Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Tiết 1: Tình trạng Thiền đời Minh

12/04/201102:54(Xem: 1011)
Tiết 1: Tình trạng Thiền đời Minh


LỊCH SỬ THIỀN TÔNG TRUNG QUỐC
Biên dịch: Nguyễn Nam Trân

Chương 6
Sự suy vong của Thiền Trung Quốc

Tiết 1: Tình trạng Thiền đời Minh

Nhà Minh dấy nghiệp. Địa vị của Thiền:

Trong những cuộc phản loạn cuối đời Nguyên có Chu Nguyên Chương (1328-98) , người đi theo giáo đoàn Hồng Cân, dần dần có thế lực vững mạnh hơn cả, rốt cuộc đã đuổi được triều đình nhà Nguyên về phương bắc và năm 1368, lên ngôi ở phủ Ứng Thiên. Đó là vua Thái Tổ nhà Minh (1368-1644) tức Hồng Vũ Đế (trị vì 1368-98). Ông đóng đô ở Nam Kinh, dùng các Nho gia như Lục Cơ (1311-1375) và Tống Liêm (1310-81) làm văn thần. Như truyền thống vẫn có ở Trung Quốc, ông lần lượt chỉnh đốn các định chế, và để giữ ngôi vị của mình, mở những cuộc thanh trừng chính trị nhằm loại bỏ các công thần khai quốc vì sợ họ tiếm ngôi.

Khi Hồng Vũ Đế mất đi, con của hoàng thái tử (mất sớm) lên ngôi tức Kiến Văn Đế (tại vị 1398-1402). Thế nhưng con thứ tư của Hồng Vũ Đế là Chu Đệ (1360-1425) không phục, dấy binh làm phản (sử gọi là cái biến Tĩnh Nạn [1]), phá được Nam Kinh, đuổi cháu là Huệ Đế và lên ngôi tức vua Minh Thành Tổ, thường được gọi là Vĩnh Lạc Đế (trị vì 1402-24), rồi thiên đô về Bắc Bình (Bắc Kinh).Trong đời Vĩnh Lạc, Trung Quốc có những cuộc viễn chinh đại quy mô để nâng cao uy thế quốc gia nhưng các hoàng đế về sau thì tầm thường, bên trong bị hoạn quan lấn áp, bên ngoài, về quan hệ ngoại giao chỉ biết giữ thế thủ.

Nhà Nguyên đã xem Chu Tử Học là hình thức giải thích Nho giáo đúng đắn nhất, lấy nó làm nòng cốt cho giáo dục nhà nước (quan học hóa).Nhà Minh tuy thừa kế điều đó nhưng đồng thời Vĩnh Lạc Đế cũng cho biên tập Lý Tính Đại Toàn, Tứ Thư Đại Toàn, Ngũ Kinh Đại Toàn để mưu đồ việc thống nhất hệ tư tưởng làm cho Chu Tử Học không phát triển về mặt nghiên cứu được nữa. Nho gia thời Minh rốt cuộc chỉ còn sử dụng cái học của mình để thi đậu làm quan.

Khi Hồng Vũ Đế (vốn có thời nương thân cửa Phật) tức vị, ông đã nghĩ ngay đến việc quản lý Phật giáo bằng cách đặt Thiện Thế Viện trong chùa Thiên Giới ở Nam Kinh (dưới thời Nguyên, chùa này có tên là Long Tường Tập Khánh Tự). (Viện ấy đến năm 1381 lại được đổi tên là Tăng Lục Ty (ty sở đăng ký chư tăng) và thời Vĩnh Lạc Đế được dời về Bắc Kinh). Mặt khác, ông tự thảo Tam Giáo Luận, lấy Nho giáo làm chủ, Phật và Lão chỉ phụ theo, cực lực tán dương một chính sách "tam giáo nhất trí" dưới hình thức như thế. Để thể hiện điều đó, ông thường cho tổ chức những pháp hội ở Thái Bình Hưng Quốc Tự trên Tưởng Sơn mà thực ra chỉ là những buổi lễ trấn quỉ chiêu hồn.

Như vậy Phật Giáo chỉ còn đóng vai trò vây cánh của quốc gia và nhà Minh đã xác định và tăng cường tính quốc gia chủ nghĩa của Phật giáo vốn có từ đời Tống. Để đạt mục đích đó, Hồng Vũ Đế làm sống lại chế độ "thí kinh độ tăng" buộc tăng sĩ phải thông hiểu kinh kệ và cùng lúc, lập Chu Tri Sách tức danh bạ các nhà sư. Tất cả nhằm loại bỏ những "ngụy lạm tăng" (sư giả mạo, lạm dụng) (thời đó, đi tu thì được đãi ngộ về thuế má). Hơn thế, ở Kim Lăng, ông cho biên tập và san hành Đại Tạng Kinh (Nam Tạng, 1372-1403) . (Đến đời con ông, Vĩnh Lạc Đế, ở Bắc Kinh lại biên tập và san hành Đại Tạng Kinh một lần nữa, cũng mất một khoảng thời gian dài từ 1419 đến 1440. Đó là Bắc Tạng). Nói chung, đầu đời Minh, vận hội của Phật giáo vẫn còn hưng thịnh và có nhiều danh tăng xuất hiện.

Trong số tăng lữ nổi tiếng thời Minh sơ, phái Đại Huệ là đông nhất.Trước tiên phải nhắc đến các đệ tử của Tiếu Ẩn Đại Hân (1284-1344) như Giác Nguyên Huệ Đàm (1304-71) và Quý Đàm Tông Lặc (1318-91), cả hai đều trụ trì Thiên Giới Tự ở Kim Lăng. Đặc biệt Tông Lặc được biết đến như người đã biên soạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Kinh Chú Giải và Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Chú Giải. Ngoài ra còn có đệ tử của Giác Nguyên Huệ Đàm là Bảo Nham Tịnh Giới (năm sinh năm mất không rõ), người đã tham gia vào việc biên soạn Nam Tạng và nhập tạng nhiều thư tịch Thiền Tông.Lại phải kể đến đệ tử của Ngu Am Trí Cập (1311-78) và cũng là tác giả của Đạo Dư Lục (1412) tức Độc Am Đạo Diễn (Diêu Quảng Hiếu, 1335-1418), đệ tử của Mộng Đường Đàm Ngạc (1285-1373) và cũng là tác giả của Phật Pháp Kim Thang Biên (1391) tức Đại Tông Tâm Thái (1327-1415). Sau các ông một ít năm, có tác giả Thướng Trực Biên (1440) là Không Cốc Cảnh Long (1393-1443?). Hai quyển Đạo Dư Lục và Thướng Trực Biên ra đời với mục đích trả lời mà Tống Nho phê phán Phật giáo, còn Phật Pháp Kim Thang Biên thu thập truyện ký của các người quy y Phật Pháp qua các thời. Cả ba đều được viết với tinh thần hộ pháp. Tinh thần ấy cũng được chia sẻ bởi cư sĩ Thẩm Sĩ Vinh khi ông viết Tục Nguyên Giáo Luận (1385).

Độc Am Đạo Diễn

Tên thật là Diêu Thiên Hy, quê ở Trường Châu (Tô Châu thuộc tỉnh Chiết Giang). Xuất gia lấy hiệu là Độc Am Đạo Diễn, thờ Ngu Am Trí Cập làm thầy và trở thành pháp tự của ông. Năm 1382, sau khi hoàng hậu của Hồng Vũ Đế mất, ông được cử đi đến chỗ đóng binh của con trai của Hồng Vũ là Yên Vương Chu Đệ (sau sẽ là Minh Thành Tổ) làm lễ cầu siêu. Từ đó theo hầu Yên Vương luôn. Lúc Hồng Vũ Đế băng, ông hiến kế cho Yên Vương tạo ra cái biến Tĩnh Nạn (1399) chiếm ngôi vua nên được tin dùng, cho cai quản toàn thể Phật Giáo (Tăng Quan Ty Tả Thiện Thế). Nhà vua lại trọng dụng, khẩn khoản bắt ông hoàn tục. Do đó Đạo Diễn lấy lại họ cũ, được ban tên mới là Quảng Hiếu, chức Tư Thiện Đại Phu, Thái Tử Thiếu Bảo. Tuy vậy ông vẫn không chịu lấy vợ, còn cất dinh ngay trong chùa. Liên lạc mật thiết với các tăng lữ Nhật Bản và từng viết bài tựa cho cuốn Shôkenkô (Tiêu Kiên Cảo, 1403), tác phẩm của Zekkai Chuushin (Tuyệt Hải Trung Tân) và cuốn Chikaku Fumyô Kokushi Goroku (Trí Giác Phổ Minh Quốc Sư Ngữ Lục, 1404) của Shunnoku Myoba (Xuân Ốc Diệu Ba). (Nhân đây xin thông tin là người thầy trực tiếp của Zekkei Chuushin là Quý Đàm Tông Lặc - một tăng lữ đời Minh khác - cũng đã viết lời tựa cho Kuukashuu (Không Hoa Tập) của Gidô Shuushin (Nghĩa Đường Chu Tín, 1325-88)và Entsuu Daiô Kokushi Goroku (Viên Thông Đại Ứng Quốc Sư Ngữ Lục) của Nanpo Shômin (Nam Phố Thiệu Minh, 1235-1308)).

Văn hóa đời Minh có khuynh hướng phục cổ nên thiếu tính sáng tạo. Nội dung những tác phẩm đến từ Thiền môn trong thời đại này chỉ có mục đích phản biện lại những lời bài báng của nhóm người theo Chu Tử Học hay xác nhận lập trường tam giáo nhất trí trong hệ tư tưởng của mình nghĩa là đáp ứng những đòi hỏi của chính quyền nhà Minh. Đặc biệt Đạo Diễn lại là mưu thần của Vĩnh Lạc Đế trong vụ Tĩnh Nạn. Tuy nhiên đây không có nghĩa là Thiền Tông tìm cách chạy theo đuôi triều đình nhưng hình như lối suy nghĩ kết hợp hai bên như thế này đã trở thành một thông lệ trong xã hội đương thời. Ví dụ kiến quốc công thần có công lớn của triều Minh là nhà nho Tống Khiêm đã từng hỏi đạo Thiên Nham Nguyên Trường (1284-1357), hiệu Vô Tướng Cử Sĩ, người phái Phá Am. Tư tưởng của Tống Khiêm do đó nặng màu sắc Thiền Tông (họ Tống có viết Hộ Pháp Lục). Ông từng soạn các bài minh văn cho Musô Soseki (Mộng Song Sơ Thạch) và là một nhân vật có liên hệ mật thiết với người Nhật.

Dù chính quyền tỏ rõ ý chí muốn kiềm chế Phật giáo nhưng từ đời Minh Anh Tông (trị vì 1435-49) trở đi, con số người xuất gia có độ điệp (độ tăng, gồm có tư độ và quan độ) thêm lên nhiều. Tiếp đến đời Cảnh Tông, chính quyền vì cần có nhiều tiền để thanh toán các phí tổn quân sự khi hành quân ở Oirat [2] (Ngõa Thích), nên không ngần ngại đem độ điệp đánh đổi lấy tiền, ngoài ra còn lấy các chức tăng quan làm đồ buôn bán. Hai thói xấu gọi là "mãi độ", "mãi quan" đó đến đời Hiến Tông (tại vị 1464-87) đã trở thành chuyện cơm bữa, người ta không còn coi trọng việc đánh giá nhân cách các "độ tăng" chỉ nghĩ đến việc hốt tiền để bù đắp vào lỗ trống trong ngân sách. Đến đời Thế Tông (trị vì 1521-66), chính quyền còn mạnh tay đàn áp Phật giáo, chẳng hạn phong tỏa các giới đàn (đàn bằng đá xây lên dùng vào việc truyền thụ giới luật cho tăng ni)...cho nên hoạt động của các thiền tăng vào khoảng giữa đời Minh chẳng có gì khởi sắc. Không thấy có tác phẩm nào ra đời vào thời này được lưu truyền hậu thế. Ngay cả nhà hoạt động Phật Giáo có tiếng thời Minh mạt là Tử Bách Chân Khả thì pháp hệ của ông cũng rất mơ hồ. Điều đó không phải là không liên quan gì đến việc nhận định rằng Thiền Tông Trung Quốc bắt đầu suy thoái kể từ thời điểm này.

Dương Minh Học ra đời. Ba vị cao tăng thời Vạn Lịch:

Kể từ giữa đời Minh trở đi, tiểu công nghệ như nghề dệt, chế đồ gốm, chế đường, làm giấy...phát triển mạnh. Các đô thị, chủ yếu là vùng Giang Nam, trở nên phồn thịnh. Một tầng lớp cai trị tên gọi là "hương thân" (thân hào nhân sĩ địa phương) xuất hiện. Nhờ đó văn hóa được nâng cao và vai trò của Thiền Tông được chú ý trở lại. Nhân vì trong tư tưởng của Thiền đã hàm chứa niềm khao khát đi tìm sự tự do tuyệt đối cho nên nó đem đến cho người thời đại này một cơ hội để vượt ra khỏi cái khuôn khổ cứng nhắc của Chu Tử Học.

Trong dòng chảy của thời đại bấy giờ, một nhân tài lỗi lạc đã ra đời. Đó là Vương Thủ Nhân (Dương Minh, 1472-1528), người đã sáng tạo một Tân Nho Học có tên là Dương Minh Học. Thủ Nhân khi hãy còn là một thư sinh, đã bỏ nhiều thời giờ học hỏi về Thiền Tông. Những khái niệm cơ bản trong hệ tư tưởng của ông như "tâm tức lý", "tri hành hợp nhất", "trí lương tri" rõ ràng đã nhận ảnh hưởng của Thiền. Ta thấy sự di chuyển từ "tính tức lý" của Chu Tử Học qua "tâm tức lý" của Dương Minh Học đã có một quan hệ song song với diễn tiến từ "kiến tính thành Phật" qua " tức tâm tức Phật" của thiền gia. Còn như "tri hành hợp nhất" và "trí lương tri" thì có thể nói đó là hai khai niệm tương ứng với "toàn thể tác dụng" và "bình thường tâm thị đạo" trong ngôn ngữ Thiền Tông. Thế nhưng, Vương Thủ Nhân khác với Chu Hy ở chỗ là ông không hề mang nặng tinh thần bè phái (sectarian) để có thể lên tiếng bài xích Thiền Tông. Tư tưởng nhà Thiền sẽ còn ảnh hưởng trên lớp người nối tiếp con đường của ông như Vương Kỳ (Long Khê, 1498-1583), Vương Cấn (Tâm Trai, 1483-1540), Trần Hiến Chương (Bạch Sa, 1428-1500), Lâm Triệu Ân (1517-98) vv...đến độ hun đúc được những nhà tư tưởng không phân biệt Phật và Nho như Lý Chí [3](Trác Ngô, 1527-1602).

Cánh tả của Dương Minh Học

Nếu Nhiếp Báo (Song Giang, 1487-1563) và La Hồng Tiên (Niệm Am, 1504-1564) được coi như là những nhà tư tưởng thuộc "cánh hữu", Tiền Đức Hồng (Tự Sơn, 1496-1574) đứng ở khoảng giữa, thì Vương Kỳ, Vương Chấn cũng như Chu Nhữ Đăng (Hải Môn, 1547-1629) thuộc về cánh tả của học phái Vương Dương Minh. Cánh hữu chủ trương trước khi "lương tri" phát động thì bản thể phải xác định xong cái đã. Tuy nhiên, phải tả giải thích rằng "lương tri" là cái từ xưa vốn đã hoàn thành nơi con người, không cần tu dưỡng mới có, lại nữa, "lương tri" đã nằm sẳn ngay cả trong dục vọng của con người, cứ sống triệt để thì ngay cả trong cuộc sống bình thường, "lương tri" cũng có thể bộc lộ ra một cách trọn vẹn. Nếu nhìn vào, ta thấy lối suy nghĩ này rõ ràng mang dấu ấn rất sâu đậm của tư tưởng Thiền Tông. Thế nhưng, ngoài điều đó ra, tư tưởng của các ông cánh tả còn dựa lên cả lập trường tam giáo nhất trí. Lý Chí (trác Ngô) đi xa hơn nữa với cách suy luận này. Ông kêu gọi mọi người phải tôn trọng cái tâm nguyên sơ và thuần túy mà ông gọi là "đồng tâm" (tấm lòng trẻ thơ), lại lên tiếng phê phán những giá trị quan đã trở thành nền nếp (hình hài hóa). Ông khẳng định vai trò của dục vọng, xem nó như vật đối kháng với truyền thống Nho giáo, rồi dựa lên trên những tiêu chuẩn giá trị độc đáo của riêng mình, đánh giá lại những nhân vật lịch sử trong quá khứ, kể cả Tần Thủy Hoàng.

Làm như muốn đáp lời với các nhân vật thuộc trường phái Vương Dương Minh, trong giai đoạn này, phía Thiền Tông cũng có nhiều nhân tài lục tục tiến ra góp mặt. Tiêu biểu hơn cả là 3 vị cao tăng thời Vạn Lịch (Vạn Lịch tam cao tăng): Vân Thê Chu Hoằng (phái Phá Am, Liên Trì, 1535-1615), Tử Bách Chân Khả (Đạt Quan, 1543-1603) và Hám Sơn Đức Thanh (phái Phá Am, 1546-1623).Nếu tính thêm Ngẫu Ích Trí Húc (1599-1655) của phái Thiên Thai nữa, ta sẽ có đủ 4 vị làm thành "Minh mạt tứ đại sư".

Duy có điều là tông phong của các vị không đồng nhất. Hám Sơn Đức Thanh và Tử Bách Chân Khả thuộc tông phái Đại Huệ Tông Cảo (1089-1163) có lập trường tích cực tham dự các hoạt động xã hội, chứ như Vân Thê Chu Hoằng thì - có lẽ là vì tuổi tác hơi cao - trước sau giữ lập trường ôn hòa, chỉ chuyên chú vào việc tụng kinh niệm Phật. Trong ba vị, riêng Chu Hoằng được đề cao hơn cả, có thể vì tư tưởng thuận dòng đời của ông dễ được giai cấp lãnh đạo chấp nhận.

Tử Bách Chân Khả và Hám Sơn Đức Thanh:

Tử Bách Chân Khả người đất Cú Khúc (thuộc tỉnh Giang Tô), vốn họ Thẩm, tự Đạt Quan. Năm 17 tuổi xuất gia, nhân nghe bài kệ của tú tài Trương Chuyết (một cư sĩ sống vào hậu bán thế kỷ thứ 9) mà đại ngộ. Trụ trì chùa Thanh Lương Tự ở Yên Kinh (Hà Bắc). Cùng với Hám Sơn và chư tăng trong khoảng năm 1589-1643? đã san hành Đại Tạng Kinh bản đời Vạn Lịch ở Ngũ Đài Sơn (Sơn Tây) và Kính Sơn (Chiết Giang), lại tích cực truyền giáo. Đại Tạng Kinh này về sau còn được tăng bổ nhiều thiền tịch và cho in lại nhiều lần trong đời Khang Hy (Tục Tạng, 1666 và Hựu Tục Tạng, 1676). Thế nhưng vì hay phê bình nhà cầm quyền nên bị người hãm hại, mang tội vào thân đến nỗi tự sát trong ngục. Ông để lại nhiều trứ tác thu thập trong Tử Bách Tôn Giả Toàn Tập (1621) và Tử Bách Tôn Giả Biệt Tập (1660). Toàn Tập do bạn ông và cũng là người cùng chí hướng, Hám Sơn Đức Thanh biên tập. Bài minh trên tháp ông cũng do Hám Sơn viết.

Về phần Hám Sơn Đức Thanh, ông là người họ Sái đất Kim Lăng (thuộc tỉnh Giang Tô). Năm 12 tuổi xuất gia, 19 tuổi thụ cụ giới rồi sau đó học Thiền. Ông trở thành pháp tự của Vân Cốc Pháp Hội (1501-1575), đã trụ trì trên Ngũ Đài Sơn (Sơn Tây) và Lao Sơn ở Thanh Châu (Sơn Đông). Có lúc vì tự tiện mở chùa riêng nên bị tống giam, sau khi được thả ra mới đến Tào Khê (tỉnh Quảng Đông) truyền giáo và chuyên lo việc phục hưng già lam cũng như xuất bản Lục Tổ Đàn Kinh. Tác phẩm của ông đồ sộ, đã được biên tập lại thành Hám Sơn Đại Sư Mộng Du Toàn Tập.

Vân Thê Chu Hoằng:

Ông họ Thẩm, quê Hàng Châu (Chiết Giang). Lấy hiệu là Liên Trì. Năm 31 tuổi xuất gia học Thiền., trở thành pháp tự của Tiếu Nham Đức Ngọc (1512-81). Năm 37 tuổi vào núi Vân Thê ở Hàng Châu, từ đó, dùng cơ sở này làm bàn đạp để truyền giáo quanh vùng. Ông nổi tiếng vì đã kết hợp tín đồ thành hội đoàn. Bài minh trên tháp của ông cũng do Hám Sơn soạn. Về mặt tư tưởng, trong khi truyền đạo, ông tỏ ra coi trọng Tịnh Độ Giáo, lại nữa, lối suy nghĩ của ông có nhiều yếu tố Đạo giáo. Do đó, đời thường xem ông như vị tổ thứ 8 của phái Liên Hoa. A Di Đà Kinh Sớ Sao, Tri Môn Sùng Hành Lục (1585), Thiền Quan Sách Tiến (1600), Tự Tri Lục (1605), Trúc Song Tùy Bút (1615)... là những tác phẩm của ông đã được thu thập lại trong Vân Thê Pháp Vị (1624). Tri Môn Sùng Hành Lục kể lại và tán dương những tấm gương trung thần, hiếu tử của tăng đồ. Trong Tự Tri Lục, ông đem khái niệm "công quá cách" [4] của Đạo giáo vào Phật giáo. Tư tưởng ấy thúc đẩy mạnh thuyết "Tam giáo nhất trí" vốn đã phát triển tự thời Tống về sau. Ảnh hưởng của ông lớn lao đến nổi được xem như một vị cao tăng thời Minh mạt mà không chuyện gì lại không nhúng tay vào. Để đặt qui luật sinh hoạt cộng đồng cho tăng lữ trong khi tu tập, ông đã soạn "Cộng Trú Thanh Quy". Mãi đến ngày nay trong tùng lâm Trung Quốc, nội quy này vẫn được sử dụng như nền tảng cho cuộc sống tập đoàn. Ông đã đính chính Pháp Giới Thánh Phàm Thủy Lục Thắng Hội Tu Trai Nghi Quĩ do người đời Tống là Chí Bàn (1220-1275) soạn, phổ biến nghi thức Thủy Lục Hội hay "cúng cô hồn" để phúng viếng cả những vong linh chết trôi sông lạc chợ chứ không riêng gì kẻ thuộc gia đình các thí chủ. Về sau, đến đời Thanh,hoàng đế Ung Chính (trị vì 1722- 35) xem ông như một tấm gương tốt nhưng có lẽ lý do là tính tình ông ôn hòa, tư tưởng của ông thường thuận dòng với đường lối của chế độ.

Trong một thời đại mà Thiền được xã hội chú ý thì không những đại chúng tín đồ Phật giáo mà cả giới sĩ đại phu cũng có nhiều người đi theo. Phải nói là ảnh hưởng của Thiền thấm sâu vào mọi giai tầng. Trong số các cư sĩ chịu ảnh hưởng của Vân Thê Chu Hoằng phải kể đến Phùng Mộng Trinh (Khai Chi, 1548-1605), Quản Chí Đạo (Đông Minh, 1537-1608), Nghiêm Nột (Mẫn Khanh, 1511-84), Nghiêm Trừng (Đạo Triệt, 1547-1625). Theo học Tử Bách Chân Khả thì có Lục Quang Tổ (Ngũ Đài, sống khoảng giữa thế kỷ 16), Phùng Mộng Trinh, Cù Nguyên Lập (Nhữ Tắc, môn hạ của Quản Chí Đạo, 1548-1610). Riêng về Hám Sơn Đức Thanh, từ cửa ông có Dương Khởi Nguyên (Phục Sở, 1547-1599), Chu Nhữ Đăng (Hải Môn, 1547-1629) (Chu Nhữ Đăng cũng từng giao lưu với Đam Nhiên Viên Trừng và Tử Bách Chân Khả).

Dầu sao mối giao hảo đáng được đề cập đến hơn cả là liên hệ giữa thiền tăng và các nghệ sĩ. Họa gia phái Hoa Đình là Tống Húc (1526-1606) từng học Thiền, cùng phái với ông là họa gia kiêm thư đạo gia và nhà sưu tập mỹ nghệ phẩm nổi tiếng Đổng Kỳ Xương (155-1636). Ông này cũng hay qua lại với Tử Bách Chân Khả. Đổng Kỳ Xương có tập Họa Thiền Thất Tùy Bút rất nổi tiếng, trong đó ông đã khai triển lý luận về hai họa phái Nam Tông và Bắc Tông.Ông cho rằng sự dị biệt của tông phong hai dòng Thiền Nam Bắc đã để lại dấu ấn trên cách diễn tả của hai họa phái. Về mặt văn học thì Viên Tông Đạo (1569-1610), người đã đề xướng "Tính Linh Thuyết" [5] cũng từng có mối quan hệ với Hám Sơn Đức Thanh. Còn như Thang Hiển Tổ (1550-1616), người đề xướng "Tình Thuyết" và là nhà soạn kịch nổi tiếng với những vở tuồng như Mẫu Đơn Đình Hoàn Hồn Ký thì thấy trong văn chương ông đã thấp thoáng hình bóng của hai thiền sư Đạt Quan và Chu Hoằng. Trong thời buổi ấy, với bối cảnh kinh tế các đô thị phát triển mạnh, Kim Bình Mai (khoảng 1600), tiểu thuyết viết bằng lối văn nói thông tục với mục đích luân lý răn đe trộm cắp và dâm đãng (hối dâm, hối đạo) đã ra đời, nhưng đồng thời, qua nó ta cũng thấy tư trào đi tìm sự giải phóng cá tính và tình cảm của người đương thời. Những nhà nghệ sĩ chú ý đến Thiền là vì họ mong sẽ dùng tư trưởng Thiền Tông để làm cơ sở cho những sáng tác của họ.

Như thế, ta thấy Thiền đã mượn tư tưởng của Dương Minh Học để phối hợp với nhau làm thành một cuộc cách tân về mặt tư tưởng. Thế nhưng họ đã gặp phải những phản ứng bất lợi. Năm 1587, những từ ngữ Phật Giáo đã bị cấm khỏi trường thi, năm 1595, thiền sư Tử Bách Chân Khả bị vu cáo và mang tội vào thân. Năm 1602, Lý Chí và Chân Khả "lưỡng đại giáo chủ" bị bắt giam và chết trong ngục. Thiền cũng như Dương Minh Học sau một thời cùng nhau rong ruỗi đã đi về phía bế tắc.

Thời thiền tăng thi nhau xuất hiện. Tranh luận được châm ngòi:

Sự mong đợi của người đời đối với Thiền Tông càng ngày càng lớn. Do đó, vào thời đại này, có nhiều tăng sĩ xuất chúng ra đời. Không kể 3 vị được gọi là "Vạn Lịch tam cao tăng", hãy còn nhiều người khác tuy chỉ giới hạn trong vòng phái Phá Am của tông Lâm Tế và tông Tào Động. Phái Phá Am tông Lâm Tế có Huyễn Hữu Chính Truyền (1549-1614) và các đệ tử của ông như Thiên Ẩn Viên Tu (1575-1635), Mật Vân Viên Ngộ (1566-1642), Ngữ Phong Viên Tín (1571-1647) rồi thêm các đệ tử của Viên Ngộ như Hán Nguyệt Pháp Tàng (1573-1635), Phí Ẩn Thông Dung (1593-1661), Mộc Trần Đạo Mân. Tông Tào Động có Vô Minh Huệ Kinh (1547-1617) và Đam Nhiên Viên Trừng (1561-1626), thêm vào đó, lại có đệ tử của Huệ Kinh là Vô Dị Nguyên Lai (1575-1630) và Vĩnh Giác Nguyên Hiền (1578-1657), Hối Đài Nguyên Kính (1577-1630), đệ tử Nguyên Hiền là Vi Lâm Đạo Bái (1615-1702), đệ tử Nguyên Kính là Giác Lãng Đạo Thịnh (1592-1659)...

Về những đóng góp của các danh tăng đó, có thể nhắc tới vai trò Mật Vân Viên Ngộ, người đã đến trụ trì ở Thiên Đồng Sơn năm 1628, tái tạo cảnh chùa đã đổ nát vì cơn lũ lớn năm 1587. Ông được xem như là "Lâm Tế thứ hai" (Lâm Tế tái lai) vì kể từ đó, đệ tử của ông đã nối tiếp trụ trì trên núi Thiên Đồng này. Ngoài ra, Đam Nhiên Viên Trừng là người giỏi về trứ tác, đã để lại nhiều sách vở như Lăng Nghiêm Kinh Ức Thuyết [6], Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải vv...Cùng với Vô Dị, Đam Nhiên được xem như người đã trung hưng tông Tào Động. Phần Vô Dị, ông rất năng nỗ trong công tác xã hội như thu nhặt xương cốt người chết và phát chẩn cho dân nghèo, còn Vĩnh Giác Nguyên Hiền thì lo giáo dục người bình dân, dạy họ niệm Phật, giữ giới, phóng sinh.

Cũng cần nói thêm về các nhân vật như Phí Ẩn Thông Dung, tác giả của Ngũ Đăng Nghiêm Thống, tác phẩm đã có tiếng vang rất lớn trong giới Phật giáo thời bấy giờ, hay Hán Nguyệt Pháp Tàng mà trứ tác Ngũ Tông Nguyên (1628) đã bị sư phụ là Mật Vân Viên Ngộ phê phán trong Tịch Vọng [7] Cứu Lược Thuyết, cũng như học trò của Hán Nguyệt là Đàm Cát Hoằng Nhẫn (1599-1638) đã viết Ngũ Tông Cứu (1637) để bênh vực thầy mình. Đó là chưa kể sự đối lập giữa Mộc Trần Đạo Mân và Kế Khởi Hoằng Trữ (đệ tử của Pháp Tàng, 1605-72) đã châm ngòi cho những cuộc tranh luận dai dẳng trong nội bộ Phật giáo thời Minh mạt Thanh sơ.

Phí Ẩn Thông Dung và ảnh hưởng của ông:

Phí Ẩn người đất Mân (Phúc Kiến), gốc họ Hà. Mồ côi cha lẫn mẹ rất sớm, 14 tuổi xuất gia học giáo học. Sau đó chuyển qua Thiền, học các thầy như Đam Nhiên Viên Trừng, Vô Dị Nguyên Lai, Mật Vân Viên Ngộ, cuối cùng trở thành pháp tự của Viên Ngộ.Ông trụ trì ở nhiều chùa danh tiếng như A Dục Vương Sơn (Chiết Giang), Hoàng Bá (Bích) Sơn (Phúc Kiến), Kính Sơn (Chiết Giang). Đã để lại những tác phẩm như Phí Ẩn Thiền Sư Ngữ Lục (do Phí Ẩn Long Kỳ biên tập), Ngũ Đăng Nghiêm Thống (1650), Tổ Đình Kiềm Chùy [8] Lục, Thiền Tông Ngư Tiều Tập (1652).

Gia phong của tông môn ông là lối thiền dữ tợn nghĩa là quát mắng và đánh đòn (hát bổng) đúng như truyền thống của Lâm Tế. Ngay cả đối với người mình có lần thờ làm thầy là Vô Dị Nguyên Lai hay đồng môn như Hán Nguyệt Pháp Tàng, ông cũng phê phán. Không những thế, ông thường xuyên tranh luận với các đệ tử của Đam Nhiên Viên Trừng như Thụy Bạch Minh Tuyết (1584-1641) và Ngọc Lâm Thông Tú (1614-75). Trong Ngũ Đăng Nghiêm Thống, ông kế tục cách nhìn của Giác Phạm Huệ Hồng, thừa nhận sự hiện hữu của Thiên Vương Đạo Ngộ [9], lại cho rằng hai phái Vân Môn và Pháp Nhãn không xuất phát từ Thanh Nguyên Hành Tư mà từ Nam Nhạc Hoài Nhượng. Ông còn cho rằng việc truyền pháp tự giữa thầy trò Vô Minh Huệ Kinh và Vô Dị Nguyên Lai không được rõ ràng, phủ nhận việc xem Tiến Phúc Thừa Cổ là đệ tử của Vân Môn (thuyết này từng được Mộc Trần Đạo Mân chủ trương trong Thiền Đăng Thế Phổ và đã có từ đời thầy của Mộc Trần là Mật Vân Viên Ngộ).

Nói chung những lập luận của ông khá đặc biệt, gây được sự chú ý nhưng bù lại, cũng bị nhiều người phê bình nghiêm khắc. Những người bài bác ông là Giác Lãng Đạo Thịnh, Viễn Môn Tịnh Trụ (1601-54, người viết Biện Hoặc Biên), Bách Ngu Tịnh Tư (1610-65, người viết Tịch Mậu Thuyết [10]). Để trả lời họ, ông có viết Ngũ Đăng Nghiêm Thống Giải Hoặc Biên (1654) nhưng rốt cuộc, khi bỏ đi, không trụ trì ở Kính Sơn nữa thì đành phải bỏ mặc kệ bản khắc gỗ của Ngũ Đăng Nghiêm Thống trong tình trạng cũ. Về sau, khi thấy Hối Sơn Giới Hiển (1610-72), người chia sẻ ý nghĩ với Phí Ẩn Thông Dung, lại dùng những luận cứ của ông khi soạn văn bia cho chùa Thiên Vương Tự (tức chùa mang tên Thiên Vương Đạo Ngộ), Bạch Nham Tịnh Phù (tức Vị Trung Tịnh Phù, năm sinh năm mất không rõ) đã viết Pháp Môn Sừ Quỹ [11] (1667) để buộc tội.

Phí Ẩn Thông Dung cũng như Viên Trừng, Nguyên Lai, Nguyên Hiền đều để lại ngữ lục của họ nhưng trứ tác đặc biệt của thời này là thể loại đăng sử. Đó là Chỉ Nguyệt Lục (1602) của Cù Nguyên Lập, Thiền Đăng Thế Phổ (1631) của Mộc Trần Đạo Mân, Ngũ Đăng Hội Nguyên Tục Lược (1648) của Viễn Môn Tịnh Trụ, Ngũ Đăng Nghiêm Thống (1650) của Phí Ẩn Thông Dung và Kế Đăng Lục (1651) của Vĩnh Giác Nguyên Hiền. Thêm vào đó, qua Biện Hoặc Biên (1654) của Tịnh Trụ, Ngũ Đăng Nghiêm Thống Giải Hoặc Biên (1654), Tịch Mậu của Đạo Bái, những người này đã muốn chỉnh lý những vấn đề về mặt tổ thống hãy còn chưa giải quyết. Loại trứ tác nói trên sở dĩ ra đời nhiều như vậy bởi vì trong bối cảnh đương thời, ý thức về tông phái trong các nhóm Thiền Tông lên rất cao.Ví dụ tăng lữ phái Lâm Tế đã cho in các cuốn Nguyên Lưu Tụng trong đó trình bày truyện ký và các bài tụng của tổ sư mình ( Phí Ẩn Thông Dung có Tào Khê Nguyên Lưu Tụng), tông Tào Động cũng khẳng định lại thiền phong của mình với lý luận về "ngũ vị" (Động Sơn ngũ vị: phương pháp đặc thù tiếp dẫn người học của tông Tào Động) có chép trong Động Thượng Cổ Triệt [12] (1644) của Vĩnh Giác Nguyên Hiền. Cùng với Bác Sơn Tham Thiền Cảnh Ngữ của Nguyên Lai, Động Thượng Cổ Triệt đã ảnh hưởng lớn đến tùng lâm Nhật Bản thời Edo (1603-1867).

Việc có ý thức cao về Thiền đã đưa đến sự củng cố tính cách tông phái nhưng không chỉ đem tới chừng đó hậu quả. Nó còn làm cho phương thức bổ dụng các trụ trì gọi là "thập phương tuyển hiền" nghĩa là dùng người bên ngoài đến trụ trì chùa mình mất đi cơ năng. Từ rày về sau các chùa danh tiếng ở địa phương (thập sát) có khuynh hướng chỉ chọn trụ trì trong vòng những người cùng một tông phái. Dần dần "nhất lưu tương thừa sát" trở thành hầu như một định chế. Những tự viện nào theo qui luật "luân trụ" này được gọi là "truyền pháp tùng lâm". Các chùa Tiêu Sơn Định Huệ Tự (huyện Đan Đồ tỉnh Giang Tô), Bác Sơn Năng Nhân Tự (huyện Quảng Phong tỉnh Giang Tây), Cổ Sơn Dũng Tuyền Tự (huyện Mân tỉnh Phúc Kiến), Thọ Xương Tự (huyện Tân Thành tỉnh Giang Tây) mối nơi đều bị một trong các phái của Đam Nhiên Viên Trừng,Vô Dị Nguyên Lai, Vĩnh Giác Nguyên Hiền, Giác Lãng Đạo Thịnh dùng làm cứ điểm. Thiên Đồng Sơn và A Dục Vương Sơn thì do các đệ tử của phái Mật Vân Viên Ngộ dùng làm "truyền pháp tùng lâm", Linh Ẩn Tự và Tịnh Từ Tự là "truyền pháp tùng lâm" của phái Hán Nguyệt Pháp Tàng (nhân vì Pháp Tàng có vào tu ở Tam Phong Thanh Lương Tự ở Tô Châu (Giang Tô), môn phái của ông được gọi là Tam Phong Phái. Thời này, khuynh hướng biên tập các "tự chí" (sách ghi chép về lịch sử một ngôi chùa) trở nên rầm rộ, chắc cũng chịu ảnh hưởng của tình huống này. (Các tự chí tiêu biểu nhất có Kính Sơn Chí do Cao Tắc Soạn biên, Thiên Đồng Tự Chí do Trúc Song Đức Giới biên, Minh Châu A Dục Vương Sơn Chí do Quách Tử Chương biên, Tịnh Từ Tự Chí do Tế Tường biên và Linh Ẩn Tự Chí do Giới Hiển biên.

Ngoài những việc nói trên, có một số trứ tác đáng lưu ý đã ra đời trong giai đoạn này. Có thể nhắc đến Cư Sĩ Phân Đăng Lục (1631) của Chu Thì Ân (Tâm Không Cư Sĩ, 1564- ? ), Tiên Giác Tông Thừa của Ngữ Phong Viên Tín và Quách Ngưng Chi (tiền bán thế kỷ 17). Sự góp mặt của các tác phẩm ấy chứng tỏ có một trào lưu biên tập truyện ký trong vòng các cư sĩ Thiền Tông. (Ta còn được biết Ngữ Phong Viên Tín và Quách Ngưng Chi đã biên tập và san hành Ngũ Gia Ngữ Lục). Chu Thì Ân lại viết một cuốn thông sử (loại lịch sử tổng hợp) về Phật giáo theo lối biên niên nhan đề Phật Tổ Cương Mục (1633). Kể từ đời Thanh trở đi, ông đã trở thành nhân vật tiên khu đáng lưu ý trong phong trào Phật giáo mà lần này sẽ do các cư sĩ đứng ra đảm đương. Các vị cư sĩ này cũng có mối quan hệ mật thiết với các giáo đoàn những người xuất gia đến từ giai cấp hương thân (kỳ hào địa phương). Tuy vậy, lúc ấy cũng là thời điểm mà những đoàn thể Thiền Tông do nông dân làm trung tâm như Vô Vi Giáo hay Tây Lai Giáo xuất hiện dưới hình thức kết xã. Các cư sĩ bài xích họ, cho là mê tín dị đoan, thế nhưng nếu các giáo đoàn kiểu đó ra đời thì cũng bởi có sự hiện hữu của giới cư sĩ vậy.

Đặc điểm của tư tưởng Thiền cuối đời Minh:

Trước đó, vào giữa đời Minh, đã bùng nổ ra một phong trào bài Phật của Nho gia. Hồ Cư Nhân (Kính Trai, 1434-1484) viết Cư Nghiệp Lục (san hành năm 1504) và La Kham Thuận (Chỉnh Am, 1465-1547) viết Khốn Tri Ký (san hành năm 1552) với mục đích phê phán Phật giáo. Thế nhưng đến giai đoạn Minh mạt và qua hình ảnh sự kết hợp giữa Dương Minh Học và Thiền như đã nói thì tư tưởng "Thiền Nho nhất trí", "Tam giáo nhất trí" đã vượt qua khỏi cái khung Nho-Phật-Đạo tam giáo và trở thành một chuyện đương nhiên.

Những nhà nho như Lâm Triệu Ân (Long Giang, Lâm Giáo tiên sinh, 1517-98), Quản Chí Đạo (Đông Minh, 1536-1608) và Đồ Long (tiến sĩ khoa 1577) được biết tiếng như những người chủ trương "Tam giáo nhất trí luận". Lâm Triệu Ân từng viết Tam Giáo Hội Biên (1562), Đồ Long thì có Phật Pháp Kim Thang Lục (1602). Chủ trương này ảnh hưởng cả tới khoa cử, đến nỗi trong kỳ thi Hội năm 1568, triều đình có đặt câu hỏi về tư tưởng Thiền Tông và dùng cả ngôn ngữ Lão Trang. Về phía tăng sĩ Phật giáo, có Hám Sơn Đức Thanh ( 1548-1623) viết sách về Nho và Đạo giáo như Trung Dung Trực Chỉ (1597), Lão Tử Giải (Đạo Đức Kinh Giải, 1607), Trang Tử Nội Biên Chú (1620)...Vân Thê Chu Hoằng (1535-1615) đã giải thích trong Tự Tri Lục (1605) của ông nguồn gốc của Đạo giáo, ngoài ra còn lấy khái niệm "công quá cách" của họ áp dụng vào Phật giáo (Lúc đó trong vòng Nho giáo cũng chế ra khái niệm "cư quan công quá cách"). Về phía đạo gia thì Đỗ Văn Hoán (Nguyên Hạc Tử, năm sinh năm mất không rõ) đã soạn ra sách Tam Giáo Hội Tông.

Thiền gia cũng có người như Vô Niệm Thâm Hữu (1544-1627) từng theo học và đại ngộ nhờ Lý Chí (Lý Trác Ngô), nhà nho cánh tả phái Vương Dương Minh. Hồng Tự Thành (Ứng Minh, sống giữa thế kỷ 16-17) thì viết tập châm ngôn nhan đề Thái Căn Đàm (1602), trình bày một cách tự nhiên tư tưởng tam giáo nhất thể. Đọc sách ấy, ta có cảm tưởng tam giáo, xưa kia là 3 hệ tư tưởng khác nhau, nay hầu như không còn có chỗ cho sự dị biệt. Trong bầu không khí như vậy, đã thấy xuất hiện thêm nhữg cuốn sách thông tục như Tam Giáo Nguyên Lưu Sưu Thần Đại Toàn, một thứ "thiện thư" (sách dạy luân lý), khuyên người ta phải tuân thủ luân lý dựa trên nền tảng của tư tưởng tam giáo nhất trí.

Tự Tri Lục:

Công Quá Cách là một khái niệm liên quan đến việc tu học có từ thời Kim của môn phái tân Đạo giáo tên là Tịnh Minh Đạo. Phái này bắt đầu hoạt động khoảng năm 1129 và do một đạo sĩ tên là Khả Chân Công (năm sinh và mất không rõ), người tu ở Du Duy Quán, vùng Tây Sơn (phủ Nam Xương tỉnh Hà Nam) đề xướng. Trong Tự Tri Lục, người ta đã lấy Đại Vi Tiên Quân Công Quá Cách (1171) của Tịnh Minh Đạo làm cơ sở rồi biến đổi những khái niệm có trong đó cho hợp với ngôn ngữ nhà Phật. Chẳng hạn thay vì "công quá" họ dùng chữ "thiện quá", thay vì nói "thiên tôn chân nhân", họ dùng chữ "chư thiên", đổi "trai tiếu" thành "phật sự".

Tự Tri Lục có nghĩa là phản tỉnh về hành vi của mình, ghi chép (ký lục) những điều thiện điều ác mình đã làm, chấm điểm nặng nhẹ theo tiêu chuẩn 20 thứ hạng mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm rồi cộng nó lại xem sao. Tư tưởng "thiện nhân thiện quả", "ác nhân ác quả" đã có sẳn trong dân chúng giúp cho hình thức tu tập này phổ biến rất nhanh. Thế nhưng, cái gọi là "thiện" ở đây chỉ là những hành vi đối ứng được với 4 mục "trung hiếu", "nhân từ", "tam bảo công đức", "tạp thiện" (nếu phạm tới nó thì hành vi ấy gọi là "quá") cho nên rốt cuộc Tự Tri Lục cũng không có phương pháp gì khác hơn là xác nhận quan điểm luân lý thông thường của xã hội và không có vẻ muốn đi tìm một giá trị quan mới cho Phật giáo.

Khuynh hướng "Thiện Tịnh song tu" và "Thiền Giáo nhất trí" đã hiện ra rõ nét dưới hai triều Tống Nguyên vẫn được thừa kế dưới triều Minh, nếu không nói là còn được củng cố nữa. Quy Nguyên Trực Chỉ Tập (1553) do Thiên Y Tông Bản (năm sinh năm mất không rõ), tác phẩm gom góp tất cả những lý luận về Thiền Tịnh song tu từ xưa đến nay đã ra đời trong giai đoạn này mà những danh tăng như Hám Sơn Đức Thanh cũng từng thực hành lối tu "Tịnh nghiệp" trên núi Lô Sơn. Lại nữa, nếu đọc Thiền Quan Sách Tiến của Vân Thê Chu Hoằng, ta còn thấy rằng trong chốn tùng lâm, người ta cũng rao giảng việc niệm Phật (kiểu Tịnh Độ) như một lối học tập công án. Đó là hình thức "niệm Phật công án". Chu Hoằng được đời biết tới với tư cách một tăng sĩ Tịnh Độ hơn là một thiền gia. Ngoài ra, Ngẫu Ích Trí Húc (1599-1655), người đã dùng tư tưởng phái Thiên Thai như trung tâm để tổng hợp các lý luận giáo học, nhân vì có lòng mến mộ riêng đối với Đức Thanh và Chu Hoằng, nên trong thực tế đã dung hòa sự tu Thiền với việc niệm Phật. Việc văn nhân Viên Hoằng Đạo (1568-1610) trước từng học Thiền với Lý Chí (Trác Ngô), sau đi theo Tịnh Độ Giáo và viết Tứ Phương Hợp Luận (1599) cũng là một hiện tượng đáng lưu ý.

Thiền Quan Sách Tiến và Niệm Phật Công Án

Vân Thê Chu Hoằng (1535-1615), một trong "Minh mạt tứ đại sư" đã dùng Thiền Môn Phật Tổ Cương Mục làm cơ sở để biên tập Thiền Quan Sách Tiến (san hành năm 1600) như một cẩm nang cơ sở dành cho người mới bắt đầu tu học. Tất cả có 110 chương chia làm 2 tập, tập đầu thu thập lời nói dẫn ra từ các ngữ lục của những bậc tổ sư), tập sau gồm có kinh luận và lời bàn của người xưa (Chư Kinh Dẫn Chứng Tiết Lược). Tập đầu lại có 2 phần, một phần là pháp ngữ (còn gọi là Chư Tổ Pháp Ngữ Tiết Yếu Đệ Nhất)) một phần giai thoại (còn gọi là Chư Tổ Khổ Công Tiết Lược Đệ Nhị). Những chương quan trọng đều có kèm theo lời bàn của người biên tập. Lập trường của Vân Thê Chu Hoằng là tư tưởng Thiền Tịnh song tu rất phổ biến vào thời đó. Trong sách lại có vài chương như Sư Tử Phong Thiên Như Tắc Thiền Sư Phổ Thuyết và Trí Triệt Thiền Sư Tịnh Độ Huyền Môn, cho ông có dịp thuyết giảng về "niệm Phật thiền" (thiền bằng cách niệm Phật). Trong chương trước, ông viết rằng: "Chỉ dùng 4 chữ A Di Đà Phật như một thoại đầu (công án) và luôn luôn suy nghĩ về nó để khỏi sinh ra bất cứ một vọng tưởng nào thì không cần phải bước qua từng giai đoạn mà có thể thành Phật tức khắc" . Trong chương sau, lại thấy ông bảo: "Niệm Phật 1 lần, hay là 3, 5, 7 lần, chỉ im lặng tự hỏi lòng mình để xem tiếng niệm Phật này đến từ đâu hay là cái chủ thể đang niệm Phật này là ai đây, còn nếu như không biết thì cứ như thế mà suy nghĩ tiếp..." .

Phương pháp nói trên dùng việc niệm Phật như một đề tài để suy nghĩ (công án) cho nên có tên là "niệm Phật công án". Chính ra "niệm Phật công án" đã được bắt đầu với thiền sư đời Tống là Chân Yết Thanh Liễu (108-1151), đến đời Minh có thêm Sở Sơn Thiệu Kỳ (1403-1473), Độc Phong Quý Thiện (Bản Thiện, đệ tử của Không Cốc Cảnh Long, 1419-1482) và Hám Sơn Đức Thanh cổ võ thêm. Tư tưởng này không ảnh hưởng gì đến Thiền Nhật Bản vốn phát triển riêng rẽ theo hướng khác với truyền thống Thiền đời Tống. Tuy thế, những lời lẽ của các bậc tôn sư được dẫn ra trong sách ấy rất nhiệt tình, khích lệ lớp hậu tiến gắng học, cho nên sách ấy đôi khi vẫn được ấn hành ở Nhật. Được biết thiền sư Hakuin (Bạch Ẩn, 1685-1768) của Nhật lúc tu chưa thành thường xem nó như cuốn sách gối đầu.

Đằng khác, tư tưởng "Giáo Thiền nhất trí" vốn có hai mục đích: một là tìm cách đòi hỏi các thiền gia xưa nay vốn có cuộc sống tự do phóng dật phải biết chế ngự bản thân, hai là để có thể trả lời những lời phê phán đến từ bên ngoài Thiền Tông.Vì đại chúng trong xã hội mong mỏi Thiền sẽ đóng vai trò điểm tựa về mặt tinh thần cho họ, nếu mà khuynh hướng muốn hạn chế Thiền có trở nên quan trọng đi chăng nữa thì đó cũng là chuyện dễ hiểu. Ngoài ra, một đặc sắc của tư tưởng "Giáo Thiền nhất trí" trong thời kỳ nầy có thể nêu lên ở đây là sự triển khai lý luận "đốn ngộ tiệm tu" với mục đích giải hòa hai tông phái Nam Bắc, với kinh Lăng Nghiêm thường được trưng ra như bằng cớ. Nhưng dù nói gì đi nữa, rõ ràng là trước tư tưởng "Giáo Thiền nhất trí", Thiền buộc lòng phải tu chính quĩ đạo quá cấp tiến của nó.

Trong thời gian này, lấy tư tưởng "Giáo Thiền nhất trí" làm cơ sở, nhiều cuộc thảo luận đã xảy ra giữa các thiền tăng và nhờ đó, một số sách chú thích về kinh điển đã ra đời. Ví dụ chú thích của Vân Thê Chu Hoằng về kinh Lăng Nghiêm, kinh A Di Đà và kinh Phạm Võng, của Đức Thanh về kinh Pháp Hoa và kinh Viên Giác, của Nguyên Hiền về kinh Lăng Nghiêm và kinh Kim Cương. Khi Chân Khả và Đức Thanh góp sức san hành bộ Vạn Lịch bản Đại Tạng Kinh (gọi là Gia Hưng Tạng, Phương Sách Bản, 1589-1677), các ông cũng đứng trên lập trường này.

Tình huống đó còn muốn chứng tỏ thêm một điều nữa là các nhân vật của Thiền Tông đã hoàn toàn bao che cho Phật Giáo. Kể từ đời Đường trở đi, trong khi các tông phái suy thoái thì chỉ có mỗi tư tưởng Thiền Tông hãy tiếp tục duy trì và có thể đứng ra gánh vác giáo lý của nhà Phật. Và cũng vì lý do đó, Thiền phải đánh mất đi một số bản sắc. Những yếu tố cơ bản của hệ tư tưởng Thiền Tông như "giáo ngoại biệt truyền", "bất lập văn tự" vì là phản đề (antitheses) của giáo học nên đã hoàn toàn đánh mất ý nghĩa.

Không nên bỏ qua một đặc điểm khác của Thiền Tông thời Minh mạt là sự chú trọng vào giới luật. Như để hô ứng với sự phục hưng của giới luật, Hán Nguyệt Pháp Tàng, từng thụ giới với người đã đứng lên kêu gọi trung hưng Nam Sơn Luật Tông là Cổ Tâm Như Khánh (1541-1615), đã rao giảng thiền phong "Thiền Giới nhất trí". Bản thân ông đã biên tập sách Hoằng Giới Pháp Nghi và thường thực hành việc thụ giới (việc tăng Ẩn Nguyên từ Trung Quốc đến Nhật có viết một tác phẩm cùng nhan đề và thực thi nghi thức thụ giới có lẽ đã thừa kế việc làm của Hán Nguyệt). Cũng vì lý do đó mà trong Luật Tông Đăng Phổ, tên của Hán Nguyệt đã được nhắc đến. Sau ông, phái Tam Phong cũng hết sức bảo trọng giới luật và trong phái của họ đã xuất hiện một Hối Sơn Giới Hiển (1610-72) chủ trương phải kiêm tu cả ba thứ Thiền, Tịnh và Luật. Giống như môn phái của Vô Dị Nguyên Lai, Ngẫu Ích Trí Húc cũng coi trọng giới luật và có thể xem đây là khuynh hướng chung của cả thời đại.

Ngoài ra, vào đời Minh, nhân vì có người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha vượt biển đến nơi, đạo Ki-tô bắt đầu được truyền bá. Trong giới quan lại cao cấp cũng có những tín đồ như Từ Quang Khải (1562-1633) hay Lý Chi Tảo (? - 1630). Các thiền sư Vân Thê Chu Hoằng, Mật Vân Viên Ngộ, Phí Ẩn Thông Dung đã đứng lên phê phán kịch liệt đạo Ki-tô. Biện Thiên Thuyết của Viên Ngộ cũng như Nguyên Đạo Tịch Tà Thuyết của Thông Dung là những tác phẩm tiêu biểu của loại sách luận chiến về tôn giáo này. Thế nhưng việc truyền giáo thời đó chỉ giới hạn trong vòng giới trí thức nên số tín đồ Ki-tô không tăng lên được bao nhiêu và ảnh hưởng của tôn giáo này chưa đủ làm lung lay địa bàn của Phật giáo.

Chương 2
Giai đoạn Thiền phát triển
và phân chia tông phái

Tiết 1: Pháp môn Đông Sơn khai triển

Tiến về trung nguyên:

Pháp môn Đông Sơn, dưới sự chỉ đạo và nhờ các hoạt động của Đạo Tín và Hoằng Nhẫn, gây được sự chú ý của mọi người. Sau đó, với Pháp Như (638-689), nó lại được phát triển rộng rãi ở trung nguyên. Đặc biệt dưới thời Tắc Thiên Vũ Hậu 624-705, trị vì 684-705), người đã lợi dụng thanh thế của Phật Giáo để lên ngôi hoàng đế, pháp môn Đông Sơn đã được sự quan tâm của hoàng thất cũng như cấp quí tộc và sĩ đại phu đến độ Thần Tú (? - 706) và Huệ An (tức Lão An, 651-739) đã được mời vào nội cung để cúng dường. Kể từ đó, môn hạ của Thần Tú (tức là Bắc Tông, đói với Nam Tông là môn hạ của Huệ Năng) như Phổ Tịch (tức Thiên Chiếu thiền sư, 651-739) và Nghĩa Phúc (Đại Trí thiền sư, 658-736) có cơ hội đưa tông phái mình đến chỗ hưng thịnh.

Hết đời Tắc Thiên Vũ Hậu, qua các đời hoàng đế Trung Tông (trị vì 684-710), Duệ Tông (trị vì 710-712) và Huyền Tông (trị vì 712-756) nghĩa là suốt giai đoạn Thịnh Đường (713-770), Bắc Tông vẫn tiếp tục chiếm ưu thế đến nỗi có được danh hiệu "Lưỡng kinh pháp chủ, tam đế quốc sư" để xưng tụng Phổ Tịch, người mà sau khi Thần Tú mất rồi, đã trở thành một tiêu biểu của dòng Thiền trung nguyên. (Chữ dùng này thấy chép trong Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận. Lưỡng kinh ám chỉ Trường An và Lạc Dương, còn tam đế tức là 3 vua Trung Tông, Duệ Tông và Huyền Tông).

Về Ngọc Tuyền Thần Tú:

Ông người vùng Trần Lưu Úy Thị (tỉnh Hà Nam), họ Lý. Lúc trẻ theo học nhiều thứ nhưng sau (năm 625) xuất gia và trở thành đệ tử của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở Đông Sơn. Sau khi thầy mất, ông về trụ trì chùa Ngọc Tuyền thuộc Kinh Châu, giáo hóa nhiều người. Danh tiếng đồn vang trung nguyên, năm 701, Tắc Thiên Vũ Hậu mới mời ông đến Lạc Dương để tổ chức cúng dường. Sau đó với tư cách "tam đế quốc sư" (bậc thầy của ba Hoàng Đế là Vũ Hậu, Duệ Tông và Trung Tông), ông hoạt động bố giáo ở hai kinh Trường An và Lạc Dương, cuối cùng mất ở chùa Thiên Bảo Tự ở Lạc Dương vào năm 706, tương truyền lúc đó tuổi đã hơn trăm. Trung Tông ban thụy hiệu Đại Thông thiền sư, và để tán dương công đức của ông, vua mới sắc cho xây Độ Môn Tự ở Kinh Châu. Có bài văn bia Đường Ngọc Tuyền Đại Thông Thiền Sư Bi Minh Bình Tự do đại quan và thi nhân cung đình nổi tiếng đời ấy là Trương Duyệt soạn. Tuy pháp môn Đông Sơn tiến được vào trung nguyên là do nỗ lực không ngừng của Pháp Như và Huệ An nhưng việc Thần Tú được phong làm "đế sư" có ảnh hưởng vô cùng to lớn đối với sự hưng thịnh của môn phái. Sau đó Thần Tú và môn hạ sẽ bố giáo rộng rãi khắp trung nguyên, quyền uy của họ thì những người khác trong nhóm "Hoằng Nhẫn thập đại đệ tử" cũng phải thừa nhận.

Về sự phân biệt Nam Tông Bắc Tông:

Hình như Nam Tông là cái tên từ xưa tất cả những ai thừa kế tư tưởng của Đạt Ma và Huệ Khả đều tự xưng. Nguyên lai của cách xưng hô này, nếu dựa theo bài viết về Pháp Trùng trong Tục Cao Tăng Truyện thì nó đến từ chữ "Nam Thiên Trúc nhất thừa tông", có nghĩa là "Một giáo lý ở phía nam Ấn Độ". Do đó, như đã thấy chép trong Bồ Đề Đạt Ma Nam Tông Định Thị Phi Luận, thì việc Thần Tú và môn hạ là những người thuộc Bắc Tông có "tiếm xưng" cho mình là Nam Tông cũng không có gì đáng làm lạ. Thế nhưng đến lúc Hà Trạch Thần Hội (684-758) xuất hiện thì, ý nghĩa của chữ Nam Tông đã thay đổi rất nhiều. Điều đó có nghĩa là trong quá trình phê phán Thần Tú và môn hạ, Thần Hội đã dùng chữ Nam Tông theo cái nghĩa "Tông phái thiền ở phía nam Trung Quốc". Phía nam này trỏ vùng đất phía nam Ngũ Lĩnh, nó còn là ranh giới của giáo lý thu lại trong những lời chỉ dạy của tôn sư Huệ Năng (638-713). Theo chủ trương của Thần Hội, đây mới chính là Nam Tông và nhóm Thần Tú, hoạt động trong vùng lưỡng kinh, không có tư cách gì để chiếm đoạt cái tên đó. Thuyết ấy sau này đã được chấp nhận một cách rộng rãi từ khi đến lượt hệ phái thiền của Huệ Năng gặp hồi hưng thịnh. Rốt cuộc, lối gọi thiền Huệ Năng là Nam Tông, thiền Thần Tú là Bắc Tông trở thành thông dụng. Tuy Bắc Tông là chữ trước kia những phái khác mượn để chê bai Thần Tú và môn hạ, nhưng ngày nay, vì tiện lợi, người ta đã dùng nó để chỉ hẳn nhóm ấy mà không có ý phê phán nào. Không riêng cho một nhóm Thần Tú, chữ Bắc Tông ấy còn bao hàm tất cả hệ phái xuất phát từ cửa Hoằng Nhẫn nhưng đứng ngoài nhóm Huệ Năng và sau đó là nhóm Ngưu Đầu Tông của Pháp Trì (635-702). Quyển sách này cũng áp dụng cách gọi ấy nhưng dùng chữ Bắc Tông theo nghĩa hẹp, giới hạn nó trong khung Bắc Tông của hệ phái Thần Tú-Phổ Tịch.

Phản ứng đối với Thiền Bắc Tông:

Một trong những lý do làm cho Thiền Bắc Tông được giới quí tộc, sĩ đại phu trung nguyên chấp nhận có lẽ vì về một mặt nào đó, tư tưởng của tông phái họ có chỗ hợp lưu với dòng chảy chính của giáo lý nhà Phật. Thế nhưng, đây không hẳn là một đặc tính cố hữu của pháp môn Đông Sơn, nó là một thứ tư tưởng Đông Sơn mà Thần Tú và môn hạ đã làm biến chất. Hồi đó, Thần Tú, lãnh tụ của nhóm, trụ trì ở chùa Ngọc Tuyền vùng Kinh Châu, nơi đây từng là căn cứ của nhóm Ngọc Tuyền Thiên Thai. Tông Thiên Thai đã được phát triển rộng rãi nhờ hai vị tăng Hoằng Cảnh (634-712) và Huệ Chân (673-751). Nên biết rằng tăng Giám Chân (688-763), học trò của Hoằng Cảnh đã được mời đến Nhật Bản như một luật sư (tăng nhân chuyên môn về giới luật Phật giáo) và việc nghiên cứu về giới luật được nhóm Ngọc Tuyền Thiên Thai hết sức cổ võ. Phổ Tịch (học trò Thần Tú) đã từng theo học Hoằng Cảnh, lại nữa, học giả Mật Giáo và Thiên Thai đương thời như Nhất Hành (683-727) và Thủ Chân (700-770) đều thờ Phổ Tịch làm thầy. Những điều đó cho thấy môn hạ của Hoằng Cảnh và môn hạ của Thần Tú thường xuyên giao lưu, cho nên néu có ảnh tưởng đối với nhau về mặt tư tưởng cũng là việc dễ hiểu.

Giao lưu giữa Bắc Tông và các tông phái khác:

Hai tăng Nhất Hành và Thủ Chân vừa là học trò Phổ Tịch vừa theo học giới luật và giáo lý Thiên Thai với Huệ Chân, vừa tìm hiểu Mật Tông qua Thiện Vô Úy (637-737). Riêng về Huệ Chân, tuy là đệ tử của Từ Mẫn Tam Tạng Huệ Nhật nhưng lại thờ Thừa Viễn, một học trò Thiền học của Xử Tịch (665-732), làm thầy. Trong cuốn Thiện Vô Úy Tam Tạng Thiền Yếu (tiền bán thế kỷ thứ 8) của Thiện Vô Úy, có sự xuất hiện của Kính Hiền (660-723), học trò của Thần Tú. Cũng vậy, Đạo Tuyền (701-760), người được mời sang Nhật dạy giới luật như Giám Chân, lại là đệ tử của Phổ Tịch. Như thế, ta biết được rằng giữa Thiền Bắc Tông, Mật Tông, Thiên Thai Tông, Luật Tông, thật khó lòng chối cãi sự quan hệ mật thiết qua giao lưu giữa người với người. Trong số những văn thư tìm thấy ở Đôn Hoàng đã có Nam Thiên Trúc Quốc Bồ Đề Đạt Ma Thiền Ngữ Quán Môn, một bản văn pha trộn lẫn tư tưởng Thiền và Mật Giáo. Đây cũng là một bằng chứng có những trước tác đã ra đời nhờ có sự giao lưu giữa các luồng tư tưởng nói trên. Hơn nữa, vị tổ của tông Thiên Thai Nhật Bản, cao tăng Tối Trừng (767-822) đã từng tự cho mình là người truyền thừa Viên - Mật - Thiền- Giới - Tứ Chủng (tức là bốn luồng tư tưởng Thiên Thai, Mật Giáo, Thiền Bắc Tông và Ngưu Đầu Tông cũng như Viên Đốn Giới). Tư tưởng "tứ chủng tương thừa" này của Tối Trừng rõ ràng đã nhất trí với khuynh hướng "chư tông dung hợp" lúc đó được coi như là mới mẻ nhất ở Trung Quốc. Mặt khác, tuy không liên quan gì đến Bắc Tông nhưng việc người nhận pháp tự của Lục Tổ Huệ Năng là Nam Nhạc Hoài Nhượng (677-744) về sau đã xuất gia và tu học ở cửa Hoằng Cảnh, thầy của Huệ Chân, cũng là một sự kiện đáng cho ta chú ý.

Thiền Bắc Tông nếu được phát triển mạnh mẽ cũng là do sự bố giáo tích cực của tăng lữ Bắc Tông. Việc tạo ra nghi thức tiếp nhận Bồ Đề Giới là phương tiện giúp cho thanh thế của tông phái ngày càng lớn. Trong Đại Thừa Vô Sinh Phương Tiện Môn, bộ sách cơ sở truyền bá tư tưởng của nhóm Thần Tú - Phổ Tịch, phần đầu trong lời tựa đã nhắc đến "Thụ Bồ Tát Nghi Thức". Đây là một bằng chứng về việc đó. Tuy nhiên nếu đọc các trước tác của Nam Tông như Lục Tổ Đàn Kinh (thế kỷ thứ 8) hay Nam Dương Hòa Thượng Đốn Giáo Giải Thoát Thiền Môn Trực Liễu Tính Đàn Ngữ cũng như nhìn vào các hoạt động của Hà Trạch Thần Hội, Vô Tướng (684-762) ở Tịnh Chúng Tự, Vô Trú (714-774) ở Bảo Đường Tự, thì phương pháp bố giáo như thế rất phổ biến trong thời kỳ đầu của Thiên Tông. Thật ra, việc ban bố và nhận lãnh Bồ Tát Giới không chỉ giới hạn trong phạm vi Thiền Tông mà thôi, cho nên có lẽ còn phải giải thích sức lôi cuốn của nó bằng những lý do khác nữa.

Một trong những lý do ấy là tính đặc dị của hệ tư tưởng và phương pháp tu hành của phái Thần Tú - Phổ Tịch. Đối với giới vương hầu quí tộc, nó tỏ ra hết sức mới mẻ và kích thích được họ. Về câu hỏi tại sao pháp môn Đông Sơn đã bành trướng rộng rãi và cuồng nhiệt ở vùng lưỡng kinh như vậy, chắc phải giải thích bằng tính hiếu kỳ của người đời. Thời ấy, có rất nhiều nhân vật nổi tiếng giao du với Bắc Tông. Trong nhóm họ, ta có thể kể ra chẳng hạn Trương Duyệt (667-730), người viết văn bia Thần Tú, Vương Tấn (699-781), học trò Phổ Tịch, Lý Ung (678-747), người viết văn bia Phổ Tịch và Nghiêm Đĩnh Chi (673-742) đã qui y với Đại Trí thiền sư Nghĩa Phúc và sau cũng viết văn bia về ông.

Không khí sôi nổi ấy đã gây ra một kích thích lớn đối với những nhà truyền giáo Tịnh Độ Tông, lúc đó vừa mới trở nên hưng thịnh nhờ những nỗ lực của Thiện Đạo (613-681). Lý do là từ khi có pháp môn Đông Sơn, những người theo Thiền Tông phủ định hoàn toàn giá trị phương pháp tu hành mà họ gọi là của "người ốm đau", "kẻ ngu muội", nói cách khác, phép tu theo lối niệm Phật để có cái tâm thanh tĩnh (tịnh tâm) và sau đó chờ cho Phật độ vãng sanh cực lạc. Việc Thiền Tông bành trướng được thế lực rộng lớn như thế chắc chắn không phải là điều mà những nhà tu Tịnh Độ Tông phái Thiện Đạo mong mỏi.

Vì lý do trên, phái Tịnh Độ bắt đầu biện bác để đối kháng lại Thiền Tông. Để hiểu điều đó, ta có thể xem trước tác nhan đề Thích Tịnh Độ Quần Nghi Luận (Giải thích những điểm nghi ngờ về phái Tịnh Độ, khoảng cuối thế kỷ thứ 7) do Hoài Cảm (năm sinh năm mất không rõ), một đệ tử của Thiện Đạo, viết ra. Tuy nhiên quyển sách đáng chú ý nhất vẫn là Tịnh Độ Từ Bi Tập của Từ Mẫn Tam Tạng Huệ Nhật (680-748) bởi vì trong đó, ngoài việc đưa ra những phản biện từ phía tông Tịnh Độ lại còn có những luận cứ sâu sắc và thú vị nhằm phê phán Thiền Tông mà trước kia chưa ai viết được. Đó là những thông tin vô cùng hữu ích cho những ai muốn tìm hiểu bộ mặt của Thiền Tông buổi đầu.

Nhân nói về Tịnh Độ Từ Bi Tập của Từ Mẫn Tam Tạng Huệ Nhật:

Huệ Nhật sinh năm 680 ở Lai Châu thuộc tỉnh Sơn Đông, tục danh họ Tân. Năm 702, mến mộ Nghĩa Tĩnh Tam Tạng (635-713) vừa đi Ấn Độ về, ông theo dấu, lấy đường biển sang bên đó tu học. Sau khi tìm thăm các di tích Phật giáo, ông định đi đường bộ về nước. Tương truyền, lúc đang ở trên đường đi, ông đã nhìn thấy được Quan Âm ở một hòn núi lớn phía đông bắc vương thành nước Kiến Đà La. Mãi đến năm 719, ông mới về tới Trường An, mang những đồ vật thu thập bên đó dâng lên vua Huyền Tông (trị vì 712-756) và được tứ hiệu Từ Mẫn Tam Tạng. Sau đó, ông tập trung tham gia hoạt động bố giáo ở khu vực Trường An và Lạc Dương nhưng nhân vì có Thừa Viễn (712-802), học trò cũ của ông, đang ở Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông) nên Huệ Nhật tìm cách đi xuống tận đó. Ông mất năm 748, thọ 69 tuổi. Về trước tác, ngoài Lược Chư Kinh Luận Niệm Phật Pháp Môn Vãng Sanh Tịnh Độ Tập (lược xưng Tịnh Độ Từ Bi Tập), ông còn viết Bàn Châu Tam Muội Tán, Bàn Châu Tán, Yếm Thử Ta Bà Nguyện Sinh Tịnh Độ Tán, Tây Phương Tán vv.... Tịnh Độ Từ Bi Tập chỉ còn bản truyền lại nhưng không được toàn hảo, do Ono Genmyô (Tiểu Dã, Huyền Diệu) tìm được ở chùa Đồng Hoa, Triều Tiên vào năm 1925. Tổ bản của nó là bản của Nguyên Chiếu (1048-1116) đời Tống nhưng khi nó vừa mới ra đời đã gặp sự chống đối của Đại Mai Sơn Pháp Anh thiền sư (? - 1131) về nội dung nên đã bị lệnh quan bắt phải phế bản. Vì cớ đó, tổ bản không được truyền lại. May mắn là ngay trước khi ấy, có một bản đã được truyền sang Cao Lệ (thuộc Hàn Quốc bây giờ) vào tay của Nghĩa Thiên (1055-1101) cho nên mới có bản Triều Tiên cho đời sau.Theo lời tựa, nó gồm 3 quyển, quyển đầu nêu ra những lối nghĩ sai lầm của người đương thời, đặt vấn đề về chúng, quyển thứ hai chứng minh qua lý luận tính chính thống của lối tu bằng niệm Phật theo Tịnh Độ Tông, quyển cuối trả lời mọi nghi vấn về giáo phái Tịnh Độ và nói lên sự ưu việt của việc niệm Phật. Tuy có thất thoát phần nào nhưng sách ấy được xem như một ghi chép quí giá có một không hai liên quan đến Thiền Tông.

Tư tưởng của thiền Bắc Tông với hệ phái Thần Tú - Phổ Tịch:

Muốn hiểu hệ tư tưởng chủ yếu của Thiền Bắc Tông với hai đại sư Thần Tú và Phổ Tịch, phải tìm đọc những luận thuyết về cương yếu như Quán Tâm Luận, Đại Thừa Vô Sinh Phương Tiện Môn, Đại Thừa Ngũ Sinh Bắc Tông (đều ra đời vào tiền bán thế kỷ thứ 8), các minh văn trên bia liên quan đến các nhân vật Bắc Tông cũng như các đăng sử đã được nhắc đến bên trên: Lăng Già Sư Tư Ký (khoảng năm 715) và Truyền Pháp Bảo Ký (khoảng 720).

Theo những tài liệu này, Bắc Tông nhấn mạnh đến giá trị tuyệt đối của phép tu hành gọi là "quán tâm", cho rằng các phép tu hành khác đều vô hiệu khi đứng trước nó. Họ đặt trọng tâm vào thể nghiệm ngộ đạo của người tu hành bằng phương pháp này, gọi nó là cảnh giới "đốn siêu bồ đề". Do đó, khác với lối nghĩ thông thường của người đời sau, trong giai đoạn thiền Bắc Tông, không còn nghi ngờ gì nữa, đã có tư tưởng "đốn ngộ" rồi. Rõ ràng khái niệm "quán tâm" của Bắc Tông đã thừa kế tư tưởng "thủ tâm" của Pháp môn Đông Sơn. Không những thế, chủ trương"niệm Phật" là một thành tố trọng yếu, đã chứng tỏ một lần nữa có sự liên tục giữa hai giáo lý (tuy rằng họ không đề cập tới kết quả của việc niệm Phật là vãng sinh cực lạc).

Thiền Bắc Tông rất lưu ý đến lối chú thích kinh điển rất đặc thù của mình mà họ gọi là "quán tâm thích", còn đọc là "tâm quán thích". Những câu chữ của kinh điển, theo họ, phải được hiểu sao cho ăn khớp với những hiện tượng đang xãy ra trong tâm. Ví dụ trong Đại Thừa Vô Sinh Phương Tiện Môn có viết những câu điển hình như sau:

Tuy có cuốn kinh mang tên Diệu Pháp Liên Hoa, thế nhưng hỏi thử "diệu pháp" là gì? "Diệu pháp" chính là cái "tâm", còn "liên hoa" là "sắc" vậy. Nếu "Tâm" là "như", nó cũng là "trí" nữa, còn nếu "sắc" là "như", nó lại là "tuệ". Tóm lại, kinh ấy có nghĩa là "kinh của trí tuệ".

Một mặt, thiền Bắc Tông coi trọng một cách tuyệt đối thể nghiệm "ngộ" bằng phương pháp quán tâm, nhưng mặt khác, vì không thể phủ nhận quyền uy của kinh điển nên họ bắt buộc đứng trên lập trường của kinh điển để giải thích chữ "ngộ" theo một cách riêng, và đã cố gắng tìm cách hòa hợp được hai lối hiểu đó.

Cùng với thời gian, lối hiểu như trên của Bắc Tông càng ngày càng được phổ biến. Không những thế, nó còn khoác thêm phần nào tính cách nội tâm và thần bí hóa. Chính ra tính cách này đã có sẳn trong giáo lý Thiên Thai Tông, nhờ có những giao lưu giữa người và người mà Bắc Tông đã tiếp nhận ảnh hưởng. Ta có thể rút ra từ đó một nhận định căn bản: sở dĩ Thiền Tông và Thiên Thai Tông có cùng cơ sở là vì hai hệ phái đều ra đời để giải quyết những vấn đề tâm linh chung của thời đại họ sống.

Ngoài ra, có một điểm đáng chú ý nơi thiền Bắc Tông mà Lăng Già Sư Tư Ký đã đề cập tới, đó là phương pháp giáo huấn gọi là "chỉ sự vấn nghĩa". Vị thầy thường chỉ một vật cụ thể rồi đặt câu hỏi, giúp học trò hiểu vấn đề một cách cao siêu hơn mức độ nhận thức thông thường và nhờ đó đạt đến cảnh giới của "ngộ". Xin đơn cử ví dụ sau đây trong chương nói về Thần Tú. Ông thấy chim bay qua, mới đặt một loạt câu hỏi cho đệ tử kiểu như "Đó là cái gì đấy?", hay "Ngồi trên ngọn cây ẻo lả, mất thăng bằng, ngươi có thể tọa thiền chăng?" hoặc là "Ngươi có đi xuyên qua bức tường không?". Về nội dung thì những câu hỏi đó sau này rất giống "công án" về sau. Có điều là vào thời đó, chúng đã được sử dụng như thế nào thì đến bây giờ vẫn không ai rõ.

Như thế, ta thấy dòng chính trong thiền Bắc Tông là tư tưởng của nhóm Thần Tú - Phổ Tịch. Thế nhưng qua các văn bản chủ chốt của thiền Bắc Tông trong đó có Đại Thừa Ngũ Phương Tiện, ta thấy họ cũng chấp nhận những dị biệt của các hệ phái chứng tỏ tư tưởng của tông này có nhiều biến thể (variations) chứ không phải đồng nhất. Hơn nữa, ngoài Thần Tú, Hoằng Nhẫn còn nhiều học trò khác cho nên tuy tóm gọn lại một chữ Bắc Tông Thiền, nên hiểu rằng bên trong, tư tưởng của nhóm người này cũng rất đa dạng.

Văn bản Bắc Tông của hệ phái Thần Tú - Phổ Tịch:

Quán Tâm Luận có bản Đôn Hoàng, bản Triều Tiên và truyền bản của Nhật Bản. Truyền bản này có tên Quán Tâm Phá Tướng Luận hay Phá Tướng Luận. Tương truyền sách ấy được soạn bởi Đạt Ma hay Thần Tú nhưng có thể hiểu đây là một thứ cương lĩnh (cương yếu thư) do môn hạ của Thần Tú trước tác. Việc gán nó cho Đạt Ma có lẽ mãi về sau mới xảy ra. Nội dung của nó giảng giải phương pháp tu hành gọi là "quán tâm" trình bày theo lối vấn đáp.

Mặt khác, Đại Thừa Vô Sinh Phương Tiện Môn và Đại Thừa Ngũ Phương Tiện Bắc Tông, là hai trong những văn bản được gọi dưới tên chung Đại Thừa Ngũ Phương Tiện. Về cơ bản, nội dung của chúng giống nhau nhưng quyển trước có hình thức cổ xưa trong khi quyển sau mới mẻ hơn. Nhóm văn bản này đều viết theo một mục lục, khởi đầu với lời tựa rồi đến 5 chương "Tổng Thái Phật Thể", "Hiển Bất Tư Nghị Môn", "Minh Chư Pháp Chính Tính", "Tự Nhiên Vô Ngại Giải Thuyết Đạo" rồi sau trích dẫn các kinh điển như Đại Thừa Khởi Tín Luận, Duy Ma Kinh, Tư Ích Kinh...dùng một thủ pháp đặc dị là "quán tâm thích" để giải thích và khai triển chúng, phần nhiều là khác xa đối với ý nghĩa ban đầu. Tuy đại cương tư tưởng trong Đại Thừa Ngũ Phương Tiện hầu như ta đã bắt gặp nơi Thần Tú nhưng có cảm tưởng chúng đã được chỉnh lý lại bởi những người thuộc hệ phái Phổ Tịch. Ngoài ra, Tĩnh Giác, tác giả Lăng Già Sư Tư Ký, đã viết sách chú thích nhan đề Chú Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Bên cạnh đó, Kim Cương Tạng Bồ Tát Chú, một cuốn kinh mà toàn bộ được chú thích bằng phương pháp "quán tâm thích" cùng với Kim Cương Bát Nhã Kinh Chú, Quán Thế Âm Kinh Tán đều là những tác phẩm có liên hệ mật thiết với dòng chính của thiền Bắc Tông.

Tính đa dạng của thiền Bắc Tông

Trong số những môn đệ của Hoằng Nhẫn, người có tư tưởng cách tân hơn cả có lẽ là Tào Khê Huệ Năng (về sau sẽ được tôn xưng là Lục Tổ Đại Giám Huệ Năng) dù những lời giáo huấn của chính Huệ Năng ra sao, đến nay vẫn chưa ai thực sự biết rõ. Còn như Huệ An, người cũng được Tắc Thiên Vũ Hậu trọng vọng như Thần Tú, về mặt tư tưởng cũng có điểm khác với Thần Tú. Ngược lại, Huệ An lại có nhiều điểm chung với Huệ Năng.

Nam Nhạc Hoài Nhượng, kẻ về sau sẽ đóng vai trò quan trọng trong lịch sử Thiền Tông, trước đó cũng nhờ Huệ An mà có cơ hội đến thọ giáo với Huệ Năng. Thế rồi, trước khi Huệ An mất, ông cũng chỉ thị cho đệ tử là Tĩnh Tạng đến tu học với Huệ Năng. Cũng nên nhắc đến Bảo Đường Tự Vô Trú, trước theo học môn đệ của Huệ An là cư sĩ Trần Sở Chương (năm sinh năm mất không rõ), sau đó đã tham học ở cửa Thái Nguyên Tự Tại (năm sinh năm mất không rõ), một môn đệ khác của Huệ Năng, rồi xuất gia sau đó. Những sự kiện nói trên chứng minh rằng thiền pháp của Huệ An và Huệ Năng có nhiều điểm tương đồng và hình như giữa hai ông đã có một sự tin tưởng đối với nhau.

Gần đây lại có người nêu ra việc Hầu Mạc Trần Diễm (660-714), một người có tên trong hệ phổ Bắc Tông nhưng lại có nhiều điểm hết sức gần gũi Hà Trạch Thần Hội. Nhân vì ông vừa theo học Thần Tú lẫn Huệ An, có thể phỏng đoán rằng nhờ theo học Huệ An nên tư tưởng của ông mới tiên tiến như thế.

Sự xuất hiện của Hầu Mạc Trần Diễm và Trần Sở Chương là những cư sĩ mà đã đạt đến cảnh giới cao để có thể chỉ đạo về thiền cho người đã xuất gia là một điều đáng chú ý. Nó cho ta thấy một điều thú vị là tuy mới xuất hiện, Thiền đã lôi cuốn được sự chú ý của mọi người, ngay cả những người thế tục bình thường.

Hầu Mạc Trần Diễm là ai?

Một nhân vật xưa nay ít ai chú ý nhưng kể từ khi xuất hiện trước tác của ông mang tên Đốn Ngộ Kim Cương Bát Nhã Tu Hành Đạt Bỉ Ngạn Pháp Môn Yếu Quyết (năm 712, bản Đôn Hoàng, có một đôi chỗ đã được dịch sang tiếng Tây Tạng) và Hầu Mạc Trần Đại Sư Thọ Tháp Minh (kim thạch văn) thì tư tưởng và truyện ký sơ lược về ông mói được biết đến. Theo đó, ông người quê Trường An, bỏ công tu hành trên hai mươi năm trên ngọn Tung Sơn. Ông theo học Huệ An và Thần Tú, rốt cuộc nhận pháp tự của Thần Tú với pháp danh là Trí Đạt. Sau đó, ông truyền giáo cho tăng ni và cư sĩ chủ yếu ở các vùng Trường An, Lạc Dương, Sơn Tây, Hà Bắc. Ông là người sinh ra trước Thần Hội một thế hệ mà đã nhấn mạnh về đốn ngộ, chú trong kinh Kim Cương và để lại tác phẩm viết theo lối vấn đáp, tư tưởng lại có nhiều chỗ tương tự với Thần Hội, người ta bắt đầu nhận thức trở lại vai trò của ông trong những năm gần đây.

Trong số môn đệ của Hoằng Nhẫn, những người có thể so sánh với Huệ Năng và Huệ An là hai nhân vật tên Trí Sằn (609-702) và Tuyên Thập (năm sinh năm mất không rõ. Các ông đã khai sinh ra ở Tứ Xuyên một môn phái riêng. Đặc biệt từ cửa Trí Sằn có Xử Tịch (665-732) và Vô Tướng (684-762) vốn có công phổ biến giáo nghĩa ở địa phương này. Nhân vì Vô Tướng là dòng dõi hoàng tộc Tân La họ Kim cho nên được gọi là Kim Hòa Thượng. Tên tuổi ông cả người Tây Tạng cũng biết. Môn phái của hai ông lấy Tịnh Chúng Tự ở Thành Đô làm cơ sở, do đó, có tên là Tịnh Chúng Tông. Đề tử của Vô Tướng là Tịnh Chúng Tự Thần Hội (720-794) và Huệ Nghĩa Tự Thần Thanh (năm sinh năm mất không rõ) là người đã viết Bắc Sơn Lục (khoảng năm 806). Sau đó, hệ phổ của Tịnh Chúng Tự còn được nối tiếp như sau: Tịnh Chúng Tự Thần Hội truyền cho Ích Châu Nam Ấn (Duy Trung, ? - 821?), ông này có hai đồ đệ là Toại Châu Đạo Viên (? - 807 hay 822?), và Đông Kinh Thần Chiếu (776-838).

Trong số những trứ tác của Tịnh Chúng Tông có Bát Nhã Tâm Kinh Sớ (bản Đôn Hoàng, giữa thế kỷ thứ 8) được gán cho Trí Sằn. Tư tưởng của ông cũng được đề cập đến trong Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao của Khuê Phong Tông Mật (780-841) cũng như trong cuốn đăng sử của tông Bảo Đường nhan đề Lịch Đại Bảo Pháp Ký (hậu bán thế kỷ thứ 8). Theo các tư liệu đó, mỗi năm, người trong tông này thiết lập đạo tràng vào một ngày giờ nhất định, tụ tập đông đảo các nhà tu hành dù là tại gia hay là xuất gia lại để thực hành nghi lễ niệm Phật và tọa thiền. Mục đích là để chỉ đạo mọi người đạt đến chỗ "vô ức" (không nhớ tới), "vô niệm" (không nghĩ tới), "mạc vọng"(không trông mong tới), gọi đó là "tam cú ngữ", xem nó đồng dạng với "tam học" tức là giới, định, tuệ (tuy vậy, trung tâm của tư tưởng đó hình như vẫn đóng khung ở trong mỗi một chữ "vô niệm"). Hình như tư tưởng "tam cú"này là một sáng tạo của tăng Vô Tướng và cũng có thể xem nó như một nét đặc thù của tông phái ông lãnh đạo. Theo Tông Mật, phái của Tuyên Thập cũng làm theo một nghi thức tương tự như vậy nhưng trong dịp này, họ hay dùng hương, và có lẽ ấy là một trong những điểm khác nhau.

Khi các giáo phái nói trên bành trướng ở miền Tứ Xuyên, đặc biệt là vào buổi đầu, nghi thức niệm Phật được xem hết sức trọng yếu. Đệ tử của Từ Mẫn Tam Tạng Huệ Nhật là Nam Nhạc Thừa Viễn (712-802) thời trẻ cũng đến hỏi đạo Xử Tịch, và từ cửa của ông đã xuất hiện Pháp Chiếu (năm sinh năm mất không rõ) là người nổi tiếng vì đại thành được "ngũ hội niệm Phật". Riêng môn phái của Tuyên Thập, không rõ có giáo lý gì, nhưng họ được Tông Mật gọi là Nam Sơn Niệm Phật Thiền Tông, cũng thực hành nghi lễ truyền pháp có nghi thức niệm Phật. Do đó có thể hiểu việc niệm Phật lúc ấy được người đi tu xem như hết sức hệ trọng. Duy có điểm cần chú ý là chính việc niệm Phật này vốn là một phương pháp tu hành chủ yếu của pháp môn Đông Sơn, từ đó suy ra, chắc những người thời này cũng cứ thế mà tiếp tục theo dấu người đi trước.

Những thiền gia hoằng pháp ở vùng Tứ Xuyên có mối quan hệ đáng chú ý đối với Tịnh Độ Giáo nhưng đồng thời họ cũng liên quan mật thiết với các giáo phái Phật Giáo khác nữa. Về sau sẽ có dịp nhắc lại nhưng việc một người như Khuê Phong Tông Mật coi như là kẻ có tham vọng gộp hai phái Hoa Nghiêm và Thiền Tông làm một, đã dần dần tạo lập được mối liên hệ với những người từ Nam Ấn trở về sau để hoàn thành được hệ tư tưởng của mình, là một điều rất quan trọng. Lại nữa, cũng không nên quên rằng thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất (709-788) ở trung nguyên thời trẻ cũng từng thờ Xử Tịch (phái Tứ Xuyên) làm thầy.

Bát Nhã Tâm Kinh Sớ:

Quyển Bát Nhã Tâm Kinh Sớ tức sách chú thích về kinh Bát Nhã, bản Đôn Hoàng, được xem là do Trí Sằn (609-702) soạn, thế nhưng nội dung của nó hết sức giống tác phẩm của Kỷ Quốc Tự Huệ Tịnh (578-?). Phải chăng có ai đã cải biên và gán nó cho Trí Sằn. Hình thức của kinh này có được như ngày nay ta thấy là do công trình của những người thuộc Tịnh Chúng Tông, vốn tôn sùng Trí Sằn như giáo tổ.

Thật ra, nguồn gốc của cuốn kinh nói trên là một câu chuyện hết sức phức tạp, lịch sử hình thành của nó đã bắt đầu trước cả thời này rồi. Trước hết, ngay cả trong bản được truyền vào đất Nhật ( Huệ Tịnh Sớ, Tục Tạng Bản) ở cuối sách đã thấy in tiếp theo một bộ phận của Tu Tâm Yếu Luận (tương truyền của Hoằng Nhẫn), hình như đã được người của Thiền Tông buổi đầu gìn giữ và truyền lại. Nhân vì tác phẩm vẫn có một mối liên quan mật thiết với họ nên nội dung từ từ đã có sự đổi khác, nếu ta so với các bản Đôn Hoàng có tên như Đôn Hoàng Bản Huệ Tịnh Sớ hay Long Cốc Đại Học Bản Bát Nhã Tâm Kinh Sớ. Điều này chứng tỏ rằng sách chú sớ của tăng Huệ Tịnh (Huệ Tịnh Sớ) đã được chấp nhận rộng rãi. Tác giả Huệ Tịnh lại là người có tài văn chương nên còn có thể giải thích sự phổ cập của nó phần nào cũng nhờ vào cả văn thể lẫn nội dung. Mặt khác, việc sách ấy có nhiều dị bản tự thể nó là một đề tài thú vị, nhưng điều đáng chú ý hơn cả là giữa các bản Tục Tạng Bản Huệ Tịnh Sớ và bản của Long Cốc Đại Học và Trí Sằn Sớ, ta thấy có một sự phát triển về mặt tư tưởng. Hơn nữa, qua các bản đó, ta thấy có dấu vết ảnh hưởng tư tưởng của nhóm Thần Tú - Phổ Tịch lẫn nhóm Tịnh Chúng Tông. Nói tóm lại, sự phát triển từ Huệ Tịnh Sớ đến Trí Sằn Sớ là ví dụ điển hình về việc một văn bản nguyên lai được viết ra không dính dáng gì đến Thiền Tông, đã được người của Thiền Tông giữ gìn và truyền lại đời sau, rồi nhờ đó mà được chỉnh đốn để đạt đến chỗ hoàn chỉnh.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn