Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

14. Tể Tướng Ðại Ðiển Tôn

29/08/201105:03(Xem: 1452)
14. Tể Tướng Ðại Ðiển Tôn

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòathượng Thích Ðức Niệm
PhậtHọc Viện Quốc Tế, California, 1998

Tể Tướng Ðại Ðiển Tôn

Kinh Trường A-Hàm,quyển 5, có đoạn nói về tiền thân đức Phật Thích-Ca như vầy:

Lúc bấy giờ trờèại-Phạm-Vương hóa thân làm một Ðồng-tử đến nói với trời Ðao-Lợi rằng:"Các ngươi có muốn nghe chuyện kỳ đặc về Phật Thích-Ca không?"

Các Trời Ðao-Lợi đáp:"Hay thay! Chúng tôi từ lâu muốn biết điều đó".

Ðồng-tử Ðại-Phạm-Vươngnói: "Trong quá khứ có một kiếp nọ, Phật Thích-Ca trong lúc đang tu Bồ-Táthạnh, mới được sanh ra, Ngài đã thông minh diệu trí hơn người. Cha Ngài tên làÐiển-Tôn làm quan tể tướng của vua Ðịa-Chủ. Vua Ðịa-Chủ có thái tử tên là Từ-Bihay đi giao du với các vị đại thần dòng Sát-Ðế-Lợi. Bỗng nhiên tể tướngÐiển-Tôn mắc phải bệnh ngặt nghèo rồi qua đời để lại sự tiếc thương cho baongười. Nhất là nhà vua sầu khổ vì mất vị tể tướng tài ba trung hậu.

Thái tử Từ-Bi thấy vuacha buồn rầu, nên đến tâu rằng: "Tâu Phụ-vương! Xin Phụ-vương chớ nên buồnkhổ nữa mà tổn hại đến long thể. Tể tướng Ðiển-Tôn có một người con trai tên làDiệm-Mang tài ba lỗi lạc. Lúc tể tướng Ðiển-Tôn còn sanh tiền mỗi mỗi việctriều chánh thường đem bàn thảo với công tử Diệm-Mang, trước khi đem thi hành.Vì thế, chẳng những Diệm-Mang đã hiểu rõ những việc triều chánh mà còn biết dựđoán những việc tương lai. Theo thiển nghĩ của con, Phụ-hoàng nên triệuDiệm-Mang vào triều bàn luận trao cho việc quốc sự chắc thích hợp hơn cả".

Vừa nghe thái tử Từ-Bitrình tấu, vua Ðịa-Chủ như rũ sạch nỗi ưu phiền lo âu, liền triệu Diệm-Mang vàotriều, sau những ngày cùng nhau bàn luận kỹ lưỡng, nhà vua phán rằng: "Nayta phong cho ngươi vào chức vụ của cha ngươi ngày trước. Vậy từ đây ngươi hãyhết lòng tận trung với quốc với quân, cũng có nghĩa là tận hiếu với thân phụngười nữa đó". Nói rồi, nhà vua đem ấn tướng trao cho Diệm-Mang.

Từ khi Diệm-Mang nhậnlãnh ấn tướng, ngày đêm chuyên tâm lo việc triều chánh của vua trao, thành quảtỏ ra đặc biệt xuất sắc hơn ngày trước của cha. Còn nhà vua thì ở trong thâmcung lo hưởng thú vui dục lạc. Chẳng bao lâu, Diệm-Mang được tiếng khen đồn xa.Từ vua cho đến quốc dân, ai nấy thảy đều quý mến tôn xưng là Ðại-Ðiển-Tôn.

Chẳng bao lâu sau đó,vua Ðịa-Chủ băng hà, triều thần suy tôn thái tử Từ-Bi lên ngôi thay thế cho vuacha. Thái tử Từ-Bi sau khi lên ngôi liền nghĩ đến việc chọn người vào chức tểtướng để giúp nhà vua trị nước an dân. Ðã hơn ba tháng trời nhà vua suy nghĩtìm người hiền tài. Nhưng suy đi nghĩ lại không ai tài trí đức độ hơnÐại-Ðiển-Tôn. Vua Từ-Bi khai triều nghị hội, triều thần luận bàn sôi nổi, kếtquả lễ trao ấn tín cho tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn được tổ chức trọng thể sau đó.

Với đức độ tài ba vàlòng trung hậu chân chánh, chẳng bao lâu tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn dang vang khắpthiên hạ. Do đó, nên các vua của bảy nước lân bang đều triệu thỉnh ông làm cốvấn chỉ đạo việc nước cho họ. Bảy nhà đại cư sĩ cũng nhờ ông giúp ý kiến để xửlý việc nhà của họ. Bảy trăm kẻ phạm-Chí cũng nhờ Ðại-Ðiển-Tôn hướng dẫn họ đọctụng kinh điển. Họ nghĩ ông là thần minh của trời Phạm-Thiên sai xuống thếgian, nên họ hết lòng kính nể. Chẳng bao lâu sau đó, tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn pháttâm chuyên tu suốt ba tháng hạ để thân tâm thanh tịnh, hầu mong được trờiPhạm-Thiên giáng lâm dạy đạo. Ðã ba tháng trôi qua mà không thấy trờiPhạm-Thiên đâu cả! Tể tưởng Ðại-Ðiển-Tôn quyết tâm từ bỏ tất cả chức tước triềuđình, đi ra ngoài cửa thành phía Ðông, tìm đến một gốc cây trong một túp lềutranh đem hết lòng thành chuyên tu Tứ-vô-lượng-tâm: Từ-Bi-Hỷ-Xả. Trải qua mộtthời gian tu luyện chuyên tâm thiền quán, bỗng nhiên vào một đêm nọ có ánh sángrạng ngời từ trên trời cao chiếu xuống, liền khi đó có một Ðồng-tử hiện ratrước mặt bảo rằng: "Nhà ngươi có muốn hỏi điều chi thì cứ tự nhiên".

- Ðại-Ðiển-Tôn cungkính mở lời: "Thưa Ðồng-tử, tôi muốn biết nhờ tu pháp gì mà được làmPhạm-Thiên?"

Ðồng-tử đáp: "Bỏxú uế nơi cõi lòng thì sẽ làm được Phạm-Thiên".

Ðại-Ðiển-Tôn lại hỏi:"Thế nào là xú uế nơi cõi lòng?"

Ðồng tử đáp: "Dốitrá, ngã mạn, tham lam, sân hận, si mê, ích kỷ, cố chấp, tăng thượng mạn, hậnthù, tất cả thứ đó là xú uế. Lòng còn chứa chấp những thứ xú uế đó thì khó cóthể tránh khỏi đọa vào địa-ngục, ngạ-quỉ, súc-sanh, chớ đừng nói chi làm đượcPhạm-Thiên".

Tể tướng Ðại-Ðiển-Tônnghe xong thầm nghĩ rằng: "Lòng xú uế tai hại như thế. Ngày nào còn ở tạigia thì ngày đó còn vướng bận vợ con nhà vửa, công danh, phú quý, lợi dưỡng,không có phương cách nào dứt sạch xú uế. Chi bằng ta nên xuất gia".

Nghĩ vậy rồi,Ðại-Ðiển-Tôn liền đem ý định xuất gia của mình tâu trình với vua Từ-Bi và cácvương quốc lân bang, xin trao trả chức tể tướng để rảnh tay thực hiện chínguyện xuất gia.

Sau khi nghầại-Ðiển-Tôn tâu, vua và các quốc vương nghĩ rằng: "Hạng Bà-la-môn thườngham bạc vàng, châu báu, gái đẹp. Thế thì nay ta nên mở kho châu báu, tuyển chọnthể nữ trẻ đẹp, rồi mời tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn đến để ông ta tùy sở thích chọnlựa. Làm như vậy, chắc Ðại-Ðiển-Tôn sẽ bỏ ý định từ quan xuất gia tu học đạo.

Nhưng nào có ngờ nhữngthứ ấy không làm lay chuyển được lòng kẻ đã quyết tâm tu hành. Ðại-Ðiển-Tôn vẫnkhẩn thiết tâu rằng: "Muôn tâu Thánh-thượng! Tấm lòng của Thánh-thượng quáưu đãi như thế, hạ thần đã được ân mưa móc lắm rồi! Nhưng mong Thánh-thượng rủ lòngthương, để hạ thần được toại nguyện xuất gia tu hành. Chỉ có xuất gia là phươngcách tốt nhất để có thể trừ bỏ lòng xú uế".

Vua Từ-Bi cùng với cácvị quốc vương khuyên Ðại-Ðiển-Tôn nên đợi bảy năm nữa để các quốc vương có thờigian sắp đặt truyền ngôi cho các vương tử rồi cùng nhau đi xuất gia vớèại-Ðiển-Tôn luôn một thể. Ðại-Ðiển-Tôn thưa vua: "Thế gian vô thường,mạng người chỉ trong hơi thở, thở ra mà không hít vào thì đã qua đời khác ...Mạng người khó có thể bảo toàn được".

Các quốc vương đềukhuyên Ðại-Ðiển-Tôn rằng: "Nếu bảy năm mà khanh cho là lâu thì 6 năm, 5năm, 4 năm, có được chăng?" Nhưng tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn lòng đã quyết, vẫnmột mực giữ ý định. Và cứ như thế các quốc vương khất hẹn thời gian giảm ngắndần cho đến khi khất hẹn chỉ còn đợi đến bảy ngày thôi, để các quốc vương thuxếp rồi cùng đi xuất gia, lúc đó Ðại-Ðiển-Tôn mới chịu đồng ý.

Ðại-Ðiển-Tôn đem việcnầy trình bày cho bảy vị đại cư sĩ và bảy trăm người Phạm-Chí biết. Các cư sĩđồng ý. Nhưng các Phạm-Chí lại khuyên Ðại-Ðiển-Tôn rằng: "Tể tướng chớ nênxuất gia. Xuất gia thì phải ở chỗ tịch mịch cô đơn vắng vẻ, đời sống thanh đạm,ăn ngủ thiếu thốn. Còn ở tại gia thì được hưởng đủ thú vui dục lạc. Chúng tôixin tể tướng nghĩ lại nên bỏ ý định xuất gia, để chúng ta cùng hưởng công danh,phú quý, dục lạc trần gian cho trọn kiếp người".

Ðại-Ðiển-Tôn nói vớicác Phạm-Chí rằng: "Nếu ta cho tại gia là vui, xuất gia là khổ, thì ta đãkhông có ý chí xuất gia rồi. Nhưng ta đã thấu rõ tại gia là khổ, cái khổ ràngbuộc tinh thần, tâm tánh không thể thanh tịnh, kéo theo đó cái khổ đọa lạc muônđời ngàn kiếp. còn xuất gia là vui, cái vui tinh thần thoải mái, tâm tư thanhtịnh, cái vui vĩnh viễn giải thoát giác ngộ tự tại. Ta đã suy nghĩ kỹ, nên mớiquyết định chọn lấy đời sống xuất gia".

Các vị Phạm-Chí ngherồi liền nói: "Nếu thế thì chúng tôi cũng xin theo tể tướng xuất gia, tônxưng tể tướng làm Ðạo-Sư của chúng tôi. Ðạo-Sư làm gì thì chúng tôi cũng làmtheo như thế".

Tin tể tướngÐại-Ðiển-Tôn xuất gia chẳng mấy chốc lan truyền khắp từ trong hoàng cung ra đếnnhân gian, khiến cho ai nấy đều cảm động. Các hoàng hậu cung phi và các phunhân của các đại thần đều nghĩ rằng: "Ðại-Ðiển-Tôn là bậc tể tướng tài bađức độ an bang tế thế, không những chỉ cho riêng đức vua Từ-Bi, mà còn là tểtướng của bảy quốc vương lân bang nữa. Quyền uy danh vọng, phú quý tột đỉnh hơnngười, thế mà còn từ bỏ để đi tu. Huống chi là bọn chúng ta. Nghĩ vậy rồi, họcùng nhau đến xin theo Ðại-Ðiển-Tôn để được xuất gia tu hành. Chẳng bao lâu sốngười xin xuất gia lên đến hơn tám vạn bốn ngàn người.

Kể đến đây, Phạm-ThiênÐồng-tử nói với các trời Ðao-Lợi rằng: "Các người chớ nghĩ rằng, vị đạithần tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn Ðó chẳng phải là ai đâu khác, mà chính là tiền thâncủa đức Phật Thích-Ca. Ngài hiện đang thuyết pháp ở núi Kỳ-Xà-Quật. Nếu cácngười có nghi lời ta nói, thì xin cứ đến đó mà hỏi thì sẽ rõ. Như đức Ðiều-NgựThích-Ca có dạy điều gì, thì quý vị nên cố gắng nhớ lấy".

Lúc bấy giờ có vị nhạcthần tên là Bát-Giá-Dực của trời Ðao-Lợi, dẫn bằng hữu quyến thuộc đến trướcđức Phật quỳ thưa rằng: "Bạch đức Thế-Tôn! Do vì lời nói của vị Phạm-ThiênÐồng-tử, nên nay chúng con đến đây ra mắt xin hỏi Ngài một điều: Trong một thờiquá khứ xa xưa, có một kiếp nọ Ngài làm tể tướng tên là Ðại-Ðiển-Tôn, bạch đứcNhư-Lai có phải đúng thế không? Và vị tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn đồng ý với vuaTừ-Bi là chỉ trong bảy ngày thì xuất gia tu hành. Rồi cùng đại chúng đi quakhắp các nước du hóa độ sanh, điều nầy có đúng không? Cúi mong đức Thế-Tôn, vìđể cho chúng trời người ba cõi có niềm tin sâu đậm vững chắc, và vì sự lợi íchchúng sanh, ngưỡng mong đức Thế-Tôn từ bi ban cho chúng con một lời xácđịnh".

Ðức Phật từ tốn đáp:"Lời thuật vừa rồi của Phạm-Thiên Ðồng-tử quả thật không hư dối. Chớ đemlòng nghi tể tướng Ðại-Ðiển-Tôn đó là ai đâu khác, mà chính là tiền thân của tađó vậy".

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/11/202109:02(Xem: 1903)
316. Thi Kệ Bốn Núi do Vua Trần Thái Tông biên soạn. Trần Thái Tông (1218-1277), là vị vua đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam (triều đại kéo dài đến 175 năm sau, ông cũng là một Thiền sư đắc đạo và để lại những tác phẩm Phật học vô giá cho đời sau). Đây là Thời Pháp Thoại thứ 316 của TT Nguyên Tạng, cũng là bài giảng cuối của năm thứ 2 (sẽ nghỉ qua sang năm sẽ giảng lại) từ 6.45am, Thứ Ba, 30/11/2021 (26/10/Tân Sửu) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️🌻🌺🍀💐🌼🌹🥀🌷🌸🏵️ Múi giờ : pháp thoại của TT Trụ Trì Thích Nguyên Tạng (trong thời gian cách ly vì đại dịch Covid-19) về chư vị Tổ Sư Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam…) - 06: 45am (giờ Melbourne, Australia) - 12:45pm (giờ Cali, USA) - 03:45pm (giờ Montreal, Canada) - 09:45pm (giờ Paris, France) - 02:45am (giờ Saigon, Vietnam) 🙏🌷🙏🌼🙏🌺🙏🌹 💐🌹🥀🌷🍀💐🌼🌸🏵️🌻🌼💮🍂🍁🌾🌱🌿🍃 Youtube: Tu Viện Quảng Đức (TT Thích Tâm Phương, TT Thích Nguyên Tạng, Melbourne, Australia) https://www.youtube.com
24/01/202204:45(Xem: 103)
Tuyển tập Hành Hương Tứ Đại Danh Sơn Trung Quốc 2007 do Tu Viện Quảng Đức tổ chức
19/01/202206:39(Xem: 232)
Dân tộc Việt Nam học và hành theo giáo lý Phật thuyết trên dưới hai nghìn năm trước khi Pháp sư Huyền Trang quy Phật cũng trên sáu thế kỷ, tuy vậy cho đến nay chúng đệ tử Phật, xuất gia cũng như tại gia, biết đến công hạnh của Ngài rất ít, và cũng biết rất ít di sản Kinh Luận của Ngài cho Phật tử Việt nam học và hiểu giáo pháp của Đức Thế Tôn một cách chân chính để hành trì chân chính. Bản dịch Đại Đường Tây vực ký của Hòa Thượng Như Điển với sự đóng góp của Cư sĩ Nguyễn Minh Tiến bổ túc cho sự thiếu sót này. Từ những hiểu biết để thán phục, kính ngưỡng một Con Người vĩ đại, hãn hữu, trong lịch sử văn minh tiến bộ của nhân loại, một vị Cao Tăng thạc đức, với nghị lực phi thường, tín tâm bất hoại nơi giáo lý giải thoát, một thân đơn độc quyết vượt qua sa mạc nóng cháy mênh mông để tìm đến tận nguồn suối Thánh ngôn rồi thỉnh về cho dân tộc mình cùng thừa hưởng nguồn pháp lạc. Không chỉ cho dân tộc mình mà cho tất cả những ai mong cầu giải thoát chân chính.
16/01/202219:46(Xem: 286)
Hành hương và chiêm bái Phật tích Ấn Độ là nhân duyên hy hữu và là một ước mơ ngàn đời của người đệ tử Phật trên khắp năm châu bốn bể. Nay ước mơ đó đã đến với Tăng Ni và Phật tử Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Úc Châu. Như chương trình đã sắp đặt trước cả năm, phái đoàn hành hương Ấn Độ gồm 51 người do Tu Viện Quảng Đức tổ chức đã lên đường đúng vào ngày 7-11 năm 2006. Phái đoàn do Đại Đức Phó Trụ Trì Tu Viện Quảng Đức Thích Nguyên Tạng, Sư Cô Hạnh Nguyên và Đạo Hữu An Hậu Tony Thạch (Giám đốc công ty Triumph Tour) hướng dẫn cùng với 38 Phật tử từ Melbourne, 6 từ Sydney, 1 từ Perth và 5 đến từ Texas, Cali, Hoa Kỳ.
04/01/202216:08(Xem: 607)
Không hiểu sao mỗi khi nhớ về những sự kiện của năm 1963 lòng con bổng chùng lại, bồi hồi xúc động về quá khứ những năm đen tối xảy đến gia đình con và một niềm cảm xúc khó tả dâng lên...nhất là với giọng đọc của Thầy khi trình bày sơ lược tiểu sử Đức Ngài HT Thích Trí Quang ( một sưu tầm tài liệu tuyệt vời của Giảng Sư dựa trên “ Trí Quang tự truyện “ đã được đọc tại chùa Pháp Bảo ngày 12/11/2019 nhân buổi lễ tưởng niệm sự ra đi của bậc đại danh tăng HT Thích Trí Quang và khi online cho đến nay đã có hơn 45000 lượt xem). Và trước khi trình pháp lại những gì đã đươc nghe và đi sâu vào chi tiết bài giới thiệu Bộ Pháp Ảnh Lục cùng lời cáo bạch của chính Đức Ngài HT Thích Trí Quang về bộ sách này, kính trich đoạn vài dòng trong tiểu sử sơ lược của HT Thích Trí Quang do Thầy soạn thảo mà con tâm đắc nhất về;
04/01/202206:40(Xem: 225)
Trên đất nước ta, rừng núi nào cũng có cọp, nhưng không phải vô cớ mà đâu đâu cũng truyền tụng CỌP KHÁNH HÒA, MA BÌNH THUẬN. Tỉnh Bình Thuận có nhiều ma hay không thì không rõ, nhưng tại tỉnh Khánh Hòa, xưa kia cọp rất nhiều. Điều đó, người xưa, nay đều có ghi chép lại. Trong sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1) của Thượng Thư Bộ Binh Lê Quang Định soạn xong vào năm 1806 và dâng lên vua Gia Long (1802-1820), tổng cộng 10 quyển chép tay, trong đó quyển II, III và IV có tên là Phần Dịch Lộ, chép phần đường trạm, đường chính từ Kinh đô Huế đến các dinh trấn, gồm cả đường bộ lẫn đường thủy. Đoạn đường ghi chép về ĐƯỜNG TRẠM DINH BÌNH HÒA (2) phải qua 11 trạm dịch với đoạn đường bộ đo được 71.506 tầm (gần 132 km)
04/01/202206:30(Xem: 292)
Ngoài tên “thường gọi” là Cọp, là Hổ, tiếng Hán Việt là Dần, cọp còn có tên là Khái, là Kễnh, Ba Cụt (cọp ba chân), Ba Ngoe (cọp ba móng), Ông Chằng hay Ông Kẹ, Ông Dài, Ông Thầy (cọp thành tinh). Dựa vào tiếng gầm của cọp, cọp còn có tên gọi là Hầm, là Hùm, dựa vào sắc màu của da là Gấm, là Mun ... Ở Nam Bộ cò gọi cọp là Ông Cả, vì sợ cọp quấy phá, lập miếu thờ, tôn cọp lên hàng Hương Cả là chức cao nhất trong Ban Hội Tề của làng xã Nam Bộ thời xưa. Cọp cũng được con người gọi lệch đi là Ông Ba Mươi. Con số ba mươi này có nhiều cách giải thích: - Cọp sống trung bình trong khoảng ba mươi năm. - Cọp đi ba mươi bước là quên hết mọi thù oán. - Xưa, triều đình đặt giải, ai giết được cọp thì được thưởng ba mươi đồng, một món tiền thưởng khá lớn hồi đó. - Tuy nhiên, cũng có thời, ai bắt, giết cọp phải bị phạt ba mươi roi, vì cho rằng cọp là tướng nhà Trời, sao dám xúc phạm (?). Ngày nay, cọp là loài vật quý hiếm, có trong sách Đỏ, ai giết, bắt loài thú này không những bị phạt tiền mà còn ở
30/12/202116:05(Xem: 662)
Tối ngày 11/02 âm lịch (03/03/2012), vào lúc 10 giờ tối, lúc đó tôi niệm Phật ở dưới hai cái thất mà phía trên là phòng của Sư Ông. Khi khóa lễ vừa xong, bỗng nghe (thấy) tiếng của đầu gậy dọng xuống nền phát ra từ phòng của Sư Ông. Lúc đó tôi vội vàng chạy lên, vừa thấy tôi, Ông liền bảo: “Lấy cái đồng hồ để lên đầu giường cho Sư Ông và lấy cái bảng có bài Kệ Niệm Phật xuống” (trong phòng Sư Ông có treo cái bảng bài Kệ Niệm Phật). Khi lấy xuống Sư Ông liền chỉ vào hai câu: Niệm lực được tương tục, đúng nghĩa chấp trì danh, rồi Sư Ông liền chỉ vào mình mà ra hiệu, ý Sư Ông nói đã được đến đây, sau khi ngồi hồi lâu Sư Ông lên giường nghỉ tiếp.
25/12/202107:15(Xem: 326)
Cảo San đường Tuệ Nguyên Đại Tông sư (고산당 혜원대종사, 杲山堂 慧元大宗師) sinh ngày 8 tháng 12 năm 1933 tại huyện Ulju, Ulsan, một thành phố nằm ở phía đông nam Hàn Quốc, giáp với biển Nhật Bản. Ngài vốn sinh trưởng trong tộc phả danh gia vọng tộc, phụ thân Họ Ngô (해주오씨, 海州吳氏), Haeju, Bắc Triều Tiên và tộc phả của mẫu thân họ Park (밀양박씨, 密陽朴氏), Miryang, Gyeongsangnam-do, Hàn Quốc. Năm lên 7 tuổi, Ngài được sự giáo huấn của người cha kính yêu tuyệt vời, cụ đã dạy các bộ sách Luận ngữ, Mạnh Tử, Thích Độ, Đại Học, Tứ Thư và học trường tiểu học phổ thông. Vào tháng 3 năm Ất Dậu (1945), khi được 13 tuổi, Bồ đề tâm khai phát để làm tiền đề cho Bát Nhã đơm bông, Ngài đảnh lễ Đại Thiền sư Đông San Tuệ Nhật (동산혜일대선사, 東山慧日大禪師, 1890-1965) cầu xin xuất gia tu học Phật pháp. Thật là “Đàm hoa nhất hiện” khi những sợi tóc não phiền rơi rụng theo từng nhát kéo đong đưa. Tháng 3 năm 1948, Ngài được Hòa thượng Bản sư truyền thụ giới Sa di tại Tổ đình Phạm Ngư Tự (범어사, 梵魚寺), Geumjeong-gu, Busan, Hàn Qu
23/12/202107:31(Xem: 628)
Chánh Điện của một ngôi Chùa tại xứ Đức, cách đây hơn 40 năm về trước; nơi có ghi hai câu đối: "Viên thành đạo nghiệp Tây Âu quốc. Giác ngộ chúng sanh đạo lý truyền", bây giờ lại được trang hoàng thật trang nghiêm và rực rỡ với các loại hoa. Đặc biệt nhất vẫn là những chậu cây Trạng Nguyên nhỏ to đủ kiểu, nổi bật nhất vẫn là những chiếc lá đỏ phía trên phủ lên những chiếc lá xanh bên dưới. Ai đã có ý tưởng mang những cây Nhất Phẩm Hồng, có nguồn gốc ở miền Nam Mexico và Trung Mỹ vào đây? Và theo phong thủy, loại cây này mang đến sự thành công, đỗ đạt và may mắn.