01. Thái Tử Nhẫn Nhục Khải

29/08/201105:03(Xem: 6404)
01. Thái Tử Nhẫn Nhục Khải

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòathượng Thích Ðức Niệm
PhậtHọc Viện Quốc Tế, California, 1998

Thái Tử Nhẫn Nhục Khải

Trong kinh Thiền BíYếu Pháp, A-Nan thuật lại rằng: Một thuở nọ, đức Phật cùng với chúng đệ tửtỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người đang ở nước Xá-Vệ trong vườnCấp-Cô-Ðộc, rừng cây thái tử Kỳ-Ðà, thì tôn giả Ma-Ha Ca-Diếp dẫn người đệ tửcủa mình tên là A-Kỳ Ðạt-Ða đến ra mắt đảnh lễ đức Phật, rồi thưa: "Bạchđức Thế-Tôn! A-Kỳ Ðạt-Ða theo con tu học trọn hạnh đầu đà, ngày đêm tinh tấntrải đã 5 năm, tâm an trụ thâm sâu thiền định, đạt được đạo quả A-na-hàm. Ôngtiếp tục cố gắng hết sức để đạt đạo quả A-la-hán mà không thể đạt tới được. Ôngkhẩn cầu tha thiết xin phương pháp tu để đạt được quả Thanh-văn tối hậu. Connhập định quán sát thì thấy ông còn vướng mắc nghiệp chướng khó mà đạt đến đạoquả A-la-hán như ông mong muốn. Nhưng A-Kỳ Ðạt-Ða nhất quyết phải đạt cho kỳđược quả vị cùng tột Thanh-văn, dù phải bỏ thân mạng, chứ nhất định không camchịu lưu trệ ở quả A-na-hàm. Con thấy đạo lực của con không thể giúp ông đạtthành tâm nguyện, nên con dẫn ông ấy đến đây cầu xin Thế-Tôn từ bi gia hộ khaithị cho ông tỏ ngộ, để ông đạt thành sở nguyện".

Tôn giả Ma-Ha Ca-Diếpvừa dứt lời thì A-Kỳ Ðạt-Ða liền đảnh lễ quỳ gối chấp tay khẩn thiết bạch Phật:"Kính lạy đức thiên nhân Ðạo-Sư, mong Ngài từ bi thương xót khai đạo chocon. Không biết bởi nghiệp chướng gì ngăn ngại con phải bị ngưng trệ nơi quảA-na-hàm mà không tiến lên được đạo quả A-la-hán, dù con hết tâm lực tuhành!"

Ðức Phật từ hòa bảoA-Kỳ Ðạt-Ða rằng: "Lành thay A-Kỳ Ðạt-Ða! Ông hỏi việc ấy! Vậy ông hãylắng nghe và suy nghĩ kỹ, ta sẽ vì ông mà giải nói: Thuở đời quá khứ vô lượngkiếp về trước, lúc đó có đức Phật Ðại-Quang-Minh ra đời thuyết pháp độ vô sốchúng sanh. Thời bấy giờ có Quốc-vương nước Ba-La-Nại tên là Phạm-Ma-Da, tháitử của quốc vương này là Nhẫn-Nhục-Khải. Thái tử Nhẫn-Nhục-Khải tin sâu PhậtPháp, không sát sanh, chuyên tâm tu Thập Thiện, thực hành sáu pháp Ba-la-mật,chí thành hành đạo, không thiết ngôi vua cao quý, chỉ một lòng nguyện đạt đạoquả Vô-thượng Bồ-đề.

Trong nước có ôngtrưởng giả tên là Nhật-Nguyệt-Âm giàu sang phú quý, tôi tớ có đến hàng trăm,nhưng ông chỉ có người con trai độc nhất bỗng nhiên phát bệnh đại nhiệt phongnhập tâm, lòng sân hận bộc phát cuồng loạn mất trí, cầm dao chạy vào xóm làngtìm người chém giết. Ông trưởng giả thấy con điên loạn như thế rất đỗi buồn lo.Vì quá thương con, nên ông bưng lư trầm khói hương nghi ngút đi khắp bốn cửathành rải hoa phát nguyện: "Nếu thế gian này có vị thần tiên lương y,thánh nhân nào cứu được con tôi lành bệnh, thì tôi nguyện đem hết tất cả củacải sở hữu dâng hiến không một chút luyện tiếc".

Ðang lúc đó, thái tửNhẫn-Nhục-Khải ra thành dạo chơi, thấy đại trưởng giả vì quá thương con, màphát nguyện xả bỏ hết tài sản không chút tiếc nuối, thái tử thấy vậy động lòngtừ tâm về mối tình thâm phụ tử, nên chấp tay ngước mặt lên trời thầm nguyệnrằng: "Hỡi những đấng thần linh tiên nhân lương y thần dược, nên vì tìnhphụ tử của trưởng giả kia mà ra tay đến cứu hộ công tử".

Thái tử Nhẫn-Nhục-Khảithành tâm khấn vái vừa dứt lời, Ðại tiên nhân Nhựt-Quang đang tu trên núi tuyếtcảm đức thái tử, liền rời chỗ mình bay đến nói với trưởng giả: "Bịnh củacông tử do đại nhiệt phong khởi đã nhập tâm, nên phát cuồng. Theo kinh tiên dạythì phải lấy huyết của người hiền đức tu hạnh nhẫn nhục thoa vào mình công tửvà lấy tủy của người thiện tâm độ lượng cho công tử uống thì mới lành bệnhđược".

Vừa nghe Ðại tiên nhânnói xong, trưởng giả lo buồn suy nghĩ. Thái tử Nhẫn-Nhục-Khải thấy dáng điệu lorầu đau khổ của trưởng giả, nên cảm thông liền hỏi: "Trưởng giả có việcchi nan giải mà ưu tư lắm vậy?"

Trưởng giả đáp:"Thưa thái tử! Ðại tiên nhân Nhựt-Quang sau khi xem bệnh con tôi rồi bảocho tôi biết rằng, muốn hết bệnh thì phải lấy huyết người tu nhẫn nhục thoa vàothân nó, và lấy tủy người nhân từ tán nhỏ cho nó uống thì bệnh mới khỏi".Tôi đang nghĩ cách nào để lấy tủy huyết của chính tôi để cho con tôi mau lànhbệnh thì tối mới an lòng.

Thái tử Nhẫn-Nhục-Khảian ủi trưởng giả: "Tôi nghe kinh Phật dạy rằng, chúng sanh nào làm khổ chamẹ thì sẽ bị đọa vào ác đạo". Nay trưởng giả vì thương con mà cắt thịt lấyhuyết chẻ xương lấy tủy, hủy hoại thân thể như vậy, công tử sẽ phải bị đọatrong ba đường khổ biết bao giờ mới ra khỏi. Thôi, tôi xin làm việc đó thay chotrưởng giả để cho công tử sớm được lành bệnh. Nói xong, thái tử tay cầm daonhọn đâm vào mình lấy huyết và tủy cho con ông trưởng giả. Ðược huyết tủy củathái tử Nhẫn-Nhục-Khải thì công tử liền hết bệnh.

Riêng về thái tử, saukhi tự tay cắt mình lấy huyết, chẻ xương lấy tủy cứu bệnh, thì trời đất rungđộng sáu lần, vua trời Ðế-thích, Phạm-Thiên và vô số Thiên-tử kéo nhau đến chỗthái tử đồng thanh ca ngợi tinh thần đại-hùng-lực đại-từ-bi của thái tử, và hỏithái tử rằng: "Vì lòng từ bi cứu người mà hy sinh không tiếc thân mạng,hay vì muốn cầu được làm Phạm-Vương, Chuyển-Luân Thánh-Vương, cầu sanh về cõiTrời hưởng phước lạc?"

Thái tử nói với trờèế Thích: "Tôi chỉ nhứt tâm cầu đạo quả Vô-thượng Bồ-đề. Nếu nguyện tôithành thì xin cho thân thể tôi được hoàn nguyên như cũ". Thái tử vừa dứtlời, thân thể hoàn nguyên như trước, lại còn có phần khỏe đẹp hơn xưa. Liền đóthái tử nói kệ:

Nguyện khi tôi thành Phật
Phổ độ khắp trời người

Thân tâm không quảnngại

Lòng thương giúp tấtcả

Ðều được trụ Niết-bàn

Ðược an lành vĩnhviễn.

Thái tử nói kệ xong,chư Thiên mưa hoa cúng dường, lại đem nhiều châu báu đến hiến cúng thái tử.

Ông trưởng giả thấycon mình lành bệnh, liền cho người chở hết vàng bạc châu báu đến dâng tặng chothái tử để tỏ lòng đền ơn. Thái tử đem hết của báu đó bố thí khắp tất cả mọingười.

Ðức Phật nói đến đây,xoay về tôn giả Ma-Ha Ca-Diếp mà bảo rằng: "Nầy Ca-Diếp! Vua nướcBa-La-Nại khi xưa đó không ai khác, chính là tiền thân của Phụ-vương ta ngàynay. Còn trưởng giả Nguyệt-Âm xưa kia chính là tiền thân Ma-Ha Ca-Diếp ông ngàynay đó. Người con ông trưởng giả thời đó chính là tỳ-kheo A-Kỳ Ðạt-Ða đây. Vuatrời Ðế-Thích chính là ông Xá-Lợi-Phất ngày nay. Còn thái tử Nhẫn-Nhục-Khảichính là Thích-Ca ta đây vậy".

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 556)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 772)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 1762)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1258)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1611)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1211)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1789)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3352)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4598)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4164)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S