Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

3. Phẩm Nghi Vấn Thứ Ba

12/08/201101:08(Xem: 3378)
3. Phẩm Nghi Vấn Thứ Ba

LụcTổ Huệ Năng
KINHPHÁP BẢO ÐÀN
Tỳ KheoThích Duy Lực Dịch và Lược Giải
Từ ÂnThiền Ðường, Santa Ana Xuất Bản 1992

Phẩm Nghi Vấn Thứ Ba

Một hôm, Vi Sử Quân vìSư thiết hội Trai Tăng. Trai xong Sử Quân mời Sư thăng toà, cùng với quan chức,dân chúng cung kính lễ bái, hỏi Sư: Ðệ tử nghe HòaThượng thuyết pháp, thật là bất khả tư nghì, nay có một ít nghi vấn, xin Hòa Thượngtừ bi giải thuyết cho.

Sư nói : "Có nghi cứ hỏi, ta giải đápcho Sử Quân nói: Cái Pháp mà Hòa Thượng giảng dạy, có phải là tông chỉ của Tổ ÐạtMa chăng ? Sư đáp : Phải. Sử Quân nói : Ðệ tử nghe nói:Tổ Ðạt Ma lúc mới gặpLương Võ Ðế, vua hỏi: Trẫm suốt đời xây chùa độ Tăng, trai Tăng bố thí, đượccông đức gì ? Tổ Ðạt Ma đáp : Thật chẳng công đức. Ðệ tử chưa hiểu lý này, xinHòa Thượng chỉ dạy.

Sư nói : Thật chẳng công đức. Chớ nghi lờicủa bậc Thánh xưa. Võ Ðế tâm tà, chẳng biết Chánh Pháp. Xây chùa độ Tăng, traiTăng bố thí, ấy là cầu phước, chẳng thể đem cái phước ấy cho là công đức. Côngđức ở trong Pháp Thân, chẳng ở tại tu phước. Sư lạinói: Kiến tánh là công, bình đẳng là đức, niệm niệm vô ngại, thường thấycái diệu dụng chân thật của tự tánh gọi là công đức. Trong tâm khiêm tốnlàcông, ngoài hành lễ phép là đức; tự tánh kiến lập vạn pháp là công, tâm thể liàniệm là đức; chẳng rời tự tánh là công, ứng dụng vô nhiễm là đức. Muốn tìm kiếmPháp Thân của công đức, phải y theo đây thực hành mới là chơn công đức. Người tuhạnh công đức, tâm chẳng khinh người, thường hành pháp cung kính. Tâm nếu khinhngười, nhơn ngã chẳng dứt tức là chẳng công, tự mình hư vọng chẳng thật tức làchẳng đức, vì ngã chấp quá lớn, nên thường khinh bỉ tất cả. Thiện tri thức,niệm niệm chẳng gián đoạn là công, tâm bình đẳng, hạnh ngay thẳng là đức; tự tutánh là công, tự tu thân là đức. Thiện tri thức, côngđức phải do tự tánh tự thấy, chẳng phải bố thí cúng dường mà cầu được, nênphước đức và công đức khác nhau là vậy. Võ Ðế tự chẳng biết chân lý, đâuphải lỗi của Tổ Sư ! Sử Quân lại hỏi : Ðệ tửthường thấy Tăng tục niệm Phật A Di Ðà, nguyện sanh Tây Phương, được vãng sanhchăng? Xin Hoà Thượng chỉ thị để phá nghiế. Sư nói : SửQuân hãy nghe đây : Lúc Thế Tôn ở trong thành Xá Vệ thuyết Kinh Dẫn HoáTây Phương, rõ ràng từ đây đến đó chẳng xa. Nếu nói theo tướng thuyết, tínhtheo số dặm thì có mười vạn tám ngàn, tức thập ác tám tà nơi thân; đó lànóixa. Nói xa là vì kẻ hạ căn, nói gần là vì người thượng trí, người có hailoại,pháp chẳng hai thứ, do mê ngộ có khác nên thấy có nhanh chậm. Kẻ mê niệmPhậtcầu sanh nơi khác, người ngộ tự tin nơi tâm. Cho nên Phật nói : Tùy nơi tâm tịnh(trong sạch) tức Phật độ tịnh. Sử Quân làngười Ðông Phương, hễ tâm tịnh thì chẳng tạo tội, người Tây Phương tâm nếuchẳng tịnh cũng có lỗi. Người Ðông Phương tạo tội, niệm Phật cầu sanh Tây Phương,người Tây Phương tạo tội cầu sanh phương nào ? Kẻ mê chẳng rõ tự tánh, chẳngbiết tịnh độ trong thân, cầu nguyện nơi Ðông nơi Tây, người ngộ thì ở đâu cũng vậy.Cho nên Phật nói : Ở bất cứ nơi nào cũng đều an lạc vậy. Sử Quân nếu chẳng khởi ác niệm thì Tây Phương cách đây chẳng xa, nếutâm thường khởi ác thì dẫu cho niệm Phật cũng khó mà vãng sanh. Nay khuyên thiện tri thức, trước nhất phải trừ thập ác, tứcđã đi được mười vạn dặm, sau dứt tám tà, tức đã qua tám ngàn dặm vậy. Niệm niệmthấy tánh, thực hành bình đẳng và ngay thẳng, đến Tây Phương như búng ngón tay,liền thấy Di Ðà. Sử Quân chỉ cần tu thập thiện, đâu còn phải nguyện vãngsanh ! Nếu chẳng dứt thập ác tâm, Phật nào mà đến rước ? Nếu ngộ được pháp vốn VÔ SANH, thấy Tây Phương chỉ trong chốc lát, chẳngngộ tự tâm mà niệm Phật thì con đường vãng sanh xa xôi, làm sao đến được! NayHuệ Năng dời Tây Phương đến với các ngươi, chỉ cần trong sát na liền thấy trướcmắt, các ngươi có muốn thấy chăng? Ðại chúng đảnh lễ rằng: Nếu được thấy tạinơi đây, đâu cần cầu nguyện vãng sanh nữa, xin Hoà Thượng từ bi hiện cõiTâyPhương cho cả thảy đều thấy.

Sư nói : Ðại chúng, cơ thể của các ngươi làthành, nhãn nhĩ tỷ thiệt thân là cửa, ngoài có năm cửa, trong có cửa ý (ý căn), tâm là địa, tánh là vua. Vua ngụ nơi tâmđịa, tánh còn tức vua còn, tánh đi vua chẳng còn, tánh còn thân tâm còn, tánhđi thân tâm hoại. Tìm Phật ở nơi tâm, chớ nên cầubên ngoài. Tự tâm mê tức chúng sanh, tự tâm giác ngộ tức Phật, từ bi tứcQuán Âm, hỉ xả tức Thế Chí, thanh tịnh tức Thích Ca, bình đẳng ngay thẳng tứcDi Ðà, nhơn ngã là núi Tu Di, tà tâm là nước biển, phiền não là làn sóng, độchại là rồng ác, hư vọng là quỷ thần, trần lao là cá trạch, tham sân là địangục, ngu si là súc sanh. Thiện tri thức, thường hành thập thiện, thiên đàngliền đến, trừ được nhơn ngã, núi Tu Di sụp, phá được tà tâm thì nước biển cạn,chẳng sanh phiền não thì làn sóng lặn, quên bỏ độc hại thì cá rồng tuyệt. Tựtánh Như Lai trong tâm địa phóng đại quang minh, ngoài chiếu sáu cửa thanhtịnh, phá hết lục dục chư thiên, tự tánh chiếu soi, bên trong liền trừ tam độc,các tội địa ngục nhất thời tan rã, trong ngoài sáng tỏ, chẳng khác Tây Phương,nếu chẳng tu như vậy, Tây Phương làm sao đến được ?

Ðại chúng nghe nói, đều tự tin sẽ được kiến tánh, thảy đều lễ bái tán thánrằng : Lành thay, nguyện khắp pháp giới chúng sanh, nghe được pháp này sẽ đượctừ NGHI đến NGỘ.

Sư nói : Thiện tri thức, nếu muốn tu hành,tại gia cũng được, chẳng do tại chùa. Tại gia tu được như người Ðông Phương mà tâmthiện, tại chùa chẳng tu như kẻ Tây Phương mà tâm ác, chỉ cần tâm được thanhtịnh, tức là tự tánh Tây Phương. Sử Quân lại hỏi: Tại gia phải tu như thế nào ? Xin Hòa Thượng chỉ dạy. Sư nói : Nay ta vì các ngươi nói bài VÔTƯỚNG TỤNG, chỉ cần y theo đây mà tu, như thường ở với ta chẳng khác, nếuchẳng chịu tu, dẫu cho xuống tóc xuất gia, cũng đâu có ích lợi gì ? Bài tụngrằng :

Tâm bìnhhà lao trì giới,

Hạnh trựchà dụng tu thiền.

Ân tắcthân dưỡng phụ mẫu,

Nghiã tắcthượng hạ tương lân.

Nhượng tắctôn ty hòa mục,

Nhẫn tắcchúng ác vô tuyên.

Nhược năngtoản mộc thủ hỏa,

Ứ nê địnhsinh hồng liên.

Khổ khẩutức thị lương dược,

Nghịch nhĩtất thị trung ngôn.

Cải qúatất sanh trí huệ,

Hộ đoảntâm nội phi hiền.

Nhựt dụngthường hành nhiêu ích,

Thành đạophi do thí tiền.

Bồ đề chỉhướng tâm mích,

Hà laohướng ngoại cầu huyền.

Thínhthuyết y thử tu hành,

Thiên đàngchỉ tại mục tiền.

Dịchnghiã :

Tâm bìnhđẳng (bất nhị)chẳng nhọc trì giới

(tâmđịa chẳng quấy tự tánh giới).

Hạnh ngaythẳng (bất nhị) đâu cần tu thiền.

(Hạnh ngay thẳng là công phu bảo nhậm, ngộ rồi chỉ cần bảonhậm, khỏi phải tu thiền ).

Báo ân lànuôi dưỡng cha mẹ,

Nhân nghiãthì già trẻ thương nhau.

Khiêmnhường thì sang hèn hoà thuận,

Nhẫn nhụcthì việc ác chẳng sanh.

Nếu côngphu miên mật mãi mãi,

Kẻ ngu độncũng phải kiến tánh.

Thuốc đắnghay trừ được bệnh khổ,

Lời tráitai ắt là trung ngôn.

Tự sửaquấy sẽ sanh trí huệ,

Giấu lỗithì trong tâm chẳng lành.

Hằng ngàythường lợi ích chúng sanh,

Thành đạochẳng do bố thí tiền.

Bồ đề chỉở nơi tâm ngộ.

Ðâu cầnhướng ngoại để cầu huyền.

Nghe xonghãy theo đây mà tu hành,

Tịnh độ đãở ngay trước mắt.

Sư lại nói : Thiện trithức, cần phải y theo kệ này tu hành, nhận thấy tự tánh, thẳng đến Phật địa.Pháp chẳng đợi người, các ngươi hãy đi, ta về Tào Khê, hễ có thắc mắc thì đến hỏi.Lúc ấy Sử Quân và trong hội các quan chức, thiện nam tín nữ đều được tỉnh ngộ,tín thọ phụng hành.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn