Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

2. Nội dung 28 phẩm kinh Pháp Hoa

26/03/201103:11(Xem: 5385)
2. Nội dung 28 phẩm kinh Pháp Hoa

LƯỢCGIẢNG KINH PHÁP HOA
HoàThượngThích Thiện Siêu
TuViệnKim Sơn ấn hành PL. 2542-1998

NỘIDUNG 28 PHẨM KINH PHÁP HOA

Mỗilầnđức Phật định nói pháp gì trước hết đều có nguyêndo nên có phẩm Tựa mở đầu (p1). Kế phần Tựa là phầnChánh tông, nói ra chánh pháp mà Ngài định nói và pháp địnhnói ở đây là: "Khai quyền hiển thật" nên có phẩm Phươngtiện (sự khéo léo) (p2). Nhưng đối với Chánh pháp này chỉcó hàng thượng căn như Tôn giả Xá-lợi-phất hiểu và đượcPhật thọ ký. Còn hàng trung căn chưa thể vong ngôn hội pháp,họ cần nghe thêm thí dụ mới hiểu, nên có phẩm Thí dụ(p3). Ví dụ nhàn lửa ba xe, hàng trung căn nghe thí dụ liềntin nên có phẩm Tín giải (niềm tin vững chắc) (p4) và thuậtlại với đức Phật cái ví dụ "Cùng tử trốn cha" để trìnhbày chỗ tín giải của mình, được đức Phật ấn chứngvà Ngài nói tiếp thí dụ "Một trận mưa khắp cây cỏ đềunhờ" nên có phẩm Dược thảo dụ (thí dụ về cây thuốc)(p5). Đến đây hàng trung căn được thọ ký, nên có phẩmThọ ký (chứng thực) (p6). Nhưng còn hàng hạ căn thì vẫnchưa ngộ phải chờ đức Phật kể lại nhân duyên quá khứcho họ nhớ với thí dụ Hóa thành, nên có phẩm Hóa thànhdụ (thí dụ về thành phố ảo hóa) (p7). Hàng hạ căn đượcngộ và được đức Phật thọ ký, nên có phẩm Ngũ báchđệ tử thọ ký (500 đệ tử thọ nhận lời chứng thực)(p8) cho năm trăm vị thuộc hàng vô học hiển danh, và phẩmThọ học, Vô học nhân ký (lời chứng thực cho những ngườicòn cần phải học và những người không cần phải học)(p9) cho 2000 vị thuộc hàng học và vô học mật hạnh vô danhkhác. Như vậy qua ba lần thuyết là Pháp thuyết, Dụ thuyết,Nhân duyên thuyết (hay gọi là tam châu thuyết pháp) thì bahạng căn cơ thượng, trung, hạ có túc căn thâm hậu đượcđức Phật hiện tiền thọ ký. Còn bao nhiêu chúng sanh ítphước ở nơi khác thời khác không được gặp đức Phậtthì ai thọ ký cho? Nên biết hết thảy chúng sanh bất luậnở đâu thời nào dù không gặp đức Phật mà gặp kinh vàthọ trì giải nói kinh Pháp Hoa cũng đều được thọ ký,nên có phẩm Pháp sư (vị thầy dạy pháp) (p10) mà nội dunglà tán thán công đức Pháp Hoa và người trì kinh cùng phươngpháp cho người muốn nói kinh Pháp Hoa đem lại nhiều lợiích.

Từphẩm Tựa đến phẩm Pháp sư cọng là 10 phẩm, trừ phẩmTựa, 8 phẩm giữa là phần Khai quyền hiển thật, phẩm PhápSư là để tán thán công đức Pháp Hoa và người thọ trìđọc tụng hầu cho những chúng sanh vị lai vẫn được thọký.

Đạolý khai quyền hiển thật là thâm diệu lớn lao mà nay đượcđức Thích Tôn đã giảng nói, đức Phật Đa Bảo trong quákhứ từng phát nguyện: Hễ ở đâu có nói kinh Pháp Hoa, thìNgài sẽ hiện đến, do đó tháp Đa Bảo từ lòng đất vọtlên, được kể trong phẩm Hiện Bảo tháp (hóa hiện thápbáu) (p11), trước là để xác chứng lời đức Thích Ca nóilà không hư dối, sau để làm duyên khởi cho việc khai cậnhiển viễn sắp được nói đến ở phần sau. Nhưng sự xácchứng rõ ràng mật thiết nhất chính là đức Thích Ca tựkể lại: Xưa kia Ngài từng cần cầu nghe kinh Pháp Hoa và từngđược Đề-bà-đạt-đa nói cho nghe nhờ đó Ngài được thànhPhật. Còn Đề-bà được thọ ký sẽ thành Phật, cho đếnLong nữ cũng nhờ Pháp Hoa được thành Phật rất mau lẹ nêncó phẩm Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) (p12). Sau khi nghe lời tánthán công đức và khuyến khích trì kinh của đức Thích Cavà đức Đa Bảo như vậy, các Bồ-Tát, Thanh Văn liền vângmệnh thọ trì, nên có phẩm Trì (nắm giữ chắc chắn) (p13).Song thọ trì giảng nói trong đời ngũ trược ác thế làmsao tránh khỏi nguy nan nên có phẩm An lạc hạnh (p14), chỉbày phương pháp hoằng kinh được an lạc khi nhân hạnh đãđầy đủ thì diệu quả ắt có. Các Bồ-tát từ lòng đấtvọt lên nói trong phẩm Tùng địa dũng xuất (từ đất nhảyra) (p15) chứng minh điều đó để khai cận hiển viễn, hiểnbày cho thấy đức Phật đã thành Phật trãi vô lượng kiếpnói trong phẩm Như Lai thọ lượng (tuổi thọ của đức NhưLai) (p16). Phẩm Như Lai thọ lượng này nói hễ ai nghe đượcthì công đức vô lượng, nên có phẩm Phân biệt công đức(p17). Tuy chỉ tùy hỶ nghe và tùy hỶ người khác nghe vẫnđược phước đức vô lượng, nên có phẩm Tùy hỶ côngđức (công đức về sự vui nhận) (p18), đó là hạ phẩmcông đức. Nếu nghe, thọ trì, đọc tụng, viết chép, giảnggiải, nói cho người nghe, thành tựu 6 căn công đức như phẩmPháp sư công đức (các công đức của vị pháp sư) (19) vớinăm hạng Pháp sư, đó là trung phẩm công đức. Nếu thựchành Pháp Hoa Hạnh, thanh tịnh sáu căn như Bồ-tát ThườngBất Khinh trong phẩm Thường Bất Khinh (p20) thì thuộc thượngphẩm công đức. Mười phương chư Phật thấy chúng sanh trongquá khứ hay trong vị lai nghe Pháp Hoa mà sanh tâm hoan hỶ thọtrì như vậy thì các Ngài càng rất hoan hỶ nên hiện thầnlực để tán dương hỗ trợ cho lòng tin và thực hành thêmvững mạnh nên có phẩm Như Lai thần lực (thần lực củađức Như Lai) (p21).

Trênkia đức Phật đã tán thán kinh và người trì kinh, đến đâyđức Phật phó chúc thọ trì, nên có phẩm Chúc lụy (dặndò) (p22).

DượcVương Bồ-tát nhờ lãnh thọ kinh giáo được lợi ích nênđã chịu khổ hạnh bằng cách thí xả thân mạng tài sảnđể cúng dường báo ân, nêu ra một mô phạm cho sự phụngmệnh hoằng kinh mà bản duyên này của Dược Vương đượckể rõ trong phẩm Dược Vương Bồ-tát bổn sự (chuyện vềBồ-tát Dược Vương) (p23). Nhưng ở Dược Vương chưa nóirõ cách truyền thông Kinh Pháp. Đến phẩm Diệu Âm Bồ-tát(24) mới nói rõ việc phân thân trong sáu đường để hoằngKinh lợi vật. Về phần chúng sanh những người muốn tínthọ thường gặp trở nạn cần phải nhờ đức từ bi cứutế mới vượt khỏi, nên có phẩm Quán Thế Âm Bồ-tát (p25),và nhờ thần chú gia hộ nên có phẩm Đà-la-ni (mật chú)(p26).

Ngườihoằng Kinh lợi vật là chơn thiện tri thức của chúng sanh,dù ở trong nghịch cảnh nào họ cũng chuyển được ngườibỏ tà về chánh, nên có phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương bổnsự (chuyện về Vua Diệu Trang Nghiêm) (p27). Tu hạnh Nhất thừaPháp Hoa, truyền trì Pháp Hoa tức là tu hạnh Phổ Hiền, tứcnhiên Phổ Hiền từ phương xa đến ủng hộ khuyến khích,phát khởi nên có phẩm Phổ Hiền Bồ-tát khuyến phát (sựkhuyến khích của Bồ-tát Phổ Hiền) (p28). Đó là hết haimươi tám phẩm kinh.

Nóitóm tắt, 14 phẩm đầu kinh là thuộc phần Tích môn (cũnggọi là phần khai quyền hiển thật, khai tam hiển nhất, hộitam quy nhất, thừa phương tiện, thừa chân thật, thừa quyền,thừa thật, tích môn tích hóa hay thùy tích). 14 phẩm sau làthuộc phần Bản môn (cũng gọi là khai cận hiển viễn, khaitích hiển bổn, hội tích quy bổn, thân phương tiện, thânchân thật, thân quyền thân thật, bản môn bản hóa hay bảnđịa).

ChữMôn ở đây không có nghĩa là một bộ phận hay nơi chốnbiệt lập, nó chỉ có nghĩa là "hoạt động của đức Phậtở trong bản vị nguyên thủy" (bản địa hay bản môn bảnhóa) và hoạt động của đức Phật có biểu lộ lưu dấutích (tích môn tích hóa, thùy tích).

PhầnTích môn thì quy chiếu vào giáo pháp của đức Phật, tứclà chỉ vào pháp. Phần Bản môn thì quy chiếu vào nhân cáchcủa đức Phật, tức là chỉ vào người nói pháp.

Cácđức Phật 10 phương chỉ có Nhất thừa đạo và chư Phậtra đời đều duy nhất chỉ muốn dạy cho chúng sanh Nhất thừađạo chứ không có hai ba thừa, nhưng căn cơ chúng sanh khôngthể một sớm một chiều lãnh hội được, nên đức Phậtphải quyền khai phương tiện để dẫn dắt.

Chữ"khai", "hiển" trong "khai quyền hiển thật" ở đây có hai nghĩa:

1.Nếu đức Phật chỉ một mực dạy thẳng đạo Nhất thừathì không bao giờ chúng sanh lãnh ngộ được. Như vậy đạoNhất thừa chỉ ẩn lấp ở nơi đức Phật chứ không hiểnbày ra cho chúng sanh, nên đức Phật phải quyền khai ba thừathì mới hiển lộ được Nhất thừa.

2.Nhưng khi chúng sanh tiếp nhận giáo lý ba thừa, họ lại tinchắc đó là thật mà không hiểu đó là đức Phật chỉ quyềnkhai và như vậy thì đạo Nhất thừa vẫn bị khuất lấptrong ba thừa không hiển lộ ra được. Đến khi đức Phậtkhai mỡ ra chỗ khuất lấp đó bằng cách nói rằng "Ba thừakia chỉ là phương tiện, là quyền, chỉ có Nhất thừa mớilà thật", như ở hội Pháp Hoa này thì chúng sanh mới rờibỏ chấp tam thừa mà hướng đến nhất thừa. Nghĩa khai cậnhiển viễn cũng tương tợ như vậy.

Trong14 phẩm thuộc Tích môn, thì phẩm Tựa là phẩm mở đầuduyên khởi, còn chủ yếu chính là phẩm Phương tiện vớisự trình bày Thật trí, Quyền trí của chư Phật là đồngnhất, thật tướng các pháp mà chư Phật chứng ngộ là đồngnhất và bản hoài chư Phật ra đời độ sanh cũng đồng nhất.Những đồng nhất này gọi chung là Phật tri kiến, và Phậttri kiến này mọi chúng sanh đều có, chỉ vì bị vô minh,tham ái che lấp mà không hiển lộ ra được, nên nhân duyênchư Phật ra đời là chỉ nhằm một đại sự duy nhất tức"khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến", chứng Nhấtthừa đạo chứ không vì gì khác. Vì vậy dù trước đứcPhật có quyền khai ba thừa, cuối cùng đức Phật cũng chỉdạy Nhất thừa.

Trong14 phẩm thuộc Bản môn, mở đầu duyên khởi là phẩm Tùngđịa dũng xuất, nhưng chủ yếu chính là phẩm Như Lai thọlượng, khai thị cho thấy đức Thích Ca chỉ là thân ứnghóa có sanh có diệt theo cơ cảm của chúng sanh trong đờingũ trược ác thế, mà đã là thân ứng hóa tức nhiên phảixuất từ thân Phật bản hữu vốn đã thành Phật vô lượngvô biên kiếp.

Ngoàihai phẩm ở Tích môn và hai phẩm ở Bản môn vừa nói trênđây, các phẩm còn lại, hoặc để quảng diễn bổ túc, hoặctán thán khuyến khích thọ trì, giảng nói, hoặc nêu sự hoạtdụng của Pháp Hoa, để làm trọn vẹn lý nghĩa Quyền, Thật,Tích, Bản, vạn thiện đồng quy bình đẳng đại huệ vàchúng sanh đều thành Phật mà trong hội Pháp Hoa chủ tâm nóiđến vậy.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn