thân đầy đủ? Tướng mạo đầy đủ? Niệm đầy đủ? Huệ đầy đủ? Hạnh đầy đủ? Vô úy đầy đủ? Giác ngộ đầy đủ?

Bồ tát làm thế nào được thắng huệ? Ðược đệ nhứt huệ? Ðược tối thượng huệ? Ðược tối thắng huệ? Ðược vô lượng huệ? Ðược vô số huệ? Ðược bất tư nghì huệ? Ðược vô dữ đẳng huệ? Ðược bất khả lượng huệ? Ðược bất khả thuyết huệ?

Bồ tát làm thế nào được: nhơn lực, duyên lực, dục lực, phương tiện lực, sở duyên lực, căn lực, quán sát lực, xa ma tha lực, tỳ bát xá na lực, tư duy lực?

Bồ tát làm thế nào được: uẩn thiện xảo, xứ thiện xảo, giới thiện xảo, duyên khởi thiện xảo, Dục giới thiện xảo, Sắc giới thiện xảo, Vô Sắc giới thiện xảo, quá khứ thiện xảo, vị lai thiện xảo, hiện tại thiện xảo?

Bồ tát làm thế nào khéo tu tập: niệm giác phần, trạch pháp giác phần, tinh tấn giác phần, hỷ giác phần, khinh an giác phần, định giác phần, xả giác phần, không giác phần, vô tướng giác phần, vô nguyện giác phần?

Bồ tát làm thế nào được viên mãn: đàn ba la mật, thi ba la mật, sằn đề ba la mật, tỳ lê gia ba la mật, thiền na ba la mật, bát nhã ba la mật, từ, bi, hỷ, xả?

Bồ tát làm thế nào được thập lực: Xứ phi xứ trí lực, Quá hiện vị lai nghiệp báo trí lực, Căn thắng liệt trí lực, Chủng chủng giới trí lực, Chủng chủng giải trí lực, Nhứt thiết chí xứ đạo trí lực, Thiền giải thoát tam muội nhiễm tịnh trí lực, Túc trụ niệm trí lực, Vô chướng ngại Thiên nhãn trí lực, Đoạn chư tập trí lực?

Bồ tát làm thế nào thường được sự thủ hộ cung kính cúng dường của: Thiên vương, Long vương, Dạ xoa vương, Càn thát bà vương, A tu la vương, Ca lâu la vương, Khẩn na la vương, Ma hầu la già vương, Nhơn vương, Phạm vương?

Bồ tát làm thế nào được mình là những chỗ: y tựa, cứu độ, chỗ về, chỗ đến, là đuốc, là sáng, là soi, là dẫn đạo, thắng đạo, phổ đạo cho tất cả chúng sanh?

Ðối với tất cả chúng sanh, Bồ tát làm thế nào là: đệ nhứt, là lớn, là thắng, là tối thắng, là diệu, là cực diệu, là thượng, là vô thượng, là vô đẳng, là vô đẳng đẳng?

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát bảo Trí Thủ Bồ tát:

Lành thay Phật tử! Nay Ngài vì muốn nhiều lợi ích, nhiều an ổn, thương xót thế gian, lợi lạc
Thiên Nhơn mà hỏi những nghĩa như vậy.

Phật tử! Nếu Bồ tát khéo dụng tâm thì được tất cả công đức thắng diệu, nơi Phật pháp được tâm vô ngại, được trụ nơi đạo của tam thế chư Phật, trụ theo chúng sanh hằng không bỏ rời, đều có thể thông đạt đúng các pháp tướng, dứt tất cả điều ác, đầy đủ tất cả điều lành, sẽ được hình sắc đệ nhứt như Phổ Hiền, đầy đủ tất cả hạnh nguyện, với tất cả pháp đều được tự tại, sẽ là Đạo Sư thứ hai của chúng sanh.

Phật tử! Bồ tát dụng tâm thế nào mà có thể được tất cả thắng diệu công đức?

Phật tử lóng nghe đây:

Bồ tát ở nhà, nên nguyện chúng sanh, biết nhà tánh không, khỏi sự bức ngặt.

Hiếu thờ cha mẹ, nên nguyện chúng sanh, kính thờ chư Phật, hộ dưỡng tất cả.

Vợ con hội họp, nên nguyện chúng sanh, oán thân bình đẳng, lìa hẳn tham trước.

Nếu được ngũ dục, nên nguyện chúng sanh, nhổ mũi tên dục, rốt ráo an ổn.

Kỹ nhạc tụ hội, nên nguyện chúng sanh, vui nơi chánh pháp, rõ nhạc chẳng thiệt.

Nếu ở cung thất, nên nguyện chúng sanh vào nơi thánh địa, trừ hẳn uế dục.

Lúc đeo trang sức, nên nguyện chúng sanh, bỏ tư trang giả, đến chỗ chơn thiệt.

Lên trên lâu các, nên nguyện chúng sanh, lên lầu chánh pháp, thấy suốt tất cả.

Nếu có bố thí, nên nguyện chúng sanh, bỏ được tất cả, lòng không ái trước.

Chúng hội tu tập, nên nguyện chúng sanh, xả những tụ pháp, thành Nhứt thiết trí.

Nếu ở ách nạn, nên nguyện chúng sanh, tùy ý tự tại, chỗ làm vô ngại.

Lúc bỏ cư gia, nên nguyện chúng sanh, xuất gia vô ngại, tâm được giải thoát.

Vào Tăng già lam, nên nguyện chúng sanh, diễn thuyết các thứ pháp không tranh cãi.

Ðến đại tiểu sư, nên nguyện chúng sanh, khéo thờ sư trưởng, tập làm điều lành.

Cầu xin xuất gia, nên nguyện chúng sanh, được pháp bất thối, lòng không chướng ngại.

Thoát bỏ tục nhãn, nên nguyện chúng sanh, siêng tu căn lành, bỏ những tội ách.

Cạo bỏ râu tóc, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn phiền não, rốt ráo tịch diệt.

Ðắp y ca sa, nên nguyện chúng sanh, lòng không nhiễm trước, đủ đạo Đại Tiên.

Lúc chánh xuất gia, nên nguyện chúng sanh, đồng Phật xuất gia, cứu hộ tất cả.

Tự quy y Phật, nên nguyện chúng sanh, nối thạnh Phật chủng, phát tâm vô thượng.

Tự quy y Pháp, nên nguyện chúng sanh, sâu vào kinh tạng, trí huệ như biển.

Tự quy y Tăng, nên nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, tất cả vô ngại.

Lúc thọ học giới, nên nguyện chúng sanh, khéo học nơi giới, chẳng làm điều ác.

Thọ Xà lê dạy, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ oai nghi, chỗ làm chơn thiệt.

Thọ Hòa thượng dạy, nên nguyện chúng sanh vào trí vô sanh, đến chỗ vô y.

Thọ giới cụ túc, nên nguyện chúng sanh, đủ các phương tiện, được pháp tối thắng.

Nếu vào nhà cửa, nên nguyện chúng sanh, lên nhà vô thượng, an trụ bất động.

Nếu trải giường tòa, nên nguyện chúng sanh, trải mở pháp lành, thấy tướng chơn thiệt.

Chánh thân đoan tọa, nên nguyện chúng sanh, ngồi Bồ đề tòa, tâm không tham trước.

Lúc ngồi kiết già, nên nguyện chúng sanh, căn lành kiên cố, được bực Bất động.

Tu hành nơi định, nên nguyện chúng sanh, dùng định phục tâm, rốt ráo không thừa.

Nếu tu pháp quán, nên nguyện chúng sanh, thấy lý như thiệt, trọn không tranh cãi.

Xả ngồi kiết già, nên nguyện chúng sanh, quán sát hành pháp, đều quy tan mất.

Lúc để chân đứng, nên nguyện chúng sanh, tâm được giải thoát, an trụ bất động.

Nếu cất chân lên, nên nguyện chúng sanh, khỏi biển sanh tử, đủ các pháp lành.

Lúc mặc quần dưới, nên nguyện chúng sanh, mặc những căn lành, đầy đủ hổ thẹn.

Chỉnh áo cột giải, nên nguyện chúng sanh, kiểm thúc căn lành, chẳng để tan mất.

Nếu mặc áo trên, nên nguyện chúng sanh, được căn lành lớn, đến bờ pháp kia.

Đắp tăng già lê, nên nguyện chúng sanh vào ngôi đệ Nhứt, được pháp bất động.

Tay cầm nhành dương, nên nguyện chúng sanh, đều được diệu pháp, rốt ráo thanh tịnh.

Lúc nhăn nhành dương, nên nguyện chúng sanh, tâm ý điều tịnh, nhai các phiền não.

Lúc đại tiểu tiện, nên nguyện chúng sanh, bỏ tham sân si, dẹp trừ điều tội.

Việc rồi đến nước, nên nguyện chúng sanh, trong pháp xuất thế, qua đến mau chóng.

Rửa ráy thân nhơ, nên nguyện chúng sanh, thanh tịnh điều nhu, rốt ráo không nhơ.

Xối nước trên tay, nên nguyện chúng sanh, được tay thanh tịnh, thọ trì Phật pháp.

Dùng nước rửa mặt, nên nguyện chúng sanh, được tịnh pháp môn, trọn không nhơ bợn.

Tay cầm tích trượng, nên nguyện chúng sanh, lập hội bố thí, bày đạo như thiệt.

Tay cầm ứng khí, nên nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ trời người cúng.

Bước chân lên đường, nên nguyện chúng sanh, đến chỗ Phật đi vào nơi vô y.

Nếu ở nơi đường, nên nguyện chúng sanh, hay đi đường Phật, hướng pháp vô dư.

Theo đường mà đi, nên nguyện chúng sanh, noi tịnh pháp giới, tâm không chướng ngại.

Thấy lên đường cao, nên nguyện chúng sanh, khỏi hẳn ba cõi, tâm không khiếp nhược.

Thấy xuống đường thấp, nên nguyện chúng sanh, tâm ý khiêm hạ, lớn căn lành Phật.

Thấy đường quanh co, nên nguyện chúng sanh, bỏ đạo bất chánh, trừ hẳn ác kiến.

Nếu thấy đường thẳng, nên nguyện chúng sanh, tâm ý chánh trực, không dua không dối.

Thấy đường nhiều bụi, nên nguyện chúng sanh, xa lìa bụi bặm, được pháp thanh tịnh.

Thấy đường không bụi, nên nguyện chúng sanh, thường tu đại bi, tâm ý nhuần thấm.

Nếu thấy đường hiểm, nên nguyện chúng sanh, trụ chánh pháp giới, lìa những tội nạn.

Nếu thấy chúng hội, nên nguyện chúng sanh, nói pháp thậm thâm, tất cả hòa hiệp.

Nếu thấy trụ lớn, nên nguyện chúng sanh, lìa tâm chấp ngã, không có phẫn hận.

Nếu thấy tòng lâm, nên nguyện chúng sanh, chư Thiên và Nhơn, chỗ nên kính lễ.

Nếu thấy núi cao, nên nguyện chúng sanh, căn lành siêu thoát, không thể tột đảnh.

Lúc thấy cây gai, nên nguyện chúng sanh, chóng được cắt bỏ, những gai tam độc.

Thấy cây lá rậm, nên nguyện chúng sanh, dùng định giải thoát, để làm che chói.

Nếu thấy hoa nở, nên nguyện chúng sanh, các pháp thần thông, như hoa đua nở.

Nếu thấy cây hoa, nên nguyện chúng sanh, tướng tốt như hoa, đủ ba mươi hai.

Nếu thấy trái hột, nên nguyện chúng sanh, được pháp tối thắng, chứng đạo Bồ đề.

Nếu thấy sông lớn, nên nguyện chúng sanh, được dự pháp lưu, vào Phật trí hải.

Nếu thấy bờ đầm, nên nguyện chúng sanh, chóng ngộ diệu pháp, nhứt vị của Phật.

Nếu thấy ao hồ, nên nguyện chúng sanh, ngữ nghiệp hoàn toàn, hay khéo diễn thuyết.

Nếu thấy giếng nước, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ biện tài, diễn tất cả pháp.

Nếu thấy suối chảy, nên nguyện chúng sanh, thêm lớn phương tiện, thiện căn vô tận.

Nếu thấy kiều lộ, nên nguyện chúng sanh, rộng độ tất cả, dường như cầu đò.

Nếu thấy nước chảy, nên nguyện chúng sanh, được ý nguyện lành, rửa nhơ phiền não.

Thấy dọn vườn tược, nên nguyện chúng sanh, trong vườn ngũ dục, dọn sạch cỏ ái.

Thấy rừng vô ưu, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn tham ái, chẳng còn lo sợ.

Nếu thấy công viên, nên nguyện chúng sanh, siêng tu hạnh lành, đến Phật Bồ đề.

Thấy người nghiêm sức, nên nguyện chúng sanh, trang nghiêm thân đẹp, ba mươi hai tướng.

Thấy không nghiêm sức, nên nguyện chúng sanh, bỏ những trang sức, đủ hạnh đầu đà.

Thấy người ham vui, nên nguyện chúng sanh, vui nơi chánh pháp, ưa thích chẳng bỏ.

Thấy không ham vui, nên nguyện chúng sanh, trong sự hữu vi, lòng không ưa thích.

Thấy người vui sướng, nên nguyện chúng sanh, thường được an vui, thích cúng dường Phật.

Thấy người khổ não, nên nguyện chúng sanh, được căn bổn trí, dứt trừ sự khổ.

Thấy người mạnh khỏe, nên nguyện chúng sanh vào chơn thiệt huệ, trọn không bịnh khổ.

Thấy người tật bịnh, nên nguyện chúng sanh, biết thân không tịch, lìa sự tranh cãi.

Thấy người xinh đẹp, nên nguyện chúng sanh, với Phật Bồ tát, thường kính thường tin.

Thấy người xấu xí, nên nguyện chúng sanh, với điều bất thiện, chẳng ưa chẳng thích.

Thấy người báo ơn, nên nguyện chúng sanh, với Phật Bồ tát, hay biết ơn đức.

Thấy người bội ơn, nên nguyện chúng sanh, với kẻ làm ác, chẳng trả thù oán.

Nếu thấy Sa môn, nên nguyện chúng sanh, điều nhu tịch tịnh, rốt ráo đệ nhứt.

Thấy Bà la môn, nên nguyện chúng sanh, giữ trọn Phạm hạnh, lìa tất cả ác.

Thấy người khổ hạnh, nên nguyện chúng sanh, y nơi khổ hạnh, đến bực rốt ráo.

Thấy người hạnh tốt, nên nguyện chúng sanh, giữ bền chí hạnh, chẳng bỏ Phật đạo.

Thấy mặc giáp trụ, nên nguyện chúng sanh, thường mặc giáp lành, đến pháp vô sư.

Thấy không võ trang, nên nguyện chúng sanh, lìa hẳn tất cả, những nghiệp bất thiện.

Thấy người luận nghị, nên nguyện chúng sanh, đều dẹp phá được, tất cả dị luận.

Thấy người chánh mạng, nên nguyện chúng sanh, được mạng thanh tịnh, không dối giả dạng.

Nếu thấy quốc vương, nên nguyện chúng sanh, được làm Pháp vương, thường chuyển chánh pháp.

Nếu thấy vương tử, nên nguyện chúng sanh, từ pháp hóa sanh, mà làm Phật tử.

Nếu thấy trưởng giả, nên nguyện chúng sanh, xét đoán sáng suốt, chẳng làm điều ác.

Nếu thấy đại thần, nên nguyện chúng sanh, hằng giữ chánh niệm, tập làm điều thiện.

Nếu thấy thành quách, nên nguyện chúng sanh, được thân kiên cố, tâm không hèn nhát.

Nếu thấy kinh đô, nên nguyện chúng sanh, công đức đồng nhóm, lòng luôn vui vẻ.

Thấy ở rừng vắng, nên nguyện chúng sanh, đáng được trời người, ca ngợi kính ngưỡng.

Vào xóm khất thực, nên nguyện chúng sanh, nhập thâm pháp giới, tâm không chướng ngại.

Ðến cửa nhà người, nên nguyện chúng sanh, vào trong tất cả, cửa nhà Phật pháp.

Vào nhà người rồi, nên nguyện chúng sanh, được vào Phật thừa, ba thời bình đẳng.

Thấy không thí xả, nên nguyện chúng sanh, thường chẳng bỏ rời, pháp công đức lớn.

Thấy người thí xả, nên nguyện chúng sanh, được bỏ lìa hẳn, khổ ba ác đạo.

Nếu thấy bát không, nên nguyện chúng sanh, tâm ý thanh tịnh, trống sạch phiền não.

Nếu thấy bát đầy, nên nguyện chúng sanh, đầy đủ trọn vẹn, tất cả thiện pháp.

Nếu được cung kính, nên nguyện chúng sanh, cung kính tu hành, tất cả Phật pháp.

Chẳng được cung kính, nên nguyện chúng sanh, chẳng làm tất cả, những điều bất thiện.

Thấy người hổ thẹn, nên nguyện chúng sanh, đủ hạnh hổ thẹn, che giữ căn thân.

Thấy không hổ thẹn, nên nguyện chúng sanh, lìa bỏ không thẹn, trụ đạo đại từ.

Ðược thực phẩm ngon, nên nguyện chúng sanh, đều được mãn nguyện, không lòng tham muốn.

Ðược thực phẩm dở, nên nguyện chúng sanh, ai cũng đều được, pháp vị tam muội.

Ðược vật thực mềm, nên nguyện chúng sanh, huân tập đại bi, tâm ý nhu nhuyến.

Ðược vật thực cứng, nên nguyện chúng sanh, tâm không nhiễm trước, dứt hết tham ái.

Nếu lúc ăn cơm, nên nguyện chúng sanh, ăn món thiền duyệt, pháp hỷ no đủ.

Lúc thọ mùi vị, nên nguyện chúng sanh, được Phật thượng vị, cam lộ đầy đủ.

Lúc ăn cơm xong, nên nguyện chúng sanh, việc làm đều xong, đủ những Phật pháp.

Nếu lúc thuyết pháp, nên nguyện chúng sanh, biện luận vô tận, tuyên rộng pháp yếu.

Lúc ra khỏi nhà, nên nguyện chúng sanh, thâm nhập Phật trí, khỏi hẳn ba cõi.

Nếu lúc xuống nước, nên nguyện chúng sanh, vào Nhứt thiết trí, rõ ba thời đồng.

Tắm rửa thân thể, nên nguyện chúng sanh, thân tâm không nhơ, trong ngoài sáng sạch.

Mùa nắng nóng độc, nên nguyện chúng sanh, bỏ lìa khổ não, tất cả đều hết.

Hết nắng vừa mát, nên nguyện chúng sanh, chứng pháp vô thượng, rốt ráo mát mẻ.

Lúc đọc tụng kinh, nên nguyện chúng sanh, thuận lời Phật dạy, tổng trì chẳng quên.

Nếu được thấy Phật, nên nguyện chúng sanh, được vô ngại nhãn, thấy tất cả Phật.

Lúc ngắm kỹ Phật, nên nguyện chúng sanh, đều như Phổ Hiền, xinh đẹp nghiêm tốt.

Lúc thấy tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tôn trọng như tháp, thọ trời người cúng.

Cung kính xem tháp, nên nguyện chúng sanh, chư Thiên và người, cùng nhau chiêm ngưỡng.

Ðảnh lễ tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tất cả trời người, chẳng thấy đảnh được.

Ði nhiễu tháp Phật, nên nguyện chúng sanh, tu hành không trái, thành Nhứt thiết trí.

Nhiễu tháp ba vòng, nên nguyện chúng sanh, siêng cầu Phật đạo, lòng không biếng trễ.

Khen công đức Phật, nên nguyện chúng sanh, đều đủ công đức, ca ngợi vô tận.

Khen tướng hảo Phật, nên nguyện chúng sanh, thành tựu Phật thân, chứng pháp vô tướng.

Nếu lúc rửa chân, nên nguyện chúng sanh, đủ sức thần túc, chỗ đi vô ngại.

Ngủ nghỉ phải thời, nên nguyện chúng sanh, thân được an ổn, lòng không động loạn.

Ngủ vừa tỉnh giấc, nên nguyện chúng sanh, tất cả trí giác, ngó khắp mười phương.

Phật tử! Nếu chư Bồ tát dụng tâm như vậy thì được tất cả công đức thắng diệu. Tất cả thế gian: chư Thiên, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn, Càn thát bà, A tu la v.v... nhẫn đến tất cả Thanh văn, Duyên giác không thể làm lay động được.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM HIỀN THỦ

THỨ MƯỜI HAI

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói hạnh thanh tịnh không trược loạn đại công đức rồi, vì muốn hiển thị công đức của Bồ đề tâm, nên nói kệ hỏi Hiền Thủ Bồ tát:

Nay tôi đã vì chư Bồ tát

Nói hạnh thanh tịnh Phật đã tu

Ngài cũng nên ở trong hội nầy

Diễn đạt tu hành công đức lớn.

Lúc đó, Hiền Thủ Bồ tát nói kệ đáp:

Lành thay! Xin Ngài lóng nghe đây

Những công đức đó chẳng lường được

Nay tôi tùy sức nói ít phần

Như một giọt nước trong biển lớn.

Nếu có Bồ tát sơ phát tâm

Thệ cầu sẽ chứng Phật Bồ đề

Công đức của kia không ngằn mé

Không thể cân lường chẳng gì sánh.

Huống là vô lượng vô biên kiếp

Tu đủ địa, độ các công đức

Mười phương tất cả chư Như Lai

Ðều cùng ngợi khen chẳng hết được.

Vô biên công đức lớn như vậy

Nay tôi trong đây nói ít phần

Ví như chân chim vạch không gian

Và như hạt bụi trên đại địa.

Bồ tát phát tâm cầu Bồ đề

Chẳng phải không nhơn, không có duyên

Với Phật, Pháp, Tăng khởi lòng tin

Do đây mà sanh tâm rộng lớn.

Chẳng cầu ngũ dục và ngôi vua

Chẳng mong giàu vui danh tiếng lớn

Chỉ vì dứt hẳn khổ chúng sanh

Lợi ích thế gian mà phát ý.

Thường muốn lợi lạc các chúng sanh

Trang nghiêm cõi nước cúng dường Phật

Thọ trì chánh pháp tu trí huệ

Vì chứng Bồ đề mà phát tâm.

Thâm tâm tin hiểu thường thanh tịnh

Cung kính tôn trọng tất cả Phật

Nơi Pháp và Tăng cũng như vậy

Chí thành cúng dường mà phát tâm.

Thâm tín nơi Phật và Phật pháp

Cũng tin Phật tử đạo tu hành

Và tin Vô thượng đại Bồ đề

Do đây Bồ tát phát tâm nguyện.

Tin là đạo ngươn, mẹ công đức

Nuôi lớn tất cả những pháp lành

Dứt trừ lưới nghi, khỏi vòng ái

Khai thị Niết bàn đạo Vô thượng.

Tin không nhơ bợn, lòng thanh tịnh

Là cội cung kính trừ kiêu mạn

Cũng là pháp tạng đệ nhứt tài

Là tay thanh tịnh thọ thiện hạnh.

Tin hay ban cho không bỏn xẻn

Tin hay hoan hỷ vào Phật pháp

Tin hay thêm lớn trí công đức

Tin quyết định được bực Như Lai.

Tin khiến lục căn sạch sáng lẹ

Tin sức kiên cố không bị hư

Tin hay dứt hẳn cội phiền não

Tin hay chuyển hướng Phật công đức.

Tin nơi cảnh giới không chấp trước

Xa lìa các nạn được vô nạn

Tin hay vượt khỏi các đường ma

Thị hiện đạo giải thoát vô thượng.

Tin là giống công đức không hư

Tin hay sanh trưởng cây Bồ đề

Tin hay thêm lớn trí tối thắng

Tin hay thị hiện tất cả Phật.

Cứ theo công hạnh nói thứ đệ

Tin là hơn hết rất khó được

Ví như trong tất cả thế gian

Mà có như ý diệu bửu châu.

Nếu thường tin thờ nơi chư Phật

Thì hay trì giới và tu học

Nếu thường trì giới và tu học

Thì hay đầy đủ các công đức.

Giới hay khai phát gốc Bồ đề

Học là siêng tu bực công đức,

Nơi giới và học thường thuận làm

Thì được chư Phật luôn khen ngợi.

Nếu thường tin phụng nơi chư Phật

Thì hay trần thiết cúng dường lớn

Nếu hay trần thiết cúng dường lớn

Người nầy tin Phật bất tư nghì.

Nếu thường tin phụng nơi tôn Pháp

Thì nghe Phật pháp không nhàm đủ

Nếu nghe Phật pháp không nhàm đủ

Người nầy tin pháp bất tư nghì.

Nếu thường tin phụng thanh tịnh Tăng

Thì được tín tâm bất thối chuyển

Nếu được tín tâm bất thối chuyển

Người nầy tín lực không dao động.

Nếu được tín lực không dao động

Thì được lục căn sạch sáng lẹ

Nếu được lục căn sạch sáng lẹ

Thì hay xa lìa ác tri thức.

Nếu hay xa lìa ác tri thức

Thì được gần gũi thiện tri thức

Nếu được gần gũi thiện tri thức

Thì hay tu tập quảng đại thiện.

Nếu hay tu tập quảng đại thiện

Người nầy được thành nhơn lực lớn

Nếu người được thành nhơn lực lớn

Thì được thù thắng quyết định giải.

Nếu được thù thắng quyết định giải

Thì được chư Phật thường hộ niệm

Nếu được chư Phật thường hộ niệm

Thì hay phát khởi Bồ đề tâm.

Nếu hay phát khởi Bồ đề tâm

Thì hay siêng tu Phật công đức

Nếu hay siêng tu Phật công đức

Thì được sanh vào nhà của Phật.

Nếu được sanh ở nhà chư Phật

Thì khéo tu hành phương tiện lớn

Nếu khéo tu hành phương tiện lớn

Thì tâm tin ưa được thanh tịnh.

Nếu được tâm tin ưa thanh tịnh

Thì được tâm tăng thượng tối thắng

Nếu được tâm tăng thượng tối thắng

Thì thường tu tập ba la mật.

Nếu thường tu tập ba la mật

Thì được trọn đủ pháp Đại thừa

Nếu được trọn đủ pháp Đại thừa

Thì hay đúng pháp cúng dường Phật.

Nếu hay đúng pháp cúng dường Phật

Thì được tâm niệm Phật bất động

Nếu được tâm niệm Phật bất động

Thì thường thấy được vô lượng Phật.

Nếu thường thấy được vô lượng Phật

Thì thấy Như Lai thể thường trụ

Nếu thấy Như Lai thể thường trụ

Thì biết được pháp trọn bất diệt.

Nếu biết được pháp trọn bất diệt

Thì được biện tài vô chướng ngại

Nếu được biện tài vô chướng ngại

Thì hay khai diễn vô biên pháp.

Nếu hay khai diễn vô biên pháp

Thì hay từ mẫn độ chúng sanh

Nếu hay từ mẫn độ chúng sanh

Thì được tâm đại bi kiên cố.

Nếu được tâm đại bi kiên cố

Thì hay mến ưa pháp thâm diệu

Nếu hay mến ưa pháp thâm diệu

Thì hay xa lìa lỗi hữu vi.

Nếu hay xa lìa lỗi hữu vi

Thì lìa kiêu mạn và phóng dật

Nếu lìa kiêu mạn và phóng dật

Thì hay kiêm lợi tất cả chúng.

Nếu hay kiêm lợi tất cả chúng

Thì ở sanh tử không mỏi nhàm

Nếu ở sanh tử không mỏi nhàm

Thì được dũng kiện không ai hơn.

Nếu được dũng kiện không ai hơn

Thì hay phát khởi đại thần thông

Nếu hay phát khởi đại thần thông

Thì biết hạnh tất cả chúng sanh.

Nếu biết hạnh tất cả chúng sanh

Thì hay thành tựu các quần sanh

Nếu hay thành tựu các quần sanh

Thì được trí khéo nhiếp chúng sanh.

Nếu được trí khéo nhiếp chúng sanh

Thì hay thành tựu pháp tứ nhiếp

Nếu hay thành tựu pháp tứ nhiếp

Thì cho chúng sanh lợi vô hạn.

Nếu cho chúng sanh lợi vô hạn

Thì đủ phương tiện trí tối thắng

Nếu đủ phương tiện trí tối thắng

Thì trụ đạo dũng mãnh vô thượng.

Nếu trụ đạo dũng mãnh vô thượng

Thì hay xô dẹp những ma lực

Nếu hay xô dẹp những ma lực

Thì hay vượt khỏi cảnh tứ ma.

Nếu hay vượt khỏi cảnh tứ ma

Thì được đến nơi bực bất thối

Nếu được đến nơi bực bất thối

Thì được pháp nhẫn vô sanh lớn.

Nếu được pháp nhẫn vô sanh lớn

Thì được chư Phật thọ ký cho

Nếu được chư Phật thọ ký cho

Thì tất cả Phật hiện ra trước.

Nếu được chư Phật hiện ra trước

Thì rõ mật dụng thần thông lớn

Nếu rõ mật dụng thần thông lớn

Thì được chư Phật thường nhớ tưởng.

Nếu được chư Phật thường nhớ tưởng

Thì dùng Phật đức tự trang nghiêm

Nếu dùng Phật đức tự trang nghiêm

Thì được thân đoan nghiêm diệu phước.

Nếu được thân đoan nghiêm diệu phước

Thì thân chói sáng dường núi vàng

Nếu thân chói sáng dường núi vàng

Thì đủ ba mươi hai tướng hảo.

Nếu đủ ba mươi hai tướng hảo

Tám mươi tùy hảo đồng nghiêm sức

Nếu đủ tùy hảo đồng nghiêm sức

Thì thân sáng chói vô hạn lượng.

Nếu thân sáng chói vô hạn lượng

Thì được quang minh bất tư nghị

Nếu được quang minh bất tư nghị

Quang minh nầy hiện những liên hoa.

Những liên hoa từ quang minh hiện

Có vô lượng Phật ngự ở trên

Thị hiện mười phương đều khắp cả

Ðều hay điều phục các chúng sanh.

Nếu hay điều phục các chúng sanh

Thì hiện vô lượng thần thông lực

Nếu hiện vô lượng thần thông lực

Thì trụ bất tư nghị cõi nước,

Thì diễn thuyết bất tư nghị pháp

Khiến bất tư nghị chúng hoan hỷ.

Nếu diễn thuyết bất tư nghị pháp

Khiến bất tư nghị chúng hoan hỷ

Thì dùng sức trí huệ biện tài

Tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa.

Nếu dùng sức trí huệ biện tài

Tùy tâm chúng sanh mà giáo hóa

Thì dùng trí huệ làm tiên đạo

Thân ngữ ý thường không lầm lỗi.

Nếu dùng trí huệ làm tiên đạo

Thân ngữ ý thường không lầm lỗi

Thì nguyện lực tất được tự tại

Tùy theo các loài mà hiện thân.

Nếu nguyện lực ấy được tự tại

Tùy theo các loài mà hiện thân

Thì lúc tùy chúng mà thuyết pháp

Âm thanh tùy loại, khó nghĩ bàn.

Nếu lúc vì chúng mà thuyết pháp

Âm thanh tùy loại khó nghĩ bàn

Thì với tâm tất cả chúng sanh

Một niệm biết cả không thừa sót.

Nếu với tâm tất cả chúng sanh

Một niệm biết cả không thừa sót

Thì biết phiền não không từ đâu

Trọn không còn chìm trong sanh tử.

Nếu biết phiền não không từ đâu

Trọn không còn chìm trong sanh tử

Thì được thân công đức pháp tánh

Dùng pháp oai lực hiện thế gian.

Nếu được thân pháp tánh công đức

Dùng pháp oai lực hiện thế gian

Thì được thập địa mười tự tại

Tu hành các độ thắng giải thoát.

Nếu được thập địa mười tự tại

Tu hành các độ thắng giải thoát

Thì được quán đảnh đại thần thông

Trụ nơi tối thắng các tam muội.

Nếu được quán đảnh đại thần thông

Trụ nơi tối thắng các tam muội

Thì khắp mười phương chỗ chư Phật

Ðáng thọ quán đảnh được thắng vị.

Nếu khắp mười phương chỗ chư Phật

Ðáng thọ quán đảnh được thắng vị

Thì được tất cả Phật mười phương

Tay lấy cam lộ rưới trên đảnh.

Nếu được tất cả Phật mười phương

Tay lấy cam lộ rưới trên đảnh

Thì thân đầy khắp như hư không

An trụ bất động khắp mười phương.

Nếu thân đầy khắp như hư không

An trụ bất động khắp mười phương

Thì chỗ sở hành không ai bằng

Chư Thiên, người đời chẳng biết được.

Bồ tát siêng tu hạnh đại bi

Nguyện độ tất cả đều trọn vẹn

Nếu ai nghe thấy mà cúng dường

Ðều làm cho họ được an lạc.

Thần lực của chư Bồ tát kia

Pháp nhãn toàn vẹn không khuyết giảm

Những đạo diệu hạnh, thập thiện thảy

Thắng bửu vô lượng đều khiến hiện.

Như báu kim cang trong đại hải

Do oai lực nầy sanh các báu

Không tăng, không giảm cũng vô tận

Công đức của Bồ tát cũng vậy.

Hoặc có quốc độ không có Phật

Bồ tát nơi đó hiện thành Phật

Nếu có quốc độ chẳng biết pháp

Nơi đó Bồ tát thuyết diệu pháp.

Không có phân biệt không công dụng

Trong khoảng một niệm khắp mười phương

Như mặt nguyệt sáng chiếu khắp nơi

Vô lượng phương tiện độ quần sanh.

Ở trong mười phương các thế giới

Niệm niệm thị hiện thành Phật đạo

Chuyển chánh pháp luân vào tịch diệt

Nhẫn đến xá lợi phân bố rộng.

Hoặc hiện Thanh văn cùng Ðộc giác

Hoặc hiện thành Phật khắp trang nghiêm

Như vậy khai diễn pháp ba thừa

Rộng độ chúng sanh vô lượng kiếp.

Hoặc hiện thân đồng nam, đồng nữ

Trời Rồng nhẫn đến A tu la

Cùng với Ma hầu la già thảy

Tùy chúng sở thích đều khiến thấy.

Chúng sanh hình tướng đều chẳng đồng

Hành nghiệp âm thanh cũng vô lượng

Tất cả như vậy đều hiện được

Hải ấn tam muội oai thần lực.

Nghiêm tịnh bất tư nghị quốc độ

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Phóng đại quang minh vô lượng biên

Ðộ thoát chúng sanh cũng vô hạn.

Trí huệ tự tại bất tư nghị

Ngôn từ thuyết pháp không chướng ngại

Thí, giới, nhẫn, tấn và thiền định

Trí huệ, phương tiện, thần thông thảy.

Tất cả như vậy đều tự tại

Do Phật hoa nghiêm tam muội lực

Trong một vi trần nhập tam muội

Thành tựu vi trần tất cả định,

Mà vi trần kia cũng không thêm

Nơi một hiện khắp vô biên cõi.

Trong một trần kia nhiều quốc độ

Hoặc là có Phật hoặc không Phật,

Hoặc là tạp nhiễm hoặc thanh tịnh

Hoặc cõi rộng lớn hoặc hẹp nhỏ,

Hoặc có cõi thành hoặc là hoại

Hoặc cõi chánh trụ hoặc bàng trụ

Hoặc như ánh nắng giữa đồng trống

Hoặc như lưới Thiên Ðế trên trời.

Như chỗ thị hiện trong một trần

Tất cả vi trần đều như vậy,

Ðây là những Thánh nhơn cao cả

Tam muội giải thoát thần thông lực.

Nếu muốn cúng dường tất cả Phật

Nhập nơi tam muội khởi thần thông

Hay dùng một tay khắp Đại thiên

Cúng khắp tất cả vô số Phật.

Bao nhiêu hoa đẹp ở mười phương

Hương thoa, hương bột báu vô giá

Ðều từ trong tay xuất hiện ra

Cúng dường chư Phật ngự đạo thọ.

Bửu y vô giá xen hương diệu

Bửu tràng phan lọng đều xinh đẹp

Vàng ròng làm hoa ngọc làm màn

Tất cả đều từ trong tay hiện.

Bao nhiêu vật tốt ở mười phương

Ðáng đem phụng hiến đấng Vô Thượng

Trong tay tất cả đều hiện đủ

Trước cây Bồ đề cúng chư Phật.

Tất cả kỹ nhạc ở mười phương

Chung, cổ, cầm, sắc đủ các loại

Ðồng tấu hòa nhã âm thanh diệu

Ðều từ bàn tay xuất hiện ra.

Bao nhiêu tán tụng ở mười phương

Ca ngợi thiệt đức của chư Phật

Như vậy các thứ diệu ngôn từ

Ðều từ bàn tay mà khai diễn.

Bồ tát tay mặt phóng tịnh quang

Trong quang rưới ra nước thơm sạch

Rưới khắp mười phương các quốc độ

Cúng dường tất cả Chiếu Thế Ðăng.

Lại phóng quang minh diệu trang nghiêm

Xuất sanh vô lượng hoa sen báu

Hoa nầy hình sắc đều rất đẹp

Dùng đây cúng dường lên chư Phật.

Lại phóng quang minh hoa trang nghiêm

Các thứ diệu hoa hợp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Ðại Ðức.

Lại phóng quang minh hương trang nghiêm

Các thứ diệu hương hợp làm trướng,

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Ðại Ðức.

Lại phóng quang minh mạt hương tốt

Các thứ mạt hương hợp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Ðại Ðức.

Lại phóng quang minh y trang nghiêm

Các thứ y phục hợp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Ðại Ðức.

Lại phóng quang minh bửu trang nghiêm

Các thứ diệu bửu hợp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Ðại Ðức.

Lại phóng quang liên hoa trang nghiêm

Các thứ liên hoa hợp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Ðại Ðức.

Lại phóng quang anh lạc trang nghiêm

Các thứ chuỗi ngọc hợp làm trướng

Rải khắp cõi nước ở mười phương

Cúng dường tất cả đấng Ðại Ðức.

Lại phóng quang minh tràng trang nghiêm

Bửu tràng rực rỡ đủ màu đẹp

Các loại vô lượng đều rất tốt

Dùng đây trang nghiêm các Phật độ.

Các thứ báu đẹp lọng trang nghiêm

Những phan lụa đẹp treo rủ xuống

Lạc báu ma ni, diễn Phật âm

Ðem đến kính dâng cúng chư Phật.

Tay hiện đồ cúng bất tư nghị

Như vậy cúng dường một Ðạo Sư

Nơi tất cả Phật đều như vậy

Ðây là thần lực của Ðại Sĩ.

Bồ tát trụ trong môn tam muội

Các thứ tự tại nhiếp chúng sanh

Ðều đem pháp công đức đã làm

Vô lượng phương tiện để chỉ dạy.

Hoặc dùng môn cúng dường Như Lai

Hoặc dùng môn bố thí nan tư

Hoặc dùng môn trì giới đầu đà

Hoặc dùng môn nhẫn nhục bất động.

Hoặc dùng môn khổ hạnh tinh tấn

Hoặc dùng môn thiền định tịch tịnh

Hoặc dùng môn trí huệ quyết rõ

Hoặc dùng môn phương tiện tu hành.

Hoặc dùng môn Phạm trụ, thần thông

Hoặc dùng môn tứ nhiếp lợi ích

Hoặc dùng môn phước trí trang nghiêm

Hoặc dùng môn nhơn duyên giải thoát.

Hoặc dùng môn căn lực, chánh đạo

Hoặc dùng môn Thanh văn giải thoát,

Hoặc dùng môn Ðộc giác thanh tịnh

Hoặc dùng môn Đại thừa tự tại.

Hoặc dùng môn vô thường những khổ

Hoặc dùng môn vô ngã, vô thọ,

Hoặc dùng môn bất tịnh, ly dục

Hoặc dùng môn diệt tận tam muội.

Tùy theo chúng sanh bịnh chẳng đồng

Ðều dùng pháp dược để đối trị.

Tùy theo chúng sanh tâm sở thích

Ðều dùng phương tiện khiến đầy đủ.

Tùy theo chúng sanh hạnh sai biệt

Ðều dùng chước khéo khiến thành tựu.

Những tướng tam muội thần thông ấy

Tất cả trời người chẳng lường được.

Có diệu tam muội tên Tùy lạc

Bồ tát trụ đây khắp quan sát.

Tùy nghi thị hiện độ chúng sanh

Ðều khiến vui lòng theo chánh pháp.

Gặp lúc kiếp nạn đói khát khổ

Ban cho thế gian đồ cần thiết

Tùy chỗ họ muốn đều khiến đủ

Khắp vì chúng sanh làm lợi ích.

Hoặc cho những vật uống ăn ngon

Y phục tư trang những vật tốt

Cả đến ngôi vua đều xả được

Khiến kẻ ưa thí theo chánh pháp.

Hoặc dùng tướng hảo trang nghiêm thân

Y phục thượng diệu chuỗi ngọc báu

Tràng hoa nghiêm sức hương thoa thân

Oai nghi đầy đủ độ hàm thức.

Tất cả thế gian chỗ ưa chuộng

Sắc tướng dung nhan và y phục

Tùy nghi hiện đủ vui lòng họ

Khiến kẻ ưa sắc theo chánh pháp.

Tiếng ca lăng tần già mỹ diệu

Âm thanh diệu câu chỉ la thảy

Những thứ Phạm âm đều đầy đủ

Tùy lòng họ thích vì thuyết pháp.

Tám vạn bốn ngàn các pháp môn

Chư Phật dùng đây độ chúng sanh

Bồ tát cũng theo pháp sai biệt

Tùy nghi theo đời mà hóa độ.

Chúng sanh khổ, lạc, lợi, suy thảy

Những việc thực hành của thế gian

Ðều hay ứng hiện đồng với họ

Dùng đây phổ độ các chúng sanh.

Tất cả thế gian những khổ hoạn

Sâu rộng không bờ như đại hải

Ðồng sự với họ đều chịu được

Khiến họ lợi ích được an vui.

Có người chẳng biết pháp xuất ly

Chẳng cầu giải thoát lìa ồn náo

Vì họ Bồ tát hiện thí xả

Thường ưa xuất gia tâm tịch tịnh.

Nhà là chốn tham ái ràng buộc

Muốn khiến chúng sanh đều khỏi lìa

Nên hiện xuất gia được giải thoát

Với các dục lạc không ưa thích.

Bồ tát hiện làm mười công hạnh

Cũng làm tất cả pháp đại nhơn

Làm hạnh chư Tiên đều không sót

Vì muốn chúng sanh được lợi ích.

Nếu có chúng sanh thọ vô lượng

Phiền não vi tế thích đầy đủ

Trong đó Bồ tát được tự tại

Hiện thọ các khổ: già, bịnh, chết.

Hoặc kẻ tham dục, sân, ngu si

Lửa mạnh phiền não luôn hừng cháy

Bồ tát thị hiện già, bịnh, chết

Khiến chúng sanh đó đều điều phục.

Như Lai thập lực vô sở úy

Cùng với mười tám pháp bất cộng

Tất cả vô lượng các công đức

Ðều đem thị hiện độ chúng sanh.

Thọ ký, giáo hóa và thần túc

Ðều là sức tự tại của Phật

Chư Ðại Sĩ kia đều thị hiện

Hay khiến chúng sanh đều điều phục.

Bồ tát đem các môn phương tiện

Tùy thuận thế pháp độ chúng sanh

Ví như liên hoa chẳng dính nước

Tại thế như vậy khiến người tin.

Là vua văn tài học uyên bác

Ca vũ luận bàn người đều thích

Tất cả kỹ thuật trong thế gian

Như nhà ảo thuật đều hiện đủ.

Hoặc làm trưởng giả chủ trong ấp

Hoặc làm thương chủ người buôn bán

Hoặc làm quốc vương cùng quan lớn

Hoặc làm lương y, nhà hùng biện.

Hoặc làm cây to giữa cánh đồng

Hoặc làm thuốc hay những kho báu

Hoặc làm bửu châu như ý vương

Hoặc đem chánh đạo dạy chúng sanh.

Nếu thấy thế giới mới thành lập

Chúng sanh chưa có vật cần dùng

Bấy giờ Bồ tát làm công thợ

Vì họ bày ra các nghề nghiệp.

Chẳng làm vật bức não chúng sanh

Chỉ nói chuyện thế gian lợi ích

Các luận: chú thuật, dược thảo thảy

Tất cả như vậy đều nói rành.

Thắng hạnh của tất cả Tiên nhơn

Trời người, mọi loài đều tín ngưỡng

Những pháp khổ hạnh khó làm đó

Bồ Tát tùy nghi đều làm được.

Hoặc làm ngoại đạo, người xuất gia

Hoặc ở núi rừng tự cần khổ

Hoặc để mình trần, không y phục

Mà làm Sư trưởng của chúng kia.

Hoặc hiện những hạnh tà mạng thảy

Tập làm phi pháp cho là thắng

Hoặc hiện oai nghi, làm Phạm chí

Ở trong chúng kia làm thượng thủ.

Hoặc thọ ngũ nhiệt, phơi dưới nắng

Hoặc giữ giới bò, chó và nai

Hoặc mặc áo rách, phụng thờ lửa

Vì độ chúng kia, làm Sư trưởng.

Hoặc hiện yết kiến các Thiên miếu

Hoặc lại hiện vào nước sông Hằng

Ăn củ trái thảy đều hiện làm

Nơi đó thường suy pháp tối thắng.

Hoặc hiện ngồi xổm, hoặc co chân

Hoặc nằm cỏ gai, hoặc trên tro

Hoặc nằm trên chày, cầu xuất ly

Mà ở chúng kia làm sư thủ.

Như vậy các phái, các ngoại đạo

Quan sát ý giải cùng đồng sự

Hiện làm khổ hạnh, đời chẳng kham

Khiến họ xem thấy đều điều phục.

Chúng sanh mê lầm theo tà giáo

Trụ nơi ác kiến, thọ những khổ

Vì họ, phương tiện nói diệu pháp

Ðều khiến được hiểu lý chơn thiệt.

Hoặc theo chú ngữ nói Tứ đế

Hoặc giỏi mật ngữ nói Tứ đế

Hoặc dùng tiếng người nói Tứ đế

Hoặc trời mật ngữ nói Tứ đế.

Phân biệt văn tự nói Tứ đế

Quyết định nghĩa lý nói Tứ đế

Khéo phá nơi người nói Tứ đế

Chẳng bị dao động nói Tứ đế,

Hoặc tiếng bát bộ nói Tứ đế

Hoặc tất cả lời nói Tứ đế

Tùy ngôn âm thế gian hiểu được

Diễn thuyết Tứ đế khiến giải thoát.

Tất cả bao nhiêu các Phật tử

Ðều nói như vậy đủ tất cả

Biết cảnh giới lời bất tư nghị

Ðây là thuyết pháp tam muội lực.

*Có thắng tam muội tên An Lạc

Hay khắp cứu độ các quần sanh

Phóng đại quang minh bất tư nghị

Khiến ai được thấy đều điều phục.

Quang minh đã phóng tên Thiện Hiện

Nếu có ai gặp quang minh nầy

Tất được lợi ích chẳng luống uổng

Nhơn đây được thành trí vô thượng,

Bồ Tát trước hiện nơi chư Phật

Hiện Pháp, hiện Tăng, hiện chánh đạo

Cũng hiện tháp Phật và hình tượng

Vì thế nên thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Chiếu Diệu

Chói lấn tất cả sáng chư Thiên

Bao nhiêu ám chướng đều tiêu trừ

Khắp vì chúng sanh làm lợi ích.

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến cầm đèn sáng cúng dường Phật

Do dùng đèn sáng cúng dường Phật

Ðược thành thế gian Vô thượng đăng.

Thắp những đèn dầu và đèn tô

Cũng thắp các thứ đuốc sáng tỏ

Những ngọn nến báu thơm đẹp nhất

Dùng đây cúng Phật được quang nầy.

Lại phóng quang minh tên Tế Độ

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến họ phát tâm đại thệ nguyện

Ðộ thoát quần sanh trong dục hải.

Nếu hay phát được tâm đại thệ

Độ thoát quần sanh trong dục hải

Thì hay vượt qua bốn dòng nước

Bước đến thành vô ưu giải thoát.

Nơi những đường đi ngang sông lớn

Xây cất cầu đò và thuyền bè

Quở rầy hữu vi khen tịch tịnh

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Diệt Ái

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến họ xa lìa cảnh ngũ dục

Gẫm suy diệu vị pháp giải thoát.

Nếu hay bỏ lìa cảnh ngũ dục

Gẫm suy diệu vị pháp giải thoát

Thì hay dùng Phật pháp cam lồ

Rưới tắt thế gian những khát ái.

Bố thí ao, giếng và khe suối

Chuyên cầu Bồ đề đạo vô thượng

Quở trách ngũ dục, khen thiền định

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Hoan Hỷ

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến họ ái mộ Phật Bồ đề

Phát tâm nguyện chứng Vô sư đạo.

Tạo lập Như Lai tượng đại bi

Tướng hảo trang nghiêm, ngự liên tòa

Luôn khen những công đức tối thắng

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Ái Nhạo

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến lòng họ mến kính chư Phật

Mến kính tôn Pháp mến kính Tăng;

Nếu tâm thường kính mến chư Phật

Kính mến Pháp và kính mến Tăng

Thì ở trong chúng hội Như Lai

Thành được pháp nhẫn sâu vô thượng.

Khai ngộ chúng sanh số vô lượng

Khiến họ niệm Phật, Pháp, Tăng bảo

Và dạy phát tâm tu công đức

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Phước Tụ

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến họ thực hành nhiều bố thí

Dùng đây nguyện cầu đạo Vô thượng.

Lập hội đại bố thí vô hạn

Ai đến cầu xin đều thỏa mãn

Chẳng để lòng họ còn thấy thiếu

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Cụ Trí

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến nơi một pháp, trong một niệm

Ðều hiểu vô lượng các pháp môn.

Vì các chúng sanh phân biệt pháp

Nhẫn đến quyết liễu nghĩa chơn thiệt

Khéo nói pháp nghĩa không thiếu bớt

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Huệ Đăng

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến biết chúng sanh tánh không, tịch

Tất cả các pháp vô sở hữu.

Diễn thuyết các pháp không, vô chủ

Như huyễn, như diệm, trăng dưới nước

Cũng như giấc mơ, cùng bóng tượng

Do đây được thành quang minh nầy.

Phóng quang minh tên Pháp Tự Tại

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến được vô tận đà la ni

Tổng trì tất cả các Phật pháp,

Cung kính cúng dường người trì pháp

Cung cấp hầu hạ chư Thánh Hiền

Ðem chánh pháp thí cho chúng sanh

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Năng Xả

Quang nầy giác ngộ kẻ xan tham

Khiến biết tài vật là vô thường

Thường thích bố thí lòng không nhiễm.

Lòng keo kiết khó điều, được điều

Biết của như mộng như mây nổi

Thêm lớn tâm bố thí thanh tịnh

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Trừ Nhiệt

Quang nầy giác ngộ kẻ phạm giới

Khiến họ thọ trì giới thanh tịnh

Phát tâm nguyện chứng đạo Vô sư.

Khuyên dắt chúng sanh thọ trì giới

Mười nghiệp đạo lành đều thanh tịnh

Lại khiến phát hướng Bồ đề tâm

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Nhẫn Nghiêm

Quang nầy giác ngộ kẻ sân hận

Khiến họ lìa sân, trừ ngã mạn

Thường thích pháp nhu hòa nhẫn nhục.

Chúng sanh bạo ác khó nhẫn được

Vì Bồ đề nên tâm chẳng động

Thường thích ca ngợi đức nhẫn nhục

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Dũng Mãnh

Quang nầy giác ngộ kẻ giải đãi

Khiến họ thường đối với Tam Bảo

Cung kính cúng dường không nhàm mỏi.

Nếu họ thường đối với Tam Bảo

Cung kính cúng dường không nhàm mỏi

Thì hay vượt khỏi cảnh tứ ma

Mau thành bực Bồ đề Vô thượng.

Khuyến hóa chúng sanh khiến tinh tấn

Thường siêng cúng dường ngôi Tam Bảo

Lúc pháp sắp diệt chuyên ủng hộ

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Tịch Tịnh

Quang nầy giác ngộ kẻ loạn tâm

Khiến họ xa lìa tham, sân, si

Tâm chẳng dao động được chánh định,

Xa lìa tất cả ác tri thức

Luận đàm vô nghĩa, hạnh tạp nhiễm

Khen ngợi thiền định, hạnh tịch tịnh

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Huệ Nghiêm

Quang nầy giác ngộ kẻ ngu mê

Khiến họ chứng lý, hiểu duyên khởi

Lục căn, trí huệ đều thông đạt,

Nếu hay chứng lý, hiểu duyên khởi

Lục căn, trí huệ đều thông đạt

Thì được pháp tam muội nhựt đăng

Trí huệ sáng tỏ thành Phật quả,

Của ngoài, trong thân đều hay xả

Vì đạo Bồ đề cầu chánh pháp

Nghe xong, chuyên cần vì chúng nói

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Phật Huệ

Quang nầy giác ngộ các hàm thức

Khiến thấy vô lượng vô biên Phật

Ðều ngự trên bửu tòa liên hoa.

Khen Phật oai đức và giải thoát

Ngợi Phật tự tại vô hạn lượng

Hiển thị Phật lực và thần thông

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Vô Úy

Quang nầy chiếu đến kẻ sợ hãi

Quỷ mị bắt giữ, những độc hại

Tất cả đều khiến mau trừ diệt,

Hay ban vô úy cho chúng sanh

Gặp kẻ não hại đều khuyên ngăn

Chẩn tế kẻ cô cùng ách nạn

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên An Ổn

Quang nầy chiếu đến người tật bịnh

Khiến trừ tất cả sự khổ đau

Ðều được sự vui trong chánh định,

Ban cho thuốc hay cứu các bịnh

Diệu bửu sống lâu, hương thoa thân

Tô, dầu, sữa, mật làm thức ăn

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Kiến Phật

Quang nầy giác ngộ người sắp chết

Khiến tùy nhớ tưởng thấy Như Lai

Mạng chung được sanh cõi nước Phật,

Thấy kẻ lâm chung khuyên niệm Phật

Lại chỉ tượng Phật bảo nhìn ngắm

Khiến đối với Phật rất kính ngưỡng

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Lạc Pháp

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến nơi chánh pháp luôn mến thích

Lóng nghe diễn thuyết và biên chép,

Lúc pháp sắp diệt hay diễn thuyết

Khiến người cầu pháp ý thỏa mãn

Mến thích chánh pháp siêng tu tập

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Diệu Âm

Quang nầy khai ngộ chư Bồ Tát

Hay khiến các tiếng trong ba cõi

Người đều nghe là tiếng của Phật,

Dùng âm thanh lớn ca ngợi Phật

Bố thí lạc, linh, các âm nhạc

Khiến khắp thế gian nghe tiếng Phật

Do đây được thành quang minh nầy.

Phóng quang minh tên Thí Cam Lộ

Quang nầy khai ngộ tất cả chúng

Khiến bỏ tất cả hạnh phóng dật

Tu hành đầy đủ các công đức,

Nói pháp hữu vi chẳng an ổn

Vô lượng khổ não đều đầy khắp

Hằng thích ca ngợi vui tịch diệt

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Tối Thắng

Quang nầy khai ngộ tất cả chúng

Khiến ở chỗ Phật khắp lóng nghe

Giới, định, trí huệ pháp tăng thượng,

Thường thích ca ngợi tất cả Phật

Thắng giới, thắng định, thắng trí huệ

Ðó là vì cầu đạo Vô thượng

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Bửu Nghiêm

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến được bửu tạng vô cùng tận

Dùng đây cúng dường chư Như Lai,

Ðem các loại bửu châu thượng diệu

Dâng lên chư Phật và tháp Phật

Cũng khiến ban cho kẻ nghèo thiếu

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Hương Nghiêm

Quang nầy giác ngộ tất cả chúng

Khiến người nghe pháp lòng vui đẹp

Quyết định sẽ thành công đức Phật.

Hương tốt quý giá dùng thoa đất

Cúng dường tất cả đấng Tối Tôn

Cũng dùng xây tháp và tượng Phật

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Tạp Trang Nghiêm

Bửu tràng, phan lọng số vô lượng

Thắp hương, rải hoa, tấu âm nhạc

Thành ấp trong ngoài đều khắp cả,

Ðem những kỹ nhạc vi diệu ấy

Cùng những hương, hoa, phan, lọng đẹp

Các thứ trang nghiêm cúng dường Phật

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Nghiêm Khiết

Khiến mặt đại địa đều bằng phẳng

Trang nghiêm tháp Phật và chỗ ấy

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Đại Vân

Hay khởi mây thơm hay nước thơm

Nước thơm rưới tháp và đình viện

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Nghiêm Cụ

Khiến người thiếu áo được thượng phục

Vật tốt nghiêm thân đem bố thí

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Thượng Vị

Hay khiến kẻ đói được mỹ thực

Các thứ ăn ngon đem bố thí

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang minh tên Đại Tài

Khiến kẻ nghèo cùng được của báu

Ðem vật vô tận cúng Tam Bảo

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Nhãn Thanh Tịnh

Hay khiến kẻ mù được ngó thấy

Ðem đèn cúng Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Nhĩ Thanh Tịnh

Hay khiến kẻ điếc được nghe rõ

Trỗi nhạc cúng Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Tỷ Thanh Tịnh

Xưa chưa nghe hương, đều được nghe

Ðem hương cúng Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Thiệt Thanh Tịnh

Hay dùng tiếng tốt ca ngợi Phật

Trừ hẳn lời nói thô và ác

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Thân Thanh Tịnh

Kẻ năm căn thiếu, khiến hoàn cụ

Ðem thân lễ Phật và tháp Phật

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Ý Thanh Tịnh

Khiến kẻ quên lãng được chánh niệm

Tu hành tam muội đều tự tại

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Sắc Thanh Tịnh

Khiến thấy Phật sắc bất tư nghị

Ðem những diệu sắc trang nghiêm tháp

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Thanh Thanh Tịnh

Khiến biết thanh tánh vốn không tịch

Quán thanh duyên khởi, như tiếng vang

Do đây được thành quang minh ấy.

Lại phóng quang tên Hương Thanh Tịnh

Khiến vật hôi nhơ đều thơm sạch

Nước thơm rửa tháp, cây Bồ đề

Do đây được thành quang minh ấy.

Lại phóng quang tên Vị Thanh Tịnh

Hay trừ tất cả độc trong vị

Hằng cúng Phật, Tăng, cùng cha mẹ

Do đây được thành quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Xúc Thanh Tịnh

Hay khiến thô nhám đều dịu mềm

Ðao, mâu, kiếm, kích trên rơi xuống

Ðều khiến biến làm tràng hoa đẹp,

Bởi xưa từng ở giữa đường sá

Thoa hương rải hoa trải y phục

Rước đưa chư Phật đi trên đó

Vì thế nay được quang minh nầy.

Lại phóng quang tên Pháp Thanh Tịnh

Hay khiến tất cả những chân lông

Ðều diễn diệu pháp bất tư nghị

Ai nghe pháp nầy đều vui hiểu,

Nhơn duyên sanh ra, vốn vô sanh

Pháp thân của Phật chẳng phải thân

Pháp tánh thường trụ như hư không

Do thuyết nghĩa trên được quang ấy.

Những môn quang minh như đã thuật

Hằng hà sa số vô hạn lượng

Ðều từ chân lông Ðại Tiên phóng

Mỗi quang công dụng đều sai biệt.

Như một chân lông phóng quang minh

Vô lượng vô số như hằng sa

Tất cả chân lông đều như vậy

Ðây là Ðại Tiên tam muội lực.

Như bổn hạnh xưa được quang minh

Tùy ai túc duyên đồng tu hành

Nay phóng quang minh nên như vậy

Ðây là Ðại Tiên trí tự tại.

Thuở xưa đồng tu nơi phước nghiệp

Và người mến thích hay tùy hỷ

Thấy kia thực hành cũng vui theo

Nay nơi quang nầy đều được thấy.

Nếu ai tự tu các phước nghiệp

Cúng dường chư Phật vô lượng số

Nơi công đức Phật thường nguyện cầu

Ðược quang minh nầy làm giác ngộ.

Như kẻ sanh manh chẳng thấy trời

Chẳng phải mặt trời không mọc lên

Những người mắt tỏ đều thấy rõ

Riêng theo phận mình làm công việc,

Quang minh Bồ Tát cũng như vậy

Người có trí huệ đều thấy cả

Phàm phu tà tín, kẻ mê si

Nơi quang minh nầy không thấy được.

Ma ni cung điện và xe kiệu

Báu đẹp hương thơm dùng thoa sáng

Người có phước đức tự nhiên đủ

Người không phước đức chẳng ở được.

Bồ Tát quang minh cũng như vậy

Người có trí sâu đều chiếu đến

Tà tín, hiểu kém, kẻ phàm ngu

Chẳng thể thấy được quang minh ấy.

Nếu ai nghe quang nầy sai biệt

Hay sanh lòng tin sâu, thanh tịnh

Dứt hẳn tất cả các lưới nghi

Mau thành tràng công đức vô thượng.

Có thắng tam muội hay xuất hiện

Quyến thuộc trang nghiêm đều tự tại

Tất cả mười phương các quốc độ

Phật tử chúng hội không sánh kịp.

Có diệu liên hoa quang trang nghiêm

Lượng bằng tam thiên đại thiên giới

Thân Ngài đoan tọa khắp liên hoa

Ðây là tam muội thần thông lực.

Lại có mười cõi vi trần số

Liên hoa xinh đẹp bao vòng quanh

Chúng Phật tử ngồi trên hoa đó

Trụ nơi tam muội oai thần lực.

Ðời trước thành tựu nhơn duyên lành

Tu hành đầy đủ Phật công đức

Những chúng sanh nầy quanh Bồ Tát

Cùng nhau chắp tay nhìn không chán.

Như mặt nguyệt giữa các tinh tú

Bồ Tát trong chúng cũng như thế

Công hạnh Bồ tát pháp như vậy

Vào nơi tam muội oai thần lực.

Như sự thị hiện ở một phương

Các chúng Phật tử cùng vây quanh

Trong tất cả phương đều như vậy

Trụ nơi tam muội oai thần lực.

Có thắng tam muội tên Phương Võng

Trụ đây Bồ Tát rộng khai thị

Trong tất cả phương khắp hiện thân

Hoặc hiện nhập định, hoặc xuất định,

Hoặc ở phương đông nhập chánh định

Rồi ở phương tây mà xuất định

Hoặc ở phương tây nhập chánh định

Rồi ở phương đông mà xuất định,

Hoặc ở phương khác nhập chánh định

Rồi ở phương khác mà xuất định,

Nhập xuất như vậy khắp mười phương

Ðây gọi Bồ Tát tam muội lực.

Cùng tận phương đông các quốc độ

Chư Phật Như Lai vô lượng số

Ðều hiện trước Phật thân cận cả

Trụ nơi tam muội tịch bất động,

Những nơi phương tây các thế giới

Chỗ của tất cả chư Phật ngự

Ðều hiện từ nơi tam muội xuất

Sắm sửa vô lượng đồ cúng dường.

Cùng tận phương tây các quốc độ

Chư Phật Như Lai vô lượng số

Ðều hiện trước Phật thân cận cả

Trụ nơi tam muội tịch bất động.

Những nơi phương đông các thế giới

Chỗ của tất cả chư Phật ngự

Ðều hiện từ nơi tam muội xuất

Sắm sửa vô lượng đồ cúng dường.

Như vậy mười phương các thế giới

Bồ Tát vào khắp không bỏ sót

Hoặc nhập tam muội tịch bất động

Hoặc hiện cung kính cúng dường Phật.

Ở trong nhãn căn nhập chánh định

Nơi trong sắc trần từ định xuất,

Thị hiện sắc tánh bất tư nghị

Tất cả trời người chẳng biết được.

Ở trong sắc trần nhập chánh định

Nơi nhãn xuất định tâm chẳng loạn

Thuyết nhãn vô sanh và vô khởi

Tánh Không tịch diệt và vô tác.

Ở trong nhĩ căn nhập chánh định

Nơi trong thanh trần từ định xuất

Phân biệt tất cả tiếng ngữ ngôn

Chư Thiên, thế nhơn chẳng biết được.

Ở trong thanh trần nhập chánh định

Nơi nhĩ xuất định, tâm chẳng loạn

Thuyết nhĩ, vô sanh và vô khởi

Tánh Không tịch diệt và vô tác.

Ở trong tỷ căn nhập chánh định

Nơi trong hương trần từ định xuất

Khắp được tất cả thượng diệu hương

Chư Thiên, thế nhơn chẳng biết được.

Ở trong hương trần nhập chánh định

Nơi tỷ xuất định tâm chẳng loạn

Nơi tỷ vô sanh và vô khởi

Tánh Không, tịch diệt và vô tác.

Ở trong thiệt căn nhập chánh định

Nơi trong vị trần từ định xuất

Khắp được tất cả những thượng vị

Chư Thiên, thế nhơn chẳng biết được.

Ở trong vị trần nhập chánh định

Trong thiệt xuất định tâm chẳng loạn

Nói thiệt vô sanh và vô khởi

Tánh Không tịch diệt và vô tác.

Ở trong thân căn nhập chánh định

Nơi trong xúc trần từ định xuất

Khéo hay phân biệt tất cả xúc

Chư Thiên, thế nhơn chẳng biết được.

Ở trong xúc trần nhập chánh định

Trong thân xuất định tâm chẳng loạn

Thuyết thân, vô sanh và vô khởi

Tánh Không tịch diệt và vô tác.

Ở trong ý căn nhập chánh định

Nơi trong pháp trần từ định xuất

Phân biệt tất cả các pháp tướng

Chư Thiên, thế nhơn chẳng biết được.

Ở trong pháp trần nhập chánh định

Nơi ý xuất định tâm chẳng loạn

Thuyết ý vô sanh và vô khởi

Tánh Không tịch diệt và vô tác.

Trong thân đồng tử nhập chánh định

Trong thân tráng niên từ định xuất

Trong thân tráng niên nhập chánh định

Trong thân lão niên từ định xuất,

Trong thân lão niên nhập chánh định

Trong thân thiện nữ từ định xuất,

Trong thân thiện nữ nhập chánh định

Trong thân thiện nam từ định xuất,

Trong thân thiện nam nhập chánh định

Thân Tỳ kheo ni từ định xuất

Thân Tỳ kheo ni nhập chánh định

Trong thân Tỳ kheo từ định xuất,

Trong thân Tỳ kheo nhập chánh định

Thân học, vô học từ định xuất,

Thân học, vô học nhập chánh định

Thân Bích chi Phật từ định xuất,

Thân Bích chi Phật nhập chánh định

Hiện thân Như Lai từ định xuất,

Nơi thân Như Lai nhập chánh định

Trong thân chư Thiên từ định xuất,

Trong thân chư Thiên nhập chánh định

Trong thân đại Long từ định xuất,

Trong thân đại Long nhập chánh định

Trong thân Dạ xoa từ định xuất,

Trong thân Dạ xoa nhập chánh định

Trong thân quỷ thần từ định xuất,

Trong thân quỷ thần nhập chánh định

Trong một chân lông từ định xuất,

Trong một chân lông nhập chánh định

Tất cả chân lông từ định xuất,

Tất cả chân lông nhập chánh định

Trên đầu một lông từ định xuất,

Trên đầu một lông nhập chánh định

Trong một vi trần từ định xuất,

Trong một vi trần nhập chánh định

Tất cả vi trần từ định xuất,

Trong tất cả trần nhập chánh định

Trong đất kim cang từ định xuất,

Trong đất kim cang nhập chánh định

Trên cây ma ni từ định xuất,

Trên cây ma ni nhập chánh định

Trong quang minh Phật từ định xuất,

Trong quang minh Phật nhập chánh định

Ở trong sông biển từ định xuất,

Ở trong sông biển nhập chánh định

Ở trong lửa lớn từ định xuất,

Ở trong lửa lớn nhập chánh định

Nơi gió xuất định tâm chẳng loạn,

Ở trong phong đại nhập chánh định

Ở trong địa đại từ định xuất,

Ở trong địa đại nhập chánh định

Nơi Thiên cung điện từ định xuất,

Nơi Thiên cung điện chánh định

Hư không xuất định tâm chẳng loạn,

Ðây gọi bực Vô lượng công đức

Tam muội tự tại khó nghĩ bàn.

Mười phương tất cả chư Như Lai

Trong vô lượng kiếp nói chẳng hết,

Tất cả Như Lai đều cùng nói

Chúng sanh nghiệp báo khó nghĩ bàn.

Chư Long biến hóa, Phật tự tại

Bồ tát thần lực cũng khó nghĩ

Muốn dùng ví dụ để hiển bày

Trọn không có dụ để dụ được;

Nhưng những người trí huệ thông đạt

Nhơn thí dụ để hiểu nghĩa đó.

Hàng Thanh văn trụ bát giải thoát

Những sự biến hiện đều tự tại:

Có thể một thân hiện nhiều thân

Lại hiệp nhiều thân thành một thân,

Ở giữa không gian nhập hỏa định

Ði, đứng, nằm, ngồi giữa hư không

Trên thân phun nước dưới tuôn lửa

Trên thân tuôn lửa dưới tuôn nước

Như thế đều nơi trong một niệm

Các môn tự tại vô lượng biên.

Thanh văn chẳng đủ đại từ bi

Chẳng vì chúng sanh cầu Phật đạo

Còn hiện được thần thông vô lượng

Huống là Phật, Bồ tát đại lực!

Như mặt nhựt nguyệt trên hư không

Bóng tượng cùng khắp cả mười phương

Trong nước ao hồ đầm chậu chén

Sông ngòi biển lớn đều hiện cả.

Bồ Tát sắc tượng cũng như vậy

Hiện khắp mười phương bất tư nghị

Ðều do tam muội sức tự tại

Chỉ có Như Lai là chứng biết.

Như trong nước trong, bóng vũ khí

Các loại sai khác không xen tạp

Kiếm kích, cung tên, loại rất nhiều

Mão giáp xe cộ chẳng phải một,

Tùy kia bao nhiêu tướng sai khác

Nước trong hiện rõ tất cả bóng

Nhưng nước vốn tự không phân biệt

Bồ Tát tam muội cũng như vậy.

Trong biển có thần tên Thiện Âm

Tiếng thần thuận hết loài trong biển

Bao nhiêu ngôn ngữ đều hiện rõ

Khiến tất cả chúng đều vui đẹp.

Hải thần có đủ tham, sân, si

Mà còn khéo hiểu tất cả tiếng

Huống là tổng trì tự tại lực

Mà chẳng khiến được chúng vui mừng!

Có một phụ nữ tên Biện Tài

Cha mẹ cầu trời mà sanh nàng

Có ai lìa ác thích chơn thiệt

Vào trong thân nàng sanh diệu biện.

Nàng ấy có tham dục sân si

Còn cho người theo có biện tài,

Huống là Bồ tát đủ trí huệ

Mà chẳng cho chúng được lợi ích!

Như nhà ảo thuật biết ảo pháp

Hiện được nhiều loại cùng nhiều vật

Giây lát hiện làm ngày tháng năm

Thành ấp giàu có rất an vui,

Thuật gia có đủ tham sân si

Còn biến hóa được vui thế gian

Huống là thiền định sức giải thoát

Mà chẳng khiến được chúng vui mừng!

Lúc trời cùng Tu la chiến đấu

Tu la thua trận đồng chạy trốn

Vũ khí xe cộ và quân lữ

Ðồng thời trốn mất không kiếm được,

Tu la có đủ tham sân si

Còn hay biến hóa bất tư nghị

Huống bực thần thông vô úy lực

Biến hiện tự tại đâu lường được!

Thích Ðề Hoàn Nhơn có tượng vương

Lúc nó biết Thiên Ðế muốn đi

Tự hóa đủ ba mươi hai đầu

Mỗi đầu đều đủ sáu ngà trắng,

Trên mỗi ngà đều có bảy ao

Mỗi ao đầy nước thơm, trong sạch

Trong mỗi ao nước thơm trong ấy

Có bảy hoa sen rất xinh đẹp,

Trên mỗi hoa sen xinh đẹp ấy

Ðều có bảy ngọc nữ cõi trời

Giỏi nghề đờn ca trỗi âm nhạc

Cùng với Thiên Ðế đồng vui chơi,

Voi ấy hoặc lại bỏ bổn hình

Tự hóa thân nó như chư Thiên

Oai nghi đi đứng như trời thiệt

Nó có sức thần biến như vậy.

Tượng vương có đủ tham sân si

Còn hiện thần thông được như vậy

Huống bực đầy đủ trí phương tiện

Mà nơi tam muội chẳng tự tại!

Như A tu la biến thân hình

Chân đạp đáy biển kim cang tế

Nước biển tột sâu ngập nửa thân

Ðầu cao ngang đỉnh núi Tu Di,

Tu la có đủ tham sân si

Còn hiện được thần thông to lớn

Huống bực phục ma Chiếu Thế Ðăng

Mà không tự tại oai thần lực!

Trời cùng Tu la lúc đánh nhau

Thiên Ðế thần lực bất tư nghị

Tùy theo số chúng của Tu la,

Hiện thân bằng số để cùng đấu,

Các A tu la tự nghĩ rằng:

Thích Ðề Hoàn Nhơn đến đánh ta

Tất sẽ bắt ta trói tay chân

Do đây chúng nó đều lo lắng,

Ðế Thích hiện thân có ngàn mắt

Tay cầm kim cang tuôn lửa ngọn

Mặc giáp cầm gậy rất oai nghiêm

Tu la trông thấy đều sợ chạy.

Thiên Ðế chỉ do chút phước đức

Còn dẹp phá được oán địch lớn

Huống bực Đại Bi cứu tất cả

Ðủ công đức lại chẳng tự tại!

Trong trời Ðao Lợi có Thiên cổ

Từ nghiệp báo trời mà cảm ra

Lúc biết chư Thiên ham phóng dật

Trên không tự nhiên vang tiếng nầy:

Tất cả ngũ dục đều vô thường

Như bọt nước kia, tánh hư giả

Các cõi như mơ, như ánh nắng

Như trăng trong nước, như mây nổi,

Phóng dật là oán, là khổ não

Là đường sanh tử, chẳng mát mẻ

Nếu ai ham say việc phóng dật

Lọt vào miệng cá lớn sanh tử,

Những cội gốc khổ của thế gian

Tất cả Thánh nhơn đều nhàm sợ,

Ngũ dục hoại diệt các công đức

Các Ngài phải thích pháp chơn thiệt.

Tam Thập Tam Thiên nghe tiếng trống

Cùng dắt nhau lên Thiện Pháp Ðường,

Thiên Ðế vì họ giảng diệu pháp

Ðều khiến thuận đạo trừ tham ái.

Tiếng trống vô hình không thấy được

Còn hay lợi ích chúng chư Thiên

Huống bực Ðại Từ hiện sắc thân

Mà chẳng tế độ loài hàm thức!

Trời cùng Tu la lúc đánh nhau

Chư Thiên phước đức thù thắng lực

Thiên cổ vang tiếng bảo chư Thiên:

Các Ngài chẳng nên có kinh sợ!

Chư Thiên được nghe tiếng trống nầy

Ðều hết lo sợ thêm thế lực

Lúc đó, Tu la lòng sợ khiếp

Bao nhiêu binh tướng kéo chạy lui.

Cam lộ diệu định như Thiên cổ

Hằng vang tiếng hàng ma tịch tịnh

Ðại bi xót thương cứu tất cả

Khiến khắp chúng sanh dứt não phiền.

Thiên Ðế ứng khắp các Thiên nữ

Chín mươi hai na do tha thân

Khiến chư Thiên nữ đều tự bảo

Thiên Vương chỉ cùng ta riêng vui.

Như khắp ứng với chư Thiên nữ

Trong Thiện Pháp Ðường cũng như vậy

Hay trong một niệm hiện thần thông

Ðều đến trước mặt mà thuyết pháp.

Thiên Ðế có đủ tham sân si

Hay khiến quyến thuộc đều hoan hỷ

Huống bực phương tiện đại thần thông

Mà chẳng khiến được chúng vui đẹp!

Tha Hóa Tự Tại Đại Thiên Vương

Ở trong cõi Dục được tự tại

Dùng hoặc nghiệp khổ làm rọ lưới

Cột trói tất cả hạng phàm phu.

Thiên Vương kia có tham sân si

Với chúng sanh còn được tự tại

Huống bực đủ cả mười trí lực

Mà chẳng khiến được chúng đồng hành!

Ðại thiên thế giới Ðại Phạm Vương

Tất cả chỗ ở của Phạm Thiên

Ðều hay hiện thân ngồi ở trước

Diễn thông tiếng Phạm âm vi diệu.

Ðại Phạm Vương kia ở thế gian

Thiền định thần thông còn như ý

Huống đấng Xuất Thế Gian Vô Thượng

Mà thiền giải thoát chẳng tự tại!

Ma Hê Thủ La trí tự tại

Ðại hải Long vương lúc làm mưa

Có thể phân biệt đếm từng giọt

Ở trong một niệm biết rõ ràng.

Bực vô lượng kiếp siêng tu học

Ðược trí giác Bồ đề Vô thượng

Há lại chẳng được trong một niệm

Biết khắp tất cả tâm chúng sanh!

Chúng sanh nghiệp báo bất tư nghị

Dùng sức đại phong khởi thế gian

Biển rộng, núi to, Thiên cung điện

Các báu, quang minh, muôn vật loại,

Cũng hay nổi mây cùng mưa lớn

Cũng hay làm tan những vân khí

Cũng hay thành thục loài ngũ cốc

Cũng hay an lạc các chúng sanh;

Ðại phong chẳng học ba la mật

Cũng chẳng học Phật các công đức

Còn làm thành việc bất tư nghị

Huống bực đầy đủ những hạnh nguyện.

Nam tử, nữ nhơn các thứ tiếng

Âm thanh của tất cả chim muông

Tiếng biển gào, sông chảy, sấm nổ

Ðều hay vừa đẹp ý chúng sanh.

Huống bực biết tiếng, tánh như vang

Ðến được biện tài diệu vô ngại

Ứng khắp chúng sanh mà thuyết pháp

Mà chẳng khiến được chúng sanh mừng!

Biển có pháp hy kỳ, đặc biệt

Bình đẳng ấn tượng tất cả cảnh

Bửu vật thế gian và muôn dòng

Dung nạp tất cả không chống đối.

Vô tận thiền định bực Giải thoát

Là bình đẳng ấn cũng như vậy

Phước đức, trí huệ các diệu hạnh

Khắp tu tất cả không nhàm đủ.

Ðại hải Long vương lúc du hý

Nơi nơi chốn chốn được tự tại

Nổi mây trùm khắp cả bốn châu

Mây đó đủ những màu trang nghiêm,

Ðệ lục Tha Hóa Tự Tại Thiên

Nơi đó màu mây như chơn kim,

Mây trời Hóa Lạc màu xích châu,

Mây trời Ðâu Suất màu sương tuyết,

Mây trời Dạ Ma màu lưu ly,

Mây trời Ðao Lợi màu mã não,

Trời Tứ Vương Thiên màu pha lê,

Trên mặt đại hải màu kim cang,

Cõi Khẩn na la màu diệu hương,

Chỗ ở chư Long màu liên hoa,

Chỗ ở Dạ xoa màu bạch nga,

Trong A tu la màu sơn thạch,

Châu Uất Ðơn Việt màu vàng lửa,

Trong Diêm Phù Ðề màu thanh bửu,

Hai châu kia màu tạp trang nghiêm,

Tùy chúng sở thích mà ứng đó.

Và lại Tha Hóa Tự Tại Thiên

Trong mây chớp sáng như nhựt quang,

Trên trời Hóa Lạc như nguyệt quang,

Trên Ðâu Suất Thiên vàng diêm phù,

Trên Dạ Ma Thiên màu kha tuyết,

Trời Ðao Lợi sáng màu lửa vàng,

Trên Tứ Vương Thiên màu các báu,

Trong đại hải kia màu xích châu,

Chỗ Khẩn na la màu lưu ly,

Chỗ Long vương ở màu bửu tạng,

Chỗ Dạ xoa ở màu pha lê,

Trong A tu la màu mã não,

Châu Uất Ðơn Việt màu hỏa châu,

Trong Diêm Phù Ðề màu đế thanh,

Nơi hai châu kia tạp trang nghiêm

Như màu của mây chớp cũng vậy.

Tha Hóa sấm nổ như Phạm âm,

Hóa Lạc Thiên như tiếng đại cổ,

Ðâu Suất Thiên như tiếng xướng ca

Dạ Ma Thiên như tiếng Thiên nữ,

Nơi trên trời Tam Thập Tam kia

Như âm thanh của Khẩn na la,

Nơi cõi Tứ Vương Thiên hộ thế

Như tiếng của thần Càn thát bà,

Trong biển như tiếng hai núi chạm,

Trong Khẩn na la tiếng tiêu địch,

Trong thành Long vương tiếng tần già,

Chỗ Dạ xoa ở tiếng Long nữ,

Nơi A tu la tiếng trống trời,

Ở trong nhơn loại tiếng hải triều.

Tha Hóa Tự Tại mưa diệu hương

Các thứ tạp hoa dùng trang nghiêm.

Hóa Lạc Thiên mưa hoa đa la

Mạn đà la hoa và rưới hương,

Trên Ðâu Suất Thiên mưa ma ni,

Ðầy đủ các thứ bửu trang nghiêm,

Bửu châu trong tóc như nguyệt quang

Y phục thượng diệu màu chơn kim,

Trời Dạ Ma mưa tràng phan lọng

Tràng hoa, hương thoa đồ nghiêm sức

Y thượng diệu màu xích chơn châu

Và cùng các thứ kỹ nhạc tốt,

Ðao Lợi Thiên mưa châu như ý

Hương kiên hắc, trầm thủy, chiên đàn

Uất kim, kê la, đa ma thảy

Hoa đẹp nước thơm xen nhau rưới,

Trong thành Trí Vương mưa thức ngon

Ðủ sắc, hương, vị thêm sức khỏe

Cũng mưa vô lượng các diệu bửu

Tất cả đều do Long vương làm.

Và lại nơi trong đại hải kia

Mưa tuôn chẳng dứt như trục xe

Lại mưa vô tận tạng đại bửu

Cũng mưa các thứ đồ trang nghiêm,

Xứ Khẩn na la mưa anh lạc

Y phục màu liên hoa và bửu

Hương mạt lợi và bà sư ca

Các thứ âm nhạc đều đầy đủ,

Trong thành chư Long mưa xích châu,

Thành Dạ xoa mưa ma ni quang,

Trong A tu la mưa dao gậy

Dẹp trừ tất cả những oán địch,

Châu Uất Ðơn Việt mưa anh lạc

Cũng mưa vô lượng hoa thượng diệu,

Phất Bà, Cù Gia hai châu kia

Ðều mưa các món đồ trang nghiêm,

Diêm Phù Ðề mưa nước trong sạch

Thấm nhuần mọi nơi thường phải thời

Nuôi lớn cây hoa quả và thuốc

Thành thục tất cả những lúa mạ.

Như vậy vô lượng diệu trang nghiêm

Các thứ mây, chớp và sấm, mưa,

Long vương tự tại đều làm được

Mà thân chẳng động, chẳng phân biệt.

Long vương ở trong biển thế gian

Còn hay hiện được sức nan tư

Huống bực vào biển pháp công đức

Mà chẳng hiện được đại thần biến!

Môn giải thoát của chư Bồ tát

Tất cả ví dụ không lệ được

Nay tôi tạm dùng các ví dụ

Lược nói Bồ tát tự tại lực.

Trí huệ đệ nhứt, huệ quảng đại,

Trí huệ chơn thiệt, huệ vô biên,

Thắng huệ và cùng huệ thù thắng,

Pháp môn như vậy nay đã nói.

Pháp nầy hy hữu rất kỳ đặc

Nếu người nghe xong lãnh thọ được

Hay tin, hay thọ, hay khen nói

Việc làm như vậy rất là khó.

Tất cả phàm phu ở thế gian

Người tin pháp nầy rất là khó

Nếu ai siêng tu phước thanh tịnh

Do nhơn lành xưa mới tin được.

Quần sanh trong tất cả thế giới

Ít ai muốn cầu Thanh văn thừa

Người cầu Ðộc giác lại càng ít

Người hướng Ðại thừa rất khó gặp.

Người hướng Ðại thừa còn là dễ

Tin được pháp nầy lại khó hơn

Huống lại trì tụng, vì người nói

Ðúng pháp tu hành hiểu chơn thiệt.

Hoặc người đem Đại thiên thế giới

Ðầu đội một kiếp thân chẳng động

Việc người nầy làm chưa là khó

Người tin pháp nầy mới là khó.

Hoặc người tay bưng mười quốc độ

Ðứng giữa không gian trọn mười kiếp

Việc người nầy làm chưa là khó

Tin được pháp nầy mới là khó.

Nơi mười cõi vi trần số chúng

Cho vật sở thích trọn một kiếp

Phước đức người nầy chưa là thắng

Người tin pháp nầy mới tối thắng.

Nơi mười cõi vi trần số Phật

Ðều kính cúng thờ trọn một kiếp

Nếu tụng trì được phẩm kinh nầy

Phước nầy tối thắng hơn người trước.

Lúc Hiền Thủ Bồ tát nói kệ nầy rồi, thập phương thế giới chấn động sáu cách, cung ma ẩn khuất, ác đạo thôi dứt. Thập phương chư Phật đều hiện ra trước đồng đưa tay hữu xoa đảnh Ngài và đồng tiếng khen:

Lành thay! Ông khéo nói pháp nầy. Chúng ta tất cả đều tùy hỷ.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM THĂNG TU DI SƠN ĐẢNH

THỨ MƯỜI BA

*Lúc bấy giờ, do nơi thần lực của đức Như Lai, thập phương tất cả thế giới, trong mỗi Diêm Phù Ðề, đều thấy Đức Phật ngự dưới cội cây Bồ đề, đều có Bồ tát thừa oai thần của Phật mà thuyết pháp, tất cả đều cho rằng mình luôn đối trước Phật.

Ðức Phật chẳng rời dưới cây Bồ đề, mà thăng lên đảnh núi Tu Di, hướng đến điện của Ðế Thích.

Lúc đó, Thiên Ðế ở trước điện Diệu Thắng xa thấy Phật đến, liền dùng thần lực trang nghiêm điện nầy; trần thiết tòa sư tử phổ quang minh tạng, đều dùng diệu bửu làm thành: mười ngàn từng cấp cao vọi trang nghiêm, mười ngàn lưới vàng giăng che phía trên, mười ngàn thứ màn, mười ngàn thứ lọng bày trí giáp vòng, mười ngàn lụa màu thắt tụi thòng rủ, mười ngàn chuỗi bửu châu xen kết, mười ngàn y phục trải trên tòa, mười ngàn Thiên tử, mười ngàn Phạm Vương đứng hầu sau trước, mười ngàn ánh sáng chiếu rực.

Thiên Ðế chắp tay cúi mình cung kính nghinh tiếp đức Phật mà bạch rằng:

Lành thay đức Thế Tôn! Lành thay đức Thiện Thệ! Lành thay đức Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Giác! Xin Phật xót thương vào điện nầy.

Ðức Phật nhận lời vào điện Diệu Thắng. Trong tất cả thế giới ở mười phương đều đồng như vậy cả.

Do thần lực của đức Phật, bao nhiêu tiếng nhạc trong các cung điện đều im bặt.

Thiên Ðế liền tự nhớ đến những căn lành của đức Phật đã tu thời quá khứ, nên nói kệ rằng:

Ca Diếp Như Lai đủ đại bi

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Câu Na Mâu Ni thấy vô ngại

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Câu Lưu Tôn Phật như núi vàng

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Tỳ Xá Phù Phật sạch ba hoặc

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Thi Khí Như Lai lìa phân biệt

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Tỳ Bà Thi Phật như trăng tròn

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Phất Sa Phật đạt đệ nhứt nghĩa

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Ðề Xá Như Lai biện vô ngại

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Ba Ðầu Ma Phật tịnh vô cấu

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Nhiên Ðăng Như Lai quang minh lớn

Trong những cát tường rất vô thượng

Phật ấy từng đến cung điện nầy

Thế nên chốn nầy rất cát tường.

Như Ðao Lợi Thiên Vương trong thế giới nầy, do thần lực của Như Lai, nói kệ ca ngợi công đức của mười đức Phật thời quá khứ, trong thế giới ở mười phương, chư Thiên Ðế cũng ca ngợi công đức của chư Phật như vậy.

Lúc đức Thế Tôn ngự kiết già trong điện Diệu Thắng, thoạt nhiên điện nầy rộng rãi bằng chỗ ở của tất cả chư Thiên. Thập phương thế giới cũng đều như vậy.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM TU DI ĐẢNH KỆ TÁN

THỨ MƯỜI BỐN

Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, từ ngoài trăm Phật sát vi trần số quốc độ, mười phương đều có một đại Bồ tát, mỗi vị đều cùng một phật sát vi trần số Bồ tát đồng vân tập đến. Mười đại Bồ tát là: Pháp Huệ Bồ tát, Nhứt Thiết Huệ Bồ tát, Thắng Huệ Bồ tát, Công Ðức Huệ Bồ tát, Tinh Tấn Huệ Bồ tát, Thiện Huệ Bồ tát, Trí Huệ Bồ tát, Chơn Thiệt Huệ Bồ tát, Vô Thượng Huệ Bồ tát, Kiên Cố Huệ Bồ tát. Cõi nước của các Ngài theo thứ tự là: Nhơn Ðà La Hoa thế giới, Ba Ðầu Ma Hoa thế giới, Bửu Hoa thế giới, Ưu Bát La Hoa thế giới, Kim Cang Hoa thế giới, Diệu Hương Hoa thế giới, Duyệt Ý Hoa thế giới, A Lô Hoa thế giới, Na La Ðà Hoa thế giới, Hư Không Hoa thế giới. Chư Phật ngự trị nơi đó theo thứ tự là: Thù Ðặc Nguyệt Phật, Vô Tận Nguyệt Phật, Bất Ðộng Nguyệt Phật, Phong Nguyệt Phật, Thủy Nguyệt Phật, Giải Thoát Nguyệt Phật, Vô Thượng Nguyệt Phật, Tinh Tú Nguyệt Phật, Thanh Tịnh Nguyệt Phật, Minh Liễu Nguyệt Phật.

Chư Bồ tát nầy đến đảnh lễ chân Phật, rồi tùy phương đến, đều riêng hóa hiện tòa sư tử tỳ lô giá na tạng mà ngồi kiết già trên đó.

Như chư Bồ tát vân tập đến đảnh núi Tu Di nơi thế giới nầy, thập phương thế giới cũng đều như thế cả, đến danh hiệu, quốc độ và chư Phật cũng đồng.

Lúc đó, đức Thế Tôn, từ nơi các ngón của hai chân phóng trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp trong cung của Ðế Thích ở mười phương thế giới, Phật và đại chúng đều hiển hiện cả.

Pháp Huệ Bồ tát thừa oai thần của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật phóng tịnh quang minh

Thấy khắp tất cả Phật

Ðảnh núi Tu Di vương

Ở trong điện Diệu Thắng.

Tất cả Thiên Ðế Thích

Thỉnh Phật vào cung điện

Ðều nói mười kệ hay

Ca ngợi chư Như Lai.

Trong các đại hội ấy

Bao nhiêu chúng Bồ tát

Ðều từ mười phương đến

Hóa tòa mà an tọa.

Bồ tát trong hội đó

Danh hiệu đồng chúng tôi,

Những cõi từ đó đến

Danh tự cũng vẫn đồng.

Bổn quốc chư Như Lai

Hồng danh đều cũng đồng,

Bồ tát nơi bổn Phật

Tịnh tu hạnh vô thượng.

Ðại chúng nên quan sát

Như Lai tự tại lực

Tất cả Diêm Phù Ðề

Ðều nói Phật tại đấy.

Chúng ta nay thấy Phật

Trụ nơi đảnh Tu Di

Thập phương cũng như vậy

Như Lai tự tại lực.

Trong mỗi mỗi thế giới

Phát tâm cầu Phật đạo

Nương nơi nguyện như vậy

Tu tập hạnh Bồ đề.

Phật dùng nhiều thân hình

Du hành khắp thế gian

Pháp giới không chướng ngại

Không ai trắc lượng được.

Huệ quang hằng chiếu khắp

Ðời tối đều trừ diệt,

Tất cả không sánh bằng

Thế nào lường biết được!

Nhứt Thiết Huệ Bồ tát thừa oai lực của đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Giả sử trăm ngàn kiếp

Thường thấy đức Như Lai

Chẳng y chơn thiệt nghĩa

Mà quán đấng Cứu Thế,

Người nầy chấp lấy tướng

Thêm lớn lưới mê lầm

Giam trói ngục sanh tử

Ðui mù chẳng thấy Phật.

Quán sát nơi các pháp

Ðều không có tự tánh

Tướng nó vốn sanh diệt

Chỉ là danh thuyết giả.

Tất cả pháp vô sanh

Tất cả pháp vô diệt

Nếu hiểu được như vậy

Chư Phật thường hiện tiền.

Pháp tánh vốn không tịch

Vô thủ, cũng vô kiến

Tánh không, tức là Phật

Chẳng thể nghĩ lường được.

Nếu biết tất cả pháp

Thể tánh đều như vậy

Người nầy thì chẳng bị

Phiền não làm nhiễm trước.

Phàm phu thấy các pháp

Chỉ chuyển theo tướng giả

Chẳng rõ pháp vô tướng

Do đây chẳng thấy Phật.

Ðức Phật lìa ba thời

Các tướng đều đầy đủ

Trụ nơi vô sở trụ

Cùng khắp mà bất động.

Tôi quán tất cả pháp

Thảy đều được rõ ràng

Nay thấy đức Như Lai

Quyết định không nghi ngờ.

Pháp Huệ trước đã nói

Như Lai chơn thiệt tánh,

Tôi từ đó rõ biết

Bồ đề khó nghĩ bàn.

Thắng Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Như Lai đại trí huệ

Hy hữu không sánh bằng

Tất cả những thế gian

Tư duy chẳng đến được.

Phàm phu vọng quan sát

Chấp tướng chẳng đúng lý

Phật lìa tất cả tướng

Chẳng phải họ biết được.

Kẻ vô tri mê lầm

Vọng chấp tướng ngũ uẩn

Chẳng biết chơn tánh kia

Người nầy chẳng thấy Phật.

Rõ biết tất cả pháp

Ðều không có tự tánh

Hiểu pháp tánh như vậy

Thì thấy Lô Xá Na.

Vì do tiền ngũ uẩn

Có hậu uẩn tương tục

Rõ biết nơi tánh nầy

Thấy Phật khó nghĩ bàn.

Ví như báu trong tối

Không đèn thì chẳng thấy

Phật pháp không người nói

Dầu huệ chẳng biết được.

Cũng như mắt bị lòa

Chẳng thấy màu xinh đẹp

Như vậy tâm bất tịnh

Chẳng thấy các Phật pháp.

Lại như mặt trời sáng

Kẻ mù không thấy được

Tâm không có trí huệ

Trọn chẳng thấy chư Phật.

Nếu chữa hết bịnh lòa

Bỏ lìa lòng tưởng sắc

Chẳng thấy nơi các pháp

Thì thấy được Như Lai.

Nhứt Thiết Huệ đã nói

Chư Phật Bồ đề pháp

Tôi nghe lời Ngài nói

Ðược thấy Lô Xá Na.

Công Ðức Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Các pháp không chơn thiệt

Vọng chấp là chơn thiệt

Cho nên các phàm phu

Luân hồi ngục sanh tử.

Nơi ngôn từ thuyết pháp

Tiểu trí vọng phân biệt

Vì thế sanh chướng ngại

Chẳng rõ được tự tâm.

Chẳng rõ được tự tâm

Ðâu biết được chánh đạo

Họ do huệ điên đảo

Thêm lớn mọi điều ác.

Chẳng thấy các pháp không

Hằng thọ khổ sanh tử

Người nầy chưa có được

Pháp nhãn thanh tịnh vậy.

Xưa kia tôi thọ khổ

Vì tôi chẳng thấy Phật,

Nên phải tịnh pháp nhãn

Xem kia chỗ đáng thấy.

Nếu được thấy nơi Phật

Thì tâm không chấp lấy

Người nầy thì thấy được

Pháp của Phật đã biết.

Nếu thấy Phật chơn pháp

Thì gọi bực Đại trí

Người nầy có tịnh nhãn

Hay quan sát thế gian.

Không thấy chánh là thấy

Hay thấy tất cả pháp

Nơi pháp nếu có thấy

Ðây thì là không thấy.

Tất cả các pháp tánh

Không sanh cũng không diệt

Lạ thay đấng Ðạo Sư

Tự giác và giác tha.

Ngài Thắng Huệ đã nói

Pháp của Như Lai ngộ

Chúng tôi nghe Ngài nói

Biết được Phật chơn tánh.

Tinh Tấn Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Nếu trụ nơi phân biệt

Thì hư thanh tịnh nhãn

Thêm ngu si, tà kiến

Trọn chẳng thấy được Phật.

Nếu rõ được tà pháp

Như thiệt chẳng điên đảo,

Biết vọng vốn tự chơn

Thấy Phật thì thanh tịnh.

Có thấy, thì là nhơ

Ðây thì chưa phải thấy

Xa lìa các kiến chấp

Như vậy mới thấy Phật.

Pháp ngôn ngữ thế gian

Chúng sanh vọng phân biệt

Biết thế đều vô sanh

Mới là thấy thế gian.

Nếu thấy “thấy thế gian”

“Thấy” là tướng thế gian

Như thiệt đồng không khác

Ðây gọi người chơn kiến.

Nếu thấy đồng không khác

Nơi vật chẳng phân biệt

Thấy nầy lìa phiền não

Vô lậu được tự tại.

Chỗ chư Phật khai thị

Tất cả pháp phân biệt

Ðây đều chẳng thể được

Vì pháp tánh thanh tịnh.

Pháp tánh vốn thanh tịnh

Vô tướng như hư không

Tất cả không năng thuyết

Người trí quán như vậy.

Xa lìa nơi pháp tưởng

Chẳng thích tất cả pháp

Ðây cũng không chỗ tu

Thấy được Ðại Mâu Ni.

Như ngài Ðức Huệ nói

Ðây gọi là thấy Phật;

Chỗ có tất cả hạnh

Thể tánh đều tịch diệt.

Lúc đó, Thiện Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Hy hữu đại dũng kiện

Vô lượng chư Như Lai

Ly cấu tâm giải thoát

Tự độ hay độ người.

Tôi thấy Thế Gian Ðăng

Như thiệt chẳng điên đảo

Như trong vô lượng kiếp

Bực đủ trí chỗ thấy.

Tất cả hạnh phàm phu

Ðều mau về diệt tận

Tánh nó như hư không

Nên nói là vô tận.

Người trí nói vô tận

Ðây cũng không chỗ nói.

Vì tự tánh vô tận

Ðược có nan tư tận.

Trong chỗ nói vô tận

Không chúng sanh được có

Biết chúng tánh như vậy

Thì thấy Ðại Danh Xưng.

Không thấy nói là thấy

Vô sanh nói chúng sanh

Hoặc thấy, hoặc chúng sanh

Rõ biết không thể tánh.

Năng kiến, cùng sở kiến

Kiến giả đều khiển trừ,

Chẳng hoại nơi chơn pháp

Người nầy rõ biết Phật.

Nếu người rõ biết Phật

Và pháp của Phật nói

Thì hay chiếu thế gian

Như Phật Lô Xá Na.

Chánh giác khéo khai thị

Ðạo một pháp thanh tịnh,

Ðại Sĩ tinh tấn huệ

Diễn nói vô lượng pháp.

Hoặc có, hoặc không có

Tưởng niệm nầy đều trừ

Như thế thấy được Phật

An trụ nơi thiệt tế.

Lúc đó, Trí Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Tôi nghe pháp tối thắng

Liền sanh trí huệ quang

Chiếu khắp mười phương cõi

Ðều thấy tất cả Phật.

Trong đây không chút vật

Chỉ có danh tự giả

Nếu chấp có ngã nhơn

Thì là vào đường hiểm.

Những phàm phu chấp trước

Chấp thân là thiệt có

Phật chẳng phải sở thủ

Họ trọn chẳng thấy được.

Người nầy không huệ nhãn

Chẳng thể thấy được Phật

Ở trong vô lượng kiếp

Lưu chuyển biển sanh tử.

Hữu tránh nói sanh tử

Vô tránh là Niết bàn

Sanh tử và Niết bàn

Cả hai chẳng nói được.

Nếu theo danh tự giả

Chấp lấy hai pháp nầy

Người nầy không đúng thiệt

Chẳng biết Phật diệu đạo.

Nếu móng tưởng như vầy:

“Ðây Phật, đây tối thắng”

Ðiên đảo chẳng phải thiệt

Chẳng thấy được Chánh giác.

Biết được thiệt thể nầy

Tướng chơn như tịch diệt

Thì thấy đấng Chánh Giác

Vượt khỏi đường ngữ ngôn.

Ngôn ngữ nói các pháp

Chẳng hiển được thiệt tướng

Bình đẳng mới thấy được

Như pháp Phật cũng vậy.

Thời quá khứ chư Phật

Vị lai và hiện tại

Dứt hẳn gốc phân biệt

Thế nên gọi là Phật.

Chơn Thiệt Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Thà thọ khổ địa ngục

Ðược nghe hồng danh Phật

Chẳng thích vô lượng vui

Mà chẳng nghe danh Phật.

Sở dĩ nơi thời xưa

Chịu khổ vô số kiếp

Lưu chuyển trong sanh tử

Vì chẳng nghe danh Phật.

Với pháp chẳng điên đảo

Mà hiện chứng như thiệt

Lìa các tướng hòa hiệp

Gọi là Vô Thượng Giác.

Hiện chẳng phải hòa hiệp

Khứ, lai cũng như vậy

Tất cả pháp vô tướng

Ðây là chơn thể Phật.

Nếu quán được như vậy

Các pháp nghĩa thậm thâm

Thì thấy tướng chơn thiệt

Pháp thân của chư Phật.

Nơi thiệt, thấy chơn thiệt

Chẳng thiệt, thấy chẳng thiệt

Hiểu rốt ráo như vậy

Cho nên gọi là Phật.

Phật pháp chẳng giác được

Rõ đây gọi “giác pháp”

Chư Phật tu như vậy

Một pháp bất khả đắc.

Biết do một nên nhiều

Biết do nhiều nên một

Các pháp không chỗ tựa

Chỉ do hòa hiệp khởi.

Không năng tác, sở tác

Chỉ từ nghiệp tưởng sanh

Tại sao biết như vậy

Vì khác đây không có.

Tất cả pháp vô trụ

Ðịnh xứ bất khả đắc

Chư Phật trụ nơi đây

Rốt ráo không dao động.

Vô Thượng Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Ðấng Đại Thừa Vô Thượng

Xa lìa tưởng chúng sanh

Không có ai hơn được

Nên hiệu là Vô Thượng.

Chỗ chư Phật đã được

Vô tác, vô phân biệt

Thô to vô sở hữu

Vi tế cũng như vậy.

Cảnh chư Phật sở hành

Trong đó không có số

Chánh giác xa lìa số

Là chơn pháp của Phật.

Như Lai quang chiếu khắp

Diệt trừ những tối tăm

Quang nầy chẳng có chiếu

Cũng chẳng phải không chiếu.

Nơi pháp không chỗ chấp

Không niệm, cũng không nhiễm

Không trụ, không xứ sở

Chẳng hoại nơi pháp tánh.

Trong đây không có hai

Cũng lại không có một

Bực Đại Trí thấy đúng

Khéo an trụ thiệt lý.

Trong không, không có hai

Không hai cũng như vậy

Tam giới tất cả không

Là chỗ thấy chư Phật.

Phàm phu không hay biết

Phật khiến trụ chánh pháp

Các pháp vô sở trụ

Ngộ đây thấy tự thân.

Chẳng thân mà nói thân

Chẳng khởi mà hiện khởi

Không thân cũng không thấy

Là Phật thân vô thượng.

Như ngài Thật Huệ nói

Chư Phật diệu pháp tánh

Nếu người nghe pháp nầy

Sẽ được thanh tịnh nhãn.

Lúc đó, Kiên Cố Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Vĩ đại! Quang minh lớn

Bực Vô Thượng Dũng Kiện

Vì lợi ích quần sanh

Mà xuất hiện thế gian.

Phật dùng tâm đại bi

Quán sát khắp chúng sanh

Thấy ở trong ba cõi

Luân hồi thọ nhiều khổ.

Chỉ trừ đấng Chánh Giác

Ðấng Ðạo Sư đủ đức

Tất cả các trời người

Không ai cứu hộ được.

Nếu chư Phật Bồ tát

Chẳng xuất hiện thế gian

Thì không một chúng sanh

Có thể được an lạc.

Như Lai Đẳng Chánh giác

Và các chúng Thánh Hiền

Xuất hiện ở thế gian

Cho chúng sanh được vui.

Nếu ai thấy Như Lai

Là được lợi lành lớn

Nghe hiệu Phật sanh tin

Thì là tháp thế gian.

Chúng tôi thấy Như Lai

Là được lợi ích lớn

Nghe diệu pháp như vậy

Ðều sẽ thành Phật đạo.

Chư Bồ tát quá khứ

Do thần lực của Phật

Ðược huệ nhãn thanh tịnh

Rõ cảnh giới chư Phật.

Nay thấy Lô Xá Na

Càng thêm thanh tịnh tín

Phật trí không ngằn mé

Diễn thuyết chẳng thể hết.

Thắng Huệ Bồ tát thảy

Và tôi Kiên Cố Huệ

Trong vô số ức kiếp

Cũng nói chẳng thể hết.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM THẬP TRỤ

THỨ MƯỜI LĂM

Lúc bấy giờ, Pháp Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, nhập Bồ tát vô lượng phương tiện tam muội. Do sức tam muội, ngoài ngàn Phật sát vi trần số thế giới ở mười phương, có ngàn Phật sát vi trần số Phật đều đồng hiệu là Pháp Huệ và đồng hiện đến bảo Pháp Huệ Bồ tát rằng:

Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Ông hay nhập Bồ tát vô lượng phương tiện tam muội nầy. Thiện nam tử! Trong mười phương, ở mỗi phương đều có ngàn phật sát vi trần số chư Phật đều dùng thần lực đồng gia hộ ông.

Lại nguyện lực và thần lực của đức Tỳ Lô Giá
Na Như Lai đây, cùng năng lực thiện căn của ông đã tu, nhập tam muội nầy, khiến ông thuyết pháp, vì để tăng trưởng Phật trí, vì thâm nhập pháp giới, vì khéo rõ chúng sanh giới, vì sở nhập vô ngại, vì sở hành vô chướng, vì được vô đẳng phương tiện, vì nhập nhứt thiết trí tánh, vì giác tất cả pháp, vì biết tất cả căn, vì hay thọ trì diễn thuyết tất cả pháp, chánh là phát khởi mười bực trụ của Bồ tát.

Thiện nam tử! Ông nên thừa thần lực của Phật mà diễn thuyết pháp Thập trụ ấy!

Lúc đó, chư Phật liền ban cho Pháp Huệ Bồ tát trí vô ngại, trí vô trước, trí vô đoạn, trí vô si, trí vô dị, trí vô thất, trí vô lượng, trí vô thắng, trí vô giải đãi, trí vô đoạt. Tại sao vậy? Vì năng lực của tam muội nầy pháp nhĩ như vậy.

Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Pháp Huệ Bồ tát.

Pháp Huệ Bồ tát liền xuất định, nói với chư Bồ tát rằng:

Chư Phật tử! Trụ xứ của Bồ tát rộng lớn đồng với hư không giới.

Phật tử! Bồ tát trụ nơi nhà tam thế chư Phật. Nay tôi sẽ nói về chỗ trụ của Bồ tát ấy.

Chư Phật tử! Chỗ trụ của Bồ tát có mười bực
mà tam thế chư Phật đã nói, sẽ nói và hiện đương nói.

Ðây là mười bực trụ:

Sơ phát tâm trụ, Trị địa trụ, Tu hành trụ, Sanh quý trụ, Cụ túc phương tiện trụ, Chánh tâm trụ, Bất thối trụ, Ðồng chơn trụ, Pháp vương tử trụ, Quán đảnh trụ.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Phát tâm trụ?

Vị Bồ tát nầy thấy Phật hình dung đoan nghiêm xinh đẹp có oai lực lớn, hoặc thấy thần túc, hoặc nghe thọ ký, hoặc nghe giảng dạy, hoặc thấy chúng sanh chịu những sự quá khổ, hoặc nghe Phật pháp rộng lớn của Như Lai mà phát Bồ đề tâm, cầu Nhứt thiết trí.

Vị Bồ tát nầy duyên mười pháp khó được mà phát tâm. Ðây là mười pháp khó được:

Trí biết rõ thị xứ phi xứ, trí biết rõ thiện ác nghiệp báo, trí biết rõ căn tánh thắng liệt, trí biết rõ các loại tri giải sai biệt, trí biết rõ các cảnh giới sai biệt, trí biết rõ tất cả chí xứ đạo, trí biết rõ các thiền giải thoát tam muội, trí túc mạng vô ngại, trí Thiên nhãn vô ngại, trí tam thế lậu tận.

Chư Phật tử! Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp. Ðây là mười pháp:

Siêng cúng dường Phật, thích ở sanh tử, chủ trương dìu dắt thế gian khiến trừ ác nghiệp, thường đem pháp thắng diệu dạy bảo, ca ngợi pháp vô thượng, học công đức của Phật, sanh ở trước Phật luôn được nhiếp thọ, phương tiện diễn nói tam muội tịch tịnh, ngợi khen xa lìa sanh tử luân hồi, làm chỗ quy y cho chúng sanh đang bị khổ.

Vì sao phải khuyên học mười pháp nầy? Vì muốn vị Bồ tát nầy, ở trong Phật pháp, tâm thêm rộng lớn, có nghe được pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là bực Bồ tát Trị địa trụ?

Vị Bồ tát nầy đối với chúng sanh phát mười thứ tâm:

Tâm lợi ích, tâm đại bi, tâm an lạc, tâm an trụ, tâm lân mẫn, tâm nhiếp thọ, tâm thủ hộ, tâm đồng với mình, tâm làm thầy, tâm làm Đạo sư.

Chư Phật tử! Nên khuyên vị Bồ tát nầy học mười thứ pháp:

Tụng tập học rộng, rảnh rang tịch tịnh, gần thiện tri thức, nói lời hòa vui, nói tất biết thời, lòng không khiếp sợ, rõ thấu các nghĩa, tu hành đúng pháp, xa lìa ngu mê, an trụ bất động.

Do học mười pháp trên đây, vị Bồ tát nầy đối
với chúng sanh, thêm lớn đại bi, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Tu hành trụ?

Vị Bồ tát nầy dùng mười hạnh để quán sát tất cả pháp:

Quán tất cả pháp vô thường, tất cả pháp khổ, tất cả pháp không, tất cả pháp vô ngã, tất cả pháp vô tác, tất cả pháp vô vị, tất cả pháp bất như danh, tất cả pháp vô xứ sở, tất cả pháp rời phân biệt, tất cả pháp không kiên thiệt.

Chư Phật tử! Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp:

Quan sát chúng sanh giới, pháp giới, thế giới, quan sát địa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, quan sát dục giới, sắc giới, vô sắc giới.

Vì muốn vị Bồ tát nầy được trí huệ sáng tỏ, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Sanh quý trụ?

Vị Bồ tát nầy từ Thánh giáo sanh, thành tựu mười pháp:

Trọn chẳng thối chuyển nơi Phật đạo, sanh lòng tin sâu thanh tịnh, khéo quan sát pháp, rõ biết chúng sanh, quốc độ, thế giới, nghiệp hạnh, quả báo, sanh tử, Niết bàn.

Chư Phật tử! Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp:

Rõ biết tất cả Phật pháp thời quá khứ, thời vị lai, thời hiện tại; tu tập tất cả Phật pháp thời quá khứ, vị lai, hiện tại; viên mãn tất cả Phật pháp quá khứ, vị lai, hiện tại; biết rõ tất cả Phật bình đẳng.

Ðây là vì muốn cho vị Bồ tát nầy được tăng tiến nơi trong tam thế tâm được bình đẳng, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Cụ túc phương tiện trụ?

Vị Bồ tát nầy trọn đủ mười pháp:

Căn lành tu tập đều vì cứu hộ tất cả chúng sanh, lợi ích tất cả chúng sanh, an lạc tất cả chúng sanh, ai mẫn tất cả chúng sanh, độ thoát tất cả chúng sanh, khiến tất cả chúng sanh lìa những tai nạn, khiến tất cả chúng sanh thoát khổ sanh tử, khiến tất cả chúng sanh phát sanh tịnh tín, khiến tất cả chúng sanh đều được điều phục, khiến tất cả chúng sanh đều chứng Niết bàn.

Chư Phật tử! Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp:

Biết chúng sanh vô biên, vô lượng, vô số, biết chúng sanh bất tư nghị, vô lượng sắc, bất khả lượng, biết chúng sanh không, vô sở tác, vô sở hữu, vô tự tánh.

Vì muốn vị Bồ tát nầy tâm lại càng tăng thắng hơn, không bị nhiễm trước, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Chánh tâm trụ?

Vị Bồ tát nầy nghe mười pháp, tâm định chẳng động:

Nghe khen Phật hay chê Phật, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe khen pháp hay chê pháp, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe khen Bồ tát hay chê Bồ tát, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe khen hay chê công hạnh của Bồ tát, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe nói chúng sanh hữu lượng hay vô lượng, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe nói chúng sanh hữu cấu hay vô cấu, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe nói chúng sanh dễ độ hay khó độ, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe nói pháp giới hữu lượng hay vô lượng, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe nói pháp giới có thành có hoại, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động. Nghe nói Phật pháp hoặc có hoặc không, đối với Phật pháp, tâm định chẳng động.

Chư Phật tử! Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp:

Tất cả pháp vô tướng, tất cả pháp vô thể, tất cả pháp chẳng thể tu, tất cả pháp vô sở hữu, tất cả pháp không chơn thiệt, tất cả pháp không, tất cả pháp vô tánh, tất cả pháp như huyễn, tất cả pháp như mộng, tất cả pháp vô phân biệt.

Vì muốn vị Bồ tát nầy tâm lại càng thêm tăng tiến, được chẳng thối chuyển vô sanh pháp nhẫn. Có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Bất thối trụ?

Vị Bồ tát nầy nghe mười pháp kiên cố bất thối:

Nghe có Phật hay không có Phật, nghe có pháp hay không có pháp, nghe có Bồ tát hay không có Bồ tát, nghe có Bồ tát hạnh hay không Bồ tát hạnh, nghe có Bồ tát tu hành được xuất ly hay chẳng xuất ly, nghe quá khứ có Phật hay không Phật, nghe vị lai có Phật hay không Phật, nghe hiện tại có Phật hay không Phật, nghe Phật trí hữu tận hay vô tận, nghe tam thế là một tướng hay chẳng phải một tướng, đối với trong Phật pháp, tâm đều chẳng thối chuyển cả.

Chư Phật tử! Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp quảng đại:

Nói một chánh là nhiều, nói nhiều chánh là một, văn tùy nơi nghĩa, nghĩa tùy nơi văn, chẳng có chánh là có, có chánh là chẳng phải có, vô tướng chánh là tướng, tướng chánh là vô tướng, vô tánh chánh là tánh, tánh chánh là vô tánh.

Vì muốn khiến vị Bồ tát nầy tăng tiến nơi tất cả pháp khéo hay xuất ly, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Đồng chơn trụ?

Vị Bồ tát nầy trụ mười hạnh nghiệp:

Thân hạnh không lỗi, ngữ hạnh không lỗi, ý hạnh không lỗi, tùy ý thọ sanh, biết chúng sanh các thứ dục, biết chúng sanh các thứ tri giải, biết chúng sanh các thứ cảnh giới, biết chúng sanh các thứ nghiệp, biết thế giới thành hoại, thần túc tự tại vô ngại.

Chư Phật tử! Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp:

Biết tất cả Phật sát, động tất cả Phật sát, trì tất cả Phật sát, quán tất cả Phật sát, đến tất cả Phật sát, du hành vô số thế giới, lãnh thọ vô số Phật pháp, hiện thân biến hóa tự tại, nói ra tiếng quảng đại biến mãn, trong một sát na thừa sự cúng dường vô số Phật.

Vì muốn vị Bồ tát nầy tăng tiến, hay được thiện xảo đối với tất cả pháp, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Pháp vương tử trụ?

Vị Bồ tát nầy khéo biết mười pháp:

Khéo biết chúng sanh thọ sanh, khéo biết phiền não hiện khởi, khéo biết tập khí tương tục, khéo biết chỗ làm phương tiện, khéo biết vô lượng pháp, khéo biết các oai nghi, khéo biết thế giới sai biệt, khéo biết những việc của thời gian trước thời gian sau, khéo biết diễn thuyết thế đế, khéo biết diễn thuyết đệ nhứt nghĩa.

Chư Phật tử! Bồ tát nầy nên khuyên học mười pháp:

Pháp Vương xứ thiện xảo, Pháp Vương xứ quỷ độ, Pháp Vương xứ cung điện, Pháp Vương xứ thú nhập, Pháp Vương xứ quan sát, Pháp Vương quán đảnh, Pháp Vương lực trì, Pháp Vương vô úy, Pháp Vương yến tẩm, Pháp Vương tán thán.

Vì muốn khiến Bồ tát nầy tăng tiến tâm không chướng ngại, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Chư Phật tử! Thế nào là Bồ tát Quán đảnh trụ?

Vị Bồ tát nầy được thành tựu mười thứ trí:

Chấn động vô số thế giới, chiếu diệu vô số thế giới, trụ trì vô số thế giới, qua đến vô số thế giới, nghiêm tịnh vô số thế giới, khai thị vô số chúng sanh, quán sát vô số chúng sanh, biết căn tánh của vô số chúng sanh, khiến vô số chúng sanh thú nhập, khiến vô số chúng sanh điều phục.

Vị Bồ tát nầy thân và thân nghiệp, thần thông biến hiện, quá khứ trí, vị lai trí, hiện tại trí, thành tựu Phật độ, tâm cảnh giới, trí cảnh giới, tất cả đều chẳng thể biết được, nhẫn đến Pháp Vương Tử Bồ tát cũng chẳng biết được.

Vị Bồ tát nầy nên khuyên học mười thứ trí của Như Lai:

Tam thế trí, Phật pháp trí, pháp giới vô ngại trí, pháp giới vô biên trí, sung mãn nhứt thiết thế giới trí, phổ chiếu nhứt thiết thế giới trí, trụ trì nhứt thiết thế giới trí, tri nhứt thiết chúng sanh trí, tri nhứt thiết pháp trí, tri vô biên chư Phật trí.

Vì muốn khiến vị Bồ tát nầy tăng trưởng Nhứt
thiết chủng trí, có được nghe pháp liền tự hiểu, chẳng do người khác dạy.

Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật trong mười phương, mỗi phương đều một vạn Phật sát vi trần số thế giới sáu thứ chấn động. Mưa Thiên hoa, tràng hoa, Thiên mạt hương, Thiên tạp hương, Thiên bửu y, Thiên bửu vân, Thiên trang nghiêm cụ. Những kỹ nhạc trời tự nhiên hòa tấu. Phóng Thiên quang minh và âm thanh vi diệu.

Như ở thế giới nầy, thập phương thế giới, nơi điện Thiên Ðế Thích nói pháp Thập trụ và hiện thần biến cũng như vậy cả.

Lại do thần lực của Phật, mười phương đều có một vạn Phật sát vi trần số Bồ tát đến nơi đây và đồng nói rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy Phật tử! Ngài khéo nói pháp nầy.

Chúng tôi đồng tên Pháp Huệ, quốc độ đồng hiệu Pháp Vân Như Lai, ở các cõi đó đều hiệu Diệu Pháp, nơi pháp hội của Thế Tôn, chúng tôi cũng giảng thuyết Thập trụ, câu văn nghĩa lý và chúng hội quyến thuộc cũng đồng như nơi đây, không có tăng giảm.

Chúng tôi thừa thần lực của đức Phật mà đến nơi pháp hội nầy để chứng minh.

Lúc đó, Pháp Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương khắp cùng pháp giới rồi nói kệ rằng:

Thấy thân vi diệu đấng Thắng Trí

Tướng hảo đoan nghiêm đều đầy đủ

Tôn trọng như vậy rất khó gặp

Bồ tát dũng mãnh sơ phát tâm.

Thấy đại thần thông không ai bằng

Nghe lời thọ ký và dạy bảo

Các loài chúng sanh khổ vô lượng

Do đây Bồ tát sơ phát tâm.

Nghe chư Như Lai đấng Phổ Thắng

Tất cả công đức đều thành tựu

Ví như hư không chẳng phân biệt

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tam thế nhơn quả gọi là xứ

Tự tánh chúng ta là phi xứ

Muốn đều rõ biết nghĩa chơn thiệt

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Thời quá khứ, vị lai, hiện tại

Chỗ có tất cả nghiệp thiện ác

Muốn đều rõ biết tận cùng cả

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Chư thiền, giải thoát và tam muội

Tạp nhiễm, thanh tịnh vô lượng thứ

Muốn đều rõ biết nhập, trụ, xuất

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tùy các chúng sanh căn lợi độn

Như vậy các thứ tinh tấn lực

Muốn đều rõ thấu phân biệt biết

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tất cả chúng sanh hiểu nhiều thứ

Lòng họ sở thích đều sai khác

Vô lượng như vậy muốn đều biết

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Chúng sanh các cõi đều sai khác

Tất cả thế gian vô hạn lượng

Muốn đều biết rõ thể tánh kia

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tất cả hữu vi các hạnh đạo

Mỗi mỗi đều có chỗ nơi đến

Ðều muốn rõ biết thể tánh đó

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tất cả thế giới các chúng sanh

Tùy nghiệp trôi lăn không tạm dứt

Muốn được Thiên nhãn đều thấy rõ

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Trong đời quá khứ đã từng có

Thể tánh như vậy, tướng như vậy

Muốn đều rõ biết túc trụ kia

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tất cả chúng sanh những phiền não

Tương tục, hiện khởi và tập khí

Muốn đều rõ biết rốt ráo hết

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tùy những chúng sanh chỗ an lập

Các môn đàm luận đường ngữ ngôn

Như thế đế đó đều muốn biết

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tất cả các pháp lìa ngôn thuyết

Tánh Không tịch diệt vốn vô tác

Muốn đều rõ thấu chơn nghĩa nầy

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn đều chấn động mười phương cõi

Nghiêng úp tất cả những đại hải

Ðầy đủ chư Phật đại thần thông

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn một chân lông phóng quang minh

Chiếu khắp mười phương vô lượng cõi

Trong mỗi quang minh giác tất cả

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn đem nan tư vô lượng cõi

Ðể trong bàn tay mà chẳng động

Rõ biết tất cả như huyễn hóa

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn dùng một lông chấm nước biển

Tất cả đại hải đều làm cạn

Mà đều phân biệt biết số kia

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Bất khả tư nghị các quốc độ

Đều nghiền làm bụi không còn sót

Muốn đều phân biệt biết số bụi

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Quá khứ, vị lai, vô lượng kiếp

Tất cả thế gian tướng thành hoại

Ðều muốn thấu rõ cùng biên tế

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tam thế tất cả chư Như Lai

Tất cả Ðộc giác và Thanh văn

Muốn biết hết cả những pháp đó

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Vô lượng vô biên các thế giới

Muốn dùng một lông đều cân nổi

Như thể tướng kia đều biết rõ

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Vô lượng vô số Luân Vi sơn

Muốn khiến đều vào trong chân lông

Lớn nhỏ của kia đều biết rõ

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn dùng một diệu âm tịch tịnh

Khắp ứng mười phương tùy loại diễn

Như vậy đều khiến sáng sạch rõ

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Ngôn ngữ của tất cả chúng sanh

Một lời diễn nói đều hết cả

Ðều muốn rõ biết tự tánh kia

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Ngôn âm thế gian đều nói cả

Khiến họ đều hiểu chứng tịch diệt

Muốn được như vậy diệu thiệt căn

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn khiến mười phương những thế giới

Có tướng thành hoại đều được thấy

Mà đều biết từ phân biệt sanh

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Tất cả mười phương những thế giới

Vô lượng Như Lai đều sung mãn

Ðều muốn rõ biết Phật pháp kia

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Các loại biến hóa vô lượng thân

Tất cả thế giới vi trần thảy

Ðều muốn rõ thấu từ tâm khởi

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Quá khứ, vị lai và hiện tại

Vô lượng vô số chư Như Lai

Muốn nơi một niệm đều rõ biết

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn diễn thuyết đủ một câu pháp

A tăng kỳ kiếp không cùng tận

Mà khiến văn nghĩa đều chẳng đồng

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Mười phương tất cả các chúng sanh

Tùy tướng họ lưu chuyển sanh diệt

Muốn nơi một niệm đều rõ thấu

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Muốn dùng thân, ngữ và ý nghiệp

Ðến khắp mười phương không chướng ngại

Rõ biết tam thế đều không, tịch

Bồ tát do đây sơ phát tâm.

Bồ tát phát tâm như vậy rồi

Khiến nên qua đến mười phương cõi

Cung kính cúng dường chư Như Lai

Do đây khiến được không thối chuyển.

Bồ tát dũng mãnh cầu Phật đạo

Ở nơi sanh tử chẳng mỏi nhàm

Vì kia ca ngợi khiến thuận lành

Như vậy khiến kia không thối chuyển.

Mười phương thế giới vô lượng cõi

Ðều ở trong đó làm Tôn Chủ

Vì chư Bồ tát nói như vậy

Do đây khiến kia không thối chuyển.

Tối thắng, tối thượng, tối đệ nhứt

Pháp thậm thâm, vi diệu, thanh tịnh

Khuyên chư Bồ tát nói cùng người

Dạy như vậy khiến lìa phiền não,

Tất cả thế gian không bằng được

Nơi chẳng thể khuynh động dẹp phục

Vì Bồ tát kia thường ca ngợi

Dạy như vậy khiến chẳng thối chuyển.

Phật là thế gian Ðại Lực Chủ

Ðầy đủ tất cả những công đức

Khiến các Bồ tát trụ trong đó

Dùng đây dạy làm Thắng Trượng Phu,

Nơi vô lượng vô biên chư Phật

Ðều được qua đến để gần gũi

Thường được chư Phật luôn nhiếp thọ

Dạy như vậy khiến chẳng thối chuyển.

Bao nhiêu những tam muội tịch tịnh

Thảy đều diễn đạt không còn thừa

Vì Bồ tát kia nói như vậy

Do đây khiến kia chẳng thối chuyển.

Dẹp trừ vòng sanh tử các cõi

Mà chuyển diệu pháp thanh tịnh luân

Tất cả thế gian không chỗ chấp

Vì các Bồ tát nói như vậy.

Tất cả chúng sanh đọa ác đạo

Vô lượng khổ nặng làm bức ngặt

Làm chỗ quy y cứu hộ họ

Vì các Bồ tát nói như vậy.

Ðây là “Bồ tát Phát tâm trụ”

Nhứt hướng chí cầu vô thượng đạo,

Như tôi đã nói pháp dạy bảo

Tất cả chư Phật cũng như vậy.

Thứ hai: “Bồ tát Trị địa trụ”

Phải nên phát khởi tâm như vầy:

Mười phương tất cả những chúng sanh

Nguyện đều thuận theo lời Phật dạy,

Tâm đại bi, lợi ích, an lạc,

Tâm an trụ, xót thương, nhiếp thọ,

Tâm thủ hộ chúng sanh đồng mình,

Tâm làm thầy và tâm đạo sư,

Ðã trụ tâm thắng diệu như vậy

Kế, khiến tụng tập cầu học rộng

Thường thích tịch tịnh, chánh tư duy

Gần gũi tất cả thiện tri thức.

Nói lời hòa vui, lìa thô cứng

Nói tất biết thời, không e sợ

Rõ thấu nghĩa lý làm đúng pháp

Xa lìa ngu mê tâm bất động

Ðây là sơ học Bồ đề hạnh.

Làm được hạnh nầy: chơn Phật tử

Nay tôi nói chỗ kia nên làm

Như vậy Phật tử phải siêng học.

Thứ ba: “Bồ tát Tu hành trụ”

Thường y Phật giáo siêng quán sát

Các pháp vô thường, khổ và không

Cũng không ngã nhơn, không động tác.

Tất cả các pháp chẳng đáng ưa

Không đúng danh tự, không xứ sở

Không chỗ phân biệt, không chơn thiệt

Người quán như vậy gọi Bồ tát.

Kế, khiến quán sát chúng sanh giới

Và cũng quán sát nơi pháp giới

Thế giới sai biệt trọn không thừa

Nơi kia đều nên khuyên quán sát.

Thập phương thế giới và hư không

Bao nhiêu địa, thủy, cùng hỏa, phong

Dục giới, Sắc giới, Vô Sắc giới

Ðều khuyên quán sát đến cùng tận.

Quán sát cõi kia đều sai khác

Và thể tánh nó đều rốt ráo

Dạy siêng tu hành được như vậy

Ðây thì gọi là chơn Phật tử.

Thứ tư: “Bồ tát Sanh quý trụ”

Từ các Thánh giáo mà xuất sanh

Rõ thấu các cõi không chỗ có

Vượt qua pháp kia sanh pháp giới.

Tin Phật kiên cố chẳng thể hoại

Quán pháp tịch diệt tâm an trụ

Tùy những chúng sanh đều rõ biết

Thể tánh hư vọng không chơn thiệt.

Thế gian, sát độ, nghiệp và báo

Sanh tử, Niết bàn đều như vậy

Phật tử nơi pháp quán như vậy

Từ Phật thân sanh gọi Phật tử.

Quá khứ, vị lai và hiện tại

Trong đó bao nhiêu những Phật pháp

Rõ biết chứa họp và viên mãn

Tu học như vậy khiến rốt ráo.

Tam thế tất cả chư Như Lai

Hay tùy quán sát đều bình đẳng

Các thứ sai biệt bất khả đắc

Người quán như vậy đạt tam thế.

Như tôi tán dương ca ngợi đó

Là những công đức đệ Tứ trụ

Nếu hay y pháp siêng tu hành

Mau thành Phật Bồ đề Vô thượng.

Ðây đến Bồ tát trụ thứ năm

Hiệu là “Cụ túc phương tiện trụ”

Vào sâu vô lượng phương tiện khéo

Phát sanh nghiệp công đức rốt ráo.

Bồ tát chỗ tu các phước đức

Ðều vì cứu hộ các quần sanh

Chuyên tâm làm lợi ích an lạc

Một mặt xót thương khiến độ thoát.

Vì tất cả đời trừ các nạn

Dẫn thoát sanh tử, khiến vui mừng

Mỗi mỗi điều phục không để sót

Ðều khiến đủ đức hướng Niết bàn.

Tất cả chúng sanh vô lượng biên

Vô lượng, vô số, bất tư nghị

Nhẫn đến bất khả xưng lượng thảy

Nghe lãnh Như Lai pháp như vậy.

Ðây là Phật tử đệ Ngũ trụ

Thành tựu phương tiện độ chúng sanh

Ðấng Đại Trí viên mãn công đức

Ðem pháp như vậy để khai thị.

Thứ sáu: “Chánh tâm viên mãn trụ”

Nơi pháp tự tánh không mê hoặc

Chánh niệm tư duy rời phân biệt

Tất cả trời người chẳng động được.

Nghe khen chê Phật, cùng Phật pháp

Bồ tát và cùng Bồ tát hạnh

Chúng sanh hữu lượng hoặc vô lượng

Hữu cấu - vô cấu, độ khó - dễ,

Pháp giới lớn - nhỏ và thành - hoại

Hoặc có, hoặc không, lòng chẳng động

Quá khứ, vị lai và hiện tại

Nhớ kỹ tư duy hằng quyết định.

Tất cả các pháp đều vô tướng

Vô thể, vô tánh, không, vô thiệt

Như ảo, như mộng, rời phân biệt

Thường thích được nghe nghĩa như vậy.

Thứ bảy: “Bất thối chuyển Bồ tát”

Nơi Phật, Phật pháp, Bồ tát hạnh

Hoặc có, hoặc không, xuất, chẳng xuất

Dầu nghe thuyết ấy không thối chuyển.

Quá khứ, vị lai và hiện tại

Tất cả chư Phật có cùng không

Phật trí hữu tận, hoặc vô tận

Tam thế một tướng, các thứ tướng.

Một tức là nhiều, nhiều là một

Văn tùy nơi nghĩa, nghĩa tùy văn

Như vậy tất cả xoay vần thành

Bực Bất thối nên vì chúng nói.

Hoặc pháp có tướng và vô tướng

Hoặc pháp có tánh và vô tánh

Các thứ sai biệt thuộc lẫn nhau

Người nầy nghe rồi được rốt ráo.

Thứ tám: “Bồ tát Đồng chơn trụ”

Thân ngữ ý hạnh đều đầy đủ

Tất cả thanh tịnh không có lỗi

Tùy ý thọ sanh được tự tại.

Biết những chúng sanh lòng sở thích

Các thứ ý giải đều sai khác

Và kia chỗ có tất cả pháp

Thập phương quốc độ tướng thành - hoại,

Ðến được diệu thần thông mau chóng

Trong tất cả chỗ tùy niệm qua

Nơi chư Phật được nghe diệu pháp

Khen ngợi tu hành không lười mỏi,

Rõ biết tất cả các Phật độ

Chấn động, gia trì và quán sát

Vượt qua Phật độ vô lượng số

Du hành thế giới vô biên số.

Vô số diệu pháp đều hỏi han

Chỗ muốn thọ thân đều tự tại

Ngôn âm thiện xảo đều sung mãn

Chư Phật vô số đều thờ kính.

Thứ chín: “Bồ tát Vương tử trụ”

Hay thấy chúng sanh thọ sanh khác

Phiền não hiện, tập, đều biết cả

Chỗ làm phương tiện đều khéo rõ,

Các pháp đều khác, oai nghi khác

Thế giới chẳng đồng, thuở trước sau

Như kia thế tục, đệ nhứt nghĩa

Ðều khéo biết rõ không có thừa,

Chỗ Pháp Vương thiện xảo an lập

Tùy nơi chỗ kia có diệu pháp

Pháp Vương cung điện hoặc thú nhập

Và nơi trong đó quán sát thấy,

Pháp Vương chỗ có pháp quán đảnh

Thần lực gia trì không khiếp sợ

Yên nghỉ cung thất và ngợi khen

Ðem đây dạy bảo Pháp Vương Tử.

Như vậy vì nói đều hết cả

Mà khiến tâm kia không chấp trước

Nơi đây rõ biết tu chánh niệm

Tất cả chư Phật hiện ra trước.

Thứ mười: “Quán đảnh chơn Phật tử”

Thành mãn pháp tối thượng đệ nhứt

Thập phương vô số các thế giới

Ðều hay chấn động quang chiếu khắp,

Trụ trì, qua đến, cũng không thừa

Thanh tịnh trang nghiêm đều đầy đủ

Khai thị chúng sanh vô hạn số

Quán sát căn tánh đều biết cả.

Phát tâm điều phục cũng vô biên

Ðều khiến hướng đến đại Bồ đề

Tất cả pháp giới đều quán sát

Thập phương quốc độ đều khiến đến.

Nơi đó, thân và thân hành động

Thần thông biến hiện khó lường được

Tam thế Phật độ các cảnh giới

Nhẫn đến Vương tử không rõ được.

Trí thấy biết tất cả ba đời

Trí hiểu rõ các pháp của Phật

Pháp giới vô ngại vô biên trí

Sung mãn nhứt thiết thế giới trí

Chiếu diệu thế giới trụ trì trí

Rõ biết chúng sanh chư pháp trí

Và biết chánh giác vô biên trí

Như Lai vì nói đều đủ cả.

Thập trụ Bồ tát như vậy thảy

Ðều từ Như Lai pháp hóa sanh

Tùy kia chỗ có công đức hạnh

Tất cả trời người chẳng lường được.

Quá khứ, vị lai và hiện tại

Phát tâm cầu Phật số vô biên

Thập phương quốc độ đều sung mãn

Ðều sẽ được thành Nhứt thiết trí.

Tất cả quốc độ không ngằn mé

Thế giới chúng sanh pháp cũng vậy

Hoặc, nghiệp, sở thích đều khác biệt

Nương đó mà phát Bồ đề tâm.

Ban đầu một niệm cầu Phật đạo

Chúng sanh thế gian và Nhị thừa

Hết sức suy gẫm còn chẳng biết

Huống là bao nhiêu công đức khác.

Thập phương tất cả các thế giới

Dùng một lông đều cân nhắc được,

Người đó biết được Phật tử nầy

Công hạnh hướng đến Phật đại trí.

Thập phương chỗ có những biển lớn

Ðều dùng sợi lông chấm khiến cạn,

Người đó biết được Phật tử nầy

Công đức tu hành trong một niệm.

Tất cả thế giới nghiền làm bụi

Ðều phân biệt được biết rõ số,

Người như vậy mới có thể thấy

Ðạo tu hành của Bồ tát nầy.

Thập phương chư Phật trong tam thế

Tất cả Ðộc giác và Thanh văn

Ðều dùng tất cả diệu biện tài

Khai thị sơ phát Bồ đề tâm.

Phát tâm công đức chẳng lường được

Sung mãn tất cả cõi chúng sanh

Chúng trí cùng nói không hết được

Huống là bao nhiêu diệu hạnh khác.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM PHẠM HẠNH

THỨ MƯỜI SÁU

*Lúc bấy giờ, Chánh Niệm Thiên tử bạch Pháp Huệ Bồ tát rằng:

Thưa Phật tử! Trong tất cả thế giới, chư Bồ tát y theo giáo pháp của Như Lai nhuộm y xuất gia, thế nào mà được Phạm hạnh thanh tịnh, từ địa vị Bồ tát đến đạo Vô thượng Bồ đề?

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Nầy Phật tử! Ðại Bồ tát lúc tu Phạm hạnh, nên dùng mười pháp làm cảnh sở duyên để tác ý quán sát.

Ðây là mười pháp: thân, thân nghiệp; ngữ, ngữ nghiệp; ý, ý nghiệp, Phật, Pháp, Tăng và giới.

Nên quán sát như vầy: thân là Phạm hạnh ư? Nhẫn đến giới là Phạm hạnh ư?

Nếu thân là Phạm hạnh, phải biết Phạm hạnh thì là chẳng phải thiện, là phi pháp, là lộn đục, là hôi xấu, là bất tịnh, là đáng nhàm, là trái nghịch, là tạp nhiễm, là tử thi, là nhóm trùng.

Nếu thân nghiệp là Phạm hạnh, thì Phạm hạnh là hành, trụ, tọa, ngọa, là ngó bên nầy bên kia, là co, duỗi, cúi, ngước.

Nếu ngữ ngôn là Phạm hạnh, thì Phạm hạnh là âm thanh, gió thở, là môi, lưỡi, cuống họng, là thổ nạp, ngăn buông, là cao thấp, trong đục.

Nếu ngữ nghiệp là Phạm hạnh, thì Phạm hạnh là thưa chào hỏi thăm, là nói lược nói rộng, là nói dụ nói thẳng, là lời khen lời chê, là lời an lập, lời tùy tục, lời hiển liễu.

Nếu ý là Phạm hạnh, thì Phạm hạnh là giác, là quán, là phân biệt, ức niệm, tư duy, là ảo thuật, là ngủ mơ.

Nếu ý nghiệp là Phạm hạnh, thì Phạm hạnh là tư tưởng lạnh nóng đói khát, khổ vui, lo mừng.

Nếu Phật là Phạm hạnh, thì sắc là Phật? Hay
thọ, tưởng, hành, thức là Phật? Tướng hảo hay thần thông là Phật? Nghiệp hạnh hay quả báo là Phật?

Nếu pháp là Phạm hạnh, thì tịch diệt hay Niết bàn là pháp? Bất sanh hay bất khởi là pháp? Bất khả thuyết hay vô phân biệt, vô sở hành, bất hiệp tập, bất tùy thuận, vô sở đắc là pháp?

Nếu Tăng là Phạm hạnh, thì Dự lưu hướng hay Dự lưu quả là Tăng? Nhứt lai hướng hay Nhứt lai quả là Tăng? Bất hoàn hướng hay Bất hoàn quả, Vô sanh hướng hay Vô sanh quả là Tăng? Tam minh hay lục thông là Tăng?

Nếu giới là Phạm hạnh, thì đàn tràng là giới, hay hỏi thanh tịnh là giới? Dạy oai nghi hay tam yết ma là giới? Hòa thượng hay A xà lê là giới? Thế phát là giới, hay đắp y ca sa, hay khất thực, hay chánh mạng là giới?

Quán sát như vậy, nơi thân không sở thủ, nơi tu không sở trước, nơi pháp không sở trụ, quá khứ đã diệt, vị lai chưa đến, hiện tại Không tịch, không người tác nghiệp, không kẻ thọ báo, đời nầy chẳng dời động, đời kia chẳng cải đổi. Như vậy, trong đây pháp nào gọi là Phạm hạnh? Phạm hạnh từ chỗ nào đến? Là sở hữu của ai? Thể là gì? Do ai làm? Là có? Là không? Là sắc? Là phi sắc? Là thọ? Là phi thọ? Là tưởng? Là phi tưởng? Là hành? Là phi hành? Là thức? Là phi thức?

Quán sát như vậy, vì pháp Phạm hạnh bất khả đắc, vì pháp tam thế đều Không tịch, vì ý không thủ trước, vì tâm không chướng ngại, vì sở hành vô nhị, vì phương tiện tự tại, vì thọ pháp vô tướng, vì quán pháp vô tướng, vì biết Phật pháp bình đẳng, vì đủ tất cả Phật pháp. Như đây gọi là Phạm hạnh thanh tịnh.

Lại phải tu tập mười pháp, chính là mười trí lực của Như Lai. Phải quán sát mỗi trí lực. Trong mỗi trí lực có vô lượng nghĩa đều phải han hỏi. Sau khi nghe, phải khởi tâm đại từ bi, quán sát chúng sanh mà chẳng bỏ lìa, tư duy các pháp không có thôi dứt, thực hành nghiệp vô thượng không cầu quả báo, rõ biết cảnh giới như ảo mộng, như bóng vang, như biến hóa.

Nếu Bồ tát nào được tương ứng với quán hạnh như vậy, ở trong các pháp chẳng sanh hai kiến giải, tất cả Phật pháp mau được hiện tiền. Lúc sơ phát tâm liền được A nậu đa la tam miệu tam Bồ đề. Biết tất cả pháp tức là tâm tự tánh, thành tựu huệ thân giác ngộ chẳng do người khác.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM SƠ PHÁT TÂM CÔNG ĐỨC

THỨ MƯỜI BẢY

Lúc bấy giờ, Thiên Ðế Thích bạch Pháp Huệ Bồ tát rằng:

Thưa Phật tử! Bồ tát sơ phát Bồ đề tâm được bao nhiêu công đức?

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Nghĩa đó rất sâu, khó nói, khó biết, khó phân biệt, khó tin hiểu, khó chứng, khó làm, khó thông đạt, khó tư duy, khó đạt lượng, khó thú nhập. Tuy nhiên, thừa oai thần của đức Phật, tôi sẽ nói cho ông.

Nầy Phật tử! Giả sử có người đem tất cả đồ sở
thích cúng dường chúng sanh trong vô số thế giới ở mười phương trọn một kiếp, rồi sau đó dạy họ thọ trì ngũ giới thanh tịnh. Cứ theo ý ông, công đức của người nầy nhiều chăng?

Thiên Ðế thưa:

Công đức của người nầy, trừ Phật ra, không ai có thể lường được.

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Nầy Phật tử! Công đức của người nầy đem so với công đức sơ phát tâm của Bồ tát chẳng bằng một phần trăm, một phần ngàn, một phần trăm ngàn, một phần ức, một phần trăm ngàn na do tha ức, một phần số, một phần ca la, một phần toán, một phần dụ, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.

Giả sử có người đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trọn trăm kiếp, rồi sau đó dạy họ đều tu thập thiện. Cúng dường như vậy trọn ngàn kiếp, rồi dạy tứ thiền. Cúng dường như vậy trọn trăm ngàn kiếp, rồi dạy trụ tứ vô lượng tâm. Cúng dường trọn ức kiếp, rồi dạy trụ tứ vô sắc định. Cúng dường trọn trăm ức kiếp, rồi dạy trụ quả Tu đà hoàn. Cúng dường trọn ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả Tư đà hàm. Cúng dường trọn trăm ngàn ức kiếp, rồi dạy trụ quả A na hàm. Cúng dường trọn na do tha ức kiếp, rồi dạy trụ quả A la hán. Cúng dường trọn trăm ngàn na do tha ức kiếp, rồi dạy trụ Bích chi Phật.

Nầy Phật tử! Cứ theo ý của ông, công đức của người nầy có nhiều chăng?

Thiên Ðế thưa:

Công đức của người nầy, chỉ có Phật là biết được thôi.

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Nầy Phật tử! Công đức của người nầy đem so với công đức của Bồ tát sơ phát tâm chẳng bằng một phần trăm, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.

Tại sao thế? Này Phật tử! Tất cả chư Phật lúc sơ phát tâm, chẳng phải chỉ vì đem tất cả đồ sở thích cúng dường chúng sanh trong mười vô số thế giới ở mười phương trải qua trăm kiếp, nhẫn đến trăm ngàn na do tha kiếp mà phát Bồ đề tâm. Cũng chẳng phải chỉ vì giáo hóa những chúng sanh ấy tu ngũ giới, thập thiện, tứ thiền, tứ không, nhẫn đến khiến trụ nơi quả A la hán và Bích chi Phật mà phát Bồ đề tâm. Chánh là vì khiến chủng tánh Như Lai chẳng dứt, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới, vì biết rõ cả sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ chúng sanh cấu tịnh trong tất cả thế giới, vì biết rõ tự tánh thanh tịnh của tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự chết đây sanh kia của tất cả chúng sanh, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế chúng sanh, vì biết rõ cảnh giới bình đẳng của tất cả Phật, vì những điều trên đây mà phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Này Phật tử! Giả sử có người trong khoảng một niệm có thể qua khỏi phương đông vô số thế giới, đi luôn như vậy trọn vô số kiếp, số thế giới của người nầy đã trải qua khó có ai biết được.

Người thứ hai, trong một niệm có thể qua khỏi tất cả thế giới của người thứ nhứt đã trải qua trong vô số kiếp, người nầy cũng đi luôn mãi trọn vô số kiếp.

Cứ lần lượt tuần tự như vậy đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Thế là trong mười phương có cả thảy trăm người. Số thế giới của trăm người nầy đã trải qua còn có thể biết được tế hạn.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát Vô thượng Bồ đề tâm, không ai có thể biết tế hạn được.

Nầy Phật tử! Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát Bồ đề tâm không có tế hạn. Nghĩa là vì muốn biết rõ thập phương tất cả thế giới, muốn biết diệu thế giới tức là thô thế giới và thô tức là diệu, thế giới ngửa tức là thế giới úp và úp tức là ngửa, tiểu thế giới tức là đại thế giới và đại tức là tiểu, thế giới rộng tức là thế giới hẹp và hẹp tức là rộng, một thế giới tức là bất khả thuyết thế giới và bất khả thuyết tức là một, bất khả thuyết thế giới vào trong một thế giới và một vào trong bất khả thuyết, uế thế giới tức là tịnh thế giới và tịnh tức là uế, muốn biết trong đầu một sợi lông tất cả thế giới tánh sai biệt, trong tất cả thế giới một đầu lông một thể tánh, muốn biết trong một thế giới xuất sanh tất cả thế giới, muốn biết tất cả thế giới không thể tánh, muốn dùng một niệm mà biết hết tất cả thế giới rộng lớn mà không chướng ngại. Vì cớ trên đây mà phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết kiếp số thành hoại trong vô số thế giới ở phương đông, cứ niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.

Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết tất cả kiếp số của người thứ nhứt đã biết trong vô số kiếp, rồi niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.

Cứ tuần tự tăng lên đến người thứ mười, chín phương kia cũng như vậy.

Thế là có cả thảy trăm người. Kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong mười phương qua sự hiểu biết của trăm người nầy, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát chẳng phải chỉ vì biết sự thành hoại của bao nhiêu thế giới đó phát tâm Vô thượng Bồ đề. Mà vì muốn biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới không thừa không sót nên phát tâm.

Nghĩa là muốn biết kiếp dài tức là kiếp ngắn, ngắn tức là dài, dài ngắn bình đẳng, một kiếp bình đẳng với vô số kiếp, vô số với một cũng vậy, kiếp có Phật bình đẳng với kiếp không Phật, không với có cũng vậy, trong kiếp một Phật có bất khả thuyết Phật, trong kiếp bất khả thuyết Phật có một Phật, hữu lượng kiếp bình đẳng với vô lượng kiếp, vô lượng kiếp bình đẳng với hữu lượng kiếp, hữu tận kiếp bình đẳng với vô tận kiếp, vô tận với hữu tận cũng vậy, bất khả thuyết kiếp bình đẳng với một niệm, một niệm bình đẳng với bất khả thuyết kiếp, tất cả kiếp vào phi kiếp, phi kiếp vào tất cả kiếp. Vì muốn trong một niệm biết hết kiếp số thành hoại của tất cả thế giới trong ba thời quá khứ, vị lai và hiện tại, nên phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Ðây gọi là sơ phát tâm đại thệ trang nghiêm trí thần thông rõ biết tất cả kiếp.

Lại ví dụ: giả sử có người, trong khoảng một niệm có thể biết những tri giải sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Niệm niệm biết rõ như vậy mãn vô số kiếp.

Người thứ hai trong khoảng một niệm có thể biết những tri giải của tất cả chúng sanh mà người thứ nhứt đã biết trọn vô số kiếp, niệm niệm như vậy trọn vô số kiếp. Lần lượt tuần tự đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Những tri giải riêng biệt của tất cả chúng sanh trong mười phương như vậy, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải vì chỉ muốn biết bao nhiêu tri giải của bao nhiêu chúng sanh đó, mà vì muốn biết những tri giải của các chúng sanh trong tất cả thế giới.

Nghĩa là Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề, vì
muốn biết tất cả tri giải sai biệt vô biên, tri giải sai biệt của một chúng sanh bình đẳng với tri giải của vô số chúng sanh, vì muốn được trí phương tiện biết rõ bất khả thuyết tri giải sai biệt, muốn biết rõ mỗi mỗi tri giải sai biệt của tất cả chúng sanh trọn vẹn không thừa sót, muốn biết rõ tri giải thiện, bất thiện, quá khứ, hiện tại, vị lai, muốn biết rõ tri giải tương tợ và chẳng tương tợ, muốn biết rõ tất cả tri giải tức là một tri giải, một tri giải tức là tất cả tri giải, muốn biết được sức tri giải của Như Lai, muốn biết rõ sự sai biệt của hữu thượng giải, vô thượng giải, hữu dư giải, vô dư giải, đẳng giải, bất đẳng giải, hữu y giải, vô y giải, cộng giải, bất cộng giải, hữu biên giải, vô biên giải, sai biệt giải, vô sai biệt giải, thiện giải, bất thiện giải, thế gian giải, xuất thế gian giải, muốn được vô ngại ở nơi tất cả diệu giải, đại giải, vô lượng giải, chánh vị giải, muốn dùng vô lượng phương tiện biết rõ trọn vẹn thập phương tất cả chúng sanh giới, mỗi chúng sanh có nào là tịnh giải, nhiễm giải, quảng giải, lược giải, tế giải, thô giải, muốn biết rõ trọn vẹn thâm mật giải, phương tiện giải, phân biệt giải, tự nhiên giải, tùy nhơn khởi giải, tùy duyên khởi giải.

Vì muốn được như trên đây mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong vô số thế giới phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp.

Người thứ hai, trong một niệm, có thể rõ biết tất cả sự biết về căn tánh chúng sanh trọn vô số kiếp của người thứ nhứt.

Lần lượt tuần tự đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Những căn tánh sai biệt của bao nhiêu chúng sanh trong bao nhiêu thế giới của trăm người đó rõ biết trọn vô số kiếp, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì biết bao nhiêu căn tánh đó, mà chánh vì muốn biết rõ trọn vẹn những căn tánh sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới. Nói rộng ra, nhẫn đến muốn biết trọn vẹn tất cả lưới căn tánh mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm có thể biết những chỗ sở thích của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông, niệm niệm biết như vậy trọn vô số kiếp. Tuần tự nói rộng đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy. Chỗ sở thích của thập phương chúng sanh nầy, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức thiện căn của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải vì chỉ để biết chừng ấy sở thích của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chánh là vì muốn biết tất cả sở thích của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những phương tiện của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Tuần tự nói rộng như vậy nhẫn đến người thứ mười. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Những loại phương tiện cùng thập phương chúng sanh đó, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải vì để biết bao nhiêu phương tiện của thập phương chúng sanh đó, mà chánh là để biết trọn vẹn những phương tiện của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những tâm sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Nói rộng nhẫn đến những tâm sai biệt của những chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết ngần ấy tâm sai biệt, mà chánh vì để biết trọn vẹn những tâm sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những nghiệp sai biệt của những chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Nói rộng nhẫn đến những nghiệp sai biệt của những chúng sanh trong thập phương thế giới, còn có thể biết ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những nghiệp sai biệt của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chánh là vì để biết rõ trọn vẹn những nghiệp sai biệt của tất cả chúng sanh trong tất cả thế giới và cả tam thế.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm, có thể biết những phiền não của chúng sanh trong vô số thế giới ở phương đông. Lần lượt nói rộng đến người thứ mười và chín phương kia, còn có thể biết được ngằn mé.

Công đức căn lành của Bồ tát sơ phát tâm, không ai có thể biết được ngằn mé.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ vì để biết những phiền não của bao nhiêu chúng sanh đó, mà chánh vì để biết rõ trọn vẹn những phiền não sai biệt của những chúng sanh trong tất cả thế giới.

Nghĩa là muốn biết rõ trọn vẹn những phiền não nhẹ, nặng, chủng tử hiện hành, tất cả chúng sanh có vô lượng phiền não, các loại sai biệt, các loại giác quán để đối trị sạch tất cả những tạp nhiễm.

Muốn biết trọn vẹn phiền não y tựa vô minh, phiền não tương ưng với ai, để dứt kiết sử phiền não của tất cả loài.

Muốn biết trọn vẹn tham phần, sân phần, si phần và đẳng phần phiền não, để dứt căn bổn phiền não.

Muốn biết trọn vẹn ngã phiền não, ngã sở phiền não, ngã mạn phiền não, để giác ngộ hết tất cả phiền não.

Muốn biết trọn vẹn từ điên đảo phân biệt sanh ra căn bổn phiền não, tùy phiền não, nhơn thân kiến sanh sáu mươi hai kiến chấp, để điều phục tất cả phiền não.

Muốn biết trọn vẹn cái phiền não, chướng phiền não, để phát tâm đại bi, tâm cứu hộ dứt tất cả phiền não khiến tất cả trí tánh thanh tịnh.

Vì muốn được như vậy mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Lại ví dụ: giả sử có người trong khoảng một niệm đem các thứ thượng vị ẩm thực, y phục, hoa hương, phan lọng, Tăng già lam, cung điện thượng diệu, màn trướng báu, những tòa sư tử trang nghiêm và những diệu bửu cung kính cúng dường vô số chư Phật phương đông và những chúng sanh trong vô số thế giới, luôn trọn vô số kiếp và cũng khuyên những chúng sanh đó đồng cúng dường Phật. Ðến khi chư Phật nhập diệt đều xây tháp cao rộng trang nghiêm để thờ xá lợi và hình tượng của Phật trọn vô số kiếp. Chín phương kia cũng đều như vậy.

Nầy Phật tử! Công đức của người trên đây, theo ý ông, có nhiều chăng?

Thiên Ðế thưa:

Công đức đó chỉ có đức Phật là biết được thôi.

Pháp Huệ Bồ tát nói:

Công đức đó đem sánh với công đức của Bồ tát sơ phát tâm không bằng một phần trăm, nhẫn đến chẳng bằng một phần ưu ba ni sa đà.

Nói rộng như thế tuần tự đến người thứ mười. Công đức cúng dường của tất cả người trên đây cũng không bằng một phần ưu ba ni sa đà đối với công đức của Bồ tát sơ phát tâm.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát phát tâm chẳng phải chỉ hạn cúng dường bao nhiêu đức Phật như vậy, mà chính vì để cúng dường thập phương tam thế tất cả chư Phật.

Bồ tát phát tâm nầy rồi, có thể biết tất cả quá khứ chư Phật lúc mới thành Chánh giác đến lúc nhập Niết bàn, có thể tin bao nhiêu thiện căn của tất cả vị lai chư Phật, có thể biết bao nhiêu trí huệ của tất cả hiện tại chư Phật.

Tam thế chư Phật có bao nhiêu công đức, Bồ tát nầy có thể tin được, thọ được, có thể biết, có thể tu, có thể được, có thể chứng, có thể trọn nên, có thể cùng chư Phật bình đẳng một tánh.

Tại sao vậy? Bồ tát nầy vì chẳng dứt Phật chủng mà phát tâm, vì đầy khắp tất cả thế giới, vì độ thoát tất cả chúng sanh, vì biết rõ sự thành hoại của tất cả thế giới, vì biết rõ sự cấu tịnh của tất cả chúng sanh, vì biết rõ ba cõi thanh tịnh của tất cả thế giới, vì biết rõ sở thích, phiền não, tập khí của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tất cả chúng sanh chết đây sanh kia, vì biết rõ căn tánh phương tiện của tất cả chúng sanh, vì biết rõ tâm hành của tất cả chúng sanh, vì trí biết rõ tam thế của tất cả chúng sanh.

Vì những điều trên đây mà Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề.

Do phát tâm nên thường được tất cả tam thế chư Phật ức niệm, sẽ được Vô thượng Bồ đề. Liền được tất cả tam thế chư Phật ban diệu pháp. Liền cùng tất cả tam thế chư Phật thể tánh bình đẳng. Ðã tu pháp trợ đạo của tất cả tam thế chư Phật. Thành tựu lực vô úy của tất cả tam thế chư Phật. Trang nghiêm Phật pháp bất cộng của tất cả tam thế chư Phật. Ðược trọn vẹn trí huệ thuyết pháp của tất cả tam thế chư Phật.

Tại sao vậy? Vì phát tâm như đây sẽ được thành Phật.

Nên biết người nầy đồng với tam thế chư Phật, bình đẳng với cảnh giới của chư Phật, bình đẳng với công đức của chư Phật, được trí huệ chơn thiệt, một thân cùng vô lượng thân rốt ráo bình đẳng của chư Phật.

Lúc vừa phát tâm liền được thập phương tất cả chư Phật đồng khen ngợi, liền có thể thuyết pháp giáo hóa điều phục chúng sanh trong tất cả thế giới, liền có thể chấn động tất cả thế giới, liền có thể chiếu sáng tất cả thế giới, liền có thể dứt diệt những khổ ác đạo của tất cả thế giới, liền có thể nghiêm tịnh tất cả quốc độ, liền có thể thị hiện thành Phật trong tất cả thế giới, liền có thể khiến tất cả chúng sanh đều được vui mừng, liền có thể vào tất cả pháp giới tánh, liền có thể trì chủng tánh Phật, liền có thể được trí huệ quang minh của tất cả Phật.

Bồ tát sơ phát tâm đây chẳng phải cầu được một ít trong tam thế, như là Phật, Phật pháp, Bồ tát, Bồ tát pháp, Ðộc giác, Độc giác pháp, Thanh văn, Thanh văn pháp, thế gian, thế gian pháp, xuất thế gian, xuất thế gian pháp, chúng sanh, chúng sanh pháp, mà chỉ cầu được Nhứt thiết chủng trí, nơi các pháp giới, tâm không chấp trước.

Lúc bấy giờ, do thần lực của Phật, mười phương đều mười ngàn Phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách, mưa hoa trời, hương trời, tràng hoa trời, y phục trời, báu trời, đồ trang nghiêm trời, trổi kỹ nhạc trời, phóng quang minh trời và âm thanh trời.

Lúc đó, mười phương đều qua khỏi ngoài mười Phật sát vi trần số thế giới, có mười ngàn Phật sát vi trần số Phật đồng hiệu Pháp Huệ và đều hiện thân ra trước Pháp Huệ Bồ tát mà bảo rằng:

Lành thay! Lành thay! Nầy Pháp Huệ! Nay ông có thể thuyết được pháp đó. Chúng ta ở mười phương, đều mười ngàn Phật sát vi trần số chư Phật cũng thuyết pháp đó.

Lúc ông thuyết pháp đó, có mười ngàn Phật sát vi trần số Bồ tát phát tâm Vô thượng Bồ đề. Chư Phật chúng ta đều thọ ký cho họ: Qua khỏi ngàn bất khả thuyết vô biên kiếp, đồng xuất thế thành Phật trong một kiếp và đồng hiệu Thanh Tịnh Tâm Như Lai, thế giới khác nhau.

Chư Phật chúng ta sẽ hộ trì pháp nầy, khiến chư Bồ tát thời vị lai, người chưa nghe đều được nghe.

Như ở Ta Bà thế giới nầy, trên đảnh Tu Di thuyết pháp như vậy, khiến các chúng sanh nghe pháp thọ hóa, mười phương trăm ngàn ức na do tha vô lượng, vô biên, tận pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới cũng nói pháp nầy giáo hóa chúng sanh. Bồ tát thuyết pháp đồng tên Pháp Huệ. Ðều do thần lực của Phật, nguyện lực của Phật, vì muốn hiển thị Phật pháp, vì dùng trí quang chiếu khắp, vì muốn khai xiển thiệt nghĩa, vì khiến chứng được pháp tánh, vì khiến hội chúng đều hoan hỷ, vì muốn khai thị nhơn Phật pháp, vì được tất cả Phật bình đẳng, vì rõ pháp giới vô nhị, nên thuyết pháp như vậy.

Lúc đó, Pháp Huệ Bồ tát quan sát khắp tất cả chúng hội mười phương thế giới, muốn đều thành tựu các chúng sanh, muốn đều trừ sạch những nghiệp quả báo, muốn đều khai hiển thanh tịnh pháp giới, muốn đều nhổ trừ căn bổn tạp nhiễm, muốn đều tăng trưởng tín giải rộng lớn, muốn đều khiến biết rõ căn tánh vô lượng chúng sanh, muốn đều khiến biết pháp tam thế bình đẳng, muốn đều khiến quan sát Niết bàn giới, muốn tăng trưởng thiện căn thanh tịnh của mình, thừa oai lực của Phật mà nói kệ rằng:

Vì lợi thế gian phát đại tâm

Tâm đó khắp cùng cả mười phương

Chúng sanh, quốc độ pháp tam thế

Phật và Bồ tát biển tối thắng.

Rốt ráo hư không khắp pháp giới

Chỗ có tất cả những thế gian

Như các Phật pháp đều qua đến

Phát tâm như vậy không thối chuyển.

Từ niệm chúng sanh không tạm bỏ

Lìa những não hại khắp nhiêu ích

Quang minh chiếu thế làm sở quy

Thập lực hộ niệm khó nghĩ bàn.

Thập phương quốc độ đều đến vào

Tất cả hình sắc đều thị hiện

Như Phật phước trí rộng vô biên

Tùy thuận tu nhơn không chấp trước.

Có cõi ngửa hoặc nghiêng hoặc úp

Thô diệu rộng lớn vô lượng thứ

Bồ tát một khi phát đại tâm

Ðều qua đến được không chướng ngại.

Bồ tát thắng hạnh bất khả thuyết

Ðều siêng tu tập vô sở trụ

Thấy tất cả Phật lòng mến thích

Khắp vào biển pháp sâu của Phật.

Thương xót ngũ thú các quần sanh

Khiến trừ cấu uế khắp thanh tịnh

Nối thạnh Phật chủng chẳng đoạn tuyệt

Dẹp dứt cung ma không có thừa.

Ðã trụ Như Lai bình đẳng tánh

Khéo tu vi diệu phương tiện đạo

Nơi Phật cảnh giới sanh tín tâm

Ðược Phật quán đảnh tâm không trước.

Nhớ nghĩ báo ơn cho đức Phật

Lòng như kim cương chẳng bị ngăn

Có thể chiếu rõ công hạnh Phật

Tự nhiên tu tập hạnh Bồ đề.

Các loài sai biệt vô lượng tưởng

Nghiệp quả và tâm cũng chẳng một

Nhẫn đến căn tánh các loại khác

Một khi phát tâm đều thấy rõ.

Tâm đó rộng lớn khắp pháp giới

Vô y, vô biến như hư không

Xu hướng Phật trí, không sở thủ

Rõ chắc thiệt tế lìa phân biệt.

Biết tâm chúng sanh không sanh tưởng

Rõ thấu các pháp không pháp tưởng

Dầu khắp phân biệt mà vô biệt

Ức na do cõi đều qua đến.

Vô lượng chư Phật diệu pháp tạng

Tùy thuận quán sát đều vào được

Căn hạnh chúng sanh đều biết cả

Ðến chỗ như vậy là như Phật.

Nguyện lớn thanh tịnh hằng tương ưng

Thích cúng dường Phật không thối chuyển

Trời người thấy đó không nhàm chán

Thường được chư Phật chỗ hộ niệm.

Tâm đó thanh tịnh vô sở y

Dầu quán thâm pháp mà chẳng chấp

Tư duy như vậy vô lượng kiếp

Ở trong tam thế không sở trước.

Tâm đó kiên cố khó chế ngăn

Ðến Phật Bồ đề không chướng ngại

Chí cầu diệu đạo trừ mê hoặc

Ði khắp pháp giới chẳng khổ nhọc.

Biết pháp ngữ ngôn đều tịch diệt

Chỉ vào chơn như tuyệt dị giải

Chư Phật cảnh giới đều thuận quán

Ðạt nơi tam thế tâm vô ngại.

Bồ tát mới phát tâm rộng lớn

Có thể qua khắp mười phương cõi

Pháp môn vô lượng bất khả thuyết

Trí quang chiếu khắp đều sáng tỏ.

Ðại bi rộng độ rất không sánh

Từ tâm cùng khắp đồng hư không

Ma với chúng sanh chẳng phân biệt

Thanh tịnh như vậy đi thế gian.

Thập phương chúng sanh đều an ủy

Tất cả chỗ làm đều chơn thiệt

Hằng dùng tịnh tâm lời chẳng khác

Thường được chư Phật đồng gia hộ.

Quá khứ chỗ có đều ghi nhớ

Vị lai tất cả đều phân biệt

Thập phương thế giới khắp vào trong

Ðể độ chúng sanh khiến ra khỏi.

Bồ tát đầy đủ diệu trí quang

Khéo rõ nhơn duyên không có nghi

Tất cả mê hoặc đều dứt trừ

Như vậy mà đi nơi pháp giới.

Ma vương cung điện đều dẹp phá

Chúng sanh màn lòa đều dứt trừ

Lìa những phân biệt tâm chẳng động

Khéo rõ cảnh giới của Như Lai.

Lưới nghi tam thế đều đã trừ

Ðối với Như Lai sanh tịnh tín

Do tin được thành trí bất động

Do trí thanh tịnh hiểu chơn thiệt.

Vì khiến chúng sanh được xuất ly

Tận thời vị lai khắp lợi ích

Mãi mãi cần khổ tâm chẳng nhàm

Nhẫn đến địa ngục cũng an thọ.

Phước trí vô lượng đều đầy đủ

Chúng sanh căn dục đều rõ biết

Và những nghiệp hạnh đều biết cả

Theo sở thích họ vì thuyết pháp.

Rõ biết tất cả không, vô ngã

Từ niệm chúng sanh thường không bỏ

Dùng một đại bi vi diệu âm

Vào khắp thế gian mà diễn thuyết.

Phóng đại quang minh các màu sắc

Chiếu khắp chúng sanh trừ đen tối

Trong quang Bồ tát ngồi liên hoa

Vì chúng xiển dương pháp thanh tịnh.

Nơi đầu một lông hiện các cõi

Chư đại Bồ tát đều sung mãn

Chúng hội trí huệ sai khác cả

Ðều rõ biết đặng tâm chúng sanh.

Thập phương thế giới bất khả thuyết

Một niệm đi khắp hết tất cả

Lợi ích chúng sanh cúng dường Phật

Nơi chỗ chư Phật hỏi thâm nghĩa.

Nơi chư Như Lai tưởng là cha

Vì lợi chúng sanh tu giác hạnh

Trí huệ thiện xảo thông pháp tạng

Vào nơi thâm trí không sở trước.

Tùy thuận tư duy nói pháp giới

Trải vô lượng kiếp chẳng cùng tận

Trí dầu khéo vào không xứ sở

Không có mỏi nhàm không sở trước.

Sanh trong nhà tam thế chư Phật

Chứng đặng Như Lai diệu pháp thân

Khắp vì quần sanh hiện các sắc

Ví như thuật gia làm tất cả.

Hoặc hiện mới tu hạnh thù thắng

Hoặc hiện sơ sanh và xuất gia

Hoặc hiện dưới cây thành Bồ đề

Hoặc vì chúng sanh hiện nhập diệt.

Bồ tát trụ nơi pháp hy hữu

Là Phật cảnh chẳng phải Nhị thừa

Thân ngữ ý tưởng đều đã trừ

Các thứ tùy nghi đều hiện đặng.

Bồ tát chỗ đặng các Phật pháp

Chúng sanh tư duy phát cuồng loạn

Trí nhập thiệt tế tâm vô ngại

Khắp hiện Như Lai sức tự tại.

Ðây ở thế gian không sánh bằng

Huống là lại thêm hạnh thù thắng

Dầu chưa đầy đủ Nhứt thiết trí

Ðã đặng Như Lai tự tại lực.

Ðã trụ Nhứt thừa đạo rốt ráo

Sâu vào pháp vi diệu tối thượng

Khéo biết chúng sanh thời, phi thời

Vì lợi ích nên hiện thần thông.

Phân thân đầy khắp tất cả cõi

Phóng tịnh quang minh trừ đời tối

Ví như Long vương khởi đại vân

Khắp tuôn mưa mầu đều đầy thấm.

Quán sát chúng sanh như ảo mộng

Do nghiệp lực nên thường lưu chuyển

Ðại bi xót thương đều cứu vớt

Vì nói vô vi tịnh pháp tánh.

Phật lực vô lượng đây cũng vậy

Ví như hư không vô lượng biên

Vì khiến chúng sanh đặng giải thoát

Ức kiếp siêng tu không mỏi nhọc.

Quan sát tư duy diệu công đức

Khéo tu hạnh đệ nhứt vô thượng

Nơi các thắng hạnh luôn chẳng bỏ

Chuyên niệm sanh thành Nhứt thiết trí.

Một thân thị hiện vô lượng thân

Tất cả thế giới đều đầy khắp

Tâm đó thanh tịnh vô phân biệt

Một niệm khó nghĩ, sức như vậy.

Nơi các thế gian chẳng phân biệt

Nơi tất cả pháp không vọng tưởng

Quán sâu các pháp mà chẳng lấy

Hằng cứu chúng sanh không sở độ.

Tất cả thế gian chỉ là tưởng

Ở trong các thứ đều sai khác

Biết cảnh giới tưởng hiểm và sâu

Vì hiện thần thông để độ thoát.

Ví như thuật gia sức tự tại

Bồ tát thần biến cũng như vậy

Thân khắp pháp giới và hư không

Tùy tâm chúng sanh đều đặng thấy.

Năng sở phân biệt lìa cả hai

Tạp nhiễm thanh tịnh không sở thủ

Hoặc phược hoặc giải trí đều quên

Chỉ nguyện khắp ban vui quần chúng.

Tất cả thế gian chỉ tưởng lực

Dùng trí mà vào tâm vô úy

Tư duy các pháp cũng như vậy

Suy cầu tam thế bất khả đắc.

Hay vào quá khứ trọn thời trước

Hay vào vị lai trọn thời sau

Hay vào hiện tại tất cả chỗ

Thường siêng quan sát không chỗ có.

Tùy thuận Niết bàn pháp tịch diệt

Trụ nơi vô tránh, vô sở y

Tâm như thiệt tế không gì sánh

Chuyên hướng Bồ đề trọn chẳng thối.

Tu những thắng hạnh không lui sụt

An trụ Bồ đề chẳng động lay

Phật và Bồ tát cùng thế gian

Cùng tận pháp giới đều sáng tỏ.

Muốn đặng tối thắng đạo đệ nhứt

Là vua giải thoát Nhứt thiết trí

Nên phải mau phát Bồ đề tâm

Hết hẳn hữu lậu lợi quần sanh.

Xu hướng Bồ đề tâm thanh tịnh

Công đức rộng lớn bất khả thuyết

Vì lợi quần sanh nên khen thuật

Phật tử các Ngài nên nghe kỹ.

Vô lượng thế giới đều làm bụi

Trong mỗi hạt bụi vô lượng cõi

Mỗi cõi chư Phật đều vô lượng

Ðều hay thấy rõ không sở thủ.

Khéo biết chúng sanh không sanh tưởng

Khéo biết ngữ ngôn không ngữ tưởng

Nơi các thế giới tâm vô ngại

Ðều khéo biết rõ không sở trước.

Tâm đó rộng lớn như hư không

Việc trong tam thế đều rõ suốt

Tất cả nghi hoặc đều dứt trừ

Chánh quán Phật pháp không sở thủ.

Mười phương vô lượng các quốc độ

Một niệm qua đến lòng vô trước

Liễu đạt thế gian những pháp khổ

Ðều trụ vô sanh chơn thiệt tế.

Vô lượng nan tư chỗ chư Phật

Ðều đến hội đó để lễ Phật

Thường làm thượng thủ hỏi Như Lai

Bồ tát thực hành những nguyện hạnh.

Tâm thường nhớ đến Phật mười phương

Mà không sở y không sở thủ

Hằng khuyên chúng sanh trồng thiện căn

Trang nghiêm quốc độ khiến thanh tịnh.

Tất cả chúng sanh trong ba cõi

Dùng vô ngại nhãn đều quan sát

Bao nhiêu tập tánh những căn giải

Vô lượng vô biên đều thấy rõ.

Chúng sanh sở thích đều rõ biết

Như vậy tùy nghi vì thuyết pháp

Nơi những nhiễm tịnh đều thông đạt

Khiến kia tu tập vào nơi đạo.

Vô lượng vô số những tam muội

Bồ tát một niệm đều vào đặng

Trong đó tưởng trí và sở duyên

Ðều khéo rõ biết đặng tự tại.

Bồ tát đặng trí rộng lớn nầy

Mau đến Bồ đề không sở ngại

Vì muốn lợi ích các quần sanh

Mọi nơi tuyên dương đại nhơn pháp.

Khéo biết thế gian kiếp dài ngắn

Một tháng nửa tháng và ngày đêm

Quốc độ riêng biệt tánh bình đẳng

Thường siêng quán sát chẳng phóng dật.

Ðến khắp mười phương các thế giới

Mà nơi phương xứ không sở thủ

Nghiêm tịnh quốc độ đều không thừa

Mà chẳng phân biệt là nghiêm tịnh.

Chúng sanh thị xứ hoặc phi xứ

Và đến những nghiệp, hoặc, báo khác

Tùy thuận tư duy vào Phật lực

Nơi đây tất cả đều rõ biết.

Tất cả thế gian những căn tánh

Những thứ nghiệp hạnh vào ba cõi

Lợi căn, trung căn cùng hạ căn

Tất cả như vậy đều quan sát.

Tịnh cùng bất tịnh những tri giải

Thắng, liệt và trung đều thấy rõ

Công hạnh chỗ đến của chúng sanh

Ba cõi tương tục đều thuyết đặng.

Thiền định giải thoát các tam muội

Nhiễm tịnh nhơn khởi đều chẳng đồng

Và cùng đời trước khổ vui khác

Tịnh tu Phật lực đều hay thấy.

Chúng sanh nghiệp hoặc nối các loài

Dứt các loài nầy đặng tịch diệt

Những pháp hữu lậu trọn chẳng sanh

Và tập chủng kia đều rõ biết.

Như Lai phiền não đều trừ hết

Ðại trí quang minh chiếu thế gian

Bồ tát ở trong Phật thập lực

Dầu chưa chứng đặng cũng không nghi.

Bồ tát ở trong một chân lông

Niệm khắp mười phương vô lượng cõi

Hoặc có tạp nhiễm hoặc thanh tịnh

Các thứ nghiệp hạnh đều rõ biết.

Trong một vi trần vô lượng cõi

Vô lượng chư Phật và Phật tử

Các cõi riêng khác không tạp loạn

Như một, tất cả đều thấy rõ.

Nơi một chân lông thấy mười phương

Hết hư không giới các thế gian

Chẳng có một nơi không có Phật

Cõi Phật như vậy đều thanh tịnh.

Ở trong chân lông thấy cõi Phật

Lại thấy tất cả các chúng sanh

Tam thế sáu loài đều chẳng đồng

Ngày, đêm, giờ, tháng có phược giải.

Ðại trí như vậy các Bồ tát

Chuyên tâm hướng đến ngôi Pháp Vương

Nơi cảnh Phật trụ thuận tư duy

Mà đặng vô biên đại hoan hỷ.

Bồ tát phân thân vô lượng ức

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Thần thông biến hiện thắng vô tỷ

Chỗ Phật sở hành đều trụ đặng.

Với vô lượng Phật đều mến khen

Bao nhiêu pháp tạng đều say nếm

Thấy Phật nghe pháp siêng tu hành

Như uống cam lộ lòng vui đẹp.

Ðã đặng Như Lai thắng tam muội

Khéo vào các pháp trí tăng trưởng

Tín tâm bất động như Tu Di

Làm tạng công đức cho quần sanh.

Từ tâm rộng lớn khắp chúng sanh

Ðều nguyện mau thành Nhứt thiết trí

Mà luôn vô trước không sở y

Lìa các phiền não đặng tự tại.

Trí rộng lớn thương xót chúng sanh

Nhiếp khắp tất cả đồng với mình

Biết không, vô tướng, không chơn thiệt

Mà lòng tu hành không lười trễ.

Bồ tát phát tâm lượng công đức

Ức kiếp ca ngợi không hết đặng

Vì xuất sanh các đức Như Lai

Và quả Thanh văn quả Ðộc giác.

Mười phương quốc độ các chúng sanh

Ban cho an vui vô lượng kiếp

Khuyên trì ngũ giới và thập thiện

Tứ thiền, tứ tâm, các định xứ.

Lại trọn nhiều kiếp ban an vui

Khiến dứt phiền não thành La hán

Những phước đức đó dầu vô lượng

Nhưng chẳng bằng công đức phát tâm.

Lại dạy ức chúng thành Duyên giác

Ðược hạnh vô tránh đạo vi diệu

Ðem đó sánh với Bồ đề tâm

Toán số thí dụ không bằng đặng.

Một niệm qua đặng trần số cõi

Như vậy đi mãi vô lượng kiếp

Số những cõi đó còn tính đặng

Công đức phát tâm chẳng thể biết.

Quá khứ, vị lai và hiện tại

Bao nhiêu kiếp số vô lượng biên

Những kiếp số nầy còn biết đặng

Công đức phát tâm chẳng thể lường.

Do tâm Bồ đề khắp mười phương

Bao nhiêu phân biệt đều biết cả

Một niệm tam thế đều thấu tỏ

Vì lợi ích vô lượng chúng sanh.

Thập phương thế giới những chúng sanh

Ý muốn, tri giải và phương tiện

Ðến hư không giới đều lường đặng

Công đức phát tâm khó lường biết.

Bồ tát chí nguyện khắp mười phương

Từ tâm lợi khắp các quần sanh

Ðều khiến tu hành Phật công đức

Thế nên sức đó không ngằn mé.

Chúng sanh: muốn, hiểu, lòng sở thích

Căn tánh, phương tiện, hạnh riêng biệt

Nơi trong một niệm đều rõ biết

Nhứt thiết trí trí, tâm đồng đẳng.

Tất cả chúng sanh các hoặc nghiệp

Ba cõi tương tục không tạm dứt

Những ngằn mé nầy còn biết đặng

Công đức phát tâm khó nghĩ bàn.

Phát tâm hay lìa nghiệp phiền não

Cúng dường tất cả chư Như Lai

Nghiệp hoặc đã lìa, tương tục dứt

Khắp trong ba đời đặng giải thoát.

Một niệm cúng dường vô biên Phật

Cũng cúng vô số các chúng sanh

Ðều dùng hương hoa và tràng đẹp

Tràng phan lọng báu y phục tốt.

Thức ngon tòa báu chỗ kinh hành

Các thứ cung điện đều nghiêm tốt

Tỳ Lô Giá Na diệu bửu châu

Như ý ma ni phát sáng chói.

Như vậy niệm niệm đem cúng dường

Trọn vô lượng kiếp bất khả thuyết

Người đó phước tụ dầu lại nhiều

Chẳng bằng phát tâm công đức lớn.

Ðã nói bao nhiêu những ví dụ

Không có bằng đặng Bồ đề tâm

Bởi vì tam thế chư Như Lai

Ðều từ phát tâm nầy mà có.

Phát tâm vô ngại không chừng ngằn

Muốn cầu lượng đó không thể đặng

Nhứt thiết trí trí, nguyện tất thành

Bao nhiêu chúng sanh đều độ trọn.

Phát tâm rộng lớn đồng hư không

Sanh những công đức đồng pháp giới

Công hạnh phổ biến không khác: “Như”

Trọn lìa chấp trước bình đẳng: “Phật”.

Tất cả pháp môn đều vào cả

Tất cả quốc độ đều qua đặng

Tất cả trí cảnh đều thông đạt

Tất cả công đức đều thành tựu.

Tất cả năng xả luôn tương tục

Tịnh các giới phẩm không sở trước

Ðầy đủ vô thượng công đức lớn

Thường siêng tinh tấn bất thối chuyển.

Vào thâm thiền định thường tư duy

Trí huệ rộng lớn đồng tương ưng

Ðây là bực Bồ tát tối thắng

Xuất sanh tất cả đạo Phổ Hiền.

Tam thế tất cả chư Như Lai

Đều hộ niệm hàng sơ phát tâm

Ðều dùng tam muội đà la ni

Thần thông biến hóa đồng trang nghiêm.

Mười phương chúng sanh vô biên lượng

Thế giới hư không cũng như vậy

Phát tâm vô lượng hơn số kia

Do đây hay sanh tất cả Phật.

Bồ đề tâm là gốc thập lực

Cũng là gốc tứ biện vô úy

Và mười tám Phật pháp bất cộng

Tất cả đều từ phát tâm đặng.

Chư Phật thân sắc tướng đoan nghiêm

Nhẫn đến diệu pháp thân bình đẳng

Trí huệ vô trước đáng cúng dường

Ðều do phát tâm mà đặng có.

Tất cả Ðộc giác, Thanh văn thừa

Sắc giới, Tứ thiền, tam muội lạc

Và Vô Sắc giới, Tứ định xứ

Ðều do phát tâm làm cội gốc.

Tất cả trời người tự tại vui

Nhẫn đến các loài các thứ vui

Tinh tấn, định, huệ, căn, lực thảy

Tất cả đều do sơ phát tâm.

Bởi do phát khởi tâm rộng lớn

Nên hay tu hành lục độ hạnh

Khuyên dạy chúng sanh hành chánh hạnh

Ở trong tam giới thọ an vui.

Trụ Phật trí vô ngại thiệt nghĩa

Bao nhiêu diệu hạnh đều khai mở

Hay khiến vô lượng các chúng sanh

Ðều dứt hoặc nghiệp hướng Niết bàn.

Trí huệ sáng chói như tịnh nhựt

Các hạnh đầy đủ như trăng tròn

Công đức luôn đầy như biển cả

Không nhơ không ngại đồng hư không.

Khắp phát vô biên nguyện công đức

Ðều ban vui tất cả chúng sanh

Tận thuở vị lai y nguyện hạnh

Thường siêng tu tập độ chúng sanh.

Vô lượng đại nguyện khó nghĩ bàn

Nguyện khiến chúng sanh đều thanh tịnh

Không, vô tướng, vô nguyện, vô y

Do vì nguyện lực đều hiển rõ.

Rõ pháp tự tánh như hư không

Tất cả tịch diệt đều bình đẳng

Pháp môn vô số bất khả thuyết

Vì chúng sanh nói không sở trước.

Thập phương thế giới chư Như Lai

Ðều đồng tán thán sơ phát tâm

Tâm nầy vô lượng đức trang nghiêm

Ðến đặng bờ kia đồng với Phật.

Như số chúng sanh ngần ấy kiếp

Nói công đức đó chẳng thể hết

Bởi ở nhà lớn của Như Lai

Các pháp thế gian không dụ đặng.

Muốn biết tất cả các Phật pháp

Phải nên mau phát Bồ đề tâm

Tâm nầy hơn hết trong công đức

Tất đặng Như Lai vô ngại trí.

Chúng sanh tâm hành đếm biết đặng

Quốc độ vi trần cũng đếm đặng

Ngằn mé hư không có thể lường

Phát tâm công đức không lường đặng.

Xuất sanh tam thế tất cả Phật

Thành tựu thế gian tất cả vui

Tăng trưởng tất cả thắng công đức

Dứt hẳn tất cả các nghi hoặc.

Khai thị tất cả diệu cảnh giới

Trừ hết tất cả các chướng ngại

Thành tựu tất cả cõi thanh tịnh

Xuất sanh tất cả trí Như Lai.

Muốn thấy thập phương tất cả Phật

Muốn ban vô tận công đức tạng

Muốn diệt chúng sanh tất cả khổ

Phải nên mau phát Bồ đề tâm.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM MINH PHÁP

THỨ MƯỜI TÁM

*Lúc bấy giờ, Tinh Tấn Huệ Bồ tát bạch Pháp Huệ Bồ tát rằng:

Thưa Phật tử! Ðại Bồ tát sơ phát Bồ đề tâm, thành tựu vô lượng công đức như vậy, đủ trang nghiêm lớn, lên Phật thừa, vào chánh vị Bồ tát, bỏ những pháp thế gian, đặng pháp xuất thế của Phật, đặng tam thế chư Phật nhiếp thọ, quyết định đến chỗ Vô thượng Bồ đề rốt ráo.

Chư Bồ tát đó ở trong Phật giáo, tu tập thế nào khiến chư Phật đều hoan hỷ, vào chỗ trụ của chư Bồ tát, tất cả đại hạnh đều đặng thanh tịnh, bao nhiêu đại nguyện đều khiến đầy đủ, đặng tạng rộng lớn của Bồ tát, tùy chỗ đáng hóa độ thường vì chúng thuyết pháp mà chẳng bỏ hạnh ba la mật, chúng sanh sở niệm đều làm cho đặng giải thoát, nối thạnh Phật chủng khiến chẳng đoạn tuyệt, thiện căn phương tiện thảy đều chẳng luống?

Thưa Phật tử! Chư Bồ tát đó dùng phương tiện gì có thể sẽ viên mãn đặng những pháp đó? Xin xót thương tuyên nói cho, đại chúng trong hội nầy đều muốn nghe.

Và như chư đại Bồ tát thường siêng tu tập dứt trừ tất cả vô minh hắc ám, hàng phục ma oán, chế ngự các ngoại đạo, rửa sạch hẳn tất cả tâm nhơ phiền não, đều có thể thành tựu tất cả thiện căn, ra khỏi hẳn tất cả ác thú các nạn, tu tập tất cả cảnh giới đại trí, thành tựu tất cả bực Bồ tát, các ba la mật, tổng trì, tam muội, lục thông, tam minh, tứ vô sở úy, công đức thanh tịnh, trang nghiêm tất cả quốc độ chư Phật và những tướng hảo, thân hạnh, ngữ hạnh, tâm hạnh đều thành tựu đầy đủ, khéo biết lực, vô úy, bất cộng, Nhứt thiết chủng trí và cảnh giới sở hành của tất cả chư Phật Như Lai, vì muốn thành thục tất cả chúng sanh, tùy tâm sở thích của họ mà lấy Phật độ, tùy căn tùy thời diễn thuyết vô lượng pháp, Phật sự rộng lớn và vô lượng pháp công đức khác, những hạnh, những đạo, những cảnh giới thảy đều viên mãn, mau bình đẳng với công đức của Như Lai, nơi chư Như Lai lúc tu Bồ tát hạnh trong trăm ngàn vô số kiếp chứa họp pháp tạng đều thủ hộ đặng và khai thị diễn thuyết đặng, các ma ngoại đạo không thể làm ngại hư, nhiếp trì chánh pháp không cùng tận, lúc thuyết pháp ở tất cả thế giới đặng Thiên, Long, Bát bộ, Nhơn vương, Phạm vương, nhẫn đến Như Lai Pháp Vương thảy đều thủ hộ, tất cả thế gian cung kính cúng dường, thường đặng chư Phật hộ niệm, tất cả Bồ tát cũng đều ái kính, đặng sức thiện căn thêm lớn pháp lành, khai diễn pháp tạng rất sâu của Như Lai, nhiếp trì chánh pháp để tự trang nghiêm. Công hạnh thứ đệ của tất cả Bồ tát, trông mong Ngài đều diễn thuyết cho.

Lúc đó, Tinh Tấn Huệ Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Ðấng Ðại Danh Xưng khéo diễn thuyết

Công đức sở thành của Bồ tát

Sâu vào vô biên hạnh rộng lớn

Ðầy đủ thanh tịnh trí vô sư.

Nếu có Bồ tát sơ phát tâm

Thành tựu bực phước đức trí huệ

Vào vô sanh vị, siêu thế gian

Trọn đặng pháp Bồ đề Vô thượng

Bồ tát thế nào trong Phật giáo

Kiên cố siêng tu càng thêm hơn

Khiến chư Như Lai đều hoan hỷ

Trụ địa của Phật mau đặng vào.

Nguyện hạnh thanh tịnh đều đầy đủ

Và đặng tạng trí huệ rộng lớn

Thường hay thuyết pháp độ chúng sanh

Mà tâm vô y và vô trước.

Bồ tát tất cả ba la mật

Ðều khéo tu hành không khuyết giảm

Chúng sanh sở niệm đều cứu độ

Thường trì Phật chủng khiến chẳng dứt.

Chỗ làm kiên cố chẳng luống bỏ

Tất cả công thành đặng xuất ly

Như chư Bồ tát chỗ tu hành

Ðạo thanh tịnh kia nguyện tuyên nói.

Phá hẳn tất cả tối vô minh

Hàng phục các ma và ngoại đạo

Bao nhiêu cấu uế đều trừ sạch

Ðược gần Như Lai bực Đại trí.

Lìa hẳn ác đạo các hiểm nạn

Tu tập cảnh đại trí thù thắng

Ðược sức diệu đạo gần đức Phật

Tất cả công đức đều thành tựu.

Chứng đặng Như Lai trí tối thắng

Trụ ở vô lượng các quốc độ

Tùy tâm chúng sanh mà thuyết pháp

Và làm các Phật sự rộng lớn.

Thế nào mà đặng các diệu đạo

Khai diễn Như Lai chánh pháp tạng

Thường hay thọ trì các Phật pháp

Không ai hơn đặng, không ai bằng.

Thế nào vô úy như sư tử

Chỗ làm thanh tịnh như trăng tròn?

Thế nào tu tập công đức Phật

Dường như liên hoa chẳng dính nước?

Lúc đó, Pháp Huệ Bồ tát nói với Tinh Tấn Huệ Bồ tát rằng:

Lành thay Phật tử! Nay Ngài muốn đặng nhiều lợi ích, nhiều an vui, nhiều ơn huệ, thương xót thế gian chư Thiên và loài người mà hỏi hạnh thanh tịnh của Bồ tát tu tập như vậy.

Thưa Phật tử! Ngài trụ thiệt pháp, phát đại tinh tấn tăng trưởng bất thối, đã đặng giải thoát có thể hỏi như trên đây đồng với đức Như Lai.

Ngài lóng nghe khéo suy nghĩ, nay tôi thừa oai lực của đức Phật mà nói phần ít trong vấn đề đó.

Thưa Phật tử! Ðại Bồ tát đã phát tâm Vô
thượng Bồ đề, phải lìa si tối, tinh tấn gìn giữ chớ có phóng dật.

Ðại Bồ tát trụ mười pháp sau đây, gọi là chẳng phóng dật:

Một là giữ gìn giới cấm; hai là xa lìa ngu si, tâm Bồ đề thanh tịnh; ba là lòng thích ngay thẳng, rời điều dua phỉnh; bốn là siêng tu căn lành không thối chuyển; năm là luôn khéo tư duy tâm của mình đã phát; sáu là chẳng thích gần gũi tất cả phàm phu tại gia hay xuất gia; bảy là tu những nghiệp lành mà chẳng mong cầu quả báo thế gian; tám là lìa hẳn Nhị thừa mà thực hành Bồ tát hạnh; chín là thích tu tập điều lành chẳng để đoạn tuyệt; mười là luôn khéo quan sát sức tương tục của mình.

Ðại Bồ tát trụ bất phóng dật thì đặng mười điều thanh tịnh dưới đây:

Một là thực hành đúng như lời nói; hai là niệm trí đặng thành tựu; ba là trụ nơi thâm định chẳng trầm chẳng điệu; bốn là thích cầu Phật pháp không lười bỏ; năm là theo pháp đặng nghe quán sát đúng lý, sanh diệu trí huệ; sáu là nhập thâm thiền định đặng Phật thần thông; bảy là tâm bình đẳng không cao hạ; tám là tâm không chướng ngại đối với chúng sanh loại thượng trung hạ, bình đẳng lợi ích như đại địa; chín là nếu thấy chúng sanh nhẫn đến một phen phát Bồ đề tâm thì tôn trọng kính thờ xem như Hòa thượng; mười là đối với Hòa thượng và A xà lê thọ giới, chư Bồ tát, các thiện tri thức, các Pháp sư luôn tôn trọng kính thờ.

Bồ tát trụ bất phóng dật phát đại tinh tấn, khởi chánh niệm, sanh thắng nguyện, tu hành chẳng dứt, tâm không y tựa tất cả pháp, hay siêng tu tập pháp thậm thâm, vào môn vô tránh, thêm tâm quảng đại, có thể thuận biết rõ vô biên Phật pháp, khiến chư Phật đều hoan hỷ.

Bồ tát lại có mười pháp sau đây có thể làm cho chư Phật hoan hỷ:

Một là tinh tấn bất thối; hai là chẳng tiếc thân mạng; ba là không mong cầu lợi dưỡng; bốn là biết tất cả pháp đều như hư không; năm là khéo quan sát vào khắp pháp giới; sáu là biết các pháp ấn, lòng không ỷ trước; bảy là luôn phát đại nguyện; tám là thành tựu nhẫn trí; chín là quan sát pháp lành của mình lòng không tăng giảm; mười là y vô tác môn tu những tịnh hạnh.

Lại có mười pháp sau đây có thể làm chư Phật hoan hỷ:

An trụ bất phóng dật; an trụ vô sanh nhẫn; an
trụ đại từ; an trụ đại bi; an trụ đầy đủ các môn ba la mật; an trụ đại hạnh; an trụ đại nguyện; an trụ xảo phương tiện; an trụ dũng mãnh lực; an trụ trí huệ, quan sát tất cả pháp đều vô trụ như hư không.

Có mười pháp sau đây làm cho Bồ tát mau nhập các địa:

Một là khéo viên mãn hai hạnh phước và trí; hai là có thể trang nghiêm đạo ba la mật; ba là trí huệ sáng suốt chẳng tùy tha ngữ; bốn là kính thờ thiện hữu luôn không bỏ lìa; năm là thường hành tinh tấn không giải đãi; sáu là khéo an trụ Như Lai thần lực; bảy là tu các căn lành chẳng sanh mỏi nhọc; tám là thâm tâm lợi trí dùng pháp Đại thừa để tự trang nghiêm; chín là đối với pháp môn của các địa tâm không trụ; mười là đồng một thể tánh với thiện căn phương tiện của tam thế chư Phật.

Bồ tát lúc sơ trụ địa phải khéo quan sát tùy nơi mình, có tất cả pháp môn, có thậm thâm trí huệ, tùy nhơn đã tu, tùy quả đã đặng, tùy cảnh giới mình, tùy lực dụng mình, tùy chỗ thị hiện của mình, tùy mình phân biệt, tùy mình đã đặng, đều khéo quán sát biết tất cả pháp đều là tự tâm mà không sở trước. Biết đặng như vậy vào Bồ đề địa hay khéo an trụ.

Bồ tát đó suy nghĩ rằng: chúng ta phải nên mau vào các địa. Vì nếu chúng ta trụ trong các địa thành tựu công đức rộng lớn như vậy, đã đủ công đức thì lần lần vào Phật địa, đã trụ Phật địa thì có thể làm vô biên Phật sự rộng lớn. Do đây nên phải thường siêng tu tập không thôi nghỉ, không mỏi nhọc. Dùng đại công đức mà tự trang nghiêm vào Bồ tát địa.

Có mười pháp dưới đây làm cho Bồ tát chỗ thực hành thanh tịnh:

Một là xả hết của cải để làm vừa ý chúng sanh; hai là trì giới thanh tịnh không hủy phạm; ba là nhu hòa nhẫn nhục không cùng tận; bốn là siêng tu các hạnh trọn chẳng thối chuyển; năm là do sức chánh niệm tâm không mê loạn; sáu là phân biệt rõ biết vô lượng pháp; bảy là tu tất cả hạnh mà không sở trước; tám là tâm bất động dường như núi Tu Di; chín là rộng độ chúng sanh dường như cầu đò; mười là biết tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh.

Bồ tát đã đặng hạnh thanh tịnh lại đặng mười pháp tăng thắng dưới đây:

Một là chư Phật phương khác đều hộ niệm; hai là thiện căn tăng thắng siêu việt đẳng cấp; ba là khéo lãnh thọ đặng sức gia trì của Phật; bốn là thường đặng thiện nhơn làm chỗ nương tựa; năm là an trụ tinh tấn hằng chẳng phóng dật; sáu là biết tất cả pháp bình đẳng không khác; bảy là lòng luôn an trụ đại bi vô thượng; tám là quán sát các pháp đúng thiệt, xuất sanh diệu huệ; chín là khéo có thể tu hành phương tiện thiện xảo; mười là có thể biết sức phương tiện của Như Lai.

Bồ tát có mười nguyện thanh tịnh như dưới đây:

Một là nguyện thành thục chúng sanh không mỏi nhàm; hai là nguyện thực hành đủ điều lành để nghiêm tịnh thế giới; ba là nguyện thừa sự Như Lai luôn kính trọng; bốn là nguyện hộ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng; năm là nguyện dùng trí quán sát vào các Phật độ; sáu là nguyện cùng các Bồ tát đồng một thể tánh; bảy là nguyện vào cửa Như Lai rõ tất cả pháp; tám là nguyện người thấy sanh tin đều đặng lợi ích; chín là nguyện thần lực trụ thế tận kiếp vị lai; mười là nguyện đủ Phổ Hiền hạnh tu tập môn Nhứt thiết chủng trí.

Bồ tát trụ mười pháp sau đây làm cho những đại nguyện đều đặng viên mãn:

Một là lòng không nhàm chán; hai là đủ đại trang nghiêm; ba là nhớ nguyện lực thù thắng của chư Bồ tát; bốn là nghe các Phật độ đều nguyện vãng sanh; năm là thâm tâm lâu dài tận kiếp vị lai; sáu là nguyện trọn thành tựu tất cả chúng sanh; bảy là trụ tất cả kiếp chẳng lấy làm nhọc; tám là thọ tất cả khổ chẳng sanh nhàm lìa; chín là tất cả chỗ vui, lòng không tham trước; mười là thường siêng gìn giữ pháp môn vô thượng.

Lúc Bồ tát đầy đủ những nguyện như vậy, liền đặng mười vô tận tạng sau đây:

Vô tận tạng thấy khắp chư Phật, vô tận tạng tổng trì chẳng quên, vô tận tạng quyết rõ các pháp, vô tận tạng đại bi cứu hộ, vô tận tạng các môn tam muội, vô tận tạng phước đức rộng lớn làm thỏa mãn lòng chúng sanh, vô tận tạng trí huệ rất sâu diễn tất cả pháp, vô tận tạng chứng đắc thần thông, vô tận tạng trụ vô lượng kiếp, vô tận tạng vào vô biên thế giới.

Bồ tát đã đặng mười tạng vô tận thì đầy đủ phước đức, trí huệ thanh tịnh, tùy nghi mà thuyết pháp với chúng sanh.

Với các chúng sanh, thế nào là Bồ tát tùy nghi mà thuyết pháp?

Bồ tát biết chỗ làm của họ, biết nhơn duyên của họ, biết tâm hành của họ, biết sở thích của họ.

Bồ tát đối với người nhiều tham dục thì thuyết bất tịnh, với người nhiều sân hận thì thuyết đại từ, với người nhiều ngu si thì dạy họ siêng quán sát, với người ba độc đồng đều thì thuyết pháp môn thành tựu thắng trí, với người ưa thích sanh tử thì thuyết ba sự khổ, với người chấp trước thì thuyết không tịch, với người giải đãi thì thuyết tinh tấn, với người ngã mạn thì thuyết pháp bình đẳng, với người nhiều dua phỉnh thì thuyết tâm chất trực, với người thích tịch tịnh thì thuyết pháp rộng khiến họ đặng thành tựu.

Bồ tát tùy nghi thuyết pháp như vậy.

Lúc Bồ tát thuyết pháp: văn cú liên thuộc nhau, nghĩa không sai lầm; quán pháp có trước sau là do trí phân biệt; thẩm định phải quấy, chẳng trái pháp ấn; thứ đệ kiến lập vô biên hạnh môn khiến các chúng sanh dứt tất cả nghi ngờ; khéo biết căn tánh vào giáo pháp Như Lai; chứng chơn thiệt tế, biết pháp bình đẳng; dứt những pháp ái, trừ tất cả chấp; thường nhớ chư Phật, tâm không tạm rời; rõ biết âm thanh thể tánh bình đẳng; nơi các ngôn thuyết tâm không chấp trước; khéo nói ví dụ không trái nghịch nhau; đều khiến đặng ngộ tất cả chư Phật, tùy nghi khắp hiện trí thân bình đẳng.

Bồ tát vì các chúng sanh mà thuyết pháp như vậy thì tự mình tu tập tăng trưởng nghĩa lợi, chẳng bỏ các độ, trang nghiêm đầy đủ đạo ba la mật.

Lúc bấy giờ Bồ tát vì khiến lòng chúng sanh đặng thỏa mãn, nên trong ngoài đều rời bỏ không còn chấp trước, đây thì là tu đàn ba la mật.

Giữ đủ các giới cấm mà không sở trước, lìa hẳn ngã mạn, đây là tu thi ba la mật.

Ðều có thể nhẫn thọ tất cả sự khổ hại, tâm bình đẳng đối với chúng sanh không hề xao động, ví như đại địa hay chở tất cả, đây là tu nhẫn ba la mật.

Với những công hạnh thường tu không lười trễ, không thối chuyển, thế lực dũng mãnh không bị chế phục, nơi các công đức không lấy không bỏ mà có thể đầy đủ tất cả trí môn, đây là hay tu tinh tấn ba la mật.

Không tham trước cảnh ngũ dục, đều thành tựu đặng các thứ đệ định, luôn chánh tư duy, chẳng trụ chẳng xuất mà có thể tiêu diệt tất cả phiền não, xuất sanh vô lượng môn tam muội, thành tựu vô biên thần thông, nghịch thuận thứ đệ nhập các tam muội, nơi một tam muội nhập vô biên tam muội, biết rõ cảnh giới của tất cả tam muội cùng trí ấn chẳng chống trái nhau, có thể mau vào nơi bực Nhứt thiết trí, đây là hay tu thiền ba la mật.

Nơi chư Phật nghe pháp thọ trì, gần thiện tri thức kính thờ chẳng mỏi; thường thích nghe pháp tâm không nhàm đủ; tùy pháp đã đặng thọ mà tư duy đúng lý; nhập chơn tam muội lìa rời những thiên kiến; khéo quán sát các pháp đặng thiệt tướng ấn, rõ biết đạo vô công dụng của Như Lai; thừa phổ môn huệ nhập nơi môn Nhứt thiết chủng trí, trọn đặng thôi nghỉ, đây là hay tu bát nhã ba la mật.

Thị hiện tất cả công nghiệp thế gian, giáo hóa chúng sanh không nhàm mỏi, tùy sở thích của họ mà hiện thân, tất cả chỗ thực hành đều không nhiễm trước, hoặc hiện phàm, hoặc hiện Thánh, việc làm thì hoặc hiện sanh tử hoặc hiện Niết bàn, khéo hay quan sát tất cả việc làm; thị hiện tất cả những sự trang nghiêm mà chẳng tham trước, vào khắp các loài để độ chúng sanh, đây là hay tu phương tiện ba la mật.

Trọn thành tựu tất cả chúng sanh, trọn trang nghiêm tất cả thế giới, trọn cúng dường tất cả chư Phật, trọn thông đạt pháp vô chướng ngại, trọn tu hành khắp cả pháp giới hạnh thân hằng trụ, trọn trí rõ vị lai kiếp, trọn biết tất cả tâm niệm, trọn giác ngộ lưu chuyển hoàn diệt, trọn thị hiện tất cả quốc độ, trọn chứng đặng Như Lai trí huệ, đây là hay tu nguyện ba la mật.

Vì đủ thâm tâm lực nên không tạp nhiễm, vì
đủ thâm tín lực nên không bị khuất phục, vì đủ đại bi lực nên không hề mỏi nhàm, vì đủ đại từ lực nên sở hành bình đẳng, vì đủ tổng trì lực nên có thể dùng phương tiện trì tất cả nghĩa, vì đủ biện tài lực nên khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ đầy đủ, vì đủ ba la mật lực nên trang nghiêm Đại thừa, vì đủ đại nguyện lực nên trọn chẳng đoạn tuyệt, vì đủ thần thông lực nên xuất sanh vô lượng, vì đủ gia trì lực nên khiến tin hiểu lãnh thọ, đây là hay tu lực ba la mật.

Biết hành giả tham dục, biết hành giả sân hận, biết hành giả ngu si, biết hành giả đẳng phần, biết hành giả tu học địa, trong một niệm biết vô biên hạnh chúng sanh, biết vô biên tâm chúng sanh, biết tất cả pháp chơn thiệt, biết môn pháp giới sức giác ngộ khắp cả của chư Như Lai, đây là hay tu trí ba la mật.

Như vậy, lúc Bồ tát thanh tịnh các môn ba la mật, lúc viên mãn các môn ba la mật, lúc chẳng rời bỏ các môn ba la mật, trụ trong đại trang nghiêm Bồ tát thừa, tùy sở niệm đều vì tất cả chúng sanh mà thuyết pháp, khiến họ tăng trưởng tịnh nghiệp để đặng độ thoát. Người đọa ác đạo thì dạy họ phát tâm. Người ở trong nạn thì khiến họ tinh tấn. Chúng sanh nhiều tham, chỉ cho pháp vô tham. Chúng sanh nhiều sân, thì khiến thực hành bình đẳng. Chúng sanh chấp kiến thì vì nói duyên khởi. Chúng sanh cõi Dục thì dạy họ lìa tham sân và pháp ác bất thiện. Chúng sanh cõi Sắc, thì vì họ tuyên thuyết Tỳ bát xá na. Chúng sanh Vô Sắc giới, thì vì họ tuyên thuyết trí huệ vi diệu. Với hàng Nhị thừa thì dạy hạnh tịch tịnh. Với người thích Đại thừa thì thuyết thập lực quảng đại trang nghiêm.

Như thuở xa xưa, lúc sơ phát tâm, thấy vô lượng chúng sanh đọa các ác đạo, thì Đại Sư Tử Hống nói rằng:

Tôi sẽ dùng các pháp môn tùy nghi để độ thoát họ.

Bồ tát đầy đủ trí huệ như vậy, có thể rộng độ thoát tất cả chúng sanh.

Thưa Phật tử! Bồ tát đầy đủ trí huệ như vậy làm cho Tam Bảo chủng trọn chẳng đoạn tuyệt. Vì Bồ tát dạy các chúng sanh phát tâm Bồ đề nên có thể làm cho Phật chủng chẳng dứt. Vì thường khai xiển pháp tạng cho chúng sanh nên có thể làm cho Pháp chủng chẳng dứt. Vì khéo thọ trì giáo pháp không trái nghịch nên có thể làm cho Tăng chủng chẳng dứt.

Và lại, vì đều hay ca ngợi tất cả đại nguyện nên có thể làm cho Phật chủng chẳng dứt. Vì phân biệt diễn thuyết môn nhơn duyên nên có thể làm cho Pháp chủng chẳng dứt. Vì thường siêng tu tập sáu pháp hòa kính nên có thể làm cho Tăng chủng chẳng dứt.

Lại vì ở trong ruộng chúng sanh gieo hột giống Phật nên có thể làm cho Phật chủng chẳng dứt. Vì hộ trì chánh pháp chẳng tiếc thân mạng nên có thể làm cho Pháp chủng chẳng dứt. Vì thống lý đại chúng không mệt mỏi nên có thể làm cho Tăng chủng chẳng dứt.

Lại vì đối với giáo pháp và cấm giới của tam thế chư Phật đều phụng trì trọn vẹn lòng chẳng bỏ lìa, nên có thể làm cho chủng tử Phật, Pháp, Tăng vĩnh viễn chẳng đoạn tuyệt.

Bồ tát nối thạnh Tam Bảo như vậy, tất cả việc làm không có lỗi, bao nhiêu công hạnh đều đem hồi hướng Nhứt thiết trí, do đây nên ba nghiệp không có tỳ vết. Vì ba nghiệp thân, ngữ và ý không tỳ vết nên những điều thiện đã làm, những công hạnh đã làm, giáo hóa chúng sanh, tùy nghi thuyết pháp, nhẫn đến một niệm đều không sai lầm, đều tương ưng với phương tiện trí huệ, đều đem hồi hướng nơi Nhứt thiết chủng trí không để luống qua.

Bồ tát tu tập thiện pháp như vậy, niệm niệm đầy đủ mười điều trang nghiêm dưới đây:

Một là thân trang nghiêm, vì tùy theo các chúng sanh đáng đặng điều phục mà thị hiện. Hai là ngữ trang nghiêm, vì dứt tất cả nghi ngờ khiến họ đều hoan hỷ. Ba là tâm trang nghiêm, vì trong một niệm nhập các tam muội. Bốn là Phật sát trang nghiêm, vì tất cả thanh tịnh lìa những phiền não. Năm là quang minh trang nghiêm, vì phóng vô biên quang chiếu khắp chúng sanh. Sáu là chúng hội trang nghiêm, vì nhiếp khắp chúng hội đều làm cho hoan hỷ. Bảy là thần thông trang nghiêm, vì tùy tâm chúng sanh mà tự tại thị hiện. Tám là chánh giáo trang nghiêm, vì có thể nhiếp tất cả người thông huệ. Chín là Niết bàn địa trang nghiêm, vì một chỗ thành đạo cùng khắp mười phương đều không thừa. Mười là xảo thuyết trang nghiêm, vì tùy xứ tùy thời tùy căn khí chúng sanh mà thuyết pháp.

Bồ tát thành tựu trang nghiêm như vậy, ở trong niệm niệm thân, ngữ và ý không luống qua, đều đem hồi hướng Nhứt thiết trí. Nếu có chúng sanh nào thấy Bồ tát nầy thì cũng không luống qua, vì tất sẽ thành Vô thượng Bồ đề vậy.

Với Bồ tát nầy, nếu ai đặng nghe tên, hoặc cúng dường, hoặc ở chung, hoặc ghi nhớ, hoặc theo xuất gia, hoặc nghe thuyết pháp, hoặc tùy hỷ thiện căn, hoặc có lòng vọng sanh kính phục, nhẫn đến ca ngợi tuyên dương danh tự, thì tất cả sẽ đều đặng Vô thượng Bồ đề.

Ví như vị thuốc Thiện kiến, ai thấy thuốc nầy thì tất cả bịnh độc đều tiêu trừ.

Cũng vậy, Bồ tát thành tựu pháp nầy, nếu chúng sanh nào thấy Bồ tát thì các độc phiền não đều đặng dứt trừ và tăng trưởng thiện pháp.

Bồ tát trụ trong pháp nầy, siêng năng tu tập, dùng ánh sáng trí huệ dứt trừ si tối; dùng sức từ bi dẹp phục quân ma; dùng trí huệ lớn và sức phước đức chế ngự các ngoại đạo; dùng kim cang định dứt trừ tất cả tâm nhơ phiền não; dùng sức tinh tấn nhóm các căn lành; dùng những sức thiện căn tịnh Phật độ mà xa lìa tất cả ác đạo và các nạn; dùng sức vô trước mà thanh tịnh cảnh giới của trí; dùng sức trí huệ phương tiện mà xuất sanh tất cả Bồ tát địa, các ba la mật, các tam muội, lục thông, tam minh, tứ vô úy đều khiến thanh tịnh. Dùng tất cả thiện pháp lực để hoàn thành tất cả Phật độ, vô biên tướng hảo, thân, ngữ và tâm trang nghiêm toàn vẹn; dùng sức trí tự tại quán sát thập lực, tứ vô úy, pháp bất cộng của tất cả Như Lai đều bình đẳng; dùng sức trí huệ rộng lớn rõ biết cảnh giới của Nhứt thiết chủng trí; dùng nguyện lực thuở trước mà tùy nghi ứng hóa, hiện Phật độ, chuyển pháp luân, độ thoát vô lượng vô biên chúng sanh.

Bồ tát siêng tu pháp nầy thì thứ đệ thành tựu các Bồ tát hạnh, nhẫn đến đặng cùng chư Phật bình đẳng, trong vô biên thế giới làm đại pháp sư hộ trì chánh pháp, đặng chư Phật hộ niệm, giữ gìn và thọ trì pháp tạng rộng lớn; đặng vô ngại biện thâm nhập pháp môn, ở trong đại chúng nơi vô biên thế giới tùy loại chẳng đồng mà khắp hiện thân hình xinh đẹp, dùng vô ngại biện khéo nói thâm pháp; vì âm thanh viên mãn khéo phân bố, nên có thể làm cho người nghe vào môn trí huệ vô tận, biết tâm hành phiền não của các chúng sanh mà vì họ thuyết pháp; vì ngôn âm hoàn toàn thanh tịnh nên nhứt âm diễn xướng có thể làm hoan hỷ tất cả; vì thân đoan chánh có oai lực lớn nên không ai hơn khi ở trong chúng hội; vì khéo biết tâm chúng sanh nên có thể khắp hiện thân; vì thuyết pháp khéo léo nên âm thanh vô ngại; vì đặng tâm tự tại nên khéo thuyết đại pháp không bị trở hoại; vì đặng vô sở úy nên lòng không khiếp nhược; vì nơi pháp tự tại nên không ai hơn; vì nơi trí tự tại nên không ai thắng; vì bát nhã ba la mật tự tại nên những pháp tướng đã nói không chống trái; vì biện tài tự tại nên tùy thích thuyết pháp tương tục chẳng dứt; vì đà la ni tự tại nên quyết định khai thị thiệt tướng của các pháp; vì biện tài tự tại nên tùy chỗ diễn thuyết có thể khai các môn ví dụ; vì đại bi tự tại nên siêng dạy chúng sanh không lười trễ; vì đại từ tự tại nên phóng lưới quang minh vui đẹp lòng đại chúng.

Bồ tát ở nơi tòa sư tử cao lớn diễn nói đại pháp như vậy, chỉ trừ đức Như Lai và các đại Bồ tát có thắng nguyện trí, thì không còn ai có thể thắng hơn đặng, không ai thấy đảnh đặng, không ai sáng rực hơn đặng, không ai vấn nạn làm thua đặng.

Thưa Phật tử! Bồ tát đặng tự tại lực như vậy rồi, giả sử có đạo tràng rộng lớn lượng bằng bất khả thuyết thế giới, chúng sanh đông đầy trong đó, mỗi chúng sanh sắc tướng oai đức đều như Đại thiên thế giới chủ, Bồ tát nầy vừa hiện thân đến đạo tràng thì có thể che chói tất cả đại chúng trên đây. Rồi dùng đại từ bi an định sự khiếp nhược của chúng, dùng thâm trí huệ xét sở thích của chúng, dùng biện tài vô úy vì chúng thuyết pháp, làm cho tất cả chúng đều vui mừng.

Tại sao vậy?

Vì Bồ tát nầy đã thành tựu vô lượng môn trí huệ, vô lượng xảo phân biệt, chánh niệm lực rộng lớn, vô tận thiện xảo huệ, đã thành tựu đà la ni, quyết liễu thiệt tướng của các pháp, vô biên Bồ đề tâm, diệu biện tài, thâm tín giải, đã thành tựu trí huệ lực, khắp vào đạo tràng của tam thế chư Phật, đã thành tựu tâm thanh tịnh, biết tam thế chư Phật đồng một thể tánh, đã thành tựu Như Lai trí, Bồ tát đại nguyện trí, có thể làm đại pháp sư khai thị chánh pháp tạng của chư Phật và hộ trì.

Lúc đó, Pháp Huệ Bồ tát muốn tuyên lại nghĩa nầy, thừa thần lực của đức Phật mà nói kệ rằng:

Tâm trụ Bồ đề nhóm các phước

Thường chẳng phóng dật trồng kiên huệ

Chánh niệm ý mình hằng chẳng quên

Thập phương chư Phật đều hoan hỷ.

Chí nguyện kiên cố tự siêng gắng

Nơi thế không tựa không lui sụt

Dùng hạnh vô tránh vào thâm pháp

Thập phương chư Phật đều hoan hỷ.

Phật hoan hỷ rồi bền tinh tấn

Tu hành phước trí trợ đạo pháp

Vào nơi các địa tịnh các hạnh

Trọn đủ nguyện của Như Lai dạy.

Như vậy mà tu đặng diệu pháp

Ðã đặng pháp rồi thí quần sanh

Tùy sở thích và căn tánh họ

Ðều thuận cơ nghi vì khai diễn.

Bồ tát vì chúng diễn thuyết pháp

Chẳng bỏ những độ hạnh của mình

Hạnh ba la mật đã đặng thành

Thường nơi hữu lậu cứu quần chúng.

Ngày đêm siêng tu không lười mỏi

Khiến Tam Bảo chủng chẳng đoạn tuyệt

Tất cả pháp lành đã thực hành

Ðều đem hồi hướng Như Lai địa.

Bồ tát tu hành những hạnh lành

Khắp vì thành tựu các quần sanh

Khiến họ phá tối diệt phiền não

Hàng phục quân ma thành Chánh giác.

Tu hành như vậy đặng Phật trí

Thâm nhập Như Lai chánh pháp tạng

Làm đại pháp sư diễn diệu pháp

Ví như cam lộ trọn rưới nhuần

Từ bi thương xót khắp tất cả

Tâm hành chúng sanh đều biết cả

Ðúng sở thích họ mà khai diễn

Vô lượng vô biên các Phật pháp.

Cử động an lành như tượng vương

Dũng mãnh vô úy dường sư tử

Bất động như núi, trí như biển

Cũng như mưa to trừ nóng bức.

Lúc Pháp Huệ Bồ tát nói kệ xong, đức Như Lai hoan hỷ, đại chúng đều phụng hành.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM THĂNG DẠ MA THIÊN CUNG

THỨ MƯỜI CHÍN

*Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, khắp thập phương thế giới, trong Diêm Phù Ðề và trên đảnh Tu Di đều thấy Như Lai ngự giữa chúng hội. Chư Bồ tát thừa oai thần của Phật mà diễn thuyết diệu pháp. Tất cả chúng đều cho rằng đức Phật luôn ở trước.

Lúc đó, đức Thế Tôn không rời cội Bồ đề và đảnh núi Tu Di mà hướng đến điện Bửu Trang Nghiêm nơi Dạ Ma Thiên cung.

Dạ Ma Thiên Vương vọng thấy đức Phật đến, liền dùng thần lực, nơi giữa điện hóa ra tòa sư tử bửu liên hoa tạng trăm vạn từng cấp, trăm vạn lưới vàng, trăm vạn màn hoa, trăm vạn màn tràng hoa, trăm vạn màn hương, trăm vạn màn báu che giăng trên bửu tòa. Lọng hoa, lọng tràng, lọng hương, lọng báu đều số trăm vạn bố liệt bốn phía, chiếu sáng với trăm vạn quang minh.

Trăm vạn Dạ Ma Thiên Vương cung kính đảnh lễ, trăm vạn Phạm Vương vui mừng hớn hở, trăm vạn Bồ tát xưng dương ca ngợi, trăm vạn kỹ nhạc hòa tấu, trăm vạn pháp âm không dứt tiếng.

Trăm vạn thứ mây hoa, trăm vạn thứ mây tràng, trăm vạn đồ trang nghiêm, trăm vạn thứ mây y phục giăng giáp vòng, trăm vạn thứ mây ma ni chói sáng, từ trăm vạn thiện căn sanh ra, đặng trăm vạn Phật hộ trì, trăm vạn thứ phước đức làm tăng trưởng, trăm vạn thâm tâm và trăm vạn thệ nguyện làm trang nghiêm thanh tịnh, trăm vạn công hạnh làm sanh khởi, trăm vạn pháp kiến lập, trăm vạn thần thông biến hiện, luôn vang ra trăm vạn ngôn âm hiển thị các pháp.

Sắp đặt bửu tòa xong, Dạ Ma Thiên Vương nghinh tiếp đức Thế Tôn, chắp tay cung kính bạch đức Phật rằng:

Lành thay đức Thiện Thệ! Lành thay đức Như Lai Ứng Cúng Ðẳng Chánh Giác! Xin từ mẫn ngự trong cung điện nầy.

Ðức Phật thọ thỉnh, liền ngự lên bửu tòa. Thập phương thế giới, tất cả Dạ Ma Thiên cung đều như thế cả.

Lúc đó, Thiên Vương liền tự nhớ thiện căn đã vun trồng nơi chư Phật thời quá khứ, thừa oai lực của đức Phật mà nói kệ rằng:

Danh xưng Như Lai khắp mười phương

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện ma ni nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Bửu Vương Như Lai đèn thế gian

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện thanh tịnh nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Hỷ Mục Như Lai thấy vô ngại

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện trang nghiêm nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Nhiên Ðăng Như Lai chiếu thế gian

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện thù thắng nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Nhiêu ích Như Lai lợi thế gian

Trong những các tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện vô cấu nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Thiện Giác Như Lai không có thầy

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện bửu hương nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Thắng Thiên Như Lai đèn trong đời

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện diệu hương nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Vô Khứ Như Lai hùng biện nhứt

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện phổ nhãn nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Vô Thắng Như Lai đủ công đức

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện thiện nghiêm nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Khổ Hạnh Như Lai lợi thế gian

Trong những cát tường vô thượng nhứt

Phật từng vào điện phổ nghiêm nầy

Vì thế chỗ nầy rất cát tường.

Khắp thập phương thế giới, tất cả Dạ Ma Thiên Vương đều ca ngợi công đức của Phật như vậy cả.

Lúc đức Thế Tôn vào điện ma ni ngồi kiết già trên bửu tòa sư tử, điện nầy bỗng rộng rãi bao la bằng tất cả chỗ ở của Thiên chúng. Thập phương thế giới cũng như vậy.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM DẠ MA CUNG KỆ TÁN

THỨ HAI MƯƠI

Lúc đó, do thần lực của đức Phật, mười phương đều có một đại Bồ tát, mỗi vị đều cùng Phật sát vi trần số Bồ tát câu hội, từ những thế giới ngoài mười vạn Phật sát vi trần số quốc độ mà đến.

Tên của mười vị Bồ tát đó là: Công Ðức Lâm Bồ tát, Huệ Lâm Bồ tát, Thắng Lâm Bồ tát, Vô Úy Lâm Bồ tát, Tàm Quý Lâm Bồ tát, Tinh Tấn Lâm Bồ tát, Lực Lâm Bồ tát, Hạnh Lâm Bồ tát, Giác Lâm Bồ tát, Trí Lâm Bồ tát.

Quốc độ của các Ngài từ đó mà đến theo thứ tự là: Thân Huệ thế giới, Tràng Huệ thế giới, Bửu Huệ thế giới, Thắng Huệ thế giới, Ðăng Huệ thế giới, Kim Cang Huệ thế giới, An Lạc Huệ thế giới, Nhựt Huệ thế giới, Tịnh Huệ thế giới, Phạm Huệ thế giới.

Chư Phật Thế Tôn nơi thế giới đó theo thứ tự là: Thường Trụ Nhãn Phật, Vô Thắng Nhãn Phật, Vô Trụ Nhãn Phật, Bất Ðộng Nhãn Phật, Thiên Nhãn Phật, Giải Thoát Nhãn Phật, Thẩm Ðế Nhãn Phật, Minh Tướng Nhãn Phật, Tối Thượng Nhãn Phật, Cám Thanh Nhãn Phật.

Chư Bồ tát nầy đến dưới bửu tòa đảnh lễ Phật, rồi theo phương của mình đến đều riêng hóa hiện tòa sư tử liên hoa tạng mà ngồi kiết già trên đó.

Tất cả Dạ Ma Thiên ở thập phương thế giới đều như thế cả. Bồ tát, quốc độ và Như Lai cũng đồng danh, đồng hiệu như trên.

Lúc đó, đức Thế Tôn từ trên hai bàn chân, phóng ra trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp thập phương thế giới. Tất cả đạo tràng Phật và Bồ tát đều hiển hiện cả.

Bấy giờ, Công Ðức Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật phóng đại quang minh

Chiếu khắp nơi mười phương

Ðều thấy Thiên Nhơn Tôn

Thông đạt không chướng ngại.

Phật ngồi cung Dạ Ma

Khắp cùng mười phương cõi

Việc nầy rất lạ lùng

Thế gian rất hy hữu.

Trời Dạ Ma Thiên Vương

Ca ngợi mười Như Lai

Như hội nầy đã thấy

Tất cả hội cũng vậy.

Những chúng Bồ tát kia

Ðồng hiệu với chúng tôi

Thập phương tất cả chỗ

Diễn thuyết pháp vô thượng

Bổn quốc của các Ngài

Danh hiệu cũng không khác

Ðều riêng nơi bổn Phật

Tịnh tu các Phạm hạnh.

Các đức Như Lai kia

Danh hiệu cũng đều đồng

Quốc độ đều giàu vui

Thần lực đều tự tại.

Tất cả chúng mười phương

Ðều thấy Phật ở đây

Hoặc thấy ở nhơn gian

Hoặc thấy ở Thiên cung.

Như Lai an trụ khắp

Tất cả các quốc độ

Nay chúng tôi thấy Phật

Ở tại Thiên cung nầy.

Xưa phát nguyện Bồ đề

Khắp đến mười phương cõi

Nên oai lực của Phật

Cùng khắp khó nghĩ bàn.

Lìa sự tham thế gian

Ðầy đủ vô biên đức

Nên đặng sức thần thông

Chúng sanh đều thấy cả.

Du hành mười phương cõi

Như hư không vô ngại

Một thân vô lượng thân

Thân tướng bất khả đắc.

Phật công đức vô biên

Thế nào lường biết đặng

Không dừng cũng không đi

Vào khắp trong pháp giới.

Huệ Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ðấng Đạo Sư thế gian

Ðấng Ly Cấu vô thượng

Bất khả tư nghị kiếp

Khó đặng gặp gỡ Phật.

Phật phóng đại quang minh

Thế gian đều khắp thấy

Vì chúng rộng diễn bày

Lợi ích những quần sanh.

Như Lai xuất thế gian

Vì đời trừ si tối

Là đèn sáng thế gian

Hy hữu khó thấy đặng.

Ðã tu thí, giới, nhẫn

Tinh tấn và thiền định

Bát nhã ba la mật

Dùng đây chiếu thế gian.

Như Lai không ai bằng

Muốn sánh chẳng thể đặng

Chẳng rõ pháp chơn thiệt

Thì không thể thấy Phật.

Thân Phật và thần thông

Tự tại khó nghĩ bàn

Không đi cũng không đến

Thuyết pháp độ chúng sanh.

Nếu ai đặng thấy nghe

Ðấng Đạo Sư thanh tịnh

Thoát hẳn các ác đạo

Xa lìa tất cả khổ.

Vô lượng vô số kiếp

Tu tập hạnh Bồ đề

Chẳng thể biết nghĩa nầy

Chẳng thể đặng thành Phật.

Bất khả tư nghị kiếp

Cúng dường vô lượng Phật

Nếu biết đặng nghĩa nầy

Công đức hơn công kia.

Cúng Phật với trân bửu

Ðầy cả vô lượng cõi

Chẳng biết đặng nghĩa nầy

Trọn chẳng thành Bồ đề.

Lúc đó, Thắng Lâm Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như tháng mạnh hạ

Tạnh ráo không mây mù

Mặt trời phóng quang huy

Thập phương đều sáng chói.

Quang minh không hạn lượng

Không ai lường biết đặng

Người mắt sáng còn vậy

Huống là kẻ mù lòa.

Chư Phật cũng như vậy

Công đức vô biên tế

Bất khả tư nghị kiếp

Chẳng thể phân biệt biết.

Các pháp không lai xứ

Cũng không có tác giả

Cũng không từ đâu sanh

Chẳng thể phân biệt đặng.

Tất cả pháp không đến

Vì thế nên không sanh

Vì đã không có sanh

Nên cũng không có diệt.

Tất cả pháp vô sanh

Tất cả pháp vô diệt

Nếu biết đặng như vậy

Người nầy thấy đặng Phật.

Vì các pháp vô sanh

Nên không có tự tánh

Phân biệt biết như vậy

Người nầy đạt thâm nghĩa.

Do vì pháp vô tánh

Không thể rõ biết đặng

Nơi pháp hiểu như vậy

Rốt ráo không chỗ hiểu.

Nói rằng có sanh đó

Bởi hiện các quốc độ

Biết đặng tánh quốc độ

Thì tâm không mê hoặc.

Tánh quốc độ thế gian

Quan sát đều như thiệt

Nếu nơi đây biết đặng

Khéo nói tất cả nghĩa.

Vô Úy Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Thân Như Lai rộng lớn

Rốt ráo nơi pháp giới

Chẳng rời bửu tòa nầy

Mà khắp tất cả chỗ.

Nếu ai nghe pháp nầy

Mà cung kính tin ưa

Rời hẳn ba ác đạo

Tất cả những khổ nạn.

Giả sử như có người

Qua vô lượng thế giới

Chuyên tâm muốn đặng nghe

Sức tự tại của Phật.

Những Phật pháp như vậy

Là Vô thượng Bồ đề

Giả sử muốn tạm nghe

Không ai có thể đặng.

Nếu ai thời quá khứ

Tin Phật pháp như vậy

Ðã thành Lưỡng Túc Tôn

Làm đèn sáng thế gian.

Nếu ai sẽ đặng nghe

Sức tự tại của Phật

Nghe rồi có lòng tin

Người nầy sẽ thành Phật.

Nếu có người hiện tại

Tin đặng Phật pháp nầy

Cũng sẽ thành Chánh giác

Thuyết pháp vô sở úy.

Vô lượng vô số kiếp

Pháp nầy rất khó gặp

Nếu có người đặng nghe

Là do bổn nguyện lực.

Nếu ai thọ trì đặng

Những Phật pháp như vậy

Trì xong rộng tuyên thuyết

Người nầy sẽ thành Phật.

Huống là siêng tinh tấn

Lòng kiên cố chẳng bỏ

Nên biết người như vậy

Quyết định thành Bồ đề.

Lúc đó, Tàm Quý Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Nếu ai đặng nghe pháp

Hy hữu tự tại nầy

Sanh đặng lòng hoan hỷ

Chóng trừ lưới si lầm.

Bực thấy biết tất cả

Tự nói lời như vầy

Phật không gì chẳng biết

Vì thế khó nghĩ bàn.

Không có từ vô trí

Mà sanh ra trí huệ

Thế gian thường tối tăm

Nên không thể sanh đặng.

Như sắc và phi sắc

Hai đây chẳng là một

Trí, vô trí cũng vậy

Thể nó đều sai biệt.

Như tướng cùng vô tướng

Sanh tử với Niết bàn

Phân biệt đều chẳng đồng

Trí, vô trí cũng vậy.

Thế giới mới thành lập

Không có tướng bại hoại

Trí, vô trí cũng vậy

Hai thứ chẳng đồng thời.

Như Bồ tát sơ tâm

Chẳng chung với hậu tâm

Trí, vô trí cũng vậy

Hai tâm chẳng đồng thời.

Ví như những thức thân

Ðều riêng không hòa hiệp

Trí, vô trí cũng vậy

Rốt ráo không hòa hiệp.

Như thuốc A già đà

Hay diệt tất cả độc

Có trí cũng như vậy

Hay diệt sự vô trí.

Như Lai không ai trên

Cũng không ai sánh bằng

Tất cả không so đặng

Thế nên khó gặp gỡ.

Tinh Tấn Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Các pháp vô sai biệt

Không ai biết đặng đó

Chỉ Phật cùng Phật biết

Vì trí huệ rốt ráo.

Như vàng và màu vàng

Tánh nó vô sai biệt

Pháp, phi pháp cũng vậy

Thể tánh vốn chẳng khác.

Chúng sanh, phi chúng sanh

Hai đều không chơn thiệt

Như vậy các pháp tánh

Thiệt nghĩa đều chẳng có.

Ví như thời vị lai

Không có tướng quá khứ

Các pháp cũng như vậy

Không có tất cả tướng.

Ví như tướng sanh diệt

Các thứ đều chẳng thiệt

Các pháp đều cũng vậy

Tự tánh vốn không có.

Niết bàn bất khả thủ

Thời gian nói có hai

Các pháp cũng như vậy

Phân biệt có sai khác.

Như nương vật bị đếm

Mà có cái hay đếm

Tánh kia vốn không có

Nên rõ pháp như vậy.

Ví như pháp toán số

Thêm một đến vô lượng

Phép đếm không thể tánh

Vì trí nên sai khác.

Ví như các thế gian

Kiếp hỏa có hư diệt

Hư không chẳng tổn hư

Phật trí cũng như vậy.

Như thập phương chúng sanh

Ðều lấy tướng hư không

Chư Phật cũng như vậy

Thế gian vọng phân biệt.

Lúc đó, Lực Lâm Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Tất cả chúng sanh giới

Ðều ở trong ba thời

Những chúng sanh ba thời

Ðều ở trong ngũ uẩn.

Nghiệp là gốc của uẩn

Tâm là gốc các nghiệp

Tâm đó dường như huyễn

Thế gian cũng như vậy.

Thế gian chẳng tự làm

Chẳng phải cái khác làm

Mà nó đặng có thành

Cũng lại đặng có hoại.

Thế gian dầu có thành

Thế gian dầu có hoại

Người rõ thấu thế gian

Chẳng nên nói hai việc.

Thế nào là thế gian

Thế nào phi thế gian

Thế gian, phi thế gian

Chỉ là tên sai khác!

Tam thế và ngũ uẩn

Nói gọi là thế gian

Nói diệt là phi thế

Như vậy chỉ giả danh.

Sao gọi là các uẩn

Các uẩn có tánh gì?

Tánh uẩn chẳng diệt đặng

Vì vậy nói vô sanh.

Phân biệt các uẩn nầy

Tánh nó vốn không tịch

Vì không, nên chẳng diệt

Ðây là nghĩa vô sanh.

Chúng sanh đã như vậy

Chư Phật cũng như vậy

Phật và các Phật pháp

Tự tánh vốn không có.

Biết đặng các pháp nầy

Như thiệt không điên đảo.

Người thấy biết tất cả

Thường thấy ở nơi trước.

Hạnh Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như mười phương cõi

Tất cả những địa chủng

Tự tánh vốn không có

Không chỗ nào chẳng khắp.

Thân Phật cũng như vậy

Cùng khắp các thế giới

Những sắc tướng sai khác

Không dừng không chỗ đến.

Chỉ do vì các nghiệp

Nói tên là chúng sanh

Cũng chẳng lìa chúng sanh

Mà có đặng các nghiệp.

Nghiệp tánh vốn không tịch

Chúng sanh chỗ y chỉ

Khắp làm các hình sắc

Cũng lại không chỗ đến.

Những hình sắc như vậy

Nghiệp lực khó nghĩ bàn

Liễu đạt căn bổn kia

Nơi trong không chỗ thấy.

Thân Phật cũng như vậy

Chẳng thể nghĩ bàn đặng

Những sắc tướng sai khác

Hiện khắp mười phương cõi.

Thân chẳng phải là Phật

Phật cũng chẳng phải thân

Chỉ lấy pháp làm thân

Thông đạt tất cả pháp.

Nếu thấy đặng thân Phật

Thanh tịnh như pháp tánh

Với tất cả Phật pháp

Người nầy không nghi lầm.

Nếu thấy tất cả pháp

Bổn tánh như Niết bàn

Ðây thì thấy Như Lai

Rốt ráo vô sở trụ.

Nếu tu tập chánh niệm

Sáng tỏ thấy chánh giác

Vô tướng, vô phân biệt

Ðây gọi Pháp Vương Tử.

Lúc đó, Giác Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như họa sư kia

Phân bố những màu sắc

Hư vọng lấy dị tướng

Ðại chủng không sai khác.

Trong đại chủng không sắc

Trong sắc không đại chủng

Cũng chẳng ngoài đại chủng

Mà có đặng màu sắc.

Trong tâm, không màu vẽ

Trong màu vẽ, không tâm

Nhưng chẳng rời nơi tâm

Mà có đặng màu vẽ.

Tâm đó luôn chẳng trụ

Vô lượng khó nghĩ bàn

Thị hiện tất cả sắc

Ðều riêng chẳng biết nhau.

Ví như nhà họa sư

Chẳng biết đặng tự tâm

Mà do tâm nên vẽ

Các pháp tánh như vậy.

Tâm như nhà họa sư

Hay vẽ những thế gian

Ngũ uẩn từ tâm sanh

Không pháp gì chẳng tạo.

Như tâm, Phật cũng vậy

Như Phật, chúng sanh đồng

Phải biết Phật cùng tâm

Thể tánh đều vô tận.

Nếu người biết tâm hành

Bảo khắp các thế gian

Người nầy thì thấy Phật

Rõ Phật chơn thiệt tánh.

Tâm chẳng trụ nơi thân

Thân chẳng trụ nơi tâm

Mà làm đặng Phật sự

Tự tại chưa từng có.

Nếu người muốn rõ biết

Tất cả Phật ba đời

Phải quán pháp giới tánh

Tất cả duy tâm tạo.

Trí Lâm Bồ tát thừa oai lực của đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Sở thủ chẳng thể lấy

Sở kiến chẳng thể thấy

Sở văn chẳng thể nghe

Nhứt tâm bất tư nghị.

Hữu lượng và vô lượng

Cả hai chẳng thể lấy

Nếu có ai muốn lấy

Rốt ráo chẳng thể đặng.

Chẳng nên nói mà nói

Ðây là tự khi dối

Việc mình chẳng thành tựu

Chẳng khiến chúng vui mừng.

Có người muốn khen Phật

Vô biên diệu sắc thân

Tận cả vô số kiếp

Không kể thuật hết đặng.

Ví như châu như ý

Hay hiện tất cả màu

Không màu mà hiện màu

Chư Phật cũng như vậy.

Lại như hư không sạch

Phi sắc chẳng thấy đặng

Dầu hiện tất cả sắc

Không ai thấy hư không.

Chư Phật cũng như vậy

Hiện khắp vô lượng sắc

Chẳng phải cảnh của tâm

Tất cả chẳng thấy đặng.

Dầu nghe tiếng Như Lai

Âm thanh chẳng phải Phật

Cũng chẳng ngoài âm thanh

Biết đặng đấng Chánh Giác

Bồ đề không lai khứ

Lìa tất cả phân biệt

Thế nào ở trong đó

Tự nói là thấy đặng.

Chư Phật không có pháp

Phật chỗ nào có nói

Chỉ theo tự tâm chúng

Cho rằng Phật nói pháp.

*



K I N H Đ Ạ I P H Ư Ơ N G Q U Ả N G P H Ậ T

HOA NGHIÊM

PHẨM THẬP HẠNH

THỨ HAI MƯƠI MỐT

Lúc bấy giờ, thừa thần lực của đức Phật, Công Ðức Lâm Bồ tát nhập Bồ tát thiện tư duy tam muội. Nhập tam muội nầy rồi, mười phương đều có hơn vạn Phật sát vi trần số thế giới và có vạn Phật sát vi trần số chư Phật đều hiệu Công Ðức Lâm, tất cả hiện ra nơi trước mà bảo Công Ðức Lâm Bồ tát rằng:

Lành thay Phật tử! Ông có thể nhập Thiện tư duy tam muội nầy! Mười phương đây đều có vạn Phật sát vi trần số Như Lai cùng một danh hiệu đồng gia hộ ông. Và cũng là nguyện lực thần lực của Phật Tỳ Lô Giá Na và thiện căn lực của chúng Bồ tát khiến ông nhập tam muội nầy để diễn thuyết pháp: vì tăng trưởng Phật trí, vì thâm nhập pháp giới, vì rõ chúng sanh giới, vì sở nhập vô ngại, vì sở hành vô chướng, vì đặng vô lượng phương tiện, vì nhiếp thủ nhứt thiết trí tánh, vì giác ngộ tất cả pháp, vì biết tất cả căn tánh, vì có thể thọ trì giảng thuyết tất cả pháp. Nghĩa là phát khởi mười hạnh của Bồ tát.

Nầy Phật tử! Ông nên thừa oai lực của Phật mà diễn thuyết pháp thập hạnh nầy.

Chư Phật khuyên cáo xong, liền ban cho Công Ðức Lâm Bồ tát vô ngại trí, vô trước trí, vô đoạn trí, vô sư trí, vô si trí, vô dị trí, vô thất trí, vô lượng trí, vô thắng trí, vô giải đãi trí, vô đoạt trí.

Tại sao vậy? Vì công lực của tam muội nầy là như vậy.

Chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Công Ðức Lâm Bồ tát.

Lúc đó, Công Ðức Lâm Bồ tát xuất định nói với chư Bồ tát rằng:

Thưa chư Phật tử! Hạnh của Bồ tát chẳng thể nghĩ bàn đặng. Hạnh đó đồng với pháp giới hư không giới. Vì Bồ tát học theo tam thế chư Phật mà tu hành vậy.

Những gì là hạnh của Bồ tát?

Thưa chư Phật tử! Ðại Bồ tát có mười hạnh sau đây, mà tam thế chư Phật đều tuyên nói:

Một là Hoan hỷ hạnh; hai là Nhiêu ích hạnh; ba là Vô vi nghịch hạnh, bốn là Vô khuất nhiễu hạnh; năm là Vô si loạn hạnh; sáu là Thiện hiện hạnh; bảy là Vô trước hạnh; tám là Nan đắc hạnh; chín là Thiện pháp hạnh; mười là Chơn thiệt hạnh.

Thế nào là Bồ tát Hoan Hỷ hạnh?

Bồ tát nầy làm đại thí chủ, phàm có vật gì đều bố thí đặng cả, lòng bình đẳng không hề hối tiếc, chẳng trông quả báo, chẳng cầu tiếng tăm, chẳng tham lợi tức, chỉ vì cứu hộ tất cả chúng sanh, vì nhiếp thọ chúng sanh, vì lợi ích chúng sanh, vì học tập bổn hạnh của chư Phật, vì nhớ đến bổn hạnh của chư Phật, vì thích mến bổn hạnh của chư Phật, vì thanh tịnh bổn hạnh của chư Phật, vì tăng trưởng bổn hạnh của chư Phật, vì trụ trì bổn hạnh của chư Phật, vì hiển hiện bổn hạnh của chư Phật, vì diễn thuyết bổn hạnh của chư Phật, vì khiến chúng sanh thoát khổ đặng vui.

Lúc đại Bồ tát tu hạnh nầy, khiến tất cả chúng sanh hoan hỷ mến thích. Chốn nào, cõi nào nghèo thiếu, Bồ tát dùng nguyện lực sanh nơi đó làm nhà hào quý giàu có vô tận. Giả sử trong mỗi niệm có vô lượng chúng sanh đến chỗ Bồ tát, vì đói khát mà xin thịt nơi thân Bồ tát để ăn, Bồ tát liền lóc thịt nơi thân mình để dưng cho họ, khiến lòng họ thỏa mãn vui mừng, không hề khiếp sợ từ chối, chỉ càng tăng trưởng tâm từ bi. Vì thế nên chúng sanh đều đến để xin cầu. Bồ tát thấy họ đến xin lòng thêm hoan hỷ, vì nghĩ rằng tôi đặng lợi lớn, các chúng sanh nầy là phước điền của tôi, là thiện hữu của tôi. Tôi chẳng cầu chẳng thỉnh mà họ đến dạy tôi vào trong Phật pháp. Tôi phải tu học thực hành như vậy không để trái ý chúng sanh.

Bồ tát lại nghĩ rằng: nguyện những căn lành mà tôi đã, sẽ, hay đương thực hành làm cho tôi thọ thân hình to lớn trong tất cả thế giới, để đặng đem thịt nơi thân cung cấp cho tất cả chúng sanh bị đói khổ, thịt còn mãi cắt lấy vô tận, nhẫn đến còn một chúng sanh nhỏ chưa no đủ thì tôi nguyện không xả mạng. Do thiện căn nầy nguyện đặng Vô thượng Bồ đề, chứng đại Niết bàn. Nguyện cho những chúng sanh đã ăn thịt tôi, cũng đều đặng Vô thượng Bồ đề, đặng trí bình đẳng, đủ những Phật pháp, rộng làm Phật sự, nhẫn đến nhập vô dư Niết bàn. Nếu còn một chúng sanh lòng chưa thỏa mãn, tôi trọn chẳng chứng Vô thượng Bồ đề. Bồ tát lợi ích chúng sanh như vậy mà không ngã tưởng, chúng sanh tưởng, hữu tưởng, mạng tưởng, các thứ tưởng, bổ đặc già la tưởng, nhơn tưởng, ma nạp bà tưởng, tác giả tưởng, thọ giả tưởng. Chỉ quán pháp giới chúng sanh giới vô biên tế, quán không pháp, vô sở hữu pháp, vô tướng pháp, vô thể pháp, vô xứ pháp, vô y pháp, vô tác pháp.

Lúc quán như vậy, chẳng thấy tự thân, chẳng thấy vật bố thí, chẳng thấy người thọ, chẳng thấy phước điền, chẳng thấy nghiệp, chẳng thấy báo, chẳng thấy quả, chẳng thấy đại quả, chẳng thấy tiểu quả.

Lúc bấy giờ, Bồ tát quán thân của tất cả tam thế chúng sanh đều liền hoại diệt, mà nghĩ rằng: lạ thay cho chúng sanh ngu si vô trí ở trong sanh tử thọ vô số thân mỏng manh chẳng tạm dừng mau về nơi hoại diệt, hoặc đã, hoặc hiện, hoặc sẽ hoại diệt, mà họ chẳng thể đem thân chẳng bền để cầu thân kiên cố.

Tôi phải học tập những điều mà chư Phật đã học tập, để đặng chứng Nhứt thiết trí, biết thứt thiết pháp, rồi vì chúng sanh diễn thuyết tam thế bình đẳng tùy thuận pháp tánh tịch tịnh bất hoại, khiến họ đặng vĩnh viễn an ổn khoái lạc.

Ðây gọi là Bồ tát Hoan Hỷ hạnh thứ nhứt.

Chư Phật tử! Những gì là Bồ tát Nhiêu Ích hạnh?

Bồ tát nầy hộ trì tịnh giới, lòng không nhiễm trước sắc thanh hương vị xúc. Cũng đem sự vô trước ấy nói với chúng sanh, chẳng cầu oai thế, chẳng cầu chủng tộc, chẳng cầu giàu có, chẳng cầu sắc tướng, chẳng cầu ngôi vua, tất cả đều không nhiễm trước. Chỉ bền giữ tịnh giới. Tự nghĩ: tôi trì tịnh giới, quyết sẽ bỏ lìa tất cả triền phược, tham cầu, nhiệt não, các nạn bức ngặt, hủy báng loạn trược, để đặng chánh pháp bình đẳng của Phật khen ngợi.

Lúc Bồ tát trì tịnh giới như vậy, trong một ngày, giả sử có vô số đại ác ma đem vô số Thiên nữ tuyệt đẹp trang sức lộng lẫy, vũ nhạc đờn ca đến muốn làm mê loạn đạo tâm của Bồ tát nầy. Bồ tát nầy liền suy nghĩ rằng: cảnh ngũ dục nầy là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng Vô thượng Bồ đề. Do đây nên Bồ tát chẳng có một niệm dục tưởng, lòng thanh tịnh như Phật. Chỉ trừ phương tiện giáo hóa chúng sanh, nhưng vẫn không rời tâm Nhứt thiết trí.

Bồ tát không vì nhơn duyên ngũ dục mà làm não hại một chúng sanh, thà bỏ thân mạng chớ trọn không làm sự não hại chúng sanh.

Bồ tát từ khi đặng thấy Phật đến nay, chưa từng có một niệm dục tưởng, huống là làm theo.

Bồ tát thường nghĩ: các chúng sanh mãi tưởng nhớ ngũ dục, hướng đến ngũ dục, tham trước ngũ dục, lòng họ quyết phải say mê chìm đắm, rồi theo đó mà lưu chuyển không đặng tự tại.

Nay tôi phải nên khiến bọn ma nầy cùng các Thiên nữ trụ nơi tịnh giới, không thối chuyển nơi Nhứt thiết trí, đặng Vô thượng Bồ đề nhẫn đến vào vô dư Niết bàn. Vì đây là việc mà tôi phải thực hành. Tôi phải học tập theo Phật, phải rời bỏ ác hạnh, chấp ngã, si mê. Dùng trí huệ vào tất cả Phật pháp. Giảng thuyết cho chúng sanh khiến họ trừ điên đảo. Nhưng biết không ngoài chúng sanh có điên đảo, không ngoài điên đảo có chúng sanh, chẳng ở trong điên đảo có chúng sanh, chẳng ở trong chúng sanh có điên đảo, cũng chẳng phải điên đảo là chúng sanh, chẳng phải chúng sanh là điên đảo. Ðiên đảo chẳng phải nội pháp ngoại pháp, chúng sanh cũng chẳng phải nội pháp ngoại pháp. Tất cả các pháp đều hư vọng chẳng thiệt, chóng sanh chóng diệt không kiên cố như mộng, như huyễn, như bóng, như vang, nói dối để phỉnh kẻ ngu.

Hiểu đặng như vậy liền giác ngộ đặng tất cả hành pháp, thông đạt sanh tử và Niết bàn, chứng quả vị Phật, tự độ và khiến người đặng độ, tự giải thoát và khiến người giải thoát, tự điều phục và khiến người điều phục, tự tịch tịnh và khiến người tịch tịnh, tự an ổn và khiến người an ổn, tự ly cấu và khiến người ly cấu, tự thanh tịnh và khiến người thanh tịnh, tự Niết bàn và khiến người Niết bàn, tự khoái lạc và khiến người khoái lạc.

Bồ tát nầy lại tự nghĩ rằng: tôi phải tùy thuận tất cả Như Lai, rời tất cả hành vi thế gian, trọn nên tất cả Phật pháp, trụ nơi vô thượng bình đẳng, xem chúng sanh bình đẳng, rõ suốt cảnh giới lìa lỗi, dứt phân biệt, bỏ chấp trước, khéo xuất ly, tâm luôn an trụ nơi trí huệ thậm thâm vô thượng, vô thuyết, vô y, vô động, vô lượng, vô biên, vô tận, vô sắc.

Ðây gọi là Bồ tát Nhiêu Ích hạnh thứ hai.

Những gì là Bồ tát Vô Vi Nghịch hạnh?

Bồ tát nầy thường tu nhẫn pháp: khiêm hạ cung kính, chẳng tự hại, chẳng hại người, chẳng hại mình hại người, chẳng tự thủ trước, chẳng thủ trước người, chẳng thủ trước cả hai, cũng chẳng tham cầu danh tiếng lợi lộc.

Chỉ nghĩ rằng: tôi phải luôn thuyết pháp cho chúng sanh, khiến họ lìa tất cả sự ác, dứt phiền não, khiến họ luôn nhẫn nhục nhu hòa.

Bồ tát thành tựu nhẫn pháp như vậy, giả sử có vô số chúng sanh ác đến chỗ Bồ tát, đem vô số lời ác mắng nhiếc, trêu chọc, nguyền rủa, đồng thời cầm dao gậy đập chém trải qua vô số kiếp không thôi. Bồ tát bị sự bức khổ vô cùng nầy, sắp phải chết, tự nghĩ rằng: tôi nhơn sự khổ nhục nầy, nếu lòng động loạn thì là tự chẳng điều phục, tự chẳng giữ gìn, tự chẳng sáng suốt, tự chẳng tu tập, tự chẳng chánh định, tự chẳng tịch tịnh, tự chẳng ái tích, tự sanh chấp trước, thì đâu có thể làm cho người khác lòng đặng thanh tịnh.

Lúc đó, Bồ tát lại nghĩ: tôi từ vô thỉ kiếp trụ nơi sanh tử chịu nhiều khổ não.

Suy nghĩ như vậy rồi càng tự khích lệ thêm, khiến lòng thanh tịnh mà đặng vui mừng, khéo tự điều nhiếp, tự có thể an trụ nơi trong Phật pháp, cũng khiến chúng sanh đồng đặng pháp nầy. Lại suy nghĩ: thân nầy không tịch, không ngã ngã sở, không thiệt, tánh trống rỗng không hai, đều không có hoặc khổ hoặc vui, vì tất cả pháp đều trống không vậy. Tôi phải hiểu rõ để nói rộng cho người, khiến các chúng sanh diệt trừ kiến chấp nầy. Vì thế nên dầu nay tôi bị khổ nhục, tôi phải nhẫn thọ, vì thương xót chúng sanh, vì lợi ích chúng sanh, vì an vui chúng sanh, vì nhiếp thọ chúng sanh, vì chẳng bỏ chúng sanh, vì để tự giác ngộ và khiến người giác ngộ, vì lòng không thối chuyển hướng đến Phật đạo.

Ðây là Bồ tát Vô Vi Nghịch hạnh thứ ba.

Chư Phật tử! Những gì là Bồ tát Vô Khuất Nhiễu hạnh?

Bồ tát nầy tu hạnh tinh tấn: đệ nhứt tinh tấn, đại tinh tấn, thắng tinh tấn, thù thắng tinh tấn, tối thắng tinh tấn, tối diệu tinh tấn, thượng tinh tấn, vô thượng tinh tấn, vô đẳng tinh tấn, phổ biến tinh tấn.

Tánh không tham sân si, tánh không kiêu mạn, phú tàng, xan tật, siểm cuống, tánh tự tàm quý. Trọn chẳng vì não chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì dứt tất cả phiền não mà tinh tấn, chỉ vì nhổ gốc phiền não mà tinh tấn, chỉ vì trừ tất cả tập khí mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả chúng sanh giới mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả chúng sanh chết đây sanh kia mà tinh tấn, chỉ vì biết phiền não của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết sở thích của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết cảnh giới của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết căn cơ thắng liệt của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết tâm hành của tất cả chúng sanh mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả pháp giới mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh căn bổn của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh bình đẳng của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tánh tam thế bình đẳng mà tinh tấn, chỉ vì đặng trí quang minh của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì chứng trí của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết nhứt thiệt tướng của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì biết tất cả Phật pháp vô biên tế mà tinh tấn, chỉ vì đặng trí thiện xảo quyết định quảng đại của tất cả Phật pháp mà tinh tấn, chỉ vì đặng trí diễn thuyết cú nghĩa của tất cả Phật pháp mà tinh tấn.

Bồ tát trọn nên hạnh tinh tấn như vậy rồi, có thể vì mỗi mỗi chúng sanh trong vô số thế giới mà chịu khổ ở Vô gián địa ngục trọn vô số kiếp, để những chúng sanh đó đặng gặp Phật, đặng hưởng vui, nhẫn đến đặng vô dư Niết bàn, rồi mình sẽ chứng Vô thượng Bồ đề.

Giả sử có người bảo: có vô lượng vô số đại hải, ông sẽ lấy đầu sợi lông chấm từng giọt cho đến khô cạn và nghiền vô lượng vô số thế giới làm bụi, đếm biết rõ số giọt số bụi ấy, ông vì chúng sanh trải qua kiếp số bằng số giọt số bụi ấy mà chịu khổ chẳng dứt.

Bồ tát dầu nghe lời trên đây, nhưng không hề có một niệm thối khiếp. Chỉ càng thêm hớn hở vui mừng: tôi may mắn đặng lợi lành lớn. Vì do sức của tôi mà vô lượng chúng sanh kia thoát khổ hẳn.

Bồ tát nầy đem phương tiện thực hành trong
tất cả thế giới, làm cho tất cả chúng sanh đặng rốt ráo vô dư Niết bàn.

Ðây gọi là Bồ tát Vô Khuất Nhiễu hạnh thứ tư.

Những gì là Bồ tát Ly Si Loạn hạnh?

Chư Phật tử! Bồ tát nầy thành tựu chánh niệm, tâm không tán loạn, kiên cố bất động tối thượng, thanh tịnh rộng lớn vô lượng, không có mê hoặc.

Vì do chánh niệm nầy nên khéo hiểu tất cả ngôn ngữ thế gian, hay trì ngôn thuyết của các pháp xuất thế, như là hay trì ngôn thuyết sắc pháp phi sắc pháp, hay trì ngôn thuyết kiến lập sắc tự tánh, nhẫn đến hay trì ngôn thuyết thọ tưởng hành thức tự tánh mà tâm không si loạn.

Ở trong thế gian, chết đây sanh kia tâm không si loạn. Nhập thai xuất thai tâm không si loạn. Phát tâm Bồ đề tâm không si loạn. Thờ thiện tri thức tâm không si loạn, siêng tu Phật pháp tâm không si loạn. Rõ biết ma sự tâm không si loạn. Lìa những ma nghiệp tâm không si loạn. Trong bất khả thuyết kiếp tu Bồ tát hạnh tâm không si loạn.

Bồ tát nầy thành tựu vô lượng chánh niệm như vậy. Trong vô lượng vô số kiếp đặng nghe chánh pháp nơi chư Phật, Bồ tát, thiện tri thức. Như là thậm thâm pháp, quảng đại pháp, trang nghiêm pháp, những thứ trang nghiêm pháp, pháp diễn thuyết các loại danh cú văn thân, pháp Bồ tát trang nghiêm, pháp Phật thần lực quang minh vô thượng, pháp chánh thắng giải thanh tịnh, pháp chẳng nhiễm trước tất cả thế gian, pháp phân biệt tất cả thế gian, pháp rất quảng đại, pháp rời mê si chiếu rõ tất cả chúng sanh, pháp cùng đồng với tất cả thế gian, pháp chẳng cùng đồng với tất cả thế gian, pháp Bồ tát trí vô thượng, pháp Nhứt thiết trí tự tại.

Bồ tát đặng nghe những pháp như vậy rồi trải qua vô số kiếp chẳng quên chẳng mất, tâm thường ghi nhớ không gián đoạn.

Tại sao vậy? Vì trong vô lượng kiếp, lúc tu hành, Bồ tát trọn chẳng làm não loạn một chúng sanh khiến họ mất chánh niệm, chẳng hoại chánh pháp, chẳng đoạn thiện căn, tâm luôn tăng trưởng, trí huệ rộng lớn.

Lại với Bồ tát nầy, những thứ âm thanh không làm hoặc loạn đặng. Như là tiếng cao to, tiếng thô trược, tiếng khiến người cả sợ, tiếng đẹp lòng, tiếng chẳng đẹp lòng, tiếng huyên loạn nhĩ thức, tiếng trở hoại nhĩ căn.

Bồ tát nầy dầu nghe vô lượng vô số âm thanh hay dở như vậy, nhưng chưa từng có một niệm tán loạn. Nghĩa là chánh niệm chẳng loạn, cảnh giới chẳng loạn, tam muội chẳng loạn, vào pháp thậm thâm chẳng loạn, hành Bồ đề hạnh chẳng loạn, phát Bồ đề tâm chẳng loạn, nhớ niệm chư Phật chẳng loạn, quán pháp chơn thiệt chẳng loạn, trí hóa độ chúng sanh chẳng loạn, trí thanh tịnh chúng sanh chẳng loạn, quyết rõ nghĩa thậm thâm chẳng loạn. Vì chẳng làm nghiệp ác nên không ác nghiệp chướng, vì chẳng khởi phiền não nên không phiền não chướng, vì chẳng khinh mạn pháp nên không pháp chướng, vì chẳng hủy báng chánh pháp nên không có báo chướng.

Bồ tát nầy nhập chánh định trụ nơi Thánh pháp, tư duy quán sát tất cả âm thanh, khéo biết tướng sanh trụ dị diệt của âm thanh, khéo biết tánh sanh trụ dị diệt của âm thanh. Nghe âm thanh Bồ tát nầy không sanh lòng tham sân, không mất chánh niệm, khéo lấy tướng mà không nhiễm trước, biết tất cả âm thanh đều không chỗ có, thiệt chẳng thể đặng, không có tác giả, cũng không bổn tế, đồng với pháp giới không sai khác.

Bồ tát nầy thành tựu hạnh thân ngữ ý tịch tịnh như vậy, thẳng đến Nhứt thiết trí không thối chuyển, khéo vào tất cả môn thiền định, biết các tam muội đồng một thể tánh, rõ tất cả pháp không có biên tế, đặng tất cả pháp chơn thiệt trí huệ, đặng thậm thâm tam muội ly âm thanh, đặng vô số môn tam muội, thêm lớn vô lượng tâm đại bi.

Bấy giờ trong khoảng một niệm, Bồ tát nầy đặng vô số trăm ngàn tam muội. Nghe những tiếng như vậy tâm chẳng hoặc loạn, khiến tam muội lần lần càng thêm rộng.

Bồ tát nầy nghĩ rằng: tôi phải làm cho tất cả chúng sanh an trụ trong niệm thanh tịnh vô thượng, nơi Nhứt thiết trí đặng bất thối chuyển, rốt ráo thành tựu vô dư Niết bàn.

Ðây gọi là Bồ tát Ly Si Loạn hạnh thứ năm.

Những gì là Bồ tát Thiện Hiện hạnh?

Bồ tát nầy ba nghiệp thân ngữ ý đều thanh tịnh, trụ và thị hiện đều vô sở đắc. Biết đặng ba nghiệp đều vô sở hữu. Vì không hư vọng nên không hệ phược. Phàm chỗ thị hiện đều vô tánh vô y. Trụ tâm như thiệt, biết vô lượng tâm tự tánh, biết tất cả pháp tự tánh, vô đắc vô tướng rất sâu khó vào, trụ nơi chánh vị chơn như pháp tánh. Phương tiện xuất sanh mà không nghiệp báo bất sanh bất diệt, trụ Niết bàn giới, trụ tánh tịch tịnh, trụ nơi tánh chơn thiệt vô tánh, đường ngữ ngôn dứt, siêu các thế gian không sở y, nhập pháp ly phân biệt không phược trước, nhập pháp trí tối thắng chơn thiệt, nhập pháp chẳng phải thế gian có thể rõ biết xuất thế gian. Ðây là phương tiện thiện xảo thị hiện sanh tướng của Bồ tát nầy.

Bồ tát nầy nghĩ rằng: tất cả chúng sanh vô tánh làm tánh, tất cả các pháp vô vi làm tánh, tất cả quốc độ vô tướng làm tướng, tất cả tam thế chỉ có ngôn thuyết, tất cả ngôn thuyết ở trong các pháp không có y xứ, tất cả các pháp ở trong ngôn thuyết cũng không y xứ.

Như vậy, Bồ tát nầy hiểu tất cả pháp thảy đều rất sâu, tất cả thế gian thảy đều tịch tịnh, tất cả Phật pháp không chỗ thêm, Phật pháp không khác pháp thế gian, pháp thế gian không khác Phật pháp. Phật pháp và thế gian pháp không có tạp loạn, cũng không sai khác. Rõ biết pháp giới thể tánh bình đẳng. Vào khắp tam thế, vĩnh viễn chẳng bỏ lìa tâm đại Bồ đề. Luôn chẳng thối chuyển tâm giáo hóa chúng sanh, càng thêm tăng trưởng tâm đại từ bi, làm chỗ sở y cho tất cả chúng sanh.

Bấy giờ Bồ tát lại nghĩ rằng: tôi không thành thục chúng sanh thì ai sẽ thành thục? Tôi chẳng điều phục chúng sanh thì ai sẽ điều phục? Tôi chẳng giáo hóa chúng sanh thì ai sẽ giáo hóa? Tôi chẳng giác ngộ chúng sanh thì ai sẽ giác ngộ? Tôi chẳng thanh tịnh chúng sanh thì ai sẽ thanh tịnh? Ðây là những điều đáng cho tôi phải thực hành.

Bồ tát nầy lại nghĩ rằng: nếu tôi tự hiểu pháp thậm thâm nầy, thì chỉ một tôi riêng đặng giải thoát chứngVô thượng Bồ đề, mà các chúng sanh khác mù tối sa vào đường hiểm lớn, bị những phiền não triền phược, như người bệnh nặng luôn thọ khổ thống, ở trong ngục tham ái không tự ra khỏi, chẳng rời địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cõi vua Diêm La, chẳng diệt đặng khổ, chẳng bỏ nghiệp ác, thường ở si ám chẳng thấy chơn thiệt, luân hồi sanh tử không ra khỏi đặng, trụ nơi bát nạn, những cấu nhiễm vấy nhơ, những phiền não che chướng tâm họ, tà kiến làm mê chẳng thực hành chánh đạo.

Bồ tát nầy quan sát những chúng sanh rồi nghĩ rằng: nếu những chúng sanh nầy chưa thành thục, chưa điều phục, tôi bỏ họ mà chứng Vô thượng Bồ đề thì không nên. Tôi sẽ trước giáo hóa chúng sanh trong bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp thực hành hạnh Bồ tát. Kẻ chưa thành thục trước làm cho đặng thành thục, kẻ chưa điều phục trước làm cho đặng điều phục.

Bồ tát nầy lúc trụ hạnh trên đây, hàng chư Thiên, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn, tất cả thế gian, Càn thát bà, A tu la v.v... nếu có ai đặng thấy và tạm thời đồng ở chung với Bồ tát nầy, rồi kính trọng cúng dường và tạm nghe qua tai một phen để tâm, đều không luống uổng, nhứt định sẽ thành Vô thượng Bồ đề.

Ðây gọi là Bồ tát Thiện Hiện hạnh thứ sáu.

*Những gì là Bồ tát Vô Trước hạnh?

Chư Phật tử! Bồ tát nầy dùng tâm vô trước, ở trong mỗi niệm sẽ nhập vô số thế giới, nghiêm tịnh vô số thế giới, với các thế giới tâm không chấp trước.

Bồ tát nầy qua đến chỗ của vô số Như Lai mà kính lễ cúng dường. Dùng vô số hoa, tràng hoa, hương, hương bột, hương thoa, y phục, trân bửu, tràng phan, lọng đẹp, đồ trang nghiêm đều vô số để cúng dường chư Như Lai.

Cúng dường như vậy để rốt ráo pháp vô tác, để trụ pháp bất tư nghị, ở trong mỗi niệm thấy vô số Phật. Nơi chư Phật tâm không chấp trước. Nơi các cõi Phật cũng không chấp trước. Nơi tướng hảo của Phật cũng không chấp trước. Thấy quang minh của Phật, nghe Phật thuyết pháp cũng không chấp trước. Nơi thập phương thế giới và những chúng hội của Phật Bồ tát cũng không chấp trước. Nghe Phật pháp xong, lòng hoan hỷ, chí lực rộng lớn, có thể nhiếp thọ, có thể hành trì các hạnh Bồ tát, nhưng với Phật pháp vẫn không chấp trước.

Bồ tát nầy trong bất khả thuyết kiếp, thấy bất khả thuyết Phật xuất thế, nơi mỗi đức Phật tôn thờ cúng dường thảy đều trọn bất khả thuyết kiếp tâm không nhàm đủ. Thấy Phật nghe pháp và thấy Bồ tát chúng hội trang nghiêm đều không chấp trước. Thấy thế giới uế trược cũng không ghét chán. Tại sao vậy? Vì Bồ tát nầy quán sát đúng với Phật pháp. Trong Phật pháp, không cấu, không tịnh, không tối, không sáng, không khác, không đồng, không thiệt, không vọng, không an ổn, không hiểm nạn, không chánh đạo, không tà đạo.

Bồ tát thâm nhập pháp giới như vậy giáo hóa chúng sanh, mà với chúng sanh chẳng sanh chấp trước; thọ trì các pháp mà nơi các pháp chẳng chấp trước; phát Bồ đề tâm trụ nơi Phật trụ, mà nơi Phật trụ chẳng sanh chấp trước; dầu có ngôn thuyết mà không chấp ngôn thuyết; vào chúng sanh đạo mà không chấp chúng sanh đạo. Rõ biết tam muội, hay nhập hay trụ mà nơi tam muội tâm không chấp trước. Qua đến vô lượng Phật độ, hoặc vào, hoặc thấy, hoặc trụ mà nơi Phật độ tâm không chấp trước, lúc bỏ đi cũng không luyến tiếc.

Vì Bồ tát nầy có thể không chấp trước như vậy, nên tâm không chướng ngại đối với Phật pháp, rõ Phật Bồ đề, chứng pháp tỳ ni, trụ Phật Chánh giác, tri Bồ tát hạnh, trụ Bồ tát tâm, tư duy pháp giải thoát của Bồ tát. Nơi trụ xứ của Bồ tát tâm không nhiễm trước. Nơi việc làm của Bồ tát cũng không chấp trước. Thanh tịnh Bồ tát đạo, thọ Bồ tát ký. Ðược thọ ký rồi tự nghĩ rằng: kẻ phàm phu ngu si không biết không thấy, không tin không hiểu, không thực hành sáng suốt, ngoan cố tham trước, lưu chuyển sanh tử chẳng cầu thấy Phật, chẳng theo bực Minh Đạo, chẳng tin đấng Ðiều Ngự, mê lầm vào nơi hiểm đạo, chẳng kính đức vua Thập Lực, chẳng biết ơn Bồ tát, tham luyến trụ xứ, nghe pháp không thì quá sợ, xa chánh pháp gần tà pháp, bỏ đường bằng vào đường hiểm, trái với ý Phật, theo ý ma. Nơi các cõi hữu lậu bền chấp chẳng bỏ.

Bồ tát nầy quan sát chúng sanh như vậy, thêm lớn tâm đại bi, sanh các căn lành mà không chấp trước.

Lúc đó, Bồ tát nầy lại nghĩ rằng: Tôi sẽ vì một chúng sanh nơi mỗi quốc độ trong thập phương thế giới, trải qua bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp giáo hóa thành thục. Như vì một chúng sanh, vì tất cả chúng sanh cũng như vậy. Trọn chẳng vì đây mà nhàm lìa bỏ đi nơi khác.

Lại lấy đầu sợi lông khắp lượng pháp giới, nơi chỗ đầu sợi lông, trọn bất khả thuyết bất khả thuyết kiếp, giáo hóa điều phục tất cả chúng sanh. Như nơi đầu một sợi lông, nơi tất cả đầu sợi lông đều như vậy. Chẳng chấp trước ngã, chẳng khởi tưởng ngã, ngã sở. Nơi mỗi đầu sợi lông tu Bồ tát hạnh tận vị lai kiếp, chẳng chấp trước nơi thân, nơi pháp, nơi niệm, nơi nguyện, nơi tam muội, nơi quan sát, nơi tịch định, nơi cảnh giới, nơi sự giáo hóa điều phục chúng sanh. Cũng chẳng chấp trước nơi sự nhập pháp giới.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát nầy nghĩ rằng: tôi phải quán sát tất cả pháp như huyễn, chư Phật như bóng, Bồ tát hạnh như giấc mơ, Phật thuyết pháp như vang, tất cả thế gian như hóa vì do nghiệp báo chấp trì. Thân sai biệt như huyễn vì do hành lực khởi ra. Tất cả chúng sanh như tâm, do đầy đủ các thứ tạp nhiễm. Tất cả pháp như thiệt tế, vì chẳng thể đổi khác.

Bồ tát nầy lại nghĩ rằng: tôi sẽ thực hành Bồ tát hạnh trong thập phương tất cả quốc độ, niệm niệm rõ thấu tất cả Phật pháp, chánh niệm hiện tiền không chấp lấy.

Bồ tát quán thân vô ngã như vậy thì thấy Phật vô ngại. Vì giáo hóa chúng sanh mà diễn thuyết các pháp, làm cho họ đối với Phật pháp phát sanh vô lượng hoan hỷ và lòng tin thanh tịnh. Cứu hộ tất cả chúng sanh lòng không nhàm mỏi. Vì không nhàm mỏi nên trong tất cả thế giới, nếu có chúng sanh chưa thành tựu, chưa điều phục, thì liền đến đó dùng phương tiện hóa độ. Trong những chúng sanh đó: các thứ tiếng, các thứ nghiệp, các thứ chấp, các thứ thi vi, các thứ hòa hợp, các thứ lưu chuyển, các thứ việc làm, các thứ cảnh giới, các thứ sanh, các thứ chết, Bồ tát nầy do đại nguyện ở trong đó mà giáo hóa họ, chẳng để tâm họ có động có thối, cũng chẳng có một niệm nhiễm trước.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát nầy đã đặng vô trước vô y, tự lợi và lợi tha đều thanh tịnh đầy đủ.

Ðây gọi là Bồ tát Vô Trước hạnh thứ bảy.

Những gì là Bồ tát Nan Đắc hạnh?

Bồ tát nầy thành tựu căn lành khó đặng, căn lành khó phục, căn lành tối thắng, căn lành chẳng thể hư, căn lành không thể hơn, căn lành chẳng nghĩ bàn, căn lành vô tận, căn lành sức tự tại, căn lành oai đức lớn, căn lành đồng một tánh với tất cả Phật.

Lúc Bồ tát nầy tu các công hạnh, ở trong Phật pháp đặng sự hiểu tối thắng, nơi Phật Bồ đề đặng sự hiểu quảng đại, chưa từng thôi nghĩ nơi nguyện Bồ tát, tận tất cả kiếp lòng không mệt mỏi, với tất cả khổ chẳng sanh nhàm lìa, chỗ tất cả chúng ma không bị dao động, đặng tất cả Phật hộ niệm, làm đầy đủ tất cả khổ hạnh của Bồ tát, siêng tu Bồ tát hạnh không lười trễ, nơi Đại thừa nguyện luôn chẳng thối chuyển.

Bồ tát nầy an trụ nơi Nan Đắc hạnh rồi ở trong mỗi niệm có thể chuyển vô số kiếp sanh tử mà chẳng bỏ đại nguyện của Bồ tát.

Nếu có chúng sanh nào tôn kính cúng dường nhẫn đến thấy nghe Bồ tát nầy đều đặng chẳng thối chuyển nơi Vô thượng Bồ đề.

Bồ tát nầy dầu biết chúng sanh chẳng phải có, nhưng chẳng bỏ tất cả chúng sanh giới. Ví như thuyền trưởng chẳng dừng bờ nầy, chẳng đậu bờ kia, chẳng dừng giữa dòng, mà có thể đưa chúng từ bờ nầy qua đến bờ kia, vì qua lại không thôi nghỉ vậy.

Bồ tát nầy cũng như thế, chẳng trụ sanh tử, chẳng trụ Niết bàn, cũng chẳng trụ giữa dòng sanh tử, mà có thể độ chúng sanh từ bờ sanh tử nầy đặt họ lên bờ Niết bàn kia, nơi an ổn vô úy không ưu não.

Bồ tát nầy chẳng chấp trước chúng sanh, chẳng bỏ một chúng sanh mà đến với số đông, chẳng bỏ số đông mà đến một, chẳng tăng chẳng giảm đối với chúng sanh giới, cũng chẳng sanh chẳng diệt, chẳng tận chẳng trưởng, chẳng phân biệt, chẳng riêng khác đối với chúng sanh giới.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát nầy thâm nhập chúng sanh giới như pháp giới, chúng sanh giới và pháp giới không có hai. Trong pháp không hai, không tăng, không giảm, không sanh, không diệt, không hữu, không vô, không lấy, không tựa, cũng không chấp trước nơi không hai. Vì Bồ tát rõ biết tất cả pháp, pháp giới vô nhị vậy.

Bồ tát nầy dùng thiện phương tiện như vậy nhập thâm pháp giới, trụ nơi vô tướng, dùng tướng thanh tịnh trang nghiêm thân mình. Rõ pháp vô tánh mà có thể phân biệt tất cả pháp tướng, chẳng chấp lấy chúng sanh mà có thể biết rõ số chúng sanh, chẳng chấp trước thế giới mà có thể hiện thân khắp Phật sát, chẳng phân biệt pháp mà khéo vào Phật pháp, thâm đạt nghĩa lý mà diễn rộng ngôn giáo, rõ chơn tế ly dục của tất cả pháp mà chẳng dứt đạo Bồ tát, chẳng thối Bồ tát hạnh, thường siêng tu tập hạnh vô tận, tự tại vào nơi thanh tịnh pháp giới.

Ví như cọ gỗ để lấy lửa, lửa cháy vô lượng mà lửa chẳng tắt.

Cũng thế, việc Bồ tát giáo hóa chúng sanh không cùng tận, mà ở thế gian thường trụ chẳng diệt. Chẳng phải rốt ráo, chẳng phải không rốt ráo, chẳng phải lấy, chẳng phải không lấy, chẳng phải sở y, chẳng phải không sở y, chẳng phải thế pháp, chẳng phải Phật pháp, chẳng phải phàm, chẳng phải Thánh.

Bồ tát nầy thành tựu tâm nan đắc như vậy, lúc tu tập hạnh Bồ tát, chẳng nói pháp Nhị thừa, chẳng nói Phật pháp, chẳng nói thế gian, chẳng nói pháp thế gian, chẳng nói chúng sanh, chẳng nói không chúng sanh, chẳng nói cấu, chẳng nói tịnh.

Tại sao vậy? Vì Bồ tát nầy biết tất cả pháp không nhiễm không thủ, chẳng chuyển chẳng thối.

Bồ tát nầy lúc ở trong pháp tịch diệt thậm thâm tối thắng vi diệu như vậy mà tu hành, cũng chẳng có quan niệm tôi hiện tu, đã tu, hay sẽ tu những hạnh đó, chẳng chấp trước uẩn xứ giới, nội thế gian, ngoại thế gian, nội ngoại thế gian. Cũng chẳng chấp trước những đại nguyện, những ba la mật và tất cả pháp của mình.

Tại sao vậy? Vì trong pháp giới không có pháp gọi là hướng Thanh văn thừa, hướng Ðộc giác thừa, hướng Bồ tát thừa, hướng Vô thượng Bồ đề, không có pháp gọi là hướng phàm phu giới, hướng nhiễm, hướng tịnh, hướng sanh tử, hướng Niết bàn. Vì các pháp vốn vô nhị vô bất nhị vậy.

Ví như hư không, trong thập phương ba thời tìm vốn không đặng, nhưng chẳng phải là không có hư không.

Cũng thế, Bồ tát quán tất cả pháp đều bất khả đắc, nhưng chẳng phải là không tất cả pháp, đúng thiệt không khác, chẳng mất chỗ làm, khắp hiện tu hành hạnh Bồ tát, chẳng bỏ đại nguyện điều phục chúng sanh, chuyển chánh pháp luân, chẳng hoại nhơn quả, cũng chẳng trái nơi diệu pháp bình đẳng, khắp đồng với tam thế Như Lai, chẳng dứt Phật chủng, chẳng hư thiệt tướng, thâm nhập nơi pháp, biện tài vô tận, nghe pháp chẳng chấp, đến đáy sâu của pháp, khéo khai diễn, không lòng e sợ, chẳng rời Phật trụ, chẳng trái thế pháp, hiện khắp thế gian mà chẳng nhiễm trước thế gian.

Bồ tát nầy thành tựu tâm trí huệ nan đắc như vậy, tu tập các hạnh, nơi ba ác đạo cứu vớt chúng sanh, giáo hóa điều phục, đặt họ vào trong đạo của tam thế Phật không để lay động.

Bồ tát nầy lại nghĩ rằng: chúng sanh thế gian chẳng biết ân báo, lại thù oán nhau, tà kiến chấp trước, mê lầm điên đảo, ngu si vô trí, không có tín tâm, theo bọn ác sanh niệm ác, tham ái vô minh các thứ phiền não đều đầy dẫy, chính nơi đây là chỗ tôi tu Bồ tát hạnh. Giả sử đầy cả thế gian nầy đều là người biết ân nghĩa, thông minh trí huệ và thiện tri thức, thì tôi không thực hành Bồ tát hạnh trong đó. Tại sao vậy? Vì đối với chúng sanh, tôi trọn không mong không cầu gì cả. Tôi tu Bồ tát hạnh tận vị lai kiếp, chưa từng có một niệm vị kỷ. Tôi chỉ muốn độ thoát chúng sanh, khiến họ thanh tịnh đặng giải thoát vĩnh viễn. Vì tôi là nhà dìu dắt sáng suốt của chúng sanh, thì theo phép, phải không chấp lấy, không mong cầu, chỉ vì chúng sanh mà tu đạo Bồ tát khiến họ đặng đến nơi bờ an ổn kia và thành Vô thượng Bồ đề.

Ðây gọi là Bồ tát Nan Đắc hạnh thứ tám.

Những gì là Bồ tát Thiện Pháp hạnh?

Bồ tát nầy vì tất cả thế gian: trời, người, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn, Càn thát bà… mà làm ao pháp thanh lương, nhiếp trì chánh pháp, chẳng dứt Phật chủng. Vì đặng thanh tịnh quang minh đà la ni nên thuyết pháp thọ ký biện tài vô tận. Vì đặng cụ túc nghĩa đà la ni nên nghĩa biện vô tận. Vì đặng giác ngộ thiệt pháp đà la ni nên pháp biện vô tận. Vì đặng huấn thích ngôn từ đà la ni nên từ biện vô tận. Vì đặng vô biên văn cú, vô tận nghĩa vô ngại môn đà la ni nên vô ngại biện vô tận. Vì đặng Phật quán đảnh đà la ni nên hoan hỷ biện vô tận. Vì đặng bất do tha ngộ đà la ni môn nên quang minh biện vô tận. Vì đặng đồng biện đà la ni môn nên đồng biện vô tận. Vì đặng chủng chủng nghĩa thân, cú thân, văn thân huấn thích đà la ni môn nên huấn thích biện vô tận. Vì đặng vô biên đà la ni nên vô biên biện vô tận.

Bồ tát nầy tâm đại bi kiên cố nhiếp khắp chúng sanh, nơi Đại thiên thế giới, biến ra thân kim sắc mà làm Phật sự. Tùy theo căn tánh và sở thích của các chúng sanh, dùng lưỡi rộng dài, trong một tiếng hiện vô lượng tiếng, đúng theo thời nghi mà thuyết pháp làm cho chúng sanh đều hoan hỷ.

Giả sử có bất khả thuyết nghiệp báo vô số chúng sanh đồng họp chung một chỗ, hội đó rộng lớn khắp bất khả thuyết thế giới, Bồ tát nầy ngồi trong chúng hội ấy. Chúng sanh trong hội trường đó, mỗi mỗi đều có vô số miệng, mỗi miệng nói ra trăm ngàn ức na do tha tiếng, đồng thời nói, lời lẽ đều khác nhau, câu hỏi khác nhau, Bồ tát nầy liền trong một niệm đều có thể nhận hiểu và giải đáp tất cả, khiến họ đều hết nghi lầm. Như trong một đại hội trên đây, trong bất khả thuyết hội cũng đều như vậy cả.

Lại giả sử nơi đầu một sợi lông, trong mỗi niệm xuất hiện bất khả thuyết bất khả thuyết đạo tràng chúng hội, bất khả thuyết bất khả thuyết đầu sợi lông đều như vậy đến tận vị lai kiếp, số kiếp đó có thể tận, chúng hội vô tận. Những chúng hội nầy, trong mỗi niệm dùng ngôn từ riêng biệt, gạn hỏi riêng biệt. Bồ tát nầy trong một niệm có thể nhận biết cả, không sợ không khiếp, không nghi không lầm mà nghĩ rằng: dầu tất cả chúng sanh đồng thời đến hỏi tôi, tôi sẽ vì họ mà thuyết pháp không dứt không cùng, khiến họ đều vui mừng trụ nơi thiện đạo, lại khiến họ khéo hiểu tất cả ngôn từ.

Bồ tát nầy có thể thuyết các pháp cho chúng sanh mà nơi ngữ ngôn vẫn không phân biệt. Giả sử bất khả thuyết bất khả thuyết các thứ ngôn từ đồng thời vấn nạn, Bồ tát nầy trong một niệm nhận đặng cả, một tiếng đều đáp cả, đều khiến tỏ ngộ không sót, vì đã đặng Nhứt thiết trí quán đảnh vậy, vì đặng vô ngại tạng vậy, vì đặng nhứt thiết pháp viên mãn quang minh vậy, vì đầy đủ Nhứt thiết trí trí vậy.

Bồ tát nầy an trụ Thiện Pháp hạnh rồi thì có thể tự thanh tịnh, cũng có thể dùng phương tiện vô sở trước mà lợi ích khắp tất cả chúng sanh, chẳng thấy có chúng sanh đặng giải thoát.

Như tại Đại thiên thế giới nầy như vầy, ở bất
khả thuyết Đại thiên thế giới biến thân kim sắc, diệu âm đầy đủ, tự tại thực hành Phật sự không bị chướng ngại.

Bồ tát nầy thành tựu mười thứ thân: đó là thân chẳng phải các loài vào vô biên pháp giới, vì diệt tất cả thế gian; thân các loài vào vô biên pháp giới, vì sanh tất cả thế gian; thân bất sanh vì trụ pháp vô sanh bình đẳng; thân bất diệt vì tất cả diệt, ngôn ngữ không thể đặng; thân chẳng thiệt vì đặng như thiệt; thân chẳng vọng vì tùy nghi ứng hiện; thân chẳng dời vì chết đây sanh kia; thân chẳng hoại vì pháp giới tánh không hoại; thân một tướng vì ba thời ngữ ngôn đã dứt; thân vô tướng vì khéo có thể quan sát pháp tướng.

Bồ tát nầy thành tựu mười thứ thân như vậy, là nhà của tất cả chúng sanh vì thêm lớn các thiện căn; là chỗ cứu của tất cả chúng sanh vì khiến họ rất đặng an ổn; là chỗ về của tất cả chúng sanh vì làm chỗ y tựa lớn cho họ; là nhà dìu dắt của tất cả chúng sanh vì khiến họ đặng vô thượng giải thoát; là thầy của tất cả chúng sanh vì khiến họ vào pháp chơn thiệt; là ngọn đèn của tất cả chúng sanh vì khiến họ thấy rõ nghiệp báo; là ánh sáng của tất cả chúng sanh vì khiến họ soi rõ diệu pháp thậm thâm; là ngọn đuốc của tất cả tam thế vì khiến họ hiểu ngộ thiệt pháp; là soi sáng tất cả thế gian vì khiến họ vào trong bực quang minh; là ánh sáng của tất cả các loài vì thị hiện Như Lai tự tại.

Ðây gọi là Bồ tát Thiện Pháp hạnh thứ chín. Bồ tát an trụ hạnh nầy làm ao pháp mát mẻ cho tất cả chúng sanh, vì có thể cùng tận nguồn tất cả Phật pháp.

Những gì là Bồ tát Chơn Thiệt hạnh?

Bồ tát nầy thành tựu lời chắc thiệt đệ nhứt, có thể làm đúng như lời, có thể nói đúng như làm.

Bồ tát nầy học chơn thiệt ngữ của tam thế chư Phật, nhập chủng tánh của tam thế chư Phật, đồng thiện căn với tam thế chư Phật, đặng lời vô nhị của tam thế chư Phật, theo Như Lai học thành tựu trí huệ.

Bồ tát nầy thành tựu trí biết chúng sanh thị xứ phi xứ, trí biết tam thế nghiệp báo, trí biết các căn tánh lợi độn, trí biết các thế giới, trí biết các tri giải, trí biết tất cả đạo chỗ đến, trí biết các thiền tam muội giải thoát cấu tịnh khởi phải thời hay phi thời, trí biết tất cả thế giới túc trụ tùy niệm, trí thiên nhãn, trí lậu tận, mà chẳng rời tất cả Bồ tát hạnh. Tại sao vậy? Vì muốn giáo hóa tất cả chúng sanh đều khiến thanh tịnh.

Bồ tát nầy lại sanh tâm tăng thượng như vầy: nếu tôi chẳng làm cho tất cả chúng sanh trụ nơi đạo vô thượng giải thoát, mà tôi trước thành Vô thượng Bồ đề thì trái bổn nguyện của tôi, không nên như vậy. Vì thế nên tôi phải làm cho tất cả chúng sanh trước đặng Vô Thượng Bồ đề, vô dư Niết bàn rồi sau tôi sẽ thành Phật. Vì chẳng phải chúng sanh thỉnh tôi phát tâm, tôi tự vì chúng sanh mà làm bạn chẳng chờ thỉnh, muốn khiến tất cả chúng sanh trước đầy đủ căn lành chứng Nhứt thiết trí. Do đây nên tôi là tối thắng vì chẳng nhiễm trước thế gian, là tối thượng vì trụ bực vô thượng điều ngự, là rời mù lòa vì hiểu chúng sanh không ngằn mé, tôi làm đã xong vì thành tựu bổn nguyện, tôi là Bồ tát khéo biến hóa vì công đức trang nghiêm, tôi là khéo nương tựa vì đặng tam thế chư Phật nhiếp thọ.

Vì Bồ tát nầy không rời bỏ bổn nguyện nên đặng vào bực Vô thượng trí huệ trang nghiêm, lợi ích chúng sanh khiến đều đầy đủ, tùy bổn nguyện đều đặng rốt ráo, với tất cả pháp đặng trí huệ tự tại, khiến tất cả chúng sanh khắp đặng thanh tịnh, niệm niệm đi khắp thập phương thế giới, niệm niệm đến khắp bất khả thuyết bất khả thuyết Phật độ, niệm niệm đều thấy bất khả thuyết bất khả thuyết chư Phật và Phật độ trang nghiêm thanh tịnh, thị hiện Như Lai tự tại thần lực khắp pháp giới hư không giới.

Bồ tát nầy hiện vô lượng thân vào khắp thế gian mà không sở y. Ở trong thân mình hiện tất cả cõi, tất cả chúng sanh, tất cả pháp, tất cả Phật.

Bồ tát nầy biết chúng sanh: các thứ tưởng niệm, các thứ ưa muốn, các thứ hiểu biết, các thứ nghiệp báo, các thứ thiện căn, tùy cơ nghi mà hiện thân để điều phục họ.

Bồ tát nầy quán sát chư Bồ tát như huyễn, tất cả pháp như hóa, Phật xuất thế như bóng, tất cả thế gian như giấc mơ, đặng nghĩa thân, văn thân vô tận tạng, chánh niệm tự tại, trí huệ tối thắng quyết định rõ biết tất cả các pháp, nhập tất cả tam muội chơn thiệt tánh, trụ nơi nhứt tánh không hai.

Vì chúng sanh đều chấp trước nơi hai, nên Bồ tát nầy an trụ nơi đại bi tu hành pháp tịch diệt như vậy, đặng Phật thập lực, nhập nhơn đà la võng pháp giới, thành tựu Như Lai vô ngại giải thoát, hùng mãnh trong loài người, đại sư tử hống, đặng vô úy chuyển pháp luân vô ngại thanh tịnh, đặng trí huệ giải thoát rõ biết tất cả cảnh giới thế gian, tuyệt dứt dòng sanh tử, vào biển lớn trí huệ, vì tất cả chúng sanh mà hộ trì chánh pháp của tam thế Phật, đến tột đáy nguồn thiệt tướng của biển lớn Phật pháp.

Bồ tát trụ nơi Chơn thiệt hạnh nầy rồi, tất cả
thế gian: trời, người, Ma, Phạm, Sa môn, Bà la môn, Càn thát bà, A tu la v.v… có ai gần gũi, thì đều làm cho đặng tỏ ngộ, hoan hỷ thanh tịnh.

Ðây gọi là Bồ tát Chơn thiệt hạnh thứ mười.

Lúc bấy giờ, do thần lực của đức Phật, mười phương đều có Phật sát vi trần số thế giới chấn động sáu cách. Khắp nơi, trời rưới Thiên hoa, Thiên hương, Thiên tràng hoa, Thiên y, Thiên bửu, Thiên trang nghiêm cụ, tấu Thiên nhạc, phóng Thiên quang minh, diễn xướng âm thanh vi diệu của chư Thiên. Thập phương thế giới đều như vậy cả.

Lại do thần lực của đức Phật, mười phương hơn mười vạn Phật sát vi trần số thế giới, có mười vạn Phật sát vi trần số Bồ tát câu hội, đồng nói với Công Ðức Lâm Bồ tát rằng:

Lành thay Phật tử! Ngài khéo diễn nói các hạnh Bồ tát. Chúng tôi đồng hiệu Công Ðức Lâm cả, thế giới của chúng tôi ở đồng hiệu Công Ðức Tràng, chư Như Lai ở cõi chúng tôi đồng hiệu Phổ Công Ðức cũng nói pháp nầy. Chúng hội, quyến thuộc, ngôn từ, nghĩa lý cũng đều như nơi đây, không có tăng giảm.

Thưa Phật tử! Thừa oai lực của Phật, chúng tôi đến đây để chứng minh cho Ngài.

Công Ðức Lâm Bồ tát thừa thần lực của đức Phật quan sát khắp mười phương tất cả chúng hội, cùng tận pháp giới, vì muốn Phật chủng chẳng dứt, vì muốn chủng tánh Bồ tát thanh tịnh, vì muốn nguyện chủng tánh chẳng thối chuyển, vì muốn hạnh chủng tánh thường tương tục, vì muốn tam thế chủng tánh đều bình đẳng, vì muốn nhiếp tam thế tất cả Phật chủng, vì muốn khai diễn những thiện căn của mình vun trồng, vì muốn quan sát tất cả căn tánh, vì muốn hiểu phiền não, tập khí, tâm hành chỗ làm, vì muốn soi rõ Phật Bồ đề, nên nói kệ rằng:

Nhứt tâm kính lễ đấng Thập Lực

Ly cấu thanh tịnh thấy vô ngại

Cảnh giới sâu xa không ngang sánh

Trụ ở trong đạo như hư không.

Quá khứ, đấng Tối Thắng trong người

Công đức vô lượng không sở trước

Dũng mãnh đệ nhứt không sánh bằng

Bực Ly Trần kia hành đạo nầy.

Hiện tại thập phương các quốc độ

Hay khéo khai diễn đệ nhứt nghĩa

Lìa những lỗi ác rất thanh tịnh

Bực Vô Y kia làm đạo nầy.

Vị lai bao nhiêu đấng Nhơn Sư

Du hành cùng khắp trong pháp giới

Ðã phát tâm đại bi của Phật

Bực Nhiêu Ích kia hành đạo nầy.

Tam thế tất cả đấng vô tỷ

Tự nhiên trừ diệt ngu si tối

Nơi tất cả pháp đều bình đẳng

Bực Đại Lực kia hành đạo nầy.

Thấy khắp vô lượng vô biên cõi

Tất cả các cõi và các loài

Thấy rồi nơi tâm không phân biệt

Bực Vô Động kia hành đạo nầy.

Tất cả pháp giới đều sáng tỏ

Nơi đệ nhứt nghĩa rất thanh tịnh

Trọn phá sân mạn và ngu si

Bực Công Đức kia hành đạo nầy.

Nơi các chúng sanh khéo phân biệt

Ðều vào tánh pháp giới chơn thiệt

Tự nhiên giác ngộ chẳng do người

Bực Đẳng Không kia hành đạo nầy.

Khắp hư không bao nhiêu quốc độ

Ðều đến thuyết pháp rộng khai dụ

Lời nói thanh tịnh không bị hoại

Bực Thắng Mâu Ni hành đạo nầy.

Trọn vẹn bền chắc không thối chuyển

Thành tựu tôn trọng pháp tối thắng

Nguyện lực vô tận đến bờ kia

Bực Thiện Tu kia hành đạo nầy.

Vô lượng vô biên tất cả bực

Cảnh giới quảng đại rất sâu diệu

Ðều thấy biết đặng chẳng còn sót

Bực Nhơn Sư kia hành đạo nầy.

Tất cả cú nghĩa đều sáng rõ

Bao nhiêu dị luận đều xô dẹp

Nơi pháp quyết định không chỗ nghi

Bực Đại Mâu Ni hành đạo nầy.

Xa lìa thế gian những lỗi họa

Cho khắp chúng sanh vui an ổn

Hay làm vô đẳng đại đạo sư

Bực Thắng Đức kia hành đạo nầy.

Luôn đem vô úy ban chúng sanh

Khiến khắp tất cả đều vui thích

Lòng họ thanh tịnh lìa nhiễm trược

Bực Vô Đẳng kia hành đạo nầy.

Ý nghiệp thanh tịnh rất điều thiện

Rời những hý luận miệng không lỗi

Oai quang viên mãn chúng tôn kính

Bực Tối Thắng kia hành đạo nầy.

Vào chơn thiệt nghĩa đến bờ kia

Trụ nơi công đức lòng tịch tịnh

Chư Phật hộ niệm luôn chẳng quên

Bực Diệt Hữu kia hành đạo nầy.

Xa lìa chấp ngã không não hại

Luôn dùng đại âm tuyên chánh pháp

Thập phương quốc độ đều cùng khắp

Bực Tuyệt Ví Dụ hành đạo nầy.

Ðàn ba la mật đã hoàn thành

Trăm phước tướng hảo dùng trang nghiêm

Chúng sanh nhìn thấy đều vui đẹp

Bực Huệ Tối Thắng hành đạo nầy.

Trí địa rất sâu khó vào đặng

Hay dùng diệu huệ khéo an trụ

Tâm đó rốt ráo chẳng dao động

Bực Kiên Cố Hạnh hành đạo nầy.

Tất cả pháp giới đều vào đặng

Tùy nơi chỗ vào đều rốt ráo

Thần thông tự tại gồm tất cả

Bực Pháp Quang Minh hành đạo nầy.

Ðấng Vô Đẳng Đẳng Đại Mâu Ni

Siêng tu tam muội không hai tướng

Tâm thường tại định thích tịch tịnh

Bực Phổ Kiến kia hành đạo nầy.

Quốc độ vi tế cùng quảng đại

Thiệp nhập lẫn nhau đều sai khác

Như cảnh giới kia đều biết rõ

Bực Trí Sơn Vương hành đạo nầy.

Ý luôn sáng sạch lìa nhơ bợn

Ở trong ba cõi không tham chấp

Hộ trì giới hạnh đến bờ kia

Bực Tịnh Tâm đây hành đạo nầy.

Trí huệ vô biên không nói đặng

Cùng khắp pháp giới hư không giới

Khéo hay tu học trụ trong đó

Bực Kim Cang Huệ hành đạo nầy.

Cảnh giới tam thế tất cả Phật

Trí huệ khéo vào đều cùng khắp

Chưa từng tạm khởi lòng nhàm mỏi

Bực Tối Thắng kia hành đạo nầy.

Hay khéo phân biệt pháp thập lực

Rõ biết tất cả chỗ đạo đến

Thân nghiệp vô ngại đặng tự tại

Bực Công Đức Thân hành đạo nầy.

Thập phương vô lượng vô biên cõi

Chỗ có tất cả các chúng sanh

Tôi đều cứu hộ mà chẳng bỏ

Bực Vô Úy kia hành đạo nầy.

Nơi những Phật pháp siêng tu học

Lòng luôn tinh tấn chẳng lười mỏi

Sửa trị tất cả các thế gian

Bực Đại Long Vương hành đạo nầy.

Rõ biết chúng sanh căn chẳng đồng

Muốn, hiểu vô lượng riêng sai khác

Các loài các cõi đều thấu tỏ

Bực Phổ Nhập kia hành đạo nầy

Thập phương thế giới vô lượng cõi

Ðều đến thọ sanh không số lượng

Chưa từng một niệm sanh mỏi nhàm

Bực Hoan Hỷ kia hành đạo nầy.

Khắp phóng vô lượng lưới quang minh

Soi sáng vô lượng các thế gian

Quang minh chiếu đến vào pháp tánh

Bực Thiện Huệ kia hành đạo nầy.

Chấn động mười phương các quốc độ

Vô lượng ức số na do tha

Chẳng để chúng sanh có kinh sợ

Bực Lợi Thế kia hành đạo nầy.

Khéo hiểu tất cả các ngữ ngôn

Vấn nạn đối đáp đều rốt ráo

Thông triết biện huệ đều biết cả

Bực Vô Úy kia hành đạo nầy.

Khéo biết các cõi ngửa hoặc úp

Phân biệt tư duy đều rốt ráo

Ðều khiến trụ nơi chỗ vô tận

Bực Thắng Huệ kia hành đạo nầy.

Công đức vô lượng na do tha

Vì cầu Phật đạo đều tu tập

Tất cả đều đặng đến bờ kia

Bực Vô Tận Hạnh hành đạo nầy.

Vượt hơn đại luận sư thế gian

Biện tài đệ nhứt sư tử hống

Khiến khắp quần sanh đến bờ kia

Ðây bực Tịnh Tâm hành đạo nầy.

Chư Phật quán đảnh pháp đệ nhứt

Ðã đặng pháp nầy rưới trên đảnh

Tâm luôn an trụ môn chánh pháp

Bực Quảng Đại Tâm hành đạo nầy.

Tất cả chúng sanh khác vô lượng

Rõ thấu tâm họ đều cùng khắp

Quyết định hộ trì Phật pháp tạng

Bực Như Tu Di hành đạo nầy.

Có thể ở trong mỗi ngữ ngôn

Khắp vì thị hiện vô lượng tiếng

Khiến chúng theo loài đều đặng hiểu

Bực Vô Ngại Kiến hành đạo nầy.

Tất cả pháp, văn tự ngữ ngôn

Trí đều khéo vào chẳng phân biệt

Trụ trong các cảnh giới chơn thiệt

Bực Kiến Tánh kia hành đạo nầy.

An trụ biển pháp rất sâu lớn

Khéo hay ấn định tất cả pháp

Rõ môn vô tướng chơn thiệt pháp

Bực Thấy Thiệt kia hành đạo nầy.

Mỗi mỗi Phật độ đều qua đến

Tận cả vô lượng vô biên kiếp

Quan sát tư duy chẳng tạm dừng

Bực Chẳng Trễ Lười hành đạo nầy.

Vô lượng vô số chư Như Lai

Các thứ danh hiệu đều chẳng đồng

Nơi một đầu lông đều thấy rõ

Bực Tịnh Phước kia hành đạo nầy.

Nơi một đầu lông thấy chư Phật

Số đó vô lượng bất khả thuyết

Tất cả pháp giới đều cũng vậy

Chư Phật tử kia hành đạo nầy.

Vô lượng vô biên vô số kiếp

Ở trong một niệm đều thấy rõ

Biết thời dài ngắn tướng bất định

Bực Hạnh Giải Thoát hành đạo nầy.

Hay khiến người thấy không luống qua

Ðều nơi Phật pháp gieo nhơn duyên

Mà nơi sở tác lòng không chấp

Bực Tối Thắng kia hành đạo nầy.

Na do tha kiếp thường gặp Phật

Trọn chẳng một niệm sanh mỏi nhàm

Tâm hoan hỷ đó càng thêm lớn

Bực Bất Không Kiến hành đạo nầy.

Tận cả vô lượng vô biên kiếp

Quán sát tất cả chúng sanh giới

Chưa từng thấy có một chúng sanh

Ðây bực Kiên Cố hành đạo nầy.

Tu tập vô biên tạng phước trí

Khắp làm ao công đức thanh lương

Lợi ích tất cả các quần sanh

Bực Đệ Nhứt kia hành đạo nầy.

Pháp giới chỗ có các phẩm loại

Cùng khắp hư không vô số lượng

Rõ kia đều nương ngôn thuyết có

Bực Sư Tử Hống hành đạo nầy.

Có thể trong mỗi mỗi tam muội

Vào khắp vô số các tam muội

Ðều đến pháp môn chỗ kín nhiệm

Ðây bực Luận Nguyệt hành đạo nầy.

Nhẫn lực siêng tu đến bờ kia

Hay nhẫn pháp tịch diệt tối thắng

Tâm đó bình đẳng chẳng dao động

Bực Vô Biên Trí hành đạo nầy.

Nơi một thế giới một chỗ ngồi

Thân Phật chẳng đồng luôn yên lặng

Mà tất cả chỗ đều hiện thân

Bực Vô Biên Thân hành đạo nầy.

Vô lượng vô biên các quốc độ

Ðều khiến đồng vào trong một trần

Khắp đặng bao dung không chướng ngại

Bực Vô Biên Tư hành đạo nầy.

Thấu rõ thị xứ và phi xứ

Nơi những lực xứ khắp vào đặng

Thành tựu thượng lực của Như Lai

Bực Đệ Nhứt Lực hành đạo nầy.

Quá khứ vị lai và hiện tại

Vô lượng vô biên các nghiệp báo

Thường dùng trí huệ đều rõ biết

Bực Thông Đạt kia hành đạo nầy.

Rõ thấu thế gian thời, phi thời

Tùy nghi điều phục các chúng sanh

Ðều thuận căn cơ chẳng lầm lỗi

Bực Thiện Liễu kia hành đạo nầy.

Khéo gìn thân ngữ và ý nghiệp

Luôn khiến y pháp mà tu hành

Lìa những chấp trước phục chúng ma

Bực Trí Tâm kia hành đạo nầy.

Ở trong các pháp đặng thiện xảo

Hay vào chơn như chỗ bình đẳng

Biện tài tuyên nói không cùng tận

Ðây bực Phật Hạnh hành đạo nầy.

Môn đà la ni đã viên mãn

Khéo hay an trụ tạng vô ngại

Nơi các pháp giới đều thông đạt

Bực Thâm Nhập kia hành đạo nầy.

Tam thế chỗ có tất cả Phật

Tâm đều bình đẳng đồng trí huệ

Một tánh một tướng không sai khác

Bực Vô Ngại Chủng hành đạo nầy.

Ðã vạch tất cả màn ngu si

Thâm nhập biển trí huệ rộng lớn

Thí khắp chúng sanh mắt thanh tịnh

Bực Hữu Mục kia hành đạo nầy.

Ðã đủ tất cả các Đạo Sư

Bình đẳng thần thông hạnh vô nhị

Ðược sức tự tại của Như Lai

Ðây bực Thiện Tu hành đạo nầy.

Ði khắp tất cả các thế gian

Khắp rưới vô biên mưa diệu pháp

Ðều khiến nơi nghĩa đặng hiểu chắc

Bực Pháp Vân kia hành đạo nầy.

Ðược nơi Phật trí và giải thoát

Tin sâu thanh tịnh trọn chẳng thối

Do tin hay sanh gốc trí huệ

Ðây bực Thiện Học hành đạo nầy.

Hay nơi một niệm đều rõ biết

Tất cả chúng sanh không thừa sót

Rõ tâm tự tánh của chúng sanh

Bực Đạt Vô Tánh hành đạo nầy.

Pháp giới tất cả các quốc độ

Hóa vô số thân đều qua đến

Thân đó tối diệu không gì sánh

Bực Vô Tỷ Hạnh hành đạo nầy.

Phật sát vô biên vô lượng số

Vô lượng chư Phật ngự trong đó

Bồ tát nơi kia đều hiện tiền

Gần gũi cúng dường và tôn trọng.

Bồ tát hay dùng riêng một thân

Nhập trong tam muội mà tịch định

Khiến thấy thân mình vô hạn số

Mỗi mỗi đều từ tam muội dậy.

Chỗ Bồ tát trụ rất vi diệu

Sở hành sở tác vượt hý luận

Trong tâm thanh tịnh thường vui thích

Hay khiến chúng sanh đều vui mừng.

Căn tánh phương tiện đều sai biệt

Hay dùng trí huệ thấy rõ cả

Mà rõ căn tánh không sở y

Bực Điều Nan Điều hành đạo nầy.

Hay dùng phương tiện khéo phân biệt

Nơi tất cả pháp đặng tự tại

Thập phương thế giới đều chẳng đồng

Ðều ở trong đó làm Phật sự.

Căn tánh vi diệu hạnh cũng vậy

Hay vì chúng sanh rộng thuyết pháp

Người đặng nghe ai chẳng vui mừng

Bực Đẳng Hư Không hành đạo nầy.

Trí nhãn thanh tịnh không ai bằng

Nơi tất cả pháp đều thấy rõ

Trí huệ như vậy khéo phân biệt

Ðây bực Vô Đẳng hành đạo nầy.

Chỗ có vô tận phước rộng lớn

Tất cả tu hành khiến rốt ráo

Khiến các chúng sanh đều thanh tịnh

Ðây bực Vô Tỷ hành đạo nầy.

Khuyên khắp tu thành pháp trợ đạo

Ðều khiến đặng trụ nơi phương tiện

Ðộ thoát chúng sanh vô hạn số

Chưa từng tạm khởi tưởng chúng sanh.

Tất cả cơ duyên đều quan sát

Trước hộ lòng họ khiến vô tránh

Khắp dạy chúng sanh chỗ an ổn

Ðây bực Phương Tiện hành đạo nầy.

Thành tựu trí tối thượng đệ nhứt

Ðầy đủ vô lượng vô biên trí

Ở trong tứ chúng vô sở úy

Ðây bực Phương Tiện hành đạo nầy.

Tất cả thế giới và các pháp

Ðều hay vào khắp đặng tự tại

Cũng vào trong tất cả chúng hội

Ðộ thoát chúng sanh vô hạn số.

Mười phương trong tất cả quốc độ

Ðánh trống pháp lớn ngộ quần sanh

Làm chủ thí pháp rất vô thượng

Ðây bực Bất Diệt hành đạo nầy.

Một thân kiết già ngồi ngay thẳng

Ðầy khắp mười phương vô lượng cõi

Mà khiến thân đó không chật hẹp

Ðây bực Pháp Thân hành đạo nầy.

Có thể trong một nghĩa, một chữ

Diễn thuyết vô lượng vô biên pháp

Mà nơi ngằn mé vẫn không cùng

Bực Vô Biên Trí hành đạo nầy.

Giải thoát của Phật khéo tu học

Ðược Phật trí huệ không chướng ngại

Thành tựu vô úy làm thế hùng

Ðây bực Phương Tiện hành đạo nầy.

Rõ biết mười phương thế giới hải

Cũng biết tất cả Phật sát hải

Trí hải pháp hải đều rõ biết

Chúng sanh đặng thấy đều vui thích.

Hoặc hiện nhập thai và sơ sinh

Hoặc hiện đạo tràng thành Chánh giác

Như vậy đều khiến thế gian thấy

Ðây bực Vô Biên hành đạo nầy.

Trong vô lượng ức số quốc độ

Thị hiện thân mình nhập Niết bàn

Thiệt chẳng bỏ nguyện quy tịch diệt

Ðây bực Hùng Luận hành đạo nầy.

Một diệu thân kiên cố vi mật

Cùng Phật bình đẳng không sai khác

Tùy các chúng sanh đều thấy khác

Bực Một Thân Thiệt hành đạo nầy.

Pháp giới bình đẳng không sai khác

Ðầy đủ vô lượng vô biên nghĩa

Thích quán một tướng tâm không dời

Bực Tam Thế Trí hành đạo nầy.

Nơi các chúng sanh và Phật pháp

Kiến lập gia trì trọn rốt ráo

Những sức gia trì đồng với Phật

Bực Tối Thượng Trì hành đạo nầy.

Thần túc vô ngại dường như Phật

Thiên nhãn vô ngại rất thanh tịnh

Nhĩ căn thanh tịnh khéo lóng nghe

Bực Vô Ngại Ý hành đạo nầy.

Bao nhiêu thần thông đều đầy đủ

Tùy trí huệ kia trọn thành tựu

Khéo biết tất cả chẳng ai bằng

Ðây bực Hiền Trí hành đạo nầy.

Nơi tâm chánh định chẳng dao động

Nơi trí quảng đại không biên tế

Bao nhiêu cảnh giới đều thấu tỏ

Bực Nhứt Thiết Kiến hành đạo nầy.

Ðã đến bờ tất cả công đức

Hay theo thứ đệ độ chúng sanh

Nơi tâm rốt ráo không nhàm đủ

Bực Thường Tinh Tấn hành đạo nầy.

Tam thế chỗ có những Phật pháp

Tất cả nơi đây đều biết thấy

Từ nơi Phật tánh mà sanh ra

Các Phật tử kia hành đạo nầy.

Tùy thuận ngôn từ đã thành tựu

Các phái dị luận khéo khuất phục

Thường hay hướng đến Phật Bồ đề

Bực Vô Biên Huệ hành đạo nầy.

Phóng một quang minh chiếu vô tận

Thập phương quốc độ đều cùng khắp

Khiến khắp thế gian đặng sáng rõ

Ðây Bực Phá Ám hành đạo nầy.

Tùy kia đáng thấy đáng cúng dường

Vì hiện Như Lai thân thanh tịnh

Giáo hóa chúng sanh trăm ngàn ức

Trang nghiêm Phật sát cũng như vậy.

Vì khiến chúng sanh xuất thế gian

Tất cả diệu hạnh đều tu tập

Hạnh nầy rộng lớn không ngằn mé

Thế nào mà có người biết đặng.

Giả sử phân thân bất khả thuyết

Ðồng với pháp giới đồng hư không

Ðều đồng ca ngợi công đức kia

Trăm ngàn muôn kiếp không hết đặng.

Công đức Bồ tát vô lượng biên

Tất cả tu hành đều đầy đủ

Giả sử vô lượng vô biên Phật

Trong vô lượng kiếp nói chẳng hết.

Huống là thế gian trời và người

Tất cả Thanh văn cùng Duyên giác

Có thể vô lượng vô biên kiếp

Ca ngợi tuyên dương rốt ráo đặng!

*


MỤC LỤC

Ban chứng minh....................................................................................................... 5

Ban cố vấn................................................................................................................. 7

Ban biên tập - Ban thực hiện................................................................................... 9

Tán dương công đức............................................................................................... 11

Lời khải bạch.......................................................................................................... 13

Tiểu sử HT. Thích Trí Tịnh................................................................................... 17

  • § PHẨM THẾ CHỦ DIỆU NGHIÊM THỨ NHỨT........................................... 31
  • § PHẨM NHƯ LAI HIỆN TƯỚNG THỨ HAI................................................ 199
  • § PHẨM PHỔ HIỀN TAM MUỘI THỨ BA.................................................... 241
  • § PHẨM THẾ GIỚI THÀNH TỰU THỨ TƯ.................................................. 251
  • § PHẨM HOA TẠNG THẾ GIỚI THỨ NĂM................................................. 283
  • § PHẨM TỲ LÔ GIÁ NA THỨ SÁU................................................................. 379
  • § PHẨM NHƯ LAI DANH HIỆU THỨ BẢY................................................... 407
  • § PHẨM TỨ THÁNH ĐẾ THỨ TÁM............................................................... 421
  • § PHẨM QUANG MINH GIÁC THỨ CHÍN................................................... 433
  • § PHẨM BỒ TÁT VẤN MINH THỨ MƯỜI.................................................... 457
  • § PHẨM TỊNH HẠNH THỨ MƯỜI MỘT....................................................... 481
  • § PHẨM HIỀN THỦ THỨ MƯỜI HAI............................................................ 497
  • § PHẨM THĂNG TU DI SƠN ĐẢNH THỨ MƯỜI BA.................................. 559
  • § PHẨM TU DI ĐẢNH KỆ TÁN THỨ MƯỜI BỐN....................................... 563
  • § PHẨM THẬP TRỤ THỨ MƯỜI LĂM.......................................................... 583
  • § PHẨM PHẠM HẠNH THỨ MƯỜI SÁU...................................................... 613
  • § PHẨM SƠ PHÁT TÂM CÔNG ĐỨC THỨ MƯỜI BẢY............................. 617
  • § PHẨM MINH PHÁP THỨ MƯỜI TÁM....................................................... 655
  • § PHẨM THĂNG DẠ MA THIÊN CUNG THỨ MƯỜI CHÍN...................... 679
  • § PHẨM DẠ MA CUNG KỆ TÁN THỨ HAI MƯƠI...................................... 685
  • § PHẨM THẬP HẠNH THỨ HAI MƯƠI MỐT............................................. 705

*



*Hán bộ quyển thứ 1.

*Hán bộ quyển thứ 2.

*Hán bộ quyển 3.

*Hán bộ quyển thứ 4.

*Hán bộ quyển thứ 5.

*Hán bộ quyển 6.

*Hán bộ quyển 7.

*Hán bộ quyển 8

*Hán bộ quyển 9.

*Hán bộ quyển 10.

*Hán bộ quyển thứ 11.

*Hán bộ quyển thứ 12.

*Hán bộ quyển thứ 13.

*Hán bộ quyển thứ 14.

*Hán bộ quyển thứ 15.

*Hán bộ quyển thứ 16.

*Hán bộ quyển thứ 17.

*Hán bộ quyển thứ 18.

*Hán bộ quyển thứ 19.

*Hán bộ quyển thứ 20.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn