Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 06: Theo đuổi con đường của chúng ta mà không chấp trước

21/12/201102:30(Xem: 1883)
Chương 06: Theo đuổi con đường của chúng ta mà không chấp trước

TÂM AN TỊNH HÒA BÌNH

Nguyên tác: The Peaceful Stillness of the Silent Mind
Tác giả: Lama Thubten Yeshe, Sydney Australia 1975
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 26/12/2010

Chương sáu

ĐI THEO CON ĐƯỜNG CỦA CHÚNG TA MÀ KHÔNG DÍNH MẮC

Tác giả: Lama Yeshe
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển - 08/07/2011

Những ai thực tập thiền quán hay tôn giáo không nên chấp trước với dính mắc trong bất cứ ý tưởng nào.

Những ý tưởng định kiến không phải là các hiện tượng ngoại tại. Tâm thức chúng ta thường chấp trước vào mọi thứ nghe dường như tốt đẹp, nhưng điều này có thể cực kỳ nguy hiểm. Chúng ta cũng chấp nhận một cách dễ dàng những thứ nghe có vẻ như tốt đẹp: "Ô, thiền quán là quá tốt." Dĩ nhiên thiền quán là tốt nếu chúng ta thấu hiểu nó là gì và thực hành một cách đúng đắn; chúng ta có thể chắc chắn tìm ra những câu trả lời cho các vấn đề của đời sống, lý thuyết hay tôn giáo. Những gì tôi đang nói là bất cứ chúng ta làm gì trong thế giới của triết học, lý thuyết hay tôn giáo, đừng chấp chặc vào những ý tưởng; đừng dính mắc với con đường của chúng ta.

Một lần nữa, tôi không đang nói về những đối tượng ngoại tại; tôi đang nói về những hiện tượng tâm lý nội tại. Tôi đang nói về việc phát triển một tâm thức khỏe mạnh, việc phát triển những gì Đạo Phật gọi là tuệ trí hiểu biết bất diệt không thể phá hoại được.

Một số người thích thú với việc thiền quán của họ và sự toại nguyện nó mang đến cùng lúc sự chấp trước một cách mạnh mẽ đến ý tưởng lý trí của điều này: "Ô, thiền quán là quá tuyệt diệu cho tôi. Đấy là điều tuyệt vời nhất trên thế giới. Tôi đang gặt hái kết quả. Tôi quá mừng vui!" Nhưng họ sẽ phản ứng như thế nào nếu ai đấy phá vở sự thực tập của họ? Nếu họ không phiền lòng, điều ấy thật phi thường. Nó cho thấy rằng người ta đang thực hành tôn giáo hay thiền quán một cách thích đáng.

Tương tự thế, chúng ta có thể có một sự dâng hiến vô hạn đến Đức Phật hay điều gì đấy căn cứ trên sự thấu hiểu sâu xa và kinh nghiệm to lớn và chắc chắn một trăm phần trăm với những gì chúng ta đang hành động, nhưng nếu chúng ta có ngay cả một sự vướng mắc nhẹ nhàng đến ý tưởng của chúng ta, nếu ai đấy nói, "Bạn đang hết lòng dâng hiến đến Đức Phật? Đức Phật là một con lợn!" hay "Bạn tin tưởng Thượng đế? Thượng đế tệ hơn một con chó!", chúng ta hoàn toàn bị đảo lộn. Ngôn ngữ không thể làm cho một Đức Phật thành con lợn hay Thượng đế thành con chó, nhưng, sự dính mắc của chúng ta, tâm thức lý tưởng của chúng ta hoàn toàn choáng váng: "Ô, tôi bị xúc phạm quá mức! Tại sao nhà ngươi dám nói những điều như thế?"

Cho dù bất cứ người nào nói gì đi nữa - Đức Phật là tốt, Đức Phật là xấu - bản chất tự nhiên đặc trưng không thể phá vỡ một cách chắc chắn của Đức Phật vẫn không thể đụng đến được. Không ai có thể nâng cao hay hạ thấp giá trị ấy. Nó vẫn là thế khi người ta nói là chúng ta tốt hay xấu; bất chấp những gì người ta nói, chúng ta vẫn thế thôi. Những ngôn từ của người khác không thể thay đổi thực tế của chúng ta. Do thế, tại sao chúng ta lên và xuống khi người ta ca tụng hay dèm xiễm chúng ta? Đó là bởi vì sự dính mắc của chúng ta; tâm thức chấp trước của chúng ta; tư tưởng định kiến của chúng ta. Hãy chắc chắn chúng ta rõ ràng về điều này.

Hãy kiểm soát lại. Điều ấy rất hấp dẫn. Kiểm tra tâm lý của chúng ta. Chúng ta phản ứng thế nào nếu ai đấy nói với chúng ta rằng toàn bộ lộ trình của chúng ta là sai lạc? Nếu chúng ta thật sự thấu hiểu bản chất tự nhiên của tâm, chúng ta sẽ không bao giờ đáp ứng đến loại việc như thế, nhưng nếu chúng ta không thấu hiểu tâm lý của chính chúng ta, nếu chúng ta ảo tưởng và bị tổn thương một cách dễ dàng, chúng ta sẽ nhanh chóng thấy tâm thức bình an của chúng ta bị quấy nhiễu. Chúng chỉ là ngôn ngữ, ý tưởng, nhưng chúng ta bị khó chịu một cách quá dễ dàng.

Tâm chúng ta thật phi thường. Những sự lên và xuống không liên hệ gì đến thực tại, không liên quan gì đến chân lý. Điều quan trọng là thấu hiểu tâm lý của điều này.

Chúng ta thông thường nghĩ rằng con đường và những ý tưởng của mình là tốt đẹp, khôn ngoan và toàn hảo, nhưng bằng việc tập trung quá mức trên điều này, chúng ta vô tình làm mất uy tín những phương pháp và ý kiến của người khác.

Có lẽ tôi nghĩ, "Màu vàng là màu hấp dẫn nhất," và giải thích đến quý vị trong những chi tiết tỉ mỉ về vấn đề màu vàng tốt đẹp như thế nào. Rồi thì, do bởi mọi lý do luận giải của tôi, quý vị cũng bắt đầu nghĩ, "Màu vàng là tốt; màu vàng là mùa toàn hảo." Nhưng điều này tự động làm nên những sự tin tưởng mâu thuẫn, "Màu xanh dương là không tốt; màu đỏ là không tốt," sinh khởi trong tâm thức chúng ta.

Có hai thứ xung đột với nhau. Điều này là thông thường, nhưng sẽ là một sai lầm đặc biệt khi đem nó vào tôn giáo. Chúng ta không nên cho phép những sự mâu thuẫn như thế trong tâm thức chúng ta nơi mà bằng sự chấp nhận thứ này, chúng ta tự động phủ nhận thứ nọ. Nếu chúng ta kiểm tra lại, chúng ta sẽ thấy không phải chúng ta mù quáng đi theo điều gì đấy ngoại tại mà tâm thức chúng ta quá cực đoan trong một phương hướng. Điều này tự động thiết lập thứ cực đoan kia trong vị trí đối lập, và sự xung đột giữa hai thứ không cân bằng trong tâm thức chúng ta và quấy nhiễu sự hòa bình nội tại của chúng ta.

Đây là vấn đề lòng trung tín tôn giáo sinh khởi như thế nào. Quý vị nói, "Tôi thuộc tôn giáo này," và khi quý vị gặp ai đấy thuộc một tôn giáo khác, chúng ta cảm thấy bất an. Điều này có nghĩa là tri thức tuệ trí của chúng ta yếu kém. Chúng ta không hiểu bản chất tự nhiên thật sự của tâm thức và dính mắc đến một quan điểm cực đoan. Đừng cho phép tâm thức chúng ta bị ô nhiễm trong cách này; hãy bảo đảm cho sự lành mạnh tinh thần của chúng ta. Sau cùng, mục tiêu của sự thực hành tôn giáo, Đạo Phật, Giáo Pháp, thiền quán hay bất cứ điều gì khác chúng ta muốn gọi nó là để chúng ta đưa tâm thức hoàn toàn vượt khỏi những thái độ tinh thần không lành mạnh và mâu thuẫn.

Chính Đức Thế Tôn đã cổ vũ môn đồ rằng Ngài đang giảng dạy để thực tập mà không bị dính mắc, chấp trước. Mặc dù Ngài đã dạy một phương pháp chính xác phổ quát diệu kỳ, nhưng Ngài đã làm cho những môn đệ của Ngài bảo đảm không bị dính mắc chấp trước đến giáo huấn của Ngài hay đến chính những sự thân chứng, tự do nội tại, niết bàn hay giác ngộ.

Để đạt được sự tự do khỏi vướng mắc là một vấn đề rất khó khăn, đặc biệt trong một xã hội vật chất. Hầu như không thể đối phó với những thứ vật chất mà không dính mắc, và điều này làm cho chúng ta đem đến một thái độ chấp trước đến những vấn đề tâm linh. Nhưng mặc dù khó khăn, chúng ta cần kiểm tra tâm lý học của Đức Phật cống hiến đến chúng ta một sức khỏe tinh thần toàn hảo như thế nào, tự do khỏi những cực đoan về điều này hay điều nọ.

Trong cuộc đời thông thường của thế gian, luân hồi, chúng ta quá dễ dàng bị dính mắc và chấp trước đối với mọi thứ mà chúng ta thích, và không ai có bao giờ nói với chúng ta lìa tránh vướng mắc. Nhưng Đức Thế Tôn, mặc dù đã cống hiến cho những môn đệ của Ngài phương pháp cao thượng để đạt đến mục tiêu tối thượng, luôn luôn khuyên răn môn đồ của Ngài không bao giờ được dính mắc đến bất cứ điều gì. Ngài đã nói, "Nếu các con có một sự dính mắc nhẹ nhàng nhất đến ta hay giáo huấn của ta, các con không chỉ bệnh hoạn tâm lý mà các con cũng phá hoại bất cứ cơ hội nào mà các con có của việc đạt đến một sự giác ngộ hoàn toàn và trọn vẹn."

Cũng thế, Ngài không bao giờ nói với mọi người định kiến đối với con đường của Ngài hay là đi theo con đường của Ngài là tốt và đi theo những con đường khác là xấu. Trong thực tế, một trong những lời nguyện Bồ Tát mà Ngài thiết lập cho môn đệ của Ngài tiếp nhận là hứa nguyện không bình phẩm những giáo lý của bất cứ tôn giáo nào khác. Hãy kiểm tra tại sao Ngài làm như thế; nó cho thấy Ngài đã thấu hiểu tâm lý con người như thế nào. Nếu là chúng ta, có lẽ chúng ta sẽ nói, "Tôi đang giảng dạy cho quý vị phương pháp tối thượng nhất. Những thứ khác là vô nghĩa." Chúng ta đối xử với con đường tâm linh y như cung cách tranh đua mà chúng ta làm trong những theo đuổi vật chất, và nếu chúng ta cứ hành động như thế này, chúng ta sẽ không bao giờ có một tinh thần lành mạnh hay khám phá ra niết bàn hay sự giác ngộ hòa bình trường cửu. Thế thì, vấn đề thực tập tâm linh của chúng ta là gì?

Hãy kiểm tra lại. Ngay cả trong những hành vi và các mối quan hệ trong đời sống của thế gian luân hồi, thời khắc mà chúng ta tiếp nhận một ý tưởng hay chọn lựa một thứ gì, "Điều này quá tốt," một sự mâu thuẫn tự động hiện hữu trong tâm thức chúng ta. Khi chúng ta yêu mến trong cung cách vị kỷ của thế gian, hãy kiểm tra tâm thức chúng ta có quá cực đoan hay không; chúng ta sẽ thấy rằng nó là như thế.

Tương tự vậy, chúng ta cũng phải tránh những cực đoan khi thực tập con đường tâm linh của chúng ta. Dĩ nhiên, điều ấy không làm gián đoạn sự thực tập Phật Pháp, hay thiền quán của chúng ta; chúng ta vẫn phải hành động. Chỉ thực tập phù hợp với trình độ thông hiểu của chính chúng ta.

Điều ấy cũng không có nghĩa rằng tâm thức chúng ta phải đóng kín với những tôn giáo khác. Chúng ta có thể học hỏi nghiên cứu bất cứ tôn giáo nào; chúng ta có thể khám phá nó. Vấn đề là khi chúng ta lựa chọn một tôn giáo đặc thù, chúng ta lại quá cực đoan về những ý tưởng của nó và chúng ta bôi nhọ những tôn giáo cùng các triết lý khác. Điều này xảy ra bởi vì chúng ta không biết mục tiêu của tôn giáo, tại sao nó tồn tại hay thực tập như thế nào. Nếu chúng ta biết, chúng ta sẽ không bao giờ cảm thấy bất an với những tôn giáo khác. Không biết bản chất những tôn giáo khác hay mục tiêu của chúng làm chúng ta sợ hãi những hành giả của những con đường khác. Nếu chúng ta thấu hiểu rằng tâm thức khác biệt của con người cần những phương pháp và những giải pháp khác nhau, chúng ta sẽ thấy tại sao có nhu cầu cho nhiều tôn giáo.

Thật hữu ích cho sự hiểu biết căn bản tâm lý học của quý vị. Rồi thì ngay cả trong đời sống hằng ngày, khi người ta nói quý vị tốt hay xấu, quý vị sẽ không bị lên hay xuống; quý vị sẽ biết rằng không phải những gì người ta nói làm cho quý vị tốt hay xấu. Tuy thế, nếu quý vị thấy tự mình lên hay xuống theo những gì người ta nói, quý vị nên nhận diện rằng điều này đang xảy ra bởi vì tâm thức quý vị bị ô nhiễm; quý vị không thấy thật sự. Do bởi điều này, sự phán xét tương đối trần tục của chúng ta đang định danh những gì tốt hay xấu và tâm thức quý vị đang đi lên và xuống theo đấy. Sự lên và xuống đến từ tâm thức chúng ta đang làm cho chúng ta tin tưởng rằng những thứ ấy thật sự là tốt hay xấu. Đó là tại sao chúng ta lên và xuống.

Nếu quý vị từ chối tin tưởng quan điểm nông cạn ấy, sẽ không có bất cứ lý do nào nữa để làm cho quý vị lên và xuống khi ai đấy nói "tốt" hay "xấu". Từ ngữ không phải là thực tại; ý tưởng không phải là thực tại. Hãy quên đi tính bản nhiên tối hậu của tâm thức chúng ta; nếu chúng ta thấu hiểu ngay cả bản chất tương đối của nó, thì sẽ không có cách nào người ta làm cho chúng ta lên và xuống bởi những gì họ nói. Thậm chí với trình độ thấu hiểu nông cạn hơn của điều này, chúng ta sẽ khám phá một mức độ chân thật trong chính chúng ta.

Một lượng lớn khổ đau chúng ta phát sinh bởi vì chúng ta bị va chạm với tiếng tăm. Thay vì quan tâm về thực tại của những gì chúng ta là, chúng ta lại để ý tới những gì người khác nghĩ về chúng ta. Chúng ta đang nhìn ra bên ngoài quá nhiều. Điều ấy thật khó tin. Như Đạo Phật liên hệ, đấy là tâm thức bệnh hoạn; hoàn toàn là một chứng bệnh lâm sàng.

Dĩ nhiên, những nhà tâm lý học phương Tây không xem đấy là bệnh hoạn tinh thần. Thuật ngữ của họ khác biệt. Tại sao có sự khác biệt này? Đấy là bởi vì phương pháp của Đức Thế Tôn dạy chúng ta đi tìm mục tiêu tối hậu - tâm thức miên viễn, nội tại an lạc phi thường - và chỉ khi chúng ta đạt được trình độ ấy của tâm thức thì Đạo Phật không còn xem chúng ta như bệnh hoạn. Trước khi ấy, tâm thức chúng ta lệ thuộc vào sự lên và xuống và vì thế vẫn bệnh hoạn, và chúng ta cần thêm thuốc men nữa: thiền quán, thực hành Phật Pháp hay bất cứ điều gì chúng ta muốn gọi chúng. Điều này thật là sâu sắc, tâm lý học thậm thâm.

Những nhà tâm lý học phương Tây thỏa mãn rằng quý vị không bệnh lâm sàng nếu quý vị có thể khỏe mạnh đủ để điều khiển những mối quan hệ hằng ngày của quý vị, giao tiếp với bạn bè của quý vị, v.v... Họ nói như, "Được rồi, quý vị có thể đi bây giờ!" Họ thỏa mãn một cách dễ dàng. Nhưng nhà tâm lý trị liệu siêu việt, Đức Thế Tôn, nhìn sâu hơn. Ngài thấy những gì đang xảy ra trong vô thức sâu xa. Những nhà tâm lý học phương Tây tự hào về chỗ mà họ với tới nhưng nói rằng, mặc dù đã làm nên nhiều sự tiến bộ, quan tâm đến việc thấu hiểu về bản chất của tâm vô thức, họ vẫn còn một đoạn đường dài để đi. Tôi đã đọc điều này trong một quyển sách tâm lý học.

Cách nào đi nữa, thực tế là chúng ta dính mắc với bất cứ ý tưởng gì chúng ta nghĩ là tốt, vì thế mặc dù giáo huấn về con đường tâm linh của chúng ta có thể trong sự thực là tốt, nhưng hãy cố gắng để thực tập chúng mà không bị dính mắc.

Đôi khi chúng ta thấy những người mà niềm tin của họ quá cực đoan, phân phát sách vở tôn giáo trên đường phố. Thậm chí, khi chúng ta đang bận rộn, vội vả đi đến nơi nào đấy, họ vẫn chận chúng ta lại: "Đây, hãy đọc điều này." Họ quá muốn lan truyền những tư tưởng của họ một cách trầm trọng mà họ ngay cả thuyết giảng trong những trung tâm và khu vực buôn bán. Điều này là quá cực đoan. Không cần phải làm như thế. Tâm thức cần thời gian để hấp thu bất cứ một ý tưởng nào. Nếu quý vị thật sự muốn giảng dạy người nào đấy một điều gì đấy, quý vị phải cho đợi khi người ấy sẳn sàng và rồi làm như thế. Nếu tâm thức người nào đấy chưa sẳn sàng, chúng ta không nên cố gắng để dồn nén những tư tưởng của tôn giáo mình vào người ấy, bất kể niềm tin tôn giáo chúng ta mạnh mẽ thế nào đi nữa. Điều ấy giống như đem tặng trang sức cho một người sắp chết.

Nhiều tôn giáo dạy về tầm quan trọng của lòng yêu thương phổ quát hay bác ái, nhưng câu hỏi là, làm thế nào phát triển điều ấy trong chính chúng ta. Chúng ta không thể biến thành hiện thực lòng yêu thương phổ quát bằng việc đơn giản lập đi lập lại "bác ái, bác ái, bác ái." Do thế, chúng ta đạt được thực chứng như thế nào?

Theo Đức Thế Tôn, bước đầu tiên là phát triển một tâm quân bình đối với tất cả chúng sinh; trước khi chúng ta có thể đạt đến lòng yêu thương rộng lớn, chúng ta phải cảm thấy vô tư đối với tất cả chúng sinh trong vũ trụ. Thế nên, việc đầu tiên để làm là rèn luyện trong sự cân bằng, và chúng ta chỉ mơ mộng nếu chúng ta nghĩ chúng ta có thể phát triển lòng yêu thương rộng lớn mà không có điều này.

Bằng khác đi, chúng ta nghĩ rằng lòng yêu thương rộng lớn hay bác ái là một ý tưởng diệu kỳ, nhưng cùng lúc là sự cuồng tín về tôn giáo mà chúng ta tiếp nhận. Chúng ta có tư tưởng định kiến, "Đây là tôn giáo của tôi." Khi ai đấy từ một tín ngưỡng khác đến với chúng ta, chúng ta cảm thấy không thoải mái; có sự xung đột trong tâm thức chúng ta. Rồi thì đâu là tình yêu thương rộng lớn, đâu là bác ái? Mặc dù chúng ta nghĩ nó là tuyệt với, nhưng chúng ta không thể biểu hiện nó bởi vì tâm thức chúng ta không cân bằng. Để cho tình yêu thương rộng lớn hiện hữu trong tâm thức chúng ta, chúng ta phải phát triển cảm nhận thăng bằng, bình đẳng với tất cả mọi chúng sinh trong vũ trụ.

Nhưng điều ấy nói dễ dàng hơn là thực hiện, nên có lẽ tôi nên giải thích phát triển bình đẳng như thế nào. Chúng ta thực hiện điều này trong lúc ngồi thiền. Quán tưởng trước mặt chúng ta một người làm cho chúng ta khích động; người nào đấy mà chúng ta không thích. Quán tưởng phía sau ta là người mà ta dính mắc nhiều nhất. Và quán tưởng chung quanh ta là những người ta cảm thấy dửng dưng; đấy là những người không phải bè bạn, người thân, hay kẻ thù. Nhìn vào ba loại người này - người lạ, kẻ thù, và bạn bè - và thiền quán; hãy thấy chúng ta cảm nhận về mỗi loại người này như thế nào. Khi chúng ta nhìn vào người bạn thân mến, một cảm giác dính mắc khởi lên; chúng ta muốn đi về phương hướng ấy. Khi chúng ta nhìn về người làm tổn hại và làm chúng ta chán nản, chúng ta muốn quay đi chỗ khác; chúng ta phủ nhận người ấy.

Đây là một phương pháp giản dị của việc thẩm tra chúng ta cảm nhận về những người khác nhau như thế nào; không phức tạp. Chỉ quán tưởng họ và để thấy chúng ta cảm nhận như thế nào. Rồi tự hỏi mình, "Tại sao tôi cảm nhận khác nhau về những con người khác nhau? Tại sao tôi muốn giúp người tôi thích mà không muốn giúp người tôi không ưa?" Nếu chúng ta chân thành, chúng ta sẽ thấy rằng những câu trả lời của chúng ta là những đáp ứng hoàn toàn vô lý của một tâm thức lừa dối.

Điều này có nghĩa là chúng ta không thực sự hiểu được bản chất vô thường của các mối quan hệ của con người. Những ai biết bản chất chân thật, thực sự về tâm thức con ngươi thấu hiểu rằng những mối quan hệ là hoàn toàn có thể thay đổi và không có điều gì như là môt mối quan hệ thường nhiên; không thể có. Mặc dù chúng ta muốn thế. Nhưng hãy xem xét lại toàn bộ lịch sử của đời sống trên Trái đất, từ lúc bắt đầu cho đến bây giờ: đâu là mối quan hệ bền vững không đổi? Có bao giờ có một mối quan hệ trường cửu? Nó phải vẫn ở đây. Nhưng nó không có, bởi vì không có điều gì như thế.

Hơn thế nữa, sự phán xét của chúng ta về con người như kẻ thù, bằng hữu và xa lạ là một nhận thức hoàn toàn sai lạc. Đối với một điều, nó căn cứ hoàn toàn trên những lý do vô lý. Bất cứ lý do của chúng ta là gì, chúng ta cảm thấy "tôi thích người này, tôi không thích người nọ" là hoàn toàn vô lý. Họ không có điều gì bất cứ điều gì liên hệ với bản chất tự nhiên của chủ thể hay đối tượng.

Bằng việc phán xét con người theo cung cách chúng ta làm, giống như một người có hai kẻ cực kỳ khát nước đến cửa xin nước, và rồi thì tự ý chọn một, "Người này hãy vào đi," và phủ nhận người kế: "Người kia đi chỗ khác." Quý vị giống hệt như thế. Nếu chúng ta thật sự kiểm tra lại với tri thức tuệ trí nội quán, chúng ta sẽ thấy rằng sự phán xét về tốt hay xấu của chúng ta đến từ sự quan tâm duy nhất cho sự hả dạ ích kỷ của chúng ta và không bao giờ vì niềm vui cho kẻ khác.

Hãy kiểm soát lại: quán tưởng tất cả mọi chúng sinh sống chung quanh chúng ta và thể chứng sự bình đẳng ấy, giống như chúng ta, tất cả đều muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Do thế, không có lý do gì để làm một sự phân biệt tâm lý giữa thân hữu và kẻ thù, muốn giúp đở người bạn với sự dính mắc cực đoan và muốn bỏ qua người gây chán nản, xung khắc -- phát sinh với kẻ thù lòng cực kỳ chán ghét. Loại tâm thức ấy là hoàn toàn không thực tế, bởi vì khi tâm thức bất mãn của con người đi lên và đi xuống, những loại quan hệ như thế sẽ thay đổi một cách tự nhiên.

Ngay cả nếu chúng ta muốn cảm thấy giận dữ đối với người khác, đấy là tâm thức lừa dối của con người chúng ta phải khó chịu, chứ không phải thân thể vật lý của người ấy. Tâm thức người ấy là không thể kiểm soát; người ấy không có lựa chọn nào khác. Khi người ta tấn công quý vị, người ta bị lèo lái bởi một sự dính mắc hay giận dữ; đấy là điều chúng ta phải giận dữ, ngay đấy.

Nếu ai đấy đụng quý vị khi họ lái xe hơi, quý vị đừng giận dữ với chiếc xe, phải thế không? Chúng ta khó chịu với người lái xe. Cũng chính xác như thế. Người tài xế bên trong là tâm bất mãn của con người, không phải triệu chứng cảm xúc của người ấy. Do thế, người ấy không phải là kẻ thù của chúng ta, nhưng những vọng tưởng của người ấy mới là điều chúng ta nên giận dữ. Những gì người ấy nói hay làm chỉ đơn giản là những gì trong tâm thức người ấy.

Cách nào đi nữa, đấy là phương pháp để phát triển bình đẳng, và càng thực tập điều này, chúng ta càng nhận ra điều ấy trong thực tại, không có lý do gì để phân biệt chúng sinh như người xa lạ, kẻ thù hay bằng hữu trong căn bản những cực đoan của dính mắc và thù hận; chỉ là một tâm thức không lành mạnh làm thế. Và khi chúng ta thật sự trải nghiệm tính bình đẳng, chúng ta sẽ kinh ngạc trong vấn đề quan điểm về kẻ thù của chúng ta thay đổi như thế nào. Người khích động và gây bối rối cho chúng ta hiện hữu hoàn toàn khác biệt -- không phải bởi vì người thay đổi mà bởi vì tâm thức chúng ta đã chuyển biến; chúng ta đã thay đổi nhận thức của chúng ta. Đây không phải là một câu chuyện thần thoại; điều này là một thực tế.

Khi chúng ta thay đổi thái độ của mình, quan điểm của chúng ta cảm nhận thế giới cũng đổi thay. Khi tâm thức chúng ta mê mờ, thế giới cũng phủ một màn sương; khi tâm thức chúng ta trong sáng, thế giới cũng hiển hiện tốt tươi. Chúng ta biết điều này từ chính kinh nghiệm của chúng ta. Quan điểm của chúng ta về thế giới đến từ tâm thức chúng ta; nó là một sự phản chiếu từ tâm thức của chúng ta. Không có điều gì mãi mãi trường tồn hay toàn hảo trong thế gian này. Nơi nào mà chúng ta có thể tìm ra một thứ như thế? Không thể có.

Chúng ta phải biết tâm lý của chính mình, tâm thức của chúng ta hoạt động như thế nào, chúng ta phân biệt giữa những chúng sinh bởi vì những lý do không thực tiển, vô lý, không logic. Vì thế chúng ta cần thiền quán. Để khám phá ra lòng yêu thương phổ quát, lòng từ bi bên trong tâm thức chúng ta, chúng ta phải phát triển một cảm giác bình đẳng với tất cả mọi chúng sinh trong vũ trụ. Một khi chúng ta phát triển tính bình đẳng, chúng ta không phải lo lắng về tình yêu thương rộng lớn không phân biệt; nó sẽ đến một cách tự động. Đấy là những hoạt động của tâm lý con người như thế nào. Nó không phải là điều gì đấy mà chúng ta có thể cưỡng bách: "Ô, tình yêu thương rộng lớn. Tôi trở thành người; người trở thành tôi." Điều gì đấy. Đừng nghĩ bằng cách ấy.

Khi tâm thức chúng ta cân bằng với một cảm nhận bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, chúng ta sẽ tự động an vui. Chúng ta sẽ không cần phải nói, "tôi cần hạnh phúc." Chúng ta sẽ tự động an lạc và hạnh phúc, và xa hơn nữa, thân thể và lời nói của chúng ta sẽ sản sinh ra những làn sóng hòa bình mà chúng ta sẽ tự động làm lợi ích cho người khác, vượt ngoài ngôn ngữ. Bất cứ chúng ta đi đâu, làn sóng ấy sẽ đồng hành cùng với chúng ta. Nhưng không thể đạt đến trình độ ấy mà không thiền quán. Không có thiền quán,, chúng ta không thể giải thoát khởi dính mắc, cho dù tinh thần hay vật chất, hãy để qua một bên kinh nghiệm của tình yêu thương rộng lớn.

Phương pháp của Đại thừa đem tâm thức đến giác ngộ từ từ. Như chúng ta đã thấy, nhằm để phát triển lòng yêu thương rộng lớn, đầu tiên chúng ta phát triển tính bình đẳng. Trên căn bản này, chúng ta phát sinh tâm thức bồ tát giác ngộ, tâm bồ đề và đã hoàn tất điều ấy, nhiệm vụ của chúng ta là hiện thực sáu toàn thiện, bố thí, tri giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và tuệ trí.

Tất cả mọi tôn giáo nhấn mạnh tầm quan trọng của bố thí, nhưng phương pháp của Đức Thế Tôn khác với hầu hết những tôn giáo khác, Ngài giải thích rằng một cách chính yếu khía cạnh tâm lý của bố thí và không quá quan tâm đến khía cạnh ngoại tại của nó. Tại sao? Bởi vì sự toàn thiện rốt ráo ba la mật của bố thí được thân chứng chỉ khi chúng ta hoàn toàn giải thoát khỏi tâm thức dính mắc keo kiệt, và điều này thuần là vấn đề tinh thần.

Nhiều người nghĩ, với niềm kiêu hãnh và tự hào, rằng họ là thánh thiện bởi vì họ đã bố thí rất nhiều vật chất, nhưng điều này rất nông cạn. Những người như vậy không có ý kiến gì về cốt tủy của bố thí; chỉ một khái niệm mơ hồ rằng bố thí từ thiện là tốt, là thánh thiện. Họ không thực sự biết nó là gì. Để dấn thân trong sự thực hành bồ tát của bố thí là cực kỳ khó khăn; nó phải được hoàn tất mà không có dấu vết của keo kiệt bủn xỉn hay chấp trước.

Nhiều người bố thí với lòng tự hào và dính mắc. Như vậy không phải từ thiện; đấy chỉ là tự ngã và một cách căn bản không phải đạo đức. Sự thực tập của Bồ tát về từ thiện - hay, trong thực tế, bất cứ độ nào trong sáu toàn thiện - phải bao hàm năm độ kia. Nói cách khác, bố thí phải được thực tập cùng với đạo đức, nhẫn nhục, thiền định và tuệ trí - đặc biệt những thứ sau. Chúng ta cần có một sự thấu hiểu thâm sâu về tính không trong những gì chúng ta gọi là vòng tròn của ba thứ: tính không của vật chúng ta bố thí, hành động của bố thí và người nhận tặng phẩm của chúng ta (tam luân không tịch). Nếu chúng ta ban tặng mà không có sự thấu hiểu như vậy, nó không lợi ích cũng không toàn thiện, xa hơn thế, có thể đem đến một sự phản ứng xung đột.

Thí dụ, nếu chúng ta không tự do với dính mắc, chúng ta có thể cho món gì đó đến một người nào đấy hôm nay, và ngày mai sẽ nghĩ rằng, "Tôi ước gì tôi đã không cho người ấy món ấy; bây giờ tôi cần nó." Loại bố thí này không là gì hay bất cứ gì liên hệ với niềm tin tôn giáo.

Chúng ta có thể thấy người ta làm việc từ thiện và nghĩ ôi người ta thật là quảng đại diệu kỳ, nhưng tất cả chúng ta thấy là hành động bên ngoài. Chúng ta không thấy động cơ bên trong, mà có thể là hoàn toàn bức xúc và vị kỷ. Định nghĩa thật sự của bố thí qua niềm tin được thực hiện phù hợp với thái độ tinh thần của người bố thí, không phải những hành động vật lý của người ấy.

Nếu sự bố thí của chúng ta làm giảm thiểu những thái độ tiêu cực quấy nhiễu và đem đến nhiều bình an và thấu hiểu trong tâm thức chúng ta, đấy là thiêng liêng, nhưng nếu nó phục vụ chỉ đơn thuần làm cho gia tăng những vọng tưởng của chúng ta, quý vị tốt hơn đừng làm việc ấy, bất kể nó hiện hữu thế nào bên ngoài. Tại sao phải làm điều gì đấy lại làm trầm trọng thêm tâm thức vốn đã khích động của chúng ta? Hãy thực tế; biết những gì chúng ta đang làm.

Nếu quý vị thực hiện việc thực hành tâm linh của quý vị với sự thấu hiểu, nó sẽ thật sự hữu ích và tác dụng và đem đến những kết quả chúng ta mong cầu.

Thậm chí cảm giác bình đẳng đơn thuần với tất cả chúng sinh - không phân biệt những người khác như người xa lạ, kẻ thù hay bằng hữu - có thể mang đến cho chúng ta niềm vui lớn và tự tại khỏi tâm bất an.

Chúng ta thường cảm thấy bị quấy rầy bởi người khác, nhưng chúng ta phải nhận ra rằng xem họ như những kẻ thù đến từ chúng ta không phải từ họ. Không có điều gì như một kẻ thù bẩm sinh. Chúng ta tạo nên nó tất cả những thứ ấy. Không có điều gì như xấu xa thường trực. Kể xấu xa thực sự là tâm thức tiêu cực phóng chiếu ra sự xấu xa bên ngoài; một tâm thức tích cực sẽ ghi danh cùng vấn đề ấy là tốt. Mọi thứ luôn luôn thay đổi; sự xấu xa cố định hoàn toàn không tồn tại.

Cũng thế, khi chúng ta phiền muộn, chúng ta nghĩ, "Tôi xấu quá, tôi tiêu cực, tôi tội lỗi," nhưng điều ấy hoàn toàn vô nghĩa; một cực đoan thổi phồng. Chúng ta có cả hai thứ tích cực và tiêu cực trong chúng ta; chỉ là vấn đề thứ nào mạnh hơn vào lúc ấy. Đấy là những gì chúng ta phải kiểm tra. Do vậy, bất cứ khi nào tâm thức đem lại rắc rối cho chúng ta, ấy là dấu hiệu rằng chúng ta đang suy nghĩ trong những cực đoan.

Đây là nơi mà thiền quán đi đến. Thiền quán có nghĩa là khảo sát tâm thức để thấy điều gì xảy ra. Khi chúng ta làm điều này một cách thích đáng, chúng ta thuần khiết và đem đến hòa bình vào trong tâm thức mất quân bình của chúng ta. Đấy là chức năng của thiền quán; đấy là chức năng của tôn giáo. Thế nên, chúng ta phải nên thiền quán một cách đúng đắn nhất mà chúng ta có thể thực hành.

Một điều nên tránh trong con đường tâm linh là nhảy từ ý tưởng này sang ý tưởng nọ. Thay vì thế, hãy cố gắng để tìm ra chìa khóa để đặt những ý tưởng vào trong kinh nghiệm của chúng ta. Thẩm nghiệm ý nghĩa của nó là quan trọng hơn tự những ý tưởng rất nhiều. Thí dụ, chúng ta không nên bố thí những thứ của người khác, thí dụ gia đình chúng ta và bằng hữu chúng ta. Tôi thường nghe những người trẻ lấy những thứ từ cha mẹ chúng, như nữ trang của mẹ chúng và đem cho những người hành khất ở trên đường phố.

Điều đó lạ kỳ; không phải từ thiện. Và tôi thường được hỏi rằng nếu trộm cắp từ những người giàu đem cho người nghèo có được không. Điều đó cũng không phải là từ thiện hay bố thí.

Sự thấu hiểu thông thường của từ thiện là đem cho đồ vật đến những người khác, nhưng như quý vị có thể thấy, quan điểm của Đạo Phật là cho đồ vật không nhất thiết là từ thiện hay bố thí. Bố thí thật sự là phải hành động với tâm thức; ban bố một cách tinh thần. Sự dính mắc bủn xỉn là ở trong tâm thức, do thế, việc đối trị cũng phải là tinh thần.

Một vấn đề khác là, khi bố thí, đôi khi chúng ta cực đoan. Chúng ta không xem người nhận có cần những thứ chúng ta cho hay không; chúng ta chỉ bố thí mà không do dự, hay không quả quyết. Tuy nhiên, đôi khi có thể không có lợi ích; trong những trường hợp như vậy, tốt hơn là đừng bố thí. Nếu những gì chúng ta ban cho tạo nên những rắc rối, thay vì được giúp đỡ, người nhận phải trải nghiệm tổn hại, điều đó không phải từ thiện. Chúng ta nghĩ hành động của chúng ta là tích cực, nhưng nó là tiêu cực.

Nếu quý vị thật sự kiểm soát lại những gì là từ thiện bố thí một cách sâu sắc, quý vị chắc chắn sẽ thấy rằng trong cả đời, mình chưa từng thực hiện thậm chí một hành động của từ thiện bố thí. Quý vị có bao giờ xem thử người nhận của cần gì không? Quý vị có phát sinh một động cơ đúng đắn trước khi bố thí không? Quý vị có tiến hành hành động với quán chiếu trên vòng xoay của tam luân không tịch không? Và nếu quý vị đã bố thí với lòng tự hào, thế thì bất kể tặng phẩm của quý vị là to lớn thế nào đi nữa, nó sẽ bị lãng phí; sự bố thí của quý vị là một trò đùa.

Vì vậy, chúng ta có thể thấy một việc từ thiện bố thí toàn hảo là khó như thế nào. Tôi không tiêu cực; mà tôi thực tế. Hãy chắc rằng bất cứ điều gì chúng ta làm trở nên có giá trị. Nếu chúng ta thực hành với sự thấu hiểu, nó có thể tác động đầy năng lực, đầy cảm tính và đầy ý nghĩa, và không nghi ngờ gì nữa, nó sẽ mang đến những sự thân chứng an lạc mà chúng ta mong cầu. Bằng trái lại, nếu chúng ta làm việc thực hành của chúng ta với nửa trái tim và không thấu hiểu, tất cả những gì chúng ta đón nhận sẽ là thất vọng.

Do vậy, đừng nghĩ rằng từ thiện bố thí là vật lý - nó là tinh thần. Bố thí là xoay tâm thức khỏi dính mắc keo kiệt và giải thoát khỏi sự chấp trước. Điều ấy là diệu kỳ. Nó thiền quán, một thể trạng tâm lý của tâm và rất tác động.

Chúng ta cũng phải tránh việc làm bố thí những thứ làm tổn thương người khác. Thí dụ chúng ta không nên cống hiến đến những nỗ lực chiến tranh. Đôi khi chúng ta có thể được yêu cầu góp tiền cho người ta chiến đấu nhân danh tôn giáo, nhưng làm sao có thể hỗ trợ chiến tranh lại là vấn đề tâm linh? Không thể được. Chúng ta phải kiểm soát một cách cẩn thận rằng việc từ thiện bố thí của chúng ta không mang đến tổn hại.

Thật cực kỳ khó khăn để thực hành Phật Pháp trong một cách để làm giảm thiểu vọng tưởng của chúng ta, nhưng nếu chúng ta có thể, điều ấy cực kỳ đáng giá; nó thật sự sẽ lay động tự ngã của chúng ta. Ngay cả một hành động bố thí nhỏ nhoi được mà động cơ thúc đẩy bởi khuynh hướng để thực chứng sự giác ngộ an lạc trường cửu có thể tác động một cách diệu kỳ và thật sự phá vở tính dính mắc chấp trước của chúng ta.

Có ba loại bố thí: bố thí vật chất (tài thí), bố thí tri thức tuệ trí (pháp thí), và cứu người khác khỏi hiểm nguy (vô úy thí). Chúng ta nên làm bất cứ điều gì trên đây mà chúng ta có thể, với sự thấu hiểu tối đa mà chúng ta có thể, phù hợp cới khả năng của chúng ta.

Khuynh hướng tối hậu của bố thí là giác ngộ toàn hảo, vì thể chúng ta nên cống hiến hành động của mình cho bố thí vì mục tiêu này. Nhưng chúng ta sẽ làm thế chứ, có phải không? Nếu ai đấy lạnh, chúng ta cho một tấm chăn - "Đủ ấm chứ? Okay, tốt" - và như thế. Nếu ai đấy khát, chúng ta chỉ họ uống - "Hết khát rồi chứ? Okay, tốt." và như thế chấm dứt ở đấy. Mục tiêu của chúng ta quá là tạm thời và thiển cận rằng sự bố thí của chúng ta trở nên chỉ như một cuộc du lịch vật chất khác nữa mà thôi. Sự thấu hiểu về bố thí của chúng ta quá nông cạn. Thay vì thế, chúng ta phải giúp đỡ người khác với những nhu cần tạm thời bằng sự thấu hiểu nhằm để đạt đến giác ngộ, họ cần một thân thể và tâm thức lành mạnh, và bố thí nhằm để giúp cho sự thực hành Phật Pháp của họ, hồi hướng công đức cho sự giác ngộ của tất cả chúng sinh.

Không phải tôi thiếu xây dựng; mà tôi chỉ nói về cung cách của chúng ta. Và tôi chắc là nếu quý vị thực hành một cách thích đáng, quý vị chắc chắn có thể đạt đến sự giác ngộ an lạc trường cửu. Nhưng ngay cả quên điều ấy, nếu chúng ta thực hành tốt hôm nay, ngày mai chúng ta sẽ an lạc hơn một cách tự động; nếu chúng ta thiền quán một cách thích đáng vào buổi sáng, cả ngày chúng ta sẽ trải qua một cách êm ấm hơn. Chúng ta có thể trải nghiệm một cách dễ dàng sự thật về điều này. Tuy nhiên, đạt đến giác ngộ qua thiền quán, thực hành sáu toàn thiện ba la mật và tiến bộ qua mười địa bồ tát là một tiến trình từ từ.

Khi chúng ta thật sự trở nên giác ngộ, chúng ta sẽ không còn cảm thấy cục bộ. Nếu Đức Thế Tôn có một người giận dữ đâm vào tay bên phải của Ngài với một con dao và một người khác tận tụy xức dầu thơm bên tay trái, ngài sẽ không thù oán người nọ và khao khát mong muốn người này. Ngài sẽ cảm thấy yêu thương bình đẳng cả hai - lòng yêu thương từ ái của một bậc giác ngộ cảm nhận cho người khác là phổ quát và hoàn toàn không cục bộ.

Lòng yêu thương của chúng ta trái lại là hoàn toàn vị kỷ. Chúng ta dính mắc đến người nào tử tế lịch sự với chúng ta và không thích kẻ nào xử sự tệ bạc với chúng ta. Tâm thức chúng ta cực kỳ mất quân bình.

Kết luận của tôi là chúng ta không nên dính mắc chấp trước với bất cứ điều gì, ngay cả tôn giáo của chúng ta, càng phải ít hơn nhiều đối với những thứ vật chất. Chúng ta phải thực tập con đường tâm linh của chúng ta với sự thấu hiểu thực tại của nó và nó liên hệ đến chúng ta như những con người như thế nào. Đấy là cung cách để khám phá lòng yêu thương rộng lớn, tự tại với bất an, dính chặc với cảm giác như, "Tôi là một Phật tử," "Tôi là một Ki tô hữu", "Tôi là một người Ấn Giáo," hay bất cứ điều gì. Chúng ta là gì không quan hệ gì; mỗi chúng ta phải tìm ra con đường phù hợp với những cá nhân.

Một số người thích cơm; người khác thích khoai tây; người khác thích thứ khác. Hãy để người ta ăn thứ gì người ta thích, bất cứ điều gì thỏa mãn cho thân thể họ. Quý vị không thể nói, "Tôi không thích cơm; không ai được ăn cơm." Điều này cũng giống với tôn giáo.

Nếu chúng ta có loại thấu hiểu này, chúng ta sẽ không bao giờ chống lại bất cứ tôn giáo nào. Những con người khác nhau cần những con đường khác nhau. Hãy để họ làm bất cứ điều gì họ cần làm. Nhưng kém may mắn thay, tâm thức hạn cuộc của chúng ta không thư thái như thế. Chúng ta nghĩ, "Tôn giáo của tôi là nhất hạng, con đường duy nhất. Tất cả những tôn giáo khác là sai." Chấp chặt những định kiến như thế có nghĩa là chúng ta bệnh. Không phải những tôn giáo là sai lầm như thế; đấy là những thành viên của chúng. Do vậy, nếu chúng ta muốn tâm lý lành mạnh, hãy thấu hiểu con đường của mình và hành động một cách đúng đắn và thực chứng sẽ đến phù hợp với chúng ta.

Bây giờ trước khi chấm dứt, tôi muốn làm sáng tỏ điều này. Tôi không phê phán bất cứ người nào. Tôi không hạ thấp sự thực hành của ai cả. Nhưng ngày nay, hầu hết chúng ta lớn lên trong những xã hội không cung ứng nhiều cơ hội cho những sự học tập và thực hành nghiêm chỉnh về tôn giáo. Do vậy, điều quan trọng là khi thực tập Phật Pháp, hãy làm một cách thích đáng và đừng hướng sự thực tập của chúng ta vào trong một sự theo đuổi trần tục khác nữa. Thế giới hiện đại nghĩ sự phát triển vật chất là cực kỳ quan trọng và chỉ sơ lược đến sự phát triển một tâm thức an bình. Dĩ nhiên, nếu ai đấy hỏi chúng ta, "Bạn có nghĩ theo đuổi thực tập tâm linh là quan trọng không?" Chúng ta sẽ nói, "Vâng, nhưng..." Luôn luôn có một chữ "nhưng, nhưng, nhưng" liên hệ đến. Điều ấy cho thấy chúng ta thật sự là như thế nào.

HỎI: Nếu chúng tôi không có nhiều tu sĩ vào thời điểm và nơi chúng tôi sinh ra, có phải đấy là một kết quả xấu của nghiệp báo không?

ĐÁP: Tôi không nghĩ như thế. Nói như thế giống như nói rằng nếu không phải là tu sĩ là do nghiệp xấu. Bạn không cần phải là một sư cô hay sư thầy để có thể hiểu biết. Bạn không thể nói rằng những người trong làn y áo là cao hơn những người không có. Bạn không thể phán xét vấn đề trong cách ấy. Nó tùy thuộc hoàn toàn vào cá nhân. Tuy nhiên, có lẽ bạn có thể nói, đấy là nghiệp xấu của cá nhân để thấy mình trong một hoàn cảnh, nơi mình không thể thấu hiểu tâm thức và thái độ tinh thần hay khám phá sự thật, niềm an lạc và toại nguyện nội tại của chính mình.

HỎI: Thưa thầy, khi chúng tôi thực hành thiền quán, chúng tôi biết người suy nghĩ và tư tưởng là giống nhau như thế nào? Rằng người suy nghĩ là tư tưởng; rằng người suy nghĩ là không tách biệt với tư tưởng?

ĐÁP: Một cách tương đối, người suy nghĩ không là tư tưởng. Người suy nghĩ chỉ là "danh xưng", tư tưởng chỉ là "chức năng". Nhưng nếu bạn có thể hoàn toàn hợp thành một thể thống nhất chính mình với tư tưởng khi chúng ta đang thiền tập, đấy là một kinh nghiệm tốt. Tuy nhiên, từ lập trường của chân lý tương đối và sự hiểu biết khoa học, con người và tư tưởng là khác biệt. Bạn không phải là tư tưởng. Ngay cả nếu trong thiền tập bạn cảm thấy hoàn toàn là một với tư tưởng của bạn, tuy thế, bạn và tư tưởng không phải là một thứ. Mặc dù tại trình độ tuyệt đối có sự thống nhất, một cách tương đối, có một sự khác biệt. Nhưng khi bạn thiền tập, nếu bạn cảm thấy hoàn toàn là một với tất cả những hiện tượng của vũ trụ, nếu bạn cảm thấy rằng sự hiện hữu vật lý của bạn giống như một nguyên tử nhưng bản chất tự nhiên của bạn là hoàn toàn hòa hiệp với năng lượng của toàn thể vũ trụ, đấy là một kinh nghiệm tốt.

Cũng thế, khi chúng ta cố gắng để tập trung trên một vật và những tư tưởng khác cứ trồi lên, thay vì phủ nhận chúng, cố gắng đẩy chúng đi nơi khác, hãy suy nghĩ, "Hân hoan chào mừng quý vị", và khảo sát chúng với tri thức tuệ trí nội quán sâu sắc, nhìn vào trong bản chất tự nhiên của thực tại tư tưởng. Những tư tưởng là ngớ ngẩn khi chúng ta nhìn vào chúng, chúng biến mất. Chúng chỉ đùa nghịch; khi chúng ta phân tích chúng, chúng hóa thành hư ảo. Cho đến bây giờ, nếu chúng ta càng cố gắng xua đuổi chúng đi, chúng càng cố tràn đến. Hãy cố gắng chào đón chúng.

Thật sự, xem tư tưởng của chúng ta thì hấp dẫn hơn là xem truyền hình. Truyền hình chán lắm; chỉ là những thứ cũ lập đi lập lại. Khi chúng ta quán sát tâm thức mình, những thứ kỳ diệu khác nhau xuất hiện. Chúng ta có một sưu tập đáng ngạc nhiên về ký ức; sau tất cả những năm tháng này, ngay cả kỷ niệm thời thơ ấu. Truyền hình không bao giờ hấp dẫn như thế.

Khi quý vị thấu hiểu cung cách tâm thức quý vị hoạt động như thế nào, thì lúc ấy bắt đầu cho việc kiểm soát. Quý vị sẽ không khó chịu nữa khi tư tưởng xuất hiện; một cách tâm lý học, chúng ta sẽ biết chúng có ý nghĩa gì. Một số người không có ý tưởng gì về tâm thức là gì hay nó hoạt động như thế nào đã bị sốc khi tâm vô thức đột nhiên biểu hiện ở trình độ ý thức: "Ô, điều gì thế?" Khi chúng ta thấu hiểu tâm thức chúng ta và những gì trong ấy, chúng ta tiên liệu những loại việc như thế xảy ra. Chúng ta thấu hiểu bản chất tâm thức và có một giải pháp cho phía ẩn tàng của nó. Nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta hoàn toàn thanh tịnh và rồi thì khi tâm thức xấu xí nào đấy khởi lên, chúng ta choáng váng. Tuy thế, chúng ta cũng phải thấu hiểu rằng chúng ta không hoàn toàn tiêu cực. Tâm thức chúng ta có cả bản chất tiêu cực lẫn tích cực. Nhưng tất cả đều tương đối, đến và đi như những đám mây bay ngang bầu trời. Nhưng bên dưới tất cả, bản chất tự nhiên thực sự chân thật của chúng ta vẫn hoàn toàn thanh tịnh, không thay đổi như chính bầu trời. Do vậy, là con người là đầy năng lực; chúng ta có khả năng để làm những việc vĩ đại bởi vì bản chất nền tảng tự nhiên của chúng ta là tích cực.

Cảm ơn rất nhiều, chân thành cảm ơn.

Follow Your Path Without Attachment
Ẩn Tâm Lộ ngày 13/07/2011
http://www.lamayeshe.com/index.php?sect=article&id=139&chid=215

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn