Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

06. Năm chướng ngại

07/02/201109:32(Xem: 4148)
06. Năm chướng ngại

THƯƠNGYÊU LÀ THÔNG CẢM
BìnhAnson
NhàXuất Bản Tôn Giáo TL. 2005 - PL. 2549

-06-

Nămchướng ngại

Chướngngại chính cản trở sự thành công trong hành thiền và pháttuệ giải thoát thường có dạng của một trong năm loạitriền cái (ngũ cái). Triền cái là sự ngăn che, làm cho vướngmắc trong vòng luân hồi sinh tử. Tiếng Phạn là "Nīvarana",và tiếng Anh dịch là "Hindrances". Toàn thể pháp hànhđưa đến Giác ngộ có thể được diễn tả như một nỗlực để vượt qua năm chướng ngại nầy, đầu tiên là tạmthời đè nén chúng để đắc Thiền-na (Jhāna)và pháttuệ minh sát, rồi dần dần chế ngự và trừ diệt chúngmột cách vĩnh viễn qua công phu phát triển Bát Chánh Ðạo.Năm chướng ngại đó là:

-Tham dục (Kāmacchanda, Sense desire)
-Sân hận (Vyāpāda, Ill will)
-Hôn trầm (Thīna-middha, Sloth and Torpor)
-Trạo cử (Uddhacca-kukkucca, Restlessness)
-Hoài nghi (Vicikicchā, Doubt)
Trongnhiều bài kinh, Đức Phật giảng dạy tóm tắt việc chếngự năm triền cái ấy như sau:

"...Vị Tỳ-khưu lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như khurừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoàitrời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vịấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trúchánh niệm trước mặt. Vị ấytừ bỏ tham dục ở đời,sống với tâm thoát ly tham dục, gột rửa tâm hết tham dục.Từbỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòngtừ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâmhết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấysống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướngvề ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôntrầm thụy miên. Từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấysống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hếttrạo cử hối tiếc. Từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sốngthoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửatâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp..."

Ởđây, trong bài nầy, chúng tôi xin giải thích thêm về nămchướng ngại ấy trong tiến trình tu tập hành thiền củangười con Phật.

*

1.THAM DỤClà để chỉ trạng thái mong cầu dục lạc quanăm giác quan của hình dáng, âm thanh, mùi hương, vị nếm,và cảm xúc. Tham dục đặc biệt không bao gồm các ước nguyệnđược hạnh phúc qua căn thức thứ sáu là tâm ý.

Trongmột dạng cực đoan, tham dục là lòng mong ước mãnh liệtđể tìm khoái lạc trong những hoạt động tình dục, thứcăn ngon, hương thơm, cảnh sắc đẹp đẽ hoặc âm nhạc dudương. Nó cũng bao gồm lòng ham muốn thay thế các cảm giáckhó chịu hay đau đớn bằng các cảm giác dễ chịu, có nghĩalà lòng ham muốn được có cảm giác thoải mái.

ÐứcPhật ví sự tham dục như thể đi vay nợ. Các sự khoái lạcta có qua năm căn đều phải trả lại qua các đau khổ vềbiệt ly, mất mát hoặc sự trống rỗng đói khát, vốn sẽtheo đuổi mãnh liệt sau khi các khoái lạc đã bị tiêu dùng.Cũng như bất cứ món nợ nào cũng phải trả thêm lời, vànhư thế Ðức Phật dạy rằng sự khoái lạc đó thật ralà nhỏ bé so với các đau khổ phải hoàn trả.

Trongkhi hành thiền, thiền sinh vượt qua lòng tham dục bằng cáchbuông xả mọi quan tâm về thân thể và hoạt động của nămgiác quan. Nhiều người cho rằng năm giác quan đó hiện diệnđể phục vụ và bảo vệ tấm thân, nhưng thật ra, tấm thânnầy hiện hữu để phục vụ cho năm giác quan, vì chúng dàndựng thế giới để tìm cầu khoái lạc. Thật thế, ÐứcPhật đã từng bảo rằng: "Năm giác quan chính là thế giới",và để thoát ra thế giới, để vui hưởng hạnh phúc siêuthế của thiền-na, chúng ta phải biết xả ly các quan tâmvề thân và năm giác quan của nó.

Khivượt qua được tham dục, tâm của thiền sinh sẽ không cònđể ý đến các hứa hẹn của khoái lạc và cũng không cònđể ý đến sự khoan khoái của cơ thể. Thân thể dườngnhư tan biến và năm giác quan dường như đóng lại. Sự khácbiệt giữa khi còn tùy thuộc hoạt động của năm giác quanvà khi vượt qua chúng cũng như thể sự khác biệt khi ta nhìnra bên ngoài qua khung cửa sổ và khi ta nhìn vào gương soi.Tâm ta khi được giải thoát khỏi hoạt động của năm giácquan sẽ có thể thật sự quay nhìn vào bên trong và thấy rõbản chất thật sự của nó. Từ đó, trí tuệ nảy sinh đểcho ta biết được ta là ai, từ đâu và tại sao.

*

2.SÂN HẬNlà để chỉ trạng thái mong muốn trừng phạt,gây khổ hoặc tàn phá. Nó bao gồm lòng thù ghét một ngườihoặc một hoàn cảnh nào đó, và vì nó tạo ra một năng lựcmãnh liệt, nó rất hấp dẫn và tạo lôi cuốn. Có lúc nócó vẻ như được biện minh vì nó có một sức mạnh làmbăng hoại khả năng phán xét vô tư của ta. Nó cũng bao gồmlòng thù hận tự thân, thường được xem như một mặc cảmtội lỗi, để tước đoạt mọi khả năng tạo hạnh phúc.Trong khi hành thiền, lòng sân hận thường hiện ra như sựchán ghét vào chính đối tượng thiền quán, bỏ rơi nó đểhướng sự chú tâm của ta lang thang qua các nơi khác.

ÐứcPhật ví lòng sân hận như thể người bị bệnh. Bệnh tậtcản trở sự tự do và hạnh phúc của sức khỏe. Cũng nhưthế, lòng sân hận cản trở sự tự do và hạnh phúc củaan bình.

Sânhận được vượt qua bằng cách áp dụng lòng Từ mẫn. Khicó sự sân hận đối với người nào, lòng Từ mẫn dạycho ta thấy được các sự kiện khác về người ấy ngoàisự kiện đang làm ta đau khổ, để thấy rằng tại sao ngườiấy làm khổ ta - thông thường giúp ta thấy được ngay chínhngười ấy cũng đang bị đau khổ - và khuyến khích ta bỏqua các đau khổ của chính mình và nhìn người khác với lòngtừ bi.

Tuynhiên, nếu ta chưa làm được như thế, lòng Từ mẫn cho chínhbản thân cũng sẽ giúp cho ta không còn sân hận vào tự thân,chấm dứt tự làm khổ mình bằng các ký ức về những hànhđộng đau khổ. Như thế, khi có sân hận vào ngay chính mình,Từ mẫn sẽ giúp ta thấy được lỗi lầm của chính mình,khuyến khích ta tự tha thứ cho chính mình, giúp ta học đượcqua các bài học đó rồi buông xả chúng. Kế đến, nếu tacó lòng sân hận về đối tượng tham thiền - thường làlý do khiến thiền sinh không được an bình - lòng từ mẫnsẽ giúp ta bám sát và nâng niu đối tượng đó một cáchtrìu mến và vui thích.

Cũngnhư bà mẹ thường có bản tính tự nhiên thương yêu đứacon, thiền sinh có thể đối xử với hơi thở của mình vớicác cảm giác tương tự. Như thế, thiền sinh không thể nàoquên lãng hơi thở của mình - một đối tượng tham thiền- cũng như thể bà mẹ không thể nào bỏ quên đứa con trongkhi vào chợ. Từ đó, thiền sinh không thể nào xao lãng hơithở vì một ý nghĩ nào đó, cũng như bà mẹ không thể nàobuông bỏ đứa con mà bà đang bồng bế trong tay. Khi lòng sânhận được vượt qua, ta sẽ tạo được một liên hệ lâubền với mọi người, an vui với đối tượng tham thiền,và từ đó ta sẽ hoàn toàn thấm nhập vào thiền-na.

*

3.HÔN TRẦMlà để chỉ trạng thái nặng nề của cơ thểvà mờ tối của tâm thức, kéo ta vào một sự lừ đừ vàchán nản. Ðức Phật ví nó như thể bị giam vào một phòngtối, chật chội, không thể di chuyển tự do, trong khi bênngoài là trời nắng sáng. Trong khi hành thiền, nó làm cho tachỉ có những giác niệm rời rạc, yếu ớt và từ đó đưađến sự ngủ gục trong lúc thiền mà ta lại không biết.

Hôntrầm được vượt qua bằng cách làm khơi dậy năng lực tinhtấn. Nguồn năng lực lúc nào cũng có sẵn nhưng ít ngườibiết cách khai thác nó. Ðặt một mục đích, một mục đíchvừa phải, là một cách khôn ngoan và hữu hiệu để phátsinh năng lực, để tạo nhiều hứng khởi vào công việc trongtay. Một đứa bé con thường có một sự thích thú tự nhiên,và tiếp theo là năng lực, bởi vì thế giới bên ngoài rấtmới lạ đối với em. Như thế, nếu chúng ta học cách nhìnvào đời sống của chính ta, hoặc pháp thiền của ta, bằngtâm trí của một người mới bắt đầu (sơ tâm), ta sẽ luônluôn nhìn nó qua những góc nhìn mới lạ và những điều khảthi tươi tắn, với nhiều nghị lực và tinh tấn, xa rời trạngthái buồn chán.

Tươngtự, ta có thể tạo hứng khởi vào điều đang làm bằng cáchhuấn luyện tư tưởng để nhìn được cái đẹp trong chuyệnthông thường. Từ đó, phát sinh sự thích thú, tránh khỏitrạng thái nửa sống nửa chết của hôn trầm.

Tâmthức có hai nhiệm vụ chính: cái làm(tác nhân - thedoer)cái biết (tri nhân - the knower). Hànhthiền là để làm an dịu "cái làm" để đạt đến an địnhtuyệt đối trong khi vẫn duy trì "cái biết". Hôn trầm sẽxảy ra khi thiền sinh bất cẩn, làm an dịu "cái làm" lẫn"cái biết", không có khả năng để phân biệt chúng.

Hôntrầm là một vấn đề rất thông thường, từ từ lan rộngra rồi bao trùm tâm thiền sinh. Một thiền sinh thiện xảophải biết canh chừng, phát hiện ngay những dấu hiệu đầutiên của hôn trầm, nhận định chúng và phải có phản ứngđối phó kịp thời. Cũng như khi ta đến ngã ba đường, tacó thể chọn một đường cho tâm thức xa rời sự hôn trầm.Hôn trầm là một trạng thái khó chịu của thân và tâm, quácứng đọng không thể đi vào sự an lạc của Thiền-na, vàquá mù quáng không thể khám phá ra các Tuệ quán. Tóm lại,đây hoàn toàn là một sự phí phạm thì giờ.

*

4.TRẠO CỬlà để chỉ trạng thái tâm như khỉ vượn chuyềncành, không bao giờ chịu ở yên tại bất cứ chỗ nào. Nóđược tạo ra từ trạng thái tìm lỗi trong tâm, không baogiờ chịu thỏa mãn với sự việc như thật, và như thếphải phóng ra ngoài tìm những hứa hẹn tốt hơn, lúc nàocũng nhìn sang nơi khác.

ÐứcPhật ví trạo cử như một tên nô lệ, tiếp tục chạy nhảytheo lệnh của ông chủ khắc nghiệt luôn luôn đòi hỏi sựtoàn hảo, và như thế không bao giờ cho phép nó được dừngnghỉ.

Trạocử được vượt qua bằng cách phát triển sự biết đủ(tri túc), là đối nghịch với sự tìm lỗi. Ta học cách anvui đơn giản qua sự hài lòng với chút ít, chứ không phảilúc nào cũng đòi hỏi cho nhiều. Ta cảm thấy biết ơn tronggiây phút hiện tại, chứ không phải moi tìm các khiếm khuyếtcủa nó. Như một thí dụ, trạo cử khi hành thiền thườnglà sự nóng nảy mong sao để tiến nhanh vào giai đoạn kếtiếp. Thế nhưng, cấp độ tiến triển nhanh nhất thườngxảy ra cho những thiền sinh nào chỉ biết bằng lòng vớinhững gì họ đạt được ngay trong hiện tại. Vì có sựtri túc, hài lòng đó đã làm chín muồi để đi vào giai đoạnkế tiếp.

Chonên, ta phải cẩn thận về thái độ làm nhanh cho xong, vàthay vào đó, cần phải học cách an nghỉ trong trạng tháihài lòng và tri túc. Làm như thế, "cái làm" sẽ tan biến vàcông phu hành thiền sẽ nở hoa.

Hốihậnlà một trạng thái đặc biệt của trạo cử, lànghiệp quả của các hành động bất thiện. Cách duy nhấtđể vượt qua hối hận - sự trạo cử do lương tâm cắnrứt - là phải giữ gìn giới đức, tập sống tử tế, khônngoan và dịu dàng. Một người không có đạo đức hoặc sốngbuông lung thì không thể nào có được các kết quả sâu sắctrong khi hành thiền.

*

5.HOÀI NGHIlà để chỉ trạng thái nội tâm đặt nhiềucâu hỏi rối ren trong lúc thiền sinh cần yên lặng để tiếnsâu hơn vào tâm thức. Nghi ngờ tạo ra câu hỏi về chínhkhả năng của ta: "Không biết tôi có làm được việc nầykhông?", hoặc nghi vấn về pháp hành: "Không biết cáchnầy có đúng không?", hoặc ngay cả nghi vấn về ý nghĩa:"Cáigì đây?". Cần phải nhớ rằng các câu hỏi đó là chướngngại trong lúc hành thiền, bởi vì chúng đặt ra không đúngthời, và vì thế trở thành sự xâm chiếm, làm lu mờ trikiến thanh tịnh.

ÐứcPhật ví nghi ngờ như thể bị lạc trong sa mạc, không nhậnra được các mốc điểm. Sự nghi ngờ đó được vượt quabằng cách thu thập các lời hướng dẫn rõ ràng, có mộtbản đồ tốt, để giúp ta thấy được các mốc điểm vitế trong vùng đất không quen thuộc của tâm thiền sâu kín,và từ đó biết được con đường phải đi. Nghi ngờ vềkhả năng của chính mình có thể được vượt qua bằng cáchnuôi dưỡng lòng tự tin với một vị thiền sư tốt. Vịthiền sư có thể ví như một huấn luyện viên thể thao cókhả năng thuyết phục các vận động viên rằng họ có thểthành công.

ÐứcPhật dạy rằng mỗi người chúng ta có thể, và sẽ đắcThiền-na và Giác ngộ nếu ta thực hành theo các hướng dẫncủa Ngài một cách nghiêm túc và kiên nhẫn. Chỉ có điềulà ta không thể biết chắc chắn khi nào thì kết quả đósẽ xảy ra. Kinh nghiệm hành thiền giúp ta vượt qua các nghingờ về khả năng của ta và về con đường hành đạo. Khita tự thực chứng được các giai đoạn tốt đẹp của conđường, ta khám phá rằng thật ra ta có khả năng cao nhất,và đây đúng là con đường đưa ta đến mục đích đó.

Nghingờ - trong dạng kiểm tra thường xuyên: "Ðây có phảilà Thiền-na? Tôi được kết quả đến đâu?"- đượcvượt qua bằng cách nhận thức rằng các câu hỏi như thếnên hoãn lại cho đến lúc cuối, trong những phút cuối củabuổi thiền. Vị bồi thẩm tòa án chỉ có quyết định trongngày cuối phiên tòa, khi các tang chứng đã được trình bày.Cũng như thế, một thiền sinh thiện xảo chỉ biết yên lặngthu nhặt mọi bằng chứng, và chỉ xét duyệt trong những phútcuối để khám phá ý nghĩa của nó.

Tronghành thiền, nghi ngờ hoàn toàn tan biến khi tâm thức hoàntoàn tin tưởng vào sự vắng lặng, không còn gây rối loạnvới các đối thoại, các lời thì thầm bên trong. Cũng nhưthể ta có được một tài xế tài ba, ta hoàn toàn tin tưởngngười đó, và ta chỉ là một hành khách, ngồi yên lặngquán sát ghi nhận trong suốt cuộc hành trình.

*

Trongphẩm Năm Pháp, Tăng Chi Bộ, Đức Phật có nói về tầm quantrọng của việc đoạn tận năm triền cái như sau:

-"Vị Tỳ-khưu nào sau khi đoạn tận năm triền cái bao phủtâm, làm yếu ớt trí tuệ, thì vị ấy sẽ có sức mạnh,có trí tuệ, sẽ biết được lợi ích của mình, sẽ biếtđược lợi ích của người, sẽ biết được lợi ích củacả hai, sẽ chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiếnthù thắng, xứng đáng là bậc Thánh".

Khihành thiền, nếu có vấn đề xảy ra thì đó là vì có sựhiện diện của một trong Năm Triền Cái nầy, hoặc là sựkết hợp của chúng. Như thế, khi thiền sinh gặp khó khăn,thiền sinh nên dùng các định nghĩa như trên của Năm TriềnCái như là bảng kiểm tra để xác định vấn đề. Từ đó,thiền sinh biết được cách hóa giải thích hợp, áp dụngcẩn thận, vượt qua trở ngại để tiến vào mức thiềncao sâu hơn.

Khihoàn toàn vượt qua được năm sự ngăn che đó, hàng rào giữathiền sinh và sự an lạc của thiền-na sẽ không còn hiệnhữu nữa. Do đó, sự kiểm chứng chắc chắn nhất để biếtNăm Triền Cái nầy đã thật sự được vượt qua là thiềnsinh phải nỗ lực phát triển được khả năng đem tâm anđịnh vào các tầng thiền-na.

(Dựatheo bài "The Five Hindrances",
Thiềnsư Ajahn Brahmavamso)





Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn