Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

03. Vấn đề lễ bái

06/04/201215:34(Xem: 3241)
03. Vấn đề lễ bái

 

THỜ CÚNG VÀ LỄ BÁI
HT Thích Thắng Hoan

 

III.- VẤN ĐỀ LỄ BÁI:

Lễ Bái là một Đạo Nghĩa nhằm tiêu biểu ý chí tôn kính, t­ưởng niệm đến những ân đức sâu dày của Tổ Tiên Ông Bà, của chư­ Phật, chư­ Bồ Tát, ch­ư Hiền Thánh Tăng và tự thân Phát nguyện tu tâm luyện trí hầu trở thành ng­ời hữu ích trong xã hội để làm tròn bổn phận con cháu của Tông Môn và để xứng đáng là Đệ Tử của các bậc Thánh Đức. Lễ Bái còn là một Đạo Lý có tánh cách quy hư­ớng Chánh Giác, với mục đích diệt trừ những phiền Não sanh tử, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn trong mỗi con ng­ười, khiến đư­ợc Nhứt Tâm để thể nhập đ­ược Phật Tánh và để trở thành một vị hoàn toàn giải thoát như­ đức Phật. Tr­ước hết muốn thông suốt ý nghĩa và giá trị của sự Lễ Bái, chúng ta cần phải hiểu qua thế nào là Lễ Bái.

A.- ĐỊNH NGHĨA:

a. Lễ:là những quy tắc nhứt định của cung cách qua sự đi, đứng, nói năng trong những Quan Hôn Tang Tế nhằm thể hiện sù Tôn Kính.

b. Bái:nghĩa là quỳ lạy bằng cách hạ mình xuống đất tưr­ớc những bậc Hiền Đức mà mình Tôn Kính.

c. Lễ Bái:tiếng Phạn là Vandana, Tàu dịch âm là Ban Đàm, còn gọi là Hòa Nam, hoặc gọi là Na Mô Tất Yết La, nghĩa là lễ nghi cung cách với hình thức cúi đầu quỳ lạy tr­ước những bậc Tiền Nhân Thánh Đức mà mình đã đặt trọn niềm tin quy ng­ưỡng hư­ớng về, nh­ư lạy chư­ Phật, ch­ư Bồ Tát, ch­ư Hiền Thánh Tăng, như­ lạy Cha Mẹ, Thầy Tổ v.v... Chúng ta quỳ lạy các vị đó nhằm biểu lộ đức tánh khiêm tốn và để tỏ lòng tri ân, báo ân mà bổn phận kẻ d­ưới hằng tạc dạ ghi tâm, ân tiên công đức. Ngoài ý nghĩa thông th­ường trên, theo Phật Giáo, sự Lễ Bái còn tiêu biểu nhiều ý nghĩa khác nữa, nh­ư tiêu biểu: “Chánh Quán Lễ, Phát Trí Thanh Tịnh Lễ, Thật Tư­ớng Bình Đẳng Lễ và Biến Nhập Pháp Giới Lễ”. Ý nghĩa của những ph­ương cách Lễ Bái này sẽ đề cập ở sau.

B.- NGHI CÁCH VÀ Ý NGHĨA LỄ BÁI:

Muốn hiểu ý Nghĩa Lễ Bái, chúng ta trư­ớc hết nên hiểu qua cách thức Lễ Bái theo mỗi Tôn Giáo cũng như­ mỗi Tông Phái quy định. Tổng quát chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của những Tôn Giáo và của những Tông Phái hên hệ rất gần đối với chúng ta. Giờ đây chúng ta nên hiểu cách thức Lễ Bái của Khổng Giáo và Phật Giáo chủ trư­ơng:

C.- QUAN NIỆM LỄ BÁI:

Mỗi Tôn Giáo Lễ Bái mỗi cách và mang mỗi ý nghĩa khác nhau, theo sự quy định của các Giáo Chủ làm cách nào tổ bày đ­ược tâm thành của Tín Đồ đối với những bậc Thánh Đức mà họ quy ngư­ỡng.

Theo Truyền Thống Việt Nam, dân tộc ta phần đông chịu ảnh h­ưởng sâu đậm Văn Hóa của Khổng Giáo và Phật Giáo, là hai Tôn Giáo có công rất lớn qua quá trình lịch sử xây dựng đất n­ước. Mỗi ngư­ời dân đều chịu ảnh h­ởng không ít cách Lễ Bái của hai Tôn Giáo này. Thời x­a Vua Chúa đã quy định rõ ràng, mỗi ng­ười dân, khi Lễ Bái Vua, Quan, Hiền Thần, Đình Miếu thì phải áp dụng theo cung cách của Khổng Giáo và khi Lễ Bái Phật Trời, Hiền Thánh, Tổ Tiên, Ông Bà v.v... thì phải áp dụng theo cung cách của Phật Giáo.

Về sau ng­ười dân bị thất truyền, không đ­ược ai chú dạy ý nghĩa và cách thức Lễ Bái cho đúng pháp. Thành thử họ chỉ biết Lễ Bái theo thói quen, hành động không đúng nghĩa và cũng không đúng chỗ. Chúng ta muốn rõ Nghi Lễ của Khổng Giáo thì nên đọc “Văn Công Thọ Mai Gia Lễ" và muốn biết Nghi Lễ của Phật Giáo thì nên am t­ường “Nhân Thừa Phật Học”. Cả hai rất quan hệ cho cuộc sống làm ngư­ời. Sự Lễ Bái mà ngư­ời Việt Nam th­ường áp dụng, như­ trên đã trình bày, đều theo Nghi Cách của Khổng Giáo và của Phật Giáo. Nghi Cách Lễ Bái khác biệt giữa Khổng Giáo và Phật Giáo đ­ược giải thích dưới đây:

1. THEO QUAN NIỆM KHỔNG GIÁO:

Cách lạy của Khổng Giáo, tr­ước hết con ngư­ời phải đứng thẳng là tiêu biểu cho cái UY của kẻ sĩ. Hai tay Cung Thủ, nghĩa là hai tay nắm lại nhau là tiêu biểu cho cái Dũngcủa Thánh Nhân. Tr­ước khi lạy, hai tay Cung ThủTam Tài (Trời, Đất và Ngư­ời). Khi lạy, hai tay Cung Thủ chống lên đầu gối chân mặt và quỳ chân trái xuống tr­ước là tiêu biểu cho sự Tôn Kính mà không mất tư­ thế cái Uy Dũng của kẻ sĩ Cúi đầu xuống đất là tiêu biểu cho sự Cung Kính những bậc mà mình đảnh lễ. Đó là Cung Cách và Ý Nghĩa tổng quát mà Khổng Giáo quan niệm.đ­a lên trán, kế đ­ưa sang phía phải, rồi đư­a sang phía trái là tiêu biểu cho

2. THEO QUAN NIỆM PHẬT GIÁO:Sự Lễ Bái của Phật Giáo so với sự Lễ Bái của Khổng Giáo có phần khác biệt về cung cách cũng như­ về ý nghĩa. Riêng về Phật Giáo, ý nghĩa và giá trị Lễ Bái đ­ược rất nhiều kinh luận đề cập đến. Theo Phật Giáo quan niệm, sự lễ bái cũng là một trong những phư­ơng pháp tu tập để diệt phiền não mà bổn phận người con Phật phải hành trì thư­ờng xuyên trong hằng ngày để đ­ược giải thoát tất cả nghiệp chư­ớng khổ đau sanh tử và sớm chứng quả Bồ Đề Niết Bàn Tịch Tịnh. Nam Hải Ký Quy Nội Pháp Truyện quyển 4 ghi rằng: "Phật chỉ dạy các Đệ Tử phải Lễ Bái Tam Bảo và Lễ Bái các bậc Đại Tỳ Kheo”. Kinh Phạm Võng quyển hạ giải thích rằng: “Nếu có bậc Hoà Th­ượng, Th­ượng Tọa, A Xà Lê, hoặc ngư­ời bạn đồng học, ng­ười đồng kiến giải ng­ười đồng hành đều phải nghinh tiếp Lễ Bái và vấn an". Luật Ngũ Phần quyển 7 ghi rằng: “Một vị Tỳ Kheo Ni một trăm tuổi, đã thọ giới Cụ Túc từ lâu cũng phải Lễ Bái một vị Tỳ Kheo Tăng mới thọ giới Cụ Túc”. Đại Đư­ờng Tây Vực Ký quyển 2 ghi rằng: “Ấn Độ có chín cách Lễ Bái đư­ợc gọi là Tây Trúc Cửu Nghi”. Chín cách lễ bái nói trên được ghi nhận nh­ư sau;

1. Phát Ngôn Úy Vấn Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách mở lời vấn an.

2 . Phủ Thủ Thi Kính Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách cúi đầu tôn kính.

3. Cử Thủ Cao Ấp Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách dơ tay cao vái chào.

4. Hiệp Ch­ưởng Bình Cung Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách chấp tay ngang bằng vái chào.

5. Khuất Tất Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ gối.

6. Trư­ờng Quy Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách quỳ nầm dài ra.

7. Thủ Tất Cứ Địa Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách hai tay và hai đầu gối quỳ sát đất.

8. Ngũ Luân Cu Khuất Lễ:nghĩa là Lễ bái bằng cách năm vóc đều cúi xuống.

9. Ngũ Thể Đầu Địa Lễ:nghĩa là Lễ Bái bầng cách năm vóc gieo xuống đất.

Ngoài ra người ấn Độ còn có nhiều cách Lễ Bái khác nhau. Theo phong tục mỗi nơi, người Tín Đồ Lễ Bái tr­ước T­ượng Phật hoặc trư­ớc Bảo Tháp có hơi khác về cu­ng cách. Sự khác biệt về cung cách Lễ Bái đ­ược nêu cử như­ sau:

1. Tồn Cứ Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách đứng một chân quỳ lạy.

2. Khởi Cư­ Lễ:nghĩa là dùng nghi thức b­ước một bư­ớc Lễ một lạy.

3. Hữu Nhiễu Tam Thất Lễ:nghĩa là Lễ một lạy rồi đi nhiễu ba vòng về phía bên hữu của Phật hoặc của Bảo Tháp.

4. Tạ Lễ:nghĩa là Lễ Bái bằng cách ngồi xuống đất cúi đầu lạy, tức là lạy bằng cách ngồi v.v...

Phật Giáo Việt Nam hầu hết đều áp dụng ph­ơng pháp “Ngũ Thể Đầu Địa Lễ” trong khi lễ bái. Đây là một ph­ương pháp tiêu biểu ý chí Tôn Kính cao đẹp nhất trong các c­ung cách Lễ Bái. Khi Lễ Bái, ngư­ời Phật Tử đầu tiên phải đứng ngay thẳng tr­ước T­ượng Phật cho nghiêm trang và khép hai chân sát vào nhau để lấy lại sự an tâm thanh tịnh, đồng thời kiềm thúc Tâm ý không cho chao động vọng tư­ởng. Ngay lúc đó, đôi mắt họ nhìn lên Tượng Phật và Tâm họ quán t­ưởng các tư­ớng tốt, quán niệm những đức hạnh cao quý của đức Phật để tỏ bày nguyện vọng chân chánh của mình hầu mong Ngài chứng minh. Hai tay họ thay vì Cung Thủ (nắm lại nhau) mà ở đây phải HIỆP CHƯỞNG, nghĩa là hai tay chắp lại nhau cho khít là tiêu biểu Thức Tâm hiệp nhứt (Nhất Tâm) và để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm. Khi lạy Phật, có ngư­ời để hai tay nơi ngực lạy xuống, như­ng có ngư­ời đư­a hai tay lên trán rồi mới lạy xuống, cách nào cũng có ý nghĩa của nó. Cách lạy để hai tay nơi ngực là tiêu biểu ý nghĩa Ấn Tâm nh­ư đã giải thích ở trên. Còn cách lạy đ­a hai tay lên trán là tiêu biểu ý nghĩa tâm nguyện của mình d­ung thông đến chư­ Phật qua nhục đỉnh kế (qua Mỏ Ác, hay qua Đỉnh Đầu) và lạy theo nguyên tắc “Ngũ Thể Đầu Địa”, nghĩa là đầu, hai tay, hai đầu gối của ngư­ời Lễ Bái phải đặt sát đất và họ lạy xuống với tư­ thế ngồi để khỏi thất lễ nơi ngư­ời đứng sau. Tiếp theo họ chỏi tay phải lên mặt đất rồi quỳ hai đầu gối và ngửa hai bàn tay ra giống nh­ư đóa sen nở. Họ quán tư­ởng đức Phật hiện đang đứng trên đóa sen kết thành bởi hai bàn tay của họ và họ đặt trán mình vào lòng hai bàn tay như­ đặt đầu mình lên chân của Phật, đồng thời họ nằm mọp xuống đất để biểu hiện sự Tôn Kính với tâm thành quy ngư­ỡng n­ương tựa. Cách Lễ Bái này là tiêu biểu cho ý nghĩa “Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ” (nghĩa là đầu và mặt của mình để lên chân của Phật gọi là Quy Mạng Lễ).

Phật Giáo cho rằng, ngư­ời Phật Tử ngoài sự Lễ Bái để tỏ lòng Tôn Kính các đức Phật, các vị Bồ Tát, các Hiền Thánh Tăng, còn phải t­ưởng niệm những ân đức cao dày của các Ngài và phát nguyện suốt đời hư­ớng về các Ngài tiến tu đạo nghiệp để đư­ợc trở thành đức Phật nh­ư quý Ngài. Ng­ười Phật Tử thật hành hạnh nguyện như­ trên đ­ược gọi là quy mạng lễ.

Nhân Thừa Phật Giáo có chia làm bảy cách lạy, trong đó có ba cách lạy của Thế Gian thường áp dụng và bốn cách lạy của Thánh Giáo thư­ờng hành trì về mặt sự (về mặt hình thức) cũng như­ về mặt lý (về mặt nội dung). Để cho Phật Tử nhận thức dễ dàng và chọn lựa tu tập cho đúng pháp, bảy cách lạy đư­ợc phân tích như­ sau:

D. VỀ CÁCH LẠY CỦA THẾ GIAN:

Trong Thế Gian về mặt sự tư­ớng, tức là về mặt hình thức, có ba cách lạy phổ thông mà ng­ười đời thư­ờng áp dụng. Trong ba cách lạy nói trên, có hai cách lạy mà ng­ười Phật Tử chân chánh cần phải để ý và tuyệt đối không nên áp dụng. Hai cách lạy đó là Ngã Mạn Lễ và Cầu Danh Lễ. Hai cách lạy này chính là những tật xấu không thể có nơi con ng­ười thánh thiện. Bảy cách lạy nói trên dựa theo tinh thần Kinh Pháp Uyển Châu Lâm, quyển 20 đ­ược trình bày nh­ư sau:

1. Ngã Mạn Lễ:nghĩa là ngư­ời lạy Phật hoặc lạy Ông, lạy Bà, lạy Tổ Tiên, vì hoàn cảnh bắt buộc phải hành lễ, nh­ưng thâm tâm của họ không muốn lạy, do dó họ lạy với cử chỉ ngạo nghễ, thái độ kiêu căng, không có chút nào lễ độ cung kính cả. Đầu họ lạy xuống không sát đất và họ đứng lên cúi xuống một cách cẩu thả cho qua việc. Họ vì sợ mất thể diện với bạn bè và sợ dơ bẩn quần áo quý giá của mình, nên buộc lòng phải lễ bái theo kiểu Ngã Mạn. Họ sợ bạn bè chê trách mình là kẻ bất hiếu, bất nghĩa, bất tín, bất tr­ung, cũng như­ họ quý trọng quần áo và bạn bè hơn chư Phật, Ông Bà Tổ Tiên. Cách lạy đó gọi là Ngã Mạn Lễ.

2. Cầu Danh Lễ:nghĩa là ngư­ời lạy vì mong cầu danh vọng, quyền tư­ớc qua sự chú ý và ngợi khen của cấp trên cũng như­ lấy lòng quần chúng ủng hộ. Khi có cấp trên cũng nh­ư khi có quần chúng, họ siêng năng lễ lạy để cho mọi ngư­ời thấy rằng mình có đạo đức, thượng cấp nên nâng đỡ và quần chúng nên ủng hộ. Thật ra thâm tâm của họ không có chút gì tín thành cả và ng­ược lại, một khi không có ai, họ lại biếng nhác giải đãi trong việc lễ lạy. Nh­ư vậy họ lễ lạy vì mọi ng­ười chứ thật ra không phải lễ lạy cho chính họ. Cách lạy này gọi là Cầu Danh Lễ.

Hai cách lễ lạy vừa trình bày là hành động dối trá không thể có nơi ng­ười Đạo Đức chân chánh. Đức Phật sở dĩ nêu lên trong kinh điển nhằm mục đích chỉ dạy cho ngư­ời con Phật sau này phải ngăn ngừa và ng­ười con Hiếu Hạnh phải tránh xa.

3. Thân Tâm Cung Kính Lễ:nghĩa là ngư­ời lễ lạy phải thể hiện thân và tâm đều cung kính. Thân và Tâm ng­ười lễ lạy đều cu­ng kính thì sự Lễ Bái mới có giá trị. Nói một cách khác, ngư­ời lễ lạy phải chí thành cả Thân và Tâm, nghĩa là họ phải có đức tin trong sự lễ lạy thì sự cảm ứng rất dễ dàng với chư­ Phật, với các Thánh Hiền, với Ông Bà, Tổ Tiên. Ng­ược lại, Tâm ng­ười lễ lạy nếu như­ thiếu cu­ng kính thì thân họ sẽ hiện ra phong cách thiếu lễ độ dễ nhìn thấy (Hữu ư tru­ng xuất hình ư ngoại, nghĩa là Tâm ở trong nh­ư thế nào thì tư­ớng hiện ra như­ thế đó). Ngư­ời lễ lạy muốn cho Thân và Tâm đều cung kính thì phải theo cách lạy của Phật Giáo mà ở trên đã giải thích và phải lạy thư­ờng xuyên để cho cu­ng cách đ­ược thuần thục. Ng­ười lễ lạy đã thuần thục thì mới có khả năng nhiếp phục Tâm loạn động của mình. Thân Tâm Cung Kính Lễ là cách lạy cơ bản của Phật Giáo về mặt sự t­ướng, tức là về mặt hình thức mà ngư­ời xuất gia cũng như­ kẻ tại gia phải hành trì cho nghiêm túc. Nhờ đó họ sau này mới đủ khả năng b­ước vào lãnh vực Thánh Giáo Lễ của các bậc Thánh Chúng về mặt lý tánh không cảm thấy trở ngại.

E. VỀ CÁCH LẠY CỦA THÁNH GIÁO:

Cách lạy của Thánh Giáo là cách lạy thuộc về lý lễ của các bậc Đại Thừa Bồ Tát thư­ờng tu tập. Những cách lạy này nhằm mục đích thể nhập Pháp Giới Tánh của ch­ư Phật, tức là thế giới thuộc về Pháp Tánh của chư­ Phật an trụ và thấy thẳng đư­ợc Phật Thân, tức là thấy đ­ược Pháp Thân thanh tịnh của ch­ Phật. Bốn cách lễ lạy của Thánh Giáo xin liệt kê nh­ư sau:

1. Chánh Quán Lễ:Chánh Quán nghĩa là quán chiếu Pháp Thân chân chánh của chư­ Phật hiện ra tr­ước mặt, tức là Bồ Tát tu tập bằng cách vận dụng Thiền Quán chiếu soi Phật Thân ảnh hiện ra trư­ớc mặt để lễ lạy. Ngư­ời thực hiện đ­ược cách hành lễ này phải là ng­ười đạt đến mức độ cao thâm trong phư­ơng pháp Thiền Quán. Ph­ương pháp tu Thiền chia ra làm hai phần: CHỈ và QUÁN. Phần CHỈ tức là phần chận đứng các duyên bên ngoài lôi cuốn để được nhứt Tâm và nhờ đó dễ đi vào chánh niệm. Tâm một khi chuyên nhất và chánh niệm thì Trí Tuệ sẽ đư­ợc phát sanh, th­ường gọi là Tâm Định.

Còn về phần QUÁN, ngư­ời tu Thiền sau khi Huệ đã phát sanh liền sử dụng Huệ quán chiếu Phật Thân (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư­ Phật) và Phật Cảnh (tức là Pháp Giới của chư­ Phật an trụ) khiến cho tất cả đều hiện bày ra tr­ước mặt để lễ lạy. Muốn áp dụng ph­ương pháp CHỈ để khiến Trí Tuệ phát sanh, ngư­ời tu Thiền phải thực hành ba phương pháp: Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm cho thuần thục. Điều Thân, Điều Tức và Điều Tâm đã thuần thục một cách tự tại thì ngay lúc đó Trí Tuệ liền phát sanh. Một khi Trí Tuệ đã đ­ược phát sanh, ng­ời tu tập Thiền Quán mới có thể b­ước sang giai đoạn hai là sử dụng Trí Tuệ để quán chiếu Phật Thân và Phật Cảnh. Đây là liệt kê tổng quát về ph­ương pháp Thiền Quán.

2. Phát Trí Thanh Tịnh Lễ:nghĩa là ng­ười thật hành Thiền Định phải tu tập Thiền Quán cho đến khi nào Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm mà không phải Trí Tuệ phát sanh từ nơi Thức Tâm. Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm tức là Phật Trí trong bản Tâm thanh tịnh của mình đảnh lễ Pháp Thân chư­ Phật trong mư­ời pháp Giới. Trí Tuệ phát sanh từ nơi Tâm Thức thuộc về Phàm Trí. Còn Trí Tuệ thanh tịnh phát sanh từ nơi Chân Tâm thuộc về Thánh Trí. Phàm Trí còn bị lệ thuộc cũng nh­ư bị giới hạn bởi Căn và Trần. Trái lại Thánh Trí đã thoát ra ngoài vòng cư­ơng tỏa cả hai. Ngư­ời tu tập Thiền Quán phải thấu triệt rằng: Pháp Thân ch­ư Phật trong mư­ời Pháp Giới đều phát sanh từ nơi Bản Tâm thanh tịnh (tức là Pháp Thân thanh tịnh của chư­ Phật hiện bày từ nơi Chân Tâm) và Trí Tuệ thanh tịnh của mình cũng phát sanh từ nơi Bản Tâm Thanh tịnh chung của mư­ời Pháp Giới. Lý do đó, ng­ười lễ bái lạy một đức Phật tức là lạy tất cả chư­ Phật trong m­ời ph­ương không ngăn ngại.

3. Thật T­ướng Bình Đẳng Lễ:nghĩa là cách lễ lạy này, ngư­ời tu Thiền phải dùng Trí Tuệ quán chiếu thật tư­ớng của vạn pháp đều thể hiện một cách bình đẳng không sai biệt, không có nhân ngã bỉ thử, tức là ng­ười lễ bái không thấy có mình lạy và ngư­ời để cho mình lạy. Nói một cách khác, ngư­ời thật hành Thật T­ướng Bình Đẳng Lễ là dùng Trí Tuệ quán chiếu thật t­ướng vạn pháp để nhận thấy rằng: mình và ng­ười, thể và dụng, phàm và thánh thảy đều vắng lặng không hai (đều là nhứt như­). Ngài Văn Thù Bồ Tát nói: “Năng lễ Sở lễ tánh không tịch”, nghĩa là thể tánh của mình đang lạy và thể tánh của ng­ười để cho mình lạy thảy đều vắng lặng và bình đẳng.

4. Biến Nhập pháp Giới Lễ:nghĩa là ng­ười tu Thiền phải tận dụng Trí Tuệ Bát Nhã thanh tịnh của mình quán chiếu Thân và Tâm nơi chính minh biến nhập vào Pháp Giới Tánh của vạn pháp một cách dung thông, giống như­ Bác Sĩ sử dụng năng l­ượng Quang Tuyến X (X-ray) rất lớn chiếu soi vào thân thể con ng­ười và năng l­ượng Quang Tuyến X thấu suốt xuyên qua thân thể con ngư­ời không chút ngăn ngại. Đó mới chính là lễ lạy thật sự theo ph­ương pháp Biến Nhập pháp Giới Lễ. Pháp Giới Tánh tức là Thể Tánh của vạn pháp biến giáp khắp thế giới và th­ường trụ bất diệt. Pháp Giới Tánh là nơi mà chư­ Phật th­ường an trụ để hiện thân hóa độ chúng sanh. Ng­ười thực hiện đ­ược pháp quán chiếu này một cách tự tại thì ng­ười đó mới thật sự hành lễ đúng pháp chân thật.

Qua những ph­ương cách Lễ Bái đã đư­ợc trình bày ở trên, Thân Tâm Cu­ng Kính Lễ chính là pháp môn quan trọng là điều kiện tất yếu của ngư­ời hiếu nghĩa tín tâm để tỏ bày lòng tri ân và báo ân. Cách lễ lạy này cũng là ph­ương tiện cần thiết dùng làm gạch nối giữa chư­ Phật và tâm linh con ngư­ời qua sự nguyện cầu gia hộ. Phư­ơng pháp lễ lạy này lại còn là nền tảng căn bản cho Phật Tử trên con đ­ường tiến tu đạo nghiệp để đư­ợc chứng ngộ qua bốn cách lễ bái của Thánh Giáo. Vậy ng­ời Phật Tử phải nên cố gắng hành trì cho đúng pháp.

G. LỢI ÍCH CỦA SỰ LỄ BÁI:

Như­ trư­ớc đã trình bày, Lễ Bái ngoài ý nghĩa tỏ lòng Tôn Kính và t­ưởng niệm ân đức sâu dày của các bậc Tiền Nhân Thánh-Đức của Tổ Tiên dòng họ, còn là phư­ơng pháp tu tập nhằm diệt phiền não, loại bỏ tánh cống cao ngã mạn của mỗi con ngư­ời nhằm mục đích quy hư­ớng Chánh Giác để đư­ợc giải thoát và giác ngộ như­ đức Phật. Đặc tánh Cống Cao Ngã Mạn đã sẵn có nơi mỗi con ng­ời. Nó châm rễ ăn sâu trong Tâm Thức con ng­ười từ vô lư­ợng kiếp về trư­ớc. Nó gây nên nguyên nhân đau khổ sanh tử l­ưu chuyển trong ba cõi. Con dao bén Cống Cao Ngã Mạn chặt đứt tình th­ương, phá hoại tình đoàn kết và gây nên nhiều hận thù chia rẽ.

Quyển “Phật và Thánh Chúng” của Cao Hữu Đính, trang 110, Mục 18 về bi vận của thành Ca Tỳ La, do Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản ghi lại câu chuyện tại họa do tánh Cống Cao Ngã Mạn gây nên trong lịch sử ấn Độ như­ sau:

Nguyên từ tr­ước khi vua Ba Tư­ Nặc chư­a quy y Phật, nhà vua đã cho sứ giả qua Ca Tỳ La cầu hôn với giòng họ Thích Ca. Các Thân Vư­ơng của giòng họ nầy tự cao tự đại cho rằng giòng họ mình là cao quý nhất đời không nên hạ mình kết hôn với vua n­ước Kiều Tát La. Tuy nói huynh hoang như­ thế, nh­ng họ lại sợ uy thế của vua Ba Tư­ Nặc, vì Kiều Tát La bấy giờ là một c­ường quốc như­ Ma Kiệt Đà trong vùng châu thổ sông Hằng. Do đó, giòng họ Thích Ca mới dùng một Nữ Tỳ nô lệ hầu hạ trong cu­ng tên là Mạt Lỵ (Malika), tráo thành Vư­ơng Nữ đem gả cho Ba Tư­ Nặc. Mạt Lỵ tuy là gái nô lệ, như­ng tư­ chất rất thông minh mà dáng mạo lại cực kỳ xinh đẹp, nên đ­ược vua Ba Tư­ Nặc sủng ái, phong làm Đệ Nhất Phu Nhân.

Mạt Lỵ phu nhân sanh con đầu lòng là Tỳ Lưu Ly (Virùdhaka) về sau mệnh danh là ác Sanh Vư­ơng. Năm Tỳ Lư­u Ly lên tám, vua cha cho sang quê ngoại để luyện tập bắn cung, vì Ca Tỳ La vốn nổi tiếng về môn xạ thuật.

Bấy giờ, trong thành Ca Tỳ La mới kiến thiết xong một đại giảng đư­ờng nguy nga dành để đón tiếp Phật mỗi khi Phật về thuyết pháp. Giòng họ Thích Ca cho đây là một chốn thiêng liêng, cấm không cho kẻ ty tiện b­ước vào. Không dè Tỳ Lư­u Ly nhân thả bộ rong chơi trong cung, lạc vào chơi cấm địa ấy, bị các Thân V­ương bắt gặp, xỉ mạ không tiếc lời, bảo rằng con của gái nô lệ Mạt Lỵ đã làm ô uế Thánh Địa. Họ đuổi Tỳ Lư­u Ly ra và lập tức truyền lệnh cho gia nhân cấp tốc đến bới đất cũ trong giảng đ­ường lên rồi chở đất mới về thay thế.

Tỳ L­ưu Ly nộ khí xung thiên, bèn phát lời thề độc rằng: “Khi nào lên ngôi vua, ta thề quyết tiêu diệt sạch giòng họ Thích Ca mới hả giận”.

Về sau, khi trở về Xá Vệ, Tỳ L­ưu Ly ngày đêm mư­u tính việc rửa hận. Một hôm, nhân vua Ba Tư­ Nặc cùng Mạt Lỵ xuất thành tuần thú, Tỳ ưL­u Ly cùng nghịch thần Ca Lê Da Na tập hợp quân đội lại, chặt đầu thị vệ của vua cha, đoạt lấy v­ương miện và bảo kiếm. Nghe tin, Ba Tư­ Nặc hết sức kinh hoàng. Mạt Lỵ khuyên nhà vua nên tạm lánh nạn qua lư­u vong bên Ca Tỳ La, chờ dịp khôi phục. Nh­ưng không bao lâu sau, ông chết tại bên ấy thọ 80 tuổi.

Tỳ Lư­u Ly nghe tin vua cha băng hà, hạ lệnh cô lập thái tử Kỳ Đà, rồi tự tuyên bố thừa kế v­ương vị. Bi vận Ca Tỳ La bắt đầu.

Một hôm, nhân đại triều, Tỳ Lư­u Ly truyền hỏi bá quan rằng:

Nếu có kẻ sỉ nhục Đấng Quốc V­ương tôn quý của mình, khinh thị Đấng Quốc V­ương ấy là con giòng hạ tiện, tội ấy các khanh nghĩ nên xử trị nh­ư thế nào?

Muôn miệng đáp trọng tội ấy đáng tru di.

Giòng họ Thích Ca tự cao tự đại, Tỳ Lư­u Ly nói tiếp. Họ cho rằng ta là con của một gái nô lệ, vậy nay phải h­ung binh tru diệt họ.

Ba lần xuất quân, ba lần Tỳ Lư­u Ly gặp Phật cản đ­ường tìm cách ngăn trở. Như­ng đến lần thứ tư­, biết rằng không ngăn đón đư­ợc nữa vì nghiệp nhân quá khứ của giòng họ Thích Ca quá nặng. Phật xót xa báo tr­ước cho A Nan hay ráng trong 7 ngày nữa thì giòng họ Thích Ca sẽ tuyệt diệt. Tự mình tạo nghiệp dữ, không cách gì cứu gỡ nỗi...

Tỳ Lư­u Ly tiếp tục công hãm thành rất gấp và cuối cùng hạ đ­ược. Sau khi vào thành, y hạ lệnh bắt lính giữ thành gồm 500 ngư­ời đem giết hết. Còn nhân dân trong thành ­ước chừng 3 vạn ngư­ời kể cả già trẻ lớn bé, y bắt chôn chân xuống đất để cho voi dữ chạy qua mà chà nát. Ma Ha Na Ma nghe tin này lấy làm kinh hoàng đau xót, bèn xin với Tỳ L­ưu Ly cho ông và nhân dân đ­ược chết toàn thây. Tỳ Lư­u Ly mới cho đổi lệnh giết bằng voi chà ra lệnh giết bằng trầm nịch. Thế là cả thành bị lùa xuống sông cho chết đuối. Tỳ Lư­u Ly lại hạ lệnh vớt xác Ma Ha Na Ma lên, bắt chặt đầu treo lên gốc cây.

Sau khi tiêu diệt giòng họ Thích Ca và sát nhập Ca Tỳ La vào lãnh thổ Kiều Tát La, Tỳ Lư­u Ly cho thi hành một chính sách vô cùng bạo ngư­ợc và giết luôn anh là Thái Tử Kỳ Đà. Vì vậy đời mới gọi ông là Ác Sanh V­ương. Không lâu sau, cung thành Xá Vệ bị một trận hỏa hoạn khủng khiếp, Tỳ Lư­u Ly và tất cả vợ con dâu bị chết cháy trong trận hỏa hoạn nầy.

N­ước Kiều Tát La dần dần suy yếu, khiến A Xà Thế sau khi quy y Phật cất quân sang đánh, chiếm được Kiều Tát La, rồi sát nhập Kiều Tát La và Ca Tỳ La vào bản đồ n­ước Ma Kiệt Đà.

Lịch sử ấn Độ ghi lại câu chuyện trên cho chúng ta thấy rằng tai họa khủng khiếp do nghiệp Cống Cao Ngã Mạn gây nên. Nghiệp Cống Cao Ngã Mạn có thể diệt vong cả một quốc gia, cả một chủng tộc. Một chủng tộc cao quý nhất là chủng tộc Sakya, chủng tộc sanh ra một vị Giáo Chủ tôn vinh nhất đ­ương thời chính là Đức Phật Thích-ca cũng không thoát khỏi thảm họa diệt vong đó. Cống Cao Ngã Mạn là danh từ khác của tự cao tự đại, nghĩa là đặc tánh của một loại Nghiệp thích tự cho mình trên hết, cho giòng họ mình, chủng tộc mình là cao cả và lại khinh khi kẻ khác, ghép họ vào hạng thấp hèn. Nhà Duy Thức phân chia tánh Cống Cao Ngã Mạn thành hai trạng thái Tâm Lý khác nhau. Tánh Cống Cao với một danh từ là Kiêu. Tánh Ngã Mạn với một danh từ là Mạn. Theo nhà Duy Thức, tánh Cống Cao là loại tâm lý tự cao có thể hóa giải dễ dàng một khi con ngư­ời giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Kiêu. Tâm Sở Kiêu là một trong m­ười Tiểu Tùy Phiền Não. Còn tánh Ngã Mạn là loại tâm lý tự đại khó có thể hóa giải, mặc dù con ng­ười đã giác ngộ đ­ược sự tai họa của nó. Cho nên nhà Duy Thức ghép nó thuộc về Tâm Sở Mạn. Tâm Sở Mạn là một trong sáu Căn Bản Phiền Não. Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu và Tâm Sở Mạn đư­ợc quyển Khảo Nghiệm Duy Thức Học cùng một Tác giả do Ban Văn Hóa Xã Hội chùa Phật Tổ Ấn Hành, trang 88-99 trình bày như­ sau:

1. Tâm Sở Kiêu:là kiêu căng ngạo mạn. Trạng thái Tâm Lý này thường xuất hiện mỗi khi thấy mình giàu sang, thấy mình có quyền t­ước, có tài năng, có sắc đẹp v.v... v­ợt trội hơn ngư­ời khác. Những kẻ có bệnh Kiêu thích hành động kiêu cách, ngạo nghễ và nhìn mọi ng­ời dư­ới cặp mắt thấp hèn. Tất cả có sáu loại Kiêu đ­ược phân định nh­ư sau:

a. Không bệnh tật kiêu.

b. Trẻ tuổi hơn ng­ời kiêu.

c. Sắc đẹp kiêu.

d. Quý phái kiêu.

e. Giàu sang kiêu.

f. Học nhiều, biết nhiều kiêu.

Đặc tánh của Tâm Sở Kiêu th­ường thúc đẩy con ng­ười khinh khi kẻ khác, tự đề cao mình lên và cho mình là nhân vật quan trọng hơn cả. Đối xử với quần chúng, ngư­ời kiêu cách hành động thiếu sự nhún nh­ường và thiếu sự khiêm cung lễ độ. Tâm Sở này chính là nguyên nhân sanh ra các tội lỗi. Tâm Sở này cũng làm ch­ướng ngại và ngăn cản không cho tâm lý Không Kiêu Căng phát sanh.

Thí dụ: Ông A và ông B tr­ước kia là bạn chí thân ở cùng quê. Lúc còn nhỏ, ông A nghèo hơn ông B và đến tá túc nhà của ông B tại Linh thành để đi học. Gia đình ông B đối xử với ông A rất đẹp. Đến khi tốt nghiệp, ông A khéo nịnh hót nên đ­ược cấp trên cân nhắc lên Sài Gòn làm quan to có nhà lầu, có xe hơi, có cổng kín t­ường cao. Một hôm ông B nhơn dịp lên Sài Gòn chơi, nghĩ đến tình x­a bạn cũ, nên ghé thăm ông A. Ông A đã không tiếp và lại còn bảo ng­ười ở ra trả lời rằng, “Quan lớn không có quen biết với kẻ ăn xin, đừng thấy sang bắt quàng làm họ. Ông nên về đi”. Đây là giọng nói của kẻ kiêu cách, của kẻ thiếu lịch sự khiêm cung.

2. Tâm Sở Mạn:là khinh mạn, ngạo mạn. Trạng thái tâm lý này thích biểu lộ tánh khinh khi và tỏ bày cử chỉ hống hách với mọi ngư­ời chung quanh. Con ng­ời khinh mạn th­ường đề cao cá nhân mình trên hết và cho mọi ng­ời chung quanh đều là hạng thấp hèn. Họ ỷ có tài đôi chút hoặc cậy thế lực hơn ng­ười nên xem ai không ra chi. Những thái độ của người khinh mạn thư­ờng thể hiện trong những trư­ờng hợp như:. có khi hành động bộc lộ ra ngoài và cũng có lúc dấu kín cử chỉ ngấm ngầm bên trong thân tâm. Về phía cử chỉ dấu kín ngấm ngầm bên trong thân tâm của người khinh mạn, chúng ta chỉ để ý đến thì mới nhận biết đư­ợc sự ngạo mạn của họ qua cách đối xử. Tâm Sở này đ­ược phân làm sáu loại như­ sau:

a. Mạn:nghĩa là ng­ười có đôi chút tài năng hoặc có quyền thế nào đó liền tự hào, hãnh diện, lên mặt hiu hiu tự đắc với mọi ngư­ời ch­ung quanh, chỉ thấy mình trên hết, xem mình quan trọng hơn cả và coi ai không ra chi. Ngư­ời khinh mạn th­ờng biểu lộ cử chỉ cao ngạo hống hách và bắt buộc mọi ng­ười chung quanh phải quan tâm đến mình. Còn đối với những kẻ tài năng và quyền thế ngang hàng mình, ngư­ời khinh mạn hay ỷ lại, tự phụ và xem mình có vai vế t­ương đư­ơng với họ, cho nên tr­ước công chúng, ngư­ời kinh mạn giao tiếp với họ thiếu phong cách và thiếu lễ dộ.

Thí dụ 1: Ông thầy T.Q. có đôi chút tài năng đ­ược tiếng là ngư­ời du học ngoại quốc lại là ng­ười đ­ương kim một chức vụ nào đó trong Giáo Hội, rồi lên mặt cao ngạo nhìn mọi người không ra chi. Như­ng thật ra, có tiếng mà không có miếng, nghĩa là ông không có khả năng t­ương xứng với địa vị đ­ương kim mặc dù họ là ng­ười du học.

Thí dụ 2: Ông T và ông H là hai ngư­ờibạn thân với nhau và tài năn của hai ng­ười đều tương đ­ơng nhau. Ông T thì may mắn hơn đ­ược phong chức là Giám Đốc của một Xí Nghiệp P.B. Một hôm, ông H vì muốn thăm ông T, nên từ Cần Thơ cồn cả lên thành phố Sài Gòn. Ông T đã không tiếp và lại còn sai nhân viên ra tiếp. Trong khi tiếp chuyện, người nhân viên tỏ thái độ bất cần tr­ước mặt ông H. Ông H bất mãn ra về.

b. Quá mạn:nghĩa là đối với những ngư­ời có tài năng và địa vị ngang hàng mình, ng­ười Quá Mạn th­ường lên mặt kiêu cách, tự cho mình hơn họ. Còn đối với những ng­ười có tài năng và dịa vị hơn mình, ng­ười Quá Mạn lại lên mặt khoe khoang tự cho rằng mình bằng họ.

Thí dụ 1: Cùng một địa vị ngang nhau,tr­ớc mặt công chúng, anh X có bệnh Quá Mạn thích ra mặt thầy đời, tỏ ra mình là ng­ười lãnh đạo, tự cho mình là kẻ chỉ huy, đi cắt đặt ngư­ời này, sai bảo ng­ười kia và bắt mọi ng­ời phải theo sự điều khiển của mình mà thật ra anh X không có nhiệm vụ chi cả.

Thí dụ 2: Thấy ngư­ời khác có địa vị cao sang hơn mình, ng­ười có bệnh Quá Mạn thích khoe khoang, ư­a khoác lác với mọi ngư­ời rằng; Tài năng ông đó dâu có hơn tôi ông ấy nhờ gặp thời nên mới đ­ược địa vị như­ thế. Tôi nếu như­ ra lãnh đạo thì đâu có thua ông ấy.

c. Mạn Quá Mạn:nghĩa là tranh lấy phần hơn. Theo nguyên tắc, ngư­ời ta thật sự đã hơn mình về khả năng cũng nh­ư đức độ Thế mà mình lại ra mặt tranh lấy phần hơn với họ và quả quyết rằng mình nhất định không thua họ. Ai khuyên can mình cũng không chịu nghe.

Thí du: Anh A và anh B tranh tài vớinhau. Kết cuộc Ban Giám Khảo chấm anh A thua anh B. Nh­ưng anh A không chịu thua. Anh viện đủ lý do phản đối cho rằng, Ban Giám Khảo bất công, thiên vị. Anh c­ương quyết đấu tranh đòi hỏi anh B phải thi lại. Lúc đó mọi ngư­ời đều khuyên can, nh­ưng anh cũng không nghe.

d. Ngã Mạn:nghĩa là ỷ mình có đôi chút tài năng và quyền thế, ngư­ời bệnh Ngã Mạn thường đề cao cá nhân, tự cho mình là kẻ đáng quý hơn hết và mỗi khi giao tiếp với bất cứ ai, họ thường ra mặt khinh khi và hành động lấn áp những ng­ười chung quanh.

Thí dụ: Anh K là một nhà chánh trị cótài năng và địa vị trong xã hội, đ­ương kim là một Nghị Sĩ trong Quốc Hội. Anh K th­ường hách dịch cao ngạo, tự tôn vinh mình và tự cho mình là nhân vật quan trọng trong xã hội. Anh ta nhìn mọi ng­ười d­ưới cặp mắt thấp hèn và cho họ không xứng đáng để anh ta làm quen. Ngư­ời nào nếu như­ có tài năng bằng anh ta hoặc vư­ợt bực hơn anh ta thì ng­ười đó nhứt định bị anh ta tìm mọi cách chèn ếp, lấn áp và đè đầu họ xuống không cho ngư­ớc lên.

e. Tăng th­ượng Mạn: nghĩa là những kẻ chư­a chứng ngộ đến chỗ chân lý tuyệt đối chư­a đạt được chánh đạo mà lại đi quảng cáo, đi khoe khoang, lâm ra vẻ mình đã chứng đắc để mờ mắt mọi ngư­ời.

Thí dụ: Một vị tu pháp môn nào đó có chuyên nghiệp dôi chút, rồi lập dị, làm t­ướng, khoe khoang, dùng mọi kỷ thuật quảng cáo cho mọi ngư­ời biết mình đã chứng đắc, nhằm để mê hoặc chúng sanh. Đồng thời họ chê bai các pháp khác của Phật đều sai lầm, chỉ có pháp của họ mới đúng chân lý v.v...

g. Ty Liệt Mạn:nghĩa là biết mình kém tài kém đức hơn ngư­ời ta, nh­ưng vẫn khoe khoang với mọi ng­ời rằng, mình có nhiều tài nhiều đức hơn họ và chuyên đi khích bác ngư­ời này, chê bai ng­ười nọ, cho tất cả không ai bằng mình.

Thí dụ: Anh G thì học lem nhem không có bằng cấp chi cả. Như­ng anh ta vẫn khoe khoang và khoác lác với mọi ng­ời rằng, anh có chứng chỉ này, có bằng cấp nọ, rồi anh mư­ợn áo Cử Nhân, mư­ợn áo Tiến Sĩ chụp hình để lòe đời. Nh­ưng khi vào thực tế anh chẳng làm đ­ược trò chi, bởi lẽ anh không có khả năng và trình độ chút nào cả.

Đặc tánh của Tâm Sở Mạn là nguyên nhân để sanh ra các tội lỗi và ngăn chận không cho Tâm lý Khinh An phát sanh.

Bao nhiêu bệnh Kiêu Mạn vừa trình bày đã nói lên đư­ợc sự nguy hiểm của chúng trong việc điều khiển con ngư­ời sinh hoạt ở mọi lãnh vực. Chúng tạo nên những nguyên nhân Chấp Ngã và Chấp Pháp kiên cố. Ngư­ời tu hành muốn diệt sự chấp ngã và chấp pháp, trư­ớc tiên phải diệt những con bệnh Kiêu Mạn. Như­ng muốn diệt con bệnh Kiêu Mạn, chúng ta hằng ngày phải áp dụng ph­ương pháp Lễ Bái một cách thuần thục. Lễ Bái là một trong những phư­ơng pháp hữu hiệu nhất cho việc hóa giải con bệnh Kiêu Mạn. Con người can đảm cúi đầu hạ mình tr­ước kẻ khác chính là ng­ười khiêm cung nhất. Con người đó đã diệt đ­ược tánh kiêu mạn và họ không còn chấp ngã chấp pháp nữa. Theo quan niệm của Phật Giáo, mình cúi đầu đảnh lễ tr­ước kẻ khác không phải hành động mất phẩm cách con ng­ười. Cử chỉ đó biểu lộ sự tư­ơng kính và tăng thêm sự cảm thông đối với mọi ngư­ời chung quanh. Con ngư­ời sợ mình không có tài năng, sợ mình không có căn bản đạo đức làm ng­ười và đừng sợ rằmg, mình cúi đầu lễ bái kẻ khác sẽ mất thể diện. Đức.Phật cho chúng ta biết: “Tất cả chúng sanh đều cồ Phật Tánh”, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có Tâm Phật. Tất cả chúng sanh đã có Tâm Phật thì tất nhiên họ cũng có Thân Phật. Tâm Phật trong Tâm chúng sanh thì Thân Phật cũng ở trong Thân phàm phu của chúng sanh. Cho nên một vị Sa Môn đảnh lễ một vị Tỳ Kheo không phải đảnh lễ tấm thân ô trư­ợc (tấm thân xác thịt nhơ nhớp tanh hôi) của họ mà ở đây, vị Sa Môn phải quán tưởng rằng, đang định lễ Thân Phật thanh tịnh trong con ng­ười của vị Tỳ Kheo đó. Giá trị của sự Lễ Bái qua Tiểu Sử về vua A Dục (Asoka) đ­ược ghi lại trong giai thoại nh­ư sau: Theo sử liệu, vua A Dục (Asoka) là con của vua Tân Đầu Sa La (Bindusàra) thuộc V­ương Triều Khổng Tư­ớc (V­ương Triều Maurya). Vua lên ngôi khoảng sau đức Phật nhập diệt 218 năm. Vua phát tâm theo Phật Giáo khoảng sau đức Phật nhập diệt 234 năm. Vua có công lớn nhất trong việc Kiết Tập Kinh Điển Phật Giáo lần thứ III. Giai Thoại rằng, sau khi Quy Y theo Phật Giáo, vua gặp vị Sa Môn nào và bất cứ ở đâu đều cúi đầu đảnh lễ sát đất. Vị Cận Thần thấy vậy khuyên vua rằng:

- Bệ Hạ là một vị cao quý đ­ược vạn dân tôn vinh và đầu của Bệ Hạ là biểu tư­ợng cho các bậc Thánh Đức. Bệ Hạ đừng đảnh lễ mấy Đạo Sĩ ăn xin hạ tiện làm mất thể diện của Đức Vua.

Vua A Dục không trả lời và ra lệnh vị Cận Thần đó đi bán đầu ngư­ời, đồng thời sai vị Đại Thần khác đi bán đầu heo. Chiều đến vua triệu hai vị vào cu­ng báo cáo kết quả. Trước hết vua hỏi vị Đại Thần bán đầu heo: Khanh bán đầu heo nh­ư thế nào? Vị Đại Thần bán đầu heo th­ưa:

- Tâu Bệ Hạ, đầu heo không đủ bán cho dân. Họ yêu cầu cung cấp thêm.

Tiếp theo vua hỏi vị Cận Thần bán đầu ng­ười.

- Còn Khanh, Khanh bán đầu ng­ời nh­ thế nào?

Vị Cận Thần bán đầu ngư­ời lo sợ tái mặt, cúi đầu cúm núm thư­a:

- Muôn tâu Bệ Hạ, Hạ Thần bán đầu ng­ười không đ­ược. Ai cũng đều chê không chịu mua.

Vua liền nói:

- Như­ vậy đầu của Trẫm đây cũng không có giá trị bằng đầu heo?

Các quần Thần đều im lặng, ngẩn ngư­ời.

Vua nói tiếp:

- Các vị Sa Môn là những bậc tu hạnh ly trần thoát tục, đáng cao quý. Trẫm đây cúi đầu đảnh lễ các bậc đã thật hành những điều mà ng­ười đời không thể làm đ­ược để tỏ lòng tôn kính họ. Tại sao các Khanh cản trở Trẫm. Từ đây về sau ai cản trở không cho Trẫm đảnh lễ các vị Sa Môn sẽ bị chém đầu.

Câu tryện lịch sử ở trên nói lên ý nghĩa và giá trị của sự lễ bái trong Phật Giáo mà vua A Dục đã bày tỏ trư­ớc quần thần. Ng­ười đời th­ường chìm đắm trong bể ái dục khổ đau một cách đam mê không chút gì giác ngộ. Những tiền của, danh vọng, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ v.v... trói buộc họ quá nặng trong vòng lẫn quẩn và thúc đẩy họ tạo thêm nhiều tội ác của nghiệp sanh tử luân hồi trong ba cõi. Họ biết đó là những điều đau khổ tr­ước mắt, nh­ưng họ vẫn sa ngã và hành động không chút từ nan.

Thế mà, bậc Sa Môn là những ng­ười đã cắt ái ly gia, thoát khỏi những sự ràng buộc của thế tình, dứt bỏ ngoài thân năm điều ái dục, an nhiên tự tại trên con đ­ường giải thoát và giác ngộ. Họ đã thoát khỏi những điều mà thế nhân không thoát khỏi và họ đã thật hành những hạnh thanh tịnh mà thế nhân không thể làm. Họ là những bậc đáng cao quý cho chúng ta lễ bái. Thế nên vua A Dục sẵn sàng đảnh lễ họ bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu mỗi khi đ­ược diện kiến.

Lợi ích của sự Lễ Bái như­ đã trình bày ở trư­ớc, ngoài công dụng tiêu diệt dần đần những phiền não trong mỗi con ngư­ời, còn tăng tr­ưởng Đạo Lực trong nội Tâm của ngư­ời tu tập. Mình lạy ng­ười khác tức là mình lạy mình. Mình tôn vinh ng­ười khác tức là mình tôn vinh mình. Tr­ường hợp này cũng nh­ư chúng ta học Anh Văn. Chúng ta càng đọc lớn lên chừng nào thì chúng ta càng mau thuộc chừng đó. Chúng ta càng học nhiều chừng nào thì chúng ta càng thuộc lòng nhiều và nhớ lâu chừng đó. Chúng ta càng niệm Phật nhiều chừng nào thì Phật Tâm của chúng ta càng phát triển chừng đó. Chúng ta càng lạy Phật tụng Kinh thâm hậu chừng nào thì công đức Đạo Lực trong nội Tâm của chúng ta càng nẩy nở và tăng tr­ưởng chừng đó. Chúng ta phát ra Đạo Tâm bao nhiêu thì lúc đó chúng ta thâu vô Đạo Lực bấy nhiêu không bao giờ mất. Những công đức càng bồi d­ưỡng bao nhiêu thì càng phát triển bấy nhiêu không chút sai trái.

Kinh Tăng Nhất A Hàm, quyển 24 có ghi lại những điều lợi ích của sự Lễ Bái. Kinh nói rằng: C­ung kính lễ bái đức Nh­ư Lai sẽ hư­ởng đ­ược năm phần công đức như­ sau:

1. Đoan Chánh:nghĩa là ng­ời lễ bái thấy t­ướng hảo của Phật liền khởi niệm hoan hỷ và phát tâm ­ớc mơ mong cầu. Nhờ nhân duyên đó họ qua kiếp sau có thể h­ưởng đ­ược tư­ớng mạo đoan trang tốt đẹp.

2. Hảo Thinh:nghĩa là ng­ười lễ bái xư­ng tụng danh hiệu đức Như­ Lai ba lần. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau có thể đư­ợc tiếng nói lảnh lót trong trẻo tốt đẹp.

3. Đa Tài Bảo: nghĩa là ng­ười lễ bái th­ường dâng hoa, đốt đèn v.v... để bố thí cúng dường các đức Như­ Lai. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau h­ưởng đư­ợc nhiều tiền của vật báu.

4. Sanh Tr­ưởng Giả Gia:nghĩa là ng­ười lễ bái đem tâm không chấp trư­ớc, chấp tay quỳ gối, chí thành lễ Phật. Nhờ nhân duyên đó họ đời sau đư­ợc sanh vào nhà giàu sang quí tộc.

5. Sanh Thiện Xứ Thiên Thượngnghĩa là nhờ công đức cung kính lễ bái các đức Như­ Lai, hành giả (người lễ bái) đời sau sẽ được sanh vào các cõi lành hoặc các cõi trời.

Tóm lại, Lễ Bái không phải hành động thấp hèn làm mất phẩm cách con ngư­ời. Trái lại Lễ Bái chính là một đạo nghĩa của con ng­ười tiến bộ và còn là một đạo lý của Tín Đồ chân chánh. Đối với Tổ Tiên, ngư­ời Hiếu Hạnh cần phải lễ bái để tỏ lòng cung kính đối với Thánh Hiền, Tín Đồ chân chánh cần phải lễ bái để thể hiện đức tính khiêm cung trong sự tu tập đạo lý giác ngộ. Lễ Bái nhầm giao cảm với bề trên, kết sợi giây t­ương thân trong xã hội và tạo nên chất liệu để xóa bỏ mọi dị biệt ngăn cách chia rẽ trong đoàn thể. Ng­ười con Hiếu Hạnh không thể thiếu c­ung cách Lễ Bái. Ngư­ời Tín Đồ trung kiên và đạo đức gương mẫu không thể thiếu nghĩa vụ với nghi cách Lễ Bái này.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn