Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Nhân Duyên Vào Đạo Phật

09/04/201312:57(Xem: 3639)
Nhân Duyên Vào Đạo Phật

hoasen3

Nhân Duyên Vào Đạo Phật

Chùa Pháp Bảo - Sydney 2000

Thích Phổ Huân

---o0o---


Lời giới thiệu

Đạo Phật chú trọng ở điểm: thấy - nghe - suy nghĩ và hành trì. Thấy có chính xác mới hiểu đúng không lệch lạc, thiên kiến. Nghe có đúng thật mới không truyền đạt sai sự thật. Suy nghĩ có chín chắn có cân nhắc kỹ càng, phát ngôn mới đúng. Hành trì chỉ là việc cộng lại những gì đã nghe, thấy, hiểu và suy niệm một cách cẩn thận.

Ba vị đại Bồ Tát thường được xưng tán lễ lạy là Văn Thù, Quán Thế Âm và Phổ Hiền qua quá trình quán chiếu: nhãn căn thanh tịnh, nhỉ căn viên thông và ý căn thuần thục vô ngại. Bồ Tát Văn Thù với đôi mắt thương nhìn cuộc đời. Ngài biết dừng lại để quán chiếu sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Đức Bồ Tát nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn; không thành kiến, không cố chấp; và vì vậy Ngài đã thấy và hiểu được tận gốc rễ của mọi khổ đau, rõ được tự tánh vô thường và vô ngã của vạn vật. Vì thế, chúng ta xưng tụng Ngài là bậc đại trí. Ngài dùng thanh gươm trí tuệ đoạn dứt phiền não, giải thoát mọi khổ đau cho chúng sanh. Bồ Tát Quán Thế Âm đạt được nhỉ căn viên thông. Ngài biết lắng nghe những tiếng kêu cầu thống thiết của chúng sanh để lân mẫn cứu giúp cho cuộc đời bớt khổ. Đức Bồ Tát chính là bà mẹ hiền lắng nghe và tin hiểu bằng trái tim cảm thông trong sự thương yêu tha thứ; không thành kiến, không phân biệt; không phán xét để làm vơi nỗi khổ đau của mọi người và của mọi loài. Ngài chỉ chăm chú lắng nghe thôi cũng đủ hiểu được những điều chúng sanh muốn nói để lòng thương yêu ban rãi đến khắp mọi cõi lòng. Bồ Tát Phổ Hiền với ý căn thuần thục vô ngại qua hạnh nguyện cao cả của Ngài để tâm thức đi vào cuộc sống, ban cho người niềm vui và giúp cho người bớt khổ. Dáng vẽ ung dung tự tại của Bồ Tát xông xáo vào đời mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều người. Đó là tất cả những gì hành giả cố gắng lần dò dõi bước theo để đem nguồn an lạc tuyệt vời đến cho mình và cho cả muôn loại .

Học và hành trì hạnh xuất thế cần phải trải qua quá trình tinh luyện đãi lọc thân tâm mà sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chưa thu nhiếp, điều phục là trên đường tu còn gặp phải thiên nan vạn nan và đích dừng chân hãy còn xa vời vợi. Dù vậy, những gương tu chứng của các bậc Bồ Tát, Tổ sư, hành nhân liễu đạo vẫn là thước đo chuẩn xác cho hành giả đang tập tểnh dò tìm. Đại Đức Thích Phổ Huân là đệ tử của Pháp Bảo, đã cố gắng trình bày những kinh nghiệm hành đạo, sống đạo, hiểu đạo qua tác phẩm: "Nhân duyên vào Đạo Phật" mà quý vị đang có trên tay. Đây là một sự cố gắng đáng khích lệ, vì soạn giả phải đóng khung trong căn nhà nhỏ tại thành phố chật hẹp Luân Đôn để hoàn thành chỉ trong thời gian vài tháng, tác phẩm dày trên 200 trang thế này!

Qua tác phẩm, những chủ đề quen thuộc được diễn tả bằng cái nhìn có chánh niệm của người xuất gia trong môi trường hải ngoại giữa thời đại văn minh khoa học tân tiến ngày nay, đủ nói lên chí nguyện và sự gia tâm tu trì của tác giả.

Với tư cách là thầy giáo thọ và cũng là người lãnh đạo, tôi xin hân hạnh viết mấy lời giới thiệu ngắn gọn này như là món tặng phẩm thanh quí gởi đến quý độc giả bốn phương. Và bây giờ nào mời quý vị hãy thử giở từng trang để đọc kỹ. Phần nhận xét tác phẩm hẳn xin nhường lại cho quý vị.

Sydney quý đông năm Canh Thìn

Ngày 18 tháng 8 năm 2000

T.T. Thích Bảo Lạc

 

Lời nói đầu

Làm quen đạo Phật là một duyên lành, hiểu đạo Phật là duyên lành lớn, và thực hành được đạo Phật ngay đời sống này là tận hưởng duyên lành đó. Chúng tôi may mắn làm quen duyên lành này, nhưng chỉ hiểu cạn cợt, do đó thực hành đang là từng bước. Nhưng đạo Phật lại quá nhiệm mầu huyền diệu, không như các môn học thế gian mà người tìm học chỉ thường được đền bù kết quả ở một đời này. Đạo Phật chẳng những đem lại kết quả đời này, lại còn đưa người đến những cõi miền xa nữa, nơi ấy là những biển trời tâm thức, không còn đối đãi bằng những dục tình phàm tục thế nhân. Và thế tất nhiên không còn hệ lụy của ý thức khổ vui.

Chính sự huyền diệu này, mà chúng tôi đã cảm nhận không phải lo lắng cố tạo cho mình sự thông hiểu như là môn học thế gian, bởi vì dù có hiểu thế nào cũng chỉ là nếm từng vị ngọt tươi mát của pháp vị, mà pháp vị đó nhiều như nước biển. Cho nên cố gắng cũng không sao nếm hết, tuy nhiên vị ngọt kia cũng chỉ là một vị mà thôi.

Trình bày đôi điều thô thiển trong quyển sách này, chúng tôi chỉ muốn chia xẻ một niềm vui, một niềm vui mà chúng tôi cảm được. Quan trọng hơn là những lời tự răn nhắc cho chính chúng tôi, để thầm nhớ duyên lành mà mình hiện đang tập tành từng bước. Và nếu trong một sát na duyên khởi nào, người đọc bất chợt thấy được tiếng vang đồng điệu ở một vài câu, ở trong đôi chữ thì đó cũng chỉ là những nhân duyên mà người đọc và người viết đã bỏ rơi đâu đó nay chợt tìm thấy lại.

Chúng tôi rõ biết khả năng và căn cơ của mình nên không dám móng tâm khuyên bày, lý giải cho ai đó, vì biển pháp mênh mông mà con thuyền quá nhỏ lại đơn độc một mình dám đâu không mong người chỉ dạy.

* * *

Khởi viết vào cuối năm 1999, và hoàn tất tại Luân Đôn vào giữa năm 2000. Tưởng không quên nhắc đến nhân duyên trợ giúp cho việc hoàn thành tác phẩm này; chúng tôi xin tri ân đến Anh Nguyễn Tiến Dõng đã hỷ tặng máy computer kèm theo phần nhu liệu tiếng Việt để chúng tôi có thể trực tiếp đánh thẳng vào máy. Anh chị Minh Đàn (Nguyễn Ngọc Điệp) hỷ tặng phần hình Monitor và máy in (hiệu BJC-2000). Đặc biệt gia đình Điệp Hương, đã tạo duyên cho chúng tôi có được tịnh thất yên tịnh để hoàn thành tác phẩm. Và cùng quý vị đạo hữu góp phần tịnh tài ấn tống.

Chúng tôi cũng xin tri ân quý vị Tác giả, dịch giả mà chúng tôi mạn phép trích dẫn trong sách này.

Cuối cùng không quên ân nghĩa dưỡng dạy của Thầy Bổn sư, là thượng Bảo hạ Lạc đã tạo nên những phương tiện nhân duyên tích tụ thành những ý tưởng như ngày hôm nay.

Vì là kẻ đang tập tành từng bước nên ý tưởng chắc phải sơ sót, vậy kính mong chư vị Thiền đức, tri thức học giả niệm tình chỉ dạy.

Nguyện đem công đức nếu có được này, xin cầu nguyện cho tất cả quý vị nói trên, thân tâm luôn sống trong ánh từ quang của chư Phật, và nhất nguyện cho thế giới hòa bình, hết thảy chúng sanh kẻ mất được siêu người sống an lạc cuối cùng sẽ hòa vào biển giác.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Luân Đôn, Vùng Woolwich - Greenwich 21 /7 /2000

Thích Phổ Huân

1. Nhìn qua đạo giải thoát

Thiên kỷ mới, đón mừng một kỷ nguyên khoa học tuyệt vời do con người xây dựng. Kỹ thuật vi tính, điện năng tin học đạt đến mức gần toàn hão - giúp con người ngồi lại gần nhau mà hai bên cách xa hàng ngàn dặm (miles), giúp con người tiết kiệm biết bao công sức, và công cụ để giải quyết gần theo ý muốn. Nền văn minh đầu thế kỷ 21 thật đáng hãnh diện cho nhân loại đang cư trú ở hành tinh xanh (trái đất), và có lẽ trong quỹ đạo thái dương hệ (solar system) này hành tinh xanh của chúng ta đang đợi sự thử thách lớn để tìm một nền văn minh khác!

Kỷ nguyên văn minh tinh xảo gần như chu toàn, thì tư tưởng và quan niệm sống con người cũng phải phù hợp theo. Nếu sản phẩm nào không hài hòa tương ứng với nền văn minh khoa học, tức thì sẽ bị đào thải. Do đó kỷ nguyên mới đánh đổ tất cả những gì là mờ ám mê muội, mê tín trá hình mang tính chất phản khoa học, phản thực tế.

Vậy thì vấn đề siêu khoa học, tâm linh con người phải chỉnh đốn lại, phải nhìn lại bằng cặp mắt khoa học hơn mà không dị đoan mê tín. Từ đây các tổ chức tâm linh, tín ngưỡng thuộc về huyền ảo mê tín, tự động sẽ đẩy mình rời xa cuộc sống hiện tại, mà kết quả là không còn gì để nói ở kỷ nguyên này. Điều đó thấy rõ ở các nước văn minh giàu có. Hiện tượng ở giới trẻ, họ không còn như ngày xưa nữa. Họ bây giờ không thể tin càn, tin mù quáng, tin không căn cứ bình phẩm, nhận định, suy tưởng, lý giải, thiết định v.v...

Viễn ảnh sự thật đã và đang xảy ra hiện nay như thế, vậy với đạo Phật thì sao? Câu trả lời chỉ là nhắc lại, vì từ lúc giáo chủ của đạo Phật, đức Thích Ca Mâu Ni, được xem như một con người, có kiểm chứng bởi lịch sử qua kinh điển và chứng tích cổ vật còn lại, đã tuyên bố ngay khi đem giáo lý phổ cập vào quần chúng. Ngài dạy rằng, con người hãy nên tin những gì, sau khi đã tư duy rõ biết điều đó, điều mà có thể thực hành mang lại lợi ích cho người và mình...Do như vậy mà đừng vội tin bất cứ ai, dù đó là những người nỗi tiếng, những người tu sĩ được ca tụng chứng đạo, hay những kinh sách được truyền tụng từ xưa... cho đến Thầy của các người...Thậm chí đến lời Ngài đang nói, cũng phải được cân nhắc, xét nghiệm tư duy trước khi thực hành.

Đó là con đường thực hành theo đạo giác ngộ. Gọi rằng đạo giác ngộ giải thoát ở đây thật đúng, như vậy không có thành kiến phân biệt đến các đạo khác. Cũng như khoa học là định luật tự nhiên mà ai cũng có thể xử dụng trong đời sống. Và vậy đạo giác ngộ đâu khác gì các môn khoa học thế gian. Cho nên hiện nay, đạo giác ngộ đang đi vào một số quốc gia có tiếng văn minh khoa học chẳng thấy trở ngại gì. Chẳng hạn Mỹ quốc là quốc gia có tiếng văn minh khoa học, nay lại thật chiếu cố đến đạo giải thoát. Tuy nhiên xem ra cũng là bình thường, vì đạo giải thoát là đạo khoa học tự nhiên, nên không có gì để ngạc nhiên cả. Thế thì khoa học càng tiến bộ đến mức nào đi nữa thì đạo giải thoát vẫn là đạo của khoa học, và dù năm mươi năm nữa con người có di dân lên được hỏa tinh (Mars) để sống, thì đạo giải thoát vẫn là đạo của khoa học. Hay nói một cách khẳng định không sợ lầm, là dù một trăm năm, ngàn năm tới, bấy giờ con người có thể bỏ vào túi áo cái máy điện tử nhỏ bằng hộp quẹt đốt lửa, rồi có thể bay đi đây đó, thì đạo giải thoát vẫn là chân lý không gì đánh đổ, và con người trong thời đại này trước sau cũng phải quay về tìm hiểu tu học hơn.

Cho rằng sao lại chủ quan đưa đạo Phật lên cao như thế! Vì đạo giải thoát soi thấu bản chất con người, và lột tả hết cả những bí ẩn về con người; do thế con người có thế nào đi nữa, có là cha đẻ ra khoa học đến đâu thì vẫn là con người trong cái bản chất mà đạo Phật đã vạch trần ra sự thật của nó. Cho nên thời gian, không gian không thành vấn đề với đạo giải thoát, và vậy đạo giải thoát xuất hiện ở đâu con người sớm muộn sẽ đạt đến chân hạnh phúc ở đó. Nhưng nếu có vấn đề trái ngược thế nào thì đó là luật nhân quả, và rồi cuối cùng sẽ đạt được chân hạnh phúc. Vấn đề trái ngược là hiểu đạo giải thoát mà không thực hành nên kết quả không đạt được như ý.

Nhìn nhận mà thấy ở các nước văn minh cường thịnh vật chất, con người vẫn sống bất an về tinh thần, và bệnh thần kinh căng thẳng vẫn đang cần nhiều bác sĩ tâm lý. Nhưng kết quả do không trị liệu tận gốc, nên từ trong gia đình cá nhân ra ngoài xã hội, đau khổ vẫn lan tràn. Cảnh vợ chồng ly dị, bất hòa, con cái tự do hành động, ảnh hưởng hầu như đến tất cả gia đình ở những xứ văn minh giàu có. Và người ta vì vô phương cứu chữa nên cố tìm quên vào thú vui vật chất, nhưng càng cố quên lại càng căng thẳng hơn, vì có thú vui nào mà không có giờ chung kết! Do đó tìm hiểu lại, thấy rằng đạo giải thoát giúp con người giải quyết được vấn đề bất an này, và giải quyết vấn đề theo Phật học tâm lý, để thích ứng với nền luân lý đạo đức mà khoa tâm lý học bên ngoài không thể cứu chữa được. Đó là những vấn đề thực tế chớ không phải bi quan. Bi quan là bất lực ngồi đó mà nhìn con bệnh chết, hay nhìn sự thật đau buồn vì là tất cả hoài công cứu chữa, để rồi ôm vào đầu toàn là hình ảnh mịt mờ đen tối.

Thế thì cần nên tìm hiểu đạo giải thoát để khỏi ngộ nhận, và trong đời sống làm người cần nên tìm học pháp giải thoát để đời sống thực tại hôm nay sáng sủa hơn, tươi mát hơn và có ý nghĩa hơn. Cho nên trong kinh có nói được làm người là khó, nhưng được biết Phật pháp (pháp giải thoát) còn khó hơn gấp trăm ngàn lần. Tại sao vậy? -Vì nếu hiểu được pháp giải thoát tất nhiên không còn luân hồi đau khổ nữa.

Đưa ra vài dữ kiện về đạo giải thoát, để thấy rằng mình thật may mắn chọn đúng đường đi, trong một thân xác vật chất tồn tại ngắn ngủi, và một tư duy (tư tưởng) hạn hẹp này. Thiết nghĩ chúng ta vô cùng may mắn tập tành từng bước, bước vào siêu xa lộ giải thoát hoàn chỉnh nhứt của một kiếp người, đó là tin hành theo pháp giải thoát.

Nếu hiểu nghĩa tu, theo đạo giải thoát hợp với khoa học tự nhiên, thiết nghĩ như sau:

Tu Phật có thể tu tại nhà, có thể tại công xưởng làm việc hay tại siêu thị chợ búa. Tu Phật không ép buộc phải đọc kinh, lễ lạy, không phải thắp nhang khấn vái, không phải mặc cho được áo vàng...Tất cả những hình ảnh này chỉ là phương tiện, hay phương cách giúp người đi đến chỗ toàn thiện, chớ không phải là cứu cánh ngay hình ảnh đó. Vì hình ảnh chỉ là bên ngoài, mà tu Phật lại từ bên trong. Khi bên trong đã thấm hiểu thì bấy giờ bên ngoài (tụng kinh, lễ Phật...) mới hoàn toàn là một hình ảnh đẹp - nó sẽ hiện ra ánh sáng chiêu cảm với ánh sáng Phật (giác ngộ) làm người chung quanh hấp thụ được, khiến họ thích đến gần ta hơn. Ngược lại chỉ là hình ảnh giấu đi phiền não, và càng tu làm người chung quanh càng nghi ngờ ra. Điều này nói chung cả tu sĩ và cư sĩ.

Một điều căn bản nhất, phải xem Phật là bậc giác ngộ, bậc Thầy dạy ta học đạo giải thoát, chớ Phật không phải ông trời, hay thần linh có uy quyền sai khiến hay giúp đỡ đưa ta về thế giới an lành. Phật chỉ giúp đỡ được khi ta giúp ta trước nhất, bằng không Phật chẳng giúp được gì. Nên hiểu rằng Phật là danh từ chung, nghĩa là ai cũng có thể thành Phật, chớ không phải Phật chỉ ở trong Chùa, Tịnh Xá hay chỉ có ở xứ Ấn Độ. Thời nay chúng ta đang sống thời kỳ của Phật Thích Ca, nên hình ảnh Ngài là Phật duy nhất ở cõi Ta Bà này, nhưng ở những mười phương thế giới xa xăm kia lại có vô số Phật. Riêng chúng ta nếu tu cũng sẽ thành Phật, sẽ vào một thế giới nào đó để độ chúng sanh, vì Phật có nghĩa là giác ngộ, tỉnh thức không còn tham, sân, si, ra khỏi ba cõi, Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới [1]. Hiểu được như vậy sẽ không còn mê tín và hợp cách với khoa học. Tuy nhiên vì ta đã say ngủ trong vô lượng kiếp, nên cần phải có giáo pháp của bậc giác ngộ (Phật) đánh thức ta dậy nên gọi là TU đó thôi! Cho nên nói cao hơn, theo chư vị Bồ Tát lớn, khi đã lãnh hội lời Phật dạy thì không còn tu gì nữa, vì tự nhiên mỗi hành động ý nghĩ tự nó đã tu rồi, còn gì nói đến chuyện TU! Các bậc tổ xưa thường hành theo lối này. Chẳng hạn nghe chuyện Tế Điên Hòa Thượng tưởng là huyền thoại, nhưng thật ra có vô số Bồ Tát lớn đang hành hoạt gần giống như vậy. Và thực tế nhất là Lục Tổ Huệ Năng qua việc tu hành của Ngài thật bình thường chẳng có gì lạ.

Tuy nói vậy nhưng cũng không phải đơn giản, do vì phải tu từ bên trong mà ra, nên phải nhìn thẳng vào mình rồi hài hòa đến mọi người, lấy cái đau của người mà học, nhìn phúc lạc của người mà tư duy. Nhưng mấy ai đã nhìn thẳng được mình, nghĩa là chinh phục chính mình! Việc này không phải là dễ, nên Phật đã dạy người thắng được mình mới là chiến thắng tối cao nhất.

Kết lại thì đạo giải thoát thật là một đường hướng an lành vui đẹp có thể hài hòa mọi hoàn cảnh và mang lại cho nhân loại sự thương yêu chân thật nhất. Xin trích lời của nhà Phật học người Mỹ, Tiến sĩ Peter D. Santina, đã

‘‘Nhiều người có địa vị đáng kể trong xã hội Tây Phương là Phật tử hoặc có người không phải là Phật tử, nhưng rất có cảm tình với Phật Giáo. Thí dụ cụ thể là nhà bác học Albert Einstein đã nhận xét trong bài tự thuật rằng ⮧ là người không tôn giáo, nhưng nếu ông là một người có tôn giáo thì ông phải là một Phật tử ’’ [2]

Nguyên văn, ‘‘There are many persons of considerable standing in western societies who are either Buddhists or who are sympathetic towards Buddhism. This is most clearly exemplified by the remark made by Albert Einstein in his autobiography, the remark That he was not a religious man, but if he were one, he would be Buddhist.’’

2. Nhân duyên vào đạo Phật

Mỗi người mỗi nhân duyên làm quen Phật pháp, từ việc làm quen trở thành gắn bó và từ gắn bó tới thể nhập lần về giác ngộ giải thoát. Qua nhiều nhân duyên đến với Phật pháp khiến chúng ta phải suy tư, trân quý, gìn giữ mãi buổi đầu phát tâm vào đạo.

Có nhiều duyên ngộ dẫn ta đến cửa đạo, ở đây xin được gợi lên một vài hình ảnh nhân duyên quen thuộc dắt ta làm quen với đạo giải thoát, để từ đó vui mừng thấy rằng đó là một thiện duyên.

Nhân duyên qua âm thanh

Như một nghệ thuật âm nhạc, đạo Phật có những pháp cụ: chuông, mõ, khánh, tang...những thứ này tạo nên âm thanh nhạc điệu, giữ được cách hòa tụng đều đặn nhịp nhàng, phụ họa cho lời kinh trầm bỗng, khiến người tụng, người nghe đi sâu vào thế giới âm điệu cao siêu, sâu thẩm giải thoát. Âm điệu chuông mõ hòa theo âm điệu lời kinh, có tác động sâu kín vào tâm hồn người nghe. Tác động này làm bừng dậy tâm thức, vơi nhẹ đi phiền não trong tâm. Qua đó khiến một số người cảm nhận niềm rung cảm, lắng đọng mà cho rằng chưa bao giờ tìm được một sự rung cảm lạ lùng như thế. Một sự rung cảm gần như xúc động, cơ hồ kéo lôi ta về một thế giới thanh tịnh sâu kín của âm thanh siêu thoát. Cho dù ta không hiểu trọn âm nghĩa của kinh, nhưng âm thanh đã chuyên chở hết những rung động và vượt lên trở ngại ngôn ngữ. Điều này đã làm chúng ta an tịnh, không cần thắc mắc nghi vấn cũng không cần tìm cầu giải thích; duy chỉ có nghe và thanh tịnh nghe, để được an lạc, để được trút bỏ tất cả âm thanh thô kệch lộc cốc, phiền hà trong đời sống. Nghe như vậy ta đã cảm được cái nghe huyền diệu, vượt lên...Cái nghe như Ngài Đơn Hà Thiền sư giải thích: ‘Chấm dứt được vọng động phân biệt của nội tâm, tánh nghe (chơn tâm) mới hiễn bày, trạng thái tâm lý này gọi là ‘Nhập lưu văn tánh’ (Tánh nghe đã nhập vào thực tánh). Bấy giờ công năng tri giác của tâm đối ngoại thì không còn ràng buộc bởi thanh trần (ngũ trần), đối nội thì không trú trước vào không tuệ. Đó là điểm đạt đạo của sơ tâm, và là cứu cánh của viên ngộ. [3]

Việc nghe Pháp do các vị giảng sư, giúp người nghe tìm vào đạo dễ hơn, vì lời pháp rõ ràng cụ thể, giảng dạy ngay vào chân lý đánh thức tánh giác đang say ngủ và hiển bày pháp lý vi diệu bằng cách nhắc lại lời dạy của kinh điển. Người nghe pháp vào đạo không hoàn toàn là do nghe từ vị tu sĩ, mà có khi từ một người bạn, hay một người không quen biết, thậm chí từ một đứa nhỏ tình cờ lập lại, nhái lại một vài tiếng trong kinh, hoặc một bài hát một vở kịch diễn về Phật pháp v.v...

Những nhân duyên kỳ lạ ngẫu nhiên ấy chỉ là một cớ duyên, đã hội đủ tàng chứa trong tâm thức được thời duyên xuất phát để lãnh hội. Do đó có người khi chưa trọn duyên trọn quả, tâm thức không thể đón nhận được những thanh âm Phật pháp, và vậy âm thanh kinh kệ, thuyết giảng chẳng gợi một cảm xúc gì. Tuy nhiên âm thanh kia vẫn không mất đi đối với người không duyên đón nhận; nó sẽ là một thứ duyên xa, tàng trữ vào tâm thức (thức thứ tám) một chỗ sâu sắc, vi tế chứa đựng làm mầm mống chủng tử cho kiếp vị lai xa xôi; và chắc chắn sẽ nẩy mầm khi đủ duyên hội tụ. Vậy thì chung quy cả hai âm thanh lời kinh tiếng mõ, những pháp ngữ đều khởi lên nhân duyên vào đạo trong sứ mạng tác động và khơi dậy tánh giác.

Qua hình sắc:

Hình ảnh gợi nên cảm xúc cho ta rất nhiều, có thể nói hình ảnh tác động rất mạnh vào tâm thức. Hình ảnh dẫn duyên vào đạo, đại lược là phong cảnh thanh nhàn yên tịnh, tượng hình Phật Thánh, và cảnh sống sinh hoạt của các vị tu sĩ nơi chốn già lam.

Với người đang bị vây bủa bởi lo toan, khích động tinh thần trong môi trường vật chất hỗn độn, họ sẽ dễ dàng tìm được cảm giác dễ chịu trong cảnh thanh tịnh. Nhưng không chỉ những người này mới cần đến cảnh yên bình như vậy, mà chính người đã sống nơi thôn quê vốn đã yên tịnh, vẫn thấy được cảm giác yên tịnh lạ lùng trong cảnh yên tịnh của đạo. Phong cảnh chùa có một sự yên lạ như thế, một sự yên lạ thoảng niềm vui, một sự yên lạ như vỗ về an ủi, thì thầm trong tâm, một sự yên lạ giữ được dung hòa giửa tâm và cảnh... Sự yên lạ này hẳn khác biệt sự yên lạ cô liêu, u tịch bên ngoài của thế gian, chỉ tìm thấy được bằng nhỉ căn, nhãn căn (tai, mắt) là giác quan thô kệch. Và thường thì cảnh yên lạ đó phải tọa lạc không gần quá thị tứ, mới tạo được cái yên tịnh thường tình để biến thành cái yên tịnh đạo.

Có người sau khi viếng chùa họ bỗng phát tâm. Sự phát tâm của họ càng bộc phát mạnh hơn, khi đối trước Phật đài. Hình tượng Phật với nụ cười từ bi, trí tuệ với tư thế hoa sen (kiết già) thiền tọa tự tại xuất trần. Chỉ cần nhìn thấy vậy thôi, đã đủ nhân duyên vào đạo. Lại có người tìm vào đạo khi chiêm ngưỡng phong cách các vị tu sĩ qua chiếc y vàng, nhất là chiếc y của phái nguyên thủy; hình ảnh này gần gũi với ảnh tượng đức Phật khi Ngài còn tại thế.

Khơi dậy lòng ước vọng, ngưỡng mộ hơn nữa, khi đối trước cảnh tụ hội của chư tăng trong mùa an cư kiết hạ, cảnh tượng này chẳng những rực rỡ màu y vàng giải thoát, lại làm sống dậy trong mắt người xem, một thế giới của những con người sống đời thanh tịnh.

Duyên vào đạo bằng hình ảnh có thể còn nhiều, tùy vào sự cảm nhận của mỗi người, nhưng tất cả hình ảnh như vậy đều có một tác động đưa họ về nguồn tâm Phật tánh.

Qua biến cố

Vào đạo bằng con đường thuận duyên, thiện lành là điều dễ thấy, ngược lại do từ nghịch duyên trong cuộc sống khiến người ta quay về tìm đạo cũng không phải chuyện lạ. Thời Phật tại thế, có câu chuyện thương tâm của vị tín nữ con Trưởng giả dòng Phạm Chí, đã trải qua cực cùng đau khổ; cảnh chết chồng, chết con xảy ra ngay trong một ngày đêm, rồi tiếp theo là hung tin, nhà bị cháy, cha mẹ cô và người trong nhà tất cả đều chết...Cô như điên dại, nhưng không bao lâu chưa được nguôi ngoai lại sa vào sự thương yêu chết chóc với những đời chồng khác. Đau đớn ghê rợn hơn, cô bị người chồng điên loạn buộc phải ăn thịt con mình...Trong khổ đau như vậy, cô bỗng nhớ về đấng Giác Ngộ rồi lần tìm đến... Không bao lâu cô trở thành vị Tỳ kheo ni đầy đủ phẩm hạnh và chứng Thánh quả Vô sanh (A La Hán). [4]Ngày nay trường hợp đau buồn, phát tâm vào đạo cũng khá nhiều. Tuy nhiên những đau thương biến cố cùng cách ấy khi đã nguội dần, sau thời gian về với đạo người ta lại hay quên đi, và những gì tàn tích xưa lại được khơi dậy, rồi từ đó nhen nhúm bộc phát hồi nào không hay biết, để rồi đánh mất đi nhân duyên ban đầu. Nguyên nhân này cũng có thể là bước vào đạo qua con đường mong được xoa dịu cứu vớt khó cảm được cái cảm vị của mùi hương giải thoát, để từ đó khó giữ được bước đi lâu dài hơn. Tuy vậy cũng có người từ sự đau thương đưa họ vào đạo một cách nhiệt thành, tinh tấn đến cuối cuộc đời.

Xét cho cùng, trong đời người ai cũng ít nhiều trải qua những biến cố khổ đau. Từ biến cố như thế làm nên những suy tư cho cuộc sống, và do đây tìm hiểu vấn đề nhân sinh đạo lý; mà Phật pháp là con đường diệt khổ cho nên thấy rằng, qua biến cố khổ đau người ta có cơ hội nhận ra con đường giải thoát hơn.

Qua những tìm tòi nghiên cứu

Nhân duyên vào đạo qua con đường sách vở, chữ nghĩa, số người này có thể khá nhiều so với thời gian cách đây khoảng hơn 1000 năm, hay gọi là thời tượng pháp. Lý do xã hội bây giờ là xã hội văn minh cơ khí, điện tử. Người ta làm việc gì cũng cần có kiểm chứng, thực nghiệm. Vấn đề nào thiếu luận cứ, biện chứng khoa học xem như mê tín, vô bổ. Do vậy tìm về đạo người ta thật cẩn trọng, mà cẩn trọng bằng cách nào nếu không phải là bằng sự uy tín qua sách vở, nghiên cứu có tính cách triết học, khoa học do những tác giả bác học, học giả, sử gia viết ra.

Trong các đại đệ tử của Phật, Ngài Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên trước kia là hai nhà du sĩ trí thức, khao khát tìm cầu chân lý. Khi chưa gặp Phật các Ngài đã tự tìm đạo qua kiến thức hiểu biết của chính mình, do sức hiểu biết cao rộng như thế khiến không một danh sư nào trong thời đó lôi cuốn hai Ngài được. Cuối cùng, nhân duyên gặp vị tu sĩ trong dáng điệu xuất trần, đệ tử của đấng Thiên nhân sư (Đức Phật), rồi chỉ thưa thỉnh vài câu đã đưa hai vị trí thức tìm đến đạo giải thoát. Khi đã nhận hiểu chân lý giải thoát, các Ngài mới thấy sự hiểu biết của hai Ngài chỉ là những hạt bụi lăn tăn trong vũ trụ, khi so với vô số mây bụi là những giáo pháp mà đức Thế Tôn giảng dạy. Từ đó hai Ngài bừng sáng niềm tin, bắt đầu dấn thân vào đạo, rồi không bao lâu đắc quả Thánh.

Ngày nay việc nghiên tầm giáo điển trước khi vào đạo cũng là một phương tiện phổ thông. Do vậy một số người đến với đạo bằng con đường này đã giúp họ có lòng tin sâu sắc, vì đơn giản rằng Phật pháp đã vượt cao hơn những gì họ tưởng. Nếu nói về khoa học thì giáo lý đạo Phật được diễn bày thật khoa học qua cái nhìn về vũ trụ, nhân sinh. Điều này được thấy, qua nhận định của nhà học giả Âu Châu, Henri Percheron mà Giáo sư Nghiêm Xuân Hồng đã viết trong sách "Lăng Kính Đại Thừa": Giáo lý Phật hiện nay đương lan tràn sang cõi trời Tây, và lạ thay, kẻ đồng minh lớn nhất của giáo lý đó lại chính là khoa học ..."

Nếu nói về triết học, thì nền triết học Phật pháp chẳng những rõ ràng khúc chiết mang lại cái nhìn thiết thực trong đời sống, trả lời nhiều nghi vấn về nhân sinh, vũ trụ và nhất là giúp người giải thoát khỏi khổ đau, chứ không là nền triết học chỉ làm thỏa mãn đầu óc phiêu lưu văn chương chữ nghĩa, khó phổ cập vào mọi tầng lớp quần chúng. Trong quyển Sử Cương Triết Học Ấn Độ đã tóm tắc nêu rõ mục đích triết học Phật giáo như sau:

-Triết học Ph�������t Giáo trong thực tế cải tạo đời sống hiện hữu.

-Triết học Phật Giáo phải đi đôi với thực hành không phải lý thuyết suông.

-Nhờ sự uyển chuyển và khai phóng của Triết học Phật giáo mà thích hợp căn cơ của chúng sanh.

-Mục đích của Phật giáo là để đi đến chỗ cứu cánh giải thoát hoàn toàn, không phải món đồ thẩm mỹ ngoạn mục. [5]

Đó là phương diện đến với đạo giác ngộ bằng đường hướng trí thức, tuy nhiên dù sao số người vì hiếu kỳ, tìm hiểu, so sánh tôn giáo đã mặc nhiên tạo duyên đi vào con đường giải thoát.

3.Tu theo Phật pháp

Khi nói tu theo Phật, có nghĩa còn có nhiều đường hướng khác để tu. Nhưng đã là tu thì đường hướng nào cũng là tu thiện tu lành, hay ít ra tu sao cho hơn cái hiện tại mình đang là đang có... Ở đây chúng ta là người chọn con đường tu Phật, tất nhiên chúng ta nên suy niệm một vài điều cho vấn đề tu học của mình. Chúng ta không nên tự khiêm (hạ mình) cho rằng việc tu Phật chỉ dành cho các vị tu sĩ, còn mình hạng cư sĩ ràng buộc với thế gian làm sao vói tay tới!

Trong pháp giải thoát có nhiều quả chứng tùy do trình độ tu tập của mọi người. Chẳng hạn tứ Thánh quả: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán [6]. Bốn quả vị này chưa phải là giải thoát rốt ráo, nhưng là bốn bước thành tựu đi đến quả Phật. Trong bốn quả này trừ quả A La Hán bậc vô học, ba quả kia còn là hữu hậu tức còn đang tinh tấn phấn đấu đi lên. Và đặc biệt ba bậc này, người Phật tử tại gia có thể đạt được mà không cần phải xuất gia. Việc này thời Phật còn tại thế xảy ra không khó, nhưng thời nay cách Phật hơn hai ngàn năm trăm năm hẳn là rất hiếm; nhưng không phải vì hiếm mà không có, chỉ vì ta không nhận ra các vị đó. Các vị có thể mang nhiều hình tướng lăn xả vào đời, với đủ địa vị, có khi là người chủ của ta, có khi làm người giúp việc và có khi là người mà thế gian không bao giờ ngờ được. Nhưng một điều, các vị thường luôn có một hành vi vị tha, một tinh thần nhân ái, và tư chất cao thượng sáng ngời dù ở bất cứ địa vị, tình huống nào. Các vị có thể mang giáo pháp giải thoát vượt qua mọi hình thức thế gian.

Về giới tu sĩ chứng quả (chứng luôn quả thứ tư) thì chắc chắn phải có, nhưng cũng lại khó tìm khó thấy, khó tìm khó thấy vì các vị không bao giờ nói ra là mình thế này thế kia. Kinh Phật có dạy, Bồ Tát thật sự chỉ khi nào giờ phút ra đi của các Ngài, hay khi các Ngài vắng bóng thì người ta mới nhận ra các Ngài là Bồ Tát.

Trường hợp đức Đạt Lai Lạt Ma vị lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, được mọi người công nhận là hình ảnh một sứ giả hòa bình thánh thiện. Người dân Tây Tạng cho Ngài là hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm v.v...Điều mà mọi người ca ngợi tư chất thánh thiện của Ngài, đó là việc không thể phủ nhận; nhưng việc Ng��i là vị tu sĩ chứng quả thế nào thì chúng ta không thể biết, vì chúng ta chưa phải là Thánh nên không có thiên nhãn để nhận ra. Chúng ta chỉ nhờ căn cứ qua lời Phật và chư Thánh Tổ giảng dạy để phần nào suy đoán mà thôi.

Theo kinh dạy thì bốn Thánh quả vậy, chỉ là hàng Thanh Văn, Duyên Giác Tiểu thừa chưa phải là Đại Thừa Bồ Tát, nên dù là quả vô học như A La Hán cũng cần tiếp tục tu nữa để được giải thoát. Nhưng trong kinh Pháp Hoa Phật lưu ý ở Phẩm Phương Tiện thì chẳng có Thanh Văn, Duyên Giác cả đến Bồ Tát, mà chỉ có Phật thừa. Phật dạy từng bước chứng quả, chỉ là phương tiện đi tới cứu cánh là nhất thừa Phật quả. Điều này đã đánh thức các vị mới đắc quả Thánh, để không khởi lòng chấp ngã chấp pháp. Từ đây các vị Thánh mới dễ dàng bước lên quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác; do đó chúng ta không lạ gì khi biết các vị Thánh còn gia công tu trì hơn cả người mới phát tâm cầu đạo. Và khi hiểu như thế, ta lại càng không dám phân biệt, pháp này là Tiểu thừa, pháp kia là Đại thừa, bởi vì tất cả chỉ là giai đoạn tiến đến quả giải thoát; hơn nữa một người không có tâm từ bi trí tuệ, không hướng đến giải thoát, không cầu đạo Vô Thượng để thành Phật thì không thể đạt được quả Thánh dù là đắc quả Dự Lưu (Tu Đà Hoàn). Cho nên chớ đem tâm trí phàm nhân mà bình phẩm địa vị tu chứng của người khác, để không khéo kẹt vào quả báo khẩu nghiệp. Và nếu có thể bằng cái nhìn sâu rộng bình đẳng, chúng ta cũng dè dặt kính trọng cả người cư sĩ nào thật tu thật học như các vị tu sĩ vậy. Vì biết rằng vị cư sĩ ấy đang đi trên con đường thành Phật, nên sự kính phục của ta chắc chắn mang lại công đức cho ta. Điều này Tôn Giả Sàntideva đại sư Ấn Độ đã dạy: ‘‘Đối với các bậc hiền giả khéo dùng phương tiện hướng dẫn làm lợi ích cho chúng sanh, Bồ Tát luôn đảnh lễ kính trọng. Đối với mọi người Bồ Tát luôn nhún nhường như một người đệ tử vậy.’’ [7]

Suy niệm như thế, ta thấy quả tu giải thoát có thể đến với bất cứ ai; và việc chuẩn bị bước đường tu học của mình cũng đã bắt đầu tiến tới.

Bây giờ chúng ta đã rõ, mục đích của việc tu theo Phật là muốn giải thoát, là muốn thành Phật; và tùy theo căn cơ trình độ hoàn cảnh của mỗi người mà việc tu có dễ có khó, nhưng chung quy cũng phải tu cho được thành Phật. Bởi không ai tu Phật lại muốn làm trời hay tu Phật để được thỏa mãn hỷ hê phước báo thế gian. Nếu vậy uổng cho ta đã gặp một khu mỏ kim cương mà đi lựa toàn sỏi đá.

Vậy ta phải bắt đầu tu từ đây, phải bắt đầu bỏ hết đi những đá sỏi, mà chỉ lấy cho được những hạt ngọc kim cương.

Từ lúc làm quen qua những nhân duyên vào đạo, chúng ta đã bước được vào điện Phật, đã thưa chào các vị đồng tu bằng cử chỉ chúc lành giải thoát (A Di Đà Phật), đã lạy Phật dâng hương, đã phát tâm hướng thiện tìm về lối sống tỉnh thức, đã nhìn người với cái nhìn bình đẳng v.v...Tuần tự tạo duyên như vậy, đã đưa ta đến phần nào con đường tu niệm, và con đường tu niệm bây giờ là phải làm sao thấy được con đường giải thoát. Nghĩa là phải thấy chính ta thế nào, để vững bước trên đoạn đường đi. Ta phải thấy được phiền não trong ta nhiều ít! Phải thấy mức độ tham, sân bộc phát yếu mạnh ra sao, và trong một ngày ta được bao lâu sự yên tịnh.

Thật sự mà nói, bao nhiêu tiếng đồng hồ trong ngày, ta đều để vọng tâm làm chủ, ít khi nào sống được cho ta. Sống cho ta, không có nghĩa từ bỏ hết công việc, từ bỏ giao thiệp với mọi người...mà có nghĩa sống trong ý thức việc làm của ta. Khi sống ý thức thì tâm ta tỉnh táo, khi

tâm tỉnh táo sáng suốt, vọng tâm không có mặt, như vậy thật sự ta đã bắt đầu bước vào giai đoạn tu Phật. Nhưng ý thức bằng cách nào? Ý thức bằng cách sống theo đúng những gì mình tu Phật.

Người mới bước đầu vào đạo giải thoát được quy y Tam Bảo (Phật Pháp Tăng), rồi phát nguyện thọ trì ngũ giới [8]chính thức làm con Phật (Phật tử). Con Phật thì có nhiều hạng tu, hạng giữ giới nhiều ít tùy vào căn cơ mỗi người, như cư sĩ ngoài đời có thể thọ ngũ giới, thập thiện hay Bồ Tát giới [9]. Hàng tu sĩ thì bước đầu là mười giới, sau hai trăm năm năm mươi giới (250) dành cho nam tu sĩ, và ba trăm bốn mươi tám (348) giới cho nữ tu sĩ [10].

---------Đó là những phương tiện, như con thuyền lớn nhỏ đưa người qua sông mê lên bờ giải thoát. Và nếu người tài

giỏi biết lèo lái con thuyền, thì dù là thuyền nhỏ cũng lướt khỏi sóng to đến bờ giải thoát, ngược lại vô tài bất lực (không giữ giới tu), thuyền có to lớn cũng vẫn mất hướng, trôi dạt vô phương làm mồi cho sóng dữ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh).

thức việc làm của mình là giữ giới tu học, giữ giới tức là giữ con người mình, vì tu thiện làm ác cũng từ ngay con người mà ra.

Trong con người chứa đựng ba nghiệp, ba nghiệp này quyết định cho hành trình vào đạo, nhập đạo và chứng đạo. Đó là Thân, Khẩu, Ý. Tu thân, khẩu, ý là thân không làm ác như sát sanh, trộm cắp tà dâm; nếu là tu sĩ thì không dâm dục - Khẩu phải nói lời chân thật hiền hòa (chánh ngữ), và Ý là phần quan trọng hơn, có thể kiềm thúc được thân, khẩu do vậy tu sao cho Ý được thanh tịnh không tham không sân không si. Vậy khi ba nghiệp được thanh tịnh, mặc nhiên chúng ta giữ giới được thanh tịnh. Việc giữ thanh tịnh ba nghiệp, lại không có nghĩa cản trở sinh hoạt đời sống của ta, và như không hiểu ta sẽ tích cực quá việc giữ giới, mà chẳng làm được chuyện gì công đức. Ta nên tích cực làm thiện hơn để chu toàn công đức giữ giới; chẳng hạn phải bố thí, phóng sanh, thương người, thương vật để công đức trì giới, được tăng trưởng. Người sơ cơ học đạo giải thoát ở bước đầu, phải tu bồi công đức phước báo, nhất là người cư sĩ, bởi vì sự tạo thiện nghiệp, ác nghiệp dễ phát sinh song song với nhau. Người cư sĩ tại gia phải đương đầu vào cuộc sống, phải va chạm luôn với đời, nên ba nghiệp khó lắng động, vì khó lắng động nên khó thanh tịnh. Do đó đôi khi cùng một lúc tạo thiện tạo ác mà không hay biết. Chúng ta có thể lấy thí dụ, một người vừa sung công tiền của cho một cơ quan từ thiện, hành động đang được tán dương, nhưng bỗng nghe người khác chê trách là vẫn còn thua kém người kia, số tiền hiến tặng đó đâu có gì là chánh đáng v.v...Từ lời gièm pha như thế, người không hiểu đạo giải thoát sẽ có tâm phản lại, thế là ti��u mất công đức và trong lúc giận tức vô tình sanh ra ác nghiệp. Do đây lại thấy, từ một người thật tâm tạo nghiệp tốt trở thành phản lại nghiệp tốt của mình. Tuy nhiên dù trường hợp tạo nghiệp ở đời phức tạp vậy, hàng con Phật tại gia vẫn nên luôn luôn tìm cơ hội để tạo thiện nghiệp phước báo; bởi khi làm một hành động thiện là bồi dưỡng ý nghiệp được trong sáng. Ý nghiệp trong sáng là nhân lành đưa đến ý thanh tịnh. Trong ý thanh tịnh như vậy mới điều khiển được hai nghiệp thân và khẩu, và thế việc giữ giới có thể lần lần dễ dàng hơn. Điều này nói chung cả hai giới xuất gia và tại gia.

Người tu sĩ xuất gia cũng chẳng khác là bao, quý Ngài giữ giới cũng bằng cách gia công tinh tấn tu dưỡng huệ đức, thanh tịnh ba nghiệp qua công phu thiền niệm, quán tưởng, đọc tụng thường xuyên kinh điển. Và khi quý Ngài công phu đã thuần thục thì giới tướng, giới thể [11]của

các Ngài sáng ra, mà người đối diện có thể cảm nhận được. Lúc đó với các Ngài, không còn thấy gò bó gì ở giới nữa. Cho nên chúng ta thường nghe qua chuyện tích chứng đạo của các Ngài có vẽ lạ thường lắm. Như thế cách sống của người tu Phật phải lấy giới làm nền tảng. Lấy giới làm thân mạng sống còn, hễ sợ thân bệnh mạng vong, thì cũng nên sợ phá giới như phá thân mạng vậy. Và gìn giữ thân mạng ra sao, lại y như gìn giữ giới hạnh như thế.

Tìm hiểu lại cuộc đời đức Phật, Dù Ngài trên lý tánh đã là đấng tối thượng, nhưng dưới nhiều cặp mắt phàm nhân, một số người vẫn nhìn Ngài như một con người bình thường giản dị, tuy nhiên hình tướng giản dị bình thường của Ngài đã thể hiện một sự uy nghi điềm tĩnh, cụ thể qua sự sinh hoạt, đi đứng nằm ngồi an nhiên tự tại vượt lên sự siêu hình huyền ảo. Và chính từ đây phàm nhân quy ngưỡng Ngài, ngay ở cách sống ý thức chánh niệm đó, hơn là thấy Ngài hiện tướng thần thông của vị đại Thánh. Hình tướng trang nghiêm đó là do Ngài nhiếp thủ trong sự trì giới. Ngài hay thường kể lại tiền thân của Ngài, do luôn luôn giữ giới và tu giới, cho nên bao phước báo công đức trong vô số kiếp đã thành tựu và hiện ra tươi đẹp như ngày nay. Do vậy, giờ phút cuối cùng tại Sa La Song Thọ đức Phật đã từ bi cân nhắc: ‘‘Này, các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi! Các người hãy lấy pháp của ta làm đuốc! Hãy theo pháp của ta mà tự giải thoát. Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác,

đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác ngoài các người ...’’

‘‘Này, các người đừng nghe dục vọng mà quên lời ta dặn. Mọi vật ở đời không có gì là quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có đạo ta là quý báu. Chỉ có chân lý đạo ta là bất di bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hởi các người thân yêu của ta.’’ [12]

Chúng ta thừa biết, theo Phật pháp thì thế gian ta đang ở là cõi dục, nghĩa là tham muốn và từ chỗ tham muốn không ngừng nên thành cõi khổ, vì đơn giản là sự tham muốn không thể toại nguyện hết được. Do vậy dù sống không gian thời gian nào ở cõi Ta Bà này, không thể tránh được khổ. Cũng may cho ta là thế gian vô thường các pháp vô ngã, nên theo đó mà ta chẳng sống hoài chịu khổ; và trong cuộc đời con ngư���i không phải toàn khổ mà vừa khổ vừa vui. Chính chỗ khổ vui đối đãi này, suy ra cõi người phúc lạc hơn cõi trời; bởi do có khổ mà đưa ta đến chỗ thấy đạo dễ hơn.

Giáo lý giải thoát dạy ta làm sao cho mình được thanh tịnh thân tâm, và phương pháp làm được như thế là giữ giới và tu thiền. Tu thiền có nghĩa giữ sao cho tâm được an tịnh, sáng suốt, để ý thức được sự sự vật vật như sự thật của nó, chớ không phải khẳng định chấp chặt buộc phải ngồi xuống bán già, kiết già mới là Thiền định, mà không hiểu rằng tư thế Thiền tọa chỉ là phương tiện để là kết quả đứng dậy đi vào đời sống.

Về phần giữ giới sẽ sanh ra thanh tịnh thân tâm do vậy mặc nhiên cũng đã tu thiền.

Bây giờ ta đã hiểu trọng tâm của việc tu thành Phật, và vậy có thể từ đây an tâm cho cuộc khởi hành qua sông giải thoát.

4. Hiểu một ít Phật pháp

Có duyên vào được ngôi nhà Phật pháp rồi, tiếp theo cần nên tìm hiểu một ít về giáo lý Phật, dù là một ít cũng quan trọng, vì đây là nền tảng cho bước đi dài đến giải thoát. Nhưng thế nào là một ít để tạm gọi là nền tảng! Trong khi có người đã từng nghiên cứu, đào sâu Phật pháp vẫn còn thấy mình chưa nắm được gì là căn gốc, vậy chỉ có hiểu một ít mà cho là nền tảng! Thật ra điều này quả đúng, đáng quan tâm, và hàng sơ cơ học Phật chúng ta thường hay lo ngại. Tuy nhiên căn cứ theo lời Phật dạy và xét theo lịch sử truyền thừa của đạo Phật nổi bật những điểm mà chúng ta nên an tâm: Trước nhất ai cũng rõ biết đạo Phật là đạo sống, là con đường, là lộ trình dẫn đến chứng nghiệm...Đã hiểu là con đường, là lộ trình thì hiểu ngay đến sự di hành, tiến bước. Khi hiểu là đạo sống thì phải hiểu là hiển bày, linh hoạt. Từ ngay điểm chính yếu này, chúng ta nhận ra thực tế rõ ràng, bằng hành động cho việc vào đạo, mà không phải chỉ dọn mình bằng kiến thức giáo lý để vào đạo. Nhưng cho dù có quên mình đi sâu vào kiến thức Phật học suốt đời cũng chẳng thẩm thấu gì với biển Phật, vì đã nhiều như nước biển thì làm sao uống hết được. Đã không uống được hết, thì lộ trình tiến tới chứng ngộ vẫn còn xa. Nhưng một điều, dù biển Phật mênh mông duy chỉ có một vị. Đó là vị mặn. Vậy người ta có thể đứng bên bờ biển Thái Bình Dương cũng cảm được vị mặn Đại Tây Dương. Tương tự, không có sự khác biệt, giữa niềm an lạc chứng đạo của người thực hành Phật pháp từ giáo lý căn bản, với người thực hành theo giáo lý Kim Cang, Bát Nhã đại thừa v.v...

Hòa vào biển Phật là hòa vào Phật tánh, hòa vào Phật tánh thì đâu còn cái ngã của anh, của tôi. Nhắc lại truyền thuyết thời Phật có Ngài Chu Lợi Bàn Đà Dà là đệ tử của Phật, xuất gia lâu năm mà chẳng học hiểu Phật pháp, cũng bởi tâm trí không sáng. Chỉ có một bài kệ nhỏ mà học cả năm cũng không xong. Chướng nạn này ai nghĩ rằng Ngài sẽ chứng nỗi thánh quả ! Vậy mà Ngài đã chứng đạo đắc quả, tự tại an lạc không khác chi các đại đệ tử lớn của Phật. Nhân duyên này là do Phật khơi dậy tánh giác của Ngài, để Ngài có cơ hội tự mình tìm lại dấu vết xưa mà gội rửa dấu vết tối tăm đời nay. Phật dạy Ngài chỉ thầm đọc và quán xét câu kệ quét nhà, để chuyển tiếp vào việc quét bụi, như quét những trần lao, cấu nghiệp của chính mình. Thế là Ngài liễu đạo, chứng quả.

Thời kỳ Phật pháp truyền sang Trung Hoa, cách đây hơn ngàn năm có Bồ Tát Huệ Năng (638-713) cũng đã liễu đ���o với nhân duyên lạ lùng, do nghe một người tụng kinh Kim Cang, trong khi thân phận Ngài lúc đó chỉ là một cư sĩ, xuất thân từ hạng người nghèo lại chẳng quen biết gì chữ nghĩa. (không biết chữ)

Thế thì biết rằng, yếu nghĩa Phật pháp tuy sâu rộng vô cùng nhưng vẫn đơn sơ, giản dị thường tình lan tủa ở mọi hoàn cảnh, tình huống. Chúng ta có thể cho rằng những trường hợp vậy, là do những tích duyên từ quá khứ kiếp nên mới có được. Tuy nhiên ta không thể phủ nhận, Phật lý mà các vị cảm được giác ngộ vẫn là việc xảy ra rất thường tình trong đời sống chúng ta. Cũng như dù các Ngài thị hiện để giác ngộ, ta vẫn thấy Phật pháp luôn luôn gần gũi sờ sờ ra đó, và chính như thế là niềm tin lớn giúp ta an tâm với những gì ta hiểu về Phật pháp. Điều này còn giúp ta tránh đi mặc cảm cho rằng, mình sẽ vô phương hiểu được đạo, rồi đâm ra băn khoăn, lo lắng. Rồi khi phát được duyên am hiểu, lại cố sức bồi đắp kiến thức Phật học cho nhiều, mà quên hẳn Phật đạo là ngay ở việc thực hành xảy ra trong đời sống.

Sau đây với kiến thức sơ cơ của người mới làm quen vào đạo giải thoát, chúng ta thử tìm về giáo lý Duyên sinh để làm nền tảng. Chọn giáo lý này, vì đây là một giáo lý quan trọng và căn bản nhất. Tuy nhiên cũng không phải dễ dàng lãnh hội nghĩa lý thâm sâu của lý Duyên sinh. Ngoại trừ các bậc giác ngộ, chứng đắc pháp giải thoát, phàm nhân không thể một đời thông hiểu. Kinh kể rằng, có lần Phật đã lưu ý Ngài A Nan đừng nên xem thường giáo lý duyên sinh. Bậc đa văn kiến thức như Ngài A Nan mà Phật còn cân nhắc. Nghĩ lại chúng ta những người chập chững vào đạo, lại sống xa thời Phật cả ngàn năm; chỉ biết giáo lý duyên khởi (là cách gọi khác của Duyên sinh) một cách gián tiếp, mà không do từ kim ngôn của Phật nói ra; vô phần hơn nữa cũng không được diện kiến chư vị tu chứng nhắc nhở soi sáng cho, thì chúng ta phải tự soi xét cho mình thế nào! Chúng ta chỉ còn cách trân quý và thực hành theo mà thôi.

Tuy nhiên, ở đây chúng ta là những người thật sự sơ cơ vào đạo, nên chỉ nhận hiểu theo kiến thức căn bản nhất mà Phật dạy về lý duyên khởi để thực hành theo. Việc tiến xa, hay đi xâu vào giáo lý, đã có nhiều thức giả tu sĩ, học giả tri thức nghiên cứu, lý giải chúng ta phải nên tri ân các vị đó. Hoặc như nếu có thời gian, khả năng hiểu biết cũng nên nghiên cứu tìm hiểu để có thể tác động thêm năng lực cho mình, hay chỉ bày cho người khác biết.

Tìm hiểu lý Duyên sinh, ta có thể hiểu đơn giản: Lý Duyên sinh là một định lý cho thấy sự liên hệ, tương quan của mọi sự mọi vật, hay nói cách khác là sự sinh diệt, tựu hợp, tan rã của các pháp.

Nhìn vào đời sống cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia và toàn thế giới- vượt xa hơn nữa là hành tinh (trái đất) chúng ta đang ở, thái dương hệ nơi hành tinh nương tựa và những giải ngân hà, thiên hà, tinh vân...và nếu ta có đủ nhãn lực vượt qua viễn vọng kính nhân tạo để nhìn...Tất cả, tất cả những gì có hình tướng đó, tên đó đều là tương quan, tương sinh với nhau. Không một vật gì độc lập cả, cho dù nhỏ như hạt nguyên tử lăn tăn nhảy múa dưới kính hiển vi mà mắt thường không thấy được. Việc liên hệ chằng chịt này Phật pháp gọi là lý nhân duyên. Lý nhân duyên chi phối tất cả, từ những vật vô tri giác đến loài có tánh giác như chúng sanh. Khi đã bị chi phối vậy, nên ta thấy rõ liên hệ mật thiết nhau qua cái gọi nhân quả. Kinh xưa (kinh A Hàm) thường dạy: Cái này có thì cái kia có, cái này sanh thì cái kia sanh. Cái này không thì cái kia không, cái này diệt th�� cái kia diệt...

Ta thử thí dụ một hoàn cảnh xảy ra trong lý Duyên sinh, nhân quả: -Vì xe của con Bác Tư bất thần hư, không chạy được, nên bác Tư không thể đến chùa ngày chủ nhật hôm đó. Vì không có mặt ngày chủ nhật hôm đó, nên Bác Tư đã bỏ lỡ thời pháp hiếm có, do một vị cao tăng thuyết giảng... Câu chuyện tạm chấm dứt ở đây.

Ta thấy rằng, kết quả Bác Tư không được nghe pháp, là vì Bác vắng mặt, Bác vắng mặt là vì con Bác không đưa được Bác đến chùa. Con bác không đưa bác được vì xe con bác hư, xe con bác hư vì...Xin khoan nói tiếp; bây giờ thử đặt ngược lại kết quả. Nếu xe con Bác Tư không hư, Bác đã có mặt ở chùa hôm đó, nếu có mặt ở chùa, chắc chắn bác Tư đã nghe thuyết pháp. Vậy đây ta đã thấy một vòng nhỏ của lý Duyên sinh, nhân quả. Nhưng nếu ta tiếp tục tìm hiểu trước và sau sự kiện xảy ra theo thí dụ, thì rõ thấy diễn tiến vẫn tiếp tục xảy ra của vòng duyên sinh đến bất tận. Chẳng hạn ta có thể nói, xe của anh Thiện (con bác Tư) chạy không được vì bánh xe bị bể, bánh xe bể vì tối hôm trước anh chạy cán lên một vật cứng bén mà anh không để ý trên con đường dẫn vào nhà người bạn (bạn cùng sở làm, hôm đó nhờ anh chở về). Người bạn xin chở nhờ, vì xe anh bạn hư (lại xe hư). Bánh xe không bể liền, nên sáng ngày hôm sau anh mới phát giác, rồi cũng nhận ra bánh xe sơ cua (spare) bị xẹp luôn!...

Đó là một vài hình ảnh nhân quả trong lý duyên sinh, nếu tiếp tục theo câu chuyện mà đi mãi, chắc rồi đề cập tới chuyện kinh tế, chính trị.v.v...chỉ vì ảnh hưởng tới một bánh xe bể! Thử lướt qua để tưởng tượng thế nào! Bác Tư vì hôm đó không nghe được thời pháp hiếm có, nên Bác cảm thấy tiếc nuối, phiền muộn, khiến bác khó chịu trong người, biếng ăn, mất ngũ mấy hôm. Bác lâm vào cảnh như vậy ảnh hướng đến tinh thần sa sút...

Như thế ta thấy sự vận hành của bất cứ hình tượng, cảnh vật chúng sanh nào cũng là sự trói chặt vào nhiều yếu tố tạo nên. Và khi những yếu tố tan rã thì ảnh tượng, hình thể, chúng sanh không còn nữa. Tuy nhiên nói là không còn, thật ra chúng chỉ trở về dạng phân tán chờ duyên hội tụ, nhưng vì vi tế nên ta không thể cảm nhận và nhìn thấy được. Hiểu vậy chúng ta mới thấy không một vật nào tự nó sinh ra, và từ lý này lại thấy không một vật gì mất đi cả. Chẳng hạn nước đổ đi hay bốc hơi đi, tưởng là mất, thật ra nước vẫn còn đó, và sẽ trở lại bằng tên gọi là mưa; hay đi vào lòng đất hòa chung cùng nguồn nước cạn sâu kín rồi hiện hữu ở đâu đó, chỗ này chỗ kia.

Chúng ta hãy thử giả tưởng sau một thời gian thăm thẳm nào đó, quả địa cầu sẽ bị vỡ tung, rồi từng mảnh tiếp tục vỡ tung, vỡ tung ra cho đến khi nát nghiến thành bụi, rồi lại tiếp tục bị nghiền nát nữa cho đến khi thành những nguyên tử bay hút vào hư không vũ trụ. Vậy thì chúng ta sẽ nghĩ thế nào về sự còn hay mất? Nếu nói vẫn còn thì làm sao có thể chỉ được chúng đang ở đâu, và hình thể ra sao? Nếu nói mất thì con mắt thịt chúng ta có khả năng nhìn thấy rõ ràng sự vật lớn nhỏ đến mức nào? Chỉ giả tưởng đến đây thôi, ta có thể đơn giản hiểu rằng sự sinh diệt hội tụ của vạn pháp trong lý nhân duyên, nhân quả về việc biến hiện lớn, nhỏ, lâu xa không thể lường được. Cho nên ta hay nghe kinh sách dạy rằng, vạn pháp sinh khởi vô thủy, vô chung, nghĩa là không biết bắt đầu từ khi nào và bao giờ chấm dứt.

Đó chỉ lược hiểu một cách đơn giản, mà mường tượng cái nhìn xa. Nhìn lại gần hơn là thí dụ câu chuyện của Bác tư vậy. Tương tự như thí dụ cây lúa mà ta thường nghe, mỗi khi đề cập đến lý nhân duyên. Cây lúa hình thành là nhờ hạt lúa, hạt lúa nẩy mầm nhờ nằm trong lòng đất, đất phải có nước có phân...và còn có thêm ánh sáng nữa, hạt lúa mới chuyển thành cây lúa. Nguyên lý này thật chắc chắn không thể sai được, có nghĩa không thể bỏ hạt lúa trên bàn mà chờ thành cây lúa được.

Hình ảnh cây lúa bây giờ, không nói chúng ta cũng biết là kết QUẢ của hột lúa; và gọi ngược lại, hột lúa là NHÂN của cây lúa. Còn lại bao điều kiện hỗ trợ cho hột lúa nẩy mầm tất được biết là DUYÊN. Vậy thì vạn pháp cũng từ do duyên xa duyên gần mà sinh ra. Thảo nào mà chư vị Bồ Tát, Thánh nhân hành xử việc đạo thật dễ dàng, bởi các Ngài biết rõ vạn pháp là giả là tạm, cho nên làm việc gì cũng là vô ngã; vì tìm đâu thấy ngã (cái ta, cái tôi) khi các pháp do NHÂN DUYÊN SINH.

Chúng ta những phàm nhân, đôi khi cũng thấy hiểu như vậy, nhưng vì cái thấy còn quá hạn hẹp, chỉ thấy những cái đơn giản, mà khó thấy cái phức tạp tinh tế, điều này do mang nhiều vọng tưởng nên không thể sáng suốt, đủ nghị lực thắng được vọng tưởng thành ra chỉ chấp nhận theo tình lý cảm giác, suy tưởng của mình mà thôi. Hay nói đúng hơn tất cả đều do tập khí, chủng tử điên đão từ quá khứ kiếp mà ra.

Theo Tiến sĩ Peter D. Santina trong quyển ‘‘Fundamentals of Buddhism’’nhận định: Đức Phật thường dạy rằng Ngài giác ngộ là nhờ hai đường: Hoặc hiểu rõ Tứ Diệu Đế hay am tường Lý Nhân Duyên. Lại nữa, điều Đức Phật thường nói là muốn đạt giác ngộ, chúng ta phải hiểu rõ Tứ Diệu Đế hoặc Lý Nhân Duyên. [13]

Lý Nhân Duyên quan trọng, và cao siêu như vậy, chúng ta ngày nay mới bắt đầu nhận hiểu, dù mới hiểu một vài hạt bụi li ti gọi là nhân quả, điều này không phải là đại nhân duyên sao! Vì đây là con đường muôn thuở của giải thoát mà!

Hiểu lý nhân duyên qua hiện tượng sinh diệt của vạn pháp quả không thể đơn giản được. Chúng ta chỉ nhận rõ phần nào qua nhân quả mà thôi, và cụ thể hơn nữa là làm

sao để suy niệm áp dụng vào con đường thăng hoa đời sống của người Phật tử. Tức là vấn đề hiểu thế nào về dòng sống của chính mình. Tiến sĩ Pete D. Santina lại phát ý như sau: Đặc biệt, chúng ta chú trọng đến nguyên tắc của Lý Nhân Duyên được áp dụng vào vấn đề khổ và tái sanh. Chúng ta chú ý đến việc Lý Nhân Duyên giải thích sự có mặt của chúng ta ở nơi này. Trong ý nghĩa ấy, điều quan trọng là nhớ rằng Lý Nhân Duyên là giáo lý cần thiết và chủ yếu liên quan đến vấn đề khổ đau và làm thế nào để giải thoát khỏi khổ đau, chứ không phải là việc mô tả sự tiến hóa của Vũ Trụ.

Lý nhân duyên Phật dạy theo dòng sống của một chúng sanh (loài người) là mười hai mắc xích, gọi đúng danh từ là Thập Nhị Nhân Duyên: Vô minh, Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão Tử.

Giờ đây chúng ta thử diễn đoán hành trình dòng nghiệp của một chúng sanh, qua mười hai mắc xích là nguyên nhân thắc nối vòng sanh tử.

-Vì không sáng suốt, không nhận biết vạn pháp, từ pháp thô đến pháp tế; không nhận biết con đường trước mặt là chánh hay tà, không nhận biết nơi chốn lành hay chốn dữ; không nhận biết hành động mình làm là thiện hay ác; không nhận biết sáu cõi (Thiên, Nhơn, A Tu La, Ngạ quỷ, Súc Sanh, Địa ngục) là nẻo luân hồi và không nhận biết luôn cả chính mình, dù mình đã từng có mặt từ vô thỉ kiếp đến nay. Do không nhận biết nên lang thang mãi, sống vất vơ không định hướng. Nên khi nhiều lần lạc vào bóng tối sống đến hàng tỉ năm, rồi cơ may dứt được bay vào ánh sáng sống đến vạn triệu tuổi. Vất vưởng như thế, có lúc hình sắc được dệt nên nhỏ nhiệm, trong thanh, tự tại thênh thang theo ý muốn, lắm lúc hình thù thô kệch, nặng nề nằm lì một chỗ đến hàng vạn kiếp không di nổi. Những hành hoạt như thế kể không sao hết, nguyên nhân chính gây ra như vậy, là đối nghịch lại sự sáng suốt, mất đi chơn tánh, không nhìn nhận được nguyên lý của T- DIÊU ĐẾ là Khổ, Tập, Diệt, Đạo nên bị tham ái, dục tình (Tập) là nguyên nhân dẫn đi lang thang bất tận. Và đôi khi cũng cảm nhận được nguồn an lạc, mỗi lần chế ngự tham ái (Diệt), qua con đường Bát Chánh Đạo (Đạo) [14]. Nhưng rồi chỉ chốc nở chốc tàn, để lại quay cuồn trong đêm tối; do đó gọi là VÔ MINH. Đây là sự thật mà Phật đã nhắc qua trong kinh Tương Ưng II.

‘...Và này các Tỷ kheo, thế nào là vô minh?

-Này các Tỷ kheo không biết rõ về khổ, không biết rõ về

khổ tập, không biết rõ về khổ diệt, không biết rõ con đường đưa đến khổ diệt. Này các Tỷ kheo, đây gọi là vô minh.’ [15]

Khi đã mê lầm, không sáng suốt khiến tạo ra nghiệp nên gọi vô minh duyên HÀNH. Hành động có thô có tế, có ác có thiện dẫn đường đưa lối quyết định cho một dòng sống hiện hữu; nhưng ở đây vì Vô Minh là nhân mê hoặc, nên tác nghiệp quả báo hẳn phải mê lầm. Và khi hành nghiệp đã mãn đầy gọi là mãn nghiệp bấy giờ duyên vào TH-C, tác động nên một dòng sống theo nghiệp lực để tạo ra một sự đầu thai.

TH-C là năng lực của cái BIẾT tiềm ẩn sâu kín song song vận hành với nghiệp. Sức mạnh của nó có thế lực mạnh nhất trong dòng sống. Ở đây TH-C này hẳn còn là cái biết nhị biên, [16]chấp thủ thôi thúc dòng sống mà duyên với DANH SẮC.

Danh là tinh thần, Sắc là hình thể. Giai đoạn đến đây của dòng sống đã hiện hữu, nhưng chưa tượng hình hoàn bị; tức sáu căn chưa đủ. Dù vậy sự sống ở đây đã có nhưng chưa rõ ràng. Đến đây Danh Sắc duyên LUC NHÂP; bây giờ đã có đủ sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân , ý), tuy vậy chưa ra khỏi bào thai. Lục Nhập duyên XÚC là lúc một chúng sanh đã ra đời, đã chạm phải những hình ảnh vật thể, rồi bị tác động vào sáu căn, nhưng lúc này chưa có đủ cảm giác nhạy bén, tinh tế. Đến khi cảm thọ được những thương, ghét, mừng, giận...rõ ràng, đó là lúc Xúc duyên THO.

Thọ duyên ÁI, việc nầy ai cũng thấy rõ; khi mà sự cảm nhận tình cảm tràn đầy tất nhiên sinh ra lưu luyến đắm đuối. Có thể nói mắc xích nầy thật nguy hiểm nó đủ sức ghì kéo hết mười một mắc kia. Điều minh chứng đây, đã và đang xảy ra chung quanh chúng ta, đó là những kết chặt cái gọi là gia đình thân tộc. Và những câu chuyện vui, buồn, đau khổ ở thế gian mãi mãi vẫn được khai thác từ đề tài bất tận của luyến ái mà ra. Nhưng hầu hết thì toàn là những chuyện buồn có thật do luyến ái gây ra. Việc này là vậy, nếu không trong Tứ Diệu Đế đã không có hai Đế đầu, đó là Khổ và Tập (nguyên nhân của tham dục, luyến ái).

Ái duyên THỦ, đã sa vào vòng thương yêu trìu mến rồi, ai lại không muốn ôm giữ để làm riêng của mình! Đã cố giữ làm của mình thì không muốn buông bỏ; do vậy ban cho việc gì thì còn có thể, chớ cho tình (luyến ái) thì khó mà cho. Có khi sợ mất ái tình yêu thương, người ta còn tìm cách cùng nhau đi thật xa khỏi bị người khác quấy rầy, bằng cách rủ nhau quyên sinh! Đại khái để hiểu THỦ như vậy.

Thủ duyên H"U, ở đây ta thấy sự có mặt của chúng ta hiện thời chắc chắn đã từ những mắc xích kể trên trong quá khứ, nhưng gần nhất dễ thấy sanh ra mắc xích nầy là Ái và Thủ. Vì đã luyến ái và bám chặt nên nhất định tác nghiệp mà thành ra Quả, tiếp tục con đường vô tận thành ra Hữu, tức là sự hiện hữu của chúng ta. Đến đây là Hữu duyên SINH, rồi Sinh duyên LẢO TỬ; vậy Sinh là chặng đường tiếp tục kết thắc ở một đời sau nữa, từ do Ái, Thủ, Hữu của hiện tại mà ra. Và cuối cùng là Lão Tử giai đoạn của Sinh phải đến của đời sau.

Nhìn theo nhân quả ba đời chúng ta lại thấy như sau: Vô minh, Hành là NHÂN trong quá khứ, tạo ra QUẢ hiện tại là Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ. Và Ái, Thủ, Hữu ở hiện tại là NHÂN, sinh ra Sinh, Lão Tử là QUẢ ở tương lai.

Vậy ta có thể thấy, dòng sanh tử đó đến bao giờ mới dừng nghỉ! Có lẽ thật khó mà dứt được một khi ta còn chấp nhận sự lang thang quanh quẩn nầy. Và chỉ cần mang trong tâm (thức) một ý niệm nhỏ nhít của lưu luyến trìu mến thương ái, là tự động dệt nên dòng xích sanh tử. Sự thương ái đó dù là cao thượng hay thấp hèn cũng đều là những mắc xích; giống như mắc xích bằng vàng hay bằng sắt đều là để vây trói mà thôi. Chỉ có tình thương của từ bi, trí tuệ giải thoát mới nằm ngoài sợi xích trói buộc này. Cho nên chúng ta đã dư biết việc tái sanh đi, tái sanh lại là do NGHIÊP mà ra chớ chẳng do ông thần, ông trời nào làm được chuyện này, nếu có ông thần thiệt làm như vậy, thì xin nói là ông Thần thức (danh từ này chỉ cho lúc cởi bỏ xác thân để thọ lãnh đời sau, mà thế gian quen gọi là linh hồn); và phải chăng thần thức đó là kết quả của những hành vi lúc sống đã tạo! Nghiêm chỉnh mà nói là NGHIÊP TH-C vậy. Tạm hiểu được vấn đề lớn về sinh tử từ mười hai mắc xích, chúng ta cũng được khá nhiều an ủi khi đứng trước bờ biển pháp (giáo lý giải thoát). Và nơi đây là một ít hành trang Phật pháp để tiếp tục lên đường...

5. Nguyện ghi nhớ bốn điều diệu đế

Chúng ta đã hiểu phần nào căn bản Phật pháp, chúng ta có thể bắt đầu cho cuộc lên đường đem diệu pháp đi vào đời. Diệu Pháp mà chúng ta vừa lược hiểu qua (pháp nhân duyên) có thể đủ cho ta áp dụng tu hành, nhưng tại sao chúng ta không nhắc lại một diệu pháp căn bản nữa, để ta an tâm vững chí cho cuộc đi về với chánh pháp được thành tựu.

Diệu pháp này là Tứ Diệu Đế. Tứ Diệu Đế là bài pháp vạch ra chân lý của đạo, để đưa con người quay lại bản tánh toàn thiện, để nhìn thẳng vào chính bản thân mình mà tu sửa. Nếu thế gian này có người nghiên tầm mọi triết lý đạo giáo tinh ba nhất, lại thông suốt các vấn đề như vậy, nhưng chưa biết qua Tứ Diệu Đế, thì người đó vẫn xem là chưa được hoàn chỉnh trong cuộc truy tầm sự toàn thiện của nhân sinh. Và ngược lại, dù người chưa được may mắn nghiên tầm học hỏi các vấn đề quan trọng trên thế gian, nhưng hiểu được Tứ Diệu Đế thì người đó vẫn hơn vị đại trí thức kia. Nói như thế có quá lắm không? Xin thưa rằng không, bởi vì Tứ Diệu Đế không chỉ giúp cho người thấy được một cách rốt ráo chân lý nhân sinh, mà còn giúp họ đạt tới những gì là an định nhất của tinh thần, qua đời sống hiện thực ở nhân gian. Và nếu người đó muốn đi xa hơn nữa trong việc thực hành trọn vẹn chân lý đó, nghĩa là thực hành qua đời sống một tu sĩ, thì kết quả còn an định hơn gấp trăm ngàn lần người ở thế gian. Đó là kết quả chứng được quả Thánh Vô Sanh (A La Hán).

Sau đây chúng ta thử ôn lại những gì là Tứ Diệu Đế.

Khi hành giả Tất Đạt Đa thành đạo Chánh Đẳng Chánh Giác được thế gian xưng tụng là Phật (con người tĩnh thức hoàn toàn), Ngài đã ưu tư, thương tưởng đến các vị đạo sĩ trong quá khứ một thời cùng Ngài tu khổ hạnh. Trong các vị đó có vị là Thầy và cũng có vị là bạn Ngài. Nhưng bấy giờ, lúc này Ngài không chỉ là Thầy dạy lại họ mà còn là Thầy của mấy từng trời nữa (Thiên Nhơn sư).

Thật ra pháp đầu tiên mà Ngài khai thị sau khi đắc đạo không phải là Tứ Diệu Đế, mà là Pháp lý vượt siêu thế gian dành cho các vị Bồ Tát lớn, đó là kinh Hoa Nghiêm. Pháp này Phật diễn nói cảnh nhập Pháp giới, chỉ thẳng pháp tu chứng về cảnh giới Phật. Vì chỉ thẳng như vậy nên gọi là Đốn giáo và cũng thế ngoài hàng Bồ Tát lớn ra khó ai hiểu được.

Với Tứ Diệu Đế là Sơ chuyển Pháp Luân là đối với loài người chúng ta. Và cách giáo dạy đây gọi là Tiệm giáo, tức chỉ rõ vấn đề từ thấp lên cao. Do đó Pháp Tứ Diệu Đế là căn bản nhất, vì là bài Pháp đầu tiên mà Phật đã chọn lựa khai mở cho nhân loại thấy hiểu về chân lý cuộc đời, để làm bước đi đầu tiên đến bước giải thoát, vậy đó là cội gốc nền tảng của Phật đạo. Nếu không hiểu rõ Tứ Diệu Đế hay xem thường bốn điều này thì không thể nào có được nền tảng chứng đạt Pháp giải thoát. Và dù chỉ hiểu được bốn pháp này thôi, thì quả vị Phật chắc chắn sẽ đến trong tương lai.

Phật tìm đến nhóm ông: Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạt Đề; năm ông đây là những người đầu tiên được nghe diệu pháp cao quý này. Thời Pháp vừa xong, liền trong nhóm ông có người đắc Thánh quả và lần lượt trong thời gian thật ngắn, tất cả năm ông đều đắc quả A La Hán tức không còn sanh tử nữa.

Hiểu Phật nói thế nào về Tứ Diệu Đế!

Con người được sinh ra, liền tức thời thọ khổ. Tiếng khóc oa oa (khổ quá) thoát ra từ một đứa bé mới sinh, tiếng khóc ấy vang vọng mãi cho đến thành một người lớn người già. Người lớn người già nào đâu phải không khóc, họ khóc nhiều lắm chứ, nhiều còn hơn hồi nhỏ nữa! Hồi nhỏ khóc vì không được, khi được thì hết khóc; bây giờ lớn lên rồi thì cái được đó sẽ không bao giờ được nên khóc mãi đến cuối cuộc đời. Cái không được như vậy vì bắt nguồn từ cái muốn không ngừng, nên không bao giờ được. Ôi làm sao kể ra hết cái muốn! Cho nên tiếng khóc người lớn tuy không có âm thanh nhưng uất ức, u ẩn, dã dượi trong lòng.

Khóc thế nào cũng là khổ, có ai khổ mà cười không? Chỉ trừ các bậc Bồ Tát thị hiện chịu khổ, rồi cười lớn lên cho mọi người thấy; chúng sanh sao lại vô minh quá, biết khổ mà cũng lao đầu vào thật là ngộ nghĩnh, nên Bồ Tát nín cười không được!

Khổ trước hết là có thân này, hể có thân xác vật lý là có tác động với ngoại cảnh, như nóng lạnh, đau nhức v.v. và khi thân thể bị phản ứng do tiếp xúc với những gì từ ngoại cảnh thì sinh ra đau bệnh và nếu không chữa được bệnh thì hư hoại dẫn đến cái chết. Nhưng dù nếu ít bệnh, hay bệnh không trầm trọng thì cũng vất vưởng sống thọ tám chín chục tuổi, rồi đến thời kỳ hư hoại cũng phải chết. Đó là luật tự nhiên của vật lý, và theo đạo Phật có bốn thời kỳ Thành, Trụ, Hoại, Không [17]cũng là như vậy. Đó là phần đau khổ về thể chất (sanh, lão, bệnh, tử), riêng về tinh thần thì cũng khủng khiếp không kém.

Thường thì tâm lý ai cũng thích thương yêu, mà thương yêu được trọn vẹn thì vui mừng nào kể cho hết. Sự thương yêu làm cho người lạc quan sống thọ, sự thương yêu làm cho cảnh vật tươi hẳn ra. Nói tóm lại khi nuôi dưỡng được tính chất thương yêu, thì cả một cảnh sống bừng lên có sức mạnh chuyển hóa tất cả. Nhưng thật khổ cho ta, vì ta không thể đặt tình thương yêu đó đến tất cả, mà chỉ hạn hẹp cục bộ trong gia đình, và từ cái hạn hẹp đó, ta lại chọn lựa đặt ra duy nhất đến một người, người mà ta thương nhất. Khi ta thương yêu nhất người nào, tất nhiên khi mất đi ta sẽ đón nhận một thảm trạng đau buồn nhất. Cho nên chúng ta dững dưng với cái chết của người khác và đau khổ tột cùng với cái chết của người thân mình là vậy. Đó là Phật dạy cái khổ thương nhau mà phải sống xa nhau ( Ái Biệt Ly Khổ).

Từ tánh thương yêu hạn hẹp như thế, tất nhiên tương phản lại ta có vô số người không thương, và vô số người đó chắc chắn có người mà ta không thương nhất. Không thương nhất thì đồng nghĩa thù ghét; và hễ thù ghét chừng nào ta càng khó chịu khi nhớ lại họ, hay có ai nhắc đến.

Chỉ nhớ đến mà khổ như thế, thử hỏi phải đối diện với nhau! Đối diện với nhau rồi chốc lát bỏ đi thì còn đở khổ, không may sống chung luôn với người đó; thôi còn gì mà khó chịu cho bằng. Khó chịu đến mức ta đau khổ bấn loạn người lên, rồi có thể làm được cái gì để giải tỏa cái thù ghét này; ta dùng mọi thủ đoạn hãm hại người đó. Không hại được ta mang mãi sự oán hận này. Nhưng thưa bạn! đó vẫn chưa cay nghiệt, vì có những trường hợp người mà ta không thích không ưa đó lại là người thân trong gia đình ta, có khi lại là người mà ta đã tuyên thệ cùng nhau đi trọn cuộc đời! Đây mới thấy đầy đủ nghĩa Khổ vì không thích nhau lại sống gần nhau (Oán Tắng Hội Khổ).

Vậy thì toàn ảnh trong cuộc đời này là những gì trái nghịch chăng? Ta muốn sống gần người ta thương lại không được, ta không muốn sống với người không thương lại được sống chung! Ta muốn người mà ta thương, dù không thể sống gần ta nhưng còn cho ta thấy niềm hy vọng nào đó, nhưng nghiệt ngã thay người ta thương yêu lại ra đi thật sớm, trong khi kẻ ta cầu cho khuất mặt, cứ nhởn nhơn gần gũi với ta và còn sống thọ hoài ra đó.

Bất lực ta quay về cầu mong lại chính ta, để sống đời an phận quên hẳn chuyện xưa nhưng nào có được, vì đời sống phải giao du kết bạn, ta lại rơi vào sự thương mến người, và như định luật hễ có người thương thì có người ghét. Giờ ta chỉ cầu được hưởng thụ vật chất, hưởng thụ đời s��ng phó mặc để quên đi người thương người ghét, vậy mà cuối cùng đâu thể được. Đến cả vật chất cũng không thỏa mãn cho ta; và dù chinh phục được vật chất đi nữa, thì thân xác kia theo thời gian ngày càng lụn bại, đâu thể nào hưởng thụ được như xưa. Vậy thì cuộc đời có gì thỏa mãn ta đâu! Thế mới hiểu mong muốn mà không được thì khổ vậy (Cầu Bất Đắc Khổ).

Đó là những gì mà con người phải trải qua sự thật này nên gọi là chân lý: Đây là diệu đế thứ nhất: Khổ Đế.

Đến đây nhìn lại quá trình khổ đã trải qua; ta thấy gì về sự mong cầu, sự thương yêu và thù hận! Tất cả đều đến từ sự tham dục mà ra. Vì tham dục, luyến ái nên từ vô thỉ kiếp, ta cứ duổi đầu mà đi không hề quay lại ghê tởm đoạn đường tạo nghiệp chất chồng của mình. Ta mang thân xác thô kệch máu mủ, vì đã chấp chặt vào nó từ vô số kiếp quá khứ, nên bây giờ theo luật tự nhiên khoa học, hễ có thân vật chất cuối cùng phải hư họai; nhà Phật gọi là bốn thời kỳ Thành-Trụ-Hoại-Không, cũng như luật nhân quả tạo thân bất tịnh thì quả báo đến với sự thô kệch, qua việc bệnh đau, đờm dãi, phân tiểu v.v...

Từ sai lầm tham dục luyến ái, nên bị sắc dục vật chất lôi cuốn tự bồi dưỡng cho thân xác này. Khi mê mờ về thân xác dục ái đó, ta phát sinh ra lòng tham lam ích kỷ, dành trọn tình thương cho mình; và hễ phản lại lòng luyến ái, ta liền triệt để bảo vệ mong thỏa mãn cho được dục vọng luyến thương kia. Vậy, vì tham dục nên tự tạo thân sắc dục, vì mang thân sắc dục nên tâm tưởng phát sinh sự thương yêu, thù ghét thuận theo tính tham dục. Do thế Phật dạy nguyên nhân của khổ là tham dục, luyến ái, và đó gọi là Tập Đế.

Thật khó tưởng được có người sống trong đời đầy quyến rũ dục tình, tham ái lại không bị động tâm kẹt vào những thứ này. Người ấy có lẽ phải thẩm thấu sự ghê tởm của tham dục mới không còn bị nó chinh phục. Và người đó cũng chắc chắn hiểu được kết quả sẽ đến thế nào khi từ bỏ dục tình tham ái kia. Trạng thái mà người dứt được tham dục là một trạng thái an lạc trong thanh tịnh, điều này chỉ có thể mượn ngôn từ tương đối của thế gian mô tả. Trạng thái đó nhà Phật tạm gọi là Niết Bàn, vậy người đạt được Niết Bàn là người không còn tham dục nữa. Như thế, biết được con người chịu khổ là do nguyên nhân tham dục, và tham dục diệt rồi thì sự an tịnh của Niết Bàn xuất hiện. Tới đây mỗi người chúng ta có đủ sáng suốt nhìn ra bản thân mình đã từng tham dục luyến ái bao lâu rồi! Nên phải mang bao kiếp thân khổ; vậy mà chưa tỉnh ngộ! Nếu ta thật sự ghê tởm dục tình tham ái thì bao nhiêu điều khổ như trên, sẽ không còn xảy đến cho ta. Đây là chân lý thứ ba gọi là Diệt Đế.

Chân lý còn lại là phương cách thế nào để thực hành đạt tới con đường thoát ly tham dục. Đó là con đường Trung Đạo. Phật dạy có tám pháp như sau: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định.

Hiểu và hành theo tám pháp này giúp con người đạt được đầy đủ thiện pháp, dứt trừ ác pháp. Có thể nói, thế gian này không tìm được một pháp học ‘chân thiện mỹ’ nào hoàn chỉnh như tám pháp này. Chúng ta thử lược xem một người thế nào thực hành được Bát Thánh Đạo (tên gọi của tám pháp).

Một người có cái nhìn sáng suốt, thấy được sự thật của vấn đề. Thấy vấn đề như sự thật của nó, (các pháp do nhân duyên sinh) thấy như thế sẽ không bám víu vào nó, chỉ chấp nhận nó như một đối tượng trong đời và như vậy người này vẫn sống với sự sự vật vật mà không tham đắm. Người này có chánh kiến.

Rồi người này lại luôn suy tư đến những điều lành điều thiện, điều gì chỉ mang lại niềm vui an lạc cho người, cho mình. Người này sống trong sự toan tính của xã hội mà tư tưởng không bị lôi kéo ảnh hưởng, chỉ duy nghĩ về những thiện pháp. Người này đã thực hành Chánh tư duy.

Khi hiểu biết và tư duy sáng suốt như thế, người này tức thì hành động theo thiện pháp. Lời nói và hành động bây giờ luôn luôn làm đẹp làm vui đến mọi người, tức là nói lời thành thật, nhã nhặn, xây dựng, tươi vui. Hành động cũng liền đi đôi với lời nói chân thiện, nên không hành hung bạo động đả thương đến bất cứ ai. Người này thành tựu cả hai Chánh ngữ và Chánh nghiệp.

Lời nói, hành động ở trong chánh pháp người này nhất định chọn cho chính mình cuộc sống phù hợp với những gì người này đã quán xét, tư duy. Công việc người này lựa chọn hẳn không tổn hại, thương tổn đến mọi người và trái lại chánh pháp - cả đến những cầm thú súc sanh người này cũng thể hiện được cái nhìn từ bi trí tuệ. Người này đã thực hành theo Chánh mệnh.

Tiếp theo là sự kiên trì, gia công gìn giữ các pháp lành thiện nghiệp mà người này đã lãnh hội, và luôn luôn đặt mình vào những hành động tích cực phát sinh thiện pháp. Cùng lúc đó lại hướng đến tâm niệm vượt lên, đến gần với pháp hỷ lạc. Người này bấy giờ có được cả hai: Chánh tinh tấn và Chánh niệm.

Cuối cùng người này đạt được Chánh định, nghĩa là luôn luôn sáng suốt minh mẫn trong mọi ý thức hành động của mình, và đó là kết quả huân tu ba nghiệp thanh tịnh hợp theo chánh đạo.

Hiểu qua như vậy, chúng ta thấy được con đường chân thiện rốt ráo rõ ràng, và ai cũng có thể thực hành đạt tới. Bằng cách này hay cách khác ít nhất, giáo lý Tứ Diệu Đế đánh thức ta, tỉnh giấc ngủ dài mê muội; không những ngay đời sống này, mà cả giấc ngủ say từ vô thỉ kiếp còn vương vấn làm ta mãi ngây ngất người không chịu mở mắt ra. Và thực tế đó không phải là chuyện viễn vông của lý tưởng suông, vì nó là sự thật, sự thật ta đang là đây, sự thật ta đang đi đến. Nếu sự thật của khổ không chối cãi được, thì sự thật của an lạc thanh tịnh cái gọi là Niết Bàn cũng hiện hữu ra ngay đời nay. Như thế chúng ta phải công nhận rằng, người nào thẩm thấu và thực hành được pháp Tứ Diệu Đế, người ấy đã hoàn chỉnh trong cuộc truy tầm triết lý của nhân sinh.

6. Thay đổi được an lạc

Khi chưa hiểu đạo giác ngộ chúng ta đã sống thế nào? Nay hiểu đạo rồi phải sống ra sao? Trước kia bước vào cổng Tam Quan vô Chánh Điện lễ Phật, thái độ tinh thần của ta có gì lạ không, và khi rời khỏi chùa ta có lưu luyến hay nghi vấn gì? ...Rất nhiều sự việc, giờ đây ta có thể nhớ lại để thấy sự thay đổi hiện thời.

Thường như bao nhiêu người, nếu không phải là Phật tử thuần thành, việc vào chùa chỉ là để khuây khỏa dạo chơi, tìm cảm giác an ổn hầu quân bình lại cuộc sống xô bồ rầm rộ bên ngoài. Hay khi có biến cố đại sự trong gia đình cần phải tìm đến chùa gặp quý vị tu sĩ cố vấn chỉ bày an ủi...

Ngoài ra, phần lớn đến chùa là để xem lễ hội, văn nghệ trong hai ngày lễ lớn: Phật Đản, Vu Lan. Riêng ba ngày Tết hẳn cũng thường có mặt, cốt để hái lộc đầu xuân cầu cho may mắn. Lộc xuân ở nước ngoài này thường là những câu chúc lành bỏ trong bao lì xì, hay một vài quả trái cây. Quả trái tượng trưng quả báo tốt đầu năm.

Hình thức này là cách chúc an lành cho người viếng chùa đầu năm mới.

Đó là việc viếng đất Già lam trong tâm niệm và hoàn cảnh như vậy. Nhưng đó lại là việc quan trọng nuôi dưỡng tinh thần trên xứ thuần đầy vật chất, cho dù việc được nuôi dưỡng tinh thần này chưa có giọt nước cam lồ Phật pháp nào thấm đến. Điều này thực tế chúng ta đã thấy, những ngày lễ hội rằm lớn, hương trên bàn Phật quyện tỏa nghi ngút, dưới Phật đài người người sụp lạy nguyện cầu. Nói rằng chưa được giọt nước cam lồ Phật pháp thấm vào, nghĩa là hình ảnh khấn nguyện chí thành tha thiết ấy, chỉ xảy ra trong ngày lễ hội mà thôi! Và khi xong lễ phải chờ lại một chu kỳ, mới có cơ hội! Mà cơ hội này cũng do chính ta tạo ra. Tuy nhiên hoàn cảnh đã khiến ta phải thuận theo như vậy, vì có lẽ ai chẳng muốn nhàn hạ để luôn được chiêm ngưỡng Phật đài, để tha thiết bộc bạch lời khẩn nguyện, cho tâm hồn được tự tại an nhiên, cho mọi người được vui vẻ, cho thế giới được hòa bình, cho hoa Ưu Đàm nở rộ tỏa khắp trên hành tinh xanh này!

Quả thật như thế, và nếu nguyện được như vậy thì dù có viếng chùa lễ Phật đợi đến chu kỳ, nhưng chắc chắn đã tạo được giọt nước cam lồ Phật pháp. Vì cầu nguyện với tâm vị tha vô ngã (vì người mà không thấy có mình) nên khế hợp với tâm nguyện chư Phật mười phương. Và theo nhân quả, dù không nguyện được như vậy, duyên lành Tam Bảo cũng được tích thành trong tương lai; do đã dắt được ba nghiệp thân, khẩu, ý vào được đất Già Lam, nhất là lúc ba nghiệp sụp xuống đê đầu lễ Phật, dù là lúc đó chỉ cầu cho riêng mình đi nữa. Do đó chỉ cần đối trước Phật đài chiêm ngưỡng là đã tạo duyên Phật rồi. Thử nhìn lại còn biết bao người chưa bao giờ đặt chân tới chùa, dù để dạo chơi xem hội.

Riêng tâm trạng người mới vừa nhận được viên ngọc quý, tức vừa nhận ra mình diễm phúc gặp đạo vàng, bây giờ đã có khác. Cái khác này chỉ tự mình thấy. Người ngoài chỉ là thấy qua hình ảnh múa máy mà thôi. Tuy nhiên chúng ta cũng đã thay đổi bên ngoài, bằng những động tác có ý thức mà thường nghe là sống trong chánh niệm.

Chúng ta bắt đầu gặp nhau, chào hỏi qua cung cách chấp tay xá chào, và lời đầu tiên thốt ra khỏi miệng là đọc lên danh hiệu ‘‘A Di Đà Phật’’, rồi mới tiếp hỏi sức khỏe, gia đình v.v...Thật ra đọc lên danh hiệu đức Phật A Di Đà, đã đầy đủ lời chúc tụng. Vì đức Phật A Di Đà còn có danh hiệu là Vô Lượng Thọ; mà loài người chúng ta ai mà chẳng cầu được thọ, hẳn nhiên sống thọ ở đây phải khỏe mạnh, sung sướng. Đức Phật Vô Lượng Thọ lại là giáo chủ cõi Cực Lạc, một cõi nước đầy an lạc đến cùng cực, thì tất nhiên cầu chúc qua danh hiệu Ngài phải mỹ mãn vui sướng là trước tiên. Vậy không có câu chúc nào bằng đọc lên danh hiệu Ngài. Còn nếu nói về lý giải thoát mà người học Phật đang tầm kiếm, thì danh hiệu Phật A Di Đà là câu chúc thiết thực. Chúc cho người quay về soi rọi chính mình, qua ánh sáng thanh tịnh để thanh tịnh thân tâm tiêu diệt phiền não; vì danh hiệu Ngài còn gọi là Phật Thanh Tịnh Quang. Đây lại thấy hai chữ Thanh Tịnh vô cùng quan trọng trên hành trình tu học. Bởi pháp tu nào cũng trở thành vô ích nếu hành giả không thanh tịnh được thân tâm.

Vào trong chánh điện, chiêm ngưỡng đấng Thế Tôn, lúc này tâm hồn đã khác nhiều lắm. Bấy giờ người ngoài càng khó thấy được bên trong chúng ta.

Nhìn lên hình ảnh đấng Điều Ngự, chúng ta nghĩ gì? Ta vui hay buồn, khi chợt nhận ra mình quá vô minh đã thất lạc từ bấy lâu nay! Và cuối cùng phải làm gì để đền bù lại những tháng năm lạc lõng, tác nghiệp chất chồng; để cho thân tâm nhẹ nhàng khi phủ phục năm vóc kính lạy đấng Thiên Nhân Sư. Bâng khuâng lo lắng, thao thức, bồn chồn trong lúc này, có khi cảm thấy mâu thuẫn nữa. Mâu thuẫn qua hai hình ảnh, hiện tại ở ngay Phật điện và về lại gia đình...Nhưng không, chúng ta đã có câu trả lời giải đáp, đã thấy được ánh sáng chánh kiến dắt ta về thực tại, thực tại của hiện tại nhiệm mầu...Ta hiểu rằng những xao xuyến kia chỉ là tất cả nghĩ ngợi bâng quơ do từ vọng tưởng tình cảm vui mừng khi nhận ra mình hiểu đạo (chỉ là căn bản). Chính vì hiểu đạo nên nhận thấy rõ mọi ràng buộc chung quanh mình; và khi thấy ràng buộc như thế, nên sợ hãi, cảm thương tưởng chừng thất trí không sao cứu vãn.

Vọng tưởng tình cảm đó ai cũng trải qua, nhưng người học Phật phải vượt qua trước hết. Học Phật lấy trí huệ làm gốc, lấy trí huệ làm hành trang đi trọn con đường. Không có trí huệ, người học Phật sẽ dễ mơ màng theo vọng tưởng điên đảo, dễ lạc đường và cuối cùng vất vả phí sức chẳng đi đến đâu.

Trí huệ của đạo giác ngộ chỉ đến từ căn bản của sự trì giới, tu định (thiền); khác rất nhiều danh từ trí thức hiểu biết ở thế gian. Hiểu biết ở thế gian là hiểu theo giác quan đối đãi, so sánh phạm trù, chớ không phải do từ tu trì giới định: thấy rõ năm uẩn [18]là không, nên đạt được cái thấy tất cả; và trong cái thấy đó không có vọng tưởng xen vào. Chúng ta hiện thời tuy chưa đạt được trí huệ giác ngộ, nhưng dầu sao cũng đang trên con đường đạt đến cái thấy đó.

Bây giờ nhìn kỹ dung nhan đấng Điều Ngự; hai tay chúng ta chấp lại nhất tâm chiêm ngưỡng vài giây phút; để tâm hồn lắng xuống, lắng xuống thật sâu như ly nước đục từ từ trong suốt vì những bợn nhơ dần dần chìm xuống.

Chúng ta đã cảm được niềm an lạc trong tâm; niềm an lạc này khó tả lắm, và chắc chắn ta cố muốn duy trì mãi niềm an lạc hạnh phúc này. Tuy nhiên niềm hạnh phúc an lạc ngay trước điện Phật không phải hoàn toàn do cảnh điện Phật tạo nên! Điều này ta phải hiểu như vậy, bởi khi quay về cuộc sống thật, trở lại với gia đình, xã hội thì tâm ta không còn an lạc hay sao? Nếu không có an lạc hạnh phúc, thì làm gì chúng ta tồn tại được, ít ra ngay bây giờ! Hẳn nhiên theo lý tưởng quan niệm, truyền thống đạo giáo, mỗi dân tộc mỗi ý thức mà dệt cảm những hạnh phúc an lạc khác nhau. Ở đây chỉ xin thưa niềm an lạc giác ngộ theo chân lý giải thoát. Tất nhiên chúng ta vẫn tìm được niềm an lạc giải thoát ngay tại gia đình, tại hãng xưởng, tại khắp mọi nơi trên cõi Ta Bà này. Niềm an lạc trong đạo giải thoát, là sự bừng tỉnh giác ngộ tìm được tâm cảnh của chính mình; tìm lại được nên tâm tư không còn vọng động xôn xao chạy theo giả cảnh, và lúc không động niệm, ngay đó niềm an lạc tức thời hiện hữu. Do thế có thể tìm được an lạc khắp nơi, mà không phải nhứt thiết là nơi đất già lam ở ngay chánh điện. Nếu nhứt thiết vậy thì các vị tu sĩ chỉ cần một đời tu là giải thoát, vì sống trọn đời trên đất Già Lam, và chúng ta cũng vô cùng ngạc nhiên tại sao mọi người không thành tu sĩ hết để chắc chắn được giải thoát; hay mỗi nhà buộc phải có một chổ thờ Phật để được an lạc hoài...Chúng ta dư biết, ngay c��� thời đấng Thế Tôn còn tại thế, mọi người cũng thường thấy hảo tướng của Ngài vậy mà đâu phải ai cũng giác ngộ. Kể cả các vị đã là đệ tử của Phật rồi, vẫn còn bị phiền não lung lạc, nên Phật mới chế ra giới, cũng như dùng biết bao phương tiện pháp môn hầu đánh thức giác tánh nơi các vị.

Họa chăng có thể nói, ở ngay Phật đài tìm an lạc rất mau. Vì do tâm chúng ta hay thường phan duyên [19]với cảnh bên ngoài, nên tự đấu tranh tìm lại giác tâm khó được, do đó cần mượn cảnh để nhiếp tâm. Hiểu vậy rồi lại càng tăng thêm niềm tín tâm an lạc, và hiểu được mức độ tâm thức mình ra sao, thế nào.

Ngước nhìn lên đấng Điều Ngự lần nữa, chúng ta thấy mình thật hạnh phúc, thấy được Phật pháp lan rộng khắp nơi và tâm chúng ta hiện thời cũng là tâm Phật. Hình ảnh đấng Điều Ngự biểu hiện cho sự toàn giác, thị hiện cho mọi người noi theo.

-Con xin đảnh lễ tỏ lòng tôn kính, tri ân Ngài đã cho con thấy con đường giải thoát; đó là sự bừng tỉnh giác ngộ cuộc đời là huyễn là mộng, thân tứ đại [20]không thường còn, chỉ có tâm thức giác ngộ mới là miên viễn.

Con xin noi gương Ngài và nguyện sẽ đi trọn con đường giải thoát. Nếu như có thể cầu xin được Ngài hộ trì gia bị, thì con xin ngài gia hộ cho tất cả chúng sinh trên cõi Ta Bà này sớm phá vỡ màn vô minh, mà quay về với đạo giải thoát để biến cõi Ta Bà uế độ thành Tịnh độ trang nghiêm như cõi Phật A Di Đà vậy.

Chiêm ngưỡng tán thán, nguyện cầu xong tâm tư chúng ta hẳn đã vơi nhẹ lắm, và mong sao niềm an lạc hoan hỷ nầy sẽ theo mãi với chúng ta đi vào cuộc sống.

Ra về, trở lại gia đình, tiếp xúc bạn bè, lao đầu vào công việc tất cả hoạt động bây giờ đã thay đổi. Thay đổi ý thức và thay đổi hành động...

7. Một ít vui

Lang thang trong mê lộ bấy lâu, nay mới tìm được đường về, hỏi ai mà không vui. Nếu đem nỗi vui nầy đánh giá, trao đổi thì không phẩm vật nào tương xứng so sánh được. Ví như một người sắp chết đuối được cứu sống, thì không có phẩm vật gì bù được sự cứu vớt này.

Trong cuộc sống xưa nay vì không nhận ra mọi việc là vô thường, là nhân duyên sanh diệt, nên con người sanh tâm đối đãi phân biệt; và do sanh tâm như vậy bao phiền não phát sinh. Khi phiền não phát sinh, tâm tư đau khổ, tâm đau khổ thân thể ảnh hưởng theo sinh ra bệnh tật. Bản thân lâm bệnh tác động đến người thân trong gia đình gây ra hoàn cảnh khổ lo. Nhưng ảnh hưởng đau buồn đây, không dừng nghỉ ở không gian phạm vi gia đình đó; nó còn có thể lan tỏa qua cuộc sống của gia đình láng giềng bên cạnh. Và một thị trấn có nhiều gia đình bất an như vậy, làm sao không ảnh hưởng đến thành phố. Thế là chẳng có quốc gia nào lại muốn khu vực nào trong nước mình mất an ninh vậy.

Thế giới càng sung mãn vật chất, con bệnh hiểm nghèo như vậy dễ bộc phát hơn, đơn giản vì tinh thần (tâm linh) khó thể phát triển song song với vật chất được.

Chỉ có một điều không hiểu vô thường, không tin nhân quả mà tác động như vậy! Nhưng thật ra có bao nhiêu người hiểu vô thường, nhân quả mà sao chẳng thấy thế giới hư hoại? Chúng ta hãy khoan nhìn xa, mà nên nhìn ngay vào hư hoại thật gần ở chính ta. Chính bản thân ta đã trả lời câu hỏi này. Lòng tham, sân, si là ba độc là phiền não, là yếu tố chính làm hư hoại thế giới. Ta ngầm hiểu rằng mỗi người có một thế giới sống, và nếu chính bản thân ta hư hoại, thì gia đình, xã hội, quốc gia cũng lần lượt hư hoại theo, bấy giờ thế giới toàn cầu cũng phải tiêu hủy. Điển hình dễ thấy, tác động của một cá nhân trong địa vị nắm quyền đất nước, nếu không phải là người lãnh đạo sáng suốt thương dân, thì sự hư hoại thật rõ ràng.

Tuy nhiên chúng ta chớ nghĩ bi quan, mà nên lạc quan! Sự bừng tỉnh hiểu được lý vô thường, nhân quả đã đặt cho ta một lối sống hạnh phúc ngay trong cuộc đời này, dù cuộc đời luôn phản ảnh cái nhân quả bất an, đau khổ.

Chúng ta cũng không bi quan, khi một số người quá ít nhận hiểu nguyên lý này. Hay nói cách khác, sự hoài công quân bình (vật chất, tinh thần) tiến đến việc hài hòa xả hội để tránh việc hư hoại, do nhiều người chẳng để ý đến.

Ít ra, trước hết ta có được niềm an lạc ngay bản thân khi nhận ra việc giác ngộ đạo nhiệm mầu, và niềm an lạc này là cụ thể gián tiếp hoặc trực tiếp cải thiện hoàn cảnh chung quanh. Lại căn cứ vào pháp nhân duyên sinh diệt, nghiệp nhân, quả báo ta thêm vững vàng niềm lạc quan hơn. Vì sự có mặt của ta đây là do nghiệp lực, cũng như sự chung đụng trong môi trường như vậy là do cộng nghiệp đã gieo, thì giờ đây sự thức tỉnh tạo thành tác nghiệp mới, sẽ có thể chuyển hóa mọi hoàn cảnh. Và không những hoàn cảnh cho riêng ta mà chắc chắn cho mọi người sống gần ta nữa. Vậy đó là định hướng mà ta tự tạo ra một nghiệp dẫn sáng sủa không lạc vào mê lộ, dù ở bất cứ tình huống nào trong tương lai.

Không lạc vào mê lộ là một niềm vui, niềm vui này dạt dào bất tận khó tả, khó kể được. Niềm vui đó cụ thể cảm giác ra sao, và so sánh với cái thường tình của thế gian khác nhau thế nào? Tất nhiên có khác và khác nhiều lắm, nhưng khi cá nhân nào đạt được viên mãn nguồn vui này, thì họ không còn thấy khác nữa, bởi vì còn thấy khác là chưa phải nguồn vui viên mãn. Trình độ được nguồn vui nầy là một trình độ cao; và chúng ta đang nhận ra mê lộ để dần dần đi đến nguồn vui này. Thật sự, hiện cũng khó tìm thấy được người đạt được nguồn vui viên mãn.

Xin đưa ra ví dụ tạm hiểu nguồn vui viên mãn. Các em bé khi dành giựt quà cáp hay vật gì ưa muốn, mà được như ý chúng sẽ rất vui, cho dù đứa bé đối phương không đạt như ý, khóc sướt mướt trước mặt chúng, chúng chẳng quan tâm. Đây là niềm vui thô kệch, hơn thua không bình đẳng. Niềm vui người lớn thì cố làm sao cho hai bên được chia đều phần quà phẩm, để mình vừa vui mà đối phương cũng hoan hỷ. Ở đây cũng khá cao rồi; nhưng vẫn chưa viên mãn, vì cũng còn chia nhau, giữa mình và người. Niềm vui viên mãn là tặng luôn món quà kia cho người, và khi tặng như vậy tất nhiên người tặng sẽ có cái vui, vì làm người khác vui trọn vẹn đây chính là vui viên mãn.

Nhưng thực tế chúng ta có áp dụng được vậy không? Vì nếu dâng hết cho người chúng ta còn gì để sống; còn gì để làm phương tiện phát triển và cải thiện những gì cần làm cho nhu cầu sinh hoạt. Thật vậy, đây là việc khó làm, chỉ có những Bồ Tát lớn mới dễ dàng thực hiện. Chúng ta ở mức độ chia bình đẳng với nhau cũng là quý lắm rồi. Tuy nhiên, trên lộ trình giải thoát ra khỏi mê lộ, ta buộc phải đi đến niềm vui viên mãn đó.

Điều mà chúng ta tán thán ca tụng, công hạnh việc làm của Bồ Tát, là ta đã âm thầm bắt đầu ký thác cho chính mình sẽ thực hiện như Bồ Tát trong tương lai. Vậy thì sơ cấp của nguồn vui mà người vào Phật đạo có được, là tạo nên cái nhìn và lối sống tình thương bình đẳng. Thật ra hiểu và hành theo cách sống bình đẳng không phải dễ. Vì thật tình nhìn lại chính ta, hiện đã sống bình đẳng chưa? Khoan nói đến bình đẳng tánh đại thừa. Nghĩa thường của bình đẳng là sống phải đồng chung cộng hưởng với nhau. Phải tôn trọng và kính nể mọi người, không vì chức vị sang hèn mà có thái độ phân biệt kỳ thị. Chỉ nghĩa đơn giản này thôi kết quả cũng mỹ mãn hạnh phúc, và thế giới đã tránh được biết bao đau thương vì chiến tranh thù hận.

Nhìn xem thế giới hiện nay, nền hòa bình toàn diện vẫn chưa thực hiện được, điều này cho thấy thực hành theo nghĩa thường của bình đẳng cũng đã khó. Tuy nhiên không phải tuyệt đối chẳng thể làm được, chúng ta phải lạc quan và điều lạc quan này là sự thật. Chắc chắn mọi người đều hiểu, muốn có hoà bình an lạc trên hành tinh này, việc đầu tiên mỗi cá nhân trong gia đình phải tạo lối sống hòa bình theo cái nhìn tương kính bình đẳng. Nhiều gia đình được như vậy xã hội sẽ an hòa, rồi quốc gia đất nước mới lan tỏa chia xẻ sự bình đẳng đến khắp nơi trên thế giới. Người học Phật chắc chắn lấy bình đẳng tâm làm nền tảng tu học, và lấy bình đẳng pháp mà thực hành. Bình đẳng tâm là nhìn chúng sanh không có sự phân biệt. Từ sự không phân biệt nên không có ai là thân ai là thù. Tâm bình đẳng như vậy mới tạo được sự sống trong thương yêu hài hòa.

Bình đẳng pháp là con đường trung đạo không rơi vào chấp có chấp không, không hành xử theo tiểu thừa hay đại thừa mà chỉ có Phật thừa là con đường đạt đến quả an vui tuyệt đối.

Bình đẳng để tu học mà người Phật tử chúng ta dễ thấy nhất là pháp Lục Hòa. Áp dụng pháp Lục hòa là mặc nhiên ta đã thực hành bình đẳng quan rốt ráo.

Lục hòa là sáu phép hòa hợp: Thân hòa đồng trụ, Khẩu hòa vô tranh, Ý hòa đồng duyệt, Giới hòa đồng tu, Kiến hòa đồng giải, Lợi hòa đồng quân.

Sáu phép căn bản này không chỉ dành riêng cho tu sĩ, mà hàng cư sĩ tại gia cũng cần nương vào để tạo được cho mình lối sống an lạc.

Thân hòa đồng trụlà xây dựng một nơi chốn yên vui mà sự chia xẻ thực tế nhất trong cuộc sống cộng đồng, người người phải hòa hợp trên một trụ xứ, đất nước. Khẩu hòa vô tranh, là bước kế tiếp để củng cố tình đoàn kết thương yêu, qua lời nói xây dựng tình đồng loại, có nghĩa đã ở chung trụ xứ sống với nhau tất phải thăm hỏi thương kính. ٍ hòa đồng duyệt, sự tương kính chào hỏi phải thành thật phát xuất từ tâm tư của mình, nên ý tưởng phải chân thành vui vẽ. Giới hòa đồng tu, phải biểu hiện qua việc làm, cùng nhau tuân thủ những gì cần phải giữ và những gì cần phải tránh, để tạo cuộc sống an ninh và an lạc. Kiến hoà đồng giải, Sự phát triển hài hòa gắn bó nhau hơn khi kiến thức hiểu biết được bàn giải mở rộng. Và cuối cùng là cụ thể tình thương một cách sâu đậm qua Lợi hòa đồng quân tức trong khả năng có thể chia sẻ những lợi ích cho nhau.

8. Ở đây nào phải ngẫu nhiên!

...Giờ mới hiểu đâu có gì mà tự nhiên! Biết mọi việc không là tự nhiên, mình cảm thấy thật an ủi cho chính mình khi phải lãnh chịu những thiệt thòi hơn kẻ khác, bởi đó là mức độ lãnh nghiệp trong vô vàn sai biệt của nhân quả. Sự sai biệt thật phức tạp, chỉ có các vị tu chứng mới tỏ rõ nguồn gốc của nó. Chúng ta chỉ thấy và tư duy được một vài mức độ thôi.

Thử tìm hiểu, suy tư về cõi Ta Bà nơi ta đang ở!

Quả địa cầu ta đang sống đây, chúng ta cho là thế giới loài người. Thế giới này lơ lững quay vòng theo một vật thể khổng lồ to gấp hàng ngàn lần quả địa cầu chúng ta. Vật thể nầy có sức nóng khủng khiếp, phát ra ánh sáng chiếu rọi thế giới loài người, tạo nên sự sống và được gọi là mặt trời. Ngoài thế giới ta còn có các hành tinh láng giềng là: Thủy Tinh, Kim Tinh, Hỏa Tinh, Mộc Tinh, Thổ Tinh, Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Diêm Vương Tinh cũng làm một việc là quay quanh ông mặt trời. Quay lâu như vậy chắc cũng hàng triệu năm! Riêng thế giới của ta, lại có ông láng giềng nhỏ là mặt trăng quay chung quanh quả địa cầu. Ngày xưa còn nhỏ ta mơ rằng, nếu được lên cung trăng chắc gặp được chị Hằng và chú cuội; nhưng rồi con người đã lên được cung trăng mà chẳng thấy Chú Cuội, Chị Hằng đâu cả. Cũng chẳng thấy một bóng dáng công dân mặt trăng nào, hay một vật gì có thể nhúc nhích di động. Không biết là vì trên đó hoàn cảnh khác, nên có thể có những cái không hợp với loài người hai chân, hai tay hai mắt...như ta thành ra không thể kiểm tra được? Còn các anh láng giềng to lớn có công việc nhàm chán như ông thế giới mình là quay quanh mặt trời, thì cho đến nay khoa học vẫn đang dò dẫm để xem có ai đang to nhỏ, chuyện trò trên đó không? Và nếu có thì không biết họ có phiền não như loài người chúng ta chăng?

Hiện thời khoa học đang gia công tìm kiếm sự sống ở Hỏa Tinh. Đã có hình chụp, phim quay rõ ràng lắm, mà cũng chẳng thấy gì cả. Chắc cũng giống như mặt trăng! Tuy nhiên ông láng giềng có màu đỏ này không đơn giản đâu, vì hiện đang có nhiều nghi vấn! Hơn nữa xin nhắc lại đâu phải mình là ông loài người có hai mắt, hai tai rồi nghĩ rằng ở chỗ xa xăm kia cũng có những sinh vật giống y như mình! Trừ ra khi nào ở đó là hành tinh màu xanh kìa. Cho nên cũng có thể là có (chúng sanh hữu hình, vô hình...), nhưng vì hình sắc cấu tạo khác, do vậy có cái gì không tương hợp và không thể thấy được. Nói như vậy thì có thể tin và có thể đoán xa hơn nữa ...

Các nhà thiên văn học đã và đang nghiên cứu tìm hiểu thì đại khái là vũ trụ có hàng tỉ tỉ dãi ngân hà. Trong ngân hà có hàng tỉ thái dương hệ, và có thể suy ra trong hàng tỉ tỉ tỉ...thái dương hệ ở trong tỉ tỉ ngân hà nào đó, chắc cũng có hành tinh xanh; nhiều ít thì không biết nhưng chắc chắn có. Cũng như đống đá sỏi hàng triệu viên, thì làm gì cũng có một vài viên giống nhau. Xét lại lời Phật dạy quả thật là đúng, đúng còn hơn khoa học nữa, vì khoa học chỉ biết việc này mới đây thôi, Phật thì đã nói trước lâu rồi. Phật còn nói luôn là chúng ta muốn sinh ở đâu thì tùy ý muốn. Sanh về hành tinh đỏ, xanh, đen gì cũng được; tất cả do ta quyết định. Để chứng minh lời Phật nói, thì những sự kiện tái sinh, đầu thai xuất hiện trên thế giới này bây giờ đã được chính thức bàn thảo một cách nghiêm chỉnh. Sự kiện cho thấy đã trở lại hành tinh xanh được, thì cũng chắc lạc vào được hành tinh đen, đỏ, nâu, tím...mà người Phật tử biết là thế giới của những chúng sanh đau khổ như ngạ quỷ, súc sanh...Và cái chuyện đi lạc hay tự làm cho mình lạc, hoặc chọn lựa gì đó là cái mà ta đã biết là do Tâm Thức, phần này chúng ta đã bàn sơ qua rồi. (ở phần -Hiểu một ít Phật pháp).

Xin nói thêm là nếu tâm thức kia có thể trở lại hành tinh xanh này, vậy HẮN đã từng chu du thoải mái đâu đó trong vũ trụ, và thoải mái như thế chắc cũng mục kích được bao nhiêu hành tinh xanh trong dãi ngân hà nào đó, chẳng hạn ngân hà hình nước xoáy (whirlpool Galaxies M51)! Và nếu quyết tìm thì biết được dãi ngân hà nào có nhiều hành tinh xanh nhất. Nhưng xin thưa là khó lắm, khó lắm vì căn cứ vào Phật pháp mà chúng ta biết, chỉ các vị tu chứng m��i tự tại chọn lựa thị hiện đóng trò đi vào mà độ chúng sanh, ngoài ra đều bị nghiệp lực kéo lôi đi. Do vậy tâm thức chúng ta nếu không đầu tư vào việc chuyển hóa hành trang (nghiệp lực) của mình, hẳn sẽ loay hoay không xa dãi ngân hà hiện ta đang ở. Hơn nữa dù dãi ngân hà này hư hoại đi, mà nghiệp chúng ta không khá thì cái lựa chọn không khá đó cũng dẫn đường chỉ lối cho ta tìm vào dãi ngân hà không khá khác vậy. Nói cho dễ hiểu là ta có ham muốn gì, yêu thương gì, say đắm gì, sa đọa gì tức theo cái đó để tìm vào cho nó vừa vặn thích hợp. Thành ra việc hư hoại thế giới này chúng ta còn dư thế giới tối, sáng khác để tìm vào. Đừng lo không có thế giới tương hợp cho mình, chỉ lo ta mở nổi cặp mắt để nhìn thế giới nào là sáng là tối mà chui vào. Đến đây chợt nhớ kinh Địa Tạng, Phật có dạy những chúng sanh bị tội Vô Gián phải sanh mãi vào thế giới khổ: ‘...Lúc thế giới này hư hoại thời sanh nhờ qua địa ngục ở thế giới khác. Lúc thế giới khác đó hư hoại thời lại sanh vào cõi khác nữa. Lúc cõi khác đó hư hoại thời cũng xoay vần sanh vào cõi khác. Đến khi thế giới nầy thành xong thời sanh trở về thế giới nầy...’

Trong kinh A Di Đà có nói thế giới Cực Lạc là thế giới vô cùng an lạc hạnh phúc; thế giới ấy cách chúng ta mười ức Phật độ. Thôi thì nó xa không thể tưởng nổi, tuy nhiên Phật lại nói, là trước khi chết chỉ nhất tâm niệm Phật không loạn động, được mười câu tức liền được đi ngay tới nước kia. Dấu hiệu triệu chứng của việc bay sang cõi Phật A Di Đà là việc vãng sanh, nghĩa là trước và sau khi chết có điềm lạ, đây gọi là thoại ứng: như biết trước giờ chết, đỉnh đầu còn ấm nóng nhiều giờ sau khi đã chết hẳn, thân xác còn giữ được mềm mại, lại không có mùi hôi dù trải qua vài ngày.v.v...

Vậy là thế giới dù xa mà chẳng ngại gì khoảng cách. Tới đây chúng ta đã biết, phương tiện nhanh như vậy chỉ có Tâm thức mới làm được cũng như chọn cảnh giới cũng do Tâm thức mà ra.

Ta mới thấy tất cả không có gì ngẫu nhiên khi có mặt trên hành tinh này. Vì còn biết bao nhiêu hành tinh khác sao ta không lựa! Một việc nữa, tại sao lại có nhiều người như ta vậy? Nói đến nhiều người, lại thấy thật ra đâu có nhiều, nếu tính hết chúng sanh trên thế giới này; loài người chỉ có hơn sáu tỉ so với loài vật có thấm gì đâu. Chỉ lấy loài sống dưới nước cũng đã quá hơn ta rồi. Nhưng thực tế bây giờ, thật tình người ta đã hơi sợ vì thế giới bắt đầu lo về thực phẩm, liệu có đủ cung cấp đều đều cho số lượng con người càng ngày càng tăng không? Nạn nhân mãn đang ngấm ngầm báo động trong đầu các nhà lãnh đạo trên thế giới mà họ không dám bàn đến.

So với loài vật loài người không đáng gì mà chúng ta đã thấy có vấn đề; lỡ mà có trận thủy lục khổng lồ tràn ngập địa cầu chiếm chín phần mười là nước, thì loài người sẽ không biết sao. Ngược lại biên giới loài thủy tộc lại được khai phá thêm. Nhưng cũng đâu biết chừng vì có duyên nghiệp đeo đuổi hành tinh này chúng ta lại hóa thành cá! Và đã là chúng sanh chưa chứng ngộ thì hết thảy đều khổ, thế là cá cũng khổ luôn!!!

9. Những vấn đề ...

Khi đôi vai chưa có hành lý nào, ta cảm thấy thoải mái nhẹ nhàng dù việc nhẹ nhàng này đẩy đưa ta vào sinh ra tử. Nhưng nay ta bắt đầu gánh lên vai một hành lý, chuẩn bị cuộc lội qua dòng sinh tử, ta lại chẳng thấy nhẹ nhàng an thân, đôi khi còn nhiều bất ổn phiền toái. Phải chăng ta đã sống trái ngược với đời? Phải chăng ta tự đẩy mình vào đời sống lập dị? Hay đã lý tưởng một điều viễn vông không thực tế. Và còn nhiều việc khác nữa mà ta không thể nào nói ra được vì nhiều lý do thầm kín...

Sự việc như thế, có lẽ người mang hành lý giải thoát nào cũng ít nhiều trải qua. Nhưng cuối cùng, cũng qua được bờ sanh tử rồi ngoái đầu nhìn lại bờ kia mĩm cười, rằng may quá mình đã thắng! Thắng cái bình thường nhất mà mình quá quan trọng nên thành phức tạp mâu thuẫn rồi tự băn khuăn than thở. Bấy giờ lại tự muốn đi vào sanh tử mà chẳng còn có tử có sanh! Lúc này mới đúng nghĩa của nhẹ nhàng thong dong tự tại siêu việt sinh tử.

Người học Phật sơ cơ như chúng ta, hay vấp phải những vấn đề đối đãi, tự làm con đường vượt sanh tử dài xa hơn sự thật của nó. Tất nhiên mọi công đức vun trồng tạo dựng vẫn còn đó không mất đâu cả, nhưng nó lại tác tạo một quả nghiệp khác song song với quả nghiệp lành. Quả nghiệp khác là quả nghiệp nhận rằng mình đã làm một công đức, nhận rằng có người làm có người không. Chính việc cố làm và phân biệt nầy đã gây cho ta những bất an khó chịu trong đời sống. Nỗi bất an đó lâu ngày trở thành phiền não; phiền não vì không chịu đựng được mọi người, phiền não vì mình bất lực giúp người được thánh thiện như mình... Nhưng thật ra mình nào có thánh thiện, vì người thánh thiện không có phiền não như vậy.

Bậc thánh trong đạo giải thoát có làm mà không thấy việc làm để chẳng kẹt vào việc làm của mình. Các vị làm gì thường với tâm vô cầu vô niệm, với chúng ta làm việc thường là do tình cảm mà ra, nhưng tình cảm bi thương trắc ẩn đó không phải từ tâm vô ngã, nên ta mới rơi vào sự xáo trộn vọng tình. Để chỉ mong chờ kết quả và kết quả đó chỉ là nuôi thêm bản ngã cho lớn mà thôi. Và khi ngã (cái ta) càng lớn thì phước báo của tâm an tịnh không thể sanh ra, do đó tự quay lại thấy mình hụt ngã chơi vơi. Từ đây bao thiện niệm biến thành ác niệm, cảm thấy mình lập dị khác thường...Hành trang giải thoát trên vai giờ nặng nề ra; đừng nói gì mang được hành lý bơi ngược qua bờ bên kia, mà xuôi dòng về lại con người cũ (lúc chưa tu đạo) cũng thành bất lực.

Nhưng may mắn thay, cuối cùng chúng ta cũng qua được bờ bên kia (bờ giác ngộ) vì gặp được thiện tri thức. Có một điều lạ, ngay khi ta sắp rơi vào cơn cùng cực đau thương thì bậc thiện tri thức xuất hiện. Đây là do niềm tin tha thiết cầu đạo của ta. Thiện tri thức mang nhiều hình tướng, có khi các vị chẳng phải là người tu, người thiện mà còn là người sống trái ngược những gì là đức thiện. Các vị hành động bất nhân để mọi người thấy đó mà tu nhân, các vị sống thất đức để mọi người lo tu đức, các vị chịu lãnh quả báo ác nghiệp để mọi người sợ mà tu thiện nghiệp v.v...Trong truyền sử Phật, Đề Bà Đạt Đa được xem là kẻ đại ác, nhưng đối với Phật Ngài là bậc thiện trí thức. Không phải chỉ duy vì trong quá khứ ki���p, Đề Bà Đạt Đa là vị tiên nhân mang chánh pháp cho vị quốc vương là tiền thân của Phật như trong kinh Pháp Hoa Phật đã kể, nhưng ngay trong đời này, Phật vẫn thấy sự ác tâm hành nghịch trái đạo của Đề Bà Đạt Đa là pháp học, giúp Ph��t hóa thành pháp nhẫn dạy lại cho hàng đệ tử. Để rồi Phật dạy rằng: ‘Qua vô lượng kiếp về sau, ông Đề Bà Đạt Đa sẽ được thành Phật hiệu là Thiên Vương Như Lai, -ng cúng, Chính biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế Tôn. Cõi nước đó tên là Thiên đạo, lúc Thiên Vương Phật trụ ở đời hai mươi trung kiếp, rộng vì các chúng sinh mà nói pháp mầu, hằng hà sa chúng sinh được quả A La Hán, vô lượng chúng sinh phát tâm Duyên Giác, hằng hà sa chúng sinh phát tâm vô thượng đạo, được vô sinh nhẫn đến bậc bất thối chuyển...’ [21]

Khi chúng ta hiểu điều này, ta tự nghĩ lại việc làm thiện của ta có xứng đáng nêu danh ca tụng không? Và hoàn cảnh nơi ta ở, những người hằng ngày ta tiếp xúc có còn cho ta so sánh đối đãi không? Hay ngược lại ta cám ơn hoàn cảnh đó, con người đó! Vì họ mà ta mới thấm thía cuộc đời! Vì họ mà ta mới lãnh hội được giáo lý giải thoát như là giáo lý Khổ Đế!

Chắc chắn trong quá trình tu học, chúng ta đã gặp nhiều thiện tri thức, và nhờ đó chúng ta thấy được rõ ràng con người chúng ta. Như vậy có thể nói ai cũng là thiện tri thức! Khẳng định như vậy là cái nhìn của các vị Bồ Tát lớn. Cũng trong kinh Pháp Hoa phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát nói lên điều thâm sâu nầy. Kinh kể rằng có vị Bồ Tát lập nguyện, gặp ai cũng tôn kính và xác nhận quả quyết tất cả là Phật tương lai. Nên Ngài không sợ gì người khác mắng chửi điên khùng mà thưa chào thi lễ. Với chúng ta khó mà lập nguyện và làm được như vậy, tuy nhiên chỉ cần khắc ghi vào tâm cầu giải thoát, cầu vô phân biệt nhân ngã, chúng ta tức thì tìm gặp dễ dàng vô số thiện tri thức. Điều quan trọng hơn nữa là ta phải tự biến mình thành thiện tri thức, vì có như vậy ta mới hành xử giống cung cách người thiện tri thức, cũng như quan sát vấn đề theo cái nhìn chánh kiến.

Chúng ta phải là thiện tri thức mới có thể hiểu và thông cảm được nhiều người, và trọng yếu hơn là giúp được nhiều người gần gũi với đạo giải thoát. Vậy vấn đề là làm sao để trở thành thiện tri thức ?

Định nghĩa thiện tri thức Phật Học Tự Điển của Đoàn Trung Còn viết như sau: Thiện tri thức cũng là người hiền lành tin mộ Chánh pháp và có trí thức.- Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, La Hán là thiện tri thức của chúng sanh.-

Chúng ta hiện hẳn là người tu Phật, luôn cầu được kiên cố tâm Bồ đề và được tâm Bồ đề phải là người nguyện độ chúng sanh. Trong tâm tưởng mang tâm niệm cầu giải thoát cứu độ mọi người, chúng ta đã hóa mình thành thiện tri thức. Vì không phải là thiện tri thức thì không thể phát tâm bồ đề được. Lẽ đó bằng tâm bồ đề tự cứu mình cũng là cứu chúng sanh và ngược lại khi phát nguyện cứu độ chúng sanh là tự cứu chính mình.

Trở lại những vấn đề nan giải trên đường tu học, ta cuối cùng thấy được thiện tri thức ở ngay chính chúng ta. Thấy được chính chúng ta là thiện tri thức, là lúc ta quên chúng ta đi. Quên chúng ta là phá bỏ bản ngã, nhận rõ tánh vô thường của vạn vật. Lúc này đối tượng của ta chẳng còn nằm ngoài ta nữa, có nghĩa niềm đau của kẻ khác ta cảm thông được như là của mình. Từ đó ta lấy lại đủ sức mà bơi trọn dòng sông sanh tử qua đến bờ bên kia.

10. Hành động theo Phật pháp

Mang thân nghiệp bước vào đời tạo dựng cuộc sống, chúng ta đã nhờ vã rất nhiều nhân duyên. Chúng ta không thể ngẫu nhiên mà có thân mạng, không ngẫu nhiên mà có kiến thức, và lại càng không ngẫu nhiên ý thức được việc này. Thử nhìn lại một vài tiến trình nhân duyên đã tạo cho ta nên người.

Điều đầu tiên là do cha mẹ sanh ra, cha mẹ sanh ra rồi nuôi nấng; trong việc nuôi lớn bằng thức ăn vật chất, cha mẹ còn cho ta món ăn tình thương luân lý. Khi lớn lên được gởi vào nhà trường, bấy giờ thầy cô là người nuôi lớn ta bằng kiến thức. Gạch nối giữa nhà trường và gia đình là xã hội, nơi đây làm ta tiêu hóa những thức ăn ở nhà và ở trường. Và chính điểm giữa này, là nơi quyết định tự đặt cho ta một viễn cảnh: đẹp xấu, vui buồn, thiện ác...

Theo giáo pháp của Phật, thì hình ảnh thể sắc con người và hoàn cảnh sống của ta đời nay, phản ảnh việc làm của ta đời quá khứ, và đời sống tương lai của ta thế nào là do đời nay ta hành động.

Vậy ra ta có được như ngày nay tất cả là do ta đã hành động trong quá khứ kiếp. Việc mang nghiệp thân vào đời là lực tác động phản lại của nghiệp. Chẳng hạn ngày trước ta có thể là một thương gia, nên đời này ta mới chạy đua vào thương trường. Ngày trước ta làm tu sĩ dỡ dang nên kiếp này ta hay trầm tư suy nghĩ, và thường tránh nơi ồn ào náo nhiệt. Hoặc ngày trước ta có thể là kẻ lãng du sống bất cần đời, nên kiếp này ta không hài lòng một nơi nào cả, và thù ghét triết lý viễn vông...v.v và v.v...

Ngày nay ta tiếp tục hành động, và những hành động này có khuynh hướng mạnh về đời trước của ta.

Tất nhiên ta vừa hiểu nghiệp quá khứ đã cho ta cảnh sống ngày nay, nhưng nghiệp quá khứ không thể gây ảnh hưởng cả một đời của một người có nghị lực muốn vươn lên. Nếu quả thật ta bất lực thay đổi vì nghiệp báo, thì cuộc đời sẽ không có được đến một người tu. Và mọi người đều phó thác cho định nghiệp để gọi là định mệnh an bài; từ đây dẫn đến việc không tin nhân quả, rồi tự do hành động xuôi theo dục vọng sai khiến. Cuối cùng kết quả đau khổ càng chồng chất thêm.

Hành động theo Phật pháp là hành động tích cực tạo thiện tránh ác, và khi ý thức so sánh hơn thua dẫn đến tạo nghiệp, thì người hành động theo pháp giải thoát hẳn nhiên phải chọn con đường thiện nghiệp mà đi, do đó nếu hơn người mà tạo ác nghiệp thì người hiểu chánh pháp sẽ không tham gia. Tuy vậy hành động tạo nghiệp thiện ác không tuyệt đối cứng nhắc, mà còn tùy tình huống hoàn cảnh của vấn đề. Chẳng hạn, vì phải làm việc ác mà tạo được nhiều việc thiện giúp người, thì ác đây hóa thành phương tiện phải làm.

Trở lại vấn đề, giả như ta là thương gia tất nhiên việc làm của ta sẽ tiến triển theo đường hướng lương thiện, biết vừa phải trong cách làm việc của một người bán hàng. Nếu ta là người hay trầm tư suy tưởng, thì cố hoán chuyển những suy tưởng đó thành cụ thể vấn đề. Nếu ta là người thực tế, chẳng cần muốn tìm hiểu đến tương lai xa xăm, nhất là việc trừu tượng viễn vông, thì ta nên thực tế nghĩ ngay chuyện bây giờ, chuyện ta đang làm, đang ở, đang sinh hoạt trong xã hội này có ���nh hưởng thực tế gì đến người khác không.

Như thế hành động theo Phật pháp, chỉ là biết cách hưởng thụ món ăn mà ta thừa hưởng, để được tiêu hóa đời này đến cả đời sau. Và có khi còn ảnh hưởng nhiều đời nữa. Nghĩ vậy mà cẫn thận chọn l���a món ăn nào dễ tiêu, có ảnh hưởng nuôi được thân mạng cũng như huệ mạng. Huệ mạng là chất liệu trong sáng đi sâu vào tâm thức giúp ta sáng suốt đi dần đến con đường vượt khổ.

11. Giữ tâm mà đi

An tâm cho cuộc khởi hành là tu tâm, tu được tâm thì tu được tất cả. Hay nói ngược lại, hễ ai tu được tất cả là người đó đã tu được tâm, lối nói khác hơn là làm chủ được tâm. Thật tình mà nói, chúng ta loay hoay chọn lựa đủ phương tiện pháp môn tu niệm, cũng chỉ đơn giản tu cho được cái Tâm. Nhưng lại thật tình mà nói, khi đã có mặt dạo chơi ở cõi Ta Bà này, đã nói lên cái tâm mềm nhũn lung lay rồi. Nếu không, ta đâu có nghe lời dụ dỗ của tâm (vọng tâm) mà sanh đi sanh lại để khổ đau hoài. Ấy vậy trong thiên hạ cũng có một ít tâm cứng cỏi, kiên cường. Một số người thế gian không tu theo Phật mà cũng có những tâm kiên cố đáng khâm phục. Họ chỉ nương theo lý tưởng, gắn bó hoài niệm vào một ý thức hệ nào đó, theo đường hướng đã chọn để vững Tâm quên mình hy sinh cho đại sự; sức mạnh của ý thức vậy cũng là luyện tâm, tu tâm. Từ đó mà thấy có người mất đi rồi mà tên tuổi vẫn còn lưu danh qua hàng thế kỷ.

Thiết nghĩ tu Tâm không phải dễ, nhưng nghĩ rằng người thế gian vì một ý thức tục đế mà còn tu được tâm, thì người con Phật phải tinh tấn hơn. Vì pháp mà chúng ta gắng tu đây là chân đế, không phải pháp sanh diệt như thế gian. Người thế tục tu Tâm để hoàn chỉnh cách sống theo đạo lý luân thường, theo tập tục luân lý, theo tập quán tín ngưỡng v.v...Người tu Phật cũng tu như vậy nhưng hoán chuyển cách sống đó hài hòa theo đạo giải thoát.

Vậy tâm của người tu Phật là tâm giác ngộ, tâm giải thoát, tâm đó gọi đúng là tâm Bồ Đề. Tâm Bồ Đề thì không bị trần cảnh sai khiến dụ dỗ nên tự tại sáng suốt. Điều để làm tâm Bồ Đề sinh khởi, là phải quán xét phát nguyện tu tập pháp giải thoát của chư Phật, mà việc tu Phật không gì hơn là tu Giới như chúng ta đã nghĩ qua.

Giới được ví là viên ngọc quý nhất trong hàng tỉ triệu viên ngọc, vì viên ngọc Giới đưa người đến giải thoát, thử hỏi có gì hạnh phúc an lạc khi mang được tâm tự tại thong dong chu du khắp pháp giới. Vậy thì để giữ được viên ngọc giải thoát kia, người học phải làm cho tâm mình biến thành tâm Bồ Đề hay nói đúng theo tâm hạnh tu Phật là phải phát Bồ Đề Tâm. Không phát Bồ Đề Tâm thì không thể gìn giữ được viên kim cương giải thoát, nghĩa là không thể thành Phật (giác ngộ), nghĩa là vẫn còn chần chờ lưỡng lự bước lên con thuyền Bát Nhã. Nói cho đúng hơn, là chưa hiểu được Phật pháp! Vì hiểu Phật pháp mà không khơi dậy tâm Bồ Đề thì cái hiểu ấy chỉ là cái hiểu thường thức phổ thông như thế tục mà thôi. Và cái hiểu ấy dù có phước báo đời sau cũng chỉ là phúc lạc đi kèm với biết bao chông gai của tác nghiệp; nguyên nhân vì được phúc lành dễ sanh ra dục lạc, khi chủng tử phát Bồ Đề Tâm không có.

Có phát Bồ Đề Tâm mới thật sự hiểu Phật pháp, vì đạo giải thoát ở ngay tâm Bồ Đề. Và người phát Bồ Đề Tâm như vậy mới chống chọi nỗi thế lực của vô minh, và mới sinh ra lòng tin Phật kiên cố.

Người tu Phật nào đã đọc kinh chắc nghe qua bốn lời nguyện sau đây:

Chúng sanh vô biên thề nguyện độ,

Phiền não vô tận thề nguyện đoạn

Pháp môn vô lượng thề nguyện học

Phật đạo vô thượng thề nguyện thành

Đó là phát Bồ Đề Tâm, nguyện cho được đầy đủ công đức bằng cách nguyện độ chúng sanh, khi nguyện độ chúng sanh tức là tự nguyện độ chính mình, bởi chúng sanh và mình đồng bản thể thanh tịnh giác ngộ. Trong các Thánh Tăng Trung Hoa, Ngài Thật Hiền là vị Bồ Tát lớn đã chỉ cho ta tìm thấy được viên ngọc quý, đó là để lại cho hậu thế lời Phát Bồ Đề tâm thống thiết mà người học Phật sơ cơ như chúng ta phải trân quý, suy tư hành theo để bồi dưỡng công đức. Trong lời giới thiệu bài văn ‘Phát Bồ Đề Tâm’ Hòa Thượng Trí Quang, dịch giả có ghi: ‘‘Về bài văn khuyến phát Bồ đề tâm, và tác giả của nó là ngài Thật Hiền, Bành Tế Thanh đã viết, đọc bài văn ấy không lúc nào tôi khỏi đổ mồ hôi, khỏi rơi nước mắt...’’

Nội dung bài văn Phát Bồ Đề Tâm, Ngài Thật Hiền nhấn mạnh sách tấn hàng tu sĩ xuất gia, tuy nhiên niềm tín tâm và khơi lòng Bồ Đề hướng đến việc tu niệm giải thoát thì không có sự phân biệt.

Phát Bồ Đề tâm nói một cách dễ hiểu, là làm sanh khởi tâm tỉnh giác, tâm giác ngộ của bậc Bồ Tát để cầu đạo Vô Thượng. Chúng ta mỗi người mỗi căn cơ trình độ thì tùy vào mức độ đó mà phát tâm. Hiện giờ ta không thể phát khởi làm những việc phi thường như các vị Bồ Tát, bởi vì do hoàn cảnh của mỗi người chúng ta. Nhưng chúng ta có thể phát nguyện âm thầm làm những gì mà Bồ Tát đã làm. Chúng ta có thể khơi dậy Bồ Đề Tâm bằng cái nhìn từ bi quán xét sự đau khổ của loài súc sanh. Nhìn bằng con mắt Bồ Đề Tâm thấy rõ hoàn cảnh, tâm cảnh của loài súc sanh luôn sống trong vô minh tăm tối, nghĩa là chúng chẳng biết ngoài thế giới của chúng có thế giới loài người đầy thụ hưởng vật chất ấm no, con người sống với bao tiện nghi, khắc phục được bao ách nạn thiên nhiên đe dọa ...Hơn nữa con người còn hưởng thụ được những lạc dưỡng về tinh thần tâm linh mà loài súc sanh không thể có được. Rồi trong niềm lạc dưỡng đó, con người còn may mắn đạt đến một thứ an lạc tuyệt đối của giải thoát, mà loài vật càng không thể hiểu được, đó là an lạc của Đạo Giải Thoát. Quan sát và tư duy như vậy, chúng ta khơi dậy được Bồ Đề Tâm, thương tưởng đến các loài chúng sanh lớn nhỏ, rồi có thể phát nguyện thay đổi phần nào việc ăn uống chay lạc, để giữ được giới sát sanh của một người đang đi trên con đường giải thoát.

Cao hơn bước nữa, là nhìn mọi người bằng cái nhìn từ bi thương kính. Chúng ta thấy rằng tất cả mọi người trên thế giới đều không khác về sự mong muốn thương yêu, đều ghét sự chia rẽ thù hằn. Cho dù một người hung ác đến đâu cũng cần sự thương yêu của một người nào đó bên cạnh; người hung ác đó có thông minh và sức mạnh phi thường thế nào cũng không dám tự tách ly sống đời đơn độc, vì người đó không còn sức mạnh nữa nếu không có sự giúp đỡ của nhiều người. ‘Đoàn kết thì sống chia rẽ thì chết’. Và kẻ thù làm người hung ác kia khiếp sợ nhứt, là kẻ thù thiếu tình thương. Vậy thì ai cũng cần tình thương cả, và người phát Bồ Đề Tâm phải khai thác tình thương này để bồi đắp cho mình trọn đầy tâm giác ngộ. Chúng ta nên thiết lập sự liên hệ giữa ta và người qua tình thương của lo��i người cùng sống trên hành tinh xanh này; cùng hưởng và chịu đựng bất cứ những gì xảy đến nguy hiểm cho hành tinh chúng ta. Thiết lập được như thế thấy rằng, chúng ta đều là anh chị em với nhau, và tùy vào hạng tuổi nào thì cha mẹ người đó cũng là cha mẹ mình, ông bà người đó cũng là ông bà mình. Và lỡ có xâu xé nhau, đánh giết nhau, thì đó là tự hại người trong nhà mình mà thôi. Từ việc ấu đả nhỏ, thì thiệt thòi nhỏ, nhưng nếu một cuộc ấu đả lớn (chiến tranh nguyên tử), bấy giờ mới thấy sự thương yêu đã muộn màng, và khổ đau sẽ lan tràn phủ lên bề mặt hành tinh này. Lúc đó sẽ thấy ‘nước mắt cùng mặn, dòng máu cùng đỏ’ như lời Phật dạy.

Phát Bồ Đề Tâm hướng đến mọi loài hữu tình [22]khiến ta đi gần đến đạo giải thoát, để rồi quay lại hóa hiện cứu độ chúng sanh. Chúng ta biết rằng Phát Bồ Đề Tâm là nguyện thành Phật, nguyện thành Phật là trên bước đường tu phải hướng đến sự lợi lạc chúng sanh. Muốn hành pháp độ sanh như vậy, ta phải nhìn và hành động như Bồ Tát. Phải giữ giới đã thọ, phải gia công tinh tấn thực hành tu niệm, phải lập nguyện đi trọn con đường Bồ Tát Đạo.

Để rõ thêm việc phát Bồ Đề Tâm xin trích ra đoạn văn của Ngài Thật Hiền ‘...Sắc thái tâm nguyện có tám, là tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên. Tà chánh, chân ngụy, đại tiểu, thiên viên là thế nào?

-Đời có kẻ tu hành mà chỉ tu hành một chiều, không cứu xét tự tâm, chỉ lo những việc ở ngoài, hoặc vụ lợi, hoặc háo danh, hoặc ham cái thú hiện tại, hoặc cầu cái vui mai sau: phát tâm như vậy gọi là .

-Danh lợi không ham, vui thú không màng, chỉ vì thoát sinh tử, vì chứng bồ đề: phát tâm như vậy gọi là chánh.

-Ý niệm này nối tiếp ý niệm khác, ngước lên mà mong cầu Phật đạo, tư tưởng trước liên tục tư tưởng sau, nhìn xuống mà hóa độ chúng sanh, nghe Phật đạo lâu xa cũng không thoái chí khiếp sợ, xét chúng sanh khó độ mà không chán nản mệt mỏi, như trèo núi cao cả vạn trượng cũng quyết tận đỉnh, như lên tháp lớn đến chín tầng cũng cố tột nóc: phát tâm như vậy gọi là chân.

-Có tội không sám hối, có lỗi không trừ bỏ, trong bẩn ngoài sạch, trước siêng sau nhác, tâm tốt dẫu có cũng phần lớn bị danh lợi xen lấn, thiện pháp dẫu tu cũng phần nhiều bị vọng nghiệp nhuốm bẩn: phát tâm như vậy gọi là ngụy.

-Chúng sanh giới hết nguyện ta mới hết, bồ đề đạo thành nguyện ta mới thành: phát tâm như vậy gọi là đại.

-Coi ba cõi như lao ngục, nhìn sanh tử như oan gia, chỉ mong tự độ, không dám độ người: phát tâm như vậy gọi là tiểu.

-Nếu ngoài tâm thấy có chúng sanh, có Phật đạo, rồi nguyện độ, nguyện thành, công phu không xả, thấy biết không tan: phát tâm như vậy gọi là thiên.

-Nếu biết tự tánh là chúng sanh nên nguyện độ thoát, tự tánh là Phật đạo nên nguyện thành tựu, không thấy một pháp nào ngoài tâm mà có, đem cái tâm vô tướng phát cái nguyện vô tướng, làm cái hạnh vô tướng, chứng cái quả vô tướng, cái tướng vô tướng cũng không thấy có được: phát tâm như vậy gọi là viên.

Biết tám sắc thái khác nhau trên đây là biết cứu xét, biết cứu xét thì biết lấy bỏ, biết lấy bỏ là có thể phát tâm. Cứu xét như thế nào? Là coi cái tâm của ta phát ra, trong tám sắc thái trên đây, nó là tà hay chánh, chân hay ngụy, đại hay tiểu, thiên hay viên. Lấy bỏ như thế nào ? Là bỏ tà, ngụy, tiểu, thiên, lấy chánh, chân, đại, viên. Phát tâm như vậy mới được gọi là chân chánh phát bồ đề tâm... [23]

12. Thành kính tri ân...

Càng hiểu Phật pháp ta càng thấy mình nặng gánh thọ ân mọi người. Thọ ân cha mẹ sanh ra thân này, thọ ân quý thầy cô dạy ta kiến thức, thọ ân xã hội dung dưỡng ta, thọ ân đất nước quốc gia che chở ta, thọ ân tất cả mọi người hoặc gián tiếp hay trực tiếp tạo ra những phương tiện cho ta sống, thọ ân luôn cả những chất liệu trên hành tinh này cho ta môi trường sống. Và cuối cùng là sự vô cùng của sự thọ ân mà không thể nào đền đáp được, đó là ân của Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng).

Là người học đạo giải thoát, chắc chắn thấy được ân nghĩa lớn lao của Tam Bảo. Tam Bảo chỉ dạy cho ta cách sống yên hòa, chỉ dạy cho ta trở thành con người chân thiện, chỉ dạy tất cả những tinh túy toàn thiện ý nghĩa của nhân sinh. Và khi chấm dứt đời sống hiện tại này, Tam Bảo lại đưa ta về sự sống tuyệt đối của chân thiện. Sự sống mà ngoài Tam Bảo ra không thể nào ta hiểu biết được. Điều này chúng ta đã biết qua sự lìa bỏ cuộc đời một cách tự tại hỷ lạc của các vị chân tu. Ra đi tự tại như vậy, đó nhờ đáp đền sự thọ ân của Tam Bảo.

Vậy thử hỏi nếu không có Tam Bảo ta sẽ về đâu? Nếu không nương Tam Bảo, còn có nơi nào nương tựa không? Chúng ta hãy nghe qua, một thời Phật dạy hai nhà tu khổ hạnh:

Phật gặp hai nhà khổ hạnh, một người bắt chước lối sống của chó, một người bắt chước lối sống của bò. Ngài cho họ biết sự vô ích của lối tu ấy, và giảng cho họ nghe về nghiệp và quả báo.

Khổ hạnh chó và khổ hạnh bò đến gặp Phật, hỏi về chỗ tái sinh tương lai của các hạnh như thế. Phật cho biết có hai hậu quả chờ đợi: Một là được sinh vào loài chó, bò, nếu bắt chước giống hệt; hai là sinh vào địa ngục nếu bắt chước không giống, mà lại có tà kiến cho rằng làm vậy sẽ được lên trời. Họ xin Phật giảng pháp để từ bỏ được khổ hạnh sai lạc.

Phật giảng về bốn loại nghiệp và quả báo:

1. Nghiệp đen có quả báo đen, như sau khi làm những thân ngữ ý hành có tổn hại, sẽ sinh vào thế giới có tổn hại, và do xúc những tổn hại nên cảm thọ khổ.

2. Nghiệp trắng có quả báo trắng, như sau khi làm các thân ngữ ý hành không tổn hại, sẽ sinh vào thế giới không tổn hại; do xúc những xúc không tổn hại mà cảm thọ lạc.

3. Nghiệp nữa đen nữa trắng, là một phần tốt một phần xấu, sinh vào cõi dữ có lành có, như cõi người. Do vậy Phật dạy, sự sinh ra của một hữu tình tùy thuộc vào chính nó; hữu tình là kẻ thừa tự hạnh nghiệp mình

4. Nghiệp không đen không trắng, đưa đến quả báo không đen trắng, tức sự đoạn tận các loại nghiệp, đó là tư tâm sở hay ý chí đoạn tận các loại nghiệp đen, trắng và hỗn hợp đã nói trên.

Hai nhà khổ hạnh nghe xong tán thán Phật, Khổ hạnh Bò xin quy y, khổ hạnh Chó xin xuất gia thọ giới cụ túc. Phật dạy ngoại đạo cần trải qua bốn tháng thử thách trước khi xuất gia, nhưng Ngài biết rõ căn tính các hạng người. Khổ hạnh Chó chấp nhận dù có phải trải qua bốn năm thử thách để được xuất gia. Sau khi thọ giới cụ túc không bao lâu, Khổ hạnh Chó Seniya chứng quả A La Hán. [24]

Qua câu chuyện và bài pháp, Phật dạy hai nhà khổ hạnh cho thấy hành động theo chánh đạo chỉ là chỉnh lại những gì sai trái, để phù hợp với chân lý mà người hành pháp sai trái đó không thấy hiểu. Phật đưa ra nghiệp đen trắng nói lên hành vi tạo tác thế nào thì hưởng quả như thế đó. Phật không nói phải tin theo giáo lý giải thoát như là Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên...để được như Ngài, mà Phật chỉ nói đơn giản, là luật nhân quả qua hành nghiệp của tự mỗi chúng sanh tác tạo.

Theo giáo lý giải thoát qua cái nhìn tương đối, thì thế giới tạo thành do tâm chúng sinh mà ra. Và khi tâm còn kẹt vào các pháp sinh diệt thì tạo ra thế giới hữu vi có sinh có diệt; chẳng hạn tâm thô thiển phiền não, thì thế giới chao động mờ nhòa, tâm thanh tịnh an lạc, thì thế giới trong sáng, an lành. Do vậy kinh thường nói chánh báo (sắc thân) thế nào y báo (môi trường, hoàn cảnh) thế đó. Nhưng khi tâm không kẹt vào đâu cả thì thế giới mà tâm duyên khởi là thế giới vô vi. Thế giới vô vi là thế giới của giải thoát tuyệt đối. Thật ra nói danh từ vô vi chỉ là tạm dùng để so sánh, chớ thế giới đó lìa khỏi ý niệm và chỉ thật chứng mới thấy được. Từ đây mới thấy thế giới mà chúng sanh chiêu cảm lên, để tự mình đưa mình vào khổ và cũng tự mình đạt đến cảnh tịch nhiên của Niết Bàn giải thoát.

Để có một khái niệm về sự phân chia hình thành thế giới, xin trích ra đoạn văn phân loại thế giới.

‘Y vào giá trị đạo đức để phân loại, thì thế giới hữu tình chia ra ngũ thú, hay là lục thú, nếu lại tế phân thì có 25 cõi Hữu, gọi là NHI THÂP NGŨ H"U.

Ngũ thú.- (1)-Địa ngục, (2) -Ngạ quỷ, (3)- Súc sanh, (4)- Nhân gian,(5)-Thiên giới, về thiên giới thêm A Tu La giới thành Lục thú.

Nhị thập ngũ hữu: - (1) Tứ châu tức là bốn đại châu của nhân gian ở bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc núi Tu Di, Châu Nam Diêm phù đề ở phương Nam, châu Phất Bà Đề ở phương Đông, Châu Cù Đà Ni ở phương Tây, châu Uất Đan Việt ở phương Bắc. (2) 4 ác thú tức là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh và A tu la. (3) Cõi trời Lục dục, sáu cõi trời thuộc về Dục giới: Trời Tứ Thiên Vương (Trì Quốc, Quảng Mục, Đa Văn, Tăng Trưởng), cõi trời Đao Lợi, cõi trời Dạ Ma, cõi trời Đâu Xuất, cõi trời Hóa Lạc, cõi trời Tha Hóa Tự Tại. (4) Cõi trời Phạm Thiên. (5) Cõi trời Vô Tưởng. (6) Cõi trời Tịnh Cư. (7) Cõi trời Tứ Thiền, tức là Sơ Thiền Thiên, Nhị Thiền Thiên, Tam Thiền Thiên, Tứ Thiền Thiên. (8)Cõi trời Tứ Không Xứ tức là Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, và Phi Tưỏng Phi Phi Tưởng Xứ Thiên, gồm tất cả là 25 cõi Hữu (25 cõi có chúng sanh sinh sống).

Bốn châu , 4 Ác thú, 6 cõi trời Dục, là 14 cõi Hữu thuộc Dục giới. Từ cõi trời Phạm Thiên đến cõi trời Tứ Thiền, gồm 7 cõi, thuộc Sắc giới. Cõi trời Tứ Không Xứ thuộc Vô sắc giới. Bản đồ tóm tắt như sau:

4 Châu - cõi Hữu thuộc nhân gian

Dục giới 4 Ác thú - 4cõi Hữu thuộc Ác thú

6 cõi trời Dục (6 cõi Hữu)

Phạm Thiên (1 cõi Hữu)

Vô Tưởng Thiên (cõi Hữu)

Tam Sắc giới Tịnh Cư Thiên (1 cõi Hữu ) 17 cõi Hữu 25

Giới Tứ Thiền Thiên (4 cõiHữu) thuộc Thiên Giới cõi hữu

Vô Sắc Tứ Không Xứ Thiên(4 cõiHữu)

Giới

Vì 25 cõi Hữu là nơi y báo của loài hữu tình, căn cứ vào nghiệp thiện hay ác mà phải chịu quả báo luân hồi sinh tử trong 25 cõi đó, nên gọi là Hữu, thuộc thế gian hữu vi. Từ Địa ngục đến A Tu La là thế giới đại khổ; nhân gian là thế giới nữa khổ nữa vui, các cõi trời là thế giới vui, nhưng ở trong vòng tương đối, không phải là vui cứu cánh, vì chưa thoát khỏi luân hồi. Vậy nên, Tam giới và Lục thú đều là thế giới khổ não. Muốn tới chốn tuyệt đối khoái lạc, cứu cánh giải thoát thì phải siêu việt Tam giới và Lục thú, tiến tới cảnh giới Tịch Tĩnh Vô vi Niết Bàn. [25]

Thế giới tương đối trong sự chiêu cảm của một tác nghiệp để dẫn chúng sanh vào nơi khổ vui. Sự nhận ra như thế, không thể có được nếu không có đấng toàn giác (Phật Thích Ca) xuất hiện. Vậy rõ ràng ta đã mang ơn Tam Bảo, để hiểu rõ và thoát ra ngoài vòng sanh tử, vượt lên cả mấy từng trời trong tam giới để chứng nhập Niết Bàn. Không như tự mãn cho rằng con đường tu của mình hiện thời viên mãn, như hai nhà tu khổ hạnh mang nghiệp vô minh sâu dầy, đến nỗi tin rằng hành động như súc sanh lại được sanh lên cõi trời ở kiếp sau.

Nếu cho rằng hai vị khổ hạnh đó vô minh, nhưng nhìn lại chính ta thì sao! Chúng ta cũng không khác, vì không vô minh chúng ta đã không ở mãi trong lục đạo đến bây giờ.

Do đó thấy rằng, nếu không biết Tam Bảo chúng ta vẫn có vô số nẻo đi trong lục đạo, vì một thế giới của địa ngục có vô số cảnh giới thọ hình tương ứng với nghiệp ác mà mỗi chúng sanh tạo ra. Cũng vậy, thế giới người có vô số trường hợp hoàn cảnh vui buồn mà con người thọ nhận. Cho đến cảnh ngạ quỷ cũng có vô số hình tướng đói khổ mà quả báo phải lãnh thọ. Đó là tại sao ơn ích Tam Bảo không thể trả được nếu ta thoát khỏi tam giới. Ngày nay tuy Phật không còn hiện hữu, nhưng lời Phật (Pháp) vẫn còn đủ cho chúng ta y theo tu học. Ngày nay Thánh Tăng đệ tử đắc đạo của Phật khó tìm, nhưng hình ảnh Tăng đoàn vẫn còn duy trì đó, để ta chiêm nghiệm quy y phương tiện nương về mà tu học. Vậy chúng ta hãy tri ân tất cả những gì hiện hữu trong cuộc đời này và niềm tri ân sâu xa nhất là tri ân Tam Bảo.

13. Sống lạc quan

Nếu cuộc đời toàn khổ, thì chúng ta có cố tự sống lạc quan thế nào chăng nữa cũng chẳng được gì. Nếu cuộc đời toàn vui, thì chúng ta có không muốn sống vui vẻ thoải mái yêu thương cũng không được, nghĩa là không lạc quan nó cũng thành lạc quan. Lạc quan nghĩa là sống thoải mái, vui vẻ sống với cặp mắt màu xanh, là màu của hy vọng thành công, chứ không là màu tím, màu đen thảm não.

Đạo Phật và các tôn giáo khác cũng cùng ý niệm về hình ảnh địa ngục. Nơi đó toàn là màu đen, chúng sanh sống ở đó chỉ biết khổ mà thôi. Hễ chúng sanh nào thọ mạng lâu dài thì cái khổ nó kéo dài thêm. Nhưng thật nghiệt ngã, tuổi thọ chúng sanh ở địa ngục lại dài gấp trăm gấp ngàn lần tuổi thọ ở thế gian. Như thế người ở địa ngục mong sao cho CHẾT sớm, còn chúng ta sống ở đây thì mong sao được sống lâu, ngoại trừ những người quá khổ ở đây muốn chạy trốn khổ! Nhưng vì chưa biết cảnh giới địa ngục khổ hơn, và hầu hết người ở địa ngục là người ở Ta Bà (thế gian) di dân xuống; nên vậy một số người lầm tưởng chết là cách thoát khổ.

Thế ra ở khung cảnh đen ngòm hôi hám của huyết máu, lửa đao, chúng sanh có muốn lạc quan sống là chuyện không tưởng. Họ không có rảnh thì giờ để tư duy để lý tưởng. Trừ trường hợp các bậc Bồ Tát lớn thị hiện xuống, phương tiện quyền biến chịu khổ chịu đau bằng mọi cách, dẫn dụ hoán chuyển chúng sanh ở đó thức tỉnh. Thí dụ trong địa ngục A Tỳ, tội nhân ở đó bị hành hình không gián đoạn; trong lúc bị hình phạt đau đớn như vậy, họ lại thấy có một tội nhân bị thọ hình còn đau đớn hơn họ gấp trăm gấp ngàn lần. Thấy như vậy họ phát tâm thương tưởng nhìn lại họ, từ đây là nhân duyên hoán chuyển họ.

Trong kinh Phật cũng nói về cảnh trời; các tôn giáo khác gọi là thiên đàng. Nhưng đạo Phật không nói chỉ có một cõi trời, mà đến mấy chục từng trời (đã đề cập trong phần ‘Thành kính tri ân’). Còn cảnh giới Phật thì hằng hà sa số. Nhưng cảnh giới Phật thì chúng sanh ít khi tin là có; có lẽ không dám ước ao đến, nghĩ mình chẳng bao giờ lên được nên nghĩ vậy. Riêng cõi trời thì tin có thể, vì điều kiện nhập tịch không khó khăn bằng cõi Phật!

Sinh hoạt cõi trời phải là sung sướng hơn cõi người nhiều lắm; ở đó không ai thiếu thốn cả, vì tất cả nhu cầu đều được sai khiến bằng tâm hóa hiện. Nếu họ có đấu tranh với nhau, chỉ vì lý do muốn hưởng thêm dục lạc mà thôi chớ hoàn toàn không thiếu. Nhưng họ vẫn còn bị sinh tử, họ sinh ra do thức hóa sinh, và chết đi cũng do thức biến dẫn. Vị trời nào có túc duyên quá khứ, hiểu được đạo giải thoát biết được ba cõi như nhà lửa, thì khi ở cảnh trời mà thỉnh thoảng trầm tư suy tưởng đến cảnh giả đó, nên khi sắp chết họ không sợ, và do sáng suốt như thế họ hoặc sanh lại cõi người ở vào thời gian không gian nghe được Phật pháp, hay sanh lại cõi trời khác cao hơn, nơi đó có các vị Bồ Tát đệ tử Phật thường thuyết pháp. Tuy nhiên đa số các vị trời ít khi có được nhân duyên này.

Triệu chứng ra đi của các vị trời không có vẻ gì ghê gớm đau đớn như ở Ta Bà chúng ta. Do vậy nên họ không thức tỉnh được, dù chứng kiến nhiều vị trời ra đi họ vẫn xem thường, có lẽ nguyên nhân chính là quá đầy đủ khoái lạc, hay nói là vui sướng đến chín mươi chín phần trăm. Vậy thì lạc quan sống ở đây chỉ là giai đoạn, và cuối cùng là cảnh hoa trên đầu héo, trong thân tiết ra mùi hôi, vị trời này mới bắt đầu mất hết tinh thần lạc quan.

Hóa ra lạc quan hay bi quan là vì cảnh mà nói, vì tinh thần mà suy tưởng.

Chúng ta đang sống ở thế giới Ta Bà này, thấy cả hai mặt bi quan, lạc quan là tương đối. Một ngày ta cũng có thể sống toàn là bi quan và một ngày có thể sống toàn lạc quan; có khi cả hai tâm trạng này liên tục thay đổi nhau trong một ngày.

Hiểu đạo Phật, thấy rằng những gì có sanh có diệt đều là giả, và bi quan hay lạc quan chỉ là cảm xúc của một chúng sanh xúc tác với trần cảnh mà ra. Người học Phật không thấy có bi quan hay lạc quan, mà chỉ thấy sự thật. Sự thật thế nào thì nó là vậy, Phật dạy đời là khổ, khổ vì có thân mạng sinh tử, nhưng Phật cũng dạy sinh được thân người là quý, và chỉ có cõi người mới có đủ cơ hội vươn lên đến cảnh giới cao nhất. Cõi trời theo chúng ta là sướng, nhưng Phật dạy cõi trời không bằng cõi người vì toàn hưởng lạc thú, khó có cơ hội học đạo giải thoát. Việc này trong kinh có kể, trời Đế Thích thường hay ủng hộ những người học Phật pháp ở thế gian, cũng như tự thân xuống tìm học Phật pháp. Kinh cũng kể về đời sống sinh hoạt của đức Phật, Ngài thường có những buổi thuyết pháp cho các vị phi nhân (không phải là người).

Riêng các cõi thấp hơn cõi người là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh thì quá khổ, quá vô minh không thể tu được. Như thế cái nhìn của người học Phật về cuộc đời, nhân sinh là một vòng quay sinh tử, chúng sanh được sinh ra tất nhiên phải kinh nghiệm về khổ, kinh nghiệm khổ mà không chinh phục khổ để vòng quay chậm lại, thì vòng quay sẽ chẳng bao giờ ngừng. Trục quay có thể ví là ba nghiệp Thân Khẩu Ý của chúng ta, và lực tác động cho vòng quay là hành động tạo tác từ Thân Khẩu Ý, nên khi dừng tạo nghiệp (hành động) ác thì không còn lực quay, phát triển nghiệp thiện, học đạo giải thoát là tháo gở trục quay. Khi trục quay bị tháo gở, thì hình ảnh trục quay không còn nữa, bây giờ không còn vật gì để gọi là quay! Cũng như người sống trong biển trí huệ thì đâu có gì vô minh để mà trừ khử.

14. Nhìn lại để thấy may mắn

Có bao giờ chúng ta nhìn lại để thấy mình may mắn đang còn tiếp tục cuộc hành trình của kiếp sống không? Bất luận tuổi lớn nhỏ thế nào, khi ý thức rằng mình còn hiện hữu là có may mắn, nhất là người đang học Phật như chúng ta. Thử ngoái nhìn lại đoạn đường mình đã đi qua có biết bao nhiêu người bỏ cuộc, và cạm bẫy tử thần ấy đang rình rập chờ chực chúng ta từng giờ từng phút, từng sát na [26]. Có người mới vừa sinh ra tức thời bỏ cuộc; sự đau đớn khi tử thần rước đi của cá nhân đó, còn ảnh hưởng đau đớn cho kẻ khác. Có người đang bước tới nửa đoạn đường hoa mộng của tương lai rực rỡ, thì buông tay giã biệt cuộc đời, uổng phí biết bao công sức ấp ủ một thời, và người thân ở lại khổ đau khôn tả! Có người thành tựu sự nghiệp chưa kịp hưởng được thành tựu của mình, thì tử thần cướp mất, đành phải ra đi chẳng mang được cái gì. Và có người đi trọn con đường, tương đối có một đời sống thọ, cảm thấy tự hối lương tâm, muốn tập tành việc tu niệm để phục thiện sám hối, nhưng ý định vừa chớm nở thì cùng lúc với tử thần đến, đành phải mang nghiệp mà đi...

Đoạn đường đời sống của chúng ta như vậy có biết bao là cạm bẫy, làm sao có thể kể hết! Mỗi cạm bẫy là một bài h���c để ta nhìn lại mình, để thấy mình bước qua bao cạm bẫy, và cạm bẫy trước mắt tương lai tới đây đã đến gần chưa? Ta tự đi đến đã đành, đôi khi tự mình làm nên cạm bẫy! Cạm bẫy tử thần là trạm chót của chặng đường sống, việc này là chắc chắn, nhưng từ đây đến cuối đường ấy có không biết bao nhiêu là cạm bẫy có thể kéo ta ra đi bất cứ lúc nào. Nhìn lại mà xem cuộc sống này, một ngày xảy ra biết bao nhiêu chuyện đau thương. Những chuyện ra đi thường tình của bệnh chết cộng với bao chuyện tai nạn, nhân tai, thiên tai. Có những nhân tai gây ra cái chết hàng loạt, nhưng thiên tai thì còn khủng khiếp hơn, vì không biết được, không lường được, mà chỉ sống bấp bênh phó thác theo chu kỳ hư hoại của một vật thể có số tuổi thọ giới hạn nào thôi. Nghĩa là sự sống trên hành tinh này tùy thuộc vào tiến trình thời gian hư hoại của hành tinh.

Nhìn lại sau để kinh nghiệm, hướng tới trước để chuẩn bị, đó là sự khéo léo sáng suốt của người h��c Phật. Hẳn nhiên vấn đề ra đi là chuyện chắc chắn, và người học Phật không bao giờ sợ, bởi có sợ cũng chẳng thay đổi được gì. Tuy nhiên người học Phật chỉ sợ ra đi mà không có sự chuẩn bị, để không biết mình sẽ về đâu, chính đó là cái sợ duy nhất. Do đây mà nên chuẩn bị.

Nếu chúng ta không chuẩn bị, tất nhiên sẽ phí phạm một đời sống, bỏ lỡ cơ hội quý báu được làm người. Và đoạn đường đau khổ đó sẽ nối thành một vòng tròn quay tít đến vô tận. Ghê gớm hơn nữa là trên vòng tròn sinh tử đó, có những cạm bẫy đưa người về cảnh ngạ quỷ, địa ngục, súc sanh.

Khi lạc vào ba con đường khổ này, thì đoạn đường quay lại dài mãi ra, như thế cơ hội trở lại làm người càng hiếm có.

Sự chuẩn bị ra khỏi vòng quay sinh tử đó, là nhìn lại những gì mình đã kinh qua; cũng không chỉ nhìn mình mà nhìn người chung quanh ta nữa. Nhìn xem để học, nhìn xem để tránh. Nhìn tới trước sẽ đi, là tự dọn đường cho sạch, hành động cho khéo, tất cả đều mang một ý niệm trong sạch cụ thể, tu chỉnh lại những điều căn bản của người học Phật. Phải dè dặt từng cạm bẫy nhỏ, xem chúng là hiện tượng triệu chứng cho cạm bẫy lớn (cái chết) sắp kề cận ngay dưới chân ta.

Từ vô thỉ kiếp quá khứ, chúng ta đã từng trải qua không biết bao con đường, lúc thì dạo chơi trên đường đầy hoa mộng, lúc lại nặng nề lê bước vượt khỏi con đường lồi lõm khổ đau. Vô số con đường như vậy mà ta chẳng biết đâu là đâu, cứ đi mãi không dừng. Xin kễ câu chuyện này: Thời đức Phật còn tại thế có anh chàng Vô Não bị Thầy anh hại, bảo phải giết người đủ số một ngàn; rồi cắt một ngón tay của mỗi người chết, giữ mang trên mình thì sẽ đạt được quyền năng! Anh nghe theo, ráng giết cho đủ số người; khi còn một người nữa là đủ thì anh gặp Phật. Đây là Phật soi thấy căn cơ anh, đến lúc có thể cứu độ, nên tự thân đi đến. Khi đức Phật cố tình đi ngang qua cho anh thấy, thì anh mừng lắm vì anh đã chờ quá lâu, sợ rằng sẽ qua khỏi giờ khắc mà Thầy anh buộc phải làm, nên không gặp Phật đây anh có thể tìm về mẹ anh. Chàng Vô Não ngạc nhiên vô cùng, vì không thể nào đuổi kịp theo Phật dù là Phật chỉ thong thả bước đi thật chậm. Vô Não vừa giận tức vừa la ‘ Hãy dừng lại ông Sa môn kia!’ Bấy giờ đức Phật từ tốn trả lời.’Này Vô Não ngươi không thấy sao, ta đã dừng lại từ lâu rồi; chỉ có ngươi mới không dừng lại, vì không dừng lại nên mặc tình để cho dục vọng, sân tham lôi kéo hóa thành kẻ điên dại...’ Vô Não trong cơn giận như một mãnh hổ, nhưng khi nghe Phật nói vậy, hắn tức khắc giựt mình tự hỏi, tại Sao ông Sa Môn này nói lạ vậy. Và xin Phật giải thích câu nói lạ lùng đó! Phật liền thuyết cho anh thời pháp, thế là Vô Não buông gươm để rồi trở thành đệ tử Phật, không bao lâu đắc quả Vô Sanh (A La Hán).

Có lẽ chúng ta cũng gần giống như chàng Vô Não, tuy không phạm phải ác tội sát sanh, nhưng chúng ta cũng chẳng khác gì, vì cứ giong ruổi chạy mãi trên con đường sinh tử mà không muốn dừng lại. Phật dạy chúng ta dừng lại để tỉnh táo nhận ra mình, nhận ra những cạm bẫy đầy dẫy chung quanh ta. Những cạm bẫy đưa ta vào sinh tử không phải hoàn toàn là cạm bẫy mang hình ảnh đau khổ, mà có khi là những hình ảnh màu sắc âm thanh tươi mát, lại có sức đưa ta vào sinh tử mạnh hơn. Đó là vì ham mê tham ái, nên chẳng bao giờ dừng lại để dục vọng sai khiến dẫn đi. Do đó mà thấy, không biết bao nhiêu người vừa cười vừa khóc, vẫn cũng thui thủi đi vào sinh tử chẳng muốn dừng. Vậy ra ta nên nhìn lại thấy mình may mắn, khi bước đi tới của mình có chuẩn bị để rồi sẽ dừng nghỉ trong cảnh giới an vui giải thoát.

15. Xả bỏ

Chúng ta hiểu đạo Phật qua ý niệm thoát ly, giải thoát. Thoát ly căn bản trước tiên, là những gì thô kệch có thể thấy được, rồi tiến cao hơn là điều không thấy được như là tư tưởng, nhận thức v.v.. Người học Phật sơ cơ như chúng ta, thấy rõ vấn đề này khi nhìn vào các vị tu sĩ. Họ thật có thoát ly, xả bỏ đó. Họ thoát ly gia đình, xả bỏ nhà cửa thế gian, để vào nơi chốn không gia đình vợ chồng con cái, không cảnh vật chất điểm tô trang trí như cảnh thế gian; nơi họ sống gọi là chùa, am, tự viện và chùa am tự viện đó có điểm tô đi nữa cũng là nơi mà mọi người có thể viếng thăm, không ngại ngùng như chỗ riêng rẽ một ngôi nhà thế tục. Người cư sĩ tu Phật còn ngoài thế gian cũng đã thoát ly, xả bỏ. Thoát ly nơi ồn ào kích động, có tánh cách kích thích khơi dục vọng tâm, nếu họ quyết giữ năm giới, mười điều thiện. Họ xả bỏ những gì đấu tranh, nếu không là chánh nghĩa mang yêu thương hòa bình đến cho nhân loại v.v...Vậy người tu sĩ và cư sĩ về việc thoát ly và xả bỏ căn cứ vào lý giải thoát hướng đến quả giác ngộ (Phật) không khác biệt, tuy nhiên về sự giải thoát thì có khác biệt rõ ràng như trên đã nói.

Tuy vậy để được giải thoát rốt ráo, chúng ta phải thoát ly cả hai mặt lý sự.

Với người sơ cơ học Phật, việc xả bỏ nào cũng quan trọng. Và hẳn nhiên tuần tự thoát ly xả bỏ trước tiên là những gì thô kệch, những gì có thể thấy được đụng chạm được mà có thể trói buộc ta vào sự tham đắm, si mê thì ta phải từ bỏ. Chẳng hạn xả bỏ sát sanh không hại vật, xả bỏ nói dối v.v...Chúng ta vẫn băn khuăn rằng, vì phương tiện đời sống nên việc thoát ly xả bỏ không thể như ý; cũng như nếu xả bỏ như ý thì ảnh hưởng đến hoàn cảnh chung quanh. Chẳng hạn vai trò của một người chồng đang còn gánh vác việc sinh sống nuôi gia đình, thì người chồng đó không thể xả bỏ hoàn cảnh và trách nhiệm mình. Vai trò người vợ đang còn đảm đương việc chăm sóc dạy dỗ con cái, lại không thể xả bỏ được bổn phận, và vai trò của người con đang phụng dưởng cha mẹ già, hay đàn em nhỏ dại cũng không thể xả bỏ trọng trách đó.

Tất nhiên trong tình huống nào, mà ta cảm thấy sự xả bỏ có thể tạo ra một thực cảnh đau buồn dằn vặt lương tâm, thì điều xả bỏ đó chưa phải là hợp lý. Tuy vậy việc học Phật để đạt được an định tâm hồn, chúng ta phải tập dần việc xả bỏ. Trong những tiền thân đức Phật, Ngài dạy rằng, để đạt được quả vị Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài đã từng xả bỏ, bố thí không biết bao nhiêu là thân mạng. Dù trong những kiếp làm súc sanh, Ngài vẫn là những con vật chấp nhận hy sinh xả bỏ, để có thể cứu nguy, đem lại an ổn cho các loài khác. Nay đến đời sống cuối trong cảnh đế vương, Ngài cũng xả bỏ tất cả trước khi thành đạo. Và sự xả bỏ như vậy cho thấy, là việc tự nhiên của vấn đề, bởi không thể vừa còn ôm giữ vật chất mà an định được tinh thần. Ta có thể thấy rõ hơn, khi còn vương vấn việc gì, tất nhiên tinh thần phải do dự lo lắng.

Việc xả bỏ hướng đến giải thoát là vấn đề siêu xuất thế gian, nên không thể đặt ra một tiêu chuẩn nào. Và ngược lại, thế gian là đối tượng của vấn đề giải thoát, cho nên ta vẫn xả bỏ theo cái nhìn của mỗi hoàn cảnh chứ không chấp chặt một quy luật nào, nhưng được vậy phải có trí huệ, nghĩa là phải học hiểu Phật pháp mới thực hành được hạnh xả ly.

Giản dị mà hiểu, nếu ta muốn xả bỏ tham, cụ thể chúng ta phải sống giản dị vừa đủ, ít ham muốn; muốn xả bỏ sân giận phải tập tánh vui vẻ, yêu thương hài hòa tôn trọng tất cả, và muốn xả bỏ si mê phải thường chăm đọc kinh sách hay nghe pháp, niệm Phật tọa thiền...nói chung tập gần gũi phương tiện gì mang khuynh hướng giải thoát.

Như thế, nếu không xả bỏ thì không giải thoát. Do đó dù học Phật cách nào, việc xả ly những gì có thể làm trói buộc tạo ra phiền não sinh tử, là việc đứng đầu.

Khi xả bỏ được những hình ảnh, hành động thô kệch, bây giờ chúng ta mới tập xả bỏ những cái vi tế. Vấn đề vi tế cũng vẫn là tham, sân, si nhưng bây giờ cái tham có phần tinh tế hơn. Theo giáo lý nhà Phật, thì phần tham vi tế này thường được đề cập đến hàng nhị thừa, tức các vị Thanh Văn, Duyên Giác; các vị xả bỏ cảnh ô trược phiền não để tìm an lạc trong cảnh an tịch của các cảnh trời vô sắc, hay những cảnh giới mà các vị chiêu cảm ra. Điều này đức Phật đã thường nhắc nhở, và cho đó chỉ là giai đoạn đi đến giải thoát, chứ chưa thể coi là đạt đến cứu cánh giải thoát; và nếu ngừng tại đây thì cảnh giới Phật vẫn còn xa. Chúng ta, hàng sơ cơ học Phật căn tánh còn quá đổi u mê không thể so sánh với các vị Thanh Văn, có đâu lại dám nói là xả bỏ được cái tham sân si vi tế. Tuy nhiên một điều thành thật thấy rằng, khi ta móng tâm lên hay vọng tưởng một điều gì bất thiện, thì đó là những tham sân vi tế. Nhận được sự động tâm như vậy, rồi ngăn chặn, tức thực hành được việc xả bỏ phiền não vi tế. Nhưng không chỉ điều bất thiện nhỏ là vi tế mà cả chính điều thiện cũng có thể sinh ra phiền não vi tế, tức là sự cố chấp việc thiện, tự thị cho mình đã làm việc thiện rồi phân biệt nhân ngã, bỉ thử (có người, có ta, có đây có kia). Trong tứ Thánh Quả, quả Dự lưu là quả Tu Đà Hoàn, quả này chỉ mới bước vào dòng Thánh lấy đà tiến đến quả vô sanh là A La Hán. Muốn đạt quả này hành giả phải đạt được pháp vô chấp về nhân ngã. Đây thấy rằng tầm mức xả bỏ ở phần vi tế khó khăn hơn, do đó hành giả nào thực hiện được việc xả ly vi tế tức đã đi gần đến quả Thánh.

Trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo có pháp Tứ Chánh Cần, thiết nghĩ đây là phương cách giúp chúng ta xả bỏ những vi tế trói buộc. Tứ Chánh Cần là bốn điều chuyên cần hướng về chánh pháp: thứ nhất là chuyên cần ngăn chặn những điều bất thiện chưa phát sanh. Thứ hai chuyên cần dứt trừ sự việc bất thiện nào ta đã lỡ phạm, tức sẽ không tái phạm nữa. Thứ ba chuyên cần phát huy, khai thác những điều tốt đẹp thiện lành nào chưa phát sanh trong tâm. Và thứ tư, nếu ta đang sống hành động việc thiện, thì cố gắng chuyên cần tiếp tục duy trì phát huy điều hay đẹp đó. Bốn điều này nhắc ta có đủ thời gian suy niệm để đối phó vấn đề thiện ác, khi chưa biến thành hành động.

Khi tư tưởng dằn co với vấn đề, đây là lúc ta đương đầu với sự buông bỏ và trói buộc. Tư tưởng nắm giữ điều thiện để thực hành không trái với điều xả ly, chỉ khi nào tâm tư ta hướng đến điều thiện theo chánh pháp giải thoát. Nghĩa là nương vào thiện để thoát ly ác, nương vào thiện để thấy chánh thiện là xả ly. Chính ngay điểm này ta lại thấy vấn đề học Phật là quan trọng cho việc giải thoát. Tuy nhiên việc đầu tiên của người sơ cơ là xả bỏ những gì có thể làm động tâm ta. Và vì sự sống của ta còn lệ thuộc nhiều vấn đề vật chất, nên tâm chúng ta phải ảnh hưởng theo, lại thấy rằng còn vây kết với hình ảnh bên ngoài nhiều chừng nào thì tâm càng dao động chừng đó. Do đó không thể xả bỏ bên trong được, khi bên ngoài còn quá nhiều vương vấn. Tóm lại chúng ta phải giảm thiểu tối đa bên ngoài để bên trong nhẹ vấn vương đi, từ đây ta có thể từng bước phối hợp trong và ngoài, nghĩa là ngăn chặn tham muốn bằng cách sống trong hoàn cảnh không khiêu gợi sự tham muốn. Đến khi bên trong đã an ổn chừng ấy ta sẽ khắc phục được bên ngoài nhiều hơn. Bậc Thánh giả cũng từ bước xả bỏ theo cách sơ cơ này, và khi đến mức độ điều tâm thuần thục, các vị xả bỏ luôn cả ý niệm muốn xả bỏ, bấy giờ các vị có thể tự tại đi đâu cũng được, làm gì cũng xong mà nhà Thiền gọi là phỏng tay vào chợ!

16. Chết yên vui !

Nếu bệnh là cơ hội cho ta bài học quán sát về cái khổ của thân để nhìn rõ con đường giải thoát, thì Chết là kết quả vạch rõ thế nào về cơ hội đó. Nhưng người đời đa số không muốn nhắc việc này, nói chi bàn sâu đến. Có người kiêng cử không dám mở miệng nhiều lần phát ra tiếng chết, vì nghe cái âm thanh nó ghê rợn đâu đó. Nhất là bàn chuyện chết ở trong nhà đang lúc sum họp vui vẻ; tối kỵ hơn nữa là đang trong ba ngày xuân. Nếu ai lỡ lời đề cập đến, tức thì có người đằng hắng lên tiếng cho người kia ngưng ngay, và cứ như thế mà quen dần thành sợ chết. Nhưng đâu vì thế mà chết không đến viếng thăm gia đình đó. Ngày còn Phật tại thế, có một người đàn bà ẵm đứa con đã chết trên tay khóc la não nuột, vì đứa bé này dễ thương, dễ mến, quý nhất, duy nhất của y thị. Chị đau khổ đến cùng tận, không thể nào tả được nỗi đau đớn này - có lẽ chị sẽ tự sát mà chết nếu không có ai cứu được con chị! Người ta thấy vậy, động lòng trắc ẩn tình cảnh của chị bèn cho biết, hiện gần đây có Đấng Giác Ngộ; khuyên chị nên ẵm con mau đến gặp Ngài xin cứu sống. Vì nghe nói Ngài là bậc Đại Y Vương bệnh nào mà chẳng chữa được. Ẵm đứa con đã chết trên tay, quỳ xuống trước Đấng Giác Ngộ, người đàn bà phân trần xin cứu sống con yêu, nếu được bà ta sẽ đánh đổi tất cả những gì có thể. Đức Phật không ngần ngại bảo rằng, việc này không khó, nếu có thể xin được một ít tro từ trong nhà nào mà chưa bao giờ có người thân quyến chết, mang lại cho Ngài. Thật là việc dễ dàng cho chị để xin được một ít tro, nhưng đi gần cả ngày, nào có nhà ai mà không có người đã qua đời.! Trong lúc đuối sức, cùng tột đau đớn đó chị chợt bừng tỉnh giác ngộ, rằng đây là món thuốc vi diệu mà Đấng Đại Y Vương đã phương tiện từ bi chỉ dạy cho - bởi Chết là một sự thật của chúng sanh hiện hữu trên cõi đời này. Và vì sự ki���n thường tình như vậy mà ta phải đau khổ muốn quyên sinh. Nhưng biến cố thường tình đó, nếu không phải là Đấng Giác Ngộ nói ra, nó sẽ là biến cố phá hại đời ta, đến muôn kiếp tử sanh cũng chẳng bao giờ ta ý thức được.

Tình cảnh tương tự như vị tín nữ kia thời bây giờ nhiều lắm, và ý thức giác ngộ việc quan trọng mà thường tình này lại có mấy người. Chúng ta chưa thể gọi là ý thức, khi sẽ nguôi ngoai đau khổ trong một vài tuần mất đi người thân; ta chỉ ý thức là khi chuẩn bị cho chính sự ra đi của ta. Chuẩn bị ra sao, thì nên xem người ra đi trước đó, đã ra đi th�� nào và để lại những gì?

Đức Phật vắng bóng hơn hai ngàn năm trăm năm, đã để lại lời dạy như vật kim cương không gì phá vỡ được; đệ tử của Ngài cũng để lại bao nhiêu là gương sáng cho người sau này noi theo mà học. Hẳn nhiên chúng ta là người Phật tử không còn nghi ngờ về việc tái sanh đọa lạc; nhưng nếu cố chấp hoài nghi, muốn tìm nhiều chứng cớ, có lẽ tạo thêm cho mình sự nghi ngờ mất đi chuẩn bị cho sự chết sắp tới. Hình ảnh tái sanh rõ ràng nhất là Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện thời, Ngài đã tự tại ra đi trong đời thứ mười ba - để nguyện rằng trở lại hành đạo trong tâm nguyện của Ngài, và sự thật là việc truy tìm hết sức khoa học; với bao trắc nghiệm để đón nhận một đứa bé trong hàng vạn đứa bé ở Tây Tạng. Việc quá khó trở thành dễ, chỉ vì có Tái Sanh. Hay nói đúng hơn, chết đó nào phải mất đi như một số người đã và đang lầm tưởng.

Chúng ta hãy quan sát, tư duy những ảnh tượng cuộc sống qua vô số sai biệt đang gần gũi ta - thấy rằng hiện thực sinh hoạt này giữa ta và người đâu đó nói lên một duyên nghiệp trong quá khứ. Cái thấy trước tiên là trong một gia đình, ở đó vài người sống chung với nhau qua một tình thương gọi là máu mủ huyết thống, họ thương yêu nhau kính mến nhau; và có thể hy sinh để nhìn người thân được hạnh phúc. Nhìn vào điểm này chúng ta thấy là phải, vì họ đã cùng lớn lên, cùng gọi chung nhau một người là Mẹ là Cha; nhưng tưởng rằng ý tưởng sống như thế là vĩnh viễn một đời! Và rồi lớn lên bước vào cuộc sống phức tạp, họ lại tìm thấy những con người khác, trong số đó họ chọn lọc lựa ra một người để thương để nhớ, thương nhớ còn sâu đậm hơn cả người mà họ tưởng là không ai có thể so sánh được như là Cha mẹ. Tình thương bên ngoài đó, là tình chấp nối chồng vợ, tình thương này có định nghĩa so sánh với tình thương kính cha mẹ thế nào, thì nó vẫn đủ sức khiến người kia không thể nào bỏ được.

Riêng nhìn lại tình thương mến anh chị em với nhau, tình thương này lại nhẹ quá so với tình thương đi tìm một người khác phái bên ngoài, để cùng nhau sống hết cuộc đời.

Tình anh chị em đã không nặng thương mến, như những ngày còn thơ ấu cùng sống chung, họ lại xung khắc gây gổ, có khi đau đớn phải thề thốt không nhận anh chị em với nhau; trong khi nhìn nhận mình đã có nhiều bạn bè thân tín. Trường hợp không thể tưởng nữa, là sự rạn nứt giữa con cái và cha mẹ. Rồi có những tình thương oái oăm, bất công tạo ra đau khổ như cha mẹ lại thương đứa con phá sản hư hỏng, ghét đứa con hiền lành hiếu thuận. Và còn nhiều vấn đề liên hệ khúc mắc đã đang diễn tiến trong dòng sống sinh hoạt của chúng ta, ở đây chỉ vạch ra một trone phần ngàn mà thôi. Thế thì ta nghĩ thế nào về những việc xem rất thường nhưng không giải thích nỗi! Chúng ta nào phải đứng ngoài khách quan mà nhìn! Chúng ta là người trong cuộc, là người đã đang kinh nghiệm qua cuộc sống đây. Bây giờ ta có thể suy nghĩ cái gì đó đã xảy ra trong quá khứ, để hiện thời kết quả như vậy chăng! Thật đúng như vậy, tất cả là những gì ta đã hành động trong quá khứ, nên phải đi tìm ân oán sanh vào làm con, làm em, làm chồng vợ ...để phải tiếp tục, tiếp tục gây tạo ân oán kiếp kiếp nữa. Và bao giờ ta còn ân oán thì sanh tử vẫn mãi mãi theo ta không rời. Chính đây, các vị Bồ Tát chứng đạo nhìn thấy mà sợ nên người học Phật hay nghe ‘Bồ Tát sợ nhân chúng sanh sợ quả’. Bồ Tát biết rằng việc đó phải được ngăn chặn lúc chưa chớm nở thì mới tránh được quả; riêng ta chỉ thấy việc trước mắt là trên hết, là thực tại là cụ thể nên chẳng nghĩ gì đến hậu quả, chừng khi nhân tạo chín muồi, thì mới tiếc nuối tại sao lại có quả như vậy.

Như thế cuộc sống chúng ta thật rối nùi, không biết bao nhiêu là gút mắc! Và việc chết rồi tưởng là hết lại hóa ra như đóng tuồng thay áo đổi vai. Chúng ta đã không khéo diễn hay, nên phải đóng hoài vai nô lệ; riêng người được chọn vai trưởng giả, công tước phải đóng sao cho hay nếu không rớt xuống vai lính hầu, hay tệ hơn là không cho đóng nữa phải khổ sở không nghề nghiệp mà thành xin ăn như súc sanh vậy.

Cuộc đời là vở kịch lớn, sống chết là chuyện thường tình nhưng lại quay chúng ta vào khổ đau bất tận. Mặc kệ kẻ đóng vai gì, cũng phải khổ vì vai đó, không thôi phải bị trục xuất!(địa ngục)

Chúng ta, những phàm nhân còn đầy phiền não vô minh, tuệ giác chưa có nên không thể nhìn rõ được mà cho là chuyện ngẫu nhiên, chết rồi là hết; ai sinh vào nhà nào là chuyện may của người đó, còn mình sinh vào dòng dõi bình dân là chuyện không được may thôi! May hay rủi là cách nói để tự an ủi lấy mình, để tự quên đi quá khứ, nhất là không dám thú nhận việc nhân nào quả đó. Hai người cùng cầm hai hòn đá có trọng lượng bằng nhau, họ cùng ném đi về một hướng; kết quả người nào mạnh hòn đá sẽ văng xa hơn. Nghiệp lực là sức mạnh, quyết định dẫn dắt vào dòng tái sanh trong mọi hoàn cảnh mà ta đã tạo. Cũng như duyên nợ thương yêu, ghen ghét hận thù chỉ là nghiệp nhân đã từng thương yêu ghen ghét hận thù trong quá khứ kiếp. Sống, tâm tưởng trong lành mát dịu, khi chết đi tức khắc nghiệp lực sẽ hướng về cảnh sống yên hòa trong sáng. Thương người thương vật, xem nhẹ hạnh phúc riêng mình để hướng về người khác, khi chết nghiệp lực thanh cao rộng lượng chiêu cảm về một thế giới, sống chung với những người có thân hình tươi đẹp và hạnh phúc tràn trề. Ngược lại cách sống đây, nghiệp lực chiêu cảm về thế giới đen tối của súc sinh địa ngục hay cảnh người cùng khổ. Đó là những cảnh tượng hiện ra rõ ràng mà chư vị Bồ Tát đã thấy tường tận, giống như chúng ta nhìn thấy sự vật trước mặt; và nếu để ý, ta cũng thấy được việc đang xảy ra chính là sự sống chênh lệch của con người hôm nay. Vậy việc chết chỉ là một giai đoạn, một tiến trình xảy ra trên lộ trình của một chúng sinh đang hướng đi bằng sự dẫn dắt của Nghiệp lực. Từ nghiệp lực đó mà sự giong ruổi của một kiếp người có dài ra hay ngắn lại. Bậc giác ngộ ý thức được sự sống chết, nên chẳng bao giờ tạo cho mình con đường dài ra, dù con đường đó là hạnh phúc nhất của thế gian, chẳng hạn luôn luôn tái sanh làm vua thiên hạ. Bậc Thánh lại ý thức được sống chết, liền triệt để hoán chuyển đời mình trong sự sống thánh thiện để được đi vào sự chết giải thoát. Trong quyển Tạng Thư Sống Chết có nói: ‘Cuộc đời này là thời gian và nơi chốn duy nhất cho ta chuẩn bị, và ta chỉ có thể thực sự nhờ tu tập tâm linh. Đây là thông điệp không thể tránh của đời này, một giai đoạn trung gian tự nhiên.’ [27]

Chúng ta là người học Phật, hẳn phải ý thức việc sống chết hơn ai hết, phải thật thấy, sự sống của ta đây là sự chuẩn bị để đi vào sự chết. Nếu chúng ta sợ chết nghĩa là chúng ta cũng sợ sống, sợ sống là sống sai, sống khổ, sống không tạo thiện, sống không thương người, như thế đồng nghĩa với sợ chết trong hối hận chưa sám hối, sợ chết trong đau khổ vì làm người đau khổ, và trong cô đơn, vì không có người khác thương yêu. Chỉ cần ta ý thức ngay bây giờ tức thì ta không còn sợ sống chết nữa, Phật pháp nhiệm mầu là ở chỗ đây, trong văn Sám Hối có câu ‘Tội từ tâm khởi, đem tâm sám, Tâm được tịnh rồi, tội liền tiêu...’

Tóm lại, ý thức cụ thể việc Chết để nhìn lại cái Sống của mình mà trân quý, thì chẳng còn xem cái chết là ghê gớm, mà chỉ là vấn đề cho ta quý trọng cơ hội ngàn vàng, khi đang trong kiếp mang thân người hiểu được pháp tu giải thoát. Xin trích ra một đoạn trong tác phẩm ‘Giải thoát trong lòng tay’ để thấy chúng ta nên quý trọng thân người và nếu không chúng ta sẽ trở thành sợ chết như đề cập ở trên.

...Từ thời gian vô thủy, chúng ta đã mang không biết bao nhiêu thân xác cho đến ngày nay, nhưng ta đã không rút tỉa được một tinh túy nào từ thân xác ấy. Không có một kiểu đau nào mà ta chưa từng nếm trải, cũng không có một kiểu hạnh phúc nào mà ta chưa từng thưỏng thức. Nhưng dù ta có bao nhiêu xác thân đi nữa, ta cũng đã không rút tỉa được chút tinh hoa nào từ nơi chúng. Bây giờ khi ta đã có được may mắn mang thân người hôm nay, thì ta nên làm cái gì để rút tỉa ít tinh hoa từ đó. Nếu không suy nghĩ chín chắn, thì ta không cho thân người quý báu này có tầm quan trọng chút nào, ta cũng không tiếc nuối gì khi lãng quên cơ may được sinh làm người. Có lẽ nếu bị mất tiền, chúng ta sẽ nuối tiếc nhiều hơn. Thế mà cái thân người ta đang có lại không vô vàn quý báu hơn bất cứ viên ngọc như ý nào cả.

Nếu bạn phải lau chùi một viên bảo châu như ý bằng cách mỗi ngày rửa ba lần, đánh bóng ba lần, rồi đặt trên đỉnh một cái tràng phan của sự chiến thắng, bạn sẽ có được dễ dàng tất cả những sự tốt đẹp của thế gian như đồ ăn mặc ở; vân vân. Bạn có thể có được hàng trăm hàng ngàn, hàng trăm ngàn viên ngọc như thế, nhưng chúng không thể đem lại cho bạn dù chỉ một điều nhỏ nhất trong những điều mà bạn có thể thành tựu được nhờ mang thân người trong đời này, bởi vì bạn không thể xử dụng những bảo châu ấy để che chở mình khỏi tái sanh vào các đọa xứ trong đời sau. Nhưng với thân người hiện tại của bạn, bạn có thể đề phòng cho khỏi sa đọa vào các cõi xấu ác. Hơn nữa, nếu bạn muốn tái sanh làm Phạn vương, Đế Thích v.v. bạn có thể làm điều ấy nhờ thân người hiện tại. Nếu bạn muốn đi đến những cõi tịnh như cõi trời Thắng Lạc cõi Cực Lạc, cõi Đâu Xuất, bạn cũng có thể làm được, nhờ cái thân người hiện tại của bạn. Nhưng chưa hết đâu, bởi vì bạn còn có thể đạt đến những trạng thái giải thoát’ giác ngộ nhờ thân này. Điều bạn cần làm là, hãy tóm lấy cơ hội. Điều quan trọng hơn cả là nhờ thân tái sanh hiện tại mà bạn có thể đạt tới địa vị kim cương trí (hợp nhất giữa thân như huyễn với đại lạc) trong vòng một đời ngắn ngủi, ngay trong thời đại suy đồi này; một kết quả mà thông thường phải mất tới ba a Tăng kỳ kiếp mới thành tựu được. Như vậy được tái sinh làm người còn giá trị hơn cả ngàn viên ngọc quý.

Nếu bạn lãng phí cuộc đời này mà bạn đã có được, thì điều ấy còn đáng tiếc hơn là bạn mất đi ngàn tỷ viên ngọc báu. Không có sự mất mát nào lớn hơn sự mất mát này; không có sự mù quáng nào hơn sự mù quáng này, không có sự lầm lạc nào hơn sự lầm lạc này. Shantideva có nói: Không có sự mê lầm nào tệ hơn. Nếu không xử dụng thân này để tu tập. Sau khi được thân người như một cơ may hiếm có. Không có sự mù quáng nào lớn hơn thế nữa!Bởi thế bạn phải nỗ lực rút tỉa một ít tinh túy từ cuộc đời này ngay bây giờ. Dù thế nào đi nữa, chắc chắn bạn sẽ phải chết, và bạn không biết được lúc nào thì cái chết đến với mình...’ [28]

17. Thương yêu

Đời sống mưu sinh, ngoài vấn đề tìm miếng ăn chốn ở, chúng ta còn tìm một việc cũng quan trọng không kém đó là thương yêu. Thương yêu của người này có thể căn nhẹ hơn người kia, có thể không mãnh liệt hơn người khác, tuy nhiên dù khác thế nào ai cũng cần có. Hay nói đúng hơn sống thiếu thương yêu thì mất ý nghĩa. Người ta có thể sống nhờ vật chất nhưng lại khó tồn tại nếu thiếu thương yêu. Thương yêu làm con người sống gần lại nhau, thương yêu làm môi trường, cảnh vật tươi đẹp ra.

Nhìn xem lịch sử thế giới, bao cuộc giết chóc xảy ra từ xưa đến nay, tất cả cũng vì mất thương yêu. Nếu con người khai thác tạo dựng thương yêu dồi dào đúng ý nghĩa hơn, thì lòng tham muốn thắng người, hơn người sẽ yếu hẳn đi.

Là người học Phật, chúng ta hẳn hiểu thương yêu mang lại hạnh phúc cho mình cho người, cho tất cả sự sống chung quanh ta - tuy nhiên niềm thương yêu rốt ráo của người mong cầu giải thoát, phải là thương yêu với tinh thần từ bi trí huệ. Thương yêu theo tình cảm trí giác thường tình thường hay lo lắng, phập phòng. Nói cách khác sẽ khó được trọn vẹn, điều này người hiểu Phật pháp thấy rõ như thế. Tất nhiên hiểu như thế không phải mất đi hạnh phúc, ngược lại chúng ta càng phát triển được yêu thương chân thật hơn.

Sự thật vấn đề này, khi nghe đến những vị đắc đạo, trước kia quý vị đó cũng không khác chúng ta; cũng bân khuân nên thương yêu thế nào để khỏi kẹt vào phiền não mà phát sanh được trí huệ. Lại nữa, các vị hơn ai hết là người hành động thương yêu trọn vẹn. Chắc chắn một điều ta biết, người đắc đạo không thể là người có tình thương ích kỷ!

Người sống nhỏ nhoi với hạnh phúc hạn hẹp riêng mình, qua đó tình thương yêu của họ cũng hạn hẹp tương xứng, và những phiền não cũng nẩy mầm. Thương yêu không trí huệ, là thương theo sự sai sử của bản ngã đặt vào một vị trí cố định của vọng tưởng. Thương mà chẳng hiểu người mình thương sẽ được gì, thương mà chẳng biết kết cuộc tình thương chấm dứt ra sao. Hiểu Phật pháp chúng ta thấy, đời sống một chúng sanh không đơn thuần chấm dứt ở vài chục năm, không thể dứt khoát yêu thương trong một đời sống ngắn ngủi. Do đó theo luật nhân quả, yêu thương không trí huệ sẽ là những mắc xích đeo mang vào mình đến muôn kiếp...Trong kinh Niết Bàn, khi Phật sắp vào Niết Bàn, cư sĩ Thuần Đà than khóc van nài xin Phật hãy thương xót chúng đệ tử mà ở luôn nơi đời đừng nhập Niếp Bàn. Và Phật dạy như sau: ?®g chẳng nên nói rằng thương xót các ông mà ở luôn nơi đời. Chính vì thuơng xót ông và các chúng sanh mà hôm nay Phật mới muốn nhập Niết Bàn. Vì sao thế? Chư Phật pháp nhĩ như vậy. Pháp hữu vi cũng thế. Nên chư Phật nói kệ rằng:

Các pháp hữu vi

Tánh nó vô thường

Sanh rồi chẳng trụ

Tịch diệt là vui.

Đó là lời dạy về tình thương đầy trí huệ của đấng Giác Ngộ mà phàm phu chúng ta nào ngờ được.

Với chúng ta càng thương càng khổ, mình khổ đã đành kẻ được thương cũng khổ theo. Bởi vì lấy dục ái mà thương nên người được thương cũng nhiễm ái; dục ái thương yêu là tham muốn yêu thương xác thân máu mủ, là hình ảnh tiếp xúc với căn thân ái dục, nên sinh ra vọng thức dục tình trở thành tình thương thô kệch.

Vọng thức nhiễm dục quá nặng, nên tình thương sâu đậm đến nỗi thân xác không còn ái dục được nữa, mà tư tưởng vẫn nuôi mãi dục ái kia, nên đeo đuổi nhau hoài trong luân hồi lục đạo. Thương yêu bằng trí huệ là thương bằng chân thức bằng giác niệm, và chân thức giác niệm đó phải lìa khỏi vọng tình của dục ái.

Nhìn lại con người chúng ta, chúng ta có thực hành được thương yêu không dục ái? Tất nhiên là không, vì giản dị rằng thế giới chúng ta đang sống là thế giới của dục ái (cõi dục). Thế giới mà con người tranh đấu không ngoài tham muốn thương yêu ái dục mà ra. Lẽ vậy thế giới có bao nhiêu người thì bấy nhiêu người nhiễm dục; và trong muôn người lớp lớp sinh sinh tử tử ấy, nếu có vị nào không nhiễm ái dục, thì vị đó đúng là Thánh nhân. Đức Phật là vị Đại Thánh tiêu biểu cho hình ảnh vô nhiễm dục ái mà chúng ta biết được. Tiếp nối sau là hình ảnh đệ tử đắc đạo của Ngài, đã thật sự thực hành thương yêu không dục ái. Vậy chúng ta là người học Phật nghĩa là đệ tử Phật, tất nhiên phải ý thức việc này, và sớm muộn gì phải yêu thương thuần theo trí huệ.

Thực hành ban đầu tình thương không ái dục là giảm bớt phân biệt; muốn giảm bớt phân biệt trước phải giảm cường độ yêu thương của người mình thương yêu nhất. Tùy vào hoàn cảnh của mỗi người mà người mình thương yêu nhất có thể là cha mẹ, chồng vợ, con cái, anh chị em...

Người sống với tình thương trí huệ, thấy được người mình thương nhất không phải là một người, mà là hai người, rồi cố gắng tìm thêm ba người, bốn người, năm người cho đến được mười người thương nhất. Tìm được mười người thương nhất, tự nhiên nhìn lại người mình thương nhất ban đầu bây giờ đã không còn cường độ thương mãnh liệt nữa. Tìm được tình thương hài hòa bình đẳng trong gia đình thân tộc rồi, lại hóa rộng tình thương ra. Trước kia ta chỉ có một vài người bạn thân, giờ hãy làm sao có được nhiều bạn thân nữa. Nếu không thể tìm được nhiều bạn thân, thì ta hãy đối xử với người không phải là bạn như là đối xử với một người bạn, nghĩa là ta sẽ không còn ai là bạn thân như ngày xưa, mà chỉ là những người bạn bình thường. Điều này giúp ta có thể làm bạn bất cứ một ai.

Đây là bước thực hành căn bản, nhưng không phải dễ, vì con người chúng ta vốn tham ái chấp ngã nay phải san sẻ thương yêu tất cả, tức phá lòng tham si, ái ngã của mình, thành ra khi hành được như vậy bản ngã sẽ giảm đi nhiều, tức tham ái cá nhân không còn nữa. Tham ái bản ngã không còn nhiều, thì tình thương sẽ chan hòa ra, cho nên không cần phải thương yêu quá một ai để thành bi lụy.

Thương yêu sáng suốt trí tuệ như thế, ngẫu nhiên không còn ai là thù là ghét, vì chính sự thương yêu là điều dễ chịu mà ta còn khéo léo dè dặt không để mắc kẹt gây ra phiền não thì thù ghét để làm gì! Nhưng nói thật ra khi đạt được trí huệ giác ngộ rồi, thì cả đến ý niệm thương yêu để làm gì đó, cũng không còn vướng bận đến hành giả thật tu trên con đường giải thoát.

18. Tu Phật không phải dễ

Ngày Phật còn tại thế, hàng Phật tử tại gia đâu phải ai cũng lãnh hội lời Phật dạy, thậm chí các vị tu sĩ sống gần Phật còn có vị chưa chứng quả mãi cho đến Phật vào Niết Bàn. Có vị còn phản lại giới luật, cho rằng gò bó, hạn cuộc đời sống tu sĩ, cả đến muốn chống lại Phật nữa. Đó là thời chánh pháp Phật còn hiện tiền, bây giờ nhìn lại chúng ta những người đang tập tành lê bước tìm bóng dáng Phật cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm có phải là chuyện dễ không?

Ngày còn Phật ở thế gian, pháp ngữ của Ngài vang vọng khắp không gian, vậy mà còn có người dửng dưng không hiểu; giờ đây pháp ngữ đó chỉ là những nét mực loang trên giấy bản, thì người ta có thể dễ cảm được chăng? Và không chỉ là pháp âm, mà hình tướng trang nghiêm siêu thoát của Phật tỏa ra vẻ đẹp sáng đến cả mười phương thế giới, hay hiểu đơn giản là loài chúng sanh nào cũng nhìn Ngài mê mẩn, nhưng vẫn có người như đui ra nghĩa là không cảm được gì, cho nên không duyên học đạo; thì thời nay chỉ là mường tượng miêu tả vẻ đẹp theo giác quan thô kệch ô nhiễm của con người thời mạt pháp, thì có dễ cho người ngộ đạo không?

Rồi cuộc đời của Phật đã cảm hóa được hàng vạn người, không phân biệt giai cấp, từ hàng vua chúa đến hạng cùng đinh; bất luận người nào khi hiểu lời dạy của Ngài tức thì giác ngộ chứng quả, hay ít ra cũng dứt đi tạo nghiệp mà quả thấp nhất là sanh vào cõi trời. Vậy mà cũng có người không muốn nghe, không muốn thấy sự thật đó, thế bây giờ tìm có được hình ảnh nào đáng so sánh phần trăm, phần ngàn như thời chánh pháp để cho người thời nay thức tỉnh không? Chưa nói là thời đó đời sống con người không phải như thời nay, họ không có nhiều thú vui cám dỗ; nhìn lại bây giờ phải biết vạn lần khó hơn để tìm về Phật đạo!...

Vài điểm để thấy đời nay tu Phật không phải là dễ, thử nhìn xem từ thời Lục Tổ Huệ Năng (638-713) đến nay, biết được có bao nhiêu người đắc đạo! Chỉ lác đác có vài chục người, trong khi có đến cả chục triệu người tu theo Phật (tính chung tu sĩ, cư sĩ). Có phải những người tu sau là tu sai! Điều này không thể khẳng định được, nhưng nói cho dễ nghe, là tu Phật không phải dễ, vì như trên đã nói cả thời còn Phật mà vẫn nhiều người không tu được.

Chúng ta thử nhìn xem ngay chính bản thân mình, những người mới vào đạo hiểu được lấp lửng một vài giáo lý, một vài bài kinh có đủ để chứng đạo không? Đừng nghe tích sử của Lục Tổ người không biết chữ mà chứng đạo rồi móng tâm cho là dễ; không khéo đã không ra khỏi luân hồi mà còn ở vào thế giới thấp nhất của lục đạo. Lục tổ chỉ là người duy nhất từ đó tới nay, ngoài ra không thấy người thứ hai nữa. Một người phi thường liễu đạo như thế không cần suy nghĩ cũng biết là bậc Bồ Tát hóa thân, mà đã hóa thân đẹp lạ như thế tức phải tu hàng vạn kiếp mới được. Theo Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn giải thích, là thời gian từ Thánh quả Tu Đà Hoàn đến được quả Phật phải trải qua tám vạn kiếp, một tiểu kiếp được tạm tính là mười sáu triệu tám trăm ngàn năm(16,800,000), vậy tám vạn kiếp tức tám nhân cho mười ngàn (8 x 10000) rồi nhân cho mười sáu triệu tám trăm ngàn (16,800,000) năm, con số sẽ là một ngàn ba trăm bốn mươi bốn tỉ (1344,000,000,000). Đây lấy con số để tính mà tạm hiểu thời gian lâu vậy, thật ra còn lâu hơn nữa. Phật học Từ điển ĐTC giải thích thêm: Trong kinh, có chỗ thí dụ nầy để chỉ sự lâu dài của một Kiếp: Ví như có một hòn đá vuông vức 40 dặm. Cứ một trăm năm đem chiếc áo Tiên chỉ nặng ba thù [29]mà phất vào hòn đá một lần. Lần hồi như vậy chừng nào hòn đá mòn và tiêu hết, đó là một Kiếp.

Chỉ đơn giản hiểu vậy thôi, chúng ta thấy chứng được quả Phật là việc không thể tưởng nổi. Với bậc Tu Đà Hoàn là bậc thấp trong tứ quả, phải trải qua thời gian lâu như vậy, thế mà đời nay đâu dễ thấy mấy ai đắc quả Dự Lưu này! Còn như các vị phát Bồ Đề Tâm, mang đủ hình tướng Bồ Tát lăn xả vào đời để được thành Phật, thì thời gian không thể tính được. Trong quyển Phật Giáo Khái Luận của Hòa Thượng Thích Mật Thể, đoạn viết về Kiếp có nói: Các bậc Bồ Tát tu hành phải trải qua tam A Tăng Kỳ kiếp mới thành Phật. A Tăng Kỳ ý nghĩa là vô số kiếp vậy.

Do đó chúng ta tu hành đời nay chớ móng tâm cho là dễ, hoặc cho Phật tại tâm, hoặc cho Phật với ta không khác hoặc chứng đạo chỉ trong sát na v.v...Những tư tưởng như thế chỉ để phương tiện an ủi nhắc nhở sách tấn trên đường hành đạo, chớ thực tế hoàn toàn cách xa.

Chúng ta dư biết tâm vô thường, có thể xoay chuyển từng sát na, và trong trần cảnh dục nhiễm lên đến cực điểm như thời đại hiện nay, ai dám tự hào tâm mình ngưng đọng. Nhưng tâm Phật không phải là tâm ngưng đọng! Dựa vào quả vị Phật thì không tưởng nổi, ta thử so tâm các vị Tổ thôi, chúng ta cũng khó mà với tới. Các Tổ cũng thời mang tâm vô thường nhưng vô thường trong sự tự tại để chuyển thành chân thường đạo, thành ra nhìn cách sinh hoạt của Tổ không khác người thường. Tuy vậy các Tổ cũng nghiêm mật tinh chuyên tu hành khó mà hiểu được, vì ở mức độ tu cao hành giả càng cảnh giác hơn. Lịch sử xưa nay cho thấy Tổ nào cũng gian truân tầm đạo hành đạo, và việc ngộ đạo để lại chứng tích thường xảy ra ở nơi không bị hoen ố của những hình thức danh vị sắc tướng... Suy ra các Ngài buộc phải hành đạo gian khổ như thế, vì các Ngài thấy rằng đời nay không thể với kiến thức Phật học mà chứng được đạo, và chỉ đôi mươi năm giữ giới mà tạo được chân tâm! Đọc trong Từ Bi Thủy Sám chúng ta thấy gương của Ngài Ngộ Đạt quốc sư, đã hơn mười đời sanh ra làm bậc cao tăng đức độ, vậy mà đời cuối sau không kềm hãm được tâm, để cho danh sắc động lòng mà móng tâm tự mãn, nên phải chịu quả báo oan gia hiện lên đòi oán. Mười đời làm Hòa Thượng cao tăng hẳn đã thông hiểu nhiều pháp Phật, hẳn thấm nhuần lý vô thường, vô ngã...và tưởng đã hồi hướng tiêu hết những oan gia nghiệp báo đời trước, ai ngờ khi móng tâm lên nghiệp báo kia vẫn quay về báo oán một cách dễ dàng. May thật Ngài đã nghiêm mật tu hành giới hạnh cả đến chín đời, chớ chỉ có một hai đời mà móng tâm vậy, thì chắc không có cơ hội sám hối mà phải đền mạng. Lại khi bị đền mạng, liệu tâm thức có đủ mạnh từ bi sáng suốt, để hòa vào ánh sáng Phật tức là vẫn kiên trì níu chặt chủng tử Phật pháp, hay sanh tâm buồn thảm tự tủi cho mình đã hành đạo mà vẫn chịu quả xấu rồi hóa thành hờn giận! Thế là xung khắc tâm thức, và khi được sanh làm tu sĩ trở lại, luôn mang tâm trạng giận hờn trong tâm mà không biết nguyên nhân gì, đến chừng gặp người của quá khứ tái sanh thì bao vấn đề rắc rối khởi lên, dù hoàn cảnh không gây hại lại được, nhưng tâm tư khó mà an lạc để tu!

Với chúng ta thì sao, ai biết mình đời trước đã có tu? Và đời trước tu thế nào? Theo kinh điển Phật dạy, muốn biết tương lai nhìn hiện tại đang làm, muốn biết quá khứ nhìn hiện tại đang hưởng. Cũng có thể rõ ràng, chúng ta là người có duyên với Phật pháp, và ít nhiều trong quá khứ đã hành qua nên bây giờ mới ham thích đạo giải thoát vậy. Nhưng bên cạnh sự ham thích đó, chúng ta đã đạt được gì gọi là an lạc trong pháp vị giải thoát! Điều này chỉ trong tâm mỗi người chúng ta tự biết mà thôi, nhưng lược qua lịch sử truyền thừa Phật pháp tính từ thời tượng pháp trở lại đây, ta cũng có thể suy ra pháp vị giải thoát đâu thấy có mấy người được hưởng. Biết rằng các vị chứng pháp không tuyên bố ra, nhưng sự thị tịch của các Ngài có thể cho thấy. Tóm lại chẳng có mấy người, và nếu chúng ta muốn hiếu kỳ, để diện kiến cho được các bậc chân sư chứng đạo, thì hẳn nơi ấy không là nơi mà chúng ta thường ồn ào hoạt động cho bản ngã, nói cách khác không dễ gì tìm thấy trong sinh hoạt của phố thị hiện ta đang sống. Vậy thì cho thấy các Ngài cũng lượng sức mà tu, và dứt khoát hành đạo, chỉ khi cảm thấy khả năng có thể, mới âm thầm đi vào phố thị bằng mọi hình thức hóa duyên độ chúng. Tuy nhiên đa số là thầm lặng tịnh tu để chờ đợi nhân duyên, thành ra ngày nay không còn thấy nhiều người ngộ đạo như xưa là vậy.

Lần nữa nhìn lại chúng ta, những người sơ cơ vào đạo, tâm tánh thô thiển cộc kềnh, thân thể biếng lười dã dượi; tinh tấn được một ngày thì chín ngày giải đãi. Hàng ngày lại đón nhận bao duyên cảnh sắc trần, phóng tâm đối đãi, nên tâm đã không dừng lại được, còn bị cuốn mất - lăn xăn lục đục giỏi lắm chỉ nhìn được tâm chớ bắt được tâm là chuyện không tưởng. Thành ra người tu sơ cơ trong thời đại này chỉ là xoa dịu, vổ về, những lỗi lầm trong quá khứ, và phương pháp sám hối nghiệp nhân đã phạm, là thực tế và tưởng như ý nghĩa nhất cho việc tu hành của chúng ta. Ấy thế trước kia ta cho rằng việc sám hối là hình thức, và tội phước vốn là không, cần gì phải lo sợ chấp chặt mà phiền não! Nào ngờ mới thấy, biết bao người sống đời tu niệm, nghiền ngẫm kinh sách có được mấy vị hành xử tự tại xem tội phước vốn không! Do đó chưa phải là căn cơ trung thượng thì muôn vàn khó khăn trên đường đạo, nếu không bị sa đọa vì ngã mạn tự cao là vạn may rồi. Vầy thì người sơ cơ như chúng ta phải đồng ý rằng tu Phật không phải dễ.

19. Tu Phật không hẳn là khó

Khi đấng giác ngộ vừa thành đạo, Ngài liền băn khoăn, làm thế nào đem giáo pháp giải thoát giảng dạy cho chúng sanh. Vì chân lý mà Ngài khám phá ra đi ngược lại điều thế gian chấp giữ; thế gian vui sướng trong dục ái đã lâu, bỗng dưng đạo lý xuất hiện cho rằng hãy lìa bỏ đó sẽ được hạnh phúc! Vậy ai là người tin nổi? Rõ ràng đang sung sướng hạnh phúc ngay khi sống đời hưởng thụ khoái lạc, nay từ bỏ hưởng thụ thì cái gì gọi là hạnh phúc?

Tất cả sự thể như thế, là do không thấy giáo pháp giải thoát, đây là điều cơ bản, chớ không phải nhân loại không biết khổ trước khi thái tử Sĩ Đạt Đa ra đời. Tứ Diệu Đế chỉ là chân lý mà Đức Phật tìm ra trong khi thành đạo, chân lý ấy vạch rõ nhân sinh là vậy, và siêu sinh tử cũng từ đó mà ra. Chính thế mà ngay trong thời Phật, vẫn có nhiều đạo sĩ lãnh hội được chân lý cuộc đời, nhưng họ chỉ giác ngộ ở góc độ tâm thức tối thiểu của họ, nên quả vị chứng ngộ cũng là tương ứng. Và người mà giác ngộ quán triệt toàn vẹn chân lý chỉ có đạo sĩ Cồ Đàm [30].

Nhưng rồi đức Phật đã quan sát tâm thức chúng sanh trong hiện kiếp này, tuy lăn lộn trong sanh tử đục dơ như bùn đen hối hám ví như hoa sen trong đầm, nhưng khi vượt khỏi, ngoi đầu lên mặt nước tức thì đơm hoa ngát hương thơm. Trong đầm sen có vô số cánh sen, tất cả đều muốn vươn mình lên tỏa nhụy, dù là cành thấp nhánh cao. Chúng sanh cũng vậy, sở dĩ còn lặn hụp trong sanh tử vì chưa thấy giáo pháp giải thoát. Quan trọng hơn, không phải ai cũng không thấy, và không phải người nào cũng si mê. Tất cả tất cả là nhân duyên sớm muộn, Ngài ưu tư và rồi quyết định khai mở đạo vàng.

Từ đó hàng đệ tử của Ngài có đủ hạng người trong xã hội; từ giai cấp vương quyền vua chúa đến hàng cùng đinh nô lệ. Cho thấy đạo vàng chẳng phân biệt ai, vấn đề chỉ có hành đúng theo lời Phật dạy hay không. Xem sử tích đệ tử của Ngài, có vị đệ tử Tỳ Kheo mang một quá khứ khủng khiếp; trước kia là tên giết người hàng loạt, vậy mà Phật chẳng những cảm hóa được con người ghê gớm đó, mà còn chỉ dạy tu hành để trở thành bậc Thánh vô sanh (A La Hán).

Nêu ra ví dụ và ý niệm cụ thể việc hóa duyên cứu độ chúng sanh của Phật để thấy, chúng ta dù là hạng căn cơ thấp kém sống cách Phật quá xa, nhưng vẫn cảm được niềm thâm cảm tôn kính đó. Trong niềm thâm cảm tôn kính này, rõ ràng ta đã cảm nhận được chân lý, bởi vì truyền sử của Thái tử Tất Đạt Đa bỏ thành ra đi học đạo rồi thành Phật không phải là điểm mà thế gian truyền tụng. Người ta có thể vẽ ra, hay thêu dệt nhiều chuyện còn đẹp hơn nữa. Tuy nhiên điều ta không thể nào không bị giao động cảm xúc, là những gì Đức Phật tìm ra. Tức thì ta hiểu, không một người nào có thể hiểu điều Phật nói mà vẽ đặt ra được. Điều đó chính là chân lý, là điều mà không bị không thời gian chi phối được. Do đó đời trước đời nay chân lý chẳng có gì sai khác. Sông Hồng của ngày xưa nơi kim thân Phật đã nhiều lần nhúng mình, bây giờ nó vẫn còn đó dù cuộc tuần hoàn có thay đổi nhưng nước vẫn là nước. Và nhiều di tích còn lại đủ chứng minh kim thân đấng Điều Ngự đã từng đi lại trên thánh địa này (Ấn Độ). Những hình ảnh vật thể qua thời gian đó vẫn còn, huống gì chân lý siêu việt có thể bị lung lạc với một thời gian quá ngắn vậy ư!

Chúng ta có thể nói, hễ còn giáo pháp giải thoát thì còn có người giải thoát; giải thoát bằng cách nào thì tùy vào căn cơ hoàn cảnh của mỗi người. Cũng như hình ảnh của sen, đã hóa thân là sen thì phải nở hoa tỏa nhụy. Trong kinh Pháp Hoa, Phật dạy, sự xuất hiện của Ngài không ngoài mục đích làm cho chúng sinh thấy được tri kiến Như Lai, nghĩa là giác ngộ đạo lý giải thoát để rồi sẽ thành Phật như Ngài. Ý nghĩa rõ ràng như vậy, cho thấy Phật thấy tận suốt tâm thức chúng sanh có được Phật tánh đầy đủ, và dù thời gian lâu xa thế nào, một khi đã có chủng tử Phật tức đường về Phật quả sẽ thành.

Trước đây ta cho là khó tu, điều này không phải là sai nhưng không tuyệt đối; bây giờ ta chẳng thấy khó nữa. Tuy nhiên khó dễ đều do lòng người, thành công hay thất bại chỉ do ở chính ta mà thôi. Nhưng đã có duyên với đạo giải thoát rồi, chắc chắn ta sẽ không thất bại, vì cuối cùng đoạn đường tươi đẹp đó cũng phải sáng ra trước mắt. Lại nữa trong sự luân hồi đau khổ của một chúng sanh đến mức không còn chịu đựng, tức thì sẽ ngừng lại mà tìm kiếm nơi an nghỉ. Bấy giờ chúng sanh nào có duyên nuôi được chủng tử giải thoát sẽ quay về mà tìm, còn không có duyên thì con đường quay về cũng chỉ mà lâu xa hơn thôi. Nhưng cái lâu xa đó chúng ta không thể đoán định được, vì Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Chỉ lạc mất thân người, cũng là điều vô vàn khó khăn để được trở lại, vì có không biết bao nhiêu chúng sanh đau khổ khác, lại mang hình tướng không phải là người. Thậm chí cả mang thân trời cũng chưa phải là sung sướng! Đến khi được lại thân người cũng vô vàn khó khăn gặp được Phật pháp. Nên nói Phật pháp khó nghe là vậy. Chỉ có khó nghe thôi, còn phải hiểu và tu hành nữa!

Chúng ta nay đã là thân người, đã nhận thức tu Phật không phải dễ, điều này quả là một đại nhân duyên; khi hiểu tu Phật là khó cũng có nghĩa đã thấy được phần nào con đường giải thoát. Thế thì dù đang mang căn tánh hạ thô ta vẫn vui mừng nhìn lại mình đang vững bước vào niềm tin chánh pháp vậy.

20. Đọc tụng kinh Phật

Khi nghiên cứu đạo giải thoát, không một học giả nào lại không lên tiếng sững sờ chới với về lượng kinh điển của nhà Phật. Người thì ví như rừng, kẻ ví như biển...ai lạc vào rồi hẳn phải chơi vơi không biết đâu là hướng đến hướng ra. Quay cuồn lặn hụp như thế đến hết đời cũng chẳng biết mình đã tới đâu! Có thể khẳng định rằng, nếu chọn một chú bé thuộc dạng thông minh; nuôi dưỡng giảng dạy Phật học cho chú ngay khi bắt đầu tập nói, như thế đào tạo chú đến trưởng thành, và tiếp tục tạo đủ điều kiện cho vị này học đến già; đến lúc không còn học được nữa, thì lúc bấy giờ ta có thể tin tưởng rằng vị này làu thông hết kinh điển? Xin thưa chẳng bao giờ! - và có lẽ phải nhiều đời sanh ra để học như vậy mới được phần nào thôi! Nhưng lạ một điều là càng học lại càng thua người không học! Đức Phật há chẳng dạy là xưa nay Như Lai chưa nói một lời!

Như Lai đã không nói gì cả, thì pháp mà người đó học tất nhiên làm sao thành được cái gì! Nói là học cái không không, hóa ra mình là người bất thường, nhưng quả thật trong thời Phật hiện tiền, các vị chứng đạo đâu có sách mà học, đâu có ai là học giả. Thời tượng pháp và cận đại sau này, dù đã có kinh sách truyền tụng nhưng quý Tổ chứng đạo đa số ở nơi làng mạc hẻo lánh, nơi ấy làm sao có phương tiện nghiên cứu học hỏi nhiều.

Vậy ra học kinh không là cứu cánh sao? - Tất nhiên là cứu cánh ban đầu và phương tiện về sau, nghĩa là ban đầu nhờ gặp kinh sách chúng ta mới biết được pháp giải thoát, nhưng về sau đã hiểu biết rồi phải xem đây chỉ là phương tiện, hầu tránh kẹt cứng vào những gì đã học. Cũng từ việc chấp chặt như thế mà Phật đã dạy, xưa nay Ngài chẳng nói một lời. Do vậy nếu người không hiểu sẽ cho rằng quái lạ, không biết phải tu thế nào, vì bấy lâu nay ôm kinh mà đọc gần như muốn thuộc lòng cả một cuốn kinh, chẳng hạn kinh Kim Cương hay Vô Lượng Thọ vậy. Còn các mật chú như chú Đại Bi, chú Lăng Nghiêm thì thâm nhập vào tâm rồi, vậy lãng phí à!

Thế nghĩ ra chỉ có đạo giải thoát mới dạy như vậy, vì muốn đưa chúng sanh vào sự giải thoát đúng nghĩa của giải thoát. Ngón tay chỉ mặt trăng, chiếc bè đưa qua sông mang ý nghĩa tượng trưng. Chúng ta chỉ nhờ ngón tay mà thấy mặt trăng, nhờ chiếc bè mà qua được sông; khi đã thấy được trăng, đã qua được bờ thì nên quên hẳn nó đi, để còn l��m chuyện khác! đừng dại cho ngón tay là cứu cánh, cho chiếc bè là đệ nhất nghĩa...tất cả tất cả chỉ là phương tiện. Thế nên Phật nói, chẳng nói một lời là như thế.

Vậy hiện nay chúng ta phải đọc kinh hằng ngày, và chỉ có một vài bài kinh đổi đi đổi lại thế có tác dụng gì không? Trong khi đọc cả pho kinh còn phải bỏ! Chúng ta không từ bỏ bất cứ phương tiện nào, nếu phương tiện đó hợp lý và hợp với khả năng c��m tính của ta theo đường hướng chánh pháp. Nhưng khi đã biết chúng chỉ là phương tiện, thì phải sống đúng với phương tiện đó. Tất nhiên đọc kinh nghiên cứu, tụng kinh tu niệm là điều phải làm của người Phật tử tại gia và xuất gia. Người nào tự xưng mình là Phật tử, mà khinh thường việc tụng kinh là người liều lĩnh tự cho mình có thể bơi vượt qua biển Đại Tây Dương. Và việc gì xảy ra cho người đó! Người đó sẽ chết đuối giữa chừng biển.

Người Phật tử nhờ vào kinh điển để tìm lại hình bóng Phật, để lắng nghe pháp âm vi diệu của Ngài, để nhìn xem mình đã sanh ở đâu ngay thời Ngài còn tại thế. Cuộc luân hồi không tưởng, đâu biết chừng thời ấy mình đã là người Ấn Độ sanh trong dòng Tỳ Xá (thương gia, bình dân) hay Thủ Đà La một giai cấp cùng đinh hèn hạ! Rồi duyên ngộ nào đó gặp Phật và đệ tử Ngài đi qua, chỉ len lén nhìn trộm dung tướng của Ngài, trong tâm móng lên lòng kính mộ; nhờ được như thế mà phước báo hơn hai ngàn năm sau, sanh ra khỏi đất Ấn, và hoàn cảnh bây giờ được tương đối đầy đủ. Do chút nhỏ nhân duyên vậy giờ mới cảm tình với đạo giải thoát chăng!

Vậy lấy việc tụng kinh để mong giữ được tâm ngưỡng mộ, tri ân mơ màng hình dung lại thời mà mình đã thấy trộm Ngài, và mong sao còn gặp lại Ngài trong kiếp sống khá hơn. Hãy thử đọc vài lời kinh rồi mường tượng lại xem sao:...Một thuở nọ, đức Bạt Già Phạm [31]đi châu du giáo hóa các nước, đến thành Quảng Nghiêm, ở nghỉ dưới cây Nhạc Am,...

Tùy vào lòng tôn kính tri ân của mỗi người, việc đọc tụng kinh điển có thể mang đến sự giác ngộ. Lục Tổ Huệ

Năng, Ngài chỉ nghe người khác tụng kinh [32], và chỉ lọt vào tai một câu, khiến Ngài giác ngộ; chúng ta vì vô minh dầy đặc không được như Ngài, thì nay ôm giữ kinh tụng mãi không lẽ không có ngày giác ngộ sao! Trong kinh Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa, ở phẩm thứ ba, ‘Mười Công Đức’ Ngài Đại Trang Nghiêm Bồ Tát xưng tán sự cao siêu mầu nhiệm của kinh Vô Lượng Nghĩa; như khi nghe kinh này các hàng Bồ Tát, Quỷ Thần...các chúng sanh, không ai là không phát tâm Bồ Đề và chứng được Thánh quả. Ca tụng xưng tán rồi, Ngài lại thưa hỏi đức Phật,: Bạch đức Thế Tôn! Kinh này do từ nơi nào tới? Sẽ đi về nơi nào? Và trụ ở nơi chốn nào?...

Trả lời cho Bồ Tát Trang Nghiêm, Phật dạy ...Này thiện nam tử! Kinh này vốn nó từ trong nơi nhà chư Phật mà tới, nó đi đến chỗ hết thẩy chúng sinh phát tâm Bồ đề, và trụ ở nơi các vị Bồ tát sở trụ...

Phật dạy còn nhiều, nhưng ta thấy ở câu vốn nó từ trong nơi nhà chư Phật mà tới, khiến chúng ta thật vững tâm không sợ lạc đường, và không phải chỉ có kinh Vô Lượng Nghĩa mà các kinh khác nói ra cũng từ nơi nhà chư Phật mà tới. Thế thì dù ta đọc kinh có phần nào phân tâm vọng tưởng trong đó, ta cũng đã ở ngay trong nhà chư Phật rồi. Như được nhất tâm trì tụng thời công đức nào mà không phát ra. Tiếp theo Phật lại dạy công đức mà chúng sanh đạt được do nhân duyên nghe qua hoặc trì tụng: ‘Này thiện nam tử! Kinh này, một là hay khiến cho các bồ tát chưa phát tâm, thì phát tâm Bồ đề, không có lòng nhân từ thì khởi ra lòng nhân từ, người hay sát hại thì khởi ra tâm đại bi, người hay ghen ghét thì khởi ra tâm tùy hỉ; người tham ái chấp trước thì khởi ra tâm hỉ xả; người sẻn tham thì khởi ra tâm bố thí; người kiêu mạn nhiều thì khởi ra tâm giữ giới; người giận dữ nhiều thì khởi ra tâm nhẫn nhục; người hay lười biếng thì khởi ra tâm tinh tiến; người hay tán loạn thì khởi ra tâm thuyền định; với người si mê thì khởi ra tâm trí tuệ; người chưa hay độ người thì khiến cho phát tâm độ người, người hay làm thập ác, thì khiến cho phát tâm làm thập thiện; người tu pháp hữu vi thì khiến cho chí cầu đạo vô vi; người tâm thoái chuyển thì khiến cho tâm bất thoái; người làm hạnh hữu lậu thì khiến cho phát tâm vô lậu người nhiều phiền não thì khiến cho phát tâm trừ diệt. Này thiện nam tử! Đó là năng lực thứ nhất bất khả tư nghị công đức của kinh này vậy ’.

Đọc đoạn công đức đây, chúng ta thấy, chẳng có gì là huyền bí khó hiểu, ngược lại thì rõ ràng thực tế mà ai trong chúng ta cũng có thể đạt được công đức này. Phật dạy rõ như thế cho thấy, lời Ngài dạy cách đây hơn hai ngàn năm trăm năm nay, chỉ là làm sao cho con người rửa sạch tâm mình cho thanh tịnh. Và công đức trì tụng, tức nhắc lại lời Phật dạy chỉ để tu cho được pháp thiện, phát được tâm Bồ Đề. Tuy nhiên cũng xin nhớ rằng ứng nghiệm của kinh không thể nghĩ bàn, vì vốn nó từ trong nơi nhà chư Phật mà tới,nên khi trì tụng chính điểm thời gian đó ta đã ở ngay trong nhà chư Phật. Ở ngay trong nhà chư Phật thì đã đầy đủ tất cả pháp tu, do đó khi thân trang nghiêm cung kính, miệng đọc lên lời Phật, ý nhiếp

định theo thân và khẩu, nơi đây ta đã hòa vào an định của pháp vị giải thoát, từ đó mà có sự cảm ứng bất khả tư nghì là vậy. Thế là tụng kinh nhất tâm có thể nhiếp được ba nghiệp sinh ra công đức thù thắng, hóa giải được những phiền não thô tế trong và ngoài. Hơn nữa thù thắng của lời kinh còn vang động đến mười phương không gian nữa, việc này ta thấy lời kinh đã chữa được nhiều bệnh và hàng phục cả đến các loài phi nhân.

21. Niệm Phật

Phương pháp niệm Phật cũng chỉ là cách đọc tụng kinh mà ra, hay nhiếp tâm Thiền quán vậy. Người Phật tử niệm Phật là việc tự nhiên và đáng làm. Bao giờ tâm chúng ta có thể luôn luôn sống trong chánh niệm, thì chừng ấy chúng ta mới dám buông bỏ tâm niệm Phật ra, nhưng xét lại đời nay vô vàn khó khăn để luôn sống được trong chánh niệm. Dễ hiểu, vì ta đang sống trong thế giới động, ví như con bọ chuột leo vào lòng quay; hễ bước chân tới trước là vòng bắt đầu lăn trục, càng bước càng quay nhanh. Thế mà bọ chuột chẳng chịu nằm yên thành ra vòng quay chẳng được ngừng. Chúng ta chẳng khác gì, đã lỡ nằm ì trên trục quay, nên ít muốn dừng chân; vì hấp lực cuộc đời mãi nhởn nhơ trước mặt khó mà giằn được. Người hiểu việc này đâu phải ít, tuy thế hiểu là hiểu và quay vẫn là quay; lắm lúc ta cũng ngưng quay được một thời gian khá dài, nhưng thân ngưng quay mà tâm lại móng quay, thế là ta vẫn bị quay ngay khi nằm ì ra đó. Cho nên cả khi giờ tụng kinh, thiền tọa ta cũng bị quay luôn! Nghĩa là miệng tụng kinh mà tâm không tụng, thân ngồi thiền mà tâm ở đâu đâu. Vậy chắc chắn hễ còn nằm trong vòng quay, sớm muộn gì cũng bị quay, chỉ trừ các vị Bồ Tát lớn, các vị mới sanh ra đã sống trong an định rồi, khi xuất gia tu đạo thì an định còn mạnh hơn nữa. Tuy nhiên quá khứ ban đầu, sơ cơ vào đạo các vị cũng như chúng ta, chỉ vì từ nhiều đời tu niệm nên rõ hiểu được vòng quay mà vững tâm vậy. Nói thế nghĩa là đời nay bên cạnh ta vẫn có các vị xuất hiện, giả hình là bị quay nhưng bên trong thật an định. Chúng ta nên cẩn thận dè dặt chớ phán đoán ai, mà chỉ nhìn lại mình, nếu cảm thấy mình vẫn an lạc trong vòng quay thì mình có thể tự tin đã có lực tu trong quá khứ, còn không thì nên tìm phương cách để an tâm dẫn thân ra vòng quay sanh tử.

Niệm Phật có lợi điểm dễ dàng hơn tụng kinh, vì niệm Phật không cần phải tìm nơi để niệm, không cần phải có hình tượng trước mặt, không cần phải nhang đèn, chuông mõ... những việc mà tụng kinh cần có. Do không cần hình thức như thế, niệm Phật ở đâu cũng được và cả đến thân thể bệnh hoạn, thì niệm Phật vẫn được, lúc này là niệm ở tâm. Tuy ban đầu niệm Phật rất dễ quên, do không có giờ giấc chuẩn bị tươm tất sẵn sàng như tụng kinh ngồi thiền, nên tư tưởng ta hay phan duyên theo trần cảnh. Tuy nhiên thực tập hoài rồi cũng thành thói quen; khi thành thói quen, lợi ích sẽ không lường được, nó sẽ ngăn chặn được những tư tưởng xấu móng phát lên. Mà tư tưởng phức tạp của con người chúng ta, phải nói là đầy ắp trong tạng thức, không biết lúc nào bộc phát ra. Niệm Phật lại là cách luyện tâm. Tâm ta vô thường khó kiềm hãm, ta cố niệm Phật luôn luôn khiến nó phải đứng lại không lăn xăn thay đổi, hóa cái tâm thường thành cái chân tâm. Ta cũng không phải gắng công niệm Phật với tâm niệm đạt được cái gì, mà chỉ niệm cho được thành thói quen. Thói quen đó là chủng tử huân tập vào A Lại Da Thức làm nên một nền tảng giác ngộ chắc chắn trong tương lai.

Trở lại việc tụng kinh, ta thấy công đức rất lớn, nhưng sau công đức đó ta hay dễ lơ đãng để xuôi tâm về dục lạc hiện tại, hay chìm trong phiền não vi tế được giấu kín đằng sau cái lạc phúc thế gian. Do đó ta thường chỉ tìm được an lạc ngay giờ kinh, hoặc chỉ được vài tiếng sau khi công phu trì tụng; rồi dễ dàng trở lại với trạng thái bình thường trước đó. Có thể là công phu trì tụng chưa đủ, có thể vì trở lại công việc ít liên quan gắn bó đến việc tu niệm nên dễ tiêu công đức là vậy. Niệm Phật tuy không thể lắng lòng nghe được pháp ngữ của Phật như tụng kinh, nhưng quy về tự tánh giác ngộ thì không khác, vì tụng kinh chỉ để tu cho được pháp thiện và phát được tâm Bồ Đề thì niệm Phật cũng là việc căn nhắc đạt được thiện tâm.

22. Thiền

Thiền là một pháp tu không thể thiếu trong nhà Phật, dù là tu theo tông phái nào cũng đều nên thực tập. Trong Phật Học Từ Điển ĐTC, giải thích:..Thiền là một cõi đạo nói không cùng, biên ra không xiết. Ấy là môn giải thoát. Những nhà học đạo giữ giới cần phải thiền định. Nhờ thiền định mới đắc Trí huệ, giải thoát khỏi các sự phiền não: tham, sân, si. Thật vậy trong Lục Độ: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ đã nói về thiền, và do thiền là tâm mối của người tu Phật, nên người học Phật nào lại chẳng không nghe. Nhưng thiền không phải do đức Phật tìm ra, vì trước khi Ngài thành đạo cũng có các môn thiền của những đạo sĩ khác. Tuy vậy thiền để vào giải thoát thì duy nhất chỉ Phật tìm ra. Thiền lưu truyền đến ngày nay đã gần thành môn khoa học, người không biết đạo Phật họ cũng học thiền, cả luôn tôn giáo khác cũng học thiền mà không phân biệt chi cả. Quyển ‘The Elements of MEDITATION’ (Những yếu tố về Thiền) của giáo sư David Fontana, phần trang tựa sau sách có ghi ‘Thiền là một kỹ thuật thời xưa tạo cho sự thư thả thân và tâm, cũng như làm phát triển tinh thần của cá nhân’(Meditation is an ancient technique which is used for physical and mental relaxation as well as for personal and spiritual growth...) [33]. Định nghĩa về thiền gần đây hơn, trong quyển BUDDHA - A Beginner’s Guide (Hướng dẫn Phật pháp cho người bắt đầu) xuất bản năm nay (2000), Tác giả viết:"....Thiền là yếu tố quan trọng trong việc thực hành Phật pháp, nó được phát triển phù hợp với giới hạnh bên trong"(Meditation is a vital component of Buddhist practice, to be developed in conjunction with inner discipline and morality). [34]

Chúng ta thấy, đời sống vật chất thế nào rồi cũng quay về bồi dưỡng nền tâm linh, nhưng bồi dưỡng bằng cách nào thì không có món thuốc chi bằng thiền định. Dù vậy thiền phải liên đới với đời sống hiện tại, nếu không cũng chỉ là món ăn tạm thời xoa bóp vết thương bên ngoài, mà hết cơn đau này lại nhiễm cơn đau khác. Thiền theo pháp giải thoát không thể định nghĩa, vì an lạc của tâm hồn thế nào có ai định nghĩa được không? Tạm hiểu rằng thiền là phương tiện khéo léo làm cho thân dừng lại và tâm trở nên trong sáng - thân dừng lại phải trong tư thế vững vàng, tức phải ngồi xuống chân chéo lại nhau (crossed-leg), hay gọi là bán già, kiết già. Hiểu tới đây chỉ là giai đoạn đầu, giai đoạn tiến cao hơn là thiền luôn cả khi đi, khi đứng, khi nằm và cả lúc ăn uống nói năng nữa. Nên nhớ giai đoạn này có kết quả hay không là do giai đoạn đầu. Như vậy tất cả tư thế hành động thiền đây chỉ là làm sao cho tâm được an trụ và an lạc. Tới đây chúng ta lưu ý rằng mục đích của việc học Phật là làm sao được giải thoát, làm sao được vào nhà chư Phật, nếu quên mất điểm này, thiền chỉ giúp ta hưởng lạc ở cõi trời vô sắc mà thôi, và còn cách xa nhà chư Phật đến ức ức Phật độ. Thế thì ta phải tu học giữ giới theo chánh pháp để có trí huệ, áp dụng vào Thiền, và có thể đạt được chánh định như là Định trong lục độ hay trong Định của Bát Thánh Đạo. Nhưng rồi sao nữa! Đây cũng chỉ là phương tiện! Ngày nay hiếm thấy được người hành thiền đúng pháp, thiền như Lục Tổ Huệ Năng lại càng không thấy, Ngài thiền đến bậc Tổ thiền mà không tự cho mình là thiền gì cả. Trước khi được truyền y bát làm Tổ, cũng không ai thấy Ngài ngồi thiền. Quả thật phi thường, khi THI"N được ngay trong lúc sống làm việc đông chúng như vậy.

Cận đại đây, có Ngài Hư Vân lão Hòa Thượng cũng là bậc cao tăng thiền, hành tung của Ngài khó mà hiểu, có lần Ngài ngồi thiền nhập định đến cả tuần lễ, và lực tu của Ngài còn cảm hóa được thú dữ. Các vị Thiền sư chứng đạo vậy, hầu như không bao giờ lên tiếng phát ngôn những gì không phải là chánh pháp. Vì các Ngài thấy sao thì nói vậy! Chúng ta ngày nay phần lớn nặng tu về kiến thức, nên nói ra cũng chỉ là kiến thức nhiều hơn. Chúng ta đọc trong sách, rồi mượn ý lập lại không khác, điều này vẫn tốt theo mặt thường thức phổ thông, trên phương diện duy trì phát triển truyền thống văn hóa. Tuy nhiên phương diện liễu đạo chứng đạo chỉ là nhân duyên hiếm hoi, do vì không nói bằng cái thấy của tâm nên khó th�� truyền cảm đến thính giả được. Thế đó mà ta thường nghe trong nhà Thiền nói ‘dĩ tâm truyền tâm’, ‘bất lập văn tự’, ‘giáo ngoại biệt truyền’ (lấy tâm truyền tâm, không lập văn tự, truyền giáo không từ kinh văn) ý nghĩa là vậy.

Dù sao thì thiền cũng là cần thiết cho người Phật tử sơ cơ như chúng ta, hay nói đúng hơn cho tất cả người đang trong cái xã hội rền vang ngày nay. Như đã biết, chúng ta luôn luôn bị vòng quay sai sử, phải bù đầu tối tăm đủ chuyện, nếu ta không chịu ngồi xuống suy tư (Thiền), tìm ra đáp số thì muôn đời vẫn không ra khỏi vòng quay. Nếu không giải đáp được đáp số, ít ra ta cũng thấy được ta đang bị nó quay trói đến mức độ nào! Chỉ cần thấy nó thôi cũng mừng rồi, vì vấn đề chịu ngồi xuống, thật quả khó khăn. Đã nói tối tăm đủ chuyện không có thời gian, nên việc buộc thân này dám ngồi xuống là một cuộc cách mạng lớn. Nhưng đôi khi không phải sợ bỏ thời gian để ngồi xuống, mà sợ tâm nó phóng ra bộ mặt thật của mình. Bộ mặt mà bấy lâu nay mình cứ tưởng nó là một, nay thì nó đổi đủ hình; khi mang diện hình người tốt người hiền, lúc mang hình hèn hạ, ghê tởm...Rồi bên trong, nó (tâm) vẽ không biết bao nhiêu dị cảnh, nó cố tình hay vô tình ta không biết, nhưng rõ ràng ta không chịu nổi với cảnh ghê tởm xấu xa mà nó vẽ ra. Không chỉ nó lên án ta, mà nó còn làm ta nghĩ đến việc xấu xa với người khác, có khi đến cả người tôn kính.

Rơi vào tình cảnh này, vẫn là thường của một tâm thức đã vô minh tung hoành ngang dọc trong quá khứ kiếp, và do không có dịp hiển hình phóng ảnh, nên nằm yên đó; nay thân tâm kia chịu ngồi lại lắng nghe, đã cho nó một cơ hội phóng thoát ra ngoài. Nhưng rồi theo luật vô thường, nó cũng phải ra đi, bấy giờ ta tìm lại được cái thật của cội nguồn thanh tịnh. Đây là chỗ mà người ngồi thiền nào cũng mong đợi, và chính như thế mà người Tây Phương đa số đã tìm về Thiền trước tiên khi bước vào đạo Phật. Hay nói cách khác trong xã hội điện năng cơ khí, khi con người bị quay nhừ quá mức, họ đâm hoảng sợ rồi cố tìm sự bình an đâu đó. Gặp được Thiền, tưởng chừng không gì sung sướng hơn trên đời này - qua đó họ có dịp thư thả thân tâm một cách tuyệt vời...

23. Chỉ có Phật thừa

Hai chàng tu sĩ trẻ vái chào nhau, mỗi người mỗi ngã hứa sẽ vượt sông băng núi sao đến được đỉnh Bảo sơn; nơi ấy sẽ là điểm cuối cùng của đạo giải thoát. Dù hiện thời hai chàng đã luôn hành xử đúng tâm nguyện giúp người hiểu đạo, nhưng hoài bão của hai chàng vẫn là chinh phục đỉnh núi Bảo sơn - để làm gương cho mọi người cũng như dẫn dắt mọi người chóng đạt được quả giải thoát.

Phân ra hai ngã Bắc, Nam, vị đi hướng Bắc vì phải hợp với khí hậu thời tiết ở đây, nên thay đổi cách ăn mặc và tập quán sống nhằm đối xử đúng với dân cư vùng này. Vị đi hướng Nam cũng thuận theo hoàn cảnh mới mà làm cho phù hợp; cuối cùng sau bao năm xa cách, hai vị trở thành hai lão tu sĩ già nua gặp nhau trên đỉnh núi. Vì quan điểm mục đích như nhau, nên hai vị giờ có già hơn trước nhưng vẫn vui mừng nhận ngay hai người là huynh đệ mặc dù trên người hai vị, Tăng phục bấy giờ đã khác biệt. Nhưng khi hai vị xuống núi thăm lại các đệ tử của mình, vấn đề trở nên rắc rối; số là đồ đệ của hai vị đã không nhìn nhận hai Ngài là huynh đệ với nhau. Không chấp nhận hai trưởng lão là huynh đệ thì làm sao chính họ có thể thấy được hai bên Bắc Nam là đệ huynh! Hai bên chỉ công nhận vị thầy riêng của họ vạch ra đường hướng duy nhất đến núi Bảo sơn, và hướng nào khác không thể đi được.

Hai vị trưởng lão cố gắng giải thích cho họ, nhưng chỉ được một số ít nghe theo. Hai Ngài đành trở lại núi, cuối cùng một số ít đồ đệ tin nhận theo hai Ngài lên được đỉnh núi, sự kiện đó đã làm số người cố chấp phân biệt trước kia thay đổi quan điểm của mình, rồi biết rằng cứu cánh là núi Bảo sơn và phương hướng đi lên chỉ là phương tiện.

Người sơ cơ học Phật như chúng ta ngày nay cũng thường rơi vào sự phân biệt này, chúng ta quên rằng con đường thế nào cũng là phương hướng lên đỉnh Bảo sơn. Sự tranh chấp phân biệt chỉ làm cho ta chậm bước đi, nếu không nói ta rơi ngay vào vực thẳm khi chưa đến một phần ba chặng đường. Đừng nói gì sự phân biệt huynh đệ có cùng đấng từ phụ với nhau đã thành trở ngại, mà cả đến có tâm phân biệt người không phải huynh đệ với ta cũng đã bế tắc lộ trình giải thoát rồi.

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phương Tiện, Phật dạy: ...Như thế, Xá Lợi Phất, lúc kiếp loạn trược chúng sinh nhơ nặng, bỏn sẻn, tham lam, ghét ganh, trọn nên các căn chẳng lành, cho nên các dức Phật dùng sức phương tiện, nơi một Phật thừa, phân biệt nói thành ba (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát).

Lại đoạn Phật nhắc thêm, Xá Lợi Phất! Các ông nên một lòng tin hiểu thọ trì lời Phật dạy. Lời các đức Như Lai nói không hư vọng, không có thừa nào khác, chỉ có một Phật thừa thôi.

Vậy thì quả vị Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát chỉ là từng giai đoạn tu chứng tiến lên quả vị Phật. Như thế nếu chúng ta có làm được một ít Phật sự, được một vài uy tín đức hạnh trên đường tu rồi nhìn lại mọi người móng tâm cho rằng mình đây hành đúng đường tu Bồ Tát, hành đúng giáo pháp tư tưởng đại thừa, thì vậy đã đi ngược xa lý tánh Phật thừa mà phương diện hành đạo về sự cũng sai, bởi sự thành tựu tu đạo như thế do ai mà ra, có phải do số tín đồ thuần thành hộ giúp cho vị đó. Mà số tín đồ kia có phải đa số là muốn cầu phước báo cho chính mình, và vì muốn cầu cho mình như thế, chắc ta đã cho họ mang tư tưởng tiểu thừa, nhưng thật ra đây cũng là việc tự nhiên của giai đoạn đầu vào đạo, vậy thì phần đông tư tưởng tiểu thừa phò giúp cúng dường nuôi dưỡng vị tu sĩ đại thừa kia, thì vị ấy có phải đã nhờ duyên của tiểu thừa không? Và vậy vị tu sĩ đó là Đại hay Tiểu trên phương diện hành đạo và lý tánh thành đạo!

Ngày Phật còn tại thế, các đệ tử của Ngài tuy đồng hướng về hình ảnh giải thoát của đức Phật mà tu, nhưng một số vị có những cách sống tu niệm tương đối thuận theo tâm của mình, tất nhiên tâm đó chỉ quy về một hướng giải thoát. Chẳng hạn Ngài Đại Ca Diếp khi đi khất thực, chỉ muốn hóa duyên độ cho người nghèo, trong khi Ngài Tu Bồ Đề lại hướng đến người giàu. Điều này có lẽ cho rằng Ngài Ca Diếp mặc cảm phân biệt người giàu vì nhắm vào việc khổ hạnh để tu (tu hạnh đầu đà). Do tinh thần không phóng khoáng như vậy hóa thành nhỏ, tạm gọi là Tiểu Thừa. Ngài Tu Bồ Đề nhắm vào thực tế là người giàu đáng độ hơn, nếu không họ sẽ chẳng còn phước hưởng về đời sau. Tinh thần cởi mở hướng cao như vậy phải là tư tưởng lớn tạm gọi Đại Thừa.

Nhưng rốt cuộc Phật quở rầy cả hai, rằng vị nào cũng sai. Chúng ta nhớ rằng hai Ngài đều đã chứng quả Vô Sanh, vậy mà vẫn để Phật dạy như thế. Cũng xin nói lại là Ngài Ca Diếp không bao giờ còn tâm mặc cảm phân biệt vì Ngài là bậc kiến đạo sâu rộng, mà Phật đề cao khen ngợi nhất trong hàng đệ tử của Ngài. Như là, Nếu Đại Ca Diếp sanh ra không gặp Phật cũng có thể tự mình tu đạt được Thánh quả cao. Riêng Ngài Tu Bồ Đề thì cũng là Thánh tăng thanh tịnh không thể nào còn có ngã chấp nói gì móng tâm.

Thế ra việc hai Ngài hành đạo như vậy, chúng ta không thể dùng trí lực phàm tình bình phẩm được, và như thế ta chỉ tạo ra chướng ngại cho việc tu mà thôi. Phật dạy chỉ có trung đạo là con đường đến gần giải thoát nhất, nhưng cuối cùng con đường đó cũng phải quên đi mới là rốt ráo.

Nếu chúng ta có thể hiểu được Tiểu thừa, Đại thừa, thì Tiểu, Đại đó phải là ngay tâm hành giả, và chỉ có vị đó biết thôi.

Tiểu Đại không thể xuất hiện qua lớp y áo, vì một vị tu sĩ tu theo truyền thống mà mình gọi là Đại thừa, nhưng tâm tư vẫn có thể đầy ắp tâm nhỏ nhặt gọi là Tiểu thừa. Ngược lại cũng vậy, gọi người Tiểu thừa mà không thấy được tâm tư tràn ngập từ bi độ sanh của người đó.

Như thế tương đối, dù phân biệt hình thức danh xưng hiện nay như là: Nguyên Thủy, Khai Hiển (cấp tiến), Tiểu Thừa, Đại Thừa, Nam Tông, Bắc Tông, thì tất cả cũng phải lấy Trung Đạo mà tu; phải lấy giới làm thầy, phải nhận tất cả là những người con chung của Đấng Toàn Giác.

Nếu phải thường nghe danh từ Đại Thừa là pháp học mà chúng ta đang học, thì đúng tư tưởng đại thừa phải là hướng tới sự giải thoát rốt ráo, kể cả giải thoát luôn ý niệm mà chúng ta đang hướng tới.

Trời đất lúc nào cũng mở rộng, đường đi tới núi Bảo sơn vẫn là trước mắt; hai bên đường lại hiện đủ mọi cỏ hoa, tất cả chỉ là tô điểm chấm phá làm con đường rõ rệt hơn. Nhưng người tìm đường giải thoát không cần phải quan tâm mà chỉ hướng về tâm điểm để đạt thành ý nguyện.

24. Niềm tin

Việc gì trước khi làm phải cần tìm hiểu, nếu không thể tìm hiểu thì ít ra cũng đã thấy, có người tìm hiểu thay cho mình. Khi hiểu rồi thì sự việc theo sau đó mới dễ thành tựu. Hiểu là thẩm thấu vào mình sự sáng tỏa của vấn đề mà trước kia mình hoài nghi thắc mắc, từ đây trở thành niềm tin để sống chết với niềm tin đó. Vào đạo giải thoát, niềm tin thật quan trọng, giúp mình đi trọn con đường. Người học Phật sơ cơ cần phải lãnh hội những căn bản về con đường giải thoát, để làm bước tiến kiên cố không cho lui sụt về sau. Hẳn nhiên trải qua đoạn đường tư duy, nghi vấn đến nay chúng ta đã có niềm tin về PHÂT, về PHÁP, về TĂNG một cách mãnh liệt; phải nói một cách mãnh liệt chớ không dè dặt gì cả. Khiêm hạ vấn đề gì chớ niềm tin ba ngôi TAM BẢO không thể khiêm hạ được, ta phải tự tin trong niềm tin. Chúng ta đã nhắc qua trong đoạn ‘Thành kính tri ân’ thế nào thì niềm tin bây giờ phải là thành thật. Nhưng thật sự mà nói, tin trong thật tin không phải là dễ, vì dễ thì liệu chúng ta đã cụ thể niềm tin chưa, hay đa số vẫn rơi vào lý tưởng! Chứng minh điều này, là những gì ta thấy việc tu hành trong thời đại ngày nay; các vị tu chứng quả hiếm hoi khó thấy, và tình trạng hỗn độn nhiễu nhương của con người vẫn không vì sự tín ngưỡng chân lý mà giảm đi. Đây là điều suy tư thiết thực, cho ta tư duy và chánh kiến lại niềm tin của chính mình.

Chúng ta đã khẳng định có sức mạnh niềm tin vào Phật, nhưng chúng ta vẫn cách xa Phật, nghĩa là chỉ gần gũi với Phật qua ảnh tượng màu sắc, mà không qua chân ảnh bên trong là tánh từ bi, tâm trí tuệ - để rồi vẫn chỉ là niềm tin với hình ảnh, màu sắc. Khẳng định về niềm tin Pháp giải thoát cũng vậy; ta cũng chỉ thể hiện qua nhận thức thô thiển bằng sự ca tụng giải bày qua thuyết giảng, sách báo...chớ ít khi qua nhận thức bên trong mà bên ngoài không thể nào nói lên được. Khẳng định niềm tin Tăng, là hình ảnh sứ giả của Như Lai - ta bề ngoài cũng cung kính như vậy, nhưng bên trong có thật như bên ngoài không! Đối với niềm tin Tăng bảo, tuy chỉ là số người đại diện cho pháp giải thoát và gợi lại hình ảnh của đấng Từ Phụ Thích Ca, nhưng phần quan trọng thật là vô cùng. Vì không lạ gì để hiểu, Phật pháp không thể hòa vào tâm với một người tự làm bất hòa Tam Bảo; bất hòa Tam Bảo là không có sự tri ân và cung kính. Nếu không có hình ảnh Tăng đoàn, thì ta chẳng học được gì công đức khiêm hạ lễ nghi, dù kiến thức Phật pháp của ta có cao tới từng trời. Ta cũng nên biết công đức tôn kính Tam Bảo cũng đủ đưa ta đi vào giải thoát. Và ngược lại chẳng còn công đức gì khi bản Ngã còn quá cao.

Xét như thế thấy rằng, mọi hành động đi vào giải thoát của chúng ta cần nên nhìn lại về niềm tin. Phật dạy trong kinh Hoa Nghiêm, tin là mẹ sanh ra công đức. Tin mà sanh ra công đức nghĩa là phải sống với niềm tin đó; không nên hiểu rằng chỉ tin thôi là được. Thực tế thí dụ, sanh ra ở nơi khổ như Phi Châu vậy, rồi tin chắc chắn ở Mỹ Châu, Âu Châu sung sướng lắm, nhưng rồi có được sướng không, hay cũng chỉ ở Phi châu. Cũng như người tu Tịnh Độ, chắc chắn tin có cõi Cực Lạc Tây Phương, nhưng chỉ tin mà không niệm Phật phát nguyện vãng sanh về đó, thì muôn kiếp cũng chẳng về được. Tuy nhiên niềm tin tạo nên năng lực có thể hoán chuyển, thay đổi hoàn cảnh, hay thể chất của mình để thành đạt khía cạnh nào đó, điều này vẫn là sự thật. Nhưng giới hạn của niềm tin vẫn là giới hạn, bởi không cụ thể hóa niềm tin thành hành động. Áp dụng vào đạo Phật tất phải thực tế, và đi sâu vào thì không đơn giản. Chúng ta từng nghe truyền sử nhiều bậc cao tăng chứng đạo, có những hành tung lạ thường khi tu, và đừng nói là các Ngài tự nói là có niềm tin PHẬT, có khi các Ngài làm những việc ngược lại sự lễ kính niềm tin của ta; nhưng thật sự các Ngài đã đạt đến mức độ vô cùng của niềm tin TAM BẢO nên mới dám làm vậy. Và thường thì các Ngài chẳng nói nhiều, chẳng quan tâm đến ai, thậm chí đến TAM BẢO nữa; các vị đã hòa vào TAM BẢO nên tự thân đã là TAM BẢO, thầm lặng hoán chuyển cuộc đời.

Nếu chúng ta khó củng cố được niềm tin thành Phật, do nhìn lại mình còn đầy tham ái, thì niềm tin gần nhất với chúng ta là các vị Tổ, hàng cao tăng đệ tử Phật trong thời đại gần đây. Tuy nhiên đối với Pháp Phật thì ngay tại đây, tại cuộc đời này - Phật dạy thế nào, ta nên cụ thể suy niệm thế đó. Suy niệm lời Phật dạy, rồi thầm lặng trắc nghiệm xem Phật có nói đúng không; khi kinh nghiệm áp dụng qua thấy thế nào? Ta thấy, ta có thay đổi gì không so với trước khi hiểu Phật pháp? Khi có điều gì phản ứng trái ngược, ta phải tìm người hiểu đạo mà hỏi. Không nhất thiết người ta hỏi phải là tu sĩ; mà có thể là bạn ta, hoặc một người xa lạ thật biết Phật pháp, hoặc có thể tự mình tra cứu kinh sách giải thích điều mình muốn biết. Quan trọng hơn hết phải tự tin chính mình, lẽ đương nhiên tự tin đó không là ngoan cố chấp nê. Quan sát chính bản thân chưa đủ, ta còn khách quan nhìn đến người khác, lấy họ làm đối tượng để học, cả hai mặt xấu tốt, mà không bình phẩm phê phán, cuối cùng quay về lời Phật dạy để thấy thế nào.

Tạo được niềm tin Phật kiên cố rồi, ta sẽ có nhiều lợi lạc - điều trước nhất, dù ta chưa đoạn được phiền não dù là phiền não thô, nhưng chắc chắn ta không thoái chuyển Bồ Đề Tâm. Thứ hai, mọi hành động phật sự hay không phật sự, ta vẫn tạo được niềm tin Phật trong đó, nghĩa là vẫn luôn luôn hướng về chánh pháp. Cuối cùng trong quá trình làm người, đến giai đoạn rủ bỏ xác thân, dù sanh nơi nào ta vẫn đủ duyên hướng về Phật pháp. Do vậy nếu chúng ta tạo được niềm tin Phật đến mức sâu nhiệm, luôn luôn ấm dịu trong lòng như tế bào máu luân lưu trong thân, thì công đức sẽ dư thừa mỗi khi làm bất cứ phật sự nào. Và như thế, với niềm tin đó dù cúng dường một đồng cũng thành một vạn, dù làm công quả một ngày cũng bằng một năm, dù chỉ đọc kinh một lần trong một ngày cũng dư thừa công đức, dù chỉ niệm Phật một tràng chuỗi cũng nhiếp được tâm sống hoài với câu niệm Phật, và dù ngồi thiền năm mười phút mà thân tâm lúc nào cũng sống trong chánh niệm...

Thế đó, tạo cho mình niềm tin chân thật không phải là dễ, dù biết rằng những gì mình tin là chân lý.

25. Quay về với tự tánh

Bước thêm lên một bước học Phật, Phật tử chúng ta phải thiết định rõ ràng việc tu đạo, tránh sự gò bó câu nệ sự tướng bên ngoài mà quên đi bên trong là điều quan trọng. Phật pháp bàng bạc trong không gian vũ trụ, và con người không thể lìa thế gian mà tìm pháp giải thoát, (Phật pháp bất ly thế gian giác) điều này chúng ta đã hiểu; và vũ trụ vạn hữu đều nằm vào lý nhân duyên - con người bằng nhiều cách quán sát được hình ảnh này để tìm về bản thể tự tánh. Bản thể tự tánh là ngay trong con người, chẳng thể tìm được ở đâu cũng chẳng thể do người nào ngoài ta giúp được. Tất nhiên hiểu được như vậy là do Đấng Toàn Giác chỉ bày, nhưng dù nương theo hình ảnh Đấng Toàn Giác bằng hình thức bên ngoài cũng không thể giúp ta giải thoát. Vậy mới thấy hai chữ phương tiện thường hay dùng để nhắc nhở chúng ta, hãy quay về ngay chính ta là tối quan trọng sau khi đã nhờ phương tiện mang đến.

Một ngày kia Phật nghỉ đêm ở một trang trại nhà người thợ gốm. Nơi đó, có một người trai trẻ ăn vận nhà tu đã đến ngụ trước. Hai người không biết nhau. Phật nhìn thấy người thanh niên khôi ngô đứng đắn bèn hỏi: ‘Ớ bạn Tì khưu, vì ai mà anh đi tu, vì ai mà anh lìa bỏ gia đình? Thầy anh là ai? Anh ưa thích giáo lý của người nào?’

Nhà tu trẻ thưa:

-Có nhà tu tên là Gautama, dòng họ Sakya đã bỏ gia đình mà tìm Đạo. Vì người ấy mà tôi đi tu, và chính Người ấy là Thầy tôi. Tôi ưa thích giáo lý của Người lắm!

-Ông ấy bây giờ ở đâu?

-Ở phía Bắc, tại thành Savathi.

-Anh có bao giờ gặp mặt ông ấy chưa? Nếu anh gặp Ông, anh có nhìn ra Ông không?

-Tôi chưa từng gặp người. Nếu gặp chắc chắn tôi sẽ không bao giờ nhìn ra được.

Phật không chịu xưng tên, mặc dù biết rằng người ấy vì mình mà đi tu, bèn nói:

-Anh có chịu nghe tôi nói giáo lý của tôi không?

-Bằng lòng lắm! Bạn cứ nói.

Phật bèn đem giáo lý mình mà giảng.

Sau khi nghe xong, người ấy nhận ra liền: kẻ đứng trước mặt anh chính là Phật, chứ không ai xa lạ! [35]

Người tu sĩ trẻ chưa từng gặp Phật, chỉ nghe giáo lý của Ngài, rồi từ khước đời sống thế gian trở thành tu sĩ, vậy vị đó đã hiểu được bên ngoài (giáo lý) mà quay lại bên trong thấy được bản thể tự tánh của mình. Thậm chí vị đó còn không nhận ra người mình đang nói chuyện là bậc Đạo sư mà vì ngưỡng mộ để đi tu. Chúng ta ngày nay không khác vị Tu sĩ trẻ đó, chỉ có nghe giáo pháp - nhưng có thể còn tệ hơn nhiều, vì chỉ nghe và thờ cúng mà không tìm thấy giáo pháp bên trong là tự tánh giác ngộ. Nếu ta có thể hiểu rõ về ý nghĩa của sự trở về quy y Tam.Bảo bằng tự tánh, có lẽ ta cũng sẽ anlạc ngay trong hoàn cảnh hiện thời, giống như chàng tu sĩ trẻ vẫn an lạc học pháp giải thoát, mà không thắc mắc lo lắng bao giờ sẽ gặp được Phật hay phải chờ gặp Phật mới thành tu sĩ. Chúng ta hãy đọc lại phần lý quy y Tam Bảo, và xin đừng cho là quá thường nghe, bởi điều này là phần kiến đạo của người học giải thoát.

Lý là bên trong. Lý quy y Tam Bảo nghĩa là quy y Tam Bảo bên trong chúng ta. Nếu chúng ta chỉ thực hành sự quy y, chỉ giong ruổi theo Tam Bảo bên ngoài, mà quên lý quy y, nghĩa là quên Tam Bảo bên trong chúng ta, thì chúng ta chưa thực hành đúng nghĩa Tam quy. Thật thế, bên trong chúng ta cũng có đủ Tam Bảo. Chúng ta cần thực hành lý quy y, hay tam tự quy: tự quy y Phật, tự quy Pháp, tự quy y Tăng.

1.Tự quy y Phật: Tự nghĩa là mình đối với mình. Tự quy y Phật là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của mình. Vâng, mỗi người đều có Phật tánh, và đều có thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Nhưng Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng sáng, Mây mờ có thể che khuất chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng.

Phật tánh của chúng ta dù bị vọng tưởng vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thưòng còn. Vậy thì sao chúng ta lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên ngoài như đứa ‘cùng tử’ có viên ngọc quý, cha mẹ đã giấu sẵn trong chéo áo mà không biết, lại đi xin ăn cùng khắp mọi nơi?

2.Tự quy y Pháp: Tự quy y Pháp là vâng theo Pháp tánh của mình. Trong tâm ta có đủ các pháp Từ bi, Trí tuệ, Bình đẳng, Nhẫn nhục, Tinh tấn...Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng; như thế là tự quy y Pháp.

3.Tự quy y Tăng: Tự quy y Tăng là vâng theo thầy trong tâm mình. Thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp của mình, như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mê muội, không nhận thấy được ông thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, mình nhận thấy được ông thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải quy y thầy của mình trước đã chứ !

Nói tóm lại, mình phải nương tựa, quay về với Phật trong tâm mình là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là các đức tánh Từ bi, Hỷ xả v.v...;với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh tịnh của bản tâm. Như thế là Lý quy y Tam bảo. [36]

Thật sự bấy lâu nay chúng ta học Phật, thường hay quay về nương tựa với bóng dáng của hình sắc tướng trạng, nghĩa là quy y về Sự. Nhưng trên căn bản, bản thể giải thoát là ngay tự tánh ở chính ta, mà phần trình bày lý quy y đã cho ta thấy rõ. Quy y Phật Pháp Tăng còn nghĩa là quay về tự tánh Giác, tự tánh Chánh, tự tánh Tịnh.

Chánh Giác Tịnh là đối trị với sự mê muội, tà kiến, và ô nhiễm - điều đó gạn lọc bản thể của ta trở thành sáng suốt để không kẹt vào những hình thức mà tưởng là cứu cánh của con đường. Chúng ta khi đã nương về bằng Sự quy y, để thiết lập cho mình một nơi đứng vững vàng, rồi quay về tự tánh mà đi, đó là pháp học chắc chắn giải thoát an lạc. Không nhận hiểu điều này người học Phật thường rơi vào Sự quy y, rồi sanh tâm phân biệt với người chưa quy y hay với người vừa mới quy y. Cũng như phán đoán bình phẩm so sánh hàng Tăng già, hoặc nhìn thầy bổn sư thọ giới cho mình khác hơn vị thầy mới quen biết.

Cần hiểu được lý tánh, để thấy thầy bổn sư của ta cũng chính là ta, vì ta phải tự quay về với chính mình, hoặc do Sự mà nói thì Thầy truyền giới ta, dạy đạo ta, đặt pháp danh cho ta chỉ là đại diện hình ảnh mang giáo pháp tưới vào tâm ta, và nếu thật có bổn sư thì Đấng Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật mới là thật Bổn sư. Nhưng rồi Ngài cũng chẳng làm im mà răn nhắc chúng ta hãy lấy giáo pháp làm thầy và làm nơi nương tựa.

26. Bám víu

Trong dòng sống duyên khởi, con người đã liên đới ràng buộc với nhau để tồn tại, để thanh toán giải quyết, để thực thi nguyện ước hiện tại cũng như khơi nguồn từ quá khứ hướng đến tương lai. Ước nguyện và tâm nguyện như thế kết nối càng lúc càng dài ra, dài đến mức phải hứa hẹn không bao giờ buông bỏ! Thế là mặc nhiên ta quên mất chính mình, để biến mình thành sợi dây tự nó cột vào nó, mà đáng lý ra ta phải đứng ngoài sợi dây đó. Đứng ngoài nó, không có nghĩa tách ra ngoài sự sống, điều này không thể làm được, nhưng ta có thể làm được là sống mà không bám víu vào để bị nó cột. Ít ra chúng ta cũng đang tập tành từng bước đi ra khỏi nó, vì chúng ta đang học Phật đấy mà! Thử nhìn cái gì mà chúng ta phải bám víu! Có thể nói, những gì ta đủ năng lực đoạt được thì ta bám víu vào! Với vật chất ta đã có ý niệm làm chủ riêng mình ngay từ khi còn nhỏ, đến lớn lên đạt được khá tài sản, ta bây giờ tìm cách làm chủ tước vị; danh vọng; những thứ vô hình nhưng cường độ tác động rất lớn. Sự bám víu như vậy không phải chỉ có ở một số người mà hầu như tất cả chúng ta, từ nghèo hèn, sang trọng cho đến kẻ gọi là không bon chen, hay an phận cũng đều vướng cả. Chỉ vì mức độ bám víu thể hiện tương ứng với họ mà người không nằm trong hoàn cảnh đó sẽ khó thấy. Nhưng điều đó sẽ là tự nhiên, vì bản chất của một con người sanh ra trong thế giới dục ái này. Tuy nhiên, là người đang bước vào làm quen con đường giải thoát, thì vấn đề cũng đáng cho ta suy luận. Lúc còn nhỏ ta bám vào cha mẹ để được nuông chiều, lớn lên một tí vẫn còn bám vào cha mẹ, anh chị để được ăn học thành người. Rời khỏi nhà trường ta bám vào xã hội để được sống còn - xây dựng gia đình cho bản thân, ta bây giờ nương nhau với người phối ngẫu, cũng có thể nói bám vào yêu thương để đủ nghị lực bám vào xã hội sống còn. Già đi ta nhờ vào con cái - cũng chẳng ngại gì mà không nói, ta cũng bám vào con cái mà sống, ít ra là tình thương! Tất cả tất cả là sự bám vào để mà sống, nhưng nếu người biết san sẻ sự bám vào của mình, để tạo luật bù trừ tương phản thì cũng còn đẹp; có nghĩa ta trả lại những thành quả gì mà ta bám víu đó cho gia đình và xã hội; chỉ sợ ta suốt đời dựa vào đối tượng để mà bám vào. Theo luật nhân quả thì dễ thông cảm hơn, và những người tự nhiên được hưỡng điều gì đó, cũng là nghiệp nhân tốt đẹp mà họ đã tạo ở đời trước, tuy vậy nhân lành cũng có giới hạn nào thôi, nếu ta không chuẩn bị cho quả lành về sau.

Cái nhìn của người học Phật thì sự bám víu nào cũng là đáng ngại, cả đến bám vào con đường học Phật! Nói ra điều này có vẻ hơi quá, nếu không bám vào đó lấy gì để mà học? Phật dạy chúng ta hãy nên xem giáo pháp của Ngài như là ngọn đuốc soi đường trong tối, như chiếc thuyền chở tạm qua sông, như ngón tay chỉ hướng mặt trăng và như tất cả phương tiện đưa người đến giải thoát. Lời dạy này, người học Phật nào cũng đã nghe, nhưng việc lại hóa thành bám víu, và đã bám víu tức bị kẹt cứng vào đó, để chuyển từ việc học giải thoát lại đi ngược với giải thoát là trói buộc.

Thận trọng việc bám víu, giúp chúng ta hành xử bất cứ điều gì cũng chỉ là nhân duyên và phương tiện, nhất là sự việc không mang đến cho ta niềm an lạc của chánh pháp, thì ta càng xem nhẹ chúng đi. Thử nghĩ khi đã hiểu Phật pháp là con đường đưa ta đến an lạc, không một con đường nào có thể so sánh được, mà khi đã hiểu rồi ta còn không bám víu vào, huống gì các việc khác ư! Thành thật mà nói, dù ta hiện đang cố gắng tập không bám víu, nhưng có dễ không? Xin thưa quá khó, bởi ta đã bám víu từ vô thỉ kiếp đến nay, đột xuất bây giờ bảo ta buông bỏ có dễ chăng? Cho dù ta có thể tập không còn bám vào những vật chất hào nhoáng bên ngoài, nhưng đó là thân không bám, chứ tâm thì mâu thuẫn dằn co bám víu đủ chuyện.

Chấp vào sự việc thương ghét gì đó cũng cùng nghĩa với bám víu thôi. Trong Tạng Thư Sống Chết, tác giả Sogyal Rinpoche có trình bày ý này như sau: ...-Càng ngày tôi càng nhận rõ rằng chính ý tưởng và khái niệm đã ngăn cách không để cho chúng ta luôn an trú trong tuyệt đối. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao thầy tôi thường dạy:Hãy cố gắng đừng tạo ra quá nhiều hy vọng hay lo sợ. Vì chúng chỉ tổ gây thêm sự bám víu trong tâm'.

Quả thật là vậy, đời sống thật an lạc hạnh phúc cho những con người sống tự tại không bị lôi kéo do trần duyên ngoại cảnh. Ngày mới làm quen với đ��o giải thoát, trong chúng ta ai cũng lý tưởng cho mình sẽ sống đời giác ngộ bằng cái nhìn vô chấp; nào đâu chỉ được vài năm, tư tưởng tâm tư, kết chặt đủ pháp sai biệt. Chấp sai biệt về tục đế: ta nhìn đời có người tu, có người không, có người thiện, có người ác, có những việc đáng khinh, có việc đáng khen và hình ảnh thế sự đó ta cho là việc thường. Sai biệt về Chân đế: ta chỉ thấy duy có Phật thừa là cái nhìn nhất quán ngoài ra phải buông bỏ tất cả vì là phương tiện; nào ngờ sự thấy đó cũng là chấp chặt dù đó là Chân đế. [37]

Nhưng tất cả sự sai biệt chấp nê đó lại quay ngược vào ta, mà ta chẳng thấy nổi, lại còn cho mình là đúng, và dù là đúng đi nữa thì cái Ngã, Pháp trong người của ta còn quá dầy nên mới nhận xét phân biệt như vậy; thế là phí công phí sức tu hành; đeo mang mãi trên người lớp vỏ dầy đặc của vô minh sinh tử.

27. Phiền não Tham, Sân, Si

Có ai trong đời này không có phiền não không? Xin thưa có, nhưng gặp hay biết vị đó thì khó có. Bởi vị đó phải là Thánh, mà đúng Thánh thì không vỗ ngực xưng tên thành ra ta không biết là vậy. Nhưng do đâu các vị đó thành Thánh? Xin thưa - căn cứ vào lời Phật dạy, ba nghiệp thân khẩu ý được thanh tịnh, tức không còn phiền não tham, sân, si vị đó chứng quả thành Thánh. Vậy cũng có nghĩa nhờ phiền não mà vị đó mới thành Thánh, cho nên chúng ta hay nghe Phiền não tức Bồ Đề (giác ngộ) đó mà! Nhìn cụ thể thì nhờ chúng ta tạo ra phiền não, mà các vị đó mới thành Thánh, và nếu chúng ta thực hành chuyển được cái nhìn như các Ngài đối với người khác, chúng ta cũng thành Thánh, đừng nói gì thành Thánh còn có thể thành Phật nữa. Thế thì đối tượng của tâm Bồ Đề là phiền não, và chúng ta không thể tìm được Bồ Đề nếu không biết cái gì thành được Bồ Đề.

Hỏi lại lần nữa, có ai trong chúng ta chưa bao giờ phiền não!? Hỏi tức đã tự trã lời, nhưng thôi khỏi trả lời - sống trong đời ngũ trược ác thế này tránh sao cho được. Phiền não len lỏi khắp mọi nơi, chỗ nào có con người chỗ đó có chúng; chỗ nào sinh hoạt con người càng đông, chỗ đó phiền não càng có thế lực, và chỗ nào con người ít nhộn nhịp thì bọn chúng cũng yếu đi. Nhưng đừng tưởng sống đơn độc một mình thì phiền não vắng mặt, bấy giờ chúng chỉ tạm dừng thôi; cuối cùng mọi suy tư hành động nào có đối tượng là có mặt phiền não. Phiền não là gì? - Là tham, sân, si mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến [38], đó là mười thứ căn bản làm ta khó chịu. Nhưng ở đây nói về cái gốc độc hại, thì chúng là tham, sân, si; chúng lộng hành dễ thấy đến nổi phải phát sợ. Người tu hành sợ chúng đã đành, mà người tự cho là không tu cũng sợ chúng luôn - không sợ sao được, khi chúng có thể phá hết tất cả những công trình kiến trúc hạnh phúc của ta, từ vật chất đến tinh thần. Rất dễ để tưởng tượng một con người bị tham quá độ, người đó tức thì không còn là người đó nữa, nghĩa là trước đó, người đó không thể nào hành động kh�� dại như vậy, bây giờ đã đổi khác. Nói về Sân thì thế nào? Cũng y như anh Tham không khác, một khi sân hận cùng tột lên rồi, cũng đánh mất mình đi; cái gì cuộc đời này là ghê gớm nhất, chết là cùng; người sân cao độ họ đi ngay đến cái đó, để phản ứng tức thì. Còn Si là anh độc thứ ba này thì sao? Cũng thật khủng khiếp và không chừng còn nguy hiểm hơn, vì chính ảnh là đầu mối dẫn đến hai anh kia. Nghĩ lại xem, lúc ta rơi vào tâm trạng tham lam quá độ, thì bấy giờ anh ngu Si đã chiếm đầy trong đầu ta, khiến ta không còn chứa một hạt nhân trí huệ nào cả! Ta bị chìm đắm dâng hiến tất cả, cho Tham lẫn Sân hành động. Nhưng cũng có thể nói tham là anh khởi đầu cho si mê, sân hận, vì cũng không phải hiếm những người đã từng học Phật mà nào dễ bỏ được sân, si. Giáo lý giải thoát không cưỡng nổi cái tham vô hình đó sao?

Trước khi tìm hiểu thêm, chúng ta phải công nhận dù đã hiểu giáo lý Phật Đà nhận rõ nghiệp báo nhân quả vậy, mà ta vẫn bị tham sai khiến đến nỗi không cưỡng lại được còn trở nên vô minh (si), sân giận. Nếu cho rằng không phải cái sân, si kia là do tham, vậy là do cái gì? Sân si xảy ra trong nhiều hoàn cảnh, và mức độ khác nhau do đó vọng tưởng tham muốn cũng tùy vào. Tuy vậy chúng ta thấy rõ hơn về cái tham ngã pháp, tham lợi cho chính con người chúng ta, ở bình diện trên pháp chấp hữu vi, nên đối với chính ta, khó mà chấp nhận mình còn tham khi mình đang là người học Pháp giải thoát. Nếu ngoài hai cái tham ngã pháp đó, thì còn có gì để mà tham, phải hiểu nghĩa chữ pháp này rất rộng, nó bao gồm hết tất cả đối tượng hình ảnh ý niệm của chúng sanh. Khai triển về tham pháp không thôi, chúng ta đã kẹt quá nhiều, lại nói thêm ngã nữa thì sao! Đã không thể chẳng vô ngã mà hóa ra đại ngã rồi! Vậy thì nghi vấn giáo lý giải thoát thế nào? Tất nhiên giáo lý giải thoát là con đường duy nhất để diệt tham, nếu nghi ngờ sự học Phật, ta lại rơi vào sự si mê đọa lạc hơn. Pháp Phật dạy muôn đời là vậy chẳng sai khác, chỉ do chúng ta thực hành sai mà thôi, và sự hiểu biết học Phật của ta vì chưa đạt được cái thật của trí huệ nên vẫn còn bị vô minh, từ đó không cưỡng lại được tham muốn, đơn giản là vậy. Do thế mà trí huệ là hàng đầu cho việc hành đạo, và người có từ bi mà không trí huệ, nhà Phật cho là người ngu tốt bụng, chẳng thể thành cái gì được.

Người có được trí huệ chánh tri, chánh kiến sẽ nhìn phiền não bằng thực tại của các pháp hữu vi, tức nó hẳn nhiên là vô thường, vô ngã, khổ, không, bất tịnh. Nhìn như thế người đó không thấy có gì là thật, là thường vì nó là không, là vô thường, vô ngã. Người đó chẳng thấy cuộc đời có chi là hạnh phúc, và thanh tịnh vì nó là khổ là bất tịnh. Rồi người đó cũng chẳng thấy, cái gì là bất tịnh là đau khổ, vì nó vốn là Không. Nhưng thấy để mà hướng lên, chứ không thấy trong tiêu cực hành động, vì đời vốn khổ, không thể tạo thêm khổ, vì đời vốn vô thường, không thể vô minh tham đắm, và vì quan trọng hơn hết, cả người thấy đó vốn vô ngã nên người đó không chấp ngã, chấp pháp mà sống hạnh phúc theo lời Phật dạy. Vậy ra người đó đã tìm được Bồ Đề từ ngay trong cuộc đời đầy phiền não này. Thế là Phiền não tức Bồ Đề vậy.

28. Cao siêu của sự cung kính lễ lạy

Vào Phật đạo bằng tâm cầu giải thoát, không gì hơn sự cung kính lễ lạy, sự lễ lạy kính thành ươm lên nét đẹp của một con người chân thiện. Sự lễ lạy chân thiện, làm sống dậy giáo lý giải thoát của một nhân cách sáng ngời hướng về tánh thể vô ngã vô phân biệt. Càng dâng tâm cung kính càng tô đẹp tư chất của mình, càng khiến mình hòa vào dòng nước thanh lương, chân vị, vô úy (không sợ hãi). Lý sự của hành động cung kính lễ lạy thật quá cao siêu, và công đức không thể lường được. Ngày nay những người học Phật chúng ta hình như đã xem nhẹ việc này, nhất là khi kiến thức Phật học được tô bồi khá cao. Tiếc thay kiến thức đó chẳng là cứu cánh đi vào giải thoát, có chăng chỉ giúp ta hiểu được giáo pháp bên ngoài, mà bên ngoài đó là cái vỏ bản ngã to lớn ngăn chặn cái tâm bên trong; nhưng cái tâm bên trong cũng chẳng phải là cứu cánh giải thoát, phải đạp phá cái tâm đó luôn vì nó cũng là cái để biện hộ cho cái ngã vi tế.

Phải bỏ, bỏ tất cả, bỏ luôn cái bỏ tất cả mới hòa vào được an lạc giải thoát. Kiến thức Phật học là điều quan trọng đó, thật phải chấp nhận cho bước đầu, nhưng bước giữa bước cuối nên cẩn thận, không thôi sẽ là cái kẹt, tiêu phá mất đi bước đầu của chúng ta.

Lẽ nên vào Phật đạo ban đầu thế nào, đến bước cuối cuộc đời phải như thế đó hoặc phải hơn là khác. Người vào đạo giải thoát nào, có được kiến thức Phật học cao mà chí tâm cung kính lễ lạy, người đó gặt hái phước đức càng cao thêm. Tất nhiên là vậy, vì như trên đã nói, rất dễ bị kiến thức bảo đừng: đừng hình thức nhiều nữa, hãy lạy bên trong, hãy phá chấp hãy đạp tất cả những chướng ngại bên ngoài, nên quay về mình vì tất cả chỉ là, chỉ là phương tiện khơi dậy Phật tại tâm mà thôi! Có lẽ chúng ta ít nhiều trong giai đoạn tu học đã bị rơi vào kiến thủ chấp này.

Đạo giải thoát là đạo sống, thể hiện ra bên ngoài qua cách sống, cách đối xử - và lễ lạy cung kính là căn gốc nền tảng nói lên bên trong đã thuần thục. Chấp tay xá chào là sự kính nhường lễ lạy, mở miệng kính bạch kính thưa là sự chân thành lễ kính, hình ảnh như thế chẳng những tác động vào tâm người mà chính mình cũng dội lại sự an bình hòa ái. Người đứng ngoài cửa đạo giải thoát, còn có thể xử sự cung kính tay bắt mặt mừng, huống gì người học đạo giải thoát không vượt siêu hơn sao! Nói đúng ra, sự cung kính lễ lạy, nào có phân biệt người tu hay kẻ không tu, chỉ có khác là người tu hướng đến sự lễ lạy để được giải thoát. Sự lễ lạy hóa thành hình thức khi thân lễ mà tâm chẳng lễ, nghĩa là chẳng có cung kính nên phóng tâm đâu đâu.

Cao hơn nữa, nếu ta không thể lễ như ?năng lễ sở lễ tánh không tịch? là không còn phân biệt người lễ hay đối tượng được lễ, thì ta phải nhất định xem ảnh tượng đó phải là thật, đây giúp ta nhiếp vào sự kính mộ hướng về. Tất nhiên chúng ta đã hiểu, đức Phật không phải thần linh ban ơn giáng họa, cho nên sự lễ lạy phải tự tại vô úy, nghĩa là không sợ gì cả, mà chỉ sợ ma lực của vô minh đánh mất bản thể giác ngộ của ta thôi. Ma lực vô minh đó cũng từ trong ta, chớ chẳng phải bên ngoài, thế nên lễ lạy để hướng về tự tánh giác ngộ, NHƯNG không thể tìm được tự tánh đó nếu không hướng về hình ảnh tuyệt vời giải thoát của Phật Đà. Do vậy lễ lạy, chỉ là chân thành biểu lộ niềm tri ân sâu kín nhất đối với bậc Đạo sư đã chỉ bày giáo pháp giải thoát. Thế là ngay lúc lễ lạy ta tức khắc vừa tìm được lại mình, là tự tánh Giác, tự tánh Chánh, tự tánh Tịnh mà còn dâng lên được sự cúng dường tri ân đức Phật. Nếu nói phước báo sẽ thế nào? Câu trả lời sẽ là vô lượng phước báo không thể tưởng được. Phước báo vô lượng là ta sẽ thành Phật trong tương lai, bởi ta đã tìm được tự tánh không tịch của mình. Trong kinh ?Đại Thừa Công Đức Tạo Tượng Phật?, Phật có kể công đức tạo tượng, nói về Ông Kiều Phạm Ba Đề như sau: ?®g Kiều Phạm Ba Đề xưa là thân trâu, nhơn tìm cỏ nước đi quanh tịnh xá, ăn cỏ trong những bụi tre, do thấy tôn dung của Phật, phát tâm vui mừng, nhờ phước đó mà nay được giải thoát?

Ngay loài vật, chỉ thấy thân Phật, tỏ sự vui mừng mà được phước báo giải thoát, thì chúng ta là loài hiếm quý, tức loài người lại còn được quy y, nay thành kính chí tâm lễ lạy lại không được giải thoát sao! Điều này phải thật tin như vậy.

Nhưng thực tế của lễ lạy còn tạo cho ta sự an tâm thanh thản, ta có thể nhẹ nhàng dẹp đi tánh tự kiêu ngã mạn, tánh bảo thủ tự tôn, tánh nhìn người bằng con mắt dò xét khinh thị...Nếu không được vậy, thì làm sao ta có thể nào mang tâm niệm bất kính đó trong khi phủ phục kính lễ dưới chân tượng Đấng Thế Tôn! Ta phải tàm quý lắm! Đấng Điều Ngự chắc chắn soi rõ tâm ta như vậy, và Ngài sẽ trải tâm Ngài vào tâm ta, bấy giờ bao nhiêu tâm xấu hèn đó trở nên rơi rụng, ta bỗng thấy mình lắng tĩnh thật sâu vào bên trong và hòa thành tâm từ bi vô ngã. Ngay đây có một số người cảm nhận được niềm chân cảm vô biên của tự tâm mà xúc động đến rơi lệ. Có lẽ họ nghĩ Phật từ bi quá! Phật cao siêu quá! Và Phật, Ngài đã bình thường quá đến nổi tội lỗi vô minh như con mà Ngài vẫn hòa vào một điệu...

Hiện thời chúng ta hãy tự nghĩ, xem mình đã thực hành đúng nghĩa lễ lạy chưa! Riêng vấn đề lễ lạy vái chào các vị tôn đức thì thế nào? Tùy theo chức phẩm đạo vị các Ngài mà đảnh lễ, và thế nào chăng nữa ta cũng nên cung kính đảnh lễ là hơn, vì phước báo lợi ích đó tự dội ngược về ta chẳng mất đâu cả. Trường hợp so sánh lễ lạy này cũng đáng lưu ý, đôi khi ta chỉ cung kính lễ lạy ảnh tượng Phật, nhưng đối với các bậc tôn túc có khi ta không đảnh lễ lại còn có tâm niệm thất kính. Chỉ nghĩ có Phật mới đáng lễ lạy! Ý tưởng này đã tự làm ta rơi ngay vào tánh ngã mạn; ta đã quên rằng các vị tôn túc trưởng lão là hình ảnh truyền thừa sanh ra hàng tăng trẻ. Và nếu ta cung kính đảnh lễ, thì hình ảnh đó sẽ là những hình ảnh đẹp tiếp nối mãi, duy trì mãi cho những người đi sau. Truyền thống Phật giáo ở Nhật, họ hành lễ hướng về chư Tổ còn lớn hơn là Phật, vì họ quan niệm không có các Tổ đem đạo Phật đến cho họ, thì làm sao họ hiểu được Phật pháp! Thế đó, nếu vì lý do gì ta không thể đảnh lễ được các vị tôn túc trưởng lão nào đó, thì thôi chớ không nên thất kính. Trường hợp nữa, đôi khi ta chỉ quá kính lễ một vài bậc tôn túc, thể hiện qua việc đảnh lễ cúng dường, nhưng lại xem nhẹ phần lễ Phật; để thành lạy Phật qua loa cho có, chẳng bằng vui mừng hơn, lễ lạy các vị Tôn túc mình kính trọng. Điều này lại phải coi chừng ta mất hết công đức, vì ta quên rằng các vị tôn túc mà ta kính trọng đó, cũng phải thành kính đảnh lễ ảnh tượng kia! Lại không chừng các Ngài còn thành kính đảnh lễ hơn cả ta nữa. Ấn Quang đại sư, bậc cao Tăng chứng đạo ở Trung Hoa thường dạy người học Phật chớ nên xem thường sự kính lễ hình tượng Phật, Bồ Tát vì bao nhiêu phần kính lễ thì sanh công đức bấy nhiêu.

Vậy thì lễ lạy rõ ràng đưa ta quay về lại bản tâm thanh tịnh, giác ngộ tự tánh của mình, cho nên xưa nay không biết bao nhiêu các vị cao tăng hành đạo đều nương vào việc cung kính lễ bái này. Và hình ảnh một hành giả trong tư thế nhiếp cả thân tâm hạ người cung kính đầu chấm sát đất trước tôn tượng Thế Tôn, là một hình ảnh tuyệt đẹp, mà cả chính người nhìn xem cũng phát tâm hoan hỷ, hà huống tự mình dâng thân đảnh lễ thì sự an lạc chắc phải là hơn...

29. Lập nguyện đi vào giải thoát

Không nhất thiết phải theo pháp môn nào, trên đường đào luyện thân tâm đi vào giải thoát chúng ta phải phát nguyện. Buổi lễ quy y vào cửa Phật, căn bản đầu tiên là đọc lên lời nguyện: Quy y Phật không quy y Thiên thần quỷ vật. Quy y Pháp không quy y ngoại đạo tà giáo. Quy y Tăng không quy y tổn hữu ác đãng. Lời phát nguyện này trước Tam bảo không thể nào thiếu được, và điều quan trọng là nhắc nhở rằng ta đang may mắn thấy được lộ trình chánh pháp. Tuy thế khi thời gian trôi qua vì đời sống mưu sinh, vì bất cứ công việc gì kể cả công việc gọi là liên quan đến việc thiện lành...ta bấy giờ đã quên mất lời phát nguyện. Rồi như đinh ninh rằng, buổi lễ quy y thọ giới đó, có thể cứu ta trọn đời không lạc vào tà ma ngoại đạo. Điều này có thể chắc chắn không lạc đường tà, nhưng không chắc chắn là ta không bị đọa, vì còn có luật nhân quả. Bằng chứng cho thấy là đoạn đường tiến đến giải thoát của chúng ta càng ngày càng dài ra, chẳng thấy ngắn lại; biết trước như thế mà Học giới giải thoát, Phật đã dạy cần lãnh thọ thêm. Ngày Phật vừa chuyển pháp luân độ nhóm Ông Kiều Trần Như, bấy giờ giới luật chỉ đơn giản trong mấy giới trọng, nhưng rồi sau đó vì tu sĩ càng đông ra, sinh hoạt tăng đoàn càng tiếp cận đời sống bên ngoài nhiều hơn trong việc hoằng hóa, thì giới luật đã phải kịp tăng, để ngăn chặn những phiền não có thể phá hại đến giới thanh tịnh giải thoát. Đây là Phật từ bi để đưa giáo pháp ngày càng tiến theo thời gian, và học giới ấy ai tu được sẽ tự chứng ngộ mà không cần phải có sự hiện hữu của Ngài. Mãi đến nay đã hơn hai ngàn năm trăm năm, bao lớp thế hệ đệ tử xuất gia, tại gia của Ngài vẫn tuân theo học giới là điều tối quan trọng, nhưng rõ ràng để thấy, việc chứng ngộ giải thoát ngày nay càng lúc càng hiếm đi!

Chúng ta thành thực cụ thể thấy rõ như vậy, điều này cũng là luật duyên khởi nhân quả của một chu kỳ sanh diệt. Giáo pháp giải thoát của Đấng Thiên Nhơn Sư hiện hữu ở cõi Ta Bà này cũng không ra ngoài luật sinh diệt; nhưng tự pháp vốn không có sanh có diệt, và sự thanh tịnh, Niết bàn, giải thoát là cách nói tạm để chỉ cho bậc hành giả khi dứt trừ được phiền não nhiễm ô. Hiểu được như vậy, thì không còn bị phiền não (tham sân si) lung lạc sai khiến, bây giờ tâm thức hóa thành an tịnh, êm dịu và sẽ đi vào cảnh sáng suốt không còn kẹt vào sự đối đãi khổ vui, tức không lo nghĩ đến cảnh Niết Bàn, Địa ngục! Sự thực hành đạt được như vậy còn tùy theo đạo lực của mỗi người, nhưng chung cuộc cũng sẽ tới điểm chính là giải thoát.

Lược qua vấn đề tu học căn bản như vậy chúng ta thấy cần nên nhìn lại học giới của mình, nghĩa muốn nói ở đây là điều mà ta đã phát nguyện tu theo, khi bắt đầu đi vào con đường giải thoát. Chúng ta chỉ cần ôn lại lời nguyện trước lúc quy y, hoặc tự lập ra cho mình một lời nguyện phù hợp và tương xứng với điều gì mình có thể làm hướng về mục đích giải thoát. Tất nhiên cầu giải thoát là để cứu giúp mọi người được giải thoát như mình. Khi lời nguyện đã phát được trong người rồi, ta nên nuôi dưỡng ấp ủ nó mãi trên hành trình sống. Các vị Tổ Sư thời xưa và cận đại đều lập nguyện riêng cho mình để tu. Điều này cho thấy, hành trình vào đạo nếu không dứt khoát khẳng định lập nguyện cho mình, hẳn khó làm ngắn lại đoạn đường mà ta mong đi tới.

Lập nguyện thế nào là tùy vào hoàn cảnh mỗi người, nhưng tránh đừng tạo ra lời nguyện bó buộc mình một cách thái quá, ảnh hưởng sinh hoạt sống của mình. Chẳng hạn lời nguyện đơn giản cho người tu Thiền, ta có thể đại ý lập ra như sau: ...con xin thành tâm ghi tạc vào lòng, nguyện rằng con sẽ cố gắng từ đây trở đi mỗi mỗi suy nghĩ hành động, đều được căn nhắc, tư duy quán xét trong chánh niệm. Và khi đi đứng nằm ngồi con đều theo dõi hơi thở nhiếp theo chánh niệm, để mỗi hơi thở con thấy đời là vô thường, pháp là vô ngã; nguyện sống ý thức như vậy xin hồi hướng đến tất cả mọi người đều được giác ngộ như con.

Người tu niệm Phật:..con xin nhất tâm nguyện rằng từ đây trở đi cho đến ngày con bỏ xác thân này, câu niệm Phật sẽ không rời khỏi tâm con, và mỗi khi làm được công đức gì con nguyện không quên, hồi hướng công đức đó đến tất cả chúng sanh trong muôn loài cùng con được sanh về thế giới Phật A Di Đà.

Lời nguyện đại khái như vậy. Nhưng điều quan trọng là luôn luôn đọc lên lời nguyện ấy ít nhất một lần trong ngày, đây có thể huân tập vào tâm thức và sẵn sàng chuẩn bị cho ta đối diện mọi tình huống xảy ra trong đời; nhất là giờ phút chót khi thân xác sắp hư hoại, lâm chung.

Thiết nghĩ việc học Phật bấy lâu của ta không tiến triển, là do ta quên hẳn lời nguyện của mình khi sơ tâm vào đạo. Nếu giữ được và luôn luôn làm mới lời nguyện như thế, có lẽ ta sẽ tìm được an lạc nhiều hơn, cũng như thấy được pháp giải thoát thực tế hơn.

Một ngày trôi qua thật nhanh người học Phật chúng ta đã làm được những gì cho mình? Một vài công phu thiền tọa, tụng kinh, niệm Phật hay vài công việc Phật sự v.v...có đủ để ta bù lại những nghiệp tội mà ta đã tạo trong quá khứ kiếp? Cho đến kiếp này ta cũng đã tạo nhiều nghiệp tội, mà tự mình không thấy, hoặc có thấy biết lại không dám nhìn nhận. Đối với người khác thì sao? Chúng ta lại chẳng thể hiện được là bao tâm yêu thương từ bi của Bồ Tát. Bồ Tát nào phải duy nhất là các Ngài Quán Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Tu Bồ Đề...Bồ Tát là những hạnh nghiệp thiện, mang đến cho người yên vui an lạc, và con đường Bồ Tát như vậy bắt buộc chúng ta phải hành động, nếu như chúng ta muốn thành Phật. Chẳng có vị Phật nào mà trước đó không hành Bồ Tát đạo lại được chứng quả.

Nhìn lại mình đã chưa toàn vẹn, xét lại người khác mình chẳng giúp được họ cái gì; thế có phải chúng ta đã thiếu lời phát nguyện! Vì thiếu phát nguyện học tu, nên còn nhiều lưỡng lự, dè dặt và tự tha thứ cho mình để luôn nhìn mình và người bằng một khoảng cách quá xa. Vậy ra chỉ có lời phát nguyện mới đủ lực cho ta hành đúng con đường giải thoát. Và chỉ có phát nguyện mới trọn được tánh từ bi trí tuệ đi trọn con đường.

30. Cầu cho người, mình được hạnh phúc

Chúng ta đã hiểu, đạo giải thoát là tự tại vượt lên, vượt lên để qua sông mê đến bờ giải thoát. Muốn vượt lên cao, muốn qua bờ giải thoát, pháp Phật dạy ta phải quên mình. Quên mình để nhẹ người đi mà leo lên cao, quên mình để không còn nặng nề hì hụp khi lội qua sông. Hẳn nhiên điều này là tự nhiên, vì không thể nào leo cao hay qua sông được, một khi thân thể quá nặng nề. Chúng ta làm thiện tạo công đức, mà tự cho mình có công đức thì vô tình ta đã so sánh có người không biết tạo thiện, chẳng có công đức. Vậy ra công đức tạo thiện của ta trở thành nguyên nhân khiến cho ta mất đi thanh tịnh. Vì trước đó ta chưa bao giờ nhìn người so sánh thấp cao như vậy, trong khi ý nghĩa của công đức là nhuốm lên trong người sự thanh tịnh. Người mang tâm thanh tịnh làm việc thiện có được công đức, họ không bao giờ móng tâm, nếu có móng tâm thì chỉ thấy hình ảnh đối tượng cho mình tạo công đức là một cơ hội tốt cần ghi nhận. Ghi nhận để tránh tâm phân biệt chấp nê, để vẫn biết có người tạo công đức người không tạo công đức, nhưng hai việc này là tương duyên sanh khởi trong thế giới tương đối nhân duyên. Và con người sống trong thế giới tương đối như vậy, phải có liên hệ tương quan với nhau, do đó có việc làm thiện đây, là nhờ có việc bất thiện xảy ra đâu đó!

Các vị Bồ Tát hành đạo giải thoát đều làm ngược lại chúng ta. Chúng ta sợ khổ ham vui thì Bồ Tát sợ vui thích khổ! Bồ Tát sợ vui là vì vui đó không thật vui, nó sẽ dẫn theo cái khổ ở đoạn chót, nên Bồ Tát không muốn bị nó dẫn dụ thành ra sợ nó! Bồ Tát thích khổ, vì khổ là cơ hội cho Bồ Tát quán chiếu các pháp khổ, nuôi dưỡng tâm từ bi, trí tuệ. Nhưng thật ra Bồ Tát đã lãnh hội các pháp là không thật, nên Bồ Tát tự tại trong vui cũng như khổ. Sở dĩ Bồ Tát phải sợ nhân chúng sanh sợ quả, là vì muốn chúng sanh thấy nguyên lý của nhân quả mà dứt khổ tìm vui. Điều quan trọng hơn, là Bồ Tát không thấy luôn cả mình hành đạo Bồ Tát! Đây là vấn đề then chốt mà chúng ta đã từng thất bại nên phải lẩn quẩn hoài trong nhân quả khổ vui. Các vị Bồ Tát vì không thấy mình làm đạo, vì không cho mình vui khổ nên Bồ Tát vô ngã (không thấy cái Ta), do đó Bồ Tát móng tâm trong vô ngã, hành động trong vô ngã và cuối cùng đạt được quả vị Niết Bàn. Bồ Tát đạt được quả vị vô ngã trong cảnh Niết Bàn, không phải là không còn gì hết, mất hết! Nếu nghĩ như thế, lại hóa ra cho là vô ích để hành đạo Bồ Tát đạt được cái không không! Quả thật cảnh giới giải thoát hoàn toàn là có, nhưng cảnh giới đó quá siêu việt, quá vượt khỏi trí óc phàm phu, nên mượn danh từ Niết Bàn, Chân Như, Viên Giác, Tự tại v.v...vậy thôi. Và vì chỉ mượn, chứ không giải thích được, nên tưởng là không không, rồi móng tâm vọng tưởng thì tự hại cho mình. Hãy nghĩ lại, kinh Phật đã dạy là thế giới có đến vô lượng không thể nghĩ bàn, và mỗi cảnh giới được chia ra tùy vào tâm thức trình độ của mỗi chúng sanh. Thế thì khi tâm không nặng ngã (cái ta, cái tôi) tất nhiên sanh về thế giới yên ổn không bị vọng nghiệp khổ về cái ngã. Và cứ như thế trên bình diện tâm thức vượt cao, thì cảnh giới sẽ chiêu cảm theo tâm thức đó. Nói một cách thực tế cụ thể là ngay cõi Ta Bà chúng ta đang ở cũng đã có nhiều cảnh giới rồi, tức là sự sinh hoạt sống trong tầng lớp xã hội. Thí dụ cho thấy, một số người với kiến thức văn bằng (ví như tâm thức) cao, lối sống của họ (ví cảnh giới) phải khác hơn người sống ở những vùng quê hẻo lánh thiếu thốn nhiều phương tiện; hay người cùng sống nơi thành thị, mà lối sống không được sáng sủa như người trên!

Vậy ra trên đường tu học hễ mang nặng Ngã chừng nào, tức thế giới chiêu cảm sẽ tương ứng vào tâm nhiều chừng đó, để rồi phải có tái sanh hoặc hóa sanh, hoặc thai sanh v.v...

Con đường Bồ Tát dạy ta sống phải hướng đến người, hướng đến người mặc nhiên ta tự xem nhẹ mình đi, xem nhẹ mình là làm cho cái ngã nhỏ dần xuống và cứ tiếp tục cho đến vô ngã.

Nếu không thể giúp được người vì lý do nào đó, thì cách tốt nhất là cầu nguyện cho người. Lời cầu nguyện mà chúng ta còn tiếc rẻ thì còn có gì để biếu tặng cho người! Trên đường học Phật, ta không thể không thực hành tâm nguyện Bồ Tát. Chúng ta không nhớ rằng, mỗi khi đọc kinh xong, là lời hồi hướng: Nguyện đem công đức này, hướng về khắp tất cả, đệ tử và chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo. Lời hồi hướng đó cho tất cả chúng sanh, và đối tượng mà ta hướng đến ở đời này, ngoại trừ chư Phật ra thì ai mà không phải là chúng sanh. Nay chỉ cần nâng lời hồi hướng kia lên bình diện cao hơn, biến thành lời cầu nguyện, tức chúng ta đã hành được con đường Bồ Tát đạo.

Một khi tâm nguyện hướng về người nào đó để cầu nguyện, ta lại có được tâm nhẹ nhàng chấp nhận hay tha thứ những lỗi lầm người đó, hoặc tự thấy lỗi mình rõ hơn. Điều thực tập thiết thực đầu tiên, là cầu nguyện cho một vài đối tượng mà ta cảm thấy thường suy nghĩ về người đó nhiều nhất, qua hai thái độ thương và ghét.

Được một thời gian tạm xem không còn phân biệt thương ghét nhiều nữa, ta chuyển lời cầu nguyện đến nhiều người hơn, cứ như vậy ta chuyển hóa tâm mình vào tâm Bồ Tát. Bây giờ lời hồi hướng sau thời kinh không những có ý nghĩa lại tăng thêm phần công đức.

Lời hồi hướng và cầu nguyện đến mọi người có thể như sau:

Lời cầu nguyện đến người thương, là cầu mong sao họ được an lạc hạnh phúc, được nhiều phúc lạc của thế gian được mọi người thương mến. Và cầu nguyện nhất, là họ sẽ hiểu được Phật pháp, để thấy được tình thương yêu giữa mình và họ chỉ là giả tạm trong pháp sinh diệt vô thường của thế gian, hầu tránh đi sự thương yêu mù quáng trong cuộc luân hồi sinh tử. Cuối cùng cầu nguyện họ, tương lai sẽ sanh về thế giới Phật Đà.

Cầu nguyện đến người ghét, là cầu mong sao họ khỏe mạnh vui tươi, được nhiều phúc lạc thế gian, được mọi người thương mến. Và cầu nguyện tha thiết nhất, sẽ hiểu được Phật pháp để nhận ra thương ghét là pháp sinh diệt vô thường của thế gian, hầu tránh sự thù ghét tạo nên nghiệp báo luân hồi mãi trong sinh tử. Cuối cùng cầu nguyện họ, tương lai sanh về thế giới Phật Đà.

Lời cầu nguyện đến người hiền đức, là cầu mong sao các vị đó sẽ gặp đầy đủ thuận duyên đem đến cho người những ân đức những pháp lành như là pháp giải thoát của Phật, để thế giới được thấm nhuần thiện pháp.

Lời cầu nguyện đến người bất thiện, là cầu mong sao các vị sớm nhận ra Phật pháp là con đường chánh thiện để cảm hóa được tâm, sống lại đời sống an vui lương thiện. Cuối cùng cầu nguyện các vị, nghiệp tội tiêu trừ thiện pháp tăng trưởng, tương lai sanh về thế giới Phật Đà.

Lời cầu nguyện chung cho tất cả mọi người không phân biệt màu da chủng tộc, sớm được nhân duyên nhận ra đạo giải thoát để áp dụng vào đời sống hiện tại, thương yêu nhau như là huynh đệ một nhà, để rồi cùng nhau xây dựng thế giới Ta Bà này hóa thành cảnh Tịnh Độ.

Lời cầu nguyện đến những loài súc sinh không được may mắn làm người. Cầu nguyện cho tất cả loài súc sanh từ loài thật nhỏ đến loài thật lớn, sớm mau trả nghiệp để sanh lại hình tướng xinh đẹp trang nghiêm và sanh nơi đâu đều gặp Phật pháp, cuối cùng sẽ sanh về thế giới Phật Đà.

Tuần tự cầu nguyện cho tất cả như vậy, ta đã thực hành đúng tâm nguyện của Bồ Tát; dù chưa cụ thể bằng hành động nhưng trong tâm ta đã rõ ràng ươm lên hạt giống từ bi. Khi tâm từ bi luôn được ấp ủ trong tâm như vậy, thì hành động tất phải bộc phát bằng mọi cách, và có thể ta sẽ không thấy mình đã và đang làm công việc của Bồ Tát. Đây mới đúng là công đức, vì không thấy mình làm công đức! Như thế rõ ràng cầu nguyện cho người, mình được hạnh phúc.

Trạng thái an nhiên, và con đường thực hành đạt đến.

Chúng ta đã phần nào rõ biết tham dục, luyến ái là vấn đề đưa đến khổ, và muốn dứt khổ tức phải lìa xa sự trói buộc này. Phần Diệt Đế trong pháp Tứ Diệu Đế mang lại cho con người sự an lạc yên vui nhất mà thế gian khó được. Chúng ta từ bấy lâu sống trong động chẳng có thời gian nghĩ suy về sự yên tịnh của pháp hỷ lạc giải thoát, mà các vị tu chứng đã kinh qua. Vì chưa cảm nhận như vậy nên ta chỉ cảm nhận bằng sự hài lòng về cảm tính qua chân lý, chứ không thật thấy được sự chứng thực an lạc qua giác tính, trí lực của mình, nghĩa là chúng ta vẫn xem sự an lạc này khó thể đến với ta. Tuy nhiên thật sự pháp hỷ lạc, là một chứng minh thực tế không xa trong đời sống hiện tại, mà con người đã và đang đối diện. Chúng ta rõ ràng thấy khổ, thì chúng ta cũng thấy nguyên nhân, và cũng ngay nguyên nhân thấy được thế nào để lìa xa hay bám vào khổ đó. Trạng thái an lạc mà Phật d���y, khi một người đạt được do không còn say đắm với dục tình tham ái tạm gọi là Niết Bàn. Định nghĩa Niết Bàn chỉ là tương đối để cố gắng hiểu thế nào, là một con người đã đạt tới tâm cảnh đó, và điều này chỉ thực sự được sáng tỏ rốt ráo một khi sống trong cảnh ấy, cho nên vì chưa sống được cảnh Niết Bàn, ta không thể định nghĩa được. Nhưng ta có thể thấy sự an lạc của một người sống trong cảnh đó, và đoán được phần nào. Nếu gọi danh từ Niết Bàn là sống được an lạc tĩnh thức không còn vọng động thì ta thấy, ta có thể đạt được không mấy khó khăn, việc này là sự thật. Thí dụ, ta không lo lắng những việc chưa đến, không buồn phiền hối hận những chuyện đã qua, và vui vẻ ngay hiện tại, sống được như thế ta đã có Niết Bàn. Sống như vậy thật không phải là dễ, nhưng không phải không thực hành được, chỉ có vấn đề là giữ được tâm trạng này bao lâu!

Thử nghĩ về mức độ hưởng lạc trên những quan hệ khác nhau. Nhìn sự sai lệch ở thế gian này như là, người giàu kẻ nghèo người đẹp kẻ xấu người hiền kẻ dữ, sung sướng, đau khổ, thông minh, ám độn v.v...sự chênh lệch như thế cho thấy luật nhân quả nghiệp báo trong quá khứ. Chúng ta học Phật tất nhiên phải công nhận luật nhân quả là nền tảng làm gốc, và từ nhân quả này có thể suy ra một sự đấu tranh vươn lên của một chúng sanh - Người nào mang thân, sanh vào hoàn cảnh thế nào hiện tại, đã nói lên mức độ vươn lên của họ trong quá khứ. Một cá nhân hôm nay được giàu sang khoẻ mạnh, chắc chắn trong quá khứ cá nhân đó đã tạo nhân nghiệp bố thí, trì giới không sát sanh. Vì giữ giới bất sát được thọ mạng không bệnh tật, và giới bố thí thương người được sung sướng giàu sang. Đó là cảnh lạc thú hiện tại của một người nhờ gieo tạo trong đời trước. Và cũng là cảnh sống sung sướng đối lại cảnh khổ của người nghèo.

Lại biết được những cảnh giới cao hơn, mà kể cả người giàu sang cũng phải ước mơ! Vì người dù xinh đẹp giàu sang vẫn có những mức khổ của họ. Căn bản thì thấy giàu đẹp vật chất thế nào cũng không tránh được cái lo tinh thần. Đức Phật đã dạy, không hạnh phúc nào bằng hạnh phúc của sự an lạc tinh thần. Vậy an lạc đó tạm gọi là Niết Bàn! Thế là lạc thọ của người giàu sang khỏe mạnh vẫn chưa đủ để mong muốn. Thọ lạc cao hơn nữa là cảnh trời, nơi đây lạc thú thật sung sướng, gấp trăm ngàn lần ở cõi Ta Bà. Chúng sanh ở đó hình tướng đã đẹp lại còn ăn uống thanh vị, thơm mát không như chúng ta bằng cách ăn Đoạn thực [39]thô kệch, lại tiêu hóa bất tịnh hơn!

Đến những cảnh trời càng lúc càng vi tế, các vị ở đây đi lại tự tại hưởng vui thọ lạc thù thắng. Thọ dụng ăn uống bây giờ chỉ là Tư thực và Thức thực, họ ăn bằng ý thức và trí thức biến hiện, không phải lệ thuộc vào cảm xúc thô kệch với vật và thân như ta. Tuy vậy những cảnh giới cao như thế vẫn là những vị ngọt gọi là sắc, thanh, hương, vị, xúc, khiến cho năm giác quan sắc, thọ, tưởng, hành, thứctiếp nhận. Dù bậc thiền giả thọ thực bằng Thức thực vi tế qua những cảnh giới Thiền lạc, nhưng rồi Đức Phật nhấn mạnh trong Đại Kinh Khổ Uẩn rằng, ‘...ngay cả lạc thọ vô hại ấy cũng còn có nguy hiểm, huống hồ các lạc thọ khác. Vị ngọt là hỉ lạc do ly dục ở sơ thiền, hỉ lạc do định ở nhị Thiền, lạc ở tam thiền, xả niệm thanh tịnh ở tứ thiền. Đấy là vị ngọt tối thượng của cảm thọ, vì nó vô hại. Nguy hiểm của cảm thọ này là nó cũng vô thường, biến hoại, nên là khổ. Sự xuất ly các cảm thọ là điều phục dục tham đối vơi các cảm thọ, đoạn trừ dục tham. Người nào như thật tuệ tri được vị ngọt, nguy hiểm và xuất ly của các dục, sắc, và thọ, thì mới có khả năng giúp người khác như thật tuệ tri các pháp ấy. [40]

Chính ngay đây, như lời Phật dạy, người nào điều phục dục tham đối với cảm thọ, đoạn trừ dục tham, sáng suốt rõ biết vị ngọt nguy hiểm, xuất ly được các dục sắc, lạc thọ, đây mới đúng là an tịnh rốt ráo, nếu tạm gọi thì đây mới đúng là Niết Bàn. Được như vậy mới an lạc ngay cả hai hoàn cảnh sướng vui, buồn khổ.

Ngày còn Phật tại thế, các ngoại đạo đã thắc mắc rất nhiều về sự tự tại an lạc của các vị Tỳ kheo đệ tử của Phật; họ thấy rằng các vị này sinh hoạt sống thật bình thường - chẳng mong cầu chất chứa gì cả, cũng chẳng tự cho mình là giai cấp đạo sĩ có thể dạy đạo đến các bậc quan quyền, và quan trọng hơn chẳng để ý gì đến hình thức lễ cúng hưởng lộc. Trong khi các đạo khác thời bấy giờ, đều hướng ra ngoài đặt nặng bằng hình thức.

Do thế mà quả vị Dự Lưu (Tu Đà Hoàn) vừa bước vào dòng Thánh, hành giả đã bỏ ngay hình thức, cả đến không còn phân biệt chấp người và ta.

Chúng ta có thể hiểu Không tham không sân không si, là luôn sống trong tỉnh thức của người giác ngộ, xem các pháp là vô ngã, tâm là vô thường. Sống cảm nhận được lúc này là mở thấy được phần nào cảnh giới an định tạm gọi là hé mở khung cửa hướng tới Niết Bàn.

Thực tế cuộc sống có thể tìm được sự an lạc này, vì trong một khắc thời gian nào đó, có lẽ mọi người chúng ta đã cảm được sự bình an của tâm khi rơi vào sự không tham cầu, không thương ghét. Chính thời gian đây, là lúc ta thấy được thực tại của tâm lắng đọng trong trạng thái tỉnh thức và an lạc nhất. Nhưng rất tiếc trạng thái đó không thể kéo dài lâu được. Tuy nhiên rơi vào trạng thái đó, phải bằng sự hướng về lòng từ bi trí tuệ của pháp Phật mới gọi là hé mở Niết Bàn, chứ không phải bất chợt mệt mỏi vì cuộc đời bon chen mà buồn chán, không muốn tranh đấu gì nữa, đây không phải nghĩa đúng với trạng thái đó. Thế thì ngay tại đây, chúng ta vẫn có thể tìm được cảnh sống an lạc tỉnh thức khi nhận ra việc thoát ly tham ái, si mê. Và như thế phải tự thân thực hành mới cảm nhận, chứ không thể nghe người quảng cáo bày vẽ mà cảm nhận được.

Câu chuyện của những con ếch. Một hôm ếch mẹ trên bờ trở về, các con nòng nọc quay quanh, hỏi mẹ đi đâu về. Mẹ ếch trả lời, từ trên bờ đồng cỏ gần đó, các con nghe không hiểu bờ là gì, cỏ là chi! Ếch mẹ nói, trên đó sinh vật sống không ở trong nước, họ thở bằng không khí đi lại tự tại và cảnh vật sáng tỏ, cỏ cây bông hoa rất là tươi đẹp. Mẹ càng nói các con càng hỏi, cuối cùng chúng nó chẳng thể nào tin, vì chưa bao giờ nghe qua nói chi là thấy. Không thể giải thích thêm, Ếch mẹ nói: thôi đợi khi nào các con lớn lên, (thành ếch) nhảy được lên bờ sẽ tin lời ta.

Hiện chúng ta đã nghe nhiều về cảnh Niết Bàn, và khá hơn các con nòng nọc là chúng ta vẫn tin, dù tin mà khó thực hiện!

Không thực hiện được, hay khó thực hiện là do chấp chặt vào định kiến cố hữu của mình, hoặc là sống buông thả, hoặc nhìn đời bằng tang thương khổ lụy, mong diệt khổ cảnh bằng cách quay về sống khổ chính mình, như là hành xác để mong cầu sung sướng mai sau. Hai nhân nghiệp này theo luật nhân quả, tương lai sẽ trở lại thọ nhận lực nghiệp quá khứ mà thôi. Nghiệp tự tạo khổ sẽ hưởng quả khổ, dù mình làm khổ chính mình, vì thế theo đạo giải thoát, quyên sinh, tự tử, tự mình còn mang thêm nghiệp tội sát sanh. Nghiệp hưởng lạc buông thả, khi trở lại nếu chẳng còn phước báo sẽ phải đau khổ thiếu thốn. Và đau khổ thiếu thốn chưa đủ, lại còn đau khổ khác do buông thả gây nên. Phật dạy con đường thực hành đạt đến an lạc, là con đường quán chiếu hai tác nghiệp trên, để lìa bỏ như là trạng thái trung dung an lạc của sự không đam mê vào vị ngọt thường tình ở thế gian, cho đến vị ngọt tối thượng vô hại của sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Vì tất cả đó cũng đều vô thường biến hoại, chỉ cầu được Niết Bàn lạc là vị ngọt giải thoát. Và con đường đạt đến căn bản bước đầu, Phật dạy hành theo Bát Chánh Đạo như đã đề cập ở phần ‘Nguyện ghi nhớ bốn điều diệu đế’.

31. Trạng thái an nhiên, và con đường thực hành đạt đến.

Chúng ta đã phần nào rõ biết tham dục, luyến ái là vấn đề đưa đến khổ, và muốn dứt khổ tức phải lìa xa sự trói buộc này. Phần Diệt Đế trong pháp Tứ Diệu Đế mang lại cho con người sự an lạc yên vui nhất mà thế gian khó được. Chúng ta từ bấy lâu sống trong động chẳng có thời gian nghĩ suy về sự yên tịnh của pháp hỷ lạc giải thoát, mà các vị tu chứng đã kinh qua. Vì chưa cảm nhận như vậy nên ta chỉ cảm nhận bằng sự hài lòng về cảm tính qua chân lý, chứ không thật thấy được sự chứng thực an lạc qua giác tính, trí lực của mình, nghĩa là chúng ta vẫn xem sự an lạc này khó thể đến với ta. Tuy nhiên thật sự pháp hỷ lạc, là một chứng minh thực tế không xa trong đời sống hiện tại, mà con người đã và đang đ��i diện. Chúng ta rõ ràng thấy khổ, thì chúng ta cũng thấy nguyên nhân, và cũng ngay nguyên nhân thấy được thế nào để lìa xa hay bám vào khổ đó. Trạng thái an lạc mà Phật dạy, khi một người đạt được do không còn say đắm với dục tình tham ái tạm gọi là Niết Bàn. Định nghĩa Niết Bàn chỉ là tương đối để cố gắng hiểu thế nào, là một con người đã đạt tới tâm cảnh đó, và điều này chỉ thực sự được sáng tỏ rốt ráo một khi sống trong cảnh ấy, cho nên vì chưa sống được cảnh Niết Bàn, ta không thể định nghĩa được. Nhưng ta có thể thấy sự an lạc của một người sống trong cảnh đó, và đoán được phần nào. Nếu gọi danh từ Niết Bàn là sống được an lạc tĩnh thức không còn vọng động thì ta thấy, ta có thể đạt được không mấy khó khăn, việc này là sự thật. Thí dụ, ta không lo lắng những việc chưa đến, không buồn phiền hối hận những chuyện đã qua, và vui vẻ ngay hiện tại, sống được như thế ta đã có Niết Bàn. Sống như vậy thật không phải là dễ, nhưng không phải không thực hành được, chỉ có vấn đề là giữ được tâm trạng này bao lâu!

Thử nghĩ về mức độ hưởng lạc trên những quan hệ khác nhau. Nhìn sự sai lệch ở thế gian này như là, người giàu kẻ nghèo người đẹp kẻ xấu người hiền kẻ dữ, sung sướng, đau khổ, thông minh, ám độn v.v...sự chênh lệch như thế cho thấy luật nhân quả nghiệp báo trong quá khứ. Chúng ta học Phật tất nhiên phải công nhận luật nhân quả là nền tảng làm gốc, và từ nhân quả này có thể suy ra một sự đấu tranh vươn lên của một chúng sanh - Người nào mang thân, sanh vào hoàn cảnh thế nào hiện tại, đã nói lên mức độ vươn lên của họ trong quá khứ. Một cá nhân hôm nay được giàu sang khoẻ mạnh, chắc chắn trong quá khứ cá nhân đó đã tạo nhân nghiệp bố thí, trì giới không sát sanh. Vì giữ giới bất sát được thọ mạng không bệnh tật, và giới bố thí thương người được sung sướng giàu sang. Đó là cảnh lạc thú hiện tại của một người nhờ gieo tạo trong đời trước. Và cũng là cảnh sống sung sướng đối lại cảnh khổ của người nghèo.

Lại biết được những cảnh giới cao hơn, mà kể cả người giàu sang cũng phải ước mơ! Vì người dù xinh đẹp giàu sang vẫn có những mức khổ của họ. Căn bản thì thấy giàu đẹp vật chất thế nào cũng không tránh được cái lo tinh thần. Đức Phật đã dạy, không hạnh phúc nào bằng hạnh phúc của sự an lạc tinh thần. Vậy an lạc đó tạm gọi là Niết Bàn! Thế là lạc thọ của người giàu sang khỏe mạnh vẫn chưa đủ để mong muốn. Thọ lạc cao hơn nữa là cảnh trời, nơi đây lạc thú thật sung sướng, gấp trăm ngàn lần ở cõi Ta Bà. Chúng sanh ở đó hình tướng đã đẹp lại còn ăn uống thanh vị, thơm mát không như chúng ta bằng cách ăn Đoạn thực thô kệch, lại tiêu hóa bất tịnh hơn!

Đến những cảnh trời càng lúc càng vi tế, các vị ở đây đi lại tự tại hưởng vui thọ lạc thù thắng. Thọ dụng ăn uống bây giờ chỉ là Tư thực và Thức thực, họ ăn bằng ý thức và trí thức biến hiện, không phải lệ thuộc vào cảm xúc thô kệch với vật và thân như ta. Tuy vậy những cảnh giới cao như thế vẫn là những vị ngọt gọi là sắc, thanh, hương, vị, xúc, khiến cho năm giác quan sắc, thọ, tưởng, hành, thứctiếp nhận. Dù bậc thiền giả thọ thực bằng Thức thực vi tế qua những cảnh giới Thiền lạc, nhưng rồi Đức Phật nhấn mạnh trong Đại Kinh Khổ Uẩn rằng, ?...ngay cả lạc thọ vô hại ấy cũng còn có nguy hiểm, huống hồ các lạc thọ khác. Vị ngọt là hỉ lạc do ly dục ở sơ thiền, hỉ lạc do định ở nhị Thiền, lạc ở tam thiền, xả niệm thanh tịnh ở tứ thiền. Đấy l�� vị ngọt tối thượng của cảm thọ, vì nó vô hại. Nguy hiểm của cảm thọ này là nó cũng vô thường, biến hoại, nên là khổ. Sự xuất ly các cảm thọ là điều phục dục tham đối vơi các cảm thọ, đoạn trừ dục tham. Người nào như thật tuệ tri được vị ngọt, nguy hiểm và xuất ly của các dục, sắc, và thọ, thì mới có khả năng giúp người khác như thật tuệ tri các pháp ấy.

Chính ngay đây, như lời Phật dạy, người nào điều phục dục tham đối với cảm thọ, đoạn trừ dục tham, sáng suốt rõ biết vị ngọt nguy hiểm, xuất ly được các dục sắc, lạc thọ, đây mới đúng là an tịnh rốt ráo, nếu tạm gọi thì đây mới đúng là Niết Bàn. Được như vậy mới an lạc ngay cả hai hoàn cảnh sướng vui, buồn khổ.

Ngày còn Phật tại thế, các ngoại đạo đã thắc mắc rất nhiều về sự tự tại an lạc của các vị Tỳ kheo đệ tử của Phật; họ thấy rằng các vị này sinh hoạt sống thật bình thường - chẳng mong cầu chất chứa gì cả, cũng chẳng tự cho mình là giai cấp đạo sĩ có thể dạy đạo đến các bậc quan quyền, và quan trọng hơn chẳng để ý gì đến hình thức lễ cúng hưởng lộc. Trong khi các đạo khác thời bấy giờ, đều hướng ra ngoài đặt nặng bằng hình thức.

Do thế mà quả vị Dự Lưu (Tu Đà Hoàn) vừa bước vào dòng Thánh, hành giả đã bỏ ngay hình thức, cả đến không còn phân biệt chấp người và ta.

Chúng ta có thể hiểu Không tham không sân không si, là luôn sống trong tỉnh th���c của người giác ngộ, xem các pháp là vô ngã, tâm là vô thường. Sống cảm nhận được lúc này là mở thấy được phần nào cảnh giới an định tạm gọi là hé mở khung cửa hướng tới Niết Bàn.

Thực tế cuộc sống có thể tìm được sự an lạc này, vì trong một khắc thời gian nào đó, có lẽ mọi người chúng ta đã cảm được sự bình an của tâm khi rơi vào sự không tham cầu, không thương ghét. Chính thời gian đây, là lúc ta thấy được thực tại của tâm lắng đọng trong trạng thái tỉnh thức và an lạc nhất. Nhưng rất tiếc trạng thái đó không thể kéo dài lâu được. Tuy nhiên rơi vào trạng thái đó, phải bằng sự hướng về lòng từ bi trí tuệ của pháp Phật mới gọi là hé mở Niết Bàn, chứ không phải bất chợt mệt mỏi vì cuộc đời bon chen mà buồn chán, không muốn tranh đấu gì nữa, đây không phải nghĩa đúng với trạng thái đó. Thế thì ngay tại đây, chúng ta vẫn có thể tìm được cảnh sống an lạc tỉnh thức khi nhận ra việc thoát ly tham ái, si mê. Và như thế phải tự thân thực hành mới cảm nhận, chứ không thể nghe người quảng cáo bày vẽ mà cảm nhận được.

Câu chuyện của những con ếch. Một hôm ếch mẹ trên bờ trở về, các con nòng nọc quay quanh, hỏi mẹ đi đâu về. Mẹ ếch trả lời, từ trên bờ đồng cỏ gần đó, các con nghe không hiểu bờ là gì, cỏ là chi! Ếch mẹ nói, trên đó sinh vật sống không ở trong nước, họ thở bằng không khí đi lại tự tại và cảnh vật sáng tỏ, cỏ cây bông hoa rất là tươi đẹp. Mẹ càng nói các con càng hỏi, cuối cùng chúng nó chẳng thể nào tin, vì chưa bao giờ nghe qua nói chi là thấy. Không thể giải thích thêm, Ếch mẹ nói: thôi đợi khi nào các con lớn lên, (thành ếch) nhảy được lên bờ sẽ tin lời ta.

Hiện chúng ta đã nghe nhiều về cảnh Niết Bàn, và khá hơn các con nòng nọc l�� chúng ta vẫn tin, dù tin mà khó thực hiện!

Không thực hiện được, hay khó thực hiện là do chấp chặt vào định kiến cố hữu của mình, hoặc là sống buông thả, hoặc nhìn đời bằng tang thương khổ lụy, mong diệt khổ cảnh bằng cách quay về sống khổ chính mình, như là hành xác để mong cầu sung sướng mai sau. Hai nhân nghiệp này theo luật nhân quả, tương lai sẽ trở lại thọ nhận lực nghiệp quá khứ mà thôi. Nghiệp tự tạo khổ sẽ hưởng quả khổ, dù mình làm khổ chính mình, vì thế theo đạo giải thoát, quyên sinh, tự tử, tự mình còn mang thêm nghiệp tội sát sanh. Nghiệp hưởng lạc buông thả, khi trở lại nếu chẳng còn phước báo sẽ phải đau khổ thiếu thốn. Và đau khổ thiếu thốn chưa đủ, lại còn đau khổ khác do buông thả gây nên. Phật dạy con đường thực hành đạt đến an lạc, là con đường quán chiếu hai tác nghiệp trên, để lìa bỏ như là trạng thái trung dung an lạc của sự không đam mê vào vị ngọt thường tình ở thế gian, cho đến vị ngọt tối thượng vô hại của sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Vì tất cả đó cũng đều vô thường biến hoại, chỉ cầu được Niết Bàn lạc là vị ngọt giải thoát. Và con đường đạt đến căn bản bước đầu, Phật dạy hành theo Bát Chánh Đạo như đã đề cập ở phần ?Nguyện ghi nhớ bốn điều diệu đế?.

32. Thận trọng và chuẩn bị cho vô thường!

Từ khi hiểu được đạo giải thoát, chúng ta hình như chứng kiến nhiều biến cố vô thường qua mạng sống ngắn ngủi của đời người. Trong đó nào là người quen biết, người thân và nhiều nhất là sự kiện chết chóc của nhân loại xảy ra trên thế giới này. Thật sự thì việc vô thường luôn luôn diễn tiến tuần tự không ngừng, nhưng vì ta mới ý thức, tưởng lầm diễn tiến càng ngày càng bộc phát hơn. Nhận thức về vô thường cho việc học Phật, chúng ta nên nhìn vô thường qua ảnh tượng sinh tử của đời người, điều này dễ khơi tâm giác ngộ.

Sự kiện có thể thấy như là: khi ta vừa sinh ra, cùng lúc có người từ giả cuộc đời, khi ta được mọi người cười vui chào đón là một thành viên mới trong gia đình, thì không xa nơi ta là tiếng khóc vĩnh biệt người đi. Cứ như vậy bao người sinh ra thì đâu đó bao nhiêu âm thanh rền vang của chia ly vĩnh biệt. Nhưng định luật sinh tử như vậy, không phải là một công thức cố định để biết trước mà tiên liệu. Chẳng hạn có nhiều tiếng khóc ngất lên chào đời, rồi liền vụt tắt, hóa cuộc đón mừng bằng nước mắt chia ly!

Vô thường hơn nữa là những cuộc ra đi tập thể do hiểm họa thiên tai, lại có khi do con người (nhân tai) gây ra. Chỉ nói vô thường về tử ly, chúng ta đã thật thấm thía rồi! Nhưng thật tình nhìn nhận, ta chỉ thấy vô thường đến với người khác chứ với mình thì ít khi nào nghĩ đến! Hay chỉ nghĩ đến, khi mạng sống suýt chết, chừng ấy ta mới hồi tỉnh mà tin là vô thường có đến với ta thật đấy!

Nhưng ta vẫn chưa ý thức nhiều lắm, vì không nghĩ rằng vô thường đến với ta từng sát na! Quả thật vậy, vô thường là sự chuyển đổi, biến dạng liên tục trong dòng sinh diệt sống chết. Như là quá trình của Thành Trụ Hoại Không, hay nói đúng hơn pháp giới mênh mông tương sanh tương diệt trong vòng duyên khởi, thì vô thường chỉ là ảnh tượng của lý nhân duyên, tức có sinh thì có diệt.

Trong con người chúng ta, là một bộ máy cực kỳ tinh vi phức tạp, từng mỗi giây mỗi phút các tế bào máu sinh diệt không ngừng, chúng thay đổi vô thường vậy, cũng chỉ là nuôi dưỡng duy trì và phát triển những bộ phận cơ năng. Bộ phận cứng mềm thô, như xương gân thịt, và bộ phận mềm tế như hệ thần kinh não bộ và sự ấm dịu luân lưu của dòng máu liên tục dẫn về tim, là trung tâm sự sống. Nếu không có sự biến dịch lưu thông tuần hoàn như thế, thì ta sẽ chết trong tích tắc; bởi các hoạt động nằm ì ra đó.

Nếu sự vật không sinh diệt vô thường, thì tất cả mọi vật sẽ chết lờ đi, và không còn gì để nói! Hay nói khác hơn ta không thể tưởng tượng được thế giới sự vật lại hiện hữu, khi không có sự sống sinh diệt tương hợp với nhau.

Sự chết sống của mọi vật là sự nẩy nở, hài hòa để tồn tại tạo nên tiến trình tiến hóa thay đổi v.v...Do đó ta biết vô thường là một định luật tự nhiên và chính việc sinh tử cũng là tự nhiên của một dòng sống, tuy nhiên trừ khi ta đi vào thế giới bất sinh bất diệt, từ đó ta sẽ có tư tưởng (tâm thức) và thực tại khác hơn. Thế giới đó có thể ý thức khái niệm, qua sự không tham cầu, không sân giận, không si mê, nên không bị bó buộc của sự tham sân si, và vậy phát được tâm vô uý vô ngại, không sợ sinh không sợ tử - vì có tham sân si đâu mà chấp vào đó. Đến đây mới là thế giới tuyệt đối vượt lên ý thức đối đãi lìa xa mọi ý niệm sống chết, sinh diệt cho đến cả ý niệm được khơi lên. Nói cách khác đây là thế giới phi thế giới, là thế giới Phật.

Hiểu được vô thường như vậy ta nên mừng hơn là sợ! Mừng để thận trọng chuẩn bị dọn đường cho mình sắp tới, để rõ biết đường nào phải đi và nơi nào phải đến. Như vừa nói, cơ thể chúng ta bên trong phức tạp như thế, và bộ phận tinh vi rắc rối vậy, do cũng từ đây, mà ta khó biết bộ máy tuần hoàn đó, đột xuất ngưng đọng khi nào. Vì thật tình chúng vẫn là những phần tử vật chất mềm cứng kết hợp gắn liền với nhau có gì là bền chắc. Nếu ta có thể nhìn thấy được bên trong thân thể rõ ràng, như nhìn vào tủ kiếng đựng đồ, thì thật khủng khiếp không gì hơn. Và vậy mạng sống con người không còn gì để nói là bảo đảm lâu mau ra sao! Xem thực vật cây cỏ vậy mà chắc chắn sống vững hơn ta. Các giống cây sống bằng tuổi thọ loài người như bảy tám chục năm thì nhiều lắm, và cũng không thiếu những cây tùng, bá sống đến ngàn năm. Nhưng thường thì chúng sống một cách vững chắc chớ ít khi bệnh hoạn hay yếu ớt dễ bị thiên tai như người.

Nói thêm về sự bất tịnh, thân thể ta có lẽ ghê tởm không thua bất cứ cái gì trên đời này! Hy vọng rằng không nói quá! Nhìn xem bông hoa là cây cỏ chẳng có chi, vậy mà bình cắm hoa tươi đẹp, nếu để tuần lễ không thay nước chúng sẽ bốc mùi hôi không chịu nổi! Xem lại con người thì sao! Bên ngoài trông đẹp xinh xắn nhưng bên trong sẽ là ghê tởm cả gấp trăm lần bó hoa thúi kia.

Căn bản mà thấy sự vô thường ngay bản thân chúng ta, và từ đây thấy được cơ hội tu sửa. Trước hết thực tế để học là không vì lo cho thân quá mà phải nô lệ nhiều cái sống, như là ăn, mặc, nơi ở, vì sự thật chúng chỉ là một khối thịt máu mủ, tồn tại chỉ bảy tám chục năm. Chúng ta đã chẳng thường nghe Phật dạy là ‘tam thường bất túc’. Đó là ba việc ăn, mặc, ngủ nghỉ không nên quá đầy đủ, dù ý này nhắm vào hàng tu sĩ, nhưng theo sự lý giải thoát, hàng cư sĩ cũng phải nhắm đây mà tiến lên những bước cao hơn. Do vì căn bản tu từ thân và tâm, và ba việc này dễ làm cho thân say đắm khiến tâm chẳng còn sáng suốt. Không lo cho thân quá lại có cái lợi là không còn vọng động nhiều với những ràng buộc đến người khác, đến nổi phải hơn thua tranh đấu. Vì mọi sự tranh dành hơn thua, phần lớn từ nguyên nhân lo cho thân mà ra. Ở thân đó sanh ra những tư tưởng quan niệm triết sống, nếu vì lo cho thân để hướng về sự chân thiện chung cho nhân loại thì đây thật đáng lo, nhưng vì cá nhân vị kỷ nuôi dưỡng bản ngã do lòng tham ái, thì sự lo thân này chỉ mang đến kết quả khổ. Và như đã dọn mình đi theo con đường giải thoát, thì dù việc nuôi thân hướng đến chân thiện cũng phải dè dặt kiềm thúc để tư tưởng tâm thức liễu triệt vấn đề hơn.

Để chuẩn bị vô thường, chúng ta nên lo cho phần tâm thức. Chuẩn bị tư tưởng quán xét vào sự tự tại của giải thoát vượt lên tấm thân bất tịnh này. Đó là cách thanh lọc tư tưởng qua những phương pháp tu học mà người học đạo giải thoát được dạy như thiền quán, niệm Phật, tụng kinh, trì chú, hoặc bằng các hành động Phật sự thầm dưỡng nuôi tâm Bồ Đề. Hành động dù là hình tướng bên ngoài, nhưng đây chắc chắn là thận trọng chuẩn bị nhận rõ vô thường, hầu nuôi dưỡng tâm thức một cách mãnh liệt.

Lý vô thường đến đây bằng sự liễu nghĩa đúng theo chánh pháp, chúng ta càng tích cực hành động hướng đến giải thoát. Và điều duy nhất lãnh hội qua lý vô thường cho cuộc hành trình đi về giải thoát không gì sáng tỏ hơn, là nhìn vô thường ngay sự sống chết tự thân của mình.

33. Tại sao phải tu?

Nếu câu hỏi này, đặt ra thưa thỉnh dâng hỏi Đức Thế Tôn thì việc rõ ràng đã thấy không cần Ngài phải trả lời. Đó là sự khác biệt trước sau ngày Đức Thế Tôn thành đạo. Ngài trước kia chỉ là một thái tử, một thái tử như bao nhiêu thái tử ở Ấn Độ, hay không khác các bậc tôn quý con vua chúa khắp nơi toàn thế giới. Và tương lai đó Ngài chắc chắn sẽ là vị vua anh minh giàu có như bao nhiêu các đế vương hùng mạnh khắp mọi nơi; nhưng thật sự hơn thế, Ngài phải là vị vua có một không hai, sự hùng cường lớn mạnh nhất toàn cầu, đó là theo cái nhìn không sai của bậc đạo sĩ đạt đạo thấy được tương lai. Đạo sĩ A Tư ĐÀ tiên đoán: ...nếu thái tử không ở vương triều để thành vị vua lừng lẫy nhân ái nhất trong thiên hạ thế giới (Chuyển Luân Thánh Vương), thì thái tử sẽ đi tu thành đạo, và đạo của Ngài là đạo giải thoát siêu việt thế gian, chưa bao giờ xuất hiện trước đây mà già này thật lấy làm đau tiếc không sống được tới ngày đó, để học đạo giải thoát dưới chân Ngài...

Chúng ta thấy câu trả lời là hình ảnh xinh đẹp như thế, nhưng nguyên nhân thôi thúc, hấp lực dẫn Ngài tìm đạo, thành đạo là lòng từ bi muốn cứu vớt chúng sanh ra khỏi bể khổ. Cứu vớt thế nào là ngay tại thế, qua cuộc đời hành đạo của Ngài. Ngài đã có đến mấy ngàn đệ tử đắc quả Thánh Vô Sanh liểu sanh tử, và các vị ấy không những xứng đáng làm thầy người tại thế, mà cả đến làm thầy dạy đạo cho một số vị trời ở mấy cõi thiên. Rồi hàng phạm thiên, phi nhân tìm xuống Tà Bà nghe pháp giải thoát. Số này cũng phải thật nhiều, bởi lâu lắm mới có Phật xuất hiện, thì cảnh trời nào biết được họ cũng hay hạ xuống cúng dường nghe pháp. Nói đến đây lại thấy cõi Ta Bà chúng ta với các cõi trời thật gần gũi, do gần như vậy mà ta thấy sanh thiên chỉ cần tu thập thiện. Thậm chí một người con kính hiếu với cha mẹ cũng có thể sanh lên được cõi trời. Lại nhìn về cõi Phật, thì cõi trời và cõi người cách xa cõi Phật không thể tưởng nổi, và hai cõi đều mơ ước sanh về cõi Phật, nhưng thật may mắn hơn cõi trời, Phật dạy cõi người có nhiều cơ hội đến cõi Phật hơn! Do vì cõi này có Tứ Diệu Đế, là chân lý cho con người tìm về đạo giải thoát; dù cơ hội giáo pháp của Phật xuất hiện ở Ta Bà cũng không phải đơn giản dễ dàng. Đọc trong kinh Hiền Ngu qua những chuyện tiền thân Phật, nhiều câu chuyện cầu pháp giải thoát của các vị thiện nhân. Họ dám hy sinh cả thân mạng để được nghe pháp vì sanh ra nhằm thời không Phật pháp.

Thêm hình ảnh nữa, là dù ngay thời Phật tại thế, vẫn có một số người không thể thực hành theo lời Phật dạy để làm tu sĩ xuất gia hay cư sĩ tại gia, những người này cũng tạo được duyên lành, do chiêm ngưỡng dung nhan Phật, bấy nhiêu đó cũng đủ duyên gặp pháp giải thoát trong kiếp vị lai. Vậy thì số lượng chúng sanh mà Phật trải lòng từ bi đến thật không thể kể được, ngay như bây giờ đã hơn hai ngàn năm trăm năm mà con người vẫn còn tìm thấy an lạc thanh tịnh ấm dịu trong lòng mỗi khi giở lại trang kinh hay ngồi thiền hướng lòng về pháp Phật (giải thoát).

Nay thử đặt lại câu hỏi chính mình, tại sao mình phải tu Phật? Câu trả lời hẳn đã có, và ai cũng trả lời được như là: đời là khổ, tu để mà cầu giải thoát! Và chắc chắn mọi câu trả lời, chỉ lấy từ nguyên nhân khổ để cuối cùng đi đến giải thoát. Khổ là do phiền não mà ra, phiền não dứt trừ thì an vui hiện hữu. Nhưng ngược lại không đơn giản như ta tưởng, vì đời sống luôn luôn di động chẳng bao giờ dừng lặng nên tâm dễ chao đảo theo, thế là phiền não chỉ lắng bên ngoài nhưng bên trong chẳng được dừng nghỉ. Bao giờ thân còn lăn xăn bôn ba dao động thì tâm không cách nào lắng dịu được yên, đó là quy luật tự nhiên của đạo lý nhân quả. Chỉ có trường hợp ngoại lệ là những vị Bồ Tát lớn hiện thân hành đạo trái nghịch mà thôi, ngoài ra tất cả phàm nhân đều không thể thân động mà điều phục đ��ợc tâm. Thế là câu trả lời tu Phật để được giải thoát là trên lý tưởng lý tình, vì chúng ta vẫn còn chưa thấy tu Phật là diệt phiền não mới giải thoát được. Hay nói đúng hơn chúng ta quả còn động niệm nhiều lắm, không phải vì động do công việc mưu sinh mà động do ý tưởng phóng đi.

Phật tu vì thương chúng sanh, điều này rõ ràng như vậy; đọc kinh Pháp Hoa ai lại không nghe Phật ra đời vì muốn chúng sanh thành Phật. Còn chúng ta tu theo Phật chỉ có độ được mình cũng quá thành vất vả!. Vậy ra đừng nên vội tìm độ người, khi tự thân mình chẳng cho người thấy mình có giải thoát - có lẽ nên nói là cùng giúp nhau nâng đỡ dìu dắt theo lý nhân duyên thì đúng hơn.

Thế chúng ta có thể trả lời, ít ra tu Phật, là vì ta đã tạo vô số phiền não cho mình, cho người, nay tỉnh ngộ nhận được nhờ giáo lý Phật Đà mới quay về TU (sửa) ngay phiền não. Khi phiền não đã rơi rụng, ta mới dám chuyển hóa những phiền não vi tế nhỏ nhặt thành những phương tiện luyện tâm. Chẳng hạn ta thấy, khi thiền tọa tư tưởng sẽ nhờ vào sự bộc phát phiền não móng lên mà nhận ra chân tâm vô ngại, rồi dần dần nhìn được phiền não là giả tạo, là vọng tưởng giúp ta thấy chân tâm là giây phút yên tịnh trong sáng của tâm thanh tịnh. Khi niệm Phật tụng kinh cũng vậy, ta thấy được phiền não len lỏi vào câu kinh tiếng kệ, có khi ta mơ màng theo phiền não chẳng hay biết, trong khi tiếng Phật lời kinh vẫn còn tự nhiên trên miệng. Nhưng đó chỉ là giai đoạn đầu tự nhiên, do vọng tưởng tích tụ quá nhiều, đến khi ta ý thức được mỗi lần phiền não móng lên sắp sửa chen vào lời kinh, tiếng Phật, thì đó là giây phút nhận ra tự tâm vốn là chân thiện an lạc, có thể nhìn thấy được mọi vấn đề, và vậy tâm ta sáng ra để nhìn rõ vọng thức vốn không thật có.

34. Ta chẳng thấy ta...

Đoạn đường thay hình đổi dạng từ vô thỉ kiếp đến nay quá nhiều quá lâu không thể biết được, mà Phật phải ví là biển, là hư không, là thời gian nỗ tung một thế giới rồi tính từ hạt bụi sinh ra vô số thế giới khác. Ta vì không thể lãnh hội được việc quay cuồng này nên vẫn âm thầm chịu đựng, và Bồ Tát cũng vì vậy mà nguyện độ chúng sanh đến vô cùng mới chịu thành Phật.

Vấn đề có thật là ta chịu khổ từ vô lượng kiếp thì chỉ có chư Phật rõ biết, và dạy lại ta. Riêng ta nhìn được sự việc luân hồi tái sanh đau khổ, hiển hiện tại thế gian này mới tin được phần nào. Nhưng do chỉ thấy được vài hình ảnh quả báo luân hồi tái sanh, mà chẳng lo sợ, ý thức đoạn đường chất chồng của nghiệp lực. Nguyên nhân chính, việc dẫn đưa quay tít trong vòng luân hồi như thế, vì ta đã chẳng thấy ta - chẳng thấy ta là một, chẳng thấy ta là tất cả. Các vị Bồ Tát lớn đã chẳng thấy các Ngài khác với chúng sinh, vì có cùng bản thể tánh giác, do vậy các Ngài hành đạo mà xem như không hành. Ngược lại đã thấy một thì tất nhiên một cũng là tất cả, vì muôn hình vạn trạng kia chỉ là hiện tượng bản thể chưa quay về, khi đã quay về thì chỉ là một (lý tánh tuyệt đối). Thí dụ nước hiện hữu khắp nơi đây đó: sông hồ biển cả, cho đến được chứa đựng trong bình chai ly tách v.v...nhưng tất cả chỉ chung cùng một tánh, đó là tánh ướt. Tuy nhiên vấn đề chịu khổ hưởng vui là những hiện tượng xảy ra trên đoạn đường nghiệp lực mà điểm cuối của đoạn đường là lý tánh thanh tịnh, và tương lai chúng ta sẽ đi tới mà thôi.

Sự trở ngại, là không rõ bản thể lý tánh giác ngộ không có sai khác, nên ta cho TA là thật có, là nhất định hiện hữu trong đời này, cũng như sẽ mang cái ta tồn tại đó đi vào đời sau. Gọi đúng là chấp NGÃ, tức là cái con người và tư tưởng này! Đây là vấn đề rắc rối và tế nhị, mà người học đạo giải thoát thường nghe nói đến. Chúng ta khó trả lời thế nào dứt khoát, là ta có phải là thật có hay không? Và như ta không có thì ai phải bị luân hồi đau khổ, ai được sanh cõi trời, ai đi vào địa ngục, ai đạt quả Thánh, ai vào Niết Bàn v.v...và v.v...Thật sự Phật đã dạy hảy quán sát năm uẩn là không, quán được như vậy sẽ lìa khỏi Ngã mà đi vào Niết Bàn. Năm uẩn là năm thứ tập hợp làm nên con người: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn - sắc uẩn là thân, các uẩn kia là tâm. Thân thì thấy được, nhưng tâm thì không thấy, và nếu có thân mà không tâm thì chưa đủ thành con người, đó chỉ là khối thịt; cũng vậy có tâm mà không thân thì lấy đâu mà biết con người. Phật dạy năm uẩn là Không, Không đây là không thật có, chứ không phải không có, vì rõ ràng chúng ta thấy biết đó mà! Không thật có, nghĩa là chúng chỉ hiện hữu hợp duyên với nhau, nếu rời ra thì không thể thành được. Vậy hiểu đại khái, Vô ngã là không tìm được cái bản chất thực thể thật sự của cái tôi, cái ta ở trong đó. Nếu quả thật có cái ta cái ngã, thì ta đã tự tại ung dung chính ta, mà không phải bị lôi kéo khi sắc căn tiếp xúc với trần cảnh để tạo ra cảm thọ phiền não, khi sắc căn tiếp xúc với trần cảnh để thức uẩn phân biệt mà tạo ra phiền não v.v...và nếu có thì mặc cho thân đau khổ ta lại chịu đau khổ làm gì!

Hiểu thêm lời luận về Vô ngã như sau: ‘Đức Phật xem thế giới này là thế giới của khổ đau, và dạy những phương pháp đối trị nó. Vậy cái gì đã làm nên thế giới này toàn khổ đau? Lý do đầu tiên, như đức Phật đã dạy, là các pháp đều vô ngã, nghĩa là, vạn vật - hữu tình hay vô tình - tất cả không có cái mà chúng ta có thể gọi là bản ngã hay thực thể. Ta thử khảo sát con người. Một người không thể xem tinh thần, hay hồn của y là một thực ngã . Y hiện hữu, nhưng không thể nào nắm được cái thực thể của y, không thể tìm thấy được tinh thần y, bởi vì hiện hữu của con người không gì ngoài cái ‘‘hiện hữu tùy thuộc vào một tràng nhân duyên’’. Mọi vật hiện hữu đều là vì nhân duyên, và nó sẽ tan biến khi những tác dụng của tràng nhân duyên đó chấm dứt. [41]

Và trong quyển Sử Cương Triết Học: ‘‘Nagarjuna (Long Thọ) không những phủ nhận sự thật tại của giác quan hoặc năm uẩn. Ngài còn phủ nhận linh hồn thật tại bất biến. Nagarjuna dẫn quan niệm của Sammityas cho rằng có một linh hồn, từ linh hồn mới có sự cảm giác thấy nghe ...Nếu không linh hồn tồn tại, thấy nghe v.v...do đâu mà có. Ngài Nagarjuna gạn hỏi: Nếu thực có một linh hồn thực tại trước khi có cảm giác thấy nghe v.v...thì căn cứ vào đâu biết có linh hồn thực hữu không cần thấy nghe ...Thế thì ta có thể nói thấy, nghe... hiện hữu không cần đến chủ lực linh hồn. [42]

Đến đây ta có thể tạm hiểu về cái không thật của cái Ta này, chỉ vì chúng là nhân duyên hội tụ, và bất cứ gì là nhân duyên, chúng không thể nào có tự tánh riêng được. Và thực tế để hành theo đạo giải thoát, ta phải nhận rằng bao giờ ta còn thấy có thật NGà là ta vẫn khổ, đơn giản vì ph���i tư duy và hành động để bảo vệ nó. Chúng ta đã thấy qua, thế giới chiến tranh hận thù máu lửa cũng vì chấp chặt vào cái ta. Nếu con người chỉ cần xem nhẹ cái ta đi, thì tự nhiên kết quả an vui sẽ đến mà không cần phải tìm kiếm như ta đã làm hiện nay. Tuy nhiên rốt ráo của việc hành đạo không phải là đạt được cái Không, nếu như vậy cũng rơi vào mê chấp. Đức Phật đã dạy phải hành theo trung đạo, và việc Ngã chấp là vấn đề phải lìa xa để thành đạo, chớ không phải hành theo lối sống ngoan không.

Nhưng còn việc ai là chánh nhân để vào ra trong luân hồi, thì do nghiệp thức tạo thành lực nghiệp sai khiến ta đi, nghiệp lực như vậy không phải là cách nói khác cho linh hồn, hay bản ngã có thật để đầu thai. Vì dễ hiểu nếu thật có linh hồn bản ngã đầu thai tự tại, thì người phải trở lại người, và tự mình tìm nơi để sanh lên chớ ai dại gì đi xuống, tệ hơn lại đi vào cõi thú! Nơi đây chúng ta chỉ cần hiểu phần nào về sự thật của vô ngã, để chuyển hóa cách sống nhẹ nhàng theo đúng pháp giải thoát. Khi biết rằng chính con người của ta là hội tụ của nhân duyên, duyên khởi, thì sự vật ngoài ta lại càng không thật đến chừng nào. Đó là điểm thực hành theo lý đại thừa Bát Nhã ‘sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc’, và điều Giáo sư Takakusu, đã bàn về vô ngã cũng nhấn mạnh rằng ‘‘...Mọi người phải từ bỏ cái ngã mình, cố gắng giúp đỡ kẻ khác và phải nhận thức cái hiện hữu cộng đồng, vì không thể nào con người hoàn toàn hiện hữu độc lập được’’. *[43]

Phần giải thích thêm nguyên nhân tái sanh luân hồi do Nghiệp lực, chứ không phải là hiện hữu có một ngã chuyển qua một đời sống mới, xin được trích ra lời luận bàn chuyên về giáo lý duyên khởi liên quan đến vô ngã mà hy vọng chúng ta sẽ dễ hiểu hơn. Tác giả viết: ‘Đức Phật cũng dạy về Nghiệp,Tái sinh, Luân hồi, nhưng lại chủ trương vô ngã. Ở đây, chỉ nghiệp, nghiệp báo, chứ không có một ngã thể gọi là linh hồn chịu nghiệp báo. Điểm này thường gây nên nhiều thắc mắc. Đức Phật đã dạy rõ về sự thật này, nhưng Ngài không cắt nghĩa nhiều về nó vì theo tinh thần giáo dục rất thực tiễn của Ngài, Ngài không đi vào các lý luận phiền toái, nơi mà lý luận và tư duy không đặt chân đến được. Tìm hiểu về Nghiệp, Tái sinh, Luân hồi, chúng ta chỉ mong đi đến một nhận thức tương đối về nó. *[44]

35. Hướng về chư Phật

Thế giới sống của chúng ta tất cả là tương đối, không gì tuyệt đối, nói theo lý nhân duyên duyên khởi thì liên hệ mật thiết với nhau, hay gọi theo kinh Hoa Nghiêm là trùng trùng duyên khởi; ý nói lên cả pháp giới vũ trụ vô cùng này đều khởi lên do tâm mà có ‘các pháp do tâm tạo’. Do đó mọi hình ảnh tác động nào đều phản ảnh sự động niệm của ta: ta đi đứng nằm ngồi, ta tư tưởng phán đoán và cụ thể hóa qua đủ mọi hành động gầy dựng, phá vỡ tất cả là những tương đối lăn xăn trong pháp giới. Các bậc chứng đạo thấy được pháp giới lăn xăn như vậy, và từ đây các Ngài tự chuyển hóa Pháp giới cảnh của chính các Ngài trở thành Pháp giới tánh thanh tịnh, vì tất cả do tâm biến hiện mà ra. Tư tưởng đó hóa thành trí huệ Bát Nhã, thấy được tất cả khởi lên do nhân duyên vọng động đều là không thật, để chuyển thành Chân Không thanh tịnh, rồi trở về cái có trong an nhiên Diệu Hữu. Tức là pháp Trung Đạo mà Phật đã luôn dạy cho hàng đệ tử của Ngài.

Ngày nay chúng ta dù tu pháp môn nào cũng phải giữ con đường trung đạo hài hòa vào tâm cảnh, không vì tự cho mình chọn đúng pháp môn rồi bảo người khác là sai.

Cảm thấy chọn đúng pháp môn chỉ là hợp căn, có duyên với pháp đó. Hơn nữa theo lý nhân duyên mật thiết với nhau, thì đối lập giữa tâm cảnh là vấn đề cho người tu Phật phải vượt qua để gạn lọc thanh tịnh tâm mình.

Hành giả ngồi thiền khó thể an định, nếu tâm còn chấp trước so sánh pháp tu, dù là so sánh sự phát triển của mình huống là đến sự đúng sai của người khác. Hành giả trì chú niệm Phật, nhất định phải nhất tâm, để có thể đi vào Thanh Tịnh Tam Muội, không khác vào Tam Ma Địa là cảnh giới an định dứt trừ phiền não của các bậc chứng thiền, nếu còn suy tưởng tự cho mình là đúng, không khéo sẽ vào ma đạo!

Đó là con đường trung đạo nhắc nhở chúng ta phải khéo léo đi vào, và để an toàn cho việc đi vào trung đạo đó, nhất định chúng ta phải nên hướng về tâm điểm là sự lý thanh tịnh toàn giác. Thanh tịnh toàn giác đó là bậc đạo sư của chúng ta, là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đấng -ng Cúng, Chánh Biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự, Trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật, Thế tôn.

Hướng về sự toàn giác thanh tịnh của Ngài dù là bằng sự qua hình ảnh, hay về lý là tánh chân giác, đều nhất định cần phải hướng về và luôn luôn phải hướng về. Trong đời sống hiện tại quá phức tạp, nhiễu nhương biến động này, ai là người tu Phật lại dám tự hào không hướng về Phật! Cách đây hơn cả ngàn năm các vị Đại sư, Tổ sư Trung hoa, Tây Tạng, Tích Lan v.v...đều đã nhất tâm hướng về để tìm cầu giải thoát, chứng tích đó là những tượng thờ hình ảnh đức Thế Tôn được tạo lên, mà bây giờ trở thành thánh tích lịch sử. Nhưng đáng ghi nhận hơn là ngay thời Phật còn tại thế, các đệ tử của Ngài dù đã đắc đến quả Thánh cao nhất là Vô Sanh mà vẫn còn hướng về, để cầu được quả Viên Giác (Phật). Các vị hướng về bằng cách quán tưởng chân tướng giải thoát của đấng Thế Tôn, qua hình ảnh sinh hoạt thường tình của Ngài và chuyển hóa chân tướng thanh tịnh đó, trở lại chính với các vị bằng sự liễu đạo vượt siêu quả vị A La Hán đi đến quả Chánh Đẳng Chánh Giác ở vị lai. Đọc lại các kinh Đại thừa nghe Ngài A Nan kể, kinh nào chẳng có hàng ngàn vị Bồ Tát đến nghe Phật thuyết pháp. Có kinh Phật dạy là có vô số Bồ Tát đến dự nghe mà đệ tử Thánh tăng của Ngài chỉ thấy rất ít. Đó chưa nói hàng quỷ thần, thiên vương thì tính sao cho xuể. Chẳng hạn lời đầu kinh Dược Sư, trước giờ nói pháp ‘...cùng với tám ngàn vị Đại Bí Sô, ba vạn sáu ngàn vị Đại Bồ Tát, các hàng quốc vương, đại thần, bà la môn, các hàng cư sĩ, thiên long, bát bộ, cùng nhơn, phi nhơn, cả thảy đại chúng nhiều vô lượng, đồng vây quanh Phật cung kính thỉnh Ngài thuyết pháp...’

Do suy xét nhận rõ như thế, người học pháp giải thoát thời nào cũng phải đặt tâm hướng về chư Phật, hướng về chư Phật là hướng về sự giải thoát; đơn giản như vậy, nhưng cụ thể hóa bằng những phương cách tu hành tùy theo mỗi hành giả. Người tu thiền dù không đặt nặng đọc kinh, trì chú, niệm Phật nhưng phải hướng về bằng tâm niệm, ít ra cũng phải tối thiểu tạo cho mình một ảnh tượng Phật trước mặt để đi vào định tâm. Như không có ảnh tượng thì phải tự theo nghi thức nào đó xưng tán danh hiệu đấng giác ngộ rồi mới đi vào Thiền. Đây là vấn đề thật tự nhiên chẳng có kẹt chấp gì cả, dù pháp môn Thiền là vô chấp, bởi vì phải thận trọng sự nguy hiểm của cái vi tế móng tâm kẹt vào sự kiêu mạn.

Sự nguy hiểm này đức Phật đã dạy rõ trong kinh Lăng Nghiêm, thiết nghĩ thật quan trọng mà chúng ta nên nhận ra. Phật dạy Ngài A Nan Mười Món Ma về Sắcấm mà người tu thiền không khéo sẽ bị ma cám dỗ đi vào tà đạo. Phật dạy khi tu thiền hành giả do dụng công nên tạm hiện những cảnh sau đây:

1-Thân thể không bị chướng ngại,

2-Lượm bỏ trùng độc trong thân,

3-Nghe trong hư không có tiếng nói pháp,

4-Thấy Phật hiện và hoa sen trổ,

5-Thấy các vật báu đầy cả hư không,

6-Thấy ban đêm như ban ngày,

7-Thân thể không biết đau,

8-Thấy cảnh giới Phật hiện khắp nơi,

9-Ban đêm thấy, nghe được phương xa,

10-Thân hình biến hóa, nói pháp thông suốt.

Ở đây chỉ ghi lại tên của mười món ma, đọc rõ từng món sẽ thấy Phật dạy chi tiết hơn. Cuối cùng Phật dạy rằng: Này A Nan, mười cảnh ma này, đều do trong lúc tu thiền, dụng tâm phá trừ sắc ấm, nên nó biến hiện ra các cảnh như vậy. Nếu khi gặp những cảnh như vậy, mê l���m không biết, cho mình đã chứng Thánh thì bị ma nó ám ảnh, rồi sanh ra đại vọng ngữ, nói mình thành đạo chứng quả v.v...Vậy khi ta nhập diệt rồi, các ông nên y lời ta dạy, đem những việc ma này, giảng dạy cho người tu hành đời sau, bảo hộ người tu hành đặng thành đạo quả, chớ để cho họ bị thiên ma nhiễu hại. [45]

Đọc qua lời răn nhắc như vậy, càng thấy rằng sự tu niệm của chúng ta luôn luôn nên hướng về chân ảnh Phật. Người tu trì chú, niệm Phật thì sự hướng về quá rõ ràng, hơn là người chuyên về Thiền định, vì người niệm Phật trì chú đọc kinh là đã hướng tâm đến chân ảnh của sự giác ngộ qua lời kinh và danh hiệu của bậc toàn giác. Và người tu thiền thế nào cũng nên hướng về dù là ảnh tượng hay chân ảnh. Chân ảnh Phật, vừa là lý tánh giác ngộ nhưng cũng vừa là những lời kinh và ảnh tượng. Nhớ lại Lục tổ Huệ Năng, Ngài là bậc tổ thiền đắc đạo đã chứng thực bằng sự lưu lại cho đời nhục thân bất hoại; Ngài được như vậy cũng do nhân duyên nghe được lời kinh Kim Cang để từ đó làm nơi quy ngưỡng hướng về và việc hướng về của Ngài quả thật là siêu việt, nhưng dù sao ta vẫn thấy Ngài vẫn nhờ vào lời kinh Phật mà ra. Cho nên người tu thiền đời nay không thể được như Ngài, thì cũng nên nương vào kinh để đi sâu vào lý tánh mà lợi ích có thể sẽ dễ dàng đạt quả được ngay thời nay.

Sự hướng về giác ngộ bằng tự tâm, mới dễ đưa ta tới gần chân giác, chứ không phải giữ chặt ảnh tượng nghi thức thờ cúng là về gần với Phật, dù đó vẫn là sự hướng về.

Tới đây là phần lý hướng về, để hòa vào pháp thân giác ngộ. Hướng về giải thoát qua lý tánh, giúp ta lúc nào cũng sống gần với Phật (giác), và ta có thể tìm được ảnh tượng trang nghiêm của Ngài ở khắp mọi nơi, ngay khi đang sinh hoạt trong đời sống qua hình ảnh thô của thân. Hướng về như vậy quả thật là khó, nhưng đây mới là sự hướng về sâu kín nhất, do vì như thế mà trong các pháp tu, thấy rằng pháp niệm danh hiệu Phật cho ta nhiều cơ hội không quên hướng về chân giác.

Xét cho cùng thì cả hai, lý và sự cần phải hướng về; chúng ta có thể vừa tu thiền để làm dịu tâm vọng động, vừa niệm Phật tụng kinh để sống mãi với chánh niệm, và dễ dàng hướng về chân tâm thanh tịnh giải thoát.

Tóm lại sự hướng về cả hai, ảnh tượng và chân tánh đều rất cần thiết cho người thật cầu giải thoát; và đó là con đường Trung Đạo giúp ta an tâm vững bước không sợ sai lạc, khi mình vẫn còn mang một tâm thức mê mờ thô lậu.

***

Tạm dừng,

Chúng ta đã có duyên bước vào đạo giải thoát rồi, dù là những bước chập chững, nhưng chắc chắn sẽ tới. Vậy nỗi vui mừng hân hoan đó, là áp dụng đạo lý vào đời sống của mình để thăng hoa giải thoát.

Thật ra tất cả đã sẵn có từ lâu, chúng ta chỉ là người quay về muộn, nay tự biết mình mãi giong ruổi quên đường, giờ mới được lên thuyền cũng chưa gọi là lỡ chuyến. Thuyền vẫn còn chờ, ta hãy cố gắng thu dọn hành trang không nên nuối tiếc. Hành trang mang theo trên mình không là vật chất gồ ghề như ta đã từng gầy dựng trong đời; hành trang này không còn là hình tướng nữa, mà chính là những hành động tạo tác trong quá khứ và hiện tại của ta.

Thiện nghiệp, ác nghiệp là những hành trang, nhưng thiện nghiệp có sức đưa con thuyền qua bờ bên kia hưởng vui an lạc, và ác nghiệp lại đưa ta quay về với bến củ của đau thương phiền muộn; tệ hơn phải bị trôi dạt vào cảnh giới tối tăm với hình thù thô xấu.

Ngày nay ta có nhân duyên tìm lại được mình mãi mê bao kiếp sống phí phạm, ta hãy ý thức làm lại cuộc đời, để sống và hành động phù hợp với tâm niệm giác ngộ giải thoát mà Đấng Giác Ngộ đã từ bi chỉ dạy.

Khi hành trang đã chuẩn bị, ta không lo ngại giờ phút lên thuyền, và sẽ hân hoan đón nhận ngày từ bỏ bến bờ ở đây. Niềm hân hoan đón nhận đó, ngay lúc này đã làm ta thay đổi cách sống, giúp ta vui v�� hành xử những hoạt cảnh trong đời, để trở thành một hành trang giải thoát.

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Nam Mô A Di Đà Phật

TK. Thích Phổ Huân.



[1]* Gọi là Tam giới: Dục giới: chúng sanh còn nhiều tham dục. Sắc giới: các vị ở đây hình sắc vi tế hơn và không còn muốn tham dục. Vô Sắc giới: Các vị trụ vào cảnh hỷ lạc của thiền định không còn hình sắc, chỉ có tâm thức. Tuy nhiên dù vậy Phật vẫn dạy phải vượt qua ba cõi này mới đạt đến giải thoát. (xem thêm phần Tam giới trong Phật Học Tự Điển của Đoàn Trung Còn) khách quan nhìn đạo giải thoát như sau:

[2]* Nền Tảng Của Đạo Phật. (Fundamentals of Buddhism - By Dr. Peter D. Santina) Thích Tâm Quang dịch, 1996.

[3]* Kinh Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ, (quyển 2 trang 685) Viện Triết lý Việt nam & Triết học thế giới xuất bản 1995

*Xem ‘Kinh Hiền Ngu’, Phẩm thứ 32, Tỷ khưu ni Vi Diệu, HT Thích Trung Quán dịch

[4]*A La Hán là quả chứng cao nhất trong bốn Thánh quả như: Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, tuy nhiên quả vị (A La Hán) này chỉ là giai đoạn chính thức là vị Thánh trọn vẹn đi vào giải thoát, chứ chưa thể giải thoát rốt ráo như là quả Viên Giác Niết Bàn, cho nên các vị A La Hán còn phải tiếp tục đi nữa cho đến quả vị Phật.

[5]*Sử Cương Triết Học Ấn Độ, TT.Thích Quảng Liên, Đại Nam tái bản tại Hoa Kỳ.

[6]* Tu Đà Hoàn: sanh trở lại bảy lần, rồi đắc quả A La Hán

Tư Đà Hàm: chỉ một lần sanh lại, rồi đắc quả A La Hán

A Na Hàm: không còn sanh lại, sẽ đắc quả A La Hán ở cảnh trời Sắc giới.

A La Hán: gọi là quả vô sanh, tức không còn luân hồi. (Nhưng lại phải tiếp tục tu để thành Phật)

[7]* Bồ Tát Hạnh, của Tôn Giả Sàntideva, Thích Trí Siêu dịch.

[8]* Ngũ giới: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu.

[9]* Giới Thập thiện:- Giữ thân không: sát sanh, trộm cắp, tà dâm. Giữ khẩukhông: nói dối, nói hai chiều, nói thêu dệt, nói độc ác. Giữ 񠫨ông: Tham, sân, si. * Giới Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni: còn gọi là giới cụ túc, nghĩa là đầy đủ giới, khiến cho vị tu sĩ nương đó mà đạt đến giải thoát.

[10]* Giới Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni: còn gọi là giới cụ túc, nghĩa là đầy đủ giới, khiến cho vị tu sĩ nương đó mà đạt đến giải thoát.

[11]Giới tướng: hiện ra bên ngoài tướng trạng, có thể thấy được, như là sạch dơ thấy được (Người tu Phật quan trọng trước tiên phải giữ được giới tướng). - Giới thể: bản thể bên trong không thấy được, chỉ người trì giới tự ý thức được mà thôi. (Hàng chứng đạo có thể thấy được người trì giới thể ).

[12]* Phật Học Phổ Thông, của HT Thích Thiện Hoa, Khóa thứ nhất: Thuyết minh về nhân thừa Phật giáo

[13]* Nền tảng đạo Phật - Thích Thích Tâm Quang dịch

[14]Bát Chánh Đạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tính tấn, chánh niệm, chánh định

[15]* Trích lại từ sách ‘Bàn về Giáo Lý Duyên Khởi’ của TT Thích Chơn Thiện, (tr 50) - Viện Triết học Việt Nam (Hoa kỳ) xuất bản.

[16]*Nhị biên: cái biết, lấy sự đối đãi hai mặt có không, mà kẹt chấp vào

[17]* Thành, trụ, hoại, không: sanh ra có mặt, tồn tại khoảng thời gian nào đó, đến lúc hư hoại, tan nát mất đi.

[18]* Ngũ uẩn: Là năm món hòa hợp tạo ra thân tâm con người, gọi là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Sắc: vật thể hữu hình. Thọ: cảm thọ vui mừng buồn khổ. Tưởng: tưởng tượng, nghĩ về đối tượng các sự vật. Hành: tác động của sự động tâm sinh ra hành động...Thức: hiểu biết phân biệt.

[19]* Phan duyên: nương theo, vịn theo sự vật trần cảnh bên ngoài (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

[20]* Tứ đại: đất, nước, gió, lửa. (xem Phật Học Từ Điển, ĐTC)

[21]* Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm ‘Đề Bà Đạt Đa’ thứ mười hai, Hòa Thượng Thích Trí Tịnh dịch.

[22]*Hữu tình: loài có tình thức hay có tình ái, là tiếng kêu chung các loài động vật trong Ba cõi (tam giới). PHTĐ- Đoàn Trung Còn.

[23]* Phát Bồ Đề Tâm, của Ngài Thật Hiền, HT Thích Trí Quang dịch.

[24]* Kinh Trung Bộ, bài kinh số 57 ‘Hạnh con chó’ bản dịch của Hòa Thượng Thích Minh Châu. Tóm tắt & chú giải: Thích Nữ Trí Hải, Hội Tương Tế Phật Giáo - Great Britain tái bản.

[25]* Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ của HT Thích Thanh Kiểm- Phú Lâu Na tái bản tại Hoa Kỳ 1991.

[26]Sát na: đơn vị thời gian thật ngắn, trong một giây có nhiều sát na trong đó, như một tích tắc của kim đồng hồ.

[27]* Tạng Thư Sống Chết, của Sogyal Rinpoche-Trí Hải dịch. Thanh Văn (Hoa Kỳ) tái bản lần thứ I.

[28]*Giải Thoát Trong Vòng Tay, của Pabongka Rinpoche, Ni sư Trí Hải dịch. Nxb Xuân Thu, 1998 tại Hoa Kỳ .

[29]* Thù: một cách cân ngày xưa. Hai mươi bốn thù là một lạng, một lạng ngày xưa là nửa lạng bây giờ.

[30]* Cồ Đàm: một tên gọi của đức Phật Thích Ca.

[31]* Bạt Già Phạm: một danh hiệu khác của đức Phật, với nghĩa đầy đủ phước trí.

[32]*Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. (Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào) lời kinh trong Kinh Kim Cương mà Lục Tổ Huệ Năng, nghe qua liền giác ngộ.

[33]* The Elements of Meditation của David Fontane, xuất bản ở Anh năm 1991, by Element Books Limited.

[34]*Buddha - a beginner’s Guide, tác giả Gillian Stokes, nxb Hodder & Stoughton (Great Britain).

[35]* Trích trong ‘Phật Học Tinh Hoa’ của Nguyễn Duy Cần.

[36]* Trích trong ‘Phật Học Phổ Thông’, của Hòa Thượng Thích Thiện Hoa. Khóa thứ nhất, bài thứ tư ‘Quy y Tam Bảo’.

[37]* Tục đế: Lý luận thế gian, theo suy luận của phàm phu (thế gian pháp). Chân đế: pháp xuất thế gian, là pháp thật của sự thật (chân lý).

[38]* Mạn: ngã mạn, tự kiêu, Nghi: nghi ngờ chánh pháp, Thân kiến: chấp thân này là thật có. Biên kiến: chấp chặt một bên, Kiến thủ: chấp giữ hiểu biết của mình. Giới cấm thủ: giữ giới sai với chánh pháp. Tà kiến: tin theo tà giáo.

[39]* Tứ thực: bốn cách thọ dụng ăn uống, như là Đoạn thực, Xúc thực, Tư thực, Thức thực. Tùy theo cảnh giới của tâm thức mà cách thọ thực khác nhau; và Đoạn thực là lối ăn uống thô kệch, không như lối ăn thanh nhẹ bằng ý thức ở những từng trời Sắc giới, Vô Sắc giới. (Xem phần Tứ Thực trong Phật Học Từ Điển ĐTC)

[40]* Trung Bộ Kinh tập 1, bản dịch Hòa Thượng Minh Châu tóm tắt & chú giải, Thích Nữ Trí Hải)

[41]Các Tông Phái của Đạo Phật. Tuệ Sỹ dịch. Nguyên tác ‘The Essentials of Buddhism Philosophy’

[42]* Sử Cương Triết Học Ấn Độ, của HT Thích Quảng Liên. Đại Nam (Hoa Kỳ) tái bản.

[43]Các Tông Phái Đạo Phật, Tuệ Sỹ dịch

[44]Bàn về Giáo Lý Duyên Khởi, T.T Thích Chơn Thiền, Viện Triết lý Việt Nam và Triết học thế giới xuất bản 1992.

[45]Triết Lý Thủ Lăng Nghiêm, HT. Thích Thiện Hoa, Phật Học Viện Quốc Tế (Hoa Kỳ) tái bản 1987.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn