Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

03. Chánh ngữ và khái niệm về ba cửa ngõ

15/04/201214:23(Xem: 2409)
03. Chánh ngữ và khái niệm về ba cửa ngõ
KHỔ ĐAU PHÁT SINH VÀ VẬN HÀNH NHƯ THẾ NÀO
Hoang Phong biên soạn và dịch
Nhà xuất bản Phương Đông 2012

CHÁNH NGỮ VÀ KHÁI NIỆM VỀ BA CỬA NGÕ


Cólẽ người đọc cũng hơi ngạc nhiên với một chủ đề xưanhư trái đất. Không biết đã có bao nhiêu băng đĩa CD, sáchvở, bài viết, bài giảng về chủ đề Chánh ngữ. Tuy nhiêndù đã thuộc lòng hay đã nghe giảng đến nhàm tai, có baogiờ ta tự hỏi đã áp dụng chánh ngữ được bao nhiêu lầntrong cuộc sống của mình và có khi nào ta tìm hiểu xem vaitrò của chánh ngữ nằm ở đâu không trong cái xã hội tântiến ngày nay ?

Dầuchẳng có gì mới lạ trong Đạo Pháp, tuy nhiên có lẽ chúngta cũng nên bỏ ra chút thì giờ để cùng nhau tìm hiểu xemchánh ngữ là gì. Đến chùa nghe giảng bùi tai trong chốc lát,để rồi sau đó thì đâu lại vào đấy, ta lại tiếp tụcgiao tiếp với những người chung quanh bằng ngôn từ thườngnhật, xã hội vẫn tiếp tục áp đặt cho ta những công thứcvà quy ước có sẵn về cách giao tiếp và ta chỉ cần đemra mà sử dụng.

Thậtra thì ta cũng chẳng làm gì khác hơn được. Giáo dục vàkinh nghiệm bản thân đã dạy ta như thế thì ta cứ phát ngônnhư thế. Cho đến khi nào ta chưa ý thức được và nhìn thấymột cách sâu xa ảnh hưởng và tác động của ngôn từ đốivới bản thân mình và đối với tập thể xã hội thì khiđó ta sẽ vẫn còn tiếp tục phát ngôn một cách rập khuônnhư thế.

Mỗilần đọc một bài viết về chủ đề chánh ngữ hay đượcnghe giảng về chánh ngữ thì ta tự động liên tưởng đếnlời ăn tiếng nói mà ta phải phát biểu. Tuy nhiên trong thếgiới này, mấy khi ta có dịp để nói lên một lời chánhngữ? Trong thế giới của chúng ta tiếng nói đôi khi chỉlà thứ yếu, một lá phiếu thì cũng là cách bảo ta hãy câmmiệng đi. Hô hào thì đã có người hô, ta chỉ cần đưathẳng cánh tay lên để tán đồng là đủ.

Mặtkhác, gần như tất cả các băng đĩa, bài viết, bài giảng...hầu như chỉ nêu lên một chiều, tức là cách dạy ta phảiphát ngôn như thế nào, nhưng tuyệt nhiên không hề dạy taphải nghe như thế nào về cách phát ngôn của người khác.Họ có nói đúng theo chánh ngữ hay không ? Hơn nữa trong thếgiới của chúng ta đâu phải chỉ có lời nói mà thôi. Báochí, sách vở, phim ảnh, truyền hình, tranh vẽ, ca nhạc, bănggiảng, quảng cáo, loa phóng thanh và các phương tiện truyềnthông tân tiến khác, tất cả luôn bủa vây và không tha chúngta một giây phút nào cả.

Bàiviết này cố gắng mở ra một tầm nhìn bao quát để suy tưvà tìm hiểu về chánh ngữ và mỗi người sau đó tự tìmlấy cho mình một lối đi trong cái bối cảnh thật náo độngcủa thế giới này.

Định nghĩavề chánh ngữ

Chánhngữ là cách tu tập được xếp vào hàng thứ ba của bátchánh đạo. Nói một cách tổng quát thì có ba phép tu tập: tu giới (shila), tu định (samatha) và tu tuệ (prajna), chánhngữ thuộc vào lãnh vực tu giới. Tương Ưng Bộ Kinh địnhnghĩa chánh ngữ như sau : «Chánh ngữ là từ bỏ nóiláo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từbỏ nói lời phù phiếm». Nếu như không nói láo, khôngnói hai lưỡi, không nói lời độc ác, không nói lời phùphiếm thì tất nhiên là phải nói ngay thật, trung thực,ôn hòa và lợi ích.

Địnhnghĩa có vẻ đơn giản nhưng áp dụng thì khó. Lên chùa thìThầy giảng ta nghe, mấy khi Thầy nghe ta giảng. Ra phố muasắm, thì người bán nói ta nghe, họ có nói chánh ngữ haykhông thì cũng khó biết được. Gặp bạn bè thì lựa lờimà nói cho đẹp lòng nhau, nói chánh ngữ lôi thôi đôi khicó thể mất cả bạn bè. Nơi làm việc thì xếp nói ta nghe,mấy khi ta có dịp để nói chánh ngữ cho xếp nghe. Về nhàthì vợ con nói ta nghe, mấy khi vợ con nghe ta nói. Vì thếcó muốn áp dụng chánh ngữ để «được một chút phướcđức» dành cho kiếp sau cũng không mấy khi tìm được dịp.

Tómlại ngôn từ mà ta sử dụng hàng ngày là một loại ngôntừ công thức và quy ước, biểu hiện của vô minh. Đấylà loại ngôn từ mà ta tự động chấp nhận để giúp tagiao tiếp với những người chung quanh trong thế giới ta bà,và đấy cũng là cách kết nối vô minh của từng cá thểvới nhau để tạo thêm vướng mắc.

Vìvậy đối với một cá thể con người, ngôn từ giữ mộtvị trí và chức năng như thế nào ? Sau đây là phần trìnhbày sơ lược về khái niệm ba cửa ngõcủa mộtcá thể và từ đó sẽ xác định vị trí và vai trò củachánh ngữ hay ngôn từ nói chung.

Ba cửa ngõlà gì

Kinhsách gốc Hán ít quan tâm đến khái niệm về ba cửa ngõ,trái lại thì Kim cương thừa chú trọng nhiều hơn đến kháiniệm này. Tuy nhiên phần trình bày sau đây chỉ giới hạntrong việc định nghĩa căn bản về ba cửa ngõđể tìm hiểu vị trí, vai trò và sự vận hành của ngôntừ, nhưng không đi sâu vào phương pháp luyện tập của Kimcương thừa. Vậy ba cửa ngõ là gì ?

Mỗicá thể con người có ba cửa ngõ (tridvara) : thân xác (kaya),ngôn từ (vak) và tâm thức (citta). Đó là ba thành phần hayba « trung tâm » vận hành riêng rẽ và đồng thời cũng tươngliên và phối hợp với nhau để tạo ra một cá thể tronghai cõi dục giới và sắc giới. Người ta vẫn thường nóiđến ba yếu tố tạo nghiệp là thân, khẩu, ý, tuy nhiên cũngcần hiểu là ba yếu tố ấy cũng là ba cơ sở cần thiếtgiúp thực hiện việc tu tập. Sau đây là định nghĩa vềba cửa ngõ :

-Thân xác: chỉ địnhcấu trúc vật chất của một cá thể, cấu trúc đó đượctạo thành bởi năm cấu hợp thô thiển gọi là ngũ uẩn.Thân xác tượng trưng cho ranh giới phân cách giữa một cáthể và thế giới chung quanh. Sự phân chia đó có tính cáchchủ quan, vì trên thực tế một cá thể không khác với thếgiới bên ngoài và ngược lại thế giới bên ngoài cũng khôngkhác với cá thể. Sự phân biệt đó là kết quả phát sinhtừ sự diễn đạt của tâm thức một cá thể xuyên qua sựcảm nhận của ngũ uẩn.

Sựgiao tiếp của thân xác với thế giới bên ngoài nhờ vàonăm giác cảm là thị giác, thính giác, khứu giác, vị giácvá xúc giác. Một cách tổng quát thì thân xác tượng trưngcho cửa ngõ đón nhận thế giới chung quanh xuyên qua giác cảmvà đồng thời cũng là một phương tiện để tác động vàothế giới bên ngoài. Mỗi cảm nhận của giác cảm – tứclà những gì từ bên ngoài « bước vào » – đều gâyra tác động trong tâm thức, tác động đó có thể là tíchcực, tiêu cực hay trung hòa. Mỗi cử động – tức là nhữnggì « bước ra » khỏi cửa ngõ – đều gây ra một tác độngvới môi trường chung quanh. Tác động đó có thể tích cực,tiêu cực hay trung hòa. Hãy lấy một thí dụ thật đơn giản,ta đi tản bộ trong một khu vườn. Hành động đi tản bộcó vẻ như mang tính cách trung hòa không tạo ra một nghiệpquan trọng nào cả. Nhưng trên thực tế thì rất phức tạp,vì ta có thể vô tình đạp lên côn trùng trên mặt đất haytrong cỏ. Mặc dù vô tình nhưng ta vẫn tạo ra nghiệp tiêucực. Mặt khác sự kiện đi tản bộ cũng có thể tạo rahậu quả tích cực, chẳng hạn như giúp cho máu huyết lưuthông, hít thở không khí trong lành, thay vì ngồi trong nhàxem phim Hàn quốc tràng giang bất tận.

Tómlại phải luôn luôn cảnh giác và canh chừng cái cửa ngõthân xác, kiểm soát những giác cảm đang tìm cách xâm nhậpvào cửa ngõ ấy để phá rối ta và đồng thời cũng phảichọn lọc và phán xét xem những hành động nào của ta mangtính cách tích cực hay tiêu cực trước khi mở cửa cho nótác động với thế giới bên ngoài. Một cách vắn tắt, ngườitu tập phải hiểu rằng mọi cử động đều tương tác vớikhông gian chung quanh, có nghĩa là trực tiếp tạo ra nghiệp.Càng lăng xăng, chạy hết đầu này đến đầu kia, tay chânmúa may không ngừng, trong đầu tính toán và hoạch định đủmọi thứ mưu đồ thì đấy chỉ là cách tạo thêm nghiệpvà mạng lưới duyên khởi sẽ càng siết chặt hơn. Tréo chânngồi im là một trong những cách có thể giúp ta tránh đượcphần nào sự bủa vây của nghiệp.

Đốivới Phật giáo nói chung thì thân xác là một sự « cấu hợpô nhiễm », bởi vì đó là hậu quả sinh ra từ nghiệp trongquá khứ. Thái độ của Nam tông và nhất là của Giới luậttông (Vinaya) đối với thân xác rất triệt để : thân xáclà một thể dạng kinh tởm cần loại bỏ và không đượcbám víu vào đó. Thái độ của Bắc tông cũng triệt đểkhông kém : thân xác con người là « cơ sở của mọi sựbám víu », nguồn gốc của mọi thứ khổ đau, tuy nhiên thânxác cũng là « cơ sở hàm chứa những phẩm tính » (ksanasampadadhisthana)giúp cho cá thể một dịp may để thực hiện tu tập Đạopháp (Dharma). Vì thế đối với Bắc tông, người tu tập phảibiết giữ gìn thân xác tinh khiết, nhưng không nên bám víuvào nó và cũng không nên trau chuốt cho nó quá đáng. Tháiđộ của Kim cương thừa thì khác hẳn và rất tích cực,xem thân xác như một hệ thống kinh mạch giúp cho những luồngkhí lực luân chuyển. Sức mạnh của quán tưởng có thểbiến thân xác thành một « ảo thân » của một thánh nhânhay một vị Phật, và cao hơn nữa có thể chuyển thành «thân xác cầu vồng » tức là « ứng thân » của một vịPhật. Đạt được ứng thân của một vị Phật có nghĩalà thành Phật ngay trong kiếp sống này.

-Ngôntừ: ngôn từ khôngnhất thiết chỉ dùng để chỉ định sự phát biểu ý nghĩbằng tiếng nói mà còn chỉ định khả năng hiểu biết ýnghĩa của các cấu trúc âm thanh. Ngôn từ là một thành phầntrung gian giữa tâm thức (tác ý) và thân xác (môi, lưỡi,dây thanh trong cuống họng, hơi trong phổi...). Đó là mộtcửa ngõ rất quan trọng mở ra cả hai chiều : vào và ra. Điềunày rất quan trọng tuy nhiên ít người chú ý đến vì cáicửa ngõ ngôn từ đôi khi dùng để nhận vào nhiều hơn làđể phát ra. Trong thế giới ngày nay chúng ta bị tràn ngậpbởi các phương tiện truyền thông, nào là phim ảnh, ca nhạc,báo chí, tuyên ngôn, biểu ngữ, quảng cáo... Cái cửa ngõngôn từ vì thế đã trở thành gần như một chiều vì khốilượng nhận vào quá lớn làm cho nó thường xuyên bị tắcnghẽn, không còn kẻ hở để thoát ra.

Ngàynay không mấy khi ta có dịp sử dụng cửa ngõ ngôn từ trongviệc tu tập. Cách đây hơn hai ngàn năm khi xã hội còn đơnsơ và tinh khiết hơn ngày nay, thì con người không bị nhữngphương tiện truyền thông bủa vây và tấn công dồn dập.Dầu cho vua A-Dục có cho khắc các chỉ dụ lên các trụ đáthì cũng chẳng có mấy người biết đọc. Vào các thời kỳkhi Đức Phật còn tại thế và sau đó khi Ngài đã tịch diệt,thì hầu hết con người chỉ có dịp nói với nhau trong giađình, trên ruộng đồng, nơi quán chợ. Họ học thuộc nhữnglời Phật dạy và kể lại cho nhau nghe với tất cả sự thànhkính. Nhờ đó mà ngày nay chúng ta mới được thừa hưởngnhững gì tinh anh trong những lời giáo huấn của Phật vànhững gì ấm áp trong lòng người thời bấy giờ. Vì thếchánh ngữ không hẳn chỉ là một thứ luân lý đại chúngmà còn tượng trưng cho một sức mạnh trong việc tu tập nữa.

Vàothời bấy giờ, kỹ thuật còn thô sơ, ngoài cái cày, cáicuốc, cái xe bò..., người dân chưa có phương tiện gì đểghi lại hình ảnh và lời nói. Trong thời đại tân tiến vàchỉ trong vài chục năm về sau này, đủ mọi phương tiệnthu âm và thu hình được phát minh, nào là băng đĩa, máy thuâm nhỏ xíu, máy thu hình vidéo, máy điện thoại di động...Một số người hướng dẫn dư luận đã lợi dụng các tiếnbộ kỹ thuật đó để quảng bá những lời không đượcchánh ngữ lắm trong mục đích lường gạt, che đậy, hoặctệ hại hơn như khích động con người để phục vụ choý đồ của cá nhân hay của một tập thể nào đó.

Bấtcứ trong một quốc gia nào cũng thế, phương tiện truyềnthông đã trở thành một công cụ thật tinh vi để quản lývà áp đặt con người. Trong trường hợp đó chánh ngữ đãvượt ra khỏi lãnh vực cá nhân để mang tánh cách tập thểvà xã hội. Những người hướng dẫn dư luận có thể quênmột điều là những gì vua A-Dục khắc trên trụ đá đãvượt hơn hai ngàn năm lịch sử và còn lưu lại đến ngàynay. Những gì thu âm, thu hình hôm nay rồi sẽ dành cho nhữngthế hệ mai sau thẩm định.

Dầusao đi nữa thì chúng ta cũng phải công bằng mà phán xét,không nên chỉ biết kết án những gì tệ hại trong thế giớingày nay. Vào thế kỷ thứ VI trước Tây lịch, trong thung lũngsông Hằng cũng đã xảy ra những sự tranh cãi siêu hình, nhữngtranh luận biện chứng giữa các vị thầy Bà-la-môn và kểcả các vị thủ lãnh chủ trương các hệ thống tư tưởngvà tín ngưỡng khác nhau. Họ « gây ra cho nhau thương tíchbằng cách đem đầu lưỡi làm khí giới ». Đức Phật giántiếp ám chỉ đến các cuộc khẩu chiến ấy bằng cách cấmcác đệ tử của Ngài không được tham gia vào đó. Nhiềukinh sách kể chuyện Ngài lưu ý các đệ tử phải thận trọngtrong từng lời nói, không được biểu lộ tham vọng hay hậnthù và Ngài đã nêu lên một cách minh bạch bốn thái độphải tuân thủ như sau :

1-nói lên sự thật
2-nói những lời hòa giải, không nói hai lưỡi

3-nói những lời mang ngụ ý tốt, khả ái, không gây ra lờiđồn đại, không chỉ trích lời người khác và việc làmcủa người khác

4-nói những lời có ý nghĩa, không nói những lời phù phiếmvà vô bổ

Tómlại chánh ngữ là để hướng vào người khác, phục vụngười khác, đồng thời là một cách loại bỏ mọi bám víu,kiêu căng và tự hào, có nghĩa là loại bỏ sự thống trịcủa cái tôi. Sau đây là những lời dặn dò của Đức Phậtcho các các đệ tử của Ngài :

«Ngườitu hành chỉ nói những lời hòa giải để giảng hòa nhữngngười hiềm khích lẫn nhau và kết chặt thêm sự hòa đồng.Người tu hành yêu chuộng sự hài hòa, tìm thấy vui thíchtrong sự hài hòa, niềm hân hoan trong sự hài hòa. Từ bỏnhững lời thô bạo, người tu hành không nói lên những lờithô bạo. Người tu hành chỉ thốt ra những lời nói khôngsao chê trách được, êm ái, trìu mến, đi thẳng vào tráitim, nhã nhặn và tử tế đối với thật nhiều người, làmcho thật nhiều người ưa thích. Từ bỏ những lời nói phùphiếm, người tu hành không nói những lời phù phiếm, chỉthốt lên những lời nói đúng lúc, trung thực, có ý nghĩa,phù hợp với Đạo pháp và giới luật, xứng đáng để lưulại, hợp lẽ, thích nghi với mục đích tối hậu và bổích ».

(tríchtrong kinh Maha-Tanhasankhaya-Sutta, bản dịch Pháp ngữ của MôhanWijayaratna, trong quền La Philosophie du Bouddha, Ed. de la Sagesse,1995, trang 69)

Cólẽ cũng cần nhắc thêm ra đây quan điểm đặc thù của Phậtgiáo Tây tạng về cửa ngõ ngôn từ. Đó chính là cơ sởgiúp vào việc quảng bá Đạo Pháp bằng tiếng nói. Khắcphục được ngôn từ và hơi thở trong khi thiền định sẽgiúp chủ động được tâm thức. Điều hành được các luồngkhí lực tinh tế và các chuyển động của chúng chính làchìa khóa của phương pháp luyện tập du-già mô tả trong Kimcương thừa. Các kinh tan-tra đều nói đến sự liên hệ giữacác cấu trúc kinh mạch của cơ thể và khả năng phát âm.Hình tướng nơi các huyệt ở đầu các kinh mạch tương quanvới 16 nguyên âm trong bảng chữ cái của tiếng Phạn và chúngảnh huởng đến khả năng phát ra âm thanh, vì thế nênkhả năng phát âm nhất thiết liên quan với thân xác. Đólà điểm then chốt giải thích sự liên hệ giữa tác độngtích cực của các câu niệm chú man-tra đối với thânxác. Sự trì tụng các câu man-tra sẽ tinh khiết hóa ngôn từ,có nghĩa là làm tan biến những dấu vết ô nhiễm trong cáchnói thường nhật, tháo gỡ và tẩy uế các kinh mạch tinhtế, loại bỏ các độc tố của tâm thức, tinh khiết hóabệnh tật của cơ thể, nuôi dưỡng khí lực tinh anh đểmang lại Giác ngộ cho một cá thể.

- Tâmthức: là cửa ngõthứ ba của một cá thể. Tâm thức không sờ thấy được,không nghe thấy được, không màu sắc, vô hình và không nắmbắt được. Nó thuộc vào lãnh vực phi-vật-chất của mộtcá thể. Tâm thức không có cửa ngõ để tiếp xúc trực tiếpvà trao đổi với thế giới chung quanh mà phải « đi nhờ» hai cửa ngõ của thân xác và ngôn từ. Tuy nhiên nó có mộtcửa ngõ riêng thông thương với tiềm thức hay a-lại-gia thức.Trong một giới hạn và một số điều kiện nào đó tâm thứccó thể cảm nhận được những gì hiển hiện hay thoát ratừ a-lại-gia thức.

Trithức và các thể dạng tâm thần phối hợp với nhau đểtạo ra tâm thức. Đồng thời tâm thức cũng là cơ sở củatác ý (cetana) tức là các ý nghĩ chủ tâm (volition). Chínhvì thế mà tâm thức giữ vai trò tạo nghiệp và cũng là cơsở của mọi sự lầm lẫn và bấn loạn tâm thần. Tất cảcác xúc cảm bấn loạn đều phát sinh từ tâm thức. Tuy nhiêntâm thức lại đứng ra điều khiển cả thân xác và ngôntừ. Vì thế mà người tu tập phải thật thận trọng vàcảnh giác trước những khích động của tâm thức. Nói mộtcách khác cố gắng khắc phục tâm thức là cốt lõi củasự tu tập.

Trongsố năm uẩn tạo ra một cá thể con người thì bốn uẩnthuộc vào lãnh vực tâm thức, và điều đó cho thấy tầmquan trọng và sự phức tạp rất lớn của nó. Người tu hànhphải dồn tất cả sức mạnh của mình để tìm hiểu vàchế ngự tâm thức. Kinh sách vẫn thường nói khắc phụcđược tâm thức có nghĩa là đạt được Giác ngộ.

Tấtcả mọi hiện tượng đều là những phóng ảnh của tâm thức,nhưng chính nó thì lại không có một thực thể nào cả. Nếuta « nhìn » thấy tâm thức thì đấy không phải là tâm thứcvì bản chất của nó là trống không. Chính vì nó trống khôngnên bất cứ gì cũng có thể xảy ra trong tâm thức : từ hậnthù đến yêu thương, từ cái tôi đến kẻ khác, từ địangục đến niết bàn... Quán thấy được bản chất trốngkhông của tâm thức sẽ loại bỏ được tất cả những gìtác tạo ra nó.

Đốivới Kim cương thừa tâm thức là căn bản thật tinh tế củaánh sáng trong suốt nguyên thủy, tức là Phật tính. Nếukhông chủ động được tâm thức thì nó sẽ lôi kéo mộtcá thể lang thang bất tận trong thế giới ta bà. Khắc phụcđược tâm thức thì nó sẽ đưa cá thể hướng về sự Giảithoát, và nó sẽ dần dần nhường chỗ cho ánh sáng trong suốtnguyên thủy. Dù sao thì phần giải thích vắn tắt trên đâyvề tâm thức chỉ có mục đích trình bày cho đầy đủ kháiniệm về ba cửa ngõ mà thôi.

Lời kết:

Mộtvị thầy đứng ra giảng chánh ngữ cho các Phật tử đếnchùa, và sau khi giảng xong thì cảm thấy mình đã làm đượcmột việc pháp thí, mang lại một chút nghiệp tốt nào đócho mình. Người Phật tử nghe xong cũng cảm thấy mãn nguyệnvì đã bỏ thì giờ đến chùa để nghe giảng và nghĩ rằngđã làm được một chút công đức gì đó để cải thiệncái nghiệp của chính mình. Tuy nhiên nếu khi người Phậttử rời khỏi cổng chùa mà đâu lại vào đấy, người ấylại tiếp tục đem những ngôn từ công thức và quy ướcra để dùng. Hoặc khi bá tánh ra về, chú tiểu khép lại cổngchùa và vị Thầy lại quay về với những bận tâm khác, thìmỗi người lại vẫn sẽ tiếp tục nuôi dưỡng lấy nghiệpcủa mình.

Chánhngữ không phải chỉ là một chủ đề để đem ra giảng chonhau nghe rồi sau đó thì việc ai nấy lo, chánh ngữ cũng khôngphải đơn giản là những quy tắc đạo đức, giữ đượcthì càng tốt mà không giữ được cũng không sao. Người tutập phải ý thức được chánh ngữ là một trong những phươngpháp tu tập chính yếu và kiên trì để mang lại cho mình mộtsức mạnh nội tâm hướng về Giác ngộ.

Khôngnên hiểu chánh ngữ một cách đơn giản là : tôi không đượcnói dối, tôi không được nói hai lưỡi, tôi không đượcnói lời độc ác, tôi không được nói những lời phù phiếm.Hiểu từ chương như thế thì cái tôi vẫn còn sờ sờ trướcmắt, biết đến khi nào mới giác ngộ.

Sauhết xin kể một câu chuyện rất phổ biến trong kinh sáchnhư sau. Một hôm Đức Phật đi đến một nơi có tiếng lànguy hiểm vì nơi này có một tên sát nhân là Angulimala vôcùng hung dữ và lại đang tìm giết người thứ một ngàn.Chủ nhân một quán trọ thiết tha xin Đức Phật hãy dừngchân lại và đừng đi đâu cả. Đức Phật không nghe và vẫnlẳng lặng lên đường. Thị trấn vắng tanh, nhà nhà đóngcửa.

Angulimalathấy một nhà sư đang đi một mình trong một con phố vắng,hắn rút thanh kiếm và đi theo. Đức Phật thấy có kẻ lạđến gần và biết ngay đấy là tên sát nhân mà mọi ngươisợ hãi, tuy nhiên Ngài vẫn thản nhiên bước một cách thanhthản. Angulimala rất ngạc nhiên trước thái độ bình thảnđó, hắn đưa cao thanh kiếm đứng chắn trước mặt ĐứcPhật và hét lên ra lịnh cho Đức Phật phải dừng lại. ĐấngNhư Lai không tỏ vẻ sợ hãi một chút nào và cất lời nóivới Angulimala một cách thật dịu dàng : «Này Angulimala,con có biết không, ta đã dừng lại từ lâu lắm rồi. Chínhcon vẫn còn đang múa may trong lửa đỏ của hận thù, củagiận dữ và dục vọng điên cuồng». Angulimala hết sứcbất ngờ trước câu nói đó liền ngước nhìn để dò xétgương mặt của Phật. Trước vẻ mặt tràn đầy lòng từbi và nhân ái của Đức Phật, Angulamala bỗng cảm thấy trơtrụi và cô đơn, và bất thần hắn nhận thấy mình đangbước trên con đường của khổ đau và bất hạnh. Hắn bènném bỏ thanh kiếm và quỳ xuống dưới chân của Đấng GiácNgộ và xin nguyện sẽ từ bỏ cuộc sống hung ác. (theokinh Angulimala-sutta, thuộc Trung Bộ Kinh).

Bures-Sur-Yvette,17.12.09
HoangPhong
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn