Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương 41: Nỗi Sợ Tử Sinh

25/03/201101:36(Xem: 3472)
Chương 41: Nỗi Sợ Tử Sinh

KINH BỐN MƯƠI HAI CHƯƠNG
HT Thích Phước Tịnh Giảng Giải

CHƯƠNG 41
NỖI SỢ TỬ SINH

Thưa đại chúng,
Hôm nay chúng ta đi vào chương bốn mươi mốt có chủ đề Nỗi Sợ Tử Sinh.

A. CHÁNH VĂN.

Phật ngôn: “Phù vi đạo giả, như ngưu phụ trọng, hành thâm nê trung. Bì cực bất cảm tả hữu cố thị. Xuất ly ứ nê, nãi khả tô tức. Sa môn đương quán tình dục, thậm ư ứ nê, trực tâm niệm Đạo, khả miễn khổ hỷ.”

Đức Phật dạy: “Người tu tập giống như con trâu kéo xe, chở rất nặng đi trong chốn bùn lầy. Cho dù mỏi mệt vô cùng cũng không dám nhìn qua hai bên. Bao giờ ra khỏi chốn bùn lầy kia mới dám nghỉ ngơi. Các vị Sa môn phải quán chiếu tình dục như bùn lầy, một lòng chuyên chú nhớ đến Đạo mới có thể vượt thoát cảnh khổ.”

B. ĐẠI Ý.

Đại ý chương bốn mươi mốt này là chúng ta hãy tỉnh giác, tinh cần luôn quán chiếu nguồn gốc và nỗi khổ tử sinh để cầu thoát sinh tử.

Trong chương Kinh này ở câu đầu Đức Phật nói ví dụ: “Như trâu kéo nặng đi qua vùng bùn lầy rất mỏi mệt cũng không nhìn ngó hai bên, khi nào ra khỏi mới dám nghỉ ngơi.” Đây là Ngài chỉ ví dụ để đưa đến câu quan trọng hơn: “Sa môn quán chiếu tình dục như bùn lầy rất đáng sợ.”

Thưa đại chúng, chúng ta đang đi trên con đường vượt thoát bùn lầy nên mắt phải nhìn thẳng tới trước. Với ý chí dũng mãnh nhìn thẳng tới trước mới mong vượt thoát nỗi khổ sinh tử, luân hồi. Nếu không thì chúng ta ghé lại bên đường ngồi chơi, rồi nằm dài ra ngủ luôn. Trên con đường dài người lữ hành chốn nhân gian làm như thế, đôi khi người tu chúng ta cũng làm như vậy. Một là chúng ta dừng lại do những phù hoa giả tạo trên con đường đi lôi mình, hai là trên đường tu khi chúng ta đạt được một chút an lạc rồi dừng lại nơi đó. Trong khi một hành giả, một Thiền nhân thực sự thì không bao giờ như vậy. Chúng ta phải thành tựu Niết Bàn chứng Phật quả chứ không an trú trong thành đạt nửa vời.

C. NỘI DUNG.

Chúng ta sẽ khai thác kỷ ba phần chính của bài Kinh: Hình ảnh, ẩn dụ của kinh điển. Sa môn quán chiếu tình dục và trực tâm niệm đạo.

1. Hình ảnh ẩn dụ trong kinh điển:

Thứ nhất là hình ảnh ẩn dụ trong A Hàm. Thứ hai là hình ảnh ẩn dụ trong văn học Đại thừa, và hình ảnh ẩn dụ trong văn học Thiền.

– Đặc biệt trong kinh văn của đức Phật Ngài dẫn dụng rất nhiều ví dụ dễ hiểu, gần gũi nhân tình làm cho chủ đề trình bày rất sáng và làm tâm thức người nghe không chán. Các vị thầy lớn cũng thường đưa ra ví dụ và ẩn dụ trong Kinh văn để giải minh về đoạn đường sinh tử, nỗi nhọc nhằn, và nỗi lo sợ của chúng ta phải làm thế nào vượt thoát.

Trong chương Kinh thứ hai mươi bảy Đức Phật từng trưng ra cụ thể những ẩn dụ: khúc củi trôi sông nếu không bị tấp vào bờ, không tấp vào cồn đảo không bị chìm, không bị người ta vớt thì nhất định nó trôi ra đến biển. Và chương nầy Đức Phật ví dụ như con trâu kéo xe trở nặng đi trên con đường bùn lầy... đó là những ẩn dụ trong văn học A Hàm được tuyển dụng. Và tôi xin kể thêm một ẩn dụ nữa là có một tên tử tù bị dẫn ra pháp trường sửa soạn chém thì may mắn thay anh thoát được. Lúc đó nhà vua thả bốn con voi rượt theo. Tên tử tù chạy đến bờ giếng nắm sợi dây để nhảy qua nhưng dây quá ngắn, không đưa đủ qua bờ giếng bên kia nên đành theo dây thả người xuống dưới. Nhìn xuống thì thấy đám rồng lửa, nhìn quanh thì thấy bốn con rắn độc, nhìn lên trên thì hai con chuột trắng, đen đang gặm sợi dây anh đang nắm. May mắn thay có một bầy ong mật đi ngang qua làm rớt năm giọt mật ngay đúng môi anh. Mật ngọt quá làm anh quên hết mọi nguy hiểm, quên cái chết đang kề cận ba bên bốn phía.

Đây là một hình ảnh ẩn dụ rất hay. Chúng ta cũng đang nắm lấy sợi dây thọ mạng của mình như chàng tử tù kia. Ngày tháng đi qua gậm mòn sợi dây thọ mạng mỏng manh ta đang nắm, tứ đại trong thân bức ngặt gây nên tật bệnh đang rập rình ba bên, bốn bề. Phía dưới tam độc tham, sân, si đang phun lửa. Bất an, phiền não đốt cháy tâm can. Thân tâm và đời sống bên ngoài bên trong luôn bức bách chưa phút nào dừng. Thế mà chỉ cần năm, ba giọt mật của ngũ dục làm ta quên hết sự sống chết đang đến với ta.

Một điều để chúng ta cần lưu ý trong văn học A Hàm Đức Phật đã dùng rất nhiều ẩn dụ để răn dạy nhắc nhở, khích lệ cho chúng ta biết sợ nỗi khổ tử sinh đang rượt đuổi mình, sợ cái chết đến trong từng ngày, trong từng hơi thở như trong chương ba mươi tám Phật đã dạy: “Mạng sống của con người chỉ bằng hơi thở vào, hơi thở ra mà thôi.”

Nỗi khổ trong nhiều kiếp luân hồi rất đáng sợ, duyên đạo ta không khéo gieo, sự tu tập không giỏi thì chắc chắn chúng ta rớt lại trong ba cõi sáu đường nên trong văn học A Hàm Đức Phật nhấn mạnh về con đường nguy hiểm, đáng sợ hãi của nỗi khổ tử sinh.

– Trong văn học kinh điển Đại Thừa, Đức Phật không vận dụng đưa ra những ví dụ để đệ tử của Ngài kinh sợ tử sinh nhiều như văn học A Hàm.

Sự khác biệt giữa văn học A Hàm và văn học Đại thừa là một bên đặc biệt chú trọng người tu phải thoát khỏi con đường sinh tử, một bên nhấn mạnh phát Bồ Đề tâm hành Bồ Tát Đạo. Các vị Bồ Tát phải ngay trong cuộc đời thọ nhận sáu pháp Ba La Mật rồi lăn lộn ở cõi nhân gian giáo hóa muôn loài để thành tựu quả Phật. Chứng A La Hán, chưa phải là thành tựu cuối cùng của văn học Đại thừa muốn nói đến.

Trong văn học Niết Bàn cũng cho chúng ta biết Đức Phật dạy các thầy Tỳ kheo rằng con đường giải thoát sinh tử vẫn là con đường tạm thời chưa phải con đường viên mãn của người tu. Viên mãn của người tu là đạt đến Phật quả.

Như thế văn học Phật giáo phát triển có điều khác gì biệt với văn học Phật giáo Nguyên thủy? Thưa, họ chỉ cho chúng ta biết quả chứng của các vị Tỳ kheo ngày xưa chỉ là quả vị nửa chừng. Đoạn được kiến hoặc, tư hoặc, chứng nghiệm được Tịch diệt ở mức độ cạn chưa thực sự thành tựu bản hoài của người tu, chưa đi trọn con đường vượt thoát thân phận con người. Chúng ta phải thành tựu Phật quả mới thực sự giải thoát.

Chúng ta bước vào văn học Bát Nhã cũng nằm trong hệ Đại thừa, khai triển Như Lai Tạng và tự tánh Như Lai, cho rằng chất Phật nằm ở trong phiền não. Phiền não dày đặc bề bộn bên ngoài nhưng có Phật ở trong.

Hình ảnh ẩn dụ cho chúng ta dễ thể nhận nhất là tổ mật ong. Mật ong ngon ngọt nằm giữa, nhưng bên ngoài thì những con ong bâu quanh, đậu đen nghịt kín mít. Chúng ta chỉ thấy những con ong bao vây thật dễ sợ, nhưng thực tế bên trong đầy mật rất ngọt. Giống như phiền não, khổ đau, nghiệp chướng bao quanh rất là dày trong tâm thức con người, nhưng bên trong mỗi con người đều có vị Phật ở đó.

Một ví dụ nữa như hạt gạo thơm nàng hương chợ Đào chất vị của nó rất thơm ngon nhưng bên ngoài là lớp vỏ lúa thô cứng bao quanh và một lớp cám mỏng bám chắc khó cạo gọt. Như tự thân con người ai cũng có tâm Phật bên trong nhưng bên ngoài là lớp vô minh, ngoài lớp vô minh là phiền não, ganh tị, giận hờn, lo sợ... cũng là lớp trấu bên ngoài.

Hay tôi có thể lấy ví dụ khuôn đúc tượng bằng đất, vì chỉ có đất mới chịu nổi sức nóng hàng ngàn độ của đồng. Và khi đúc xong một tượng Phật, một cái chuông, chúng ta thấy duy nhất một khối đất đen xù xì, nhưng đập vỡ lớp đất bên ngoài tức thì một ông Phật bằng vàng hay chuông bằng vàng hiện ra. Sau đó người ta mang ra đánh bóng, hình Phật lộ ra phát quang sáng ngời, tôn trí lên bàn thờ thiên hạ ai cũng lạy.

Chính từ những ví dụ trong văn hệ Niết Bàn hay Bát Nhã cho chúng ta biết là trong bản thân chúng ta, tự trong mỗi hình hài của sinh linh nầy đều có chất Phật. Chúng ta đều có khả năng thành Phật mà cứ nghĩ mình là lớp đất sét bên ngoài tượng Phật, là vỏ lúa, là lớp cám. Không biết rằng mình chính là ông Phật bằng vàng bên trong.

– Cánh cửa của Thiền nhân.

Từ văn học Phật giáo Đại thừa, chúng ta bước vào văn học nhà Thiền sẽ thấy các vị Thiền sư rất tuyệt vời. Khi chúng ta hỏi các Ngài Phật ở đâu ông chỉ liền mà không vận dụng văn học kinh điển để ta kịp suy nghĩ, tư duy gì cả. Ông chỉ ngay cái gì là Phật đang ngự trong hình hài nầy.

Thế nên ta có thể nói văn học Thiền kế thừa được tinh thần Phật giáo Đại Thừa rất nguyên vẹn, làm cho tinh hoa Phật giáo Đại Thừa hiển lộ rạng ngời.

Ví dụ một hôm có vị Tăng đến hỏi Ngài Cảnh Thanh: “Bạch Thầy, con là kẻ mới vào tùng lâm, tu chưa được bao lâu xin Ngài từ bi mở cho con một lối vào đạo.” Ngài Cảnh Thanh bảo: “Ông có nghe mưa rơi ngoài hiên không?” “Dạ thưa có.” “Ngay chỗ đó vào, ngay chỗ đó vào.” Đó là con đường vào bằng tai.

Đi vào bằng con đường của mắt có câu chuyện như sau: Ngài Vô Nghiệp đi vào đảnh lễ Mã Tổ: “Thế nào là Phật?” Mã Tổ nói: “Cái đồ ngốc, vác Phật đi tìm Phật.” Ngài Vô Nghiệp không hiểu gì hết đảnh lễ tạ từ. Khi ra về Mã Tổ thấy thương nên tiễn ra ngoài cổng. Đang đi thì Ngài vỗ vào vai Vô Nghiệp, Vô Nghiệp quay ngó lại, ngơ ngác. “Đâu không phải là Phật đang phóng quang.” Mã Tổ nói. Ngay lúc đó Vô Nghiệp nhận ra được con đường vào bằng mắt.

Thưa quí vị, chúng ta ai cũng có sự nhận biết khi nhìn, khi thấy, khi nghe, và cái biết nầy trực tiếp. Nhưng thông thường khi nhận biết rồi chúng ta còn thêm vào nhận biết ấy những thì thầm và những thì thầm nầy kéo dài thành những phiền não, khổ đau, vui buồn của cảm thọ. Trong khi chính chúng ta chỉ là cái biết sáng rỡ, hiện tiền vô niệm và đó là Như Lai Bất Động. Nó nằm ngay trong phiền não bời bời nầy, chỉ cần quay lại nhận ra mình chính là Như Lai Bất Động, tức khắc mọi phiền não, khổ đau của trần gian rơi rụng: ngay nơi đó là đường vào. Người xưa tu, khi an trú được trong vùng đất nầy họ nói: “Nhất niệm thiên thu, thiên thu nhất niệm.” là như vậy.

Cho nên những hình ảnh ẩn dụ từ văn học A Hàm, văn học Đại thừa, văn học Thiền... tuy chia ra làm ba để giải thích nhưng không có biên giới rõ ràng cho những vấn đề khác biệt về bản chất.

Trong văn học A Hàm Đức Thế Tôn cũng chỉ dạy cho chúng ta biết quay về tự thể tâm Niết Bàn để an trụ, trong văn học Phật giáo Phát triển cũng vậy, tuy nói lên nhiều ví dụ nhưng cũng để qui chiếu lại tự tâm ta vốn là Phật đã thành, đã có từ muôn vạn kiếp. Hay dùng một từ gần nhất để diễn đạt là cái “nhận biết bất động đã có sẵn nơi anh, không phải tu rồi mới có sự nhận biết ấy.”

Dĩ nhiên, trong văn học Thiền đặc biệt các Thiền sư khai triển trực tiếp những điều nầy. Tuy có nhiều thể loại, cách thức, ngữ cú và hình ảnh khác nhau nhưng ý sâu xa nhất đều có chung con đường quay trở lại khéo nhận ra trong sinh diệt của hình hài ngũ uẩn nầy có cái không sinh diệt.

Ngoài ra văn học Thiền có thể chia ra ba tầng: tầng đầu là đi vào qua ngôn ngữ, thứ hai là con đường thực tập, thứ ba là chứng nghiệm sự nhận biết tâm Phật tự có của chúng ta.

Chúng ta vừa bước qua phần đầu của chia xẻ ngôn ngữ, văn tự. Thứ hai là con đường chúng ta thực tập cho được. Và điều khó hơn là chúng ta chứng nghiệm sự liễu ngộ.

Liễu ngộ hay thể nhận là một việc, có niềm tin là một việc nhưng làm thế nào để sống liên tục trong từng phút giây, điều nầy không đơn giản. Nhận ra đường đi chưa phải là xong, người xưa có khi ngồi rách bảy cái bồ đoàn. Chúng ta nếu tinh tấn thì công phu hàm dưỡng nhiều khi phải mất mấy chục năm. Ngài Quốc Sư Huệ Trung ngộ đạo rồi lên núi bốn mươi năm. Ngài Triệu Châu ngộ đạo rồi hành cước cho đến tám mươi tuổi.

Người xưa có câu: “Chưa ngộ đạo thì lòng khăng khăng như đưa ma mẹ, ngộ đạo rồi thì lòng cũng khăng khăng như đưa ma mẹ.” Câu ấy nói gì? Thưa, khi mới vào đạo lòng tu chúng ta thiết tha, chăm chú lo lắng như nhà có tang mẹ, và ngộ đạo rồi nắm được đường đi, lòng cũng miệt mài không lơi lỏng; ba trăm sáu mươi đốt xương của hình hài nầy mình đầu tư vào một chuyện tu mà thôi. Khi đã thảnh thơi, phàm Thánh đều rũ sạch, sinh tử đều như mộng rồi, lúc bấy giờ chúng ta mới có quyền thênh thang tự tại.

Đến lúc nầy thì sinh tử, luân hồi, lục đạo không có gì nắm được chân người tu nên có người hỏi Ngài Qui Sơn sau khi chết rồi Ngài về đâu, Ngài cười bảo: “Sau khi chết ta xuống dưới núi đầu thai làm một con trâu, hông bên tả viết bốn chữ Qui Sơn Linh Hựu lúc đó ông gọi Qui Sơn Linh Hựu hay là con trâu?”

Thưa quí vị, thường khi nghe câu hỏi của người hay chính mình đặt câu hỏi là tâm thức ta liền khởi ý suy nghĩ lung tung, vận dụng ý thức sinh diệt đoán nầy, đoán nọ. Đâu biết rằng mình đang bị người ta lừa gạt.

Vì khi chúng ta cất tiếng hỏi là đã lạc vào vùng trời của vọng thức lao xao, khởi ý phàm Thánh và ở đây khi nghe Qui Sơn trả lời thì trong chúng ta lại khởi lên hình ảnh con trâu, dòng chữ rồi tính toán phải trả lời thế nào thì ngay chính lúc đó chúng ta đã đánh mất Bất Động Trí của Như Lai.

Người tu chúng ta an trú tâm được nơi Đạo không phải là người khoác y đỏ, mặc áo lễ phục vàng, đội mũ quốc sư. Không phải đi đứng khệ nệ, cũng không phải là người ngồi thiền suốt ngày mà được đánh giá là người sống được với Đạo. Người sống được với Đạo là người từng sát na không được rời Như Lai Bất Động Trí, lúc nào cũng an trụ trong sự nhận biết vô ngôn sáng ngời, tĩnh lặng.

2. Cách ấm là mê.

Thưa đại chúng, nỗi sợ lớn nhất của đời người là chết và sống mà thông thường chúng ta không thấy đó là nỗi sợ. Chúng ta hay lo sợ về những điều vu vơ không đâu. Trong đời sống chúng ta thường có những dự tính không làm được vì không lường được cái chết, và cái chết đến rất bất ngờ vậy mà chúng ta vẫn tưởng thọ mạng mình lâu dài, bất tận.

Và hai điều cho người tu thấy rõ hơn, là chúng ta càng già năng lực càng yếu vì nghiệp thức tích tụ rất dày, nên tạo thành đời sống với nghiệp quá nặng rất khó tu tập. Vì thế phải có những bậc thầy giỏi mới có khả năng điều hợp, mới có đức độ giúp cho những người lớn tuổi chuyển hóa nghiệp thức. Những kiêu ngạo về kinh nghiệm, sự từng trải trong đời và những chứng tật rất dễ làm nên những bức xúc, khó sống hài hòa trong chúng. Đến một lúc nào đó cơ thể đã yếu, khả năng thực tập của chúng ta sút giảm, lý trí không đủ mạnh để khống chế những cơn giận phát tác mà lúc trẻ chúng ta kềm hãm được là ta cảm thấy lo sợ; sợ bệnh, sợ cô đơn và một nỗi sợ lớn dần trong ta là nỗi sợ chết.

Công phu tu tập của chúng ta đã có nay vì sức khỏe yếu kém chỉ còn một phần không như lúc còn trẻ, và con đường bệnh tật sẽ đến trong một ngày không xa, do vậy sinh tử là nỗi sợ lớn nhất ám ảnh chúng ta suốt đời. Bệnh không đáng sợ, nghèo không đáng sợ, tất cả những khó khăn của hoàn cảnh đưa đến đều không đáng sợ nhưng chết sống là nỗi sợ lớn nhất.

Chúng ta tu mà dở dở, ương ương có khi là đại họa cho nhiều kiếp. Tại sao? Nhờ sự tu hành trong kiếp nầy, kiếp sau chúng ta trở thành người có phước được ở trong điều kiện sang trọng, giàu có nên con đường vật chất phù hoa lôi kéo làm mình quên tu. Kinh văn nói: “Cách ấm là mê” có nghĩa là khi rời thân ngũ ấm để thọ nhận một thân xác mới thì thần thức chìm rất sâu trong vùng đen tối hôn mê. Chắc hẳn đây là cơ hội làm mới lại hình hài, làm mới luôn tâm thức của ta. Tuy nhiên, điều sẽ xẩy ra là ta quên đi ít nhiều nguyện lực trong quá khứ. Thế nên không khéo tu hành, hay tu mà giãi đãi thì một kiếp nầy gieo họa cho nhiều kiếp trong tương lai, mà sinh tử là điều đáng sợ nhất của một kiếp sống.

3. Con đường tử sinh qua cái nhìn của Đại thừa, Tiểu thừa

Thưa đại chúng, có một điều tế nhị chúng ta bàn nơi đây là cách dùng từ của chúng ta. Hai từ Đại thừa và Tiểu thừa tuy thông dụng nhưng không ổn lắm.

Thứ nhất ngầm ý khinh thường Phật giáo Nam Truyền, thứ hai là ngầm tính kiêu ngạo trong tự thân của nó gây sự chia rẽ, kỳ thị trong Phật giáo giữa Nam và Bắc ngày càng sâu hơn. Cho nên hiện tại người ta ít dùng từ Đại Thừa hay Tiểu Thừa vì đó là từ rất xúc phạm. Chúng ta nên hiểu rõ điều nầy để dùng từ cho đúng với tính cách lịch sử là Phật giáo Nguyên Thủy hay Nam Tông, hầu lấy đi sự phân hóa không cần thiết.

Đối với cái nhìn của các thầy lớn truyền thống Bắc Tông, thì tâm thức kỳ thị và xem thường Phật giáo Nguyên Thủy còn rất nặng. Tất cả các Kinh điển của Đức Thế Tôn được kiết tập trong văn học A Hàm ngày xưa họ đều xem là kinh Tiểu Thừa. Điều nầy rất là lầm lẫn. Trong khi đó Kinh văn A Hàm là nền tảng cho văn học Phật giáo Phát triển và Đại thừa. Thứ nữa, năng lực đóng góp thực sự của Phật giáo Nguyên Thủy hiện tại vô cùng to lớn. Ngay trên đất Mỹ đã có nhiều trung tâm dạy Thiền Vipssana rất thành công. Khả năng đóng góp của Phật giáo Nguyên Thủy rất lớn chứ không như chúng ta tưởng. Và với tâm thức ảnh hưởng nặng nề văn học Hán tạng Trung Hoa cho nên chúng ta bài bác, xem nhẹ Truyền Thống Nguyên Thủy. Điều nầy đem đến sự phân hóa, kỳ thị trong tâm thức người Việt rất phi lý và không có trí tuệ.

Chúng ta có thể đi vào nhiều truyền thống tâm linh, và với tâm ham tu gặp chùa nào cũng ghé nhưng rất tội nghiệp cho chúng ta là Chùa và Phật giống nhau nhưng không phải nơi nào cũng có chánh pháp. Cơ duyên gặp Đạo rất hiếm, và cơ duyên gặp được chánh pháp cũng không dễ. Nếu không có duyên lành đôi khi vào chùa, chúng ta lại chạy lạc vào nẻo lợi danh hướng ngoại, chạy vào nẻo học thuật, chạy trên văn tự chữ nghĩa nuôi lớn bản ngã và lòng kiêu ngạo hay tự hào.

Con đường quay trở về để nhận được gì là Phật nơi chính mình, là tâm Bồ Đề chân chánh nơi chính mình không dễ tìm. Tâm thức chúng ta đổi thay liên tục, nay thương, mai ghét nên khi may mắn gặp được chánh pháp khởi phát ý muốn tu hành, nhiệt tình tu tập đang lên, chúng ta hãy lợi dụng từng giờ của cuộc sống đừng để một đời trôi qua hoang phí.

Trong đoạn Kinh nầy có câu: “Sa môn đương quán tình dục, thậm ư ứ nê”. Đức Thế Tôn đưa ra hình ảnh con trâu kéo xe đi qua vũng bùn lầy không dám dừng lại vì dừng lại sẽ bị lún sâu không có cách gì vượt được để ví người tu chúng ta cũng như thế.

Người thọ giới Pháp của Phật thành Sa môn thì hãy nhìn ái dục nguy hiểm giống như vũng bùn lầy xe mình phải vượt qua. Công phu tu tập của chúng ta phải thẳng một đường, tâm Bồ Đề luôn kiên cố, vững bền không được rời một phút giây nào cả thì mới có khả năng vượt thoát tử sinh. Tâm chúng ta không vững thì đường tu chúng ta không đi trọn và đau lòng nhất cho người tu chúng ta là bị gãy đổ ở tuổi lớn, gãy lúc ta đã có danh vọng lớn, lúc có thể cống hiến nhiều nhất cho Đạo. Điều nầy thật ra dễ hiểu vì danh đưa đến lợi, và khi lợi có mặt sẽ dẫn theo nhiều sự thối đọa khác. Và không khéo tu càng có danh thì càng có điều kiện tha hóa. Chúng ta cần lưu ý.

Mũi nhọn đánh phá người tu rơi rụng nhiều nhất là ái dục nhân gian. Tiền và danh vướng vào có thể cứu vãn được. Nhưng khi vướng vào ái dục thì uy tín không còn để làm đạo, đức hạnh không còn để nhiếp chúng. Công phu tu dù có dày bao nhiêu, tài ba hay giỏi bao nhiêu nhưng vướng vào con đường nầy thì mất luôn một đời không đứng lên được. Vì thế Đức Phật dùng ví dụ nầy để nói lên khó khăn của người tu khi gặp phải vấn đề nầy. Khó khăn thứ hai là làm thế nào chúng ta giữ được Đạo, làm cho tâm Bồ Đề luôn sáng rỡ tròn đầy.

Kinh văn A Hàm Đức Thế Tôn dạy cho các vị Tỳ kheo quán chiếu nỗi khổ sinh tử, và làm thế nào trong một đời vượt thoát. Với câu kinh “Độc cư thiền tịnh”, các thầy miệt mài trong công phu tu tập cho đến khi thành tựu Niết Bàn mới thở phào nhẹ nhõm. Các Ngài thường tuyên bố: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc đáng làm đã làm không còn trở lại hình hài nầy nữa.” Và các Ngài an nhiên nhập Niết Bàn.

Tuy nhiên, văn học Phật giáo Phát triển với những ẩn dụ trong Kinh điển cho chúng ta thấy rõ một điều là các vị Bồ Tát chẳng những không kinh sợ sinh tử mà còn tái sinh hà sa kiếp trong cõi tử sinh. Tại sao?

Thưa, nguyên nhân đầu là các Ngài quan niệm trong hình hài của mỗi loại sinh linh đều có sẵn tâm Phật chiếu sáng. Có thể người kia bị chìm nổi trong luân hồi, lục đạo cũng giống như tượng Phật bằng vàng dù ném vào chốn bùn lầy, chôn dưới đất nhưng chất vàng bên trong vẫn là vàng, không có điều gì làm cho ô uế, làm mất phẩm chất vàng bên trong của tượng Phật được. Chỉ vì mỗi sinh linh còn nổi chìm trong vô minh, sinh tử nên chưa nhận ra được tâm Phật của chính mình. Rồi sẽ có lúc trong họ bừng sáng đời sống tâm linh, tự nhiên mở được con đường đi vào cõi Niết Bàn. Cho nên đối với văn học Phật giáo Bắc Truyền các Ngài xem nhẹ sinh tử, xem sinh tử như một trò chơi

Thứ hai, “Tâm, Phật, chúng sanh tam vô sai biệt.” Tâm, Phật, chúng sanh chỉ là một. Thành tựu viên mãn quả Phật tự thân là thành tựu Phật quả cho chúng sanh.

Thứ ba, ta và người cùng pháp tánh uyên nguyên vô sinh bất diệt như nhau. Do vậy một niệm phát Bồ Đề tâm là chấn động mười phương hư không. Bồ Tát khởi Đại Bi tâm vận vô duyên từ lăn lộn trong ba cõi sáu đường, sinh tử xuống lên để độ sinh là lẽ tự nhiên thôi.

4. Thiền sư nhìn cuộc tử sinh.

Như quí vị đã biết văn học Thiền Tông là một nền văn học được kết hợp từ văn học Nguyên Thủy và văn học Phát triển. Nó là tinh hoa của đạo Phật Trung Hoa, được phối ngẫu từ một nền văn hóa có bề dày bốn ngàn năm đã làm nên phẩm chất Thiền Tông Trung Quốc có sức hấp dẫn rất lớn cho Phật giáo thế giới. Gia tài Thiền Tông đồ sộ được hình thành và phát triển từ hai truyền thống Phật giáo Namvà Bắc nên dòng chảy của nó rất mênh mông.

Do vậy những ẩn dụ và hình ảnh nỗi sợ sinh tử trong Thiền Tông sẽ được giải minh từ truyện ký nhà Thiền. Chúng ta có thể phân biệt hai điều có mặt trong gia tài Thiền là sợ sinh tử và không sợ sinh tử.

Có những vị Thiền sư khắc trên trán một chữ Tử để hứa với lòng trong một đời phải giải quyết xong chuyện tử sinh.

Thiền sử kể chuyện một vị Thầy đưa cho đệ tử một trái bầu đầy nước bỏ muối vào xong bảo đệ tử làm cho tan. Người đệ tử loay hoay không biết làm sao cho muối tan được. Vị thầy bảo: “Con đổ nước ra cho nó lưng bớt đi một chút để có thể quậy được, cầm lắc được thì muối mới tan.”

Trong lãnh vực tu hành cũng vậy, căng thẳng không phải là điều tốt để tiến đạo và sự nôn nóng cũng vậy; nôn nóng không bao giờ thành công, nhất là muốn cắt đứt dòng sinh tử trong một đời. Người tu giỏi là người biết thực tập thong thả, từ từ không chạy nước rút. Sợ sinh tử là tự nhiên, nhưng không phải là kinh hoảng, vội vàng.

Những người tu chúng ta ít có ai mà không sợ sinh tử nhưng có những vị thiền sư không sợ sinh tử. Họ là những người có duyên may lớn gặp được vị Thầy chỉ cho cách tu tập, mở ra con mắt pháp; đó là kiến tánh khởi tu và không sợ sinh tử. Kiến tánh là quay lại nhận ra được thể không sinh, không diệt, nhận ra được tâm Phật của chính mình. Khởi tu là đã lên đường trôi vào biển giải thoát. Khi chúng ta nhận ra được điều nầy, có niềm tin thật vững chắc thì chúng ta là người tu rất thảnh thơi, thong dong không còn sợ tử sinh.

Chỉ một lần bước vào cửa thôi thì mọi việc đổi thay! Bước vào được thì người xưa bảo “Bước qua khỏi cửa mới gọi là nam tử hán.” Khi chưa vào được cửa nhà Thiền tức chưa nhận ra bộ mặt thật của chính mình thì chúng ta vẫn còn là người sợ tử sinh.

Thưa quí vị, trong tinh thần Bồ Tát thì các Ngài không sợ tử sinh, các Ngài luôn giữ lại một chút mê lầm làm hạt nhân để có cơ hội trở lại cõi đời độ sinh gọi là “lưu hoặc nhuận sanh.” Trong Kinh Duy Ma Cật nói câu nầy: “Bồ Tát lưu hoặc nhuận sanh.” Vị Bồ Tát đoạn hết mê lầm phiền não trần sa và vô minh hoặc thì chứng quả Niết Bàn như con diều đứt dây, không còn dính một chút gì đến trần thế nữa thì không còn trở lại. Vì vậy Bồ Tát thường lưu lại một chút mê lầm, một chút ái kiến để trở lại nhân gian. Đây là hình ảnh rất đẹp của Bồ tát hạnh, cũng là phong cách của các Thiền sư sau khi triệt ngộ cất bước vào đời độ sinh, như làm cuộc rong chơi cợt cười cùng sinh tử.

5. Sa môn quán chiếu tình dục.

Chúng ta hãy đọc lại đoạn sau của bài Kinh bốn mươi mốt. Phật dạy: “Các vị Sa môn phải quán chiếu tình dục như bùn lầy, một lòng chuyên chú nhớ đến Đạo mới có thể vượt thoát cảnh khổ.”

Ở mức độ thường trong tâm thức người tu chúng ta rất sợ tình dục, sợ ái dục. Điều nầy trong truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy chúng ta thấy rất nhiều. Có một lần A Nan hỏi Đức Thế Tôn là: “Con phải làm thế nào để tiếp xúc với người khác giới.” Đức Thế Tôn bảo: “Đừng tiếp xúc với họ.” A Nanthưa thêm: “Phải tiếp xúc với họ thì sao?” “Thì đừng nói chuyện với họ.” “Phải nói chuyện với họ thì sao?” “Thì đừng cười với họ.” Ngài đã trả lời một tràng dài khuyến tấn các tỳ kheo phải cẩn trọng khi đối diện với người khác phái. Điều nầy nói lên nỗi sợ tiếp xúc phát sinh những ái nhiễm tình cảm là nỗi sợ ngàn đời của thế giới người tu.

Nếu chúng ta dùng lăng kính tâm lý mà nhìn về vấn đề nầy thì thưa các vị tại sao chúng ta sợ? Có một điều rất ngược là khi càng sợ, và nỗi sợ càng lớn thì người ta càng tò mò, càng khát khao về vấn đề đó lớn bấy nhiêu. Cho nên khống chế không phải là vấn đề an toàn đối với người tu chúng ta. Sợ sệt, trấn áp biểu lộ một tâm thức bất an, xung động. Trong khi đó chúng ta sinh hoạt một cách bình thường, tiếp xử một cách thản nhiên thì vấn đề khó khăn không phát sinh, vướng mắc không phát sinh. Trái lại nếu chúng ta đề kháng thì nó có tác dụng trái ngược. Ví dụ khi thấy một Thầy và một Cô thân nhau, đồng cảm với nhau thì ta gọi là vướng mắc. Thực sự thì chưa có gì để gọi là vướng mắc, nhưng khi biết bao con mắt đổ dồn vào, buộc tội vướng mắc, cảnh báo đối tượng ấy phải xa lánh, đề phòng là tự nhiên tạo ấn tượng để họ có cơ hội trở thành vướng mắc thiệt.

Có những môi trường sống cho thấy rõ ràng khoảng cách giữa Tăng đoàn nam và nữ, nên sự vướng mắc giữa hai phái khó phát sinh, nhưng đôi khi có tình trạng vướng mắc giữa người đồng tính. Chúng ta đều biết dù tu nhưng chúng ta cũng có bạn tu thân hay không thân với nhau. Khi mà cùng một cung điệu tâm hồn, một cảm nhận, hiểu biết tương đồng thì chúng ta mới có thể nói chuyện với nhau nhiều được và thân nhau rất dễ. Thân nhau đâu phải là vướng mắc. Đời sống chúng ta nếu luôn sống trong đề phòng lo sợ, không dám kết bạn với ai, vô tình chúng ta làm đời sống mình ngày càng trở thành héo úa, lạnh lùng. Quí vị nên lưu ý điều nầy, để đừng quá khắt khe với những trường hợp các bạn đồng tu trân trọng nhau, chăm sóc nhau. Nếu mình nghĩ họ vướng mắc là đổ tội lên người khác, vô tình đẩy người ta vào ngõ cụt của đời tu.

Điều thứ hai chúng ta phải rất tinh tế nhận diện những cảm thọ, khởi ý từ tâm thức ta. Tâm thức chúng ta cực kỳ thông minh, có ngàn vạn đường để lừa gạt và biểu hiện tính chất ái dục mà mình không lường được. Ví dụ như khi có cảm tình với một người nào đó, ý thức có vô vàn cách thế để mình biểu lộ. Thế nên lòng ta phải đủ bén nhạy để nhận diện và dừng lại ngay khi niệm ái dục còn trong trứng nước. Hãy nhớ rằng chúng ta được sinh ra từ ái dục cho nên bên trong hình hài nầy, tâm thức nầy chất ái dục làm thành sự sống, làm thành chuỗi luân hồi nên sự có mặt của mỗi con người đều mang theo quá khứ rất dày của ái dục. Và bước đầu tiên trên con đường của người tu chúng ta là phải quán chiếu vấn đề nầy rất cẩn thận. Chúng ta đề phòng, cẩn trọng với ái dục nhưng không xem nó là kẻ thù phải loại trừ và hủy diệt; vì ngoài mặt tiêu cực tàn phá thân tâm, nó còn là một năng lượng có mặt tích cực vô cùng nếu chúng ta biết chuyển hóa dòng chảy ái dục vươn lên đỉnh cao đời sống tâm linh.

– Quán chiếu sự sinh khởi và tắt ngấm của tình dục.

Tình dục là một vấn đề rất nhạy cảm đối với người tu. Một người tu mà tham tiền người ta còn tha thứ được. Nhưng một người tu đôi mắt nhìn biểu lộ sự thèm khát, nhìn đâu ái tính cũng phát tiết rất mạnh thì không ai có thể tha thứ cho họ cả. Sở dĩ gọi là nhạy cảm vì người đời họ sống trong đó, nên khi ta nhìn họ mà mắt thể hiện một chút gì không trong sáng là họ biết ngay. Chúng ta có sự liên hệ với một người nào đó mà biểu lộ tình cảm, ái tính của ta thì họ biết liền. Nên điều quan trọng là người tu hãy nhận diện ái dục cho thật rõ qua hai vấn đề cực kỳ nhạy cảm nầy. Không ai biết mình bằng mình. Chúng ta khi nhìn một ai mà tâm sinh khởi ái nhiễm, người ngoài có thể đoán được do vì năng lượng ái dục bên trong ta mạnh. Nhưng khi sơ phát, lúc nó chỉ mới khởi như tia nắng ban đầu của mặt trời vừa mới ửng thì chỉ riêng mình biết mà thôi. Do vậy người tu phải quán chiếu tận gốc của ái dục hầu tịnh hóa được tâm.

Quán chiếu vấn đề tình dục, chúng ta phải quán chiếu từ căn bản của dòng chảy ý thức. Nếu đợi đến khi nó cuồn cuộn như sóng trường giang mới chận thì đã muộn. Cho nên ngay sự sinh khởi ý thức chúng ta nhận diện cho rõ thì làm cho năng lượng tình dục tiêu cực tắt ngấm không còn bóng dáng. Và ngay khi nhận diện được sự sinh khởi cũng là lúc chúng ta làm cho sóng ý niệm bốc khói bay đi.

Chúng ta nhận diện được từ gốc, từ căn bản thì chúng ta có khả năng làm Điều ngự tử, có khả năng làm người con giỏi của Đức Thế Tôn. Nếu chưa làm được điều nầy thì chúng ta chỉ là kẻ chạy theo ý thức, để nó dẫn đi đâu mình theo tới đó và chìm đắm trong sinh tử.

Thưa đại chúng, đành rằng người tu chúng ta sợ ái dục nhưng nếu đi theo con đường muốn hủy diệt, loại trừ, muốn khống chế thì không thể thành công được. Chúng ta có một cách loại trừ gốc của tình dục tuyệt vời hơn là không cần quán chiếu gì cả mà chỉ cần an trú tâm trong vùng trời nhận biết tỉnh sáng hiện tiền, tức khắc những ý niệm nầy sinh khởi bồng bềnh như mây nổi, không có gốc nên nó sẽ tự tan biến trong bầu trời tâm rỗng lặng của chúng ta.

6. Trực tâm niệm đạo.

Có hai cấp độ đi vào pháp hành “Trực tâm niệm đạo.”

Ở cấp độ cạn, khi tâm thức chưa quen an trú trong sát na hiện tiền, chúng ta cho phép mình khởi quán. Khởi quán là gì? Là vận dụng ý thức để nói thì thầm về một đối tượng mà mình muốn cắt đứt hoặc loại trừ. Tất nhiên có những thì thầm độc thoại làm sinh khởi niềm vui, nỗi buồn cùng những cảm thọ tiêu cực phá hoại đời sống ta nếu ta để mặc tình cho nó dẫn dắt. Giờ ta làm ngược lại. Ta khởi ý thức chủ động theo hướng tích cực mà mình muốn. Ngôn từ Phật học gọi là “như lý tác ý.” Tức là khởi quán theo chiều thuận với chân lý, dùng ý thức dẫn dắt cảm thọ nuôi dưỡng niềm vui, hạnh phúc, lòng vị tha, tâm yêu thương... và phát triển Bồ Đề tâm. Dĩ nhiên ở giai đoạn nầy có sự tác ý nên sẽ có người quán, pháp quán và đối tượng để quán. Ta có quyền để cho ý thức thì thầm nhưng chỉ được độc thoại và đối thoại theo chiều hướng tích cực.

Phương pháp chúng ta thực tập ban đầu là an trú tâm trong niệm lành, luôn luôn làm phát sáng tâm thức bằng hướng tích cực như vậy là trực tâm niệm đạo. Đây chỉ là mức độ cạn của trực tâm niệm đạo.

Tầng thâm sâu hơn là dừng tâm lại ngay nơi na sát na hiện tiền, lúc nào cũng đem tâm về an trú, dừng lại ngay nơi đây và giờ phút nầy làm cho sự nhận biết luôn có mặt gọi là trực tâm niệm đạo. Chúng ta phải luôn sống không hề rời sự nhận biết như cá sống trong nước, bơi lội, dạo chơi, ăn ngủ trong nước. Lúc nào cũng an trú trong sự nhận biết là đang ở trong tâm Phật chiếu sáng. Dừng tâm lại ngay nơi đây có nghĩa là dừng tâm nơi sự nhận biết sáng ngời. Nếu chúng ta làm được điều nầy thì chúng ta đâu cần khởi quán. Và ngay nơi đây, ta an trụ trong vùng trời tâm thể không sinh, không diệt thì cơ hội của những ô nhiễm ái dục làm sao có điều kiện phát sinh và chúng ta làm được vô vàn điều kỳ diệu cho Đạo.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn