Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Tâm Ảnh (sách)

17/10/201307:20(Xem: 12795)
Tâm Ảnh (sách)

HT_Thich_Minh_Tam_Tam_Anh_2


PL. 2553 – DL. 2009

MINH TÂM

Tái bản lần thứ 7 – 2012

Lời Đầu

Là nhân chứng sống động của lịch sử, của dòng đời, ai cũng thế.

Sinh ra giữa cõi trần, có tai phải nghe, có mắt phải thấy, dù muốn nghe, muốn thấy hay không.

Sống, có óc phải suy tư, có miệng phải nói, có chân phải đi, có tay phải làm. Nhưng phải biết nên nghĩ gì, nói gì, đi đâu, làm gì !

Sống, có bạn để tâm sự, có con để trao truyền. Tâm sự chuyện gì, trao truyền cái gì? Tôi tự hỏi và trải lòng ra cho ai muốn thấy tim tôi đang nhảy, phổi tôi đang thở và mỗi tế bào sinh diệt trong bất diệt của chân như. Chỉ xin đừng làm bác sĩ giải phẫu chân dung của tôi, nhưng nếu muốn thì cứ.

Chỉ có thế và mãi mãi tôi mong là thế.

Phật Ân tự, ngày Phật Thành Đạo

08/12 Mậu Tý PL.2552

Thích Trung Phong

(Minh Tâm)


Lời thưa tái bản

Kính bạch Chư Tôn đức Tăng Ni,

Thưa quý Phật tử,

Với tâm ý khi viết những gì trong “Tâm Ảnh” chỉ để tâm sự, khuyên dạy đệ tử, có tính cách gia giáo. Nhưng khi phổ biến (dù rất hạn chế), được quý vị tâm đắc hưởng ứng, điện thư thăm hỏi khuyến khích chân tình, một cảm thông. Có nhiều niềm vui, tác giả xin chân thành niệm ân. Hơn thế, có nhiều vị phát tâm ấn tống vì còn nhiều Tăng Ni trẻ muốn có “Tâm Ảnh” để chia xẻ tâm tình.

Tùy duyên không phụ lòng nhau, nên tái bản và thêm 2 bài Cẩn bạch khi ấn tống Kinh Di Giáo (PL.2548) và bài Pháp Ngữ của Hòa thượng Trung Phong tiền bối để xác định rõ thêm tư tưởng và lập trường.

Xin hồi hướng lên Tam Bảo chứng minh.

Xin sám hối những gì còn thiếu sót hoặc chưa đúng để mong các Ngài tha thứ chỉ giáo.

Vía Phổ Hiền Bồ Tát 21/02 Kỷ Sửu

Minh Tâm


CẨN BẠCH

Mỗi tháng hai lần Bố tác, tụng giới. Thỉnh thoảng tôi đọc kinh Di giáo cho đại chúng nghe. Và mỗi lần tụng, tự bản tâm tôi vô cùng xúc động, vừa cảm nhận ân đức cao cả của đức Từ phụ, vừa thấy xấu hổ, ân hận về những sai phạm trong đời sống tu học của mình, rồi lòng dặn lòng cố gắng đừng tái phạm, đừng chấp ngã, đừng tham đắm, đừng và đừng…

Thế mà, sau đó, trong cuộc sống, va chạm với thực tế, những bất như ý kéo tới, nghịch duyên và vi tế hoặc bủa vây không giữ được chánh niệm, không kiềm chế được bản thân. Tôi lại phạm lỗi, lại si mê, lại phát ngôn bất đáng. Sau đó, một mình tự kiểm, tự thẹn, tự hối, tự trách, tự dằn vặt…

Hôm nay, lần thứ 67, nhớ cái ngày mình ra đời để thọ nghiệp, thọ nhận cái thân tứ đại này, nhờ nó, nương vào nó mà tu, mà học, mà trau dồi giới đức, và thấy cái ngày bỏ nó không xa, vậy để cái gì cho gần 50 đệ tử xuất gia, 2000 đệ tử tại gia và nhiều Pháp lữ, Phật tử thâm tình. Sách vở, tư tưởng, băng giảng tôi viết ư? Không là gì cả. Đạo nghiệp, Trí đức của tôi ư? Lại một con số không! Chùa to Phật lớn ư? Cần mà huyễn. Đất đai, tài sản, ruộng vườn ư? Đều là mộng. Vừa qua, thông tư liên tịch của nhà nước số 1646 ngày 30/10/2000 không cho cơ sở tôn giáo nhận chuyển quyền bất động sản và thông tư số 211 ngày 10/06/2004 của Giáo hội nhà nước tóm thâu chùa chiền đất đai về giáo hội.

Tôi lại âm thầm, hướng lên chư Phật:

Bạch đức Thế tôn,

Đệ tử tự biết, phước mỏng tội dày, chướng thâm huệ thiển, nhờ căn lành nhiều kiếp, hôm nay gặp được Phật pháp, được ăn cơm mặc áo, ở nhà, và thọ ân chư Phật; nhưng chưa xứng đáng là đệ tử của Phật. Vì con còn quá nhiều tham lam, sân hận, si mê, tự nhận làm con của Phật, dù không cố ý con vẫn là kẻ lạm xưng. Con và vài Pháp lữ của con đã nói theo Phật, noi gương Phật, học theo Phật mà hành động thì ngược lại. Thái tử Tất Đạt Đa có tất cả: danh vọng, chức quyền, thê tử, tiền của, nhà cửa mà Ngài bỏ tất cả, để đi tìm con đường giải thoát mà thành Phật. Còn con, Pháp lữ của con, đệ tử của con không có gì cả, vậy mà muốn, mà ôm giữ, mà tranh giành để cho có, có rồi muốn có cho nhiều, lòn cúi cho có, xin xỏ cho có, lừa lọc cho có, có càng nhiều thì càng ôm giữ, càng tham đắm giải thoát làm sao!

Bạch đức Thế tôn,

Ở đời, Cha Mẹ di chúc ý nguyện của mình cho con cháu. Trong chùa, Thầy Tổ di huấn cho đệ tử. Con cũng muốn di huấn cho đệ tử của con. Nhưng, Trí của con thì kém, Đức của con thì mọn, Tài của con thì thiếu nên con không có gì để lại. Con xin đức Thế tôn cho con in lại lời Giáo huấn tối hậu vắn tắt của Phật, do Ân Sư của con dịch từ Hán tạng và lời cảnh sách của Tổ Quy Sơn. Vì con nghĩ, chỉ có lời của Phật, của Tổ mới cảnh tỉnh được nhân tâm, chứ bất cứ ai con thấy không hiệu quả. Và đó cũng là cách “Báo Phật Ân Đức”.

(

Thưa các bậc cao minh, các Pháp lữ, các bậc thức giả, cùng các đệ tử xuất gia, nhất là các pháp hữu Tăng Ni trẻ:

Khi những dòng cẩn bạch và quyển kinh con ấn tống này đến tay quý vị, xin các Ngài hãy đọc, tụng với tâm niệm chí thành, hành trì tinh tấn. Con tin rằng Tăng Đoàn sẽ thanh tịnh, Phật Pháp sẽ xương minh, và đạo nghiệp các Ngài sẽ thành tựu và từ đó mà lợi lạc quần sinh. Xin cùng nhau chắp tay tha thiết tụng Tứ Hoằng Thệ Nguyện:

Chúng sanh vô biên thề nguyện độ

Phiền não vô tận thề nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học

Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành

Cẩn bạch

Phật Ân tự, ngày Phật Thành Đạo

08/12 – PL.2548

Thích Trung Phong


Trích Nguyên Phong số 2

PL. 2543

Niệm con,

Bao đêm rồi, trằn trọc với nhiều ý nghĩ, có nên viết và gởi cho con những dòng chữ này không, vì thầy biết, những suy nghĩ của thầy không phải là những ý nghĩ của con, hai lứa tuổi, hai thế hệ khác nhau, sinh ra giữa hai hoàn cảnh khác nhau, đi tu giữa hai thời đại khác nhau và đôi lúc về nhận thức và mục đích xuất gia cũng có điểm khác nhau nữa, do đó mà trong quan niệm, trong lối sống cũng có nhiều điểm khác nhau, vậy thì làm sao có thể… Nói như thế không có nghĩa là thầy trò ta không rút ngắn được khoảng cách mà phải xóa hẳn khoảng cách mới có thể… Chắc con thừa hiểu ý thầy, vậy thì điều thầy nói với con sau đây, con hãy lắng lòng đọc kỹ, nghe kỹ rồi suy nghĩ kỹ, chắc chắn không những đã xóa bỏ được khoảng cách mà còn hội nhập làm một, hòa quyện vào nhau để từ đó mà có một cách nhìn chung vào một hướng chung, bước trên một con đường chung dẫn đến một mục đích chung. Chắc con sẽ hỏi, vậy từ lâu thì sao? Thầy thành thật, đau lòng mà nói nhỏ với con rằng, từ lâu chỉ chung hình thức mà nội tâm chưa chung, chỉ chung ngôn từ mà chưa chung hành xử, mà nếu có chung được ít nhiều thì hầu như cũng chỉ chiếu lệ mà thôi. Điều đó, thầy không muốn, con cũng không muốn mà nghiệp dĩ nó muốn, nội ma ngoại chướng muốn. Chúng ta phải thấy rõ điều đó – Ví dụ như thầy muốn con học giỏi, con cũng muốn học giỏi nhưng con lại tham ngủ, ham chơi, lười học, rồi thầy la rầy, con bất mãn, buồn bực, oán trách…

Tết vừa qua, huynh đệ con gặp mặt muốn bày trò giải trí đỏ đen, thầy cấm, các con muốn chè chén cho vui, thầy cấm, thế là huynh đệ con, đứa vui vẻ vâng lời nhưng cũng có đứa buồn rầu bất bình, lại cho thầy nghiêm khắc.

Niệm con,

Thầy đã già, thầy đâu sống mãi với các con để rèn luyện, để dạy dỗ – Khi thầy không còn bên các con nữa, các con có muốn thầy la rầy đánh mắng cũng không có, muốn nói lời vâng dạ cũng không được vậy tại sao bây giờ không biết vâng lời ? Phước báo lớn nhất của đời thầy là gặp được Minh sư rất nghiêm khắc, rất siêu tuyệt. Thầy luôn luôn tự kiểm bản thân, năm chục năm trường chưa một lần trái ý bổn sư – dù điều trái ý rất nhỏ, làm học trò mà trái ý thầy là bất hiếu, không thể dung thứ được, nhờ vậy thầy mới được như hôm nay, nếu không có sự răn dạy của ân sư, con người thầy cũng thuộc loại “điếc không sợ súng” thì chắc chắn đã gục lâu rồi, không gục cách này cũng ê chề cách khác. Chắc con đã thấy, có nhiều đứa con ngỗ nghịch, cứng đầu, khó dạy, bất hiếu khi cha mẹ còn sống, làm cha mẹ đau khổ buồn phiền. Khi cha mẹ qua đời thì khóc than ân hận, như vậy nào có ích gì! Chúng ta, trưởng tử của Đức Như Lai vô lẽ bắt chước thói đời thường tình như thế.

Năm này, 62 mùa lá rụng đi qua trong đời, thầy đã là một lão già bao nhiêu đắng cay chồng chất, bao nhiêu trách nhiệm đè vai, bao nhiêu gian lao làm tóc chóng bạc, làm lưng chóng còm như con thấy đó – thế mà, có lúc nào thầy được yên ! Biết thế là dại, là ngu.

Kẻ tu hành ai dại gì mà gánh lo âu phiền não, vậy mà thầy phải cứ gánh, mỗi ngày mỗi nặng thêm, một đàn em của con còn nhỏ, có đứa gia đình của nó rất hạnh phúc nhưng nó muốn đi tu, có đứa gia đình khó khăn, thiếu thốn nhưng nó có chủng tử tu hành nên mới vào chùa ăn chay niệm Phật, có đứa mồ côi, thiếu vắng tình yêu thương của cha mẹ, nó rất cần sự vỗ về dạy dỗ của thầy trò mình. Tất cả “kiếp xưa ắt có nhân duyên, nếu không sao lại vào thuyền Nguyên Phong (Phật Ân)”.

Vì vậy, vì cái duyên, cái nợ với nhau, nhiều vị giỏi hơn thầy nhiều lắm, đức tài đầy đủ thế mà nó không đến, nhiều chùa sướng hơn, đầy đủ hơn chùa mình nó không vào – thầy đã từ chối biết bao người, con biết – duyên thầy trò, tình huynh đệ đã quyện vào trong tổ ấm Nguyên Phong (Phật Ân) – Thôi thì, đời thầy vốn nhiều khổ ải, khổ thêm một chút chả sao. Kiếp người vốn đã lắm nhiêu khê, có nhiêu khê thêm thì nợ càng chóng hết. Cụ Phan Bội Châu đã nói “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, Anh hùng hào kiệt có hơn ai”. Khi bị lao lý của 4 chế độ, 4 lần, thầy cũng tự bảo “Đời không sóng gió không gì thú, Sống chẳng gian nan không gì vui”.

Thế mà, trong các con, nhiều đứa vọng tâm mong cầu ăn sung mặc sướng, mong cầu cuộc sống phồn hoa. Chư Tổ xưa đã bảo “hưởng thọ dục lạc tăng thêm nghiệp chướng” ai cũng bảo đúng, bảo hay, nhưng thực hành thì dở ẹt, ngôn hành bất nhất. Một đàn em của con còn nhỏ, chúng nó nương tựa vào thầy vào các anh lớn, nếu vô thường kéo đến, có đứa ở nhà đã mồ côi cha mẹ, đến chùa nó chịu cảnh mồ côi thầy – nghĩ đến đó, thầy có cam tâm về với Phật sớm? Các con đã đủ lông đủ cánh, bay nhảy tự do, nhưng bay nhảy cách nào cho nên người hữu ích – Đạo pháp đang chờ, quốc gia đang đợi, đợi chờ những bàn tay, những khối óc của các con, của quý vị Tăng ni trẻ tràn đầy tâm huyết. Tự do nào cho đúng nghĩa tự tại giải thoát của Như Lai. Ở gia đình cha mẹ, bà con đang hy vọng, tín đồ cũng đang tin tưởng ở các con – Niệm ơi, con làm sao cho xứng đáng niềm tin tưởng và kỳ vọng đó – rồi, các con có nghĩ đến, có thương yêu lo lắng cho em út không? Ngày nào con cũng bạch với Phật “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ” – Con chưa độ được bản thân, chưa độ được gia đình, chưa độ được huynh đệ! Vậy con nghĩ thế nào? Tại vì trong hiện tại con chỉ biết chạy theo danh tướng, chạy theo học vị, chạy theo bạn bè, đua đòi ăn mặc, xe cộ, dép giày. Thì giờ để vào cho tạp thoại, cho vọng tâm, cho sách báo, phim ảnh nhảm nhí, cứ lấy cớ mở mang kiến thức mà buông thả theo lối sống trần tục thế gian, thì con ơi, còn đâu chánh niệm ! Có lẽ trong thâm tâm con cho thầy cổ lỗ sĩ không biết theo kịp thời đại, thời đại vi tính, thời đại phi thuyền nhưng con có biết, nhân loại đang điêu linh vì sự tiến bộ của khoa học vì người ta thiếu thông cảm, thiếu yêu thương mà lại giàu tham dục, giàu ích kỷ, giàu cố chấp, giàu tư kiên, kiến thủ – cứ đưa chiêu bài phục vụ nhân sinh kỳ thực là đang hủy diệt dần nghĩa sống, diệt môi trường sống. Nhân danh quá nhiều chủ thuyết chỉ để làm khổ nhau thêm, để có cớ mà giết hại nhau, kết bè kết phái mà lấn lướt nhau, chèn ép nhau, khuynh đảo nhau mà thôi.

Đạo Phật là đạo diệt ngã, đạo phá chấp, thế mà, chúng ta, thầy trò chúng ta, huynh đệ chúng ta, pháp hữu chúng ta, tăng ni chúng ta đã diệt được ngã, phá được chấp như thế nào. Việc ngoài đời chúng ta không bàn đến, nhưng việc trong đạo, trong nhà, trong thiền môn thực tế thế nào? Con thấy ra sao? Vô lẽ cũng tranh chấp, cũng chia rẽ, cũng đố kỵ, cũng mua quan bán chức! Thiền, Tịnh, Mật xoi bói nhau, Bắc, Nam, Trung kỳ thị nhau và ngay trong huynh đệ các con có thương yêu nhau, đum bọc nhau chưa? Xa chùa con có nhớ? Rời bạn con có thương? Vắng thầy con có buồn? Con tự vấn tâm con xem thử, có phải con xin đi học? Học được cái gì? Học đến đâu? Hay chỉ là cái cớ để xa chùa khỏi làm việc, rời thầy để dễ buông lung, khỏi bị kiềm thúc. Kinh nghiệm cho thấy có mấy người đi học mà muốn về lại chùa xưa, muốn trở về với thầy tổ? Có, nhưng ít lắm phải không con? Đã đành rằng trong tình sư đệ, trong nghĩa đệ huynh có những hiểu lầm, có những va chạm, có những phiền não nhưng đừng vì thế mà gạt bỏ nghĩa tình – Tam giới bất an, con thử xem vậy làm sao để “Phiền não tức Bồ đề” hay “biến uế độ trở thành Tịnh độ”. Tổ tiên ta dạy “nói thì hay vỗ tay thì lỗi” tại sao, con có biết?...


Trích Nguyên Phong số 3

PL. 2544

Niệm con,

Năm ngoái, cũng trong dịp an cư, thầy đã viết cho con một bức thư với tất cả nỗi lòng cũng như sự băn khoăn của thầy về đạo nghiệp của con. Năm nay, thầy thấy cũng cần tâm sự với con vài điều khác. Những điều thầy viết cho con là những thực trạng mà thầy thấy, thầy biết, nói với riêng con để thầy trò chúng ta suy gẫm, để tránh những gì phải tránh, thế thôi, thầy không muốn ai hiểu lầm, nhưng nếu có thì tùy.

Như con đã biết, mỗi năm con người ta thêm một tuổi đời, mỗi mùa hạ người tu sĩ cũng thêm một tuổi đạo. Hạ lạp đối với tu sĩ rất quan trọng mà người ta thường nói là “niên cao lạp trưởng” và kèm theo là một sự kính trọng, chứng tỏ việc an cư kiết hạ hàng năm của chúng ta phải thực hành nghiêm túc. Trước đây trong mùa an cư rất ít thấy hình bóng tăng ni ngoài đường vì tuyệt đại đa số đều cấm túc an cư, trừ những trường hợp đặc biệt tăng ni mới ra khỏi cương giới. Nhưng bây giờ, con thử lưu ý mà thấy, ba tháng an cư tăng ni ra đường còn nhiều hơn ngày thường với những lý do “rất ư là chính đáng” thì ai có thể trách cứ được! Vì chính những người lãnh đạo tạo điều kiện cho tăng ni an cư kiểu đó! Vì trong suốt chín tháng không có thời điểm nào để tổ chức? Hoặc giả, nếu cần, sao không tập trung nội trú? Để tránh bớt tình trạng “tu sĩ đi rong” (chữ đi rong là của H.T. Phó Chủ tịch HĐTS/TW) hay đằng sau có một chủ đích nào khác ?

Tăng ni họ rời trú xứ để đi học chính trị, để trau giồi nghiệp vụ giảng sư, trú trì, hành chính, người lớn thì thế, còn người trẻ thì học cao đẳng, cơ bản ngoại trú, học Anh văn, vi tính, Đại học… thì, Niệm ơi, ngay cả thầy, cả các con có muốn cấm túc ở chùa cũng khó phải không? Nghĩ cho xa hơn, giới luật “an cư” từ đó mà lần lần chỉ là chữ nghĩa, chưa nói đến có nơi dẫn tăng ni đi đá bóng giao hữu, tham quan, hội diễn văn nghệ, tham quan Đầm Sen, Suối Tiên. Từng nhóm rủ nhau đi thử “cảm giác mạnh”… Họ đi học hỏi, tìm hiểu để có kiến thức mà hoằng hóa độ sanh cũng là lý do chính đáng ! Họ bảo tất cả đều là phương tiện, phương tiện, hai chữ này đã trở thành một lá chắn kiên cố hay một bảng hiệu rõ to vì chính có lần anh em con ngồi tán gẫu với nhau có đứa đã nói to “phương tiện”. Không những chữ này mà còn nhiều chữ khác đã được dùng như thế, như chữ tùy duyên, chữ tùy thuận… ai khuyên bảo thì sẵn cái mũ “cố chấp”. Hài hước hơn họ bảo “xưa rồi”, “chậm tiến”, có vị biện luận rất ư chi là “thơ ngây dễ thương”: “Trong giới luật không có cấm hút thuốc”, “Phật cấm sát sanh chứ không cấm ăn mặn, cấm uống rượu chứ không cấm uống bia…”. Thầy nói điều này với các con vì trong ánh mắt các con có đứa đã hấp thụ tư tưởng này mà thầy thì không muốn. Trong Nguyên Phong II (Phật Ân) điệu Trung Thắng đã có viết một bài ngắn “Học đời 9 học đạo 3”, nghĩa là 9 tháng học phổ thông, bổ túc chỉ ở nhà 3 tháng hè học kinh luật, nhưng nếu học Đại học thì còn khác nữa. Trong luật tạng Phật cũng nhắc chúng ta mỗi ½ tháng gặp Phật một lần vào ngày Bố tát tụng giới, thế nhưng có vị cả năm, cả nhiều năm quên Bố tát, quên tụng giới vì đa đoan công việc hay bận học hành thi cử, may sao số người này rất ít nhưng ảnh hưởng không ít, các con chớ xem thường.

Niệm ơi,

Có câu nghe qua rất ngộ nghĩnh mà thực tế thì chính xác vô cùng: “Nhất niên Phật tại tiền, nhị niên Phật thăng thiên, tam niên bất kiến Phật”, nghe mà đau lòng phải không con ! Ai, khi mới phát tâm xuất gia đều mang một hoài bão lớn nên rất tinh tấn dõng mãnh, dần dần bị nghiệp thức kéo lôi, xao lãng kinh kệ, lười biếng, dãi đãi, buông lung là bệnh của chúng sanh, chúng ta không vơ đũa cả nắm, nhưng cũng từ đó mà thấy “bông xoài trứng cá” là hiện tượng xưa nay. Thầy trò chúng ta phải biết như vậy mà tự xếp vị trí cho mình, và dù ở bất cứ vị trí nào cũng nên tâm niệm “tự lượng sức mình, không có công với đạo pháp với dân tộc thì thôi, nên yên phận tự tu, không nên làm gì để có tội”.

Khi mới phát tâm xuất gia ai cũng muốn làm một tu sĩ, một tu sĩ xứng đáng trong ba ngôi Tam bảo, một tu sĩ theo mục đích “Thượng cầu, hạ hóa”, nhưng dần dần lãng quên mục đích ấy, nhớ chăng cũng chỉ trên lý thuyết, trên sách vở, còn thực hành? Cũng có, nhưng được bao người? Chính bản thân thầy trò chúng ta cũng vậy, sự đua đòi ăn mặc, cố tình quên “thô sơ ma bố”! chữ “Bần tăng” mất hết ý nghĩa. Chữ Tiến sĩ kèm bên chữ Hòa thượng, Thượng tọa. Học vị đã trở thành một cái “mốt”, chức vụ, giới phẩm đã biến thành một món hàng, phương tiện đã thay cho cứu cánh, nên như con đã thấy, thiền môn bị thế tục hóa ít nhiều. Ngay huynh đệ các con, có đứa đã định đổi tất cả tình cảm sư môn và đạo nghiệp để chạy theo “trần nghiệp” nên thầy đã không ngần ngại mời ra khỏi Nguyên Phong (Phật Ân) dù nỗi đau như mất đi một chi phần trên cơ thể.

Niệm ơi,

Trong huynh đệ các con, có người đồng chơn, có người bán thế. Đồng chơn đã quý, bán thế cũng hay, mà dù gì cũng lấy giới luật làm căn bản, đừng bắt chước, nôn nóng thọ giới sớm mà giới hạnh chưa tròn, đức tài chưa đủ. Trái non mà hái chỉ có vất đi, trái già chưa chín mà hái cũng chỉ chát, chua khó nuốt, chỉ có trái chín mới thật sự ngọt ngon. Có người lấy cớ “thọ giới để tu” vậy chưa thọ giới thì không tu hay sao? Cũng là biện luận, thôi thì cũng được, nhưng sau khi thọ giới về có hành trì nghiêm mật hay không? Đắp lên người cái y giải thoát hay cái giáp sắt che đậy cái tư tưởng “mượn đạo tạo đời”. Người con Phật, không lo việc Phật mà lo việc ma, không phục vụ Phật mà phục vụ bè nhóm. Hiện tại ai cũng biết, óc địa phương quá rõ, nạn kỳ thị quá nhiều, tinh thần phá chấp bị lu mờ mà tư tưởng cục bộ đầy dẫy và từ đó mà nảy sanh lắm chuyện “cười ra nước mắt”. Thực dân Pháp chia để trị, Bắc Nam Trung do Pháp tạo ra. Thế mà, hiện nay hàng tu sĩ có kẻ lại duy trì và hưởng ứng, họ sợ tư tưởng thống nhất, sợ tinh thần đoàn kết, dù ngôn ngữ rất hay, nên tổ tiên chúng ta dạy “nói thì hay mà vỗ tay thì lỗi” là vậy. Chúng ta phải khách quan mà nhận xét, rồi cũng tự vấn tâm ý và hành động của mình. Có người muốn làm Tổ, làm lãnh tụ một nhóm một phái nên tạo vây cánh, dùng kẻ bất tài, cho thọ giới bừa bãi, bất chấp lục căn bất cụ, miễn đệ tử cho đông, dành chùa nhiều, mua bằng cho cao mà thực học thực tu không có. Đi đâu cũng khoe cái danh, phơi bày cái tướng, ngôn ngữ thì cậy thế dựa quyền, lãng quên Tứ nhiếp pháp, nếu thầy trò chúng ta mang cái bệnh này thì phải cấp tốc tỏa chiết.

Thấy người nên gẫm đến ta, việc cho các vị bán thế xuất gia thọ giới quá sớm quá dễ là điều không nên, đã thế còn cho đi trú trì, đưa đi làm giảng sư, bày trò cười cho ngoại đạo và kẻ ác tâm có cơ hội, có lý do để xuyên tạc, để châm biếm, hoặc thả đệ tử đi lung tung, đến đâu họ cũng tạo ra lắm phiền não cho tín đồ vì tương chao chưa thấm, tạp tính thế tục còn nhiều, người có chút trình độ thì ngã mạn cống cao, biết chút ít kinh kệ thì vẽ rắn thêm chân để tỏ ra mình cũng pháp sư, kinh sư ra phết, người không rành chuông mõ, không biết tụng niệm thì lim dim mắt làm thiền sư, vỗ ngực là ta “phá chấp” hoặc bấm độn, lẩm nhẩm, bắt ấn như tổ sư mật tông Ấn Độ, chính thành phần này làm rối loạn tăng đoàn, gây khó khăn cho giáo hội, mất lòng tin của tín đồ. Một số nơi tín đồ đã làm chùa xong, tha thiết mong mỏi có một vị thầy, họ thèm khát một vị trú trì để nương tựa, lợi dụng tâm lý này, vài vị sớm rời xa thầy tổ, ưa độc lập hoặc với một tâm ý không mấy trong sáng, hoặc bị thầy tổ tông môn tẩn xuất chạy quanh tìm chỗ ở gặp trường hợp này rất dễ bén duyên nhưng rồi cũng rất dễ va chạm vì một bên thì đòi hỏi quá cao (muốn vị thầy phải như Phật sống), một bên thì đạo hạnh còn non, trình độ hạn chế.

Tình hình thực tế này nên thầy rất ngại cho các con rời thầy quá sớm, dù có lắm yêu cầu của Phật tử mà thầy phải tốn công giải thích, huống gì hoàn cảnh hiện nay, muốn hợp thức không dễ, phải vào lòn ra cúi vừa mất chí trượng phu, mất phong cách tu sĩ, nếu không, phải chấp nhận những điều kiện trái với luật Phật không chừng. “Tỳ kheo bất bái quân vương”, thế mà vì muốn trú trì, muốn có chức, muốn tấn phong mà phải dạ thưa khúm núm! Cũng đau lòng cho tăng giới lắm phải không con! Con có biết tại sao vài nơi Phật giáo mạnh lại bị phân hóa trầm trọng? Một trong những nguyên nhân rõ nét là vì cái danh hảo chiếm lĩnh thị trường hoặc cái lợi len lõi vào để âm thầm gây ung thư cho cơ thể. Điều này thầy nói để chúng ta cùng cảnh giác vì biết đâu con vi trùng này sẽ xâm nhập vào cơ thể chúng ta!

Năm ni thầy đã 63 cay đắng mùi đời đã trãi, chức vụ nhỏ to mấy chục, tù tội đếm đủ 4 lần, xét lại chỉ vì cái tội thẳng ngay, thương đời mến đạo cũng có tội, thiện chí người ta cũng không ưa, hy sinh nhiều người ta cũng ghét. Con nhớ câu châm ngôn này để sống :

“Cái vòng danh lợi cong cong,

Kẻ mong ra khỏi người mong nhảy vào”

Niệm nghe !


Trích Nguyên Phong số 4

PL. 2545

Niệm con,

Thầy đã thư cho con, nhắc nhở con ở Nguyên Phong (Phật Ân) 2 và 3, thư này thầy nói thêm vài điều :

Năm nay thầy đã 64, Mỗi năm chồng thêm một tuổi, có nghĩa là gần đến đoạn kết thúc đời người một bước, con cũng vậy ai, cũng vậy, có khác gì nhau trên lĩnh vực này. Chỉ có điều là sự kết thúc như thế nào? Đã để lại cho đời những gì? Đạo nghiệp mỗi chúng ta được gì? Trên con đường giải thoát chúng ta đi đến đâu?

Trong thời gian gần đây, sư huynh đệ các con đã có vài chuyển biến có thể tốt và chưa tốt, có thể nên và chưa nên, Cử nhân, Cao đẳng trên dưới 10 người, Đại học, Cơ bản cũng trên một chục, lớp 6 đến 12 cũng rấp rem hai tá (24), việc học tập lớn nhỏ của các con tạm ổn, dù biết học như vậy chưa đến đâu vì đang còn học, học nữa và học mãi, học để biết, để có đủ trình độ khả năng mà hoằng truyền chánh pháp, hướng dẫn tín đồ, nhất là trong thời đại văn minh hiện nay. Có điều, các con đừng vì vậy mà xem nhẹ việc tu, việc trau dồi giới hạnh. Trong Phật giáo, vấn đề thân giáo rất quan trọng. Tín đồ họ quý kính người có đức hơn người có tài, họ yêu mến người có chí, có kiến thức, tri thức hơn người có học thức. Huynh đệ các con có đứa đã có ý nghĩ sai lầm này mà trở thành kẻ tội đồ của tông môn, chắc các con còn nhớ. Năm nay, thầy đã cố gắng vượt qua mọi khó khăn trong cũng như ngoài, tạo điều kiện cho vài vị có cơ sở, việc này có thể đúng mà cũng có thể sai, đúng vì cần hoằng truyền chánh pháp ở các nơi đó, đúng vì để những vị này có ý thức, có trách nhiệm, tự lực vươn lên, đúng vì đông đệ tử nên cũng cần nhiều cơ sở để hỗ trợ cho nhau theo thế ỷ dốc. Nhưng cũng có cái sai mà thầy đang lo, nếu các vị đó có ý thức thì tốt, nếu không, biết đâu thầy lại tạo điều kiện cho các vị đó móng tâm ích kỷ, riêng tư theo thói đời, vun quén cho cái ta, cái ngã, cái ái, cái thủ, cái hữu chưa nói đến sự tệ hại khác là buông lung, phạm giới, phạm luật vì “hổ ly sơn hổ bại, tăng ly chúng tăng tàn”.

Thầy nghe “Ghét của nào trời trao của ấy”, câu thành ngữ ấy ứng dụng vào thầy quá đúng. Ba điều tâm ý thầy không muốn lại “bị có” cả ba, “Đất nhiều, chùa lắm, đệ tử đông”. Chính ba cái này nó ràng buộc, chi phối không thể tự tại, giải thoát mà bị nó dẫn dắt vào khổ não.

Mấy năm qua thầy không nhận thêm đệ tử xuất gia, đã bị một số thầy, cô hay cha mẹ các em đến gởi, không những trách cứ là thầy cưỡng duyên, trốn trách nhiệm, sợ khó, sợ mệt… Thầy im lặng và hứng chịu búa rìu. Thật sự vấn đề nuôi không khó bằng việc dạy, đói no dễ giải quyết, mà nên hư đó mới thật sự là nhiêu khê, việc tiếp Tăng độ Chúng là bổn phận, là trách nhiệm nhưng nên lượng sức mình, khả năng và đức độ của mình, nhất là hoàn cảnh của thầy hiện tại, trên đè dưới đội hai bên ép vào, và ngay cả các con, được mấy đứa cảm thông? Được mấy người chung vai gánh vác? Có đứa đi học nhưng chẳng nhìn lui, có đứa đang ở tại Nguyên Phong (Phật Ân) nhưng tâm bất tại! Tình trạng chung chung là ra đi không hẹn ngày trở lại – các con tự vấn tâm mình thử xem!

Gần đây, nhiều Phật tử thắc mắc, Tăng Ni bây giờ quá đông nhưng người tu quá ít, trường lớp bây giờ quá nhiều, nhưng chất lượng dạy và học chưa có là bao, hình thức sinh hoạt bên ngoài thật rôm, nhưng tinh thần và nội dung quá kém, chùa chiền tu sửa thật nhiều và thật đẹp nhưng qui luật thiền môn, giải thoát tâm linh thì quá yếu. Tệ hại hơn là sự chia rẽ trong hàng ngũ xuất gia, sự giảm sút tín tâm trong hàng ngũ tín đồ, sự thế tục hóa thiền môn đang lộng hành nơi cửa Phật, Tài Sắc Danh Thực Thùy đang lấn át Giới Định Huệ trong mọi ngõ ngách viện, chùa.

Niệm con, thầy trò chúng ta có tránh khỏi? Có vương vấn? Có suy gẫm? Có đau lòng? Có dằn vặt suy tư? Hay chính chúng ta cũng bao che, cũng đồng lõa? Và biết đâu vô tình hoặc cố ý có sự đồng tình và dĩ nhiên cũng trở thành thủ phạm. Thầy tự biết đức tài không có bao nhiêu nên tự dặn lòng không có công với đạo pháp với dân tộc thì thôi đừng bao giờ nói, nghĩ, làm những gì có tội, hoàn cảnh hiện nay đóng vai trò vô thưởng, vô phạt, không chức, không quyền, đừng danh, đừng tướng, có lẽ thế mà hay. Có câu “vô sự tiểu thần tiên”, trước đây thầy ghét cái tư tưởng này, thầy cho là ích kỷ yếm thế, nhưng nay thấy nó cũng hay hay nên đã ưa thích. Tâm vô thường là thế chăng? Khi đang còn là cư sĩ, là huynh trưởng GĐPT, là Trưởng Hướng Đạo, thầy thèm nhìn, thèm sống như các bậc xuất gia, nay được đứng trong hàng ngũ này thì mới cảm thông với nhiều suy tư khó nói.

Kinh nghiệm của thầy gần 40 năm phục vụ Giáo hội, đi dạy trường đời cũng có, trường đạo cũng nhiều, đi giảng khắp nơi, từ Bắc chí Nam có mặt, có khi qua tận xứ chùa Tháp để hoằng hóa, bây giờ nhìn lại để “cười” một mình. Lớn lên con mới hiểu được nụ cười này, bây giờ thầy có nói con cũng không hiểu được, nước có uống mới biết được nóng lạnh, ngọt chua, chỉ nhìn vào không uống làm sao biết rõ.

Thầy đã dang tay mở rộng lòng giúp nhiều tăng ni tu học, không từ khổ nhọc với vài pháp lữ có lòng như các Ngài KT., GQ., NQ. mở nhiều khóa học, kiến lắm giới đàn bây giờ nhớ lại cũng chỉ “cười” vì không biết mình có công hay có tội – âu là, thấy việc phải thì làm, cứ làm đừng kể công, đừng sợ tội, đừng nhớ nghĩ việc ban ơn hay thọ ơn tâm hồn mới thanh thản được, bây giờ thầy thấy như thế chứ trước đây thầy thấy có cái ngã, cái ta, cái danh, cái tướng nó lẫn lộn trong việc làm nên mới buồn khi thấy kẻ vong ơn, mới rầu khi thấy người bất nghĩa. Con biết đó, có người thấy lo cho họ nhà ở, tiền bạc, ốm đau, chữ nghĩa… sau khi thành danh, thành trú trì, thành thầy, thành cô, họ tỏ ra oai ra phết, giàu ra mặt, tu sĩ cũng như cư sĩ (vài người cũng đủ mệt), vênh váo đến buồn cười, chưa nói đến trở trái làm phải. Vậy thì, các con ăn chưa no lo chưa tới có nên, có cần phải dấn thân như thầy? Để vì bản lĩnh còn non, sức tâm còn yếu thì kết quả ra sao khi chướng duyên kéo đến, nghịch cảnh bủa vây – nên các con bây giờ phải cần trui rèn bản lĩnh, trau giồi đạo phong rồi mới nói chuyện “xắn tay đi vào hang cọp”.


Trích Phật Ân số 5 & 6

PL. 2546-2547

Niệm con,

Mười hai chữ.

Trong suốt cuộc đời tu học của thầy trò chúng ta, bao giờ thầy cũng tự nhắc nhở và cũng thường xuyên nhắc nhở các con cố gắng ghi nhớ mười hai chữ – mười hai chữ này nghe hoài, vì ai cũng nói được và lại nói rất nhiều, nhưng nói để mà nói chứ ít được mấy ai làm đúng, ngay cả thầy trò chúng ta cũng thế, có lẽ tất cả chúng ta đều là “Phàm tăng”. Tuy không làm được hoàn toàn, ít ra chúng ta cũng phải biết cái “Không đúng” của mình và phấn đấu tu tập lần lần để xứng danh là người con Phật, người trưởng tử, trưởng nữ của Như Lai, vì mười hai chữ này tạo nên phong thái của một tu sĩ – thiếu ứng dụng nó vào cuộc sống thì chúng ta cũng chỉ là một con người bình thường mà còn tệ hại hơn người bình thường nó trở thành tầm thường, vì chúng ta đã và đang khoác cái lốt Tu sĩ, con đừng cười thầm, hãy nhìn thật kỹ vào mình, vào các pháp hữu của con để thấy, mà phải thấy cho rõ, cái rõ thầy muốn nói nghĩa là thấy rất thật, đừng mang kính màu mà nhìn và cũng đừng mang cái tâm thiên kiến, cố chấp mà thấy. Mười hai chữ này là: “Xả Thân Cầu Đạo, Xả Phú Cầu Bần, Tam Thường Bất Túc”, dĩ nhiên thầy muốn nhắc con hiểu đúng nghĩa, đúng ý và thực hành đúng thời, đúng việc – đó là một nghệ thuật sống cao thượng, sống chân chánh. Chánh mạng.

(

Rồi,… Bốn chữ

Khi con đến với Phật, với chùa, với thầy, với các Pháp hữu, thầy biết tâm con rất trong sáng, rất dũng mãnh và cũng rất thánh thiện. Con thấy cuộc sống ở chùa rất đẹp, rất giải thoát. Đúng, nhưng lâu rồi quen đi, một cành hoa đẹp, ngắm lâu, nó chỉ là cọng cỏ, cọng cỏ có hương sắc… cũng đúng, chưa nói đến khi tiếp xúc, khi mân mê sờ mó, lâu ngày thì nó không là gì cả – đôi lúc nhàm chán nữa là khác – nhàm chán còn đỡ, đụng chạm sinh bất mãn – bất mãn sinh chống đối và thế là thối tâm, là ân hận, là buồn rầu chán nản – nhưng nó vẫn là cành hoa đó chứ con! Tại vì con cả đấy, vì con không áp dụng bốn chữ, chỉ bốn chữ thôi, con sẽ thấy khác, nhận chân khác và từ đó mà sống khác, nghĩa là tiếp tục sống với cái tâm ý ban đầu, thầy khỏi giải thích, chỉ nhắc để con áp dụng thử xem: “Diệt Ngã – Phá Chấp”. Dù không nói, con cũng sẽ khởi lên cái tâm “Thầy dạy con như thế, vậy thầy đã ứng dụng chưa?”. (Ngày xưa, là đệ tử, ít ai dám khởi cái tâm này, nhưng bây giờ thì nhiều lắm. Văn minh, bình đẳng theo nọc độc của những tư tưởng phi nhân bản). Thầy nói có, không nhiều thì ít, nếu không, làm sao thầy biết để dạy, mà nhắc con? Trên bốn mươi năm, gần ½ thế kỷ ở chùa, nuôi dạy bao lớp đệ tử, thọ dụng của đàn na tín thí biết bao cơm áo, xây dựng biết bao cơ sở, tiếp xúc biết bao hạng người, cư trú biết bao trú xứ, sống dưới bốn (4) chế độ và cũng ở tù vì đạo vì nước bốn (4) lần. Thầy học ở trường đời khá nhiều bài học, những bài học xứng đáng, rất thực tế, rất cần thiết trong đối nhân xử thế, trên con đường hoằng pháp lợi sanh, trên con đường đi lần đến bến bờ giải thoát. Có điều, đôi lúc nóng lòng truyền trao kinh nghiệm, truyền trao kiến thức cho các con, cho hàng hậu học, do cái nhiệt tâm thiện chí đó mà các bậc Sư Trưởng trở thành khó tính, gắt gỏng khi thấy đàn con cháu sai lầm, dù sai lầm rất nhỏ, do khuyết điểm này mà các thế hệ ít cảm thông nhau, đôi lúc các con âm thầm phản ứng, thế là cái hố ngăn cách thêm sâu. Lớp lớn thấy lớp nhỏ chỉ lo ăn chơi, buông lung, giải đãi, lười biếng, thiếu đạo hạnh, kém phong cách, đua đòi, háo danh, háo thắng… Lớp nhỏ nhìn lớp lớn là cổ lỗ sĩ, cố chấp, phong kiến, quan liêu, khe khắt, ỷ lớn – trong đó có thầy trò chúng ta.

Như con biết đó, bao lần thầy nhắc nhở con, những gì mà thầy trò chúng ta đã thấy, đã nghe, tốt đẹp thì phải tiếp thu để bắt chước, để học theo, làm theo. Không tốt, thì cũng cần mở mắt ra mà xem cho rõ, tư duy mà thấy cho thông, để mà rút kinh nghiệm, mà tránh. Có người bảo “Đời là một trường đại học vĩ đại”, thầy thấy đúng vô cùng. Sách vở, lời giảng của các giáo sư, giáo viên, giáo thọ ở bục giảng chỉ là lý thuyết, thu hẹp vài nét ở trường đời mà thôi, trường đời mới bao la, mới thực tế, càng va chạm, càng vấp ngã, càng đau khổ đó mới là chất liệu, mới là hành trang đích thực cho con người đi đến thành công, cho con người tu sĩ nhận chân đích thực của cuộc sống, và từ đó mới nhận ra giá trị của sự tự tại và giải thoát mà chúng ta đang thực tập, đang nhắm đích.

Thế mà, Niệm ơi,

Con thấy đó, trong huynh đệ chúng ta, các pháp hữu chúng ta còn vướng mắc quá nhiều về các pháp hữu vi dù biết rằng phi hữu phi vô. Ai cũng nói được, nhất là các vị bán thế xuất gia, mới hôm trước, hôm sau đã muốn làm hòa thượng và cũng có người đã tự xưng hòa thượng, cọng thêm cái nạn là chạy chọt, xin xỏ để được tấn phong, không biết như vậy có ích gì trên đường giải thoát!

Niệm ơi,

Hiện tình Phật giáo chúng ta đang trải qua một giai đoạn thử thách hết sức cam go, nội ma cũng nhiều mà ngoại chướng không ít. Những việc làm không mấy đẹp từ phía chúng ta, chính chúng ta, vài vị tăng ni và Phật tử tranh dành chùa chiền, đất đai, nội bộ thì mất tình đoàn kết, thiếu yêu thương, lại còn làm trò cười cho ma vương, cho ngoại đạo. Những hiện tượng đua đòi chạy theo học vị, chức quyền, làm giảm sút tinh thần diệt ngã phá chấp của Phật giáo. Làm ông thầy “Tỳ kheo bất bái quân vương” mà phải lòn cúi, chạy chọt để có chút danh hảo, một chút lợi thừa, liệu có đáng, phải không con ? “Uy vũ bất năng khuất, tiền tài bất năng phục” đó là phong thái của kẻ trượng phu thầy mong con nhớ kỹ. “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng... ...”, thầy trò chúng ta đã học khi mới bước chân vào chùa, chúng ta không thể quên, nhất định đừng quên. Con phải nhớ, khi đã là người xuất gia thì đời sống phải thanh tịnh, tránh những phiền phức vô lý, sống cần đơn giản, cảm thông nỗi cơ cực của đa số quần chúng Phật tử mà trải rộng lòng từ. Con thấy, Phật tổ dạy “nhất cử nhất động của chúng ta điều phải trì kệ chú vì đó là cách tốt nhất để diệu hóa đời sống của mình”. Học thì có học, ai cũng có học nhưng hành trì thì lơi lỏng quá, vì vậy dễ đánh mất mình mà không biết, đừng nhầm lẫn phương tiện là cứu cánh, đừng định đoạt xu hướng của mình trên sự HƯỚNG VỀ MÌNH nó sẽ trở thành ích kỷ và hèn hạ, chí trượng phu sẽ không còn. Chúng ta, người xuất gia, là tu sĩ khác với thế gian, phải trên thế gian mà nhìn xuống thế gian, nhìn thế gian với đôi mắt của đức Quán Thế Âm: Từ nhãn thị chúng sanh, với cõi lòng của ngài Địa Tạng: Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, với lời đại nguyện của ngài A Nan: Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập. Có như thế, họa hoằng, chúng ta, thầy trò chúng ta ăn cơm tín thí, mặc áo đàn na mới bớt phần xấu hổ. Vì ý thức tự trọng mặc thêm chiếc áo tàm quý sẽ giúp chúng ta giữ được và phát huy đạo nghiệp, ngược lại, nguy hại lắm, phải không con ?

Đêm đã khuya, thầy hẹn con thư sau.


Trích Phật Ân số 7

PL. 2548

Niệm con,

Trong thời gian gần đây chắc con đã nghe, đã thấy những sinh hoạt của Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến tương lai của đất nước và của Đạo pháp.

Trong phạm vi nhỏ hẹp của thầy trò ta cũng không tránh khỏi những xao động nội tâm, và cũng ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt trong chùa, trong tông môn, trong huynh đệ, thầy muốn con nhìn rõ vấn đề, muốn nhìn rõ phải tư duy, phải tìm hiểu cặn kẻ không nên hấp tấp lại càng không nên kết luận vì ai cũng muốn có nhiều kẻ đồng tình, đồng ý, đồng cộng sự. Không khéo chúng ta sẽ là con chốt thí, sẽ là kẻ cầm cờ chạy hiệu, chưa nói tệ hơn là kẻ phá Phật mà tưởng mình có công.

Trong thư này, thầy muốn nhắc con rằng, trước hết con phải học kỹ lịch sử Phật giáo Việt Nam, nhất là thời đại cận kim. Lúc thầy trò ta chưa ra đời thì Thầy Tổ chúng ta đã lao tâm khổ trí tìm đủ cách để chấn hưng Phật giáo, phục vụ dân tộc trong hoàn cảnh nguy hiểm và rất khó khăn dưới ách thống trị của thực dân Pháp.

Phật giáo không những nằm dưới hai gọng kềm Quốc Cọng mà còn bị nhiều thế lực khác tấn công, thế mà các Ngài cũng vượt qua để có đến 06 Hội đoàn Phật giáo ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam ra đời mang trọng trách lớn lao đối với Phật, với dân, với nước.

Khi đất nước chia đôi (1954) Phật giáo cũng bị chia cắt, con cần hiểu rõ; hơn 20 năm chiến tranh loạn lạc, Phật giáo hai miền Bắc, Nam tiếp tục sinh hoạt dưới hai thể chế khác nhau và dĩ nhiên có nhiều cái khác nhau.

Thầy sinh ra và lớn lên (1938–2004) đã là nhân chứng của một giai đoạn hưng suy của Phật giáo, nhất là vụ tranh đấu 1963 với nền Cộng hòa nhân vị, sau đó với nền Đệ nhị Cộng hòa ở miền Nam, thầy thấy rất rõ bản chất của hai nền cộng hòa đó, họ luôn luôn muốn triệt hạ Phật giáo vì có ảnh hưởng lớn trong quần chúng, lại chiếm đa số nhân dân. Phật giáo mạnh, họ không khuynh loát đất nước được, không thực hiện chủ trương độc tôn, độc quyền, độc tài được, thế là Phật giáo trở thành nạn nhân của các chế độ. Nhưng cũng nhờ vậy mà Tăng tín đồ Phật giáo biết đoàn kết, thương yêu, đùm bọc che chở cho nhau, đào tạo nhiều bậc chân tu, tài đức siêu tuyệt, đứng ra lãnh đạo, hướng dẫn, tổ chức việc tu học của tăng tín đồ rất nề nếp, vững vàng, đúng đắn. Đó là nhân tố để có kết quả là sự hình thành của GHPGVN TN đầu năm 1964.

Còn ở miền Bắc thì sau khi đất nước thống nhất 1975 thì ai cũng thấy rõ vì chẳng ai che giấu làm gì! Và cũng từ cái mốc này, sinh hoạt Phật giáo trên toàn quốc đã chuyển qua một đoạn đường mới, trong bối cảnh mới và cũng xuất hiện những thuận tiện mới và những khó khăn mới.

Bản thân thầy, vì trách nhiệm, vì trực tính “Nói thật, nói thẳng, nói hết”, và hậu quả là đi cải tạo hơn 05 năm. Nói chữ “cải tạo” cho hay, cho đẹp chứ thật nghĩa là “ở tù” và sau khi về thì “Thân vô sở trú, nhi sanh minh tâm” (chữ của sư bà Viên Minh tặng) thầy nhắc điều này là một kinh nghiệm bản thân để con nhớ và cũng để kỷ niệm trong cuộc đời hoằng hóa của mình.

Niệm con,

Trong quá khứ, thời Pháp, thực dân và chính phủ bù nhìn của Pháp mua chuộc một số tu sĩ đứng ra thành lập Hội Phật giáo Thuyền Lữ, chúng sai sử hội này với chiêu thức “dùng Phật giáo phá Phật giáo”, nước cờ này họ thất bại hoàn toàn vì chẳng ai nghe. Hơn thế các Ngài lãnh đạo Phật giáo Việt Nam quá thông minh, đủ tài đức và vượt qua dễ dàng. Đến thời Ngô Đình Diệm cũng sách lược ấy, cũng một số Cổ Sơn Môn được Diệm nâng đỡ đứng ra phản đối vụ tranh đấu của Phật giáo, đến lúc cao điểm nhất, Diệm nắn ra “Ủy ban Liên hiệp bảo vệ Phật giáo thuần túy”. Nghe có đẹp không con? Nào là Liên hiệp, nào là Bảo vệ, nào là Thuần túy những mỹ từ này che đậy một âm mưu “diệt Phật giáo” trong kế hoạch “gậy ông đập lưng ông”. Nhưng Diệm cũng không thành công vì quần chúng Phật tử đã được quý Ngài lãnh đạo Phật giáo khai thị cho rồi, hơn thế, trình độ nhận thức của quần chúng đã cao, Diệm không đánh lừa được, nên sau đó ủy ban này cũng tự động xếp cờ cất trống. Đến thời Nguyễn Văn Thiệu lại một âm mưu khác, kích động óc địa phương, tư tưởng danh lợi, bè phái, Tổng thống Thiệu đã có chút thành công là làm Phật giáo mất đi một mảnh lớn để có cái “phe Việt Nam Quốc Tự” chống “phe Ấn Quang” nhưng rồi dần dần cũng phai mờ theo thời cuộc vì các Ngài thấy rõ dã tâm của Mỹ Thiệu. Tuy thế, cũng có nỗi đau dù chưa trầm trọng lắm!

Niệm ơi,

Thầy nhắc con vài nét của quá khứ để con thấy rõ hơn các thế lực ma vương, các âm mưu đen tối, vì vậy mà Phật giáo chưa bao giờ đựơc yên, nghĩa là “Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng” dĩ nhiên thầy trò chúng ta cũng phải bị vây trọn trong vòng xoáy ấy. Khi thấy được vấn đề mới cho ta một tư duy mà quyết định cho mình một hướng đi đúng đắn.

Thấy tình trạng hiện nay, lớp Tăng Ni trẻ như chúng con, trẻ người non dạ, dù chúng con có bằng cấp, có học vị, có trình độ trong thời đại văn minh vi tính hiện thời, nhưng kinh nghiệm sống, kinh nghiệm về nhân tình thế thái, các con chưa đủ để đương đầu với ma vương, với quỷ dữ, nhất là với cái danh lợi vật chất. Con phải nhìn cho rõ, thấy cho đúng, Phật giáo đang bị thế tục hóa, đang bị nạn sư tử trùng, điều này với người có kinh nghiệm, không có gì khó hiểu, nhưng với các con, dưới mắt các con, thấy không có gì đáng lo ngại, vẫn thấy nó đẹp vì những hình thức, những mỹ từ, những báo cáo trau chuốt, màu mè! Chưa nói là láo khoét, lừa gạt. Thầy thấy những viên thuốc độc bọc đường đã được bày bán khắp nơi, trong chùa, ngoài ngỏ, trước sân và bây giờ thì người bán thuốc đó không ai khác chính anh em, huynh đệ, pháp hữu chúng ta mà không biết, chúng ta đang thắt thòng lọng vào cổ của nhau mà không hay. Niệm ơi, con nghe cho kỹ; chính thầy, trong buổi họp Giáo hội Huyện vì họ mời, lịch sự phải đi, phổ biến chuyện An cư kiết hạ do các cấp lãnh đạo Giáo hội chỉ thị: muốn An cư phải làm đơn xin phép, trong đơn có 07 con dấu, 07 chữ ký. Thầy phản đối vì quá rắc rối. Chính quyền trả lời “Thầy MT nói đúng, chính quyền chủ trương đơn giản hóa hành chánh, cái mẫu đơn này do Giáo hội các Thầy thảo ra chứ chính quyền không biết” mất mặt không con? Hỏi Giáo hội Huyện, Huyện đổ thừa do Tỉnh, hỏi Tỉnh, Tỉnh đổ thừa Trung ương. Hơi đâu mà truy cứu do ai cho mệt! Vậy đó, con nghĩ mà xem có phải do chúng ta không? Ai thắt thòng lọng vào cổ chúng ta?.

Vừa rồi, họp để lo lễ Phật đản, Tăng Ni đề nghị các chùa làm xe hoa để cúng dường cho có vẻ lễ lạc một chút. Vị Chánh đại diện trả lời “Giáo hội cấp trên không có chỉ đạo, nếu muốn, để hỏi chính quyền có cho phép không đã”. Hết ý kiến. Sau đó, thầy có hỏi chính quyền, họ bảo: “Chính quyền không hề cấm, chỉ yêu cầu nếu có xe hoa thì đừng tập trung diễu hành một lần, sợ trở ngại giao thông mà thôi”. Chừng đó để con thấy rõ vấn đề. Chưa hết, văn thư mời họp thì dùng chữ “để buổi họp đạt chất lượng cao. Các chùa có hoàn cảnh neo đơn. An cư phải xin phép, nếu không là An cư bất hợp pháp. Thọ giới mà không đủ hồ sơ thì chỉ “Thính giới” (nghe mà không thọ!? còn thọ mà không nghe!?). Thế mà, các con có lưu tâm để thấy vấn đề và rồi tiêm nhiễm, học đòi cái cách làm việc ấy để sau này ra lãnh đạo Giáo hội thì sẽ đưa PGVN tới đâu?

Có vị Pháp lữ Giảng sư cùng lứa với thầy, Ngài đã là Hòa thượng nổi danh, cho đệ tử học khóa Giảng sư, học về, vị đệ tử tuyên bố: “Thầy tôi Giảng sư, tôi cũng Giảng sư, nhưng tôi hơn ổng vì ổng không có giấy chứng nhận là Giảng sư Trung ương như tôi”. Xin miễn bàn! Vì không có chữ .

Vậy đó, đừng ai hiểu lầm là thầy muốn ám chỉ mà chỉ nói cho con nghe vài vấn đề để con thấy cái sự thật của nó mà tránh như tránh hố lửa.

Các thư trước, thầy cũng đã tâm tình với con vài vấn đề. Thư này, thầy nhắc con nhìn vào vài sự thật, phải biết ôn cố tri tân, nhớ chuyện cũ để thấy chuyện mới, vì chuyện mới nó có khác chuyện cũ là bao đâu, đôi lúc nó còn tai hại hơn, vi tế hơn, nên nếu hời hợt sẽ không thấy. Ví dụ: khi nói “GHPG” có nghĩa khác, nếu chỉ nói “Hội Phật giáo” (vô tình hay cố ý) nó có một nghĩa khác rồi, vì như vậy thì PG chỉ là một cái Hội như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Đá banh, thế thôi. Hay nói “chùa neo đơn” có nghĩa là cái chùa ấy không có Tu sĩ, không có Tín đồ, không có sinh hoạt gì cả, như một bà già neo đơn không nơi nương tựa, không có con cháu, không ai giúp đỡ tới lui. Hay chữ “Chất lượng cao” tức là người ta muốn ám chỉ Phật giáo như một món hàng không hơn không kém! Vậy có thể hỏi ai chủ trương hạ Phật giáo chúng ta xuống thấp như thế? Với mục đích gì và ai đã tiếp tay hưởng ứng chủ trương đó?!

Thêm một ý nhỏ về bản thân, các con gắng mà thúc liễm thân tâm. Ừ, nói chuyện này, thầy nhớ một Công an giao thông Phật tử đã nói với thầy: “Trước đây, chúng con có châm chước chút chút đối với quý Thầy, quý Cô đi xe ngoài đường, nay thì không châm chước gì hết vì quý Thầy quý Cô tu hành mà đi xe quá cỡ, cũng lạng lách, không khác gì lớp thanh niên bụi đời nên chúng con cũng bớt phần kính nể. Các Cô thì khăn trên đầu bay phất phới như bờm ngựa, các Thầy thì cái tà áo siu, tay áo rộng cũng phất phới như “Béc man”. Thấy ai đi xe đàng hoàng, tử tế, kể cả người thế gian chúng con cũng không phạt, nếu có lỗi chỉ nhắc nhở, thế mà các Thầy các Cô là kẻ tu hành mà phong cách thì tệ quá nên phải phạt cho chừa”. Vậy đó, các con nghĩ thử do ai? Con đừng cho những việc này là tầm thường, nhỏ nhặt, nó có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín chung.

Con nhớ kỹ.


Trích Phật Ân số 8

PL. 2549

Niệm con,

Vừa rồi, tang lễ ni sư Tâm Thanh thầy gặp mới biết sư cô tác giả của bức thư gởi cho chùa xin các số Phật Ân cho đủ bộ và cô rất tâm đắc loạt bài gởi cho con, nên phô thành một tập riêng tặng bạn bè, rồi hỏi: Thầy gởi cho ai? Niệm nào? Thầy trả lời rằng: Niệm này là chung cho tất cả đệ tử xuất gia cũng như tại gia kể cả các học trò của thầy, thư này, cũng thế, hơn nữa, con biết rõ pháp tự của huynh đệ con, lớp đầu tiên thầy đều cho chữ Niệm, như : Định Niệm, Từ Niệm, Trí Niệm, Chánh Niệm, Chơn Niệm, Hiếu Niệm… mà gởi Niệm nào cũng được, vì con là tất cả, tất cả là con, phải vậy không Niệm !

Vừa rồi từ Đài Loan con điện về thăm thầy và vui vẻ báo tình hình Phật giáo ở xứ người, nghe cũng hay hay vui vui, xứ người ta thì vậy, còn xứ mình, có nơi Phật giáo còn bị cấm treo cờ trong dịp Phật Đản, con nghe thầy nói rồi ngạc nhiên, “Sao kỳ vậy?” có gì đâu mà kỳ! Khi lòng người chưa mở rộng, khi ý thức chưa thông, khi nghi ngờ và đố kỵ vẫn còn thì làm sao có cảm thông cởi mở!

Năm nay, PĐ 2549 tại chùa mình, hằng năm, lễ tưởng niệm Pháp nạn 1963 thầy đã khẳng định chỉ mục đích tri ân và niệm ân rồi ôn cố tri tân chứ không khơi dậy đống tro tàn quá khứ mà ôm mối bận lòng. Tại vì ngay cả các con, tiến sĩ, cử nhân Phật học, lịch sử Âu Á đều thông mà hỏi mục đích cuộc vận động 1963 của PG các con đều ú ớ, hỏi Đạo Dụ số 10 của ai, nội dung thế nào mà PG đòi hủy bỏ các con cũng mù mờ, bao nhiêu Phật tử đã hy sinh, bao nhiêu Thánh Tăng đã dùng nhục thân làm đuốc để cho Phật Giáo tồn tại, cho dân tộc bớt đau thương, các con cũng a á lắc đầu. Vậy thì làm sao các con có thể định hướng cho bước đi, nhất là trên đường lợi tha kiêm ái !

Vì vậy nên thầy muốn các con thấy rõ vấn đề, đôi lúc chính các con cũng hiểu một cách sai lạc thì chắc chắn hành động sai lạc mà trở thành kẻ vong ơn như một số người không chung thủy, không khí phách, không lập trường, đôi khi vì cái ngã, cái danh hư mà phải chịu những điều không nên chịu, nghĩa là “chịu đấm ăn xôi” mà đánh mất chí trượng phu, quân tử của người tu sĩ. Cuối cùng cũng chẳng có xôi mà ăn!

Ở xa, con thấy nhớ chùa, nhớ huynh đệ, nhớ thầy, bạn, nhớ VN, nhớ cả mùi chao thum thủm xứ Huế, nhớ cả tô canh chua của dì Vải người Nam, nhớ cả những buổi tụng kinh hằng giờ mồ hôi nhễ nhại, đó là tình cảm thiêng liêng, là những ký ức đáng quý, thầy thư này cho con mong con nhớ kỹ hơn một điều đó là sự kỳ vọng của mọi người ở nơi sở tu sở chứng của con nhiều hơn sở học.

Năm nay, thầy có cho vài chú vào các trường Phật học, và đặc biệt có 3 chú chuyển hướng không lên SG theo học vị thế gian mà quay về nội điển Phật học, thầy đã tán đồng và hoan hỷ khi các vị đó không còn ở SG.

Trước đây con có trình bày “Dường như dưới mắt thầy ai lên ở SG đều không tốt”, “Không phải thế” thầy đã giải thích cho con, không thể vơ đũa cả nắm, mía sâu có đốt, phương tiện học tập SG có thừa, học kiến thức văn minh SG có dư, nhưng SG cũng dễ kéo con người vào con đường sa đọa, nếu không có nhận thức và bản lĩnh trong cuộc sống. Huynh đệ của con có người đã rụng, rụng theo nhiều cách mà con đã thấy. Bây giờ con đã hiểu tại sao huynh đệ của con kẻ theo thế học, người theo Phật học và sự hướng dẫn dạy khuyên của thầy tùy theo mỗi người riêng lẽ. Sự ăn ở của các con khi rời chùa thầy cũng đã xử sự mỗi cách khác nhau.

Vừa rồi thông tư của GH số 211 ngày 30/10/04 đã bắt thang cho một số Tăng Ni vốn đã lung có cơ hội lung hơn, vốn đã kém kỷ cương có cớ để không khép vào khuôn khổ, thư văn viết: “Tăng Ni không ở chùa này có thể đến ở chùa khác miễn là đừng phạm trọng giới và luật pháp quốc gia”. Nghe có vẻ cởi mở tự do, thực tế là cái gì sau đó? Vậy cho nên có vị đã tự ý bỏ chùa, bỏ thầy chạy lung tung vẫn có chùa nhận, tạo rối loạn trong thiền môn, vì rằng, gặp thầy này khó đi tìm thầy dễ, ở chùa này khổ đi tìm chùa sướng, thấy chùa này nghèo đi tìm chùa khác giàu hơn thì giới nào, luật nào có vi phạm gì luật pháp quốc gia!

Niệm con,

Trong luật có câu: “Ngũ hạ dĩ tiền nghiêm tinh giới luật, ngũ hạ dĩ hậu phương nãi vấn pháp tham thiền”.

Huynh đệ của con có áp dụng không? Cũng trong thông tư ấy GH còn vô hiệu hóa An Cư – vì xưa nay có cấm túc An Cư mới tính một tuổi hạ, bây giờ không An Cư cũng tính. Họ bảo tính giới lạp chứ không tính hạ lạp. Do đó một số Tăng Ni đã xem thường việc An Cư. Thôi thì việc ấy của người ta, còn các con phải tuân lời Phật Tổ, An Cư lợi lạc cho đạo nghiệp của mình chứ không vì bất cứ một cái gì khác.

Như con đã biết, Phật giáo đến quốc gia nào mang sắc thái của quốc gia đó. Nhưng cốt lõi giải thoát của PG chẳng đổi thay. Trung Hoa thời chấn hưng Phật giáo, Thái Hư Đại Sư, bậc siêu phàm của Phật giáo trong thời đại cận kim, chủ trương cách mạng giáo lý, cách mạng giáo chế, cách mạng giáo sản mà cốt lõi giải thoát của PG không vì vậy mà biến chất, trái lại còn rạng rỡ hơn lên và PGVN cũng ảnh hưởng công cuộc chấn hưng đó trong suốt mấy mươi năm dù đất nước trong hoàn cảnh chiến tranh ly loạn, có những tu sĩ xếp y hậu, khoác chiến bào thể hiện lòng thương dân, yêu nước nhưng cũng giữ tròn giới hạnh đạo phong. Vậy mà khi đất nước thống nhất, dân tộc độc lập thì chúng ta phải chịu một cảnh huống đau lòng, lạm phát thầy chùa, lượng thì nhiều mà phẩm thì ít, ở ngoài xã hội đạo đức bị xói mòn, băng nhóm tội phạm khắp nơi, tham nhũng, hối lộ buôn lậu tràn lan, thâm thủng ngân sách quốc gia. Nhà cửa, cầu cống, đường sá làm nhiều mà chất lượng quá kém, chưa ở đã hư, chưa dùng đã sập, thấy mà đau, nghe mà xót, có người bảo đó là việc thế gian, chúng ta quan tâm làm gì cho mệt, cũng đúng một phần. Với thầy.

“Đời có đạo đời càng thêm đẹp,

Đạo không đời đạo độ cho ai ?’’

Nên việc nước là việc dân, mình là dân trong nước không thể nhắm mắt mà không biết, mà biết cũng chẳng làm được gì. Có người thở ra “gặp thời thế thôi thời phải thế” .

Trong dịp gặp Phó thủ tướng Vũ Khoan thầy đã thẳng thắn nói rằng: “Từ lâu, biết ai mà nói, nói mà ai nghe, nay có người nghe, ý dân xin nói, nói với con tim chân thành xây dựng, các Ngài đang lắng nghe, tôi cảm ơn và xin nghe cho rõ, hiểu cho thấu nỗi lòng. Tu sĩ chúng tôi cũng con dân đất nước vậy sao xin nhập hộ khẩu quá khó khăn, các ngài kêu gọi xóa đói giảm nghèo, kêu gọi đóng góp nhà tình thương, nhà tình nghĩa, vậy sao chùa hư xin sửa, chùa cũ xin trùng tu, chúng tôi xin phép năm cửa, bảy phòng, bốn cấp, ba bậc các ngài chỉ xem xét thực tế rồi một chữ “cho phép” mà cũng lắm nhiêu khê? Mọi người dân, ở phải có nhà, tu sĩ ở phải có chùa, người giàu xây lầu 5, 7 tầng, tu sĩ chúng tôi sửa bếp làm nhà ăn cũng bao phen lên xã xuống huyện mất thì giờ tốn tiền bạc, nắng nóng mưa lạnh mà các Ngài chẳng thương ! Lễ Phâït Đản, quốc tế công nhận, Liên Hợp Quốc rước xá lợi về thờ, mà Việt Nam chúng ta, học sinh vẫn đi thi, đi học, công nhân vẫn đi làm, xe hoa hạn chế, lễ đài cô đơn, tạo kẻ hở làm gì cho người ngoài xuyên tạc!”

Ngài Vũ Khoan có hứa xem xét và bây giờ chưa biết đến đâu.

Niệm ơi,

Thầy nói các điều trên để con thấy rõ vấn đề, vì tre tàn măng mọc, thế hệ thầy qua đi, thế hệ con tiếp nối, tiếp nối cái gì con suy tư mà xem!

Trong lễ khai giảng khóa 5 trường trung cấp Phật học Đồng Nai. Ban Tổ chức mời thầy phát biểu với tư cách đại diện bổn sư Tăng Ni sinh, thầy đã chân tình góp ý: “Cha Phật mới sinh con Phật, thầy Phật mới đào tạo nên trò Phật, tâm Phật mới làm được việc Phật; đem tâm của ma không thể làm việc Phật, có làm cũng biến việc Phật thành việc ma, cho nên trường Phật giáo là đào tạo cán bộ Phật giáo chứ không đào tạo cán bộ thế gian, nên đề nghị lược bớt những môn học chưa cần thiết, đừng nhồi nhét quá nhiều mà chất lượng thì ít để có thì giờ cho Tăng Niø tu tập, bất đắc dĩ mà dùng đến chữ “Trường”, có nội trú là ưu điểm nên sinh hoạt dưới mô hình Phật học viện ngày xưa thì tốt hơn”.

Niệm ơi,

Sở dĩ thầy phải nói rõ như thế vì trước đây, các Phật học viện: Báo Quốc – Huế, Hải Đức – Nha Trang, Huệ Nghiêm – Sài Gòn, Lưỡng Xuyên – Miền Nam… đào tạo biết bao tăng sĩ đa tài, lãnh vực nào cũng có khả năng phục vụ : Giảng sư, kinh sư, nghi lễ, trụ trì, hành chánh… mặt nào cũng giỏi. Còn bây giờ, có nhưng quá ít không đủ đáp ứng yêu cầu của sinh hoạt Phật sự mỗi ngày mỗi cấp thiết hơn, điều này với lứa tuổi như các con khó mà thấy được, dĩ nhiên, thầy biết, nói như thế có người sẽ cho thầy là thủ cựu, hoài cổ, mà họ có biết đâu với cái lối lãnh đạo và tổ chức giáo dục như hiện nay vì chạy theo thời đại, học vị, hình thức xa lần cái căn bản cốt lõi của chư Phật, chư Tổ. Có vài Tăng sinh ra trường trong đó có huynh đệ của con, chưa làm chủ lễ được một khóa lễ sám hối, một thời kinh nhập liệm, sử dụng pháp khí chưa rành, giảng giải Phật pháp không được, thảo một công văn không xong, không phân biệt được nội dung của đáp từ, diễn từ, đạo từ, huấn từ… Vì vậy, có người cầm máy thì nói lung tung, không nói được nội dung cần thiết, về hành chánh thì thông điệp lẫn lộn với thông tư, diễn văn trở thành báo cáo… dù văn chương họ rất giỏi, bằng cấp họ rất cao, địa vị họ rất lớn nhưng áp dụng vào thực tế thì… cười ra nước mắt. Các con phải biết đặt câu hỏi “Tại sao?” và trả lời thế nào, để tìm phương bổ cứu.

Niệm con,

Trong thâm tình sư đệ, thư cho con thầy nói hết sự lòng, viết hết tâm tư, trong nhà đóng cửa dạy nhau, lỡ có ai đọc được không tránh khỏi hiểu lầm, trách móc, dù thầy rất dè dặt, con phải hiểu rằng, thầy đề cập điều gì trong đây đều có chủ đích dù có điều không nên hoặc không cần nói nhưng thầy phải viết cho con, vì con là đệ tử của thầy, không nói thì con không biết; không biết thì nói và làm sai lầm, không biết thì dễ bị kéo lôi, dễ bị lợi dụng, sẽ bị bả lợi danh vây bủa từ đó mà rơi vào tội “Phản sư diệt Tổ” như một số đã làm.

Con có hỏi thầy về việc định hướng tương lai của chùa, của huynh đệ, thầy đã nói rõ trong lời cáo bạch trước quyển Kinh Di Giáo và văn Cảnh Sách của Sư ông dịch mà chùa đã ấn tống trong lễ Thành Đạo năm qua mà thầy xem đó là di chúc, mà có thì cũng nên truyền hiền chứ không truyền tử, hơn thế vạn pháp do duyên, cưỡng duyên dễ hư việc, việc Phật là việc chung ai có Phật tâm đều chung gánh, không nên như một trường hợp nọ một ghế mà hai bằng tiến sĩ giành nhau để đạo tình tổn thương nhiều đời khó hàn gắn. Kinh nghiệm đau thương đó cho chúng ta một bài học vô giá, đừng quên.

Đêm đã khuya, trong chùa im lắng, huynh đệ con đã ngủ, mấy chú điệu gác chân lên người nhau há hốc miệng mà ngáy, cái mùng chung lớn như vậy mà không đủ cho 4 chú điệu quay vòng. Chắc giờ này con đang học, thần giao cách cảm, con có nhảy mũi đó là lời nhắc nhở của thầy, của ba mẹ, của những ai đang nhớ và đang kỳ vọng nơi con.

Còn gì, thư sau Thầy viết tiếp.

Chúc con an lạc.


Trích Phật Ân số 9

PL. 2550

Niệm Con,

Trong cuộc sống chung quanh chúng ta, quan sát kỹ có những thay đổi từ trong đến ngoài, từ lớn đến nhỏ, từ trên xuống dưới, điều này không lạ với cái thấy của Phật giáo trong định luật vô thường, có điều sự thay đổi ấy nhanh hay chậm, tốt hay xấu, lên hay xuống mà thôi.

Thư này, với con, thầy thấy cần viết vài điều, vì những gì thầy viết cho con hôm nay đối với ngày mai nó đã hoàn toàn khác hẳn nhưng không phải vì vậy mà thầy không viết, nó có giá trị giai đoạn nhưng biết đâu sau này sẽ là sử liệu quý báu vì người thật việc thật đã hiển bày cụ thể trước mắt chúng ta, dĩ nhiên có những người, những việc không đáng nói nhưng có thể không đáng với người này nhưng rất đáng với người kia, không đáng nói ở nơi này nhưng lại rất đáng nói ở nơi khác, đó là Khế cơ, Khế thời và Khế xứ mà với thầy với con thì tất cả đều nên nói để có một cái biết, cái thấy rõ ràng tránh được cái biên kiến để dễ bị cái tội Kiến thủ. Câu chuyện “Thầy Bói sờ voi” là một bài học muôn đời có giá trị quý báu.

Vừa rồi, có rất nhiều Phật tử đến thăm chùa và hỏi thầy đã đào tạo được bao nhiêu đệ tử, đã có ai kế thừa sự nghiệp của thầy chưa?

Câu hỏi bình thường và đơn giản nhưng trả lời thì khó lắm, vô lẽ nói không mà cũng chẳng dám nói có, nói không thì mấy chục học trò, đệ tử lủ khủ, Cử nhân có, Giảng sư có, Thiền sư có, Kinh sư có, Trú trì có, sao gọi là không! Còn nói có thì có cái gì? Có hình thức hay nội dung; có thật chất hay chỉ có con người? Câu đầu đã khó câu thứ hai lại khó hơn, vì ai kế thừa? và kế thừa cái gì, kế thừa Đạo nghiệp ư? Thầy có đạo nghiệp gì đâu mà kế với thừa. Kế thừa sự nghiệp ư? Đã tu sĩ thì làm gì có sự nghiệp! Có lẽ Phật tử muốn hỏi “Để chùa lại cử ai làm Trú trì?” nếu vậy thì khó hơn nữa phải không con? Chữ Trú trì là Trú Pháp Vương Gia Trì Như Lai Tạng, thì tu sĩ đã là Trú trì rồi, chứ Trú trì người ta nghĩ chỉ là cái việc giữ chùa thắp nhang hầu Phật mà thôi.

Vậy mà người ta rất ham Trú trì, muốn làm Trú trì, năn nỉ, lạy lục, xin xỏ để được làm Trú trì, đem tiền đi mua Trú trì còn tệ hơn nữa là tranh giành, lập mưu, cướp giựt cho được cái chức Trú trì, phải chăng Trú trì là chức là quyền là có lợi có danh? Nếu quả như thế thì ôi thôi “Hai chữ lợi danh buộc chặt kiếp người làm sao mà giải thoát?”. Tuy nhiên, nói đi phải nói lại, có nhiều vị xưa cũng như nay làm Trú trì để tiếp Tăng độ Chúng, làm Trú trì để hướng dẫn tín đồ tu học theo Chánh Pháp, để có điều kiện mà Hoằng Pháp Lợi Sanh, giữ gìn tài sản của Tam bảo, phát triển cơ sở của Tăng Đoàn, những vị này do Phật bổ xứ, Hộ Pháp Long Thần che chở ủng hộ thì không muốn Trú cũng nên Trú, không muốn Trì cũng phải Trì, cần gì phải tranh giành xin xỏ. Phải không con?

Thực tế, có nhiều chùa, vị Bổn sư nỗ lực xây dựng mục đích làm cho Già lam hưng thịnh, nhưng đệ tử chẳng quan tâm góp sức, không để tâm tới việc nên hư của chùa mình, nếu với cái tâm giải thoát thì tốt, nhưng nếu với thái độ vô trách nhiệm thì trở thành kẻ “Ăn cháo đá bát” thì sao? Thái độ này khó chấp nhận rồi sau này khi Thầy Tổ viên tịch rồi lại sinh tâm tranh giành với huynh đệ, kéo lôi phe nhóm, chia rẽ tông môn, thái độ này lại đáng trách hơn nữa phải không?

Niệm ơi,

Con biết không, mấy ngôi chùa mà người ta cúng, thầy trò ta không có duyên, một cái ở Nhơn Trạch, một cái ở Vũng Tàu, một cái ở Đồng Nai, cả ba ngôi chùa này người ta đã bán, đã bán là có người mua. Xưa nay chưa có sự việc này, bây giờ mới có, có việc “Tu sĩ bán chùa” thì có việc “Người ta mua chùa” Giáo hội hiện nay đồng ý vì có phần, Chính quyền bằng lòng vì có lợi, tự do mua bán trong cơ chế thị trường XHCN thế thì vui hay buồn vậy con?

Bà N.L mua đất làm Thất cho Thầy T ở Xuân Lộc. Cụ K mua đất làm chùa cho Cô H.Đ ở Chơn Thành, tín tâm mạnh mẽ, hồ hởi phấn khởi được một năm, nay Thầy T và Cô H.Đ đã bán hết rồi, vô lẽ làm đơn đi kiện? Mà kiện ai? Ai xử? Đành thắp nhang hướng lên hư không “méc” với Phật, đức Phật chỉ cười im lặng, chúng sanh là vậy đó! Thấy vậy nên thầy nhắc con và cũng nhắc tự chính mình.

Một ngôi chùa Tổ khá lớn ở Long Hải, Sư cụ ngày xưa đạo cao đức trọng, nối nghiệp Tông môn, áp dụng Thiền môn quy cũ nghiêm túc nên chùa thịnh lắm, 25 năm qua khi hình thành GH mới một động cơ bất chính manh nha, vị đệ tử chiếm chùa của Sư cụ, Sư cụ cười viên tịch, đệ tử kế thừa chạy theo danh lợi, tin kẻ bất lương, quả báo nhãn tiền bị bệnh mất trí, nữ đệ tử khuynh loát, cắt đất chùa, ruộng chùa bán hết, chuyền tài sản của Tam Bảo về nhà, bỏ chùa hoang phế, tín đồ thối tâm, đầu hạ này thầy ấy xuôi tay trong đau khổ, chùa chẳng còn gì, bao đạo nghiệp tiêu tan! Một bài học cần tư duy mà hành xử, viết điều này thầy thấy tim nhói đau, đau buồn cho tình Sư nghĩa Đệ trong thời Pháp nhược ma cường, nỗi đau chung cho Phật giáo chúng ta !

Lãnh vực vật chất thì vậy, còn lãnh vực tinh thần? Niệm ơi, một Pháp lữ của Thầy ở D.G viên tịch, thầy đến giúp lo tang lễ, không quá hai tuần sau, đệ tử kế thừa muốn có chức có danh, muốn tỏ ra có bằng cấp, có học vị, thế là chí Thầy Tổ không nối, ý Thầy Tổ không theo, y chỉ ngay với quyền với thế. Vậy cho nên nói chữ kế thừa nó xa vời 180o. Xét ra cũng tội vì nếu trung thành với Thầy Tổ trong hoàn cảnh này thì bị nhiều thiệt thòi. Huynh đệ con, Đ.N, lập hồ sơ xin đi du học. Muốn ký giấy tờ dễ dàng? Được. Muốn đi sớm? Được. Muốn gì cũng được, miễn là đừng làm đệ tử ông M.T. Thì ra, ai có lập trường, ai giữ sĩ khí, đều được (hay bị) chiếu tướng cho đến khi chấp nhận “boø” hoặc “quỳ” thì muốn danh có danh, muốn lợi có lợi, muốn chức có chức, thấy đã sợ, điều này con nên nhớ kỹ, và vì vậy thầy đã cho phép các con muốn theo ai thì theo, muốn đi thì đi và cũng đã có đứa đi không nhìn lại, vui thôi.

Niệm con,

Lễ Phật Đản vừa qua nhiều người có vẻ phấn khởi, nhưng nhiều người thì suy tư, có người ngờ vực thiện chí của chính quyền, do đó ngờ vực luôn khả năng lãnh đạo của Giáo hội hiện tại. Tất cả đều có lý do riêng, nếu phân tích chúng ta sẽ thấy tất cả đều “dối” chỉ có cái “tâm” của Tín đồ đối với Đức Phật là “Thật” mà thôi và sức mạnh của Phật Giáo chúng ta cũng từ cái Tâm ấy, cái Tâm không ai cân nổi vì nó nặng hơn dãy núi Trường Sơn, nó cao đến chín tầng mây còn thấp, nó rộng mà bốn đại dương ghép lại vẫn không bằng, nhờ vậy mà cả 100 năm giặc Pháp phá hoại, 9 năm Đệ I Cọng Hòa của Diệm, 9 năm Đệ Nhị Cọng Hòa của Thiệu, 30 năm Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay chẳng có ai xử sự tốt với Phật giáo nhưng đều không làm suy giảm được cái tâm của tín đồ PGVN.

Ở Xuyên Mộc hai địa điểm hành lễ của hai Giáo hội, một bên được nhà nước yểm trợ lèo tèo hơn 100 người dự lễ. Một bên bị khủng bố, cản ngăn, số tham dự trên mấy ngàn người, các cấp lãnh đạo sáng suốt, nên thấy rõ vấn đề, còn nếu cứ cố chấp, kiến thủ sẽ chẳng được gì mà còn thêm phiền phức rắc rối. Ở Huế cũng vậy, dù Phật giáo Huế có truyền thống từ lâu nên sự sinh hoạt có nề nếp và tinh thần phục vụ, ý thức bổn phận cao hơn những tỉnh khác. Vì vậy có người nhìn PG Huế rồi tưởng các tỉnh khác cũng như Huế thì là một nhầm lẫn lớn. Con đã có dịp về Huế, gặp bạn bè, rồi có nhận xét sinh hoạt PG ở Huế rất chính xác, chỉ tội cho một số Tăng Ni trẻ muốn định cho mình một hướng tu và phụng sự Tam Bảo tốt vẫn đang hoang mang cũng là điều dễ hiểu.

Trước Phật Đản Thầy có nhận được một giấy mời của UBND Huyện khá lạ lùng vì nội dung nêu rõ “Lễ Phật Đản được LHQ công nhận là lễ Quốc Tế và kỷ niệm ngày GH PGVN thành lập đã 25 năm qua”, Thầy không tham dự và trả lời cho người trực tiếp đưa thư là Trưởng Ban Tôn Giáo xã vì 3 lý do:

  1. 1. Việc kỷ niệm thành lập GH là việc của Giáo hội tại sao chính quyền mời, vậy rõ ràng cái Giáo hội này chính quyền tự xác nhận do chính quyền thành lập!
  2. 2. Phật giáo có mặt với dân tộc Việt Nam đã 2000 năm, dân tộc Việt Nam cũng đã đón lễ Phật Đản 2000 lần, nay, chính quyền thấy LHQ công nhận là ngày lễ Quốc Tế mới thừa nhận theo, muộn quá phải không? Tại sao muộn vậy? Vì nếu không thừa nhận làm sao hội nhập được vào với Nhân loại với Quốc tế (nhưng dù sao có cũng hơn không)
  3. 3. Thư mời dùng chữ trịch thượng thiếu văn hóa chứng tỏ trình độ hành chính quá non.

Thực tế phải thừa nhận lễ Phật Đản năm nay có sinh khí hơn các năm trước nhưng cũng chỉ bằng 1/10 của những năm còn chiến tranh, chưa giải phóng.

Niệm con,

Năm 1954 đến năm 1975 chiến tranh tàn khốc làm nát quê hương và mỗi mùa Phật Đản Phật giáo Việt Nam lên tiếng kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh, vận động ngưng bắn ít nhất 24 tiếng đồng hồ để dân tộc đón lễ Phật Đản và đều được các phe lâm chiến hưởng ứng, nhắc vậy để các con thấy ảnh hưởng uy thế của Phật giáo Việt Nam trên quốc tế lúc ấy như thế nào. Trong nước, Phật giáo còn kêu gọi miễn thuế đò, thuế chợ, các lò sát sanh ngưng giết mổ heo bò, các Xí nghiệp, Trường học, Công sở nghỉ làm, nghỉ học để nhân dân vui đón ngày lễ Phật Đản và đều được hưởng ứng của tuyệt đại đa số nhân dân nên niềm vui tràn ngập mọi người, mọi nhà khắp hang cùng ngõ hẻm, so với bây giờ có vài chiếc xe hoa lèo tèo, vài lễ đài thưa thớt, công nhân vẫn đi làm, học sinh vẫn đến lớp, đò chợ, trạm thuế vẫn thu đều đều thì đã có gì đâu mà phấn khởi! Chưa nói đến một sự tổ chức theo đuôi không nhứt quán ví dụ có nhiều nơi cán bộ vẫn cấm tư gia Phật tử treo cờ, xe hoa chỉ cho đi quanh quanh một phạm vi nhỏ hẹp, có nơi Ban Trị Sự Phật giáo của Giáo hội này cấm GĐPT biểu diễn văn nghệ, cấm cắm trại mừng Phật Đản như ở Vũng Tàu, Đaklak (huyện Cư-Mgar…). Thầy thấy rõ cái chưa thành thật, chưa cởi mở, chưa nhất quán do nạn Sứ Quân hay chỉ thị mật, nếu có, về phía chính quyền không đáng trách vì đó là thủ thuật là chiến lược của họ, còn người lãnh đạo Phật giáo thì khó chấp nhận lối hành xử bị động và nhất là thiếu tinh thần trách nhiệm trên với Tam Bảo, dưới với tín đồ như vậy được, nhưng dù sao thời gian gần đây cũng thấy có tiến bộ hơn trước.

Một điều khó hiểu là trong các Pháp Lữ, Huynh Đệ chúng ta cái tâm lý cầu an quá nặng hay là lòng hỷ xả không đúng cách, im lặng trước những điều mà họ biết là không đúng như xin Tấn phong phải nộp lý lịch, Kiết giới An cư mời chính quyền đến chủ trì, các buổi lễ Phật giáo kể cả lễ Phật Đản ngay trước lễ đài sắp chỗ cán bộ ngồi chung với Hòa Thượng, họ mặc áo cụt tay, áo ngắn kể cả cán bộ nữ ngồi trước hoặc chung với các chiếc Y Hậu vàng… Điều này không phải là xã giao, là lịch sự mà chính là làm tổn hại tính xã giao và rất mất lịch sự chưa nói đến hủy hoại bản sắc văn hóa Phật giáo và Dân tộc Việt Nam. Cái lỗi này không do phía các cán bộ nhà nước mà do chúng ta mang tâm lý trọng nể quá đáng hay bợ đỡ, sợ sệt mà sinh ra, trong lúc chính nhiều vị cán bộ có tri thức họ rất áy náy khó chịu.

Tháng 2 vừa rồi, thầy Chứng minh một lễ Đặt đá xây chùa ở Đaklak một vị Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân dân Huyện đến dự lễ, ông phát biểu rất mạch lạc, xúc tích, nhu hòa, không một câu, một chữ đề cập đến chính trị hay quảng cáo ca ngợi chế độ mà chỉ tán thán lịch sử Phật giáo Việt Nam rồi kêu gọi Phật tử nỗ lực đóng góp công sức cho ngôi chùa chóng thành làm đẹp cho quê hương vì lúc Bác Hồ còn sống Bác đã áp dụng Giáo lý Đạo Phật để tạo sức mạnh đoàn kết nhân dân xây dựng đất nước vì bác là người “Học trò nhỏ” của đức Phật. Mấy ngàn người vỗ tay kéo dài cả phút để tán thưởng, đó mới là một thái độ chính trị khôn ngoan hay quảng cáo cho chính quyền mà không ai chê trách được, vì biết thuận theo lòng dân, biết thu phục nhân tâm mà không tổn hại gì chính sách nhà nước cả.

Thế mà, Niệm ơi,

Chúng ta muốn xây một cái cổng chùa vì chùa nằm trong diện Khu Văn hóa, làm đơn trình xin chính quyền Xã, Xã đòi bổ túc bản vẽ và Sổ Đỏ, Thầy cũng chịu khó bổ túc đủ. Xã chuyển ra Huyện, Huyện không muốn cho, lấy cớ là chùa Phật Ân chưa đăng ký tên vào sinh hoạt với Giáo hội của nhà nước, như vậy để thấy rõ chủ trương của chính quyền và rõ hơn là GHPGVN hiện nay hoàn toàn do chính quyền lãnh đạo nên không muốn bất cứ ai nằm ngoài GH này, nếu nằm ngoài họ tìm cách “Triệt buộc”.

Những dòng này thầy viết cho con như đã nói là một nét chữ trong kho sử liệu của Phật giáo và Dân tộc Việt Nam trong giai đoạn này.

Trong lúc thầy viết thư này cho con thì Trung Nghiêm ở Mỹ gọi về hỏi thăm sức khỏe thầy và anh em huynh đệ, hỏi tình hình tu học, An cư, Phật Đản, rồi báo tin đã gởi về một máy giặt để anh em đỡ vất vả khi lao động xong cũng như tụng Kinh lễ Phật mồ hôi ướt áo, đúng lúc tối nay thảo luận đề tài “Tu sĩ Phật Giáo sống thế nào trong thời đại mới”. Thầy cười, chưa nói cái mới đã có cái máy giặt mới gởi về và liệu các Điệu có bị cái nạn “Sướng quá hóa cuồng” không đây.

Thăm con và con nên đọc kỹ để nhận ra ý thầy muốn nói với con.

Phật Ân tự, mùa sen 2550


Trích Phật Ân số 10

PL. 2551

Niệm con!

Thầy lại viết thư cho con đây. Hôm qua mới đi khám bệnh về còn hơi mệt nhưng đã sắp hết thời gian góp bài cho Phật Ân nên phải cố.

Cũng như bao nhiêu lần trước, đến bệnh viện là như đến địa ngục trần gian. Chỉ khác một điều là trong địa ngục thật họ không đòi tiền tội nhân. Có lẽ vì khác một chữ tội hay chữ bệnh. Điều đó đúng thôi nhưng trên thực tế bây giờ bệnh nhân không khác gì tội nhân bao nhiêu và ngay cả thân nhân của bệnh nhân đôi lúc cũng trở thành tội nhân nữa vì bị hành hạ đủ kiểu. Mới mấy câu đầu thư cho con, thầy đã xổ ngay đi một tâm sự bất như ý rồi. Đọc, chắc con nghĩ thầy đã lẩm cẩm! Có lẽ, 70 tuổi rồi dù thầy còn là “Cua rơ Honda”!

Bệnh thì đi chữa, lành thì tốt, không lành thì toi đời, định luật mà!

Con hỏi năm nay An Cư thế nào? Thầy đã báo trước một năm, gọi huynh đệ của con về để sắp xếp việc chùa, cũng vài đứa tuân theo, vài người xin phép không về được vì những lý do chính đáng nhưng cũng vài đứa chẳng hồi âm, chẳng trình báo. Nó đã học được bài học vô lễ, vô tình ấy không biết ở đâu, nên khi con hỏi thăm huynh đệ con có về an cư, học hành thế nào thì thầy chỉ cười là vậy. Thật ra, thầy muốn bắt chước ngài Di Lặc hay của một Tổ Sư nào đó mà vỗ nhạc câu:

“Thế tình đa phản phúc

Ngã trường tiếu bất ngôn”

Cũng là một tâm sự, một nỗi lòng thầy muốn nói với con. Ừa! Mà quên, rất nhiều pháp lữ cùng lứa với thầy cũng tâm sự như thầy, không khác.

Thì ra, đó là tình trạng chung của Thiền môn thời tin học, văn minh tiến bộ, thời học vị, trường lớp chật đất, mua bằng bán cấp mà thật tu thật học lại thiếu. Nhưng thầy lại nghĩ tin học, vi tính, văn minh, khoa học, trường lớp là để phục vụ đời sống con người cao hơn, đẹp hơn chứ nó đâu muốn con người vì nó mà trở thành vô tình bạc nghĩa, thiếu chung thủy, vô lễ như vậy! Tất cả chỉ vì con người, “vạn pháp do tâm mà con”!

Tuy nhiên, hoàn cảnh xã hội, môi trường giáo dục ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của chúng ta, nhất là lớp hậu sanh, điều này thầy đã tiên liệu nên khi có đứa xin rời chùa để đi học thầy đã nói “con rời đây là mất 50%, vài tháng mất thêm 20%, vài năm mất thêm 20% nữa, cuối cùng chỉ còn lại không tới 10%”. Tại sao? Đừng đổ thừa ai cả, mà nên nói do chúng ta tất cả. Vì chúng ta ưa buông lung, phóng dật, thụ hưởng, tự ngã không muốn khép mình vào cương kỷ, không chịu ai điều khiển dù đó là cha mẹ, là Thầy Tổ! Phải chăng đó là nguyên nhân của sự mâu thuẫn giữa các thế hệ. Sống trong thời đại mà cương kỷ bị coi thường, đạo đức bị xem nhẹ thì những hiện tượng vô kỷ luật là bình thường phải không con.

Nói điều này với con, thầy nhớ, mới hai tháng trước đây, một Đại Giới Đàn của tỉnh (ĐN) mà chính người trong Ban Kiến đàn (TPT) than với thầy là rất bát nháo và quá hề vì người ta đã đặt nặng chức quyền và bè phái trên giới luật, người đáng cháu tôn lên đệ nhất tôn chứng, vị đáng ông hạ xuống đệ thất, chỉ chừng đó cũng đủ thấy nó đảo lộn trật tự tôn ti thế nào rồi, vậy thì huynh đệ con chỉ mới im lặng không nghe lời, chưa có gì quá đáng phải không? Vì nó học đòi một sự lãnh đạo và giáo dục như vậy nên nó thấy chẳng quan trọng gì, nó nghĩ nó đã có tu, đã có học vị, đã có trình độ, đã lớn, đã nhận thức, đã diệt ngã rồi, nó đã từng cúi lễ nữ nhân để được cho là phá chấp, thì chuyện thầy trách cứ dạy khuyên là “chuyện nhỏ”. Ừ, mà nhỏ thiệt, vì ở giữa cuộc đời vàng thau, chơn giả khó phân này thì có gì quan trọng đâu. Người ta dám dựng chùa giả để kiếm tiền (41 chùa giả ở động Hương Tích), thầy tu giả đi khuất thực khắp phố phường, ngay bản thân chùa mình cũng bị thầy chùa giả lừa gạt, thuốc tây giả bày bán công khai, dám giả cả công an để trấn lột thiên hạ, vì vài chục đồng tiền còm mà tiêm thuốc độc vào trái cây giết người như bỡn… trăm ngàn chuyện giả, tổ tiên mình nói chơi mà có lý đó là chữ “thế gian” chứ không phải “thế ngay” chữ nghĩa méo mó, suy nghĩ xiên xẹo, âu đó cũng là một hiện tượng cười ra nước mắt.

Niệm ơi!

Vừa rồi sư đệ con muốn đi du học Ấn Độ, nghe chữ “du học” đã thấy “mê” rồi, huống gì sau vài năm vinh quy bái tổ, dù không là trạng nguyên, thám hoa, mà cái bằng “tiến sĩ” lủng lẳng trước ngực, cưỡi con ngựa sắt chứ không phải con ngựa Ô lóc cóc như ngày xưa, thì ôi chùa mình oai ra phết. Vậy mà không hiểu sao thầy lại phân vân không mạnh mẽ gật đầu kể cũng là điều nghịch lý. Thôi thì việc này để thực tế trả lời vì chỉ trong vài tháng nữa Phật giáo Việt Nam sẽ có mấy trăm tiến sĩ hồi hương, nhân tài không hiếm, cung sẽ vượt xa cầu, chúng ta khỏi mỏi mắt trông chờ, ước mong giấc mơ đón Tăng Ni tài sẽ thành hiện thực, chỉ sợ không đủ ghế mà mời.

Hôm qua ngày 10/5, trong thời giảng lễ Đại tường Hòa thượng Luật sư Thích Đổng Minh tại Phan Rang có một đoạn thầy khai triển với tất cả tâm thành xúc động về bốn câu thơ dí dỏm, chỉ vỏn vẹn có 20 chữ mà Hòa thượng gởi gắm tâm tư của ngài khi làm Vụ trưởng Phật học vụ của Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa thượng viết:

Viện QUÝ Tú lo TU

Viện CẦN Tú có TU

Viện THƯƠNG TU thiếu Tú

Viện NGÁN Tú không TU.

Ôi! Quý, Cần, Thương, Ngán thực tế và chân tình, dễ thương lắm phải không con? Và từ suy nghĩ đó, thầy liên tưởng quá khứ trong thời Pháp chiếm đóng Việt Nam đặt nền đô hộ, có một số người chạy theo đóm ăn tàn, trong nhân gian đã truyền khẩu mấy câu thơ không biết của ai châm biếm khá thấm thía (dù hai việc chẳng ăn nhập gì với nhau, nhưng tâm viên ý mã) cứ nói cho con nghe:

“Nào có ra gì cái chữ Nho,

Ông nghè ông Phán cũng nằm co

Chi bằng học Pháp năm ba chữ

Tối đến Sâm-panh, sáng sữa bò”

Nghe mà đau, mà buồn, mà lo vì hai trường hợp có nét tương tự.

Niệm ơi!

Sinh hoạt Phật giáo Việt Nam trong năm qua, có một sự kiện nổi bật đó là Khóa Hội Thảo Phật Giáo Trong Thời Đại Mới Cơ Hội Và Thách Thức do Viện Nghiên Cứu Phật Giáo Việt Nam tổ chức. Cả mấy chục bài tham luận của các học giả, của những nhà nghiên cứu trí thức thượng đẳng của Việt Nam và vài nước trên thế giới, đặc biệt có những nhà trí thức của nhà nước tham dự, thầy không có thời gian dự đủ cả mấy ngày mà chỉ dự được một ngày, may mắn là ngày ấy có 5 vị tiến sĩ, giáo sư của nhà nước thuyết trình, đa số đều tán dương Phật giáo đã đóng góp thiết thực cho nền văn hóa Việt Nam, cho việc dựng nước và giữ nước, rồi đề nghị Phật giáo phải thay đổi cho thích hợp với thời đại, với xã hội mới, “nghe qua hay thiệt là hay, suy nghĩ cho kỹ đắng cay thế nào!”. Do đó, máy miệng, ức lòng bất đắc dĩ thầy phải “khai khẩu”, “Phật giáo đã có Phương pháp “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên”. Hơn thế Phật giáo cần chuyển hóa thời đại chứ không chạy theo thời đại vì Phật giáo đã đi trước thời đại quá xa. Phật giáo lại cần đi sát với xã hội để góp phần cải tiến xã hội chứ không để thế tục hóa Phật giáo theo xã hội mới. Và chúng ta đang ca tụng Phật giáo, đang hưởng thành quả mà Phật giáo đã đem lại cho dân tộc, vậy thế hệ hôm nay, chúng ta đang làm gì để đền đáp và nối chí tiền nhân. Chúng ta đã làm gì cho Phật giáo và dân tộc hiện tại? Và chúng ta sẽ làm gì cho Phật giáo và con cháu chúng ta trong tương lai? Tất cả chúng ta phải tìm câu trả lời thích đáng mới khỏi thẹn với cha ông và khỏi làm kẻ tội đồ của dân tộc, để lịch sử Phật giáo và con cháu luận tội hay ghi công”.

Cũng trong phần thảo luận, TT. Phước Trí đã chân tình góp ý “muốn nắm lấy cơ hội và vượt qua thách thức thì nhà nước thông qua MTTQ đừng chi phối, đừng sắp xếp nhân sự các cấp lãnh đạo của Phật giáo và nên để cho Phật giáo tự quyết định và bầu người lãnh đạo theo đúng tinh thần dân chủ, họa chăng Phật giáo mới mạnh được, chứ 25 năm qua người lãnh đạo Phật giáo do MTTQ áp đặt nên không có đủ khả năng và uy tín để lãnh đạo tín đồ. Một thiệt thòi lớn cho Phật giáo và dân tộc”. Nghĩ đúng, thấy đúng và dám nói đúng nên cả hội trường tán thành cười vui, dĩ nhiên cũng có người nhăn mặt.

Sau khóa hội thảo lớn đó lại có một cuộc thảo luận nhỏ của một số trí thức tâm huyết tại chùa Từ Tân và gần đây tại chùa Pháp Vân cũng có cuộc hội luận nho nhỏ độ 30 người với nhiều thành phần mà đa số đều là những người thương dân, quí đạo, nhiệt tâm, ai cũng tha thiết muốn cải tiến sinh hoạt Phật giáo để góp phần xây dựng đất nước. Mọi người đều thấy rằng: “Phật giáo yếu vì chia rẽ, cái bệnh tham quyền cố vị, kiêm nhiệm nhiều chức mà thiếu đức thiếu tài, cái bệnh kỳ thị, đố kỵ, bảo thủ, phe phái là lực cản, lại thêm cơ chế hẹp hòi, hiến chương què quặt cũng là nguyên nhân làm Phật giáo suy yếu nên ai cũng mong phải sửa đổi hiến chương, phải thay đổi bổ sung nhân sự, phải trẻ hóa người lãnh đạo họa chăng Phật giáo mới mạnh được”.

Bên cạnh, người lãnh đạo đất nước phải thấy rõ hơn nữa mối nguy hại cho dân tộc không phải là Phật giáo mà ở các thế lực khác mà thực tế đã xảy ra như vụ Đề Ga ở Tây Nguyên, vụ N.V.L ở Huế… nên chính quyền phải có cái nhìn và hành xử đúng đắn hơn, tốt hơn để Phật giáo có cơ hội góp sức đưa đất nước đi lên. Khi ra về ai cũng hy vọng và chờ. Riêng thầy, cười với anh em, lòng dặn lòng, không chờ, không hy vọng mà cũng không thất vọng, vì mấy mươi năm qua đã tư duy, đã và đang làm theo khả năng và hoàn cảnh, điều kiện của riêng mình, không chức, không quyền, không thêm, không bớt, việc đúng thì làm, việc sai thì tránh, chỉ đạo đúng thì theo, không đúng thì “em chả…”. Vậy nên, phải có lời cảm ơn tất cả những ai cảm thông đã hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp để thầy trò ta an ổn trong suốt hơn 20 năm qua, dù có lúc cũng bị “mời làm việc” “yêu cầu nọ kia” cuối cùng cũng trong ấm ngoài êm là quá tốt.

Niệm ơi!

Con hỏi lễ Phật Đản vừa qua có gì thay đổi? Cũng như các năm trước, Tăng chúng cũng làm lễ đài, cũng lo các việc thường lệ, cũng thực hiện chương trình thường niên và là lần thứ tư (4) chúng ta tổ chức lễ Tưởng Niệm Pháp Nạn năm 1963 vào tối ngày 13.04.AL không rõ ai báo cáo láo để chính quyền nghi ngờ tới lui thăm hỏi có ý ngại ngùng. Vì muốn có sự cảm thông thầy đã tốn công giải thích, cũng có vị hiểu rất nhanh, vui vẻ đồng ý nhưng cũng có vị còn nghi ngờ e ngại nhưng lễ vẫn tiến hành tốt đẹp, thành công, xúc động, có nhiều ấn tượng tốt, nhưng sau lễ thầy lại “bị hay được” mời đến cơ quan công quyền giải trình, cán bộ rất đông, đủ các ban ngành có người ôn tồn thăm hỏi, có người ngôn ngữ cửa quyền, quan liêu, hách dịch, ban đầu thầy cũng nhẫn nại cảm thông nhưng khi bị họ xúc phạm nên “Bồ Đề gai” dấy khởi thầy phải lớn tiếng “mích lòng” nhưng cuối cùng họ cũng chỉ trách là tự ý làm riêng không có chỉ thị của Giáo hội dù nội dung lễ rất tốt. Thầy chỉ cười và xác định lập trường:

Lễ Tưởng Niệm Pháp Nạn 1963 trong dịp Phật Đản chẳng có gì là sai trái. Giáo hội quên ơn, thiếu tình, vô trách nhiệm thì Giáo hội không làm, tùy họ. Riêng tôi, phải tưởng niệm đó là bổn phận thiêng liêng, không chờ chỉ thị, không ai có quyền cấm đoán việc nhớ ơn tiền nhân.

Thầy nói cho con nghe việc này để con hiểu thêm vì sau đó biết ra là do vài thầy trong Giáo hội mách lẻo vì kỳ thị. Nghĩ có ngán tư cách làm việc của cán bộ Giáo hội này hay không? Thế mà cán bộ chính quyền nghe lời cũng là chuyện lạ!

Nhân dịp này thầy cũng góp ý với chính quyền việc mời tu sĩ Phật giáo đi họp hay đi học tập liên tục trong mùa an cư kiết hạ là không nên, Giáo hội phải tư vấn cho chính quyền để các cuộc họp và học có kết quả vì nếu Tăng Ni rời bỏ cương giới mà đi tham dự thì vô tình phá luật Phật, mang tội phá hạ. Còn nếu không đi sao tránh khỏi được sự nghi ngờ của chính quyền là không có thiện chí, không hợp tác, từ đó nảy sinh ra bất hòa thiếu cảm thông, trách nhiệm này là do Giáo hội không dám nói, không dám đề nghị, cứ bảo sao nghe vậy thì đừng trách vì họ đâu biết luật Phật, mà nên tự trách người trong Phật giáo chúng ta, phải vậy không con?

Niệm ơi!

Con đã quan tâm việc sinh hoạt của chùa tu học của huynh đệ, dù một lời thăm hỏi cũng thể hiện cái tình. Pháp Tịnh ở Ấn Độ cũng gởi thư thăm chùa. Hàn Nguyệt Thu rất vui mừng khi cử hành lễ hằng thuận cho con nó ở Mỹ theo nghi thức Phật giáo có Trung Nghiêm tham dự. Sư cô Bảo Châu ở Ấn Độ đã về, nữ nhi mà tâm tính trượng phu, có gì, nghĩ gì, thấy gì đều nói hết, nói không sợ mất lòng, không dè dặt và nhờ vậy nên bao chuyện du học Ấn Độ, thầy mới biết rõ, dù chẳng liên quan vẫn ngậm bồ hòn làm ngọt, rồi chuyện sinh hoạt Phật giáo ở Mỹ mà Hồng Quang đã than và khi đi đón linh cốt Hòa Thượng Mãn Giác ở phi trường Tân Sơn Nhất, thầy cũng chứng kiến bao cảnh cười ra nước mắt của Tăng Ni ở nửa vòng trái đất trở về, cảnh Tăng thân Làng Xanh, Làng Đỏ nghinh ngang như bướm lượn ong đùa. Dĩ nhiên chẳng nên khen chê tốt xấu, mà nên quan tâm cái lối nặng phần trình diễn nên dễ và đã bị những vố khá đau làm kẻ thức giả cắn bút không nói nên lời dù dành rất nhiều cảm tình và muốn nói lên niềm hoan hỷ. Do đó, việc lớn việc nhỏ của Phật giáo hiện nay đều bị lợi dụng, bị cản ngăn, bị hạn chế, bị khuynh loát, bị áp đặt kể cả vài việc bị thả nổi, bị khuyến khích nếu việc ấy có hại cho Phật giáo. Đủ cách, đủ kiểu, việc tu, việc học của Tăng Ni ai cũng quan tâm mà ít có đường hướng cụ thể, nhiều vị nhiệt tâm thì bị cho chầu rìa hoặc cản mũi, nhiều người bất xứng thì được đề cao giao phó vì ngoan ngoãn dễ sai, có người hăng say nhưng lại bị biên kiến, quá khích, bị xúi giục, bị danh lợi kéo lôi đứng ra làm bình phong hứng gió mà không đủ bản lĩnh “bất động” khi gặp phải một hay nhiều trong Bát Phong thổi tới. Thầy nói nỗi đau này để tự răn dè bản thân và gởi đến con một lời khuyên “cẩn thận”.

Ngày 5 tháng 5 (AL) vừa rồi thầy đã cho khởi công xây cổng chùa, mấy chục năm không làm vì nhiều lý do rất chính đáng, nay phải làm cũng có lý do chính đáng. Một năm qua bị khó khăn, nay Phật tử Nguyên Lợi thúc nhắc phải giải quyết cho xong một việc bận lòng không đáng.

Niệm ơi!

Năm nay thầy đúng 70, sức khỏe tự thấy đã xuống cấp chỉ mong được làm tròn bổn phận đối với Sư Ông, đây là nỗi lo cuối đời, vì thầy không muốn làm người bất hiếu. Mấy tháng nay tương đối Sư Ông vui, ít phàn nàn nhờ Trung Quảng và nay có Trung Hảo phụ giúp, biết hy sinh và tận tụy trong bổn phận, thầy cũng thấy yên lòng. Chỉ còn lại việc đáng quan tâm thêm là dạy dỗ chúng điệu, hạn chế tối đa mà vẫn “bị đông” mà người gương mẫu nhiệt tâm thương em út thay thầy chăm sóc dạy dỗ thì quá ít, cũng là một bận lòng. Đi ra ngoài thấy chúng điệu của chùa khác thì thương chúng điệu ở nhà. Nhưng khi về chùa thì bực vì thấy khuyết điểm của đệ tử, yêu cầu của thầy quá cao chăng? Vì thầy quá cầu toàn trách bị chăng? Có lẽ đúng, thầy nghĩ đó cũng là bản tâm bản tính của mỗi người, thôi thì cố gắng sửa mình chứ biết làm sao hơn, phải vậy không con!

Thư đã dài, chuyện trong chuyện ngoài, chuyện bao đồng không đáng nói, thầy cũng cứ nói, chuyện dấu kín trong lòng thầy cũng nói ra, thầy muốn tìm nơi con một sự đồng cảm, thấy ở nơi con thể hiện một trách nhiệm, muốn con nhìn rõ, nhìn rộng xung quanh để mở tầm hiểu biết, thầy muốn con quay lại nếu có vọng tâm hướng ngoại. Thầy muốn con biết tư duy đúng đắn như Kinh Pháp Hoa mà đức Phật đã dạy, thầy muốn con đừng tiếp tục làm kẻ cùng tử lang thang, thầy muốn con trở về Bảo Sở. Niệm ơi! Con có hiểu ý thầy không con, con đừng nhìn thầy, nhìn huynh đệ, nhìn chùa với đôi mắt của kẻ bàng quan, con về chùa đừng đóng vai khách Tăng, đừng và đừng đem cái nhìn của một người thế tục, một kẻ đã phí phạm đời mình thả rong theo ma chướng. Con hãy chịu khó, đọc tất cả những bài viết, những tiểu phẩm của thầy đã in hoặc chưa in kể cả những chuyện ngắn, chuyện vui cười, chuyện phiếm luận, tất cả đều là tâm sự của thầy muốn nói với con, nói có mục đích, để thầy và con có được một mẫu số chung, nếu không thì đường ai nấy bước. Chứ thầy không muốn như thường tình, khi Bổn sư còn sống thì tắc chẳng đi, rì chẳng đứng, sau khi Bổn sư qua đời thì tìm ngôn ngữ cho hay, lời văn cho đẹp cảm niệm sướt mướt để che mắt thế gian, để tỏ ra mình cũng Đại Hiếu Tử. Cái kiểu tự vẽ bùa mà đeo, thầy cho đó cũng là một trò trình diễn, một hình thức không đáng có của kẻ xuất gia vì nó dối lòng, mà dối thì đâu còn là kẻ trượng phu, đã đành con người khi ra đi cũng để lại ít nhiều thương tiếc dù kẻ đó là ai, là vua quan lê thứ, là hòa thượng mục sư, là một dân lành hay một tướng cướp vì ai cũng có thân nhân, có người thông cảm, có kẻ đồng tình… Riêng thầy muốn con phải trân trọng cuộc sống, trân trọng cách đối nhân xử thế khi còn sống bên nhau. Đến khi người đi kẻ ở, “tử giả biệt luận” thì nói chẳng ích gì. Phải thế không nào? Niệm ơi!


Trích Phật Ân số 11

PL. 2552

Niệm con,

Khi Thầy viết cho con những dòng này thì bên ngoài trời mưa tầm tả, nếu mưa kéo dài thì chùa ta lại bị lũ phá hư một lần nữa. Vì mới 10 hôm trước đây, cũng một trận mưa như thế, lũ kéo về cuốn trôi nhiều vật dụng, làm sập mương nước, xói mòn đất vườn làm cây cối nghiêng đổ. Những hư hao này làm Thầy liên tưởng đến sự hư hao trên lĩnh vực tâm linh, lĩnh vực tinh thần, đạo đức của đời sống con người do cơn lũ của những chủ thuyết phi nhân lôi cuốn.

Những gì thầy viết cho con là nỗi lòng, là niềm tâm sự trong đó có chút lo âu, dằn vặt, đôi lúc thầy cũng xét ra là không tới đâu, nhưng nếu để trong lòng không khéo bị trầm uất. Vì vậy, nên cái đầu nó cứ sai cái tay cứ viết, nó đã biểu cái miệng cứ nói và đã nói, đã tạo nên khẩu nghiệp. Khổ một điều đã bị khẩu nghiệp rồi, nhưng chỉ là gió thoảng mây bay, sau này hậu thế biết đâu mà nghiên cứu mà tìm hiểu để thấy cái thời của cha ông chúng nó công hay tội, thật hay hư. Vả lại, không tâm sự với con, không nói với con, không khuyên dạy con thì với ai bây giờ? Vậy nên, con chịu khó mà nghe, mà đọc, mà hiểu, mà thấy cho rõ vấn đề.

Thầy tạm ngưng để đón nhân viên Bưu điện trao thư đã…

À! Thư văn của Giáo hội kêu gọi đóng Niên Liễm, đóng tiền cúng Trường Hạ và đóng tiền để giúp Trung Quốc bị động đất. Cả 3 thư văn đều là tiền, mỗi cái đòi tiền mỗi cách, sẵn viết, thầy ghi ngay vào văn thư để chuyển qua ban Lãnh chúng thi hành: Thư văn kêu gọi cúng dường Trường Hạ của huyện và tỉnh, Thầy ghi “đã đi cúng dường xong trước đây 1 tuần”. Thư văn kêu gọi đóng Niên Liễm do Giáo hội ấn định “mỗi Tăng Ni thường trú cũng như tạm trú đóng 50.000đ, mỗi đơn vị chùa đóng 100.000đ, mỗi tín đồ trong chùa đóng 10.000đ”. Bên văn thư này Thầy ghi “Tăng Phật Ân đang là học sinh, sinh viên lấy gì mà đóng? Chùa Phật Ân không có hội viên mà chỉ có thập phương tín đồ, biết ai có danh sách mà đóng! Còn đơn vị chùa thì đã đóng rồi”. Riêng văn thư Giáo hội kêu gọi đóng tiền, để cứu trợ Trung Quốc thì Thầy ghi “không đóng”, lý do: Trung Quốc giàu hơn Việt Nam, đất Trung Quốc rộng gấp ngàn lần Việt Nam, người Trung Quốc đông hơn triệu lần Việt Nam. Trên phương diện nhân đạo thì ai gặp tai nạn cũng nên giúp đỡ. Trung Quốc có tai nạn cũng như Miến Điện, Tây Tạng, Phi Luật Tân tai nạn sao các nơi này không cứu trợ? Đi cứu trợ kẻ giàu hơn mình. Thấm gì mà cứu trợ Trung Quốc, cũng lạ. Có lẽ, con sẽ cười và nói thầy gàn, chống đường lối của Giáo hội!

Thật ra, Giáo hội này làm gì có đường lối mà chống cho mệt, người ta sai gì làm nấy thôi mà!

Thầy viết chuyện này cho con là để sau này con có dữ liệu mà nghiên cứu.

Xếp 3 văn thư lại, thị giả đem về văn phòng. Cũng là Giáo hội, trong buổi họp để lo lễ Phật Đản. Giáo hội huyện đề nghị xin chính quyền huyện hỗ trợ 20 triệu để làm xe hoa của Ban Đại Diện LT. Vị Đại diện tôn giáo huyện có hứa “không nhiều thì ít, chính quyền sẽ trợ giúp”, chịu không nỗi, thầy đã phát biểu “Tôi yêu cầu quý vị đừng xin chính quyền tiền làm xe hoa, nhục lắm. Trong huyện trên 70 ngôi chùa, gần 1.500 Tăng Ni và cả triệu tín đồ mà không làm được xe hoa cúng Phật sao lại ngửa tay xin chính quyền. Chính quyền còn bao nhiêu việc phải làm. Giỗ Cha có nhiều làm nhiều, có ít làm ít, sao lại đi xin tiền người ngoài mà giỗ. Phi lý lắm!” Tăng Ni, có người im lặng, có người đồng tình. Con thấy đó, Giáo hội của ai! Lãnh đạo kiểu gì?

Bên ngoài, mưa đã tạnh thầy viết tiếp vì đã hết lo lũ về.

Năm ni, thầy đã 71, việc chùa đã giao cho huynh đệ của con, một Ban Điều Hành để có anh có em chung lo với nhau. Vì kinh nghiệm của vài chùa khác, vị Bổn sư nằm xuống đệ tử giành nhau Trú trì, trên 7 năm giải quyết chưa xong. Một nơi khác, xây tháp với không xây tháp, tháp xây lớn hay nhỏ, cao hay thấp, trên hay dưới, rộng hay hẹp. Vậy là huynh đệ cãi nhau đến mức khó hàn gắn. Chỗ khác nữa, thân tứ đại của Bổn sư đã thành một nắm cốt trong hủ mà vẫn bị bưng lên hạ xuống. Vậy nên, nếu không lấy đó làm gương, thì các con, biết đâu, nếu thầy không dặn sẽ là như thế, lúc bấy giờ thầy có đội mồ lên mà chỉ dạy được đâu! Thầy thấy, đệ tử các nơi ấy họ cũng thương Bổn sư, họ cũng có nhận thức, họ cũng thấy trách nhiệm, họ cũng muốn thể hiện điều gì đó với Thầy Tổ, họ cũng tốt nhưng cái tốt của đời thường, của chấp tướng, của cái ta to bự để rồi thành kẻ bất hiếu với Thầy Tổ, bất nghĩa với anh em và thiếu tình với tất cả, nhưng họ vẫn đáng thương hơn đáng giận.

Hôm qua, thầy đi giảng ở Phan Thiết về trên hãng xe mới Mamco, xe ghé tiệm cơm Lê Hoàng gần ngã ba Tân Phong, nhân viên quán cơm có lẽ là Phật tử thuần thành, niềm nở, thân mật và khá chu đáo “Bạch Thầy, ông bà chủ có dặn, gặp quý Thầy, quý Cô Tu sĩ Phật giáo phải tiếp đãi ân cần, cung ứng đầy đủ ẩm thực để cúng dường, nên cần gì Thầy cứ bảo con”.

Sau khi ăn một tô mì gói và một dĩa rau, cô nhân viên ngồi bên tâm sự “Thầy ơi, hai hôm nay tụi con và bà chủ buồn lắm, nguyên nhân là vì có ba ông thầy còn trẻ đi trên xe 7 chỗ và mấy cô gái vào quán với thái độ rất hách dịch, hút thuốc lá phì phèo, ngồi gát chân lên bàn, móc điện thoại di động nói chuyện rất ồn ào, cả mấy người cười nói rổn rảng, gọi thức ăn lên chê dở, uống bia ừng ực dù chúng con giải thích là bà chủ quán cúng dường, mấy thầy la chúng con “Nếu cúng dường thì nấu cho ngon, chứ nấu dở quá thì cúng dường không có phước”. Buồn hơn, là sau khi ba thầy đã đi thì ông chủ phàn nàn bà chủ rằng “Thầy của bà đó, tác phong đạo đức tu hành như vậy đó, bà xem có được không?”. Bà chủ đã giải thích “Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi, có lẽ ba thầy đó là thầy giả hoặc mới tu nên chưa thuần tánh”. Tội bà chủ, bà buồn lắm không màng cơm nước gì cả”.

Niệm ơi,

Thầy nghe câu chuyện đó và kiểm lại nhiều tin qua nhiều người khác thì thấy rõ một âm mưu phá hoại Phật giáo hết sức tinh vi và có hệ thống. Mục đích làm cho quần chúng chán nản, mất niềm tin vào các Tu sĩ và cũng từ đó mà ảnh hưởng Phật giáo không còn, thì họ tranh thủ gây ảnh hưởng để chiếm tín đồ kể cả tín đồ tin vào các chủ thuyết không phải là tôn giáo. Và ngay trong bản thân Phật giáo chúng ta, những con sâu làm rầu nồi canh cũng không thiếu.

Thư cho con mà thầy toàn kể chuyện không vui, để chúng ta biết thực trạng Phật giáo bây giờ có lắm điều bất như ý mà cùng nhau chấn chỉnh. Chấn chỉnh là điều ai cũng muốn, nhưng muốn mà không làm hoặc làm không được vì thiếu thiện chí, thiếu hy sinh, thiếu tài đức, thiếu khả năng lãnh đạo và nhất là thiếu Tu.

Nhìn một vài vị lãnh đạo Phật giáo bây giờ mà buồn, đã già khú đế rồi mà vẫn còn ưa chức, ưa danh, ưa huân chương, ưa bằng khen, ưa tấn phong, lụm cụm run rẩy đi nhận giấy cho khổ thân. Hiểu không nỗi cái tinh thần diệt ngã phá chấp mà các ngài đã học, đã thế lại còn tốn tiền đóng hàng chục triệu để quà cáp, ăn uống mà quên đi tín đồ, quần chúng còn nghèo khổ thiếu thốn ở các vùng biên địa, quên đi các chiến sỹ đang dãi gió dầm sương bảo vệ biên cương, hải đảo. Thầy viết điều này chỉ nói với riêng con, thầy cũng rất ngại họ hiểu lầm là thầy không được tấn phong, không được trọng dụng nên bất bình mà móc méo, chắc con hiểu, nếu thầy muốn như họ, chịu khó mà “Bò” thì chắc cũng có không gạo thì cám! Không cơm thì cháo!

Thật ra, lạy Phật, thầy không ám chỉ ai đâu mà chỉ nói tình hình thực tế chung như vậy cho con hiểu, để con, anh em huynh đệ con hiểu mà có thái độ và định hướng cho tương lai, cho Đạo nghiệp của mình.

Niệm con,

Vừa rồi, trong một tiết dạy cho đại chúng, thầy đã khai triển một đề tài “Ý thức sự thịnh suy của Dân tộc và Đạo pháp”, đề tài có vẻ thời sự vì nếu nhận thức sai lầm hiện tình của đất nước và Giáo hội thì sẽ đưa đến một hậu quả tai hại vô cùng nghiêm trọng. Chớ uống những viên thuốc độc bọc đường, phải đề phòng những cú đấm của bàn tay sắt bọc nhung, nhưng phải sáng suốt gạt ra tư kiến, cố chấp và nghi ngờ để kết bạn và cải hóa kẻ thù (tạm dùng chữ như vậy, chứ PG không có kẻ thù).

Lễ Phật Đản vừa rồi lớn nhất trong 33 năm qua, nên tinh thần Phật tử được nâng lên một bậc, thức tỉnh được một số cán bộ cố chấp, xóa được ít nhiều màn đen phủ lên tòa nhà Phật giáo, chỉ tiếc một điều là các cấp Giáo hội được nhà nước yểm trợ quá yếu kém, vẫn mang tâm lý kẻ đợi sai, e ngại, thiếu bản lĩnh và óc sáng tạo nên để lỡ cơ hội vươn lên.

Về phía chính quyền thì chưa có chỉ đạo thống nhất, vì có nơi chính quyền địa phương còn cấm tư gia Phật tử treo cờ Phật giáo như ở Bình Sơn (Long Thành), Quảng Đức (Buôn Ma Thuột)… Trái lại, có nơi chính quyền cử cán bộ Văn Hóa Thông Tin đi treo băng cờ giúp cho các đơn vị chùa thiếu nhân sự. Tại Thủ đô Hà Nội, những con đường chính đến Phi trường Nội Bài hay vào các Tòa Đại Sứ, Tòa Lãnh Sự các nước thì cờ băng rất hoành tráng, còn các ngõ hẹp, các con đường không có các đoàn ngoại giao đi qua thì vắng hoe, điều đó biểu hiện một cách làm chưa nhất quán.

Về phía GHPGVN, ngoại trừ Ban Trị Sự các tỉnh, huyện và người lãnh đạo có tài, có tâm như Huế ở miền Trung, Rạch Giá ở miền Nam tổ chức tương đối vững vàng, còn vài địa phương khác chỉ làm cho có lệ, không có chỉ đạo rộng rãi và quyết tâm nên nhiều nơi rất hạn chế như Phật tử ở Cây Gáo (Đồng Nai), chính Ban Đại Diện Huyện TB ngăn cản Phật tử làm lễ đài… Xét cho cùng, dù sao lễ Phật Đản vừa qua cũng gây nhiều ấn tượng tốt, xóa được ít nhiều sự nghi ngờ trong lòng Phật tử đối với chính quyền. Đặc biệt, bài diễn văn của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, hàm ý nhận khuyết điểm quá khứ để cùng đoàn kết để hướng đến tương lai. Đây là điểm son phải ghi nhận.

Niệm con,

Mùa An cư năm nay những sinh hoạt thường niên vẫn tiến hành bình thường, cũng tổ chức Tu Bát Quan Trai cho Phật tử hàng tháng, Giới tử đông hơn các năm trước. Cũng tổ chức Giới đàn Phật Ân IV (năm thứ tư) truyền Giới Thập Thiện và Bồ Tát tại gia. Chỉ thêm một lễ Đại Trai Đàn – Giải Oan Bạt Độ – Chẩn Tế Cô Hồn, vào 2 ngày 10 và 11 tháng 7. Nhờ sự phát tâm của gia đình anh Tâm và Hải An. Các buổi thuyết trình và tọa đàm Phật pháp với 10 đề tài thực tế do các chú Sadi thực hiện và được sự cố vấn của chúng Tỳ Kheo tiến bộ hơn nhiều, con phải chuẩn bị tâm lý, chứ đà này khi con về chùa đàn em con nó vây cho không có lối thoát đó.

Thư đã dài, nhiều điều cần nói với con, những gì nên nói đã nói, những gì chưa nên nói, cũng nói, những gì không nên nói cũng cứ nói, để trong bụng làm gì, lên Cực Lạc nói ai nghe! Về Địa Phủ ai nghe nói? Nói ra ngoài, ai ưa? Nên nói trong nhà, đóng cửa lại, còn ai rình ngoài cửa, nghe lóm, tùy ý. Hì hì…


Tâm Ảnh …

Niệm con,

Cứ mỗi lần viết thư cho con thì khởi tâm đắn đo, so sánh, bỉ thử, có không… vô số vấn đề quay lộn trong óc, đôi lúc thấy bức xúc khó tỉnh táo dù những điều ấy nó ngoài trách nhiệm phạm vi của thầy trò mình. Thầy lại nghĩ “Hơi đâu lo việc bao đồng cho mệt óc”. Vậy mà, Niệm ơi, nó vẫn kéo đến rầm rầm, quậy tưng bừng trong cái đầu óc nhỏ bé của thầy. Thầy lại tập thở ra hít vào, cố xua đuổi những cái thấy, những cái nghe để mà “nội bất loạn, ngoại ly tướng” nhớ vài công án “đời là thế”, “dù răng chăng nữa cũng không răng”, hoặc “Mặc kệ, cùng tắc biến, biến tắc thông”… Vậy mà,… lại cười…

Vậy nên, cứ viết cho con theo ý của một vị Hòa thượng, ngài góp ý rằng “Thấy sao viết vậy, nghe sao nói vậy, nghĩ sao ghi vậy, muốn gì cứ nói, họa chăng…”. Thế là thầy cứ viết vì nhớ một câu chuyện trong thời Đệ I Cọng Hòa có một văn sĩ viết một loạt bài báo với đề tài “Viết để bảo vệ thằng Cu Tý”. Bài 1 ra mắt, chính quyền đương thời gọi đến bảo ngưng, vị văn sĩ đó im lặng trở về viết tiếp bài 2 thêm ở trước một chữ “Cứ”, nghĩa là “Cứ viết để bảo vệ thằng Cu Tý”. Chính quyền lại gọi đến cho là ngoan cố, bảo ngưng ngay, vị đó trở về thêm một chữ “Cũng” ở trước đề bài, và dĩ nhiên đọc thành “Cũng cứ viết để bảo vệ thằng Cu Tý”. Sau đó, phải trả giá mấy năm “ủ tờ” vì tội ngoan cố. Câu chuyện đơn giản nhưng rất thú vị vì đã hết chữ dùng và câu chuyện cũng chấm dứt ngang đó.

Loạt bài (thư) thầy viết cho con cũng tương tự như thế, vì cũng có người (khuyên chứ không cấm), nhưng có điều là khi những gì thầy tâm sự với con (dù con có đọc hay không, có nghe hay không), thầy cũng nói cho hết sự lòng, hơn thế lại là những điều có tính thời đại, những nhận thức cần thiết làm hành trang trên đường thiên lý hoặc ít ra cũng một ánh chớp giữa đêm đen, thì, Niệm ơi, có hại gì cho đại thể? Vậy nên, thầy viết cho đời như một đóa hoa dại bên đường, có ai nhìn ai ngắm, ai thích hay không, hoa cũng cứ cười với nắng, với gió, với sương – thế thôi.

Con ngạc nhiên khi thầy đi chiêm bái Thánh tích Ấn Độ, và ngạc nhiên hơn nữa là có đi Úc, đi làm gì thì không “Bật mí” gì hết, nhưng nói làm gì, ai nghe, ai tin? Nhưng họ ngạc nhiên thốt lên “Thầy mà đi được há?”. Sao lại không? Tôi cũng là một công dân bình thường như bao công dân khác, WTO rồi mà bạn ! Ít ra cũng phải thay đổi thái độ cho khôn ngoan hơn, dù là hình thức. Thủ tục xuất cảnh thầy thấy đơn giản, bình thường, vậy sao có người cứ e e ngại ngại, có lẽ sợ định kiến, hay mang tâm lý nghi ngờ, thiếu thông cảm chăng? Thầy đến hai nước, thấy hai xã hội, hai nếp sống hoàn toàn khác nhau, mà có lẽ nếu thời gian và sức khỏe cho phép thầy sẽ kể cho con nghe những gì cần biết. Riêng thầy, thì nhờ vậy có một lối nhìn, một quan niệm rõ ràng hơn để từ đó định cho mình một ý nguyện phụng sự Phật pháp thích hợp hơn. Chứ chỉ ngồi một chỗ mà nghe dường như “người mù rờ voi” thì phiến diện lắm. Chưa nói đến cái tai hại khi nghe người kể lại đã không khách quan, lại thêu dệt, thêm bớt theo ý tưởng cá nhân nên rất dễ sai lầm, “tam sao thất bổn” là vậy, vì có những điều thấy tận mắt, nghe tận tai mà cũng còn không đúng, con phải tư duy vấn đề này để sau này mọi định hướng ít sai lầm nghe con. Riêng bản thân thầy, suốt đời bị không biết bao nhiêu oan khuất, bao áp lực từ đủ mọi phía, ngay cả trong các con được mấy đệ tử hiểu đúng về thầy, trong gia đình anh chị em ruột, cháu kêu thầy bằng chú, bằng bác, bằng cậu, cũng được mấy ai hiểu về thầy ! Nên có nhiều điều “sống để bụng, chết mang theo” và hiện tại thì “Ừ, oan ức không cầu biện bạch, vì biện bạch là hèn nhát”, nên cười trừ và khi tâm xả thì cười trừ thiệt và nhẹ nhàng, đôi lúc chưa xả thì “cười ra nước mắt” là thế.

Niệm ơi,

Con biết không? Đức Phật dạy ở trong tam tạng kinh điển đều có đủ nhân sinh quan, vũ trụ quan, xã hội học, văn học, tâm lý học đều có đủ. Thầy trò chúng ta có học nhưng chỉ như lượm được hạt cát trong sa mạc nên không đủ tư lương, không đủ nhận thức, không đủ bản lĩnh mà xử lý mọi vướng mắc trong tâm tư, trong cuộc sống nên cứ mãi lăn trôi trong mê cung của trận đồ phiền não, chấp trước và cứ thế mà than thở, kể cũng đáng kiếp cái thân phận làm người của chúng ta.

Chuông điện thoại reo, thầy tạm ngưng để nghe ai gọi? việc gì? giải quyết đã.

* * *

Sau gần 10 phút điện thoại, ý tưởng viết cho con bay tuốt luốt, nhưng cũng có cái hay mà thầy sẽ kể cho con nghe về cuộc điện đàm vừa rồi.

“( Phải thầy Phật Ân đó không?

- Mô Phật, phải, ai đầu dây? Có việc gì? Phật Ân xin nghe.

- Dạ, bạch thầy, con là một Phật tử, gọi thăm thầy và có vài điều xin thưa với thầy.

- Thưa vâng, xin nghe.

- Thầy đừng thưa dạ với con mà tội lỗi, con đã đến chùa thầy nhiều lần, có những điểm con thích như chùa rất thoáng, mát mẻ, tự nhiên, chúng điệu đông, vui vẻ, có tổ chức, tương đối có cương kỷ – Nhưng (ngập ngừng).

- Xin cô cho biết quý danh, cô cứ tự nhiên nói, đừng ngại.

- Dạ, bạch thầy, xin thầy hoan hỷ, rồi thầy sẽ biết con là ai, vì mến chùa thầy, con muốn góp ý.

- Cô cứ nói, đừng ngại, dù khen chê, hay dở, thầy cũng xin thành thật lắng lòng nghe.

- Dạ, bạch thầy, thầy cần xem lại đệ tử thầy lén hút thuốc, lén uống bia, thầy biết không? Vì con nghe thầy cấm.

- À, thì ra thế, cám ơn cô nhiều, nhưng sao cô biết?

- Dạ, vì con tiếp xúc với đệ tử của thầy, đứng nói chuyện nghe mùi bia, mùi thuốc hôi rình, con biết chắc là có hút, có uống, dù con không thấy.

- Cám ơn cô, thầy xin hoan hỷ đón nhận ý kiến xây dựng chân tình này.

- Con đề nghị thầy đừng cấm, mà đã cấm thì phải cấm cho nghiêm, mấy thầy mà như thế, chúng điệu sẽ bắt chước theo, thì chẳng ra gì đâu. Xin sám hối với thầy con đã xen vào nội bộ của chùa.

- Không sao, còn gì nữa không? Cho thầy nghe tiếp.

- Hết rồi, thấy biết gì con sẽ thưa tiếp, thầy nhớ để dành cho con vài quyển Phật Ân, kính thầy.

* * *

Vậy đó, Niệm ơi,

Đời sống tu sĩ, nhất cử nhất động đều có Phật tử quan sát, đánh giá, những câu điện đàm vừa rồi có hay không, đúng hay sai, thầy trò chúng ta cũng thành thật cảm ơn, xem các Phật tử là những hộ pháp.

Một bài học nghe con.

Mấy năm trước thầy không dùng điện thoại, yên thân hơn, nay thì phải dùng xem như là phương tiện liên lạc công việc nhanh chóng thuận tiện hơn. Hôm qua, cũng nghe gần 20 phút về việc cái Niệm Phật đường ở Cây Gáo (TB), họ xin tham vấn cách đối phó với Tỉnh hội, số là Sư cô Trú Trì trước đây do Tỉnh hội đưa về, chẳng làm trò trống gì ích lợi cho Phật tử, cho tín đồ, rồi âm thầm ra đi ôm trọn gói tài sản, giấy tờ để ngôi chùa sập nát, không có ai lưu tâm, Phật tử thấy đau lòng nên được chính quyền địa phương đồng ý cho Phật tử tự lực đóng góp tu sửa. Thấy tu sửa xong, Tỉnh hội lại áp đặt đưa vị Trú Trì khác về. Phật tử “kinh cung chi điểu”, “đạp vỏ dưa thấy vỏ dừa cũng sợ”, nên chưa dám đồng ý, văn phòng Tỉnh hội tuyên bố tiếp quản, cương quyết đưa người về Trú Trì, nếu Phật tử không chịu thì sẽ khai trừ chùa đó xem như là Từ đường, sinh hoạt bất hợp pháp. Thế là cãi nhau chí chóe. Ôi ! lãnh đạo, nào là tiếp quản, nào là áp đặt, nào là khai trừ, nào là dùng quyền lãnh đạo cưỡng chiếm, nếu cưỡng chiếm không được thì biến chùa thành từ đường, là bất hợp pháp ! Họ xin vấn kế, thầy đâu xía vô sâu làm gì ! Chỉ hướng dẫn họ cố tìm cách giải quyết thấu tình, đạt lý, đừng làm ồn ào mang tiếng xấu chung.

Ở Bà Rịa Vũng Tàu cũng có vài trường hợp tương tự như thầy N.T. bị Tỉnh hội xúi chính quyền phá tịnh thất vì thầy bất phục tùng Tỉnh hội. Thầy N.T. thì dọa theo GHTN nên họ vội vàng hợp thức. Chuyện khó tin mà có thật đó, Niệm ơi.

Nói chuyện bao đồng lung tung, thầy mất công viết, con mất công đọc, mà mất công một chút để biết rõ sự đời oái oăm, trớ trêu, để điểm tô cho cuộc sống vì thêm những nụ cười, dù cười hơi méo !

Niệm ơi, hôm nay, gặp dịch cúm thầy bệnh, hai ôn Minh Chiếu và Minh Kiến cũng bệnh, người tu sĩ mà bệnh thì phiền lắm, có những người trẻ tu hành rất nghiêm chỉnh, nhưng sau một cơn bệnh thì rụng, con biết vì sao không? Có hai lý do: 1. Thiếu người chăm sóc chu đáo và cảm thấy cô đơn, buồn chán. 2. Có những Phật tử cảm tình chăm nom cơm cháo, thuốc thang, an ủi,… Thế là cái nạn Ma Đăng Già sinh khởi. Nói cái chuyện tào lao này cho con nghe vì thầy cũng nghe con bệnh nên liên tưởng ý ấy mà phải viết cho con để cảnh báo. Vậy thôi. Chúc con thở ra hít vô đều đặn, nhưng đừng thở và hít như câu chuyện đau lòng ở BL do không khí ô nhiễm của chất độc thiếu thông cảm, thiếu tha thứ, thiếu hy sinh để bệnh ung thư phát tán trong thân thể Phật giáo thì khổ chung nghe con !

Thầy của con.


Tâm Ảnh …

Niệm con,

Nội dung thư thầy viết cho con đều phản ánh trung thực sự kiện đã có trong sinh hoạt Phật giáo ở giai đoạn mà thầy trò chúng ta là chứng nhân lịch sử, nhưng không phải chỉ có thế mà ở đó là tâm tư, là lo nghĩ của thầy khi chứng kiến và dĩ nhiên thầy muốn con biết rõ hơn, nó phản ảnh tâm trạng cũng như ước mong của thầy gởi gắm nơi con. Và thư này cũng thế, chỉ khác là nó bước qua một tiêu đề khác mà thôi.

Ít nhiều con cũng biết hay chưa biết nhiều về tổ chức GĐPT mà thầy đã xuất thân từ đó, nghĩa là trước khi làm tu sĩ thì thầy đã từng là oanh vũ, rồi thiếu nam, rồi Huynh trưởng, rồi thành viên Ban hướng dẫn của tổ chức này, thầy đã từng phát nguyện làm Huynh trưởng, từng làm Trại trưởng các trại huấn luyện, từng làm Trưởng ban tổ chức những đêm văn nghệ, những trại họp bạn, cũng cầm còi điều khiển, cũng nhảy múa, cũng ca hát, cũng reo cười và cũng có nhiều lần tù mà không tội hay nước mắt ướt gối vì tổ chức GĐPT/VN. Do đó, chắc con không lạ gì khi thầy đã 71 tuổi mà vẫn gần gũi các em oanh vũ mới 7, 8 tuổi đầu với sự trìu mến thân thương, phải nói là hơn cả con cháu ruột thịt nếu chúng không đi sinh hoạt GĐPT.

Trong chùa mình, đa số là đoàn sinh hoặc HT/GĐPT đi tu, thầy đều nhận nuôi dạy cũng vì thế.

Lúc sinh tiền, Hòa thượng Giới Hương lo lắng cho thầy, sợ thầy nuôi dạy bất kham, Sư ông cũng vậy, ngài cứ la dạy thầy cũng vì ngại thầy không đủ sức nuôi dạy, cũng đúng thôi, biết thế nhưng thầy không thể khép cửa chùa hay đúng hơn là khép lại lòng mình. Cũng có gần 3 năm thầy không những khép mà còn đóng chặt cửa, không nhận ai nên cũng bị trách cứ là cưỡng duyên, là hẹp hòi, cuối cùng phải mở cửa lại và có định hướng là nuôi cháu chứ không sinh con, vậy mà cũng có lúc phải liều nhắm mắt mà nhận cho Phật tử khỏi thất vọng, và dĩ nhiên, chùa càng đông thì càng mệt, càng lo, càng bận rộn, nuôi thì chẳng ngại mà “dạy” mới đáng quan tâm, mà tuổi càng cao thì người càng yếu, việc càng nhiều, lòng người càng phức tạp, hoàn cảnh càng khó khăn, kinh tế càng chật hẹp mà chúng điệu càng khó bảo hơn xưa, mà đạo lực thầy chưa tới đâu nên thường hay phiền não, cau có ! Âu cũng là nghiệp lực !

Niệm con,

Thầy viết đoạn này để con biết rằng thầy muốn con phải quan tâm, phải có trách nhiệm với GĐPT, với em út, vì đó là chí hướng của thầy, và cũng là lý tưởng đầu tiên, duyên phước đầu tiên thầy gần Phật, gần Tam bảo. Thầy nghĩ, nhiều huynh đệ của con cũng thế.

Con thấy không? Trên bàn thờ ở chùa, bên cạnh Tổ, thầy thờ cụ Lê Đình Thám, một bậc trưởng giả có công lớn trong phong trào chấn hưng PGVN cận đại, vị Tổ khai sinh ra GĐPT/VN. Với Thầy, cụ mới là vị thánh của dân tộc, cụ đã nhìn rộng thấy xa nguy cơ của đất nước, của tuổi trẻ Việt Nam lúc bấy giờ (1938), khi làn sóng văn minh vật chất của thực dân Tây phương tràn vào làm lung lay nền móng đạo đức của dân tộc, cụ đã kịp thời khai sinh ra GĐ Phật hóa phổ, tiền thân của GĐPT/VN góp phần đắc lực chặn đứng tư tưởng vọng ngoại của một thế hệ thanh niên mất hướng sống, phải nói là GĐPT ra đời đúng lúc, kịp thời nên được các bậc cao tăng đồng tâm nâng đỡ. Thời ấy, tuy vậy mà ít nguy hiểm, chưa đáng lo, đáng sợ bằng bây giờ. 71 tuổi, sống qua 4 chế độ, thầy đã “ủ tờ” đúng 4 lần, vì tâm thẳng, nói thẳng, làm thẳng, do đó, phải công bằng mà nói, hiện nay đời sống đạo đức bị xói mòn hơn bao giờ hết, nhất là trong lớp trẻ, thời đại thông tin vi tính, sự xâm nhập của lối sống hiện thực, của tâm lý thụ hưởng đe dọa trầm trọng nền văn hóa đạo đức của dân tộc, phim ảnh, sách báo, băng đĩa lậu, đồi trụy nhan nhãn khắp nơi. Quán nhậu, phòng nhảy nhiều gấp trăm lần ngàn lần trường học. Con gái ăn mặc thiếu vải đầy phố, con trai chuyển hệ tóc đỏ tóc vàng đầy đường, nạn giết người, cướp của, buôn lậu ma túy khắp nơi. Băng nhóm tội phạm, đua xe ở lứa tuổi vị thành niên cũng nhiều, nhà nước nỗ lực triệt hạ nhóm này chưa xong đã lồi lên nhóm khác, do ảnh hưởng phim bạo lực, phim tình cảm tay ba tay bốn, thù hận, cảnh bắn giết giành giựt, lừa đảo, mưu mô lấn át sách báo phim ảnh đạo đức tình nghĩa. Năm 1975, các câu khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” đều bị hủy hoại tại các trường học, hơn 30 năm qua nay mới được phục hồi treo lên thì hậu quả tất yếu của một lớp người được đào tạo trong thời gian 30 năm ấy, cũng may, các nhà lãnh đạo kịp thời đổi mới tư duy, nên những con người yêu nước thương dân cũng tạm yên lòng. Nhưng, có điều vẫn còn thấy một cái gì đó chưa thật sự cởi mở, thông suốt, là sự sinh hoạt của GĐPT còn có nơi khó khăn hạn chế. Các vị lãnh đạo tinh thần, lãnh đạo đời sống tâm linh cho quần chúng Phật tử lại gây khó khăn hơn, sao lại nỡ bắt chim phải hót trong lồng, bắt cá phải bơi trong chậu ! Thầy nghĩ, chim hót hay phải nhờ cánh rộng trời cao, cá vẫy vùng bơi lội giữa sông hồ trong mát chứ cá gặp nước dơ tù túng trong ao chậu thì chỉ tróc vảy, gãy vi mà thôi, vì như thế, nên thầy chưa bao giờ rời xa tổ chức này, âu cũng ít nhiều góp phần chút chút lo cho tuổi trẻ Phật giáo bớt sa đọa.

Niệm ơi,

Nhìn nước láng giềng của chúng ta là Thái Lan, rồi nhìn lại nước mình mà nao lòng, Hoàng gia Thái đã bỏ ra một khoảng phí tổn khổng lồ cho các hoạt động giáo dục đạo đức thanh thiếu nhi, trang bị cho tuổi trẻ một nền tảng đạo đức tâm linh thật vững chắc trước khi bước vào ngưỡng cửa cuộc đời. Họ tổ chức cuộc thi giáo lý để đánh giá trình độ hiểu biết của tuổi trẻ về đời sống tâm linh. Cuộc thi năm 1998 có hơn 1.650.000 thí sinh tham dự. Họ còn tổ chức những khóa tu cho các em từ 9 đến 19 tuổi để các em trau giồi nếp sống đạo đức tâm linh. Còn ở Việt Nam chúng ta thế nào? Chắc con đã thấy rõ. Ngay trong nội bộ Phật giáo cũng thấy đau đầu rồi, một tổ chức có trên đất nước gần 70 năm chỉ biết chăm lo giáo dục con em thành Phật tử chân chánh, thành công dân tốt mà cứ theo ý người ngoài bảo hợp pháp và không hợp pháp, con em đến chùa tu học cũng bị đuổi ra đuổi vào là nghĩa làm sao? Đó là việc của Giáo hội nhà nước. Gần đây Giáo hội truyền thống lại thừa nhận và không thừa nhận tạo ra một cú xốc lớn làm chao đảo cả một hệ thống mà biết bao mồ hôi nước mắt, kể cả xương máu của những huynh trưởng và đoàn sinh xây dựng mấy chục năm qua ! Kể cũng đáng thương cho GĐPT/VN hiện tại.

Một tuần qua, từ ngày 05 đến 12/10/2008, thầy đi Băng Cốc (Thái Lan) để Chứng minh, hỗ trợ cho Đại hội GĐPT Việt Nam trên thế giới lần thứ II. Đến nơi mới thấy tinh thần vì đạo, vì đời, vì lý tưởng của các Huynh trưởng đại biểu khắp nơi tụ về. Thầy rất thương yêu quý mến và tin rằng tinh thần ấy, tâm nguyện ấy, chí hướng ấy cả thế giới sẽ tỏa ngát hương Lam và một ngày nào đó tại Việt Nam GĐPT cũng sẽ thoát qua bão tố.

Gần đây, lai rai thấy có màu áo của Hướng Đạo xuất hiện một vài nơi, thầy cũng mừng, đoàn thể này có mục đích giáo dục thanh thiếu nhi rất tốt, nhưng muốn phục hoạt cũng gặp khó khăn.

Trong Phật giáo trước đây, Tổng vụ thanh niên có 6 vụ, năm 75 không ai giải thể mà 5 vụ là Học sinh Phật tử, Sinh viên Phật tử, Thanh niên Phật tử, Thanh niên Thiện chí, Hướng Đạo Phật giáo đều tan rã theo thời cuộc. Ước gì (có lẽ là không tưởng) các đoàn thể này được Giáo hội quan tâm, chính quyền hoan hỷ cho phục hoạt thì chắc chắn ít nhiều cũng đóng góp với đất nước trong việc giáo dục con em, cuộc sống sa đọa thiếu đạo đức chắc cũng có phần cải thiện.

Niệm ơi,

Năm ni, sau khi giải hạ, thầy được mời đi giảng nhiều hơn những năm trước. Tới đâu cũng thấy tinh thần Phật tử rất tốt, tâm hạnh rất dễ thương, họ muốn tu, thèm nghe pháp, ít người giảng nên họ chỉ nghe bằng băng đĩa, khổ một điều là không ai chỉ dẫn, không ai sang định chỉnh sửa, nên mạnh ai nấy phát hành, mạnh ai nấy phổ biến, điều này cũng có cái lợi là sự phổ biến Phật pháp trong quảng đại quần chúng có nhiều màu sắc, nhiều phương pháp, nhiều lối đi để đến bờ giác nhưng sự quản lý lỏng lẻo tạo cơ hội cho một số nhỏ buôn Phật bán Pháp, hay đưa vào trong Phật giáo quá nhiều tạp chất, dễ gây mâu thuẫn, nghi ngờ, phân chia pháp môn, tông phái, làm rối loạn niềm tin của quần chúng Phật tử, do sự lãnh đạo yếu kém, nhận thức sai lầm, ham danh háo lợi, ích kỷ đố kỵ của một thiểu số cán bộ thế quyền cũng như giáo quyền tạo ra.

Ngày 24 và 30/07 Âl thầy lên giảng ở Pleiku và Đaklak thấy rất rõ điều này, gần 30 năm qua thầy mới đến lại Pleiku, Tăng ni và Phật tử ra đón tận phi trường, ánh mắt rạng rỡ thân thương, về gần địa điểm đã nghe tiếng niệm Phật râm ran, mấy trăm Phật tử đứng đón đầy sân, tay chắp búp sen thành kính vái chào, thầy thực sự mừng vì đa số họ là người Thượng, số người này được hấp thụ giáo lý Phật đà thì những sự việc đáng tiếc, làm rối loạn xã hội chắc chắn không xảy ra, vậy thì tại sao không để cho Phật giáo đến với họ? sẽ đỡ gánh nặng cho nhà nước biết bao ! Tìm hiểu nguyên nhân thì ra do cán bộ Phật giáo không chịu khó dấn thân, lại không có tiền để đút lót cho các quan địa phương, kể cả quan Phật giáo nên thường ca bài “có tiền mua tiên mới được”. Tình trạng này kéo dài vài năm hay vài chục năm thì hậu quả thật quả khó lường.

Vào phòng khách, có Phật tử họ cho thầy xem mấy bài họ “phô” lại trong “Phật Ân” để phổ biến vì họ tâm đắc, hay dở không nói nhưng có người đồng tình với “Phật Ân” là vui rồi, cũng là một điều đáng nhớ.

Thời lượng giảng buổi sáng 1 giờ 30 phút, chiều 1 giờ 30 phút nữa ngày đó (24/07) thầy đã tâm tình với mấy trăm Phật tử tại đây rồi ra phi trường đáp máy bay về lại trong ngày dù sự lòng cởi ra chưa hết, sở dĩ thầy viết đoạn này cho con biết là vì tăng ni và Phật tử ở xứ này họ còn nhiều thao thức mà chưa có cơ hội tỏ hết nỗi lòng, vẫn còn nhiều suy tư dằn vặt, bên ngoài một hướng mà trong tâm tư nhìn vào một hướng khác, vậy do đâu mà việc tu học của họ phải có hai mặt nổi, chìm? Có người nói với thầy “Chúng con ở đây bên ngoài phải theo GHPGVN nhưng trong lòng thì vẫn hướng đến GHTN. GĐPT cũng vậy, hình thức thì phải đăng ký theo phân ban nhưng nội dung thì vẫn trung thành với GĐPT truyền thống do anh Nguyên Tín Nguyễn Châu lãnh đạo”, họ biết như vậy là mất sĩ khí, nhưng nếu không như vậy thì đừng hòng mà nhúc nhích được, nên phải tùy duyên mà bất biến. Tội nghiệp, tu học mà phải dối lòng, vậy con nghĩ thế nào? Vì đâu nên nỗi? Hoàn cảnh đẩy đưa để con người luôn luôn tìm cách đối phó, tại sao không thật với nhau? Lãnh đạo phải đắc nhân tâm mới thu phục được quần chúng, làm cho họ tâm phục khẩu phục mới hay, mới quý, chỉ làm cho người ta sợ mà dạ dạ vâng vâng nhưng trong lòng thì căm ghét, khinh bỉ, nào có ích gì. Kinh nghiệm này tổ tiên chúng ta dạy “Dạ trước mặt nhưng… … sau lưng” thì chẳng hay chút nào!

Ở Buôn Ma Thuột (Daklak) cũng thế, một ngôi chùa khá đẹp ở trung tâm thành phố do Phật tử đứng ra thành lập trước 1975, sau đó, các bô lão về với hư không, chùa không ai quản lý, không ai quan tâm, người ta lấn chiếm đất chung quanh để làm nhà, không ai nói gì, đầu ngoài sân sau lần vô bếp, người ta làm nhà in trước sân, chẳng ai lên tiếng, nhà in che khuất ngôi chùa, thế là long lân qui phụng trên mái chùa chưa mọc cánh cũng rủ nhau bay mất, còn lại mái ngói đỏ âu khép nép sau cái nhà in mỗi ngày mỗi nở, kế hoạch tằm ăn dâu được tiến hành từng bước êm ả, thế là mất chùa. Thời nào, Phật giáo chúng ta cũng thua thiệt: Thời Pháp thì chính sách thực dân ồ ạt phá chùa giết Tăng công khai, chính quyền lép vế chịu thua, thời Diệm, Thiệu, Phật giáo bị đàn áp trắng trợn, chịu không nổi phải vùng lên tự vệ, bây giờ cũng có kẻ xấu mồm vu cho Phật giáo thiên tả, rước CS vào làm cho họ mất quyền lợi, vậy là họ oán, họ tức tìm cách trả thù Phật giáo, đau hơn là có những Phật tử non kém bị mua chuộc nên trở cờ phá bỉnh Thầy Tổ bằng nhiều hình thức, thầy nói cho con rõ để cảnh giác trong bước đi của mình, vì sau 75 Phật giáo chúng ta vẫn tiếp tục bị phá mà kế hoạch phá tinh vi hơn, do đã có nội trùng tiếp sức, con đừng tưởng chùa to Phật lớn là Phật giáo mạnh, đừng tưởng trường lớp nhiều, tăng ni đông là Phật giáo mạnh ! Hình thức là như thế, nhưng nội dung? Phật giáo cần chất hay lượng? Chùa to Phật lớn là quý nhưng để làm gì, nếu sinh hoạt trong đó thiếu “hồn” của Phật giáo? Trường lớp tăng ni đông là quý, nhưng học gì? Tu thế nào? Ai dạy? Dạy gì? Đào tạo người để phụng sự Phật, phụng sự quê hương! Hãy trải thảm ra mà nghinh, mà rước, mà lạy, nếu không phải như thế, mà ngược lại, thì, Niệm ơi, tưởng tưởng tương lai của Phật giáo, của dân tộc cũng đã thấy rùng mình, phải vậy không con? Vì thầy trò chúng ta cũng không tránh khỏi vì cái tội “Dự gian đồng” !

Trước đây, GĐPT Daklak rất dễ thương, nghèo mà có sĩ khí, đoàn kết, yêu thương nhau. Nhưng mấy năm gần đây, gió độc ở đâu thổi tới, phân rẽ 4, 5 đường, thổi bay ra các hướng, nhóm bay qua Pháp, nhóm bay ra Hà Nội, nhóm bay xuống Sàigòn, nhóm bay ra Huế, nhóm trụ lại Buôn Đôn. Thật quả đau lòng? Vì ai nên nỗi ! Ai đúng ai sai? Hiện tại đố ai trả lời được ! Lịch sử chưa qua trang, dù biết cũng cứ than câu “Bất khả tư nghì, bất khả”.

Ngày trước, con cái ra khỏi nhà là phải “đi thưa về trình”, bây giờ còn giữ nề nếp này quá ít. Học sinh đi ra đường gặp người lớn phải chào. Ngày nay, con nít gặp người lớn trố mắt ra nhìn, ba mẹ anh chị biểu chào chúng bất đắc dĩ và cảm thấy chào người lớn như một cực hình, có người phải lắc đầu ngao ngán “Thời này, nó thế, thôi đành thôi phải thế”. Khi thầy qua thăm Úc, thấy một cuộc phỏng vấn trên truyền hình các bậc làm cha mẹ, có người phát biểu “Tôi có về Việt Nam thấy ở Việt Nam, rồi về đây (Úc) thấy cũng không hơn gì, vì ngày trước con cái phải vâng lời cha mẹ, thời nay cha mẹ phải theo lời con cái”. Đúng, sai? À, thì ra thế ! Ở đâu cũng thế, nên cái câu “Đã thế nên đành thôi phải thế” được phổ biến rộng rãi, thầy thì… khác, biết rằng “một hạt đường đâu làm ngọt được đại dương”, đúng, nhưng nếu, thầy một hạt, con một hạt, bạn bè anh em chúng ta mỗi người mỗi hạt, triệu người triệu hạt, tỷ người tỷ hạt, thế hệ này tiếp nối thế hệ khác, đừng ai bỏ thêm muối mà nỗ lực bỏ thêm đường thì đại dương bớt mặn – Chắc con và mọi người cười mũi thầy là “không tưởng”. Đúng, không tưởng nhưng thầy có quyền nói lên cái không tưởng của thầy, phải không ?

Niệm ơi,

Đang viết thư cho con thì có người vào thăm, qua câu chuyện khách nói “Thầy coi có buồn cười không ?”, “Chuyện gì?”, thầy hỏi, họ nói “Buôn lậu hàng tấn thuốc lá ngoại ngay trước mũi hải quan và cơ quan chống buôn lậu, phóng viên ghi hình được, hỏi, họ trả lời “không kiểm soát được”. Thua. Bán xăng ăn bớt của dân mỗi ngày hàng triệu, mỗi tháng hàng tỷ, kiểm tra, bắt được, xử phạt hành chánh vài chục triệu thôi. Thua. Làm bánh Trung thu bằng bột đá đầu độc hàng ngàn người nghĩa là giết người từng loạt, bắt được, phạt vài triệu đồng, cảnh cáo. Thua”. Thầy cười, nói với khách “Thua là phải, có hàng trăm vụ nghiêm trọng gấp ngàn lần mà cũng bất lực do điều đáng nghiêm thì bất nghiêm, điều không đáng nghiêm lại nghiêm thì đó chính là đã rối lại càng thêm rối”. Nói điều này rất dễ bị hiểu lầm là thầy trò mình chỉ trích, lợi gì mà chỉ trích người ta, chỉ làm cho người ta ghét, ai dại gì, phải không con?

Trước đây, khi đi đường, cha mẹ thầy cô dạy gặp đám tang, đứng lại bên lề đường, xuống xe, cất nón nghiêm chỉnh chào linh hồn người quá cố, nay thì người ta cởi xe cúp xe rim lấn đường để đi, xe hơi bóp còi inh ỏi, người sống không nể, người chết chẳng coi ra gì, điều này cũng biểu hiện lối sống kém đạo đức, chưa nói là thiếu lễ độ vì không được giáo dục về tác phong đạo đức làm người.

Như con biết, thầy cũng là nhà giáo, có đôi chút hiểu biết nho nhỏ về cách đối nhân xử thế nên dễ bị dị ứng với những gì gọi là “phi giáo dục”. Điều đáng buồn và đáng lo là không những trong lối sống hằng ngày nhiều người thể hiện trình độ non kém ấy mà ngay trong lãnh vực văn hóa, sách vở, báo chí, truyền hình, thầy thấy cô xướng ngôn điều khiển chương trình thiếu nhi mà ăn mặc hở hang thiếu văn hóa, thì lũ nhỏ bắt chước, hỏi trách ai, đã thế, người ta cũng không từ dùng ngôn ngữ chữ nghĩa hạ cấp để đả kích nhau, mạt sát nhau khi không đồng quan điểm hoặc có chút xích mích, nếu là người có văn hóa trong một xã hội văn minh thì phải dùng ngôn ngữ nhẹ nhàng với nhau dù là kẻ thù, thế mà ! Thôi, người thế gian có cơ tâm với nhau thì kệ họ, tuy có khó nghe, nhưng trong nhà huynh đệ mà cũng chẳng từ sử dụng ngôn ngữ hàng tôm hàng cá thì thật khó chịu, phải không con? Con có đọc những bài trên mạng thì biết, thầy không có máy, không biết sử dụng vi tính, âu đó cũng là điều may, chỉ nghe lóm, đọc lóm vài bài đã thấy đau đầu rồi.

À, mà Niệm ơi, nếu bận tâm và thấy đau đầu là mình dại, người ta muốn phá Phật giáo thì họ sử dụng chiêu thức “Biên soạn tài liệu giả, thông tin giả, hình ảnh giả, nhằm ly gián, bôi nhọ Phật giáo”, dựng chùa giả, tu sĩ giả, in kinh sách giả, thuyết pháp giả cũng đã xảy ra thì ở đời này có gì phải bận tâm. Suy cho cùng, Phật dạy “Vạn pháp giai không, trần gian là huyễn mộng”, thì giả và thật nó có liên quan gì cái “chơn như bất biến”. Thầy muốn nói với con là “khi vui tức ẩn chứa cái buồn, nói sai tức đã nêu cái đúng, không có xấu thì cái tốt đâu cần, ẩn ác dương thiện thì ai chẳng muốn”, nhưng không phải vì vậy mà để nó chống chọi nhau mà chỉ nên cùng nhau, cá nhân trong cọng đồng, cọng đồng có bởi cá nhân, đừng nghĩ đến điều ác, đừng làm điều sai thì tự nhiên điều thiện, điều đúng sẽ xuất hiện do dòng tâm thức chí thiết của cá nhân và cọng đồng sinh khởi.

Vậy nên, những từ, những ý, những thư thầy viết cho con, hãy xem như bản nhạc mà âm thanh của nó là tiếng tơ lòng diễn tả cảm xúc biến thái của tâm thức để nhắc nhau nghĩ cho đúng, làm cho tốt, nói cho phải để ba nghiệp được thanh tịnh, tạo phước quả mà xa lìa nghiệp chướng. Chỉ có vậy và cũng chỉ như vậy mà thôi. Nghe con.

* * *

Niệm ơi,

Mấy hôm nay (cuối tháng 8 AL), sư ông trở bệnh nặng phải đưa đi cấp cứu nhưng tinh thần sao sáng suốt cực kỳ, 11 giờ đêm vẫn gọi thầy ngồi bên cạnh mà tâm sự với nhiều khuyến cáo, răn dạy thầy trò mình rất nghiêm túc, thầy thấy hổ thẹn bản thân và lo ngại sức khỏe của ôn nếu có mệnh hệ nào thì thầy trò chúng ta sẽ là người “Đại vô phước”.

Chiều nay (03/09 AL) mấy người đệ tự tại gia Diệu Từ, Trung Báu, Trung Mẫn và Trung Hương lặn lội đến tận phòng cấp cứu để đảnh lễ sư ông, lòng thành của mấy chị em nó thầy rất cảm động, và thầy thấy vui mừng sung sướng hơn là biết chị em nó đã đến cơ quan công quyền để khiếu nại một sự việc mà từ trước đến nay chưa từng có.

Số là, khi đổi CMND mới, trong giấy ghi chị em nó là “không tôn giáo”, chúng nó đi khiếu nại “Chúng tôi là Phật giáo sao mấy anh ghi là không tôn giáo”, đòi công an phải làm lại cho đúng. Công an bảo “Muốn ghi là Phật giáo thì các chị phải cạo đầu vào ở chùa hoặc phải xuất trình giấy tờ chứng minh các chị là Phật giáo”, “Có, có, có đầy đủ, chúng tôi đã quy y Tam bảo, đã có Bổn sư, đã có thầy tổ, đã ăn chay, đã đi chùa thường xuyên, đã biết tụng kinh niệm Phật, các anh phải làm lại CMND ghi rõ chúng tôi là tín đồ Phật giáo, nếu không chúng tôi kiện lên cấp trên”. Có lẽ cơ quan công an họ ngạc nhiên lắm. Là câu chuyện khó tin mà có thật, thầy cảm thấy ấm lòng khi có những người đệ tử như vậy, phải không con !

Và thầy lại nhớ chuyện ở Ngãi Giao của một gia đình đệ tử tại gia, họ là Phật tử rất đạo đức, hiếu thuận. Ông già bị xe (người Thiên Chúa giáo) đụng phải chết ngay trước mặt nhà, ông ta chỉ mới gần 60 tuổi. Cả nhà đem xác vào nhà lo đám tang, công an Ngãi Giao đến lập biên bản. Từ trên chí dưới, toàn thể gia đình đều bãi nại không một lời phàn nàn, cau có, nói với công an “Chúng tôi là Phật tử, tin luật nhân quả, ba tôi đã chết, có ai cố ý đâu, bây giờ chúng tôi đau khổ mất người thân, còn làm cho gia đình họ đau khổ nữa vì tù tội, tốn kém, ba tôi có sống lại được đâu, nên bãi nại, miễn bồi thường, xem như việc chúng tôi chúng tôi lo, khỏi làm các anh bận tâm”. Gia đình chỉ nhận một nén nhang thắp lên tưởng niệm người quá cố.

Chuyện chẳng có gì ghê gớm, nhưng chắc chắn đã gây một ấn tượng cho tất cả mọi người, kể cả cơ quan chính quyền và đồng bào khác tôn giáo. Thầy cảm thấy hoan hỷ khi có những đệ tử của Phật đã sống đúng tinh thần Phật giáo, vô ngã vị tha, phải vậy không con?

* * *

Niệm ơi,

Những lá thư thầy viết cho con, thầy không ép con phải răm rắp nghe theo, thầy cũng không muốn con phải tuyệt đối làm theo, mà thầy muốn con có cái nhìn hết sức khách quan, hết sức đúng đắn. “Truyền đăng tục diệm” nghe hay, nhưng đèn điện không truyền được cho đèn dầu, đèn dầu không truyền được cho đèn điện, không truyền được chỉ vì nó là điện hay dầu, nhưng bản chất của đèn là sáng, đừng lý luận theo “duy vật biện chứng” mà hãy hiểu theo “duy thức tâm linh”, đừng hiểu theo nghĩa đen tầm thường mà phải hiểu với một tâm hồn trắng trong hướng thượng.

Thư đã dài, mà lòng ta dài bất tận, biết khi mô mới nhả hết tơ lòng, Niệm ơi!

Thầy con,

Thích Trung Phong

(Minh Tâm)


TRUNG PHONG PHÁP NGỮ

v Người học đạo chân chánh có bản sắc phải:

- Chịu được lao nhọc.

- Cam được đạm bạc.

- Nhẫn được đói lạnh.

- Giữ được nghèo khổ.

- Làm được khó khăn.

- Quên được danh lợi.

- Bỏ được ái ân.

- Trì được giới luật.

- Làm được công phu.

- Liễu được sanh tử.

- Tham được thiền đạo.

- Ngộ được Phật pháp.

v Những sự nghiệp này thực hiện được cần phải:

- Chẳng nhìn cái dở của người.

- Chẳng ỷ cái hay của mình.

- Chẳng khoe kiến văn.

- Chẳng bị thanh sắc mê hoặc.

- Thường xuyên đóng kín da miệng.

- Lập chí nguyện lâu dài.

- Giữ chánh niệm thường xuyên.

- Chẳng bị vướng cảnh duyên.

- Chẳng sanh tâm yêu ghét.

v Có như vậy mới khỏi cô phụ chí hướng:

- Lìa cha mẹ.

- Bỏ thế duyên.

- Cạo râu tóc.

- Mặc áo gai.

- Hành khổ hạnh.

v Làm người học đạo phải như vậy, nếu không thì:

- Miệng ăn cơm thí chủ.

- Thân mặc áo đàn na.

- Đầu đội trời.

- Chân đạp đất.

- Ngây ngây chẳng tỉnh.

- Ngốc ngốc chẳng biết.

- Khi kết thúc báo thân.

- Thay dạng đổi hình.

- Trả nợ áo cơm.

- Lưu chuyển luân hồi.

- Đắm chìm sanh tử.

Thì nào có ích gì trên đường học đạo.

Nhớ lấy!

Lời cuối sách

Nước dưới sông vẫn chảy, dòng đời vẫn trôi.

Bạn và tôi gặp nhau dù một sát na cũng là duyên tri ngộ.

Thầy và trò kết một phút cũng là nghĩa đáng ghi.

Những trang sách vừa lướt qua trong mắt bạn, dù tôi chỉ nói với học trò, âu cũng là duyên mà tôi rất trân quý. Xin bạn hoan hỷ như ngắm một giòng nước chảy qua cầu, hình ảnh đó lưu được gì trong tiềm thức cũng xin bạn 2 chữ “Từ Tâm”.

Đó cũng là ước mơ của tác giả dù với bất cứ ai. Đơn giản như vậy mà cũng chỉ là như vậy.

Thân Kính,

Thích Trung Phong

(hiệu Minh Tâm)


DANH SÁCH

Các Phật Tử ấn tống sách này:

- Thích Nữ Liên Duyên (Hà Nội)

- Cô Tư Giàu (Phan Rang)

- Vợ chồng anh Vũ (An Hữu)

- GĐ Thiện và Sang (Úc)

- GĐ Bảo Như – PD. Trung Diệu (Úc)

- Hồ Thị Huệ – PD. Trung Từ (Mỹ)

Xin hồi hướng công đức lên Tam Bảo chứng minh, gia hộ.

Xin liên hệ:

Thích KHINH AN (Minh tâm)

Chùa PHẬT ÂN

Long Thành – Đồng Nai

ĐT: 0613.844.618 – 0612.643.400 – 0933.451.848

***

Trang Nhà Quảng Đức chân thành cảm ơn Thầy Trung Đạo và Thầy Hiếu Niệm đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này (Thích Nguyên Tạng, 17-10-2013)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn