20. Lối xưa xe ngựa

26/03/201107:18(Xem: 5695)
20. Lối xưa xe ngựa

HOA CỦA MỖI NGƯỜI
Tác giả: Diệu Kim

PHẦN II: HƯƠNG ĐẠO TÌNH ĐỜI

LỐI XƯA XE NGỰA…

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương...


Câu thơ tôi học từ mấy chục năm trước chợt ùa về... Buổi trưa, nắng len qua kẽ lá nhà vườn, xứ Tiền Giang đón chào du khách... Sau những đoạn dài len lỏi vào vườn nhãn, vườn dừa, ai nấy thấm vui và cũng... thấm mệt. Thế là ban tổ chức mời mọi người bước lên mấy cỗ xe ngựa đậu dài trên con lộ nhỏ. Từ lộ ra ghe chừng 500 mét, đi bộ thì mỏi chân, thôi thì leo lên xe, hưởng cái thú ngồi lắc lư nghe ngựa gõ móng lộc cộc, đầu trùm nón lá quê hương, mắt tròn xoe lướt qua hàng cây xanh mướt ven bờ, tưởng mình đang trở về quá khứ, tạm quên những nỗi nhọc nhằn cơm áo chốn thị thành bề bộn phồn hoa...

Nhưng rồi, tôi lại chạnh lòng. Cái trái tim hình như chưa bao giờ chịu nằm yên trong lồng ngực, dẫu khi người ta đang cố tạo cho mình một không gian vui vẻ. Mình cứ chòi đạp ra ngoài tiếng cười nói ồn ào, cứ căng mắt nhìn thấy những cảnh đời chật vật, ưu tư. Con ngựa vừa gõ móng được vài phút, tôi đã dán mắt vào tấm lưng của nó đang oằn xuống vì sức nặng của 4 người khách và 1 người chủ xe. Cái đầu nó sao mãi chúi vào mặt đất, lầm lũi chạy, lầm lũi kéo, lầm lũi trả nợ đời. Tôi thảng thốt nhận ra đó không phải là hình ảnh oai hùng như những chú ngựa trong phim, tung bốn vó trên thảo nguyên mênh mông, hay lướt gió nơi trường đua danh tiếng. Đâu là những con chiến mã lẫm liệt? Đâu là những phận ngựa tôi đòi?

Tôi buột miệng hỏi anh chủ ngựa. Thì ra, nó là con ngựa mồ côi mẹ từ thuở lọt lòng. Mẹ nó là ngựa đua Phú Thọ, vừa sinh con ra đã chết, nên nó thiếu sữa, bị suy dinh dưỡng nặng, người ta loại ra, đem bán. Và nó trở thành ngựa kéo xe, vô danh tiểu tốt nơi góc quê này. Nhưng không hiểu nó có biết buồn hay không, chứ cái người buồn lo lại chính là anh chủ ngựa. Từ chuyện ngựa, tôi bắt sang chuyện người, mới hiểu cái đời đánh xe thuê như anh cũng vất vả ngày hai bữa cơm không đủ no. Chặng đường như thế, anh chỉ thu 5.000 đồng một người khách, 4 người được 20.000 đồng, trừ tiền lúa cho ngựa, tiền thuế đóng cho nhà nước, còn lại chừng hơn 10.000 đồng. Ngày nào khách đông thì được khoảng 3, 4 chuyến, hôm nào vắng, cả người lẫn ngựa đói dài. Trên tuyến đường ngắn ngủn ấy có cả chục chiếc xe, giờ nghỉ bớt vì không kham nổi. Và những chiếc xe còn lại cầm cự với một niềm vui duy nhất là đem lại những nụ cười cho du khách. Nhìn thấy họ như trẻ con, anh chủ xe cũng thấy vui lây. Cho nên khi tôi "phỏng vấn" tới tấp, chỉ nghe anh kể với giọng đều đều, không than không thở.

Chỉ có tôi là thở dài, len lén thở dài. Cuộc vui ngắn chẳng tày gang. "Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo..." Tiếng móng gõ vào tuổi thơ vô tư, giờ bỗng lạc điệu lạc hồn. Rồi chợt nghĩ, hình như đời mình cũng như đời ngựa, lầm lũi chạy áo chạy cơm, chạy nhà chạy cửa, chạy lớp chạy trường... Chạy mãi đến khi chồn chân mỏi gối mới thôi...

Tôi xuống xe, bồi hồi vuốt bờm chú ngựa nâu vàng nhẫn nhịn. Chiếc xe lại tiếp tục kéo thêm lượt khách mới. Tôi trở về thành thị, tiếp tục những đoạn đường dài cơm áo... Tiếng gõ lộc cộc cứ vang lên trên "nền cũ lâu đài bóng tịch dương..."

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2026(Xem: 817)
Xưa ở nước Xá Vệ, có một huyện nhân dân đều quy Tam bảo, phụng trì năm giới và thực hành mười thiện nghiệp của Phật dạy. Khắp huyện không bao giờ sát sanh, người uống rượu nấu rượu cũng không có. Trong huyện, có một người con dòng dõi, sắp đi buôn tha phương. Trước khi đi, cha mẹ cặn kẽ dặn rằng: “Con nên cố gắng siêng năng, giữ gìn 5 giới cấm, thực hành mười điều thiện và cẩn thận chớ uống rượu, phạm đến trọng giới của Phật”.
05/02/2026(Xem: 933)
Tu hú Trung Quốc hay còn gọi là Táo Quyên (chữ Hán: 噪鹃[1], Danh pháp khoa học: Eudynamys scolopaceus chinensis) là một phân loài của loài tu hú châu Á (Eudynamys scolopaceus) phân bố ở miền nam Trung Quốc, bán đảo Đông Dương, ngoại trừ bán đảo Mã Lai[2] Chúng sinh sống ở Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, đông nam Trung Quốc và một phần Malaysia. Ở Việt Nam, chim tu hú phân bố ở khắp các vùng đồng bằng và vùng trung du. Vào mùa đông, rất ít gặp loài này vì phần lớn chúng bay về phương nam để tránh rét[3], chúng còn được gọi đơn giản là chim tu hú hay tu hú và cũng còn được gọi là chim quyên hay đỗ quyên[1].
31/01/2026(Xem: 2176)
Dòng nghiệp tự xoay trong một kiếp sống, có những khoảnh khắc ta tuyệt vọng, có những thời điểm trong đời sống tu tập, mọi lời dạy về chuyển nghiệp đều trở nên xa xỉ bởi vì mất mát đã xảy ra , thân bịnh đã hiện, quan hệ đã đổ vỡ, hậu quả đã đứng trước mặt ——>NGHIÊP ĐANG TRỔ Trong khoảnh khắc ấy, điều nguy hiểm nhất không phải là khổ, mà là đối diện khổ với sự VÔ MINH , điều này sẽ làm duyên cho nghiệp tiếp tục sinh sôi, tâm thức lạc lối, có lời oán trách, tự kết tội mình, tuyệt vọng khi không thấy phép màu nào đảo ngược thực tại . Đây chính là Tầng Nghiệp Thứ Hai : NGHIỆP DO PHẢN KHÁNG QUẢ BÁO .
31/01/2026(Xem: 1415)
Từ đó cho đến nay đã nhiều lần đi và nhiều lần đến ở nhiều nơi trên quả địa cầu nầy, nhưng tôi vẫn thấy như mình còn cần phải học hỏi nhiều hơn nữa, mặc dầu nay ở tuổi cũng gần 80 rồi. Ngày Hòa THượng Thích Bảo Lạc đi xuất gia (1957) và tôi đã theo chân anh ruột của mình vào chùa (1964) để đầu sư học đạo. Mấy Bà Cụ trong làng khua với nhau rằng: “Nhà Ông Quyên (Thân phụ của chúng tôi) có đến 2 người con cho đi xuất dương”. Tôi nghe chẳng hiểu gì cả, vậy mà sau nầy cả Hòa Thượng Thích Bảo Lạc và tôi đều được xuất dương sang Nhật Bản du học trước năm 1975. Như thế những gì mình chưa mong đợi, nhưng sự việc vẫn đến với mình như thường. Đó là gì? Phải chăng đó là nhân duyên, là phước báu? Hay là gì gì nữa. Mỗi người trong chúng ta sẽ có cách trả lời riêng của từng người vậy.
19/01/2026(Xem: 1864)
Ông cháu chúng tôi được Quý Thầy ở Tổ Đình Pháp Hoa, Nam Úc chở ra phi trường Adelaide vào sáng sớm ngày 8.1.2026, và buổi chiều cùng ngày được Phật Tử Chúc Nguyên đón tại phi trường Sydney, đưa về Thiền Lâm Pháp Bảo, vùng Wallacia thuộc Sydney, nơi Hòa Thượng Thích Bảo Lạc đang tịnh tu. Chiều đó có TT Phổ Huân và Sư Cô TN Giác Anh từ Tổ Đình Pháp Bảo ghé qua thăm chúng tôi tại Thiền Lâm Pháp Bảo và bàn bạc chương trình trong những ngày chúng tôi còn lưu lại ở đây cho đến ngày 24.1.2026.
14/01/2026(Xem: 1323)
Khi 740 đứa trẻ bị kết án trôi ra biển và cả thế giới nói “không”, thì một người đàn ông đã nói “có”. Đó là năm 1942. Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi. Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động của Liên Xô, nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng. Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng. “Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.” Thức ăn cạn dần. Thuốc men không còn. Và hy vọng ,thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này ,cũng đang tắt dần.
03/11/2025(Xem: 1876)
Australia: Lá thư trong chai của người lính thời Thế chiến I viết gửi mẹ năm 1916 được tìm thấy trên bãi biển Wharton sau hơn 100 năm trôi dạt và bị cát chôn vùi. Gia đình bà Debra Brown hồi cuối tháng 10 nhặt rác trên bãi biển Wharton, gần Esperance ở bang Tây Australia thì phát hiện một chai thủy tinh còn nguyên vẹn, bên trong chứa lá thư được viết vội bằng bút chì của hai người lính từ thời Thế chiến I.
25/08/2025(Xem: 3692)
Tuổi thơ của tôi là một sự pha trộn giữa hồn nhiên đầy mộng mị với những thèm thuồng, khổ đau của một thằng bé sinh ra trong một gia đình nghèo và vào thời chinh chiến. Đó là một thằng bé nghịch ngợm, ham chơi, đa cảm, thường dễ khóc khi gặp phải chuyện buồn. Suốt quãng đời thơ ấu, tôi chưa bao giờ được hân hạnh bước qua ngưỡng cửa hoặc vào trong sân của một gia đình giàu có. T
21/08/2025(Xem: 4832)
Anatha-pindika, một vị thủ quỹ giàu có, đã đến Đại Tự viện Jetavana để thăm Đức Thế Tôn. Ông mang theo năm trăm người bạn của mình, những đệ tử của các trường phái triết học khác. Sau khi bày tỏ lòng kính trọng và dâng cúng, ông cùng bạn bè ngồi nghe bài pháp của Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn, với giọng nói mạnh mẽ như tiếng sư tử gầm và dịu dàng như chuỗi ngọc quý, đã thuyết giảng một bài pháp ngọt ngào và đẹp đẽ về Chân lý. Năm trăm đệ tử ấy cảm động đến mức họ từ bỏ niềm tin ngoại giáo, và bắt đầu quy y Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng. Từ đó, họ thường xuyên cùng Anatha-pindika đến chùa để nghe giáo pháp của Đức Phật.
11/08/2025(Xem: 4599)
Vô Bích động âm u mờ mịt, nó chẳng thuộc trời chẳng thuộc đất, nó không có tháng năm kiếp số thì nói chi đến thời khắc hay ngày giờ. Nó vốn là lãnh địa của lão Hades từ thuở hồng hoang đến giờ. Lão thường ngồi trên ngai bạch cốt, lúc nào cũng lim dim nhấm nháp ly hắc huyết hoàn tửu, đây là thức uống khoái khẩu của lão ta. Cái ly của y cũng rất đặc biệt, vốn chế tác từ thiên linh cái của bọn người ở nhân gian. Hắc huyết hoàn tửu là thứ mỹ tửu cực độc chỉ riêng Vô Bích động mới chế được. Mỗi khi Hades muốn gọi ai về chầu thì lão nhón ngón út chấm một giọt nhỏ lên sinh mệnh ai là người ấy lập tức vâng mệnh, xưa nay chưa có ai cưỡng được mệnh gọi chầu, dù đó là người cực thông minh hay quyền uy lớn nhất thế gian. Người đã như thế thì quỷ thần, phi nhân, súc sanh không cần phải nói nữa. Ngay cả những vị trời cũng chẳng thoát khỏi, dù đại phạm thiên thọ mạng tám vạn đại kiếp nhưng khi có mệnh thì hoa trên mão héo, thân thể tiết mùi hôi, thân quyến lìa xa... đó là dấu hiệu cho biết sắp đọa. S