Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

4. Hạnh tu tiến (bhāvanā)

07/02/201107:45(Xem: 7377)
4. Hạnh tu tiến (bhāvanā)

THERAVĀDA - PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY
CƯ SĨ GIỚI PHÁP
Tỳ kheo Giác Giới (Bodhisīla Bhikkhu) biên soạn
PL. 2550 - TL. 2006

CHƯƠNG III

PHÁP MÔN TU TẬP CỦA CƯ SĨ

III.4. HẠNH TU TIẾN (Bhāvanā)

Ý nghĩa tu tiến

Tu tiến là phát triển, luyện tập, làm cho tấn hóa, làm cho thuần thục; "Bhāvetī' ti bhāvanā" phát triển tốt đẹp gọi là tu tiến.

Ý nghĩa tu tiến ở đây là sự trau dồi phát triển đời sống tâm linh. Sự phát triển tâm linh là điều kiện giúp cho cuộc sống tiến hóa ổn định, không kém gì vật chất, có thể nói là cần thiết hơn sự phát triển vật chất nữa bởi vì khi con người sống với tâm loạn động, âu lo, phiền muộn thì cho dù có hưởng thụ vật chất vẫn không được hạnh phúc an lạc. Thể xác này cũng ảnh hưởng do tinh thần không ít, khi tâm tư bị phiền não chi phối thì các hệ thần kinh bị căng thẳng, sức lực suy sụp, sanh ra những chứng bệnh về tim mạch, về hệ tiêu hóa v.v... Do đó sự tu tập để ổn định tâm lý là điều mang đến nhiều lợi lạc.

Người cư sĩ mặc dù không có điều kiện thuận lợi để tu tập như các vị xuất gia, nhưng không nên vì thế mà bỏ qua cơ hội tu tiến thiền định để tạo đủ ba loại phước báu.

Có những pháp môn tu tập mà Đức Phật đã dạy để cho người cư sĩ thực hành thanh lọc tâm và tăng trưởng trí tuệ.

Các hình thức tu tiến (bhāvanā)

Có hai hình thức tu tiến:

1) Tu chỉ (Samathabhāvanā)
2) Tu quán (Vipassanābhāvanā)

Chỉ và Quán còn được gọi là pháp cần tu tập (bhāvetabbadhamma), cũng gọi là pháp thuộc phần minh (vijjābhāgiyadhamma) -- (D.III.273; A.I.60)

Tu chỉ hay tu tập chỉ tịnh, tức là cách tu tập để làm vắng lặng phiền não, an tịnh tâm tư, vi tế tầm tứ, đạt đến trạng thái tâm định kiên cố. Khi hành giả tu tập chỉ tịnh thuần thục sẽ an trú trong sự tỉnh lặng năm triền cái tức là tham dục, sân hận, hôn thụy, trạo hối và hoài nghi, nếu tâm thoát khỏi năm triền cái, cho dù chưa đắc thiền định cũng được hiện tại lạc trú.

Tu quán hay tu tập minh sát, tức là cách tu tập để phát triển trí tuệ, liễu tri thực tướng của danh sắc là vô thường, khổ và vô ngã, để đoạn trừ phiền não nhất là dẹp bỏ được tà kiến ngộ nhận ngũ uẩn là thường-lạc-ngã-tịnh. Tu tiến Minh sát trực tiếp đoạn trừ phiền não, đắc đạo quả giải thoát.

So sánh sự khác biệt giữa thiền chỉ và thiền quán, dựa trên bốn khía cạnh để nhận định:

a) Khuynh hướng. Thiền chỉ có khuynh hướng là Định (Samādhi), thiền quán có khuynh hướng là Tuệ (paññā).

b) Cứu cánh. Thiền chỉ có cứu cánh là chứng đắc định đáo đại; thiền quán có cứu cánh là chứng đắc đạo quả.

c) Phương tiện. Thiền chỉ có phương tiện tu tập là tập trung trên đối tượng; thiền quán có phương tiện tu tập là suy tư trên đối tượng.

d) Đề mục. Thiền chỉ có đề mục là những án xứ chế định như màu sắc v.v... Thiền quán có đề mục là những án xứ chơn đế như danh sắc, ngũ uẩn v.v...

Pháp môn tu tiến cho người cư sĩ

Đối với bậc xuất gia thì có điều kiện tu tập các pháp môn thiền định, bốn mươi đề mục thiền chỉ (kammaṭṭhāna) và bốn đề mục thiền quán (satipaṭṭhāna).

Những người cư sĩ nếu có cơ hội tham dự khóa thiền tại các trường thiền thì có thể có điều kiện, thời gian và cách sinh hoạt, để tu tập thiền định tích cực. Còn phần đông các cư sĩ không thể tu thiền thực thụ như một hành giả bởi bận rộn với các tục sự nghề nghiệp, bổn phận gia đình, bổn phận xã hội.

Tuy nhiên, vẫn có những pháp môn tu tiến thích hợp cho đời sống người cư sĩ, người cư sĩ tinh tấn tu tập theo các pháp môn ấy sẽ đạt đến nhiều lợi lạc. Các pháp tu tiến cho người cư sĩ gồm có:

a) Mười pháp tùy niệm (anussati), tức là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, niệm chết, niệm thân, niệm hơi thở, niệm tịch tịnh (A.I.30-41; Vism. 197).

b) Bốn phạm trú (brahmavihāra), tức là tu tập từ tâm, bi tâm, hỷ tâm và xả tâm (D.II.196; D.III.220; Dhs.262; Vism.320).

c) Năm thường quán (abhiṇhapaccavekkhaṇa), tức là quán sự già, quán sự bệnh, quán sự chết, quán biệt ly, quán nghiệp quả (A.III.71).

Đây là những đề mục tu tiến để giúp người cư sĩ bước đầu tiến hành thiền định, chỉ và quán. Các đề mục tu tiến sơ khởi này có thể thực hành trong mọi lúc, mọi nơi, và tứ oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi).

Điều kiện cho việc thực hành tu tiến

Khi có ý muốn thực hành pháp môn thiền định, người cư sĩ ấy phải chuẩn bị những việc này: chỗ hành thiền thích hợp, ăn vật thực thích hợp, thân cận người thích hợp, chọn oai nghi thích hợp, dọn tâm thích hợp, học đề mục thích hợp.

Chỗ hành thiền thích hợp, tức là một căn phòng biệt lập, rộng thoáng, không bày biện rối mắt, nếu được nơi yên tĩnh không tiếng ồn thì càng tốt. Như vậy không bị tạp niệm.

Vật thực thích hợp, tức là hành giả không ăn quá no, không ăn những thức ăn khó tiêu hóa, không ăn các thức ăn dễ dị ứng cơ thể. Như vậy thân sẽ được khinh an.

Thân cận người thích hợp, tức là hành giả nên giao du với bạn lành, những người có tín, có giới, có thí và có trí tuệ, nhất là người có tinh tấn và chánh niệm. Như vậy sẽ giúp hành giả tiến hóa.

Chọn oai nghi thích hợp, tức là trong bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, hành giả có thể hành thiền với oai nghi nào cũng được miễn là thích hợp với thói quen của mình; có người dễ chánh niệm lúc đi kinh hành, có người dễ chánh niệm lúc đứng yên, có người dễ chánh niệm trong tư thế nằm, có người dễ chánh niệm trong tư thế ngồi. Nhưng thông thường việc hành thiền hay ở tư thế ngồi, ngồi kiết dà hoặc bán dà, lưng thẳng, mắt nhắm nhẹ, hướng về phía trước mặt, bàn tay phải đặt trên bàn tay trái. Chọn oai nghi thích hợp cũng là điều kiện giúp hành giả thoải mái tu tập.

Dọn tâm thích hợp, tức là hành giả trước khi hành thiền hoặc trước khi trú niệm đề mục phải dọn tâm thật yên lặng, không lo âu, không bực tức, không buồn ngủ, không vọng móng. Như vậy sẽ giúp hành giả dễ khăng khít với đề mục.

Học đề mục thích hợp, tức là hành giả phải biết cá tính của mình (nặng về ái, hay nặng về sân v.v...) rồi chọn đề tài thiền định hợp với cơ tánh của mình; chọn được đề tài thích hợp rồi nên học hỏi từ các vị thầy hay thiền sư để nắm rõ phương pháp thực hành. Khi Đức Thế Tôn còn tại thế, ngài biết rõ cơ tánh từng người nên ngài đã dạy cho mỗi người một đề tài thiền quán thích hợp, ngày nay các vị thiền sư chỉ dạy thiền cho thiền sinh đề mục chung chung thôi. Vì thế vị hành giả phải tự nhận xét và lựa chọn đề mục.

Tu tiến với đề tài tùy niệm

Có 10 đề tài tùy niệm (anussati), là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm thí, niệm giới, niệm thiên, niệm chết, niệm thân, niệm hơi thở, niệm tịch tịnh.

Niệm Phật (buddhānussati)

Tùy niệm có cảm hứng từ nơi các đức tính đặc biệt của Đức Phật gọi là niệm Phật. Đức Phật có mười đức tính đặc biệt, đó là mười ân đức Phật. Ngài là bậc Ưng cúng (Arahaṃ), Chánh biến tri (Sammā-sambuddho), Minh hạnh túc (Vijjācaranasampanno), Thiện thệ (Sugato), Thế gian giải (Lokavidū), Vô thượng sĩ (Anuttaro), Điều ngự trượng phu (Purisa-dammasārathī), Thiên nhơn sư (Satthā devamanus-sānaṃ), Giác giả (Buddho), Thoại đức giả (Bhagavā). Xem "Kho Tàng Pháp Học", đoạn 441.

Cách niệm Phật: hành giả tìm nơi thanh vắng ngồi tham thiền, suy tưởng về sự khổ đau của kiếp sống, nhớ đến Đức Phật là vị cứu tinh của muôn loài, Ngài có những đức tính đặc biệt. Hành giả bắt đầu suy niệm (phải học hiểu rõ mười ân Đức Phật):

"Iti pi so bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaranasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathī satthādevamanussānaṃ buddho bhagavā"

"Như vậy đức Thế Tôn là bậc Ưng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Giác giả, Thoại đức giả".

Niệm qua mười ân Đức Phật một lần, hành giả đặt niềm tin và hoan hỷ với hình ảnh của Đức Phật; xong niệm lại đủ mười ân đức lần nữa, rồi hoan hỷ; cứ thế niệm tiếp tục như cách thức đã niệm ... cho đến hết thời gian hành thiền.

Một cách khác, hành giả chọn một ân đức nào trong mười ân đức mà làm cho tâm cảm hứng được, và suy niệm ân đức đó thôi không cần niệm đủ mười. Niệm Phật cách này như sau:

"Itipi so bhagavā arahaṃ ... arahaṃ ... arahaṃ ... arahaṃ ..."

Hoặc "Itipi so bhagavā sammāsambuddho ... sammāsambuddho ... sammāsambuddho" v.v...

Khi niệm Phật, thỉnh thoảng hành giả bị phóng tâm hay bị hôn trầm, lúc đó chánh niệm ghi nhận rồi vận dụng "chi tầm" (vitakka: tìm kiếm cảnh) để chế ngự tâm phóng hoặc hôn trầm.

Hành giả có thể hành thiền tùy niệm Phật trong hai thời: sáng sớm và chiều tối, lúc cảnh yên tịnh.

Phương pháp niệm Phật sẽ giúp tâm hành giả lắng dịu phiền não, Tăng trưởng niềm tin, được hạnh phúc hỷ lạc, nhiếp phục sự sợ hãi. Nếu hành giả chưa đắc thánh quả cao siêu thì ít nhất cũng được sanh vào cõi vui.

Niệm pháp (dhammānussati)

Tùy niệm có cảm hứng từ nơi các đặc tính của giáo pháp gọi là niệm pháp.

Giáo pháp của Đức Phật có sáu đặc tính, cũng gọi là ân đức pháp. Sáu ân đức pháp là: pháp được khéo thuyết (svākkhāto), thiết thực hiện tại (sandiṭṭhiko), vượt ngoài thời gian (akāliko), đến để thấy (ehipassiko), khả năng hướng thượng (opanayiko), vẫn được người trí tự hiểu (paccattaṃ veditabbo viññūhi). Trước khi hành tùy niệm pháp, vị hành giả phải học thông thuộc sáu đặc tính của pháp, gồm cả văn tự và nghĩa lý. Xem "Kho Tàng Pháp Học", đoạn 354.

Cách niệm Pháp: Hành giả tìm nơi thanh vắng, ngồi tham thiền, trước hết là suy tưởng sự đau khổ của đời sống, nghĩ đến giáo pháp do Đức Phật thuyết như loại linh dược để trị tâm bệnh của chúng sanh, giáo pháp ấy gồm có pháp học (tam tạng kinh điển), pháp hành (thiện sự và thiền định), pháp thành (là chín siêu thế pháp). Hành giả bắt đầu niệm tưởng các đức tính đặc biệt của giáo pháp như sau:

"Svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhi"

"Giáo pháp đã được Đức Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để thấy, khả năng hướng thượng, cần được người trí tự hiểu".

Hành giả niệm qua một lượt sáu đặc tính của giáo pháp như vậy, hãy suy nghĩ "giáo pháp của Đức Phật đặc thù như vậy, tuyệt diệu như vậy", rồi đặt niềm tin nơi giáo pháp với tâm hướng đến sự thành tựu pháp vô tỷ. Xong, vị hành giả tiếp tục niệm trở lại sáu ân đức pháp ... cứ như thế thực hành tùy niệm pháp cho đến hết thời gian một buổi thiền tập.

Một cách khác, hành giả tùy chọn một trong sáu ân đức pháp mà mình cảm hứng, để niệm một ân đức đó cũng được. Như sau:

"Svākkhāto bhagavatā dhammo" ... "Svākkhāto bhagavatā dhammo" ... "Svākkhāto bhagavatā dhammo" ...

Hay "Sandiṭṭhiko dhammo" ... "Sandiṭṭhiko dhammo" ... "Sandiṭṭhiko dhammo" ...

Hành giả hành tùy niệm pháp mỗi ngày trong hai thời, hoặc tùy lúc yên tịnh.

Hành giả niệm pháp sẽ đạt đến viên mãn về đức tin, sẽ được nhiều hạnh phúc hân hoan, sẽ nhiếp phục được sự sợ hãi như thể đang sống với pháp, sẽ có ý thức tàm quý mãnh liệt, và nếu hành giả chưa thâm nhập được cái gì cao siêu hơn thì ít nhất cũng tiến đến một cõi an lạc.

Niệm Tăng (Saṅghānussati)

Tùy niệm có cảm hứng từ nơi các đặc tính của Tăng chúng, để tử xuất gia của Đức Phật, gọi là niệm tăng.

Tăng chúng đệ tử Phật có chín đặc tính cao quí, cũng gọi là chín ân đức tăng. Tức là: Thiện hạnh (supaṭipanno), trực hạnh (ujupatipanno), chánh hạnh (ñāyapaṭipanno), nghiêm hạnh (sāmīcipaṭipanno), đáng cung phụng (āhuneyyo), đáng nghênh tiếp (pāhuneyyo), đáng cúng dường (dakkhiṇeyyo), đáng lễ bái (añjalikaraneyyo), phước điền vô thượng của đời (anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa). Trước khi thực hành tùy niệm tăng, vị hành giả phải học thông thuộc chín đặc tính của Tăng chúng, gồm cả văn tự và ý nghĩa. Xem "Kho Tàng Pháp Học", đoạn 442.

Cách niệm Tăng: Hành giả tìm chỗ thanh vắng, ngồi tham thiền; truớc hết hành giả suy nghĩ về sự uế nhiễm của đời sống thế tục, có những người đã chấp nhận từ bỏ thế tục để sống đời phạm hạnh theo sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn, gọi là đệ tử xuất gia, thành một đoàn thể Tăng chúng, những vị ấy quyết tâm thành tựu cứu cánh phạm hạnh, có nhiều vị đã đạt đến trạng thái bậc thánh.

Vị hành giả khi suy xét như vậy sẽ có lòng tin và cảm hứng đối với các đặc tính tuyệt vời của bốn bậc thánh tăng. Từ điểm này, hành giả bắt đầu niệm tưởng:

"Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujupaṭi-panno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraneyyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa".

"Tăng đệ tử Đức Thế Tôn là bậc thiện hạnh, Tăng đệ tử Đức Thế Tôn là bậc trực hạnh, Tăng đệ tử Đức Thế Tôn là bậc chánh hạnh, Tăng đệ tử Đức Thế Tôn là bậc nghiêm hạnh, Tăng đệ tử Đức Thế Tôn gồm bốn đôi tám vị đó là bậc đáng cung phụng, đáng nghênh tiếp, đáng cúng dường, đáng lễ bái, là phước điền vô thượng của thế gian".

Hành giả niệm qua một lượt chín đặc tính của Tăng chúng như vậy tạm dừng niệm, và suy nghĩ: "an tịnh thay là thánh chúng đệ tử Phật, an tịnh thay là thánh chúng đệ tử Phật" hành giả hoan hỷ hướng đến Tăng và cảm thấy như mình đang sống với sự hiện diện của Tăng chúng thanh tịnh. Rồi hành giả tiếp tục niệm trở lại chín đặc tính Tăng chúng ... cứ thế niệm theo cách thức này cho đến hết thời gian buổi thiền tập.

Một cách khác nữa, hành giả niệm từng mỗi ân đức tăng, tùy chọn một đặc tính nào trong chín đặc tính mà hành giả có cảm hứng, như là Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ... Supaṇipanno ... Supaṭipanno ...

Hoặc añjalikaraneyyo bhagavato sāvakasaṅgho ... añjalikaraneyyo ... añjalikaraneyyo ... añjalikaraneyyo ...

Hành giả hành tùy niệm Tăng mỗi ngày hai buổi sáng và tối, hoặc lúc nào yên tịnh.

Sự tùy niệm Tăng sẽ giúp cho hành giả thành tựu viên mãn đức tin đối với Tăng chúng, đem lại nhiều hạnh phúc an lạc cho hành giả, vị ấy nhiếp phục được sự sợ hãi, nhờ sự tôn kính Tăng chúng nên vị ấy sẽ có ý thức tàm quý mãnh liệt, và nếu vị ấy chưa đạt được thánh quả cao siêu thì ít nữa cũng hướng đến một cảnh giới hạnh phúc.

Niệm giới (Sīlānussati)

Sự tùy niệm có cảm hứng từ nơi các đức tính của giới thanh tịnh, gọi là niệm giới. Niệm giới hạnh của chính mình đã thọ trì có trạng thái tốt đẹp như thế nào, đó gọi là niệm giới.

Hành giả cư sĩ thì niệm giới cư sĩ. Hành giả cần hiểu rõ những đặc tính của giới hạnh đáng hoan hỷ, như là giới không bị rách, không bị vá, không bị lủng, không bị ố, không bị lốm đốm, giải thoát, không hệ lụy, đưa đến định, được người trí tán thán.

Giới không bị rách, lủng, vá, ố, lốm đốm, tức là không bị tổn hại do dục hệ, do sân hận hay do các ác pháp khác.

Giới giải thoát, là giới có đặc tính giải tỏa khỏi sự nô lệ cho dục ái.

Giới không hệ lụy, là vì không bị chi phối bởi tham dục và tà kiến.

Giới đưa đến định, là giới thuộc chánh đạo hỗ trợ cho định cận hành, định an chỉ thiền thông đạo quả.

Giới được người trí tán thán, là giới hoàn hảo được những bậc trí như Đức Phật khen ngợi.

Cách hành tùy niệm giới: Trước hết hành giả phải tác ý thọ trì giới cho thanh tịnh, hoặc phục hồi giới cho tốt đẹp bằng cách phát lồ v.v... rồi hành giả đi vào nơi độc cư yên tỉnh, ngồi xuống và suy niệm về giới của chính mình, như sau:

"Giới hạnh của ta đáng được hoan hỷ vì không bị rách, không bị lủng, không bị vá, không bị lem ố, không bị lốm đốm, không hệ lụy, đưa đến định, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán"

Khi suy niệm như vậy hành giả hãy hoan hỷ và cảm thấy như được che chở an ổn bởi nhờ giới có đủ các đặc tính.

Rồi lại tiếp tục suy niệm ...

Hàng ngày hành giả có thể suy niệm về giới trong nhiều thời.

Khi hành giả chuyên tâm vào việc niệm giới, thì hành giả có sự tôn trọng đối với học pháp, vị ấy sống hoà hợp với những bạn đồng phạm hạnh, vị ấy không sợ tự trách bản thân, không sợ bậc trí khiển trách, vị ấy thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, vị ấy đạt đến viên mãn về tín ... vị ấy có nhiều hạnh phúc an lạc. Và dù chưa đạt đến quả vị nào cao hơn, ít nhất vị ấy cũng hướng đến một thiện thú.

Niệm thí (Cāgānussati)

Tùy niệm thí là sự suy tư cảm hứng đối với đặc tính vô tham và xả tài, mà chính mình đã có.

Đặc tính của sự bố thí là thích xả bỏ, thích san sẻ, thích được kẻ khác cần đến và yêu cầu. Trạng thái của tâm bố thí là vô tham, không keo bẩn.

Khi muốn tu tập niệm thí, hành giả phải chuyên cần bố thí, thường cho và san sẻ đến người khác một cách tự nhiên thoải mái, không phải tâm cho gượng ép. Nên có quyết định: "Từ nay trở đi, lúc nào có người hiện diện để nhận, ta sẽ bố thí đến người ấy".

Ngay hôm ấy, là ngày mà hành giả muốn tu tập niệm thí, hành giả nên bố thí một vật gì đó tùy phương tiện và khả năng, tốt nhất là cho đến người có đức tính đặc biệt để hành giả dễ có tâm vui thích san sẻ, vui thích bố thí.

Khi đã nắm được tướng trong việc này, hành giả hãy đi đến nơi yên tĩnh độc cư và tưởng niệm đến sự bố thí của mình, như sau:

"Thật sự là lợi lạc cho ta! Thật sự là lợi ích cho ta! vì rằng giữa cuộc đời bị ô nhiễm bởi lòng xan tham bỏn sẻn thì ta không bị ô nhiễm bởi xan tham. Ta bố thí một cách rộng rãi với bàn tay rộng mở, thích thú trong sự từ bỏ, vui mừng được san sẻ với người khác, và mong có người yêu cầu".

Sau khi niệm tưởng như vậy, hành giả suy xét ý nghĩa các đặc tính của hạnh bố thí như sau:

"Thật là lợi lạc cho ta!, nghĩa là ta sẽ có những lợi lạc của người bố thí như được thọ mạng, được an vui cõi trời, cõi người, được nhiều người lui tới, được bậc trí yêu mến.

"Thật là lợi ích cho ta!, nghĩa là ta có lợi ích ở chỗ được gặp giáo pháp, được làm thân người, lại được an trú với tâm không ô nhiễm vì xan tham, được tâm vui thích bố thí và san sẻ.

Rồi hành giả trở lại niệm tưởng hạnh bố thí của mình như cách thức trước ...

Khi hành giả tưởng đến sự bố thí như vậy. Ngay khi ấy tâm hành giả không bị tham sân si ám ảnh nhờ an trú thiện tâm cảm hứng từ hạnh bố thí.

Một người chuyên tâm tưởng niệm về bố thí, người ấy trở nên thông thoáng tâm vì tính cách hoan hỷ vô tham, vị ấy có lòng ưa thích bố thí, vị ấy hành xử phù hợp với tâm từ bi, vị ấy có nhiều hạnh phúc an lạc, và nếu không tiến đạt quả vị cao, thì ít nhất hành giả cũng hướng đến cảnh giới an lạc.

Niệm thiên (Devānussati)

Niệm thiên là suy niệm về đức tính đặc biệt của chư thiên mà xét lại chính mình.

Có bốn đức tính tốt đẹp, chính nhờ những đức tính đó mà thành tựu thân chư thiên ở các cõi trời. Đó là đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới hạnh, đầy đủ thính pháp, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ.

Người muốn tu tập niệm thân cần phải có những đức tính đặc biệt về đức tin, giới hạnh, thính pháp, bố thí, trí tuệ do khéo an trú. Rồi người ấy đi vào nơi thanh vắng độc cư để niệm tưởng những đức tính đặc biệt của mình có, so sánh với chư thiên. Như sau:

"Các vị chư thiên Tứ thiên vương, các vị chư thiên Đạo lợi, các vị chư thiên Dạ ma, các vị chư thiên Đâu suất, các vị chư thiên Hóa lạc, các vị chư thiên Tha hoá tự tại, các vị Phạm chúng thiên và những vị chư thiên cao hơn nữa, các vị chư thiên ấy có đức tin, và nhờ vậy khi chết ở cõi này đã sanh ở cõi kia, đức tin ấy cũng có đầy đủ nơi ta".

"Các vị chư thiên ấy có giới hạnh, và nhờ vậy khi chết ở cõi này đã sanh ở cõi kia, giới hạnh ấy cũng có đầy đủ nơi ta.

"Các vị chư thiên ấy có hạnh thính pháp, và nhờ vậy khi chết ở cõi này đã sanh ở cõi kia, hạnh thính pháp ấy cũng có đầy đủ nơi ta".

"Các vị chư thiên ấy có bố thí, và nhờ vậy khi chết ở cõi này đã sanh ở cõi kia, hạnh bố thí ấy cũng có đầy đủ nơi ta".

"Các vị chư thiên ấy có trí tuệ, và nhờ vậy khi chết ở cõi này đã sanh ở cõi kia, trí tuệ ấy cũng có đầy đủ nơi ta".

Hành giả suy xét như vậy, lập đi lập lại. Mục đích để chứng minh rằng những đức tính đặc biệt về tín, giới, văn, thí, tuệ có ở chính mình cũng là tín, giới, văn, thí, tuệ có nơi chư thiên.

Khi hành giả niệm tưởng các đức tính của chư thiên và của mình như vậy thì tâm hành giả có được nguồn cảm hứng từ chư thiên, tâm không bị tham sân, si ám ảnh. Đó là một trạng thái hướng thiện.

Một người chuyên tâm tu tập niệm Thiên, người ấy được chư thiên thương tưởng, có niềm tin an trú mãnh liệt hơn, có được nhiều hạnh phúc an lạc, và dù không đắc quả gì cao cả, nhưng ít nhất người ấy cũng hướng đến một cảnh giới tốt đẹp.

Niệm chết (Maranānussati)

Chết (maraṇa) là sự kết thúc một mạng sống, sự chấm dứt mạng căn của một chúng sanh.

Chết là đề mục mà hành giả suy niệm ở đây nên lấy tình trạng chết của đời sống con người, như vậy mới dễ động tâm hơn là nghĩ về cái chết của chư thiên, phạm thiên v.v...

Phải niệm chết với tác ý trí tuệ, nghĩa là không nên tưởng đến cái chết của người quá thân thương, vì sầu ưu sẽ sanh khởi, cũng không nên tưởng đến cái chết của một người mình ghét, bởi vì sẽ khởi niềm hoan hỷ. Hành giả nên tác ý đến cái chết của một người mà mình biết được họ sống tràn đầy hạnh phúc hoặc có nhiều uy quyền ... tưởng nghĩ như vậy sẽ có một ý thức khẩn trương với chánh niệm và trí tuệ, để rồi hành giả có thể niệm chết như là một phương tiện chính đáng tu tập.

Cách tu tập: Một người muốn tu tập pháp quán niệm này, hãy đi đến chỗ độc cư và ngồi lại hoặc kinh hành rồi tác ý với trí tuệ như sau:

"Maraṇantaṃ jīvitaṃ, mạng sống chấm dứt bằng sự chết ... Marananantaṃ jīvitaṃ, mạng sống chấm dứt bằng sự chết ..."

Niệm như vậy một lúc, hành giả khởi tâm suy nghĩ đến một trong tám sự kiện này:

Suy nghĩ sự chết như một tên sát nhân xuất hiện. Hành giả suy nghĩ thấy mạng sống bị sự chết đe dọa, ví như có kẻ sát nhân đang cầm khí giới xuất hiện và chuẩn bị giết chết mình. Quả thật, mạng sống rất mỏng manh. Đó là cách nghĩ thứ nhất.

Suy nghĩ sự chết là một cuộc thất bại thảm hại. Hành giả suy nghĩ thấy người sống trong đời dù có thành công trong sự nghiệp, địa vị, hạnh phúc nhưng chắc chắn phải sụp đổ vì cái chết. Đó là cách nghĩ thứ hai.

Suy nghĩ sự chết bằng cách so sánh kết luận. Hành giả suy nghĩ đến sự chết của những người có danh vọng lớn, người có đại phước, người dũng mãnh, bậc đại thần thông, bậc đại trí tuệ, bậc Độc Giác, bậc Chánh Đẳng Giác. Những bậc ấy mà cũng phải chết, thì sao ta thoát khỏi sự chết được. Đó là cách nghĩ thứ ba.

Suy nghĩ sự chết theo cách ghi nhận thân này là chỗ cộng trú của nhiều sinh vật. Hành giả suy xét trong thân này có tám mươi loại ký sinh trùng; thân thể là chỗ sanh ra của chúng, là chỗ ở của chúng, là nghĩa địa của chúng, thân này phải san sẻ cho chúng, khi chúng nổi loạn thì thân sẽ cảm thọ thống khổ và có thể đi đến chết được. Đó là cách nghĩ thứ tư.

Suy nghĩ sự chết theo cách xét mạng sống mỏng manh. Hành giả suy xét rằng mạng sống này chỉ dựa vào hơi thở, khi còn hơi thở ra thở vào thì mạng sống còn; nếu hơi thở có ra mà không có vào, hoặc có hơi thở vào mà không có ra thì chết. Đó là cách nghĩ thứ năm.

Suy nghĩ sự chết theo cách xét sự sống vô chừng không thể định đoạt. Hành giả suy xét rằng mạng sống này không thể biết sống bao lâu sẽ chết do nguyên nhân gì, sẽ chết ở đâu ... sự sống thật là bất định. Đó là cách nghĩ thứ sáu.

Suy nghĩ sự chết theo cách thấy mạng sống bị giới hạn thời gian. Hành giả suy xét rằng mạng sống có giới hạn; có người sống lâu có người chết yểu, nhưng nhất định phải có giới hạn, trên dưới một trăm năm thôi, mỗi ngày trôi qua là tiến gần đến sự chết. Đó là cách nghĩ thứ bảy:

Suy nghĩ sự chết theo cách nghĩ đến sự hoại diệt từng sát na. Hành giả suy xét theo thực tính pháp thấy sự chết có trong từng sát na sanh diệt của danh sắc. Đó là cách nghĩ thứ tám.

Với tám cách suy nghĩ này, hành giả nhớ được cách nào thì suy xét theo đó sau mỗi lúc niệm "Chết".

Suy nghĩ để nhập tâm, rồi niệm tiếp tục: "Maraṇantaṃ jīvitaṃ ... maraṇantaṃ jīvitaṃ , mạng sống chấm dứt bằng sự chết ... mạng sống chấm dứt bằng sự chết ..."

Một người chuyên tâm niệm sự chết, người ấy sẽ đạt được trạng thái vô úy, không bối rối trước sự chết sắp xảy ra, người ấy sống không bám bíu vào bất cứ sự vật gì ở đời, không bị cấu uế bởi lòng tham bốn vật dụng; vô thường tướng dần dần phát triển trong tâm người ấy, và theo sau đó là tưởng về khổ và vô ngã, nếu ngay trong hiện tại người ấy chưa đạt đến quả vị vô sanh, ít ra cũng hướng đến một cõi tốt đẹp khi thân hoại mạng chung.

Niệm thân (Kāyagatāsati)

Đây cũng gọi là Thân hành niệm.

Cái gì là thân hành (kāyagata)? Chính là nói đến 32 thể trược trong thân này. Niệm tưởng về 32 thể trược của thân, gọi là Thân hành niệm.

Thân hành niệm là một pháp môn tu tập vượt ngoài lãnh vực của ngoại đạo, chưa hề được công bố trước khi bậc đại giác xuất hiện. Pháp môn này là một cách trong những cách tu tập thuộc thân quán niệm xứ, nhưng được tách riêng thành pháp môn riêng biệt, cũng như pháp môn nhập xuất tức niệm (niệm hơi thở) v.v...

32 thể trược trong thân là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, màng ruột, dạ dày, phổi, ruột già, ruột non, vật thực mới, phẩn, óc, mật đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, dầu da, nước miếng, nước mũi, nước nhớt, nước tiểu.

Vị hành giả trước khi thực hành pháp môn này cần phải học hỏi thuần thục đề mục từ nơi một vị thiện trí thức. Sự học thiện xảo đề mục ấy là đọc làu tên thể trược, thuộc lòng tên thể trược, biết màu sắc thể trược, biết hình dáng thể trược, biết định hướng thể trược, biết định vị thể trược, biết giới hạn của thể trược.

Thuần thục về cách đọc, tức là đọc từng nhóm 5 thứ, đọc xuôi và đọc ngược. Thí dụ đọc xuôi nhóm một "Tóc, lông, móng, răng, da". Rồi đọc ngược "Da, răng, móng, lông, tóc" v.v... đọc xuôi ngược từng nhóm như thế cho đến khi đọc làu không lộn xộn. Sự học đề mục đọc ra tiếng như vậy sẽ làm cho hành giả quen thuộc đề mục.

Thuần thục cách thuộc lòng, tức là sự nhẫm trong tâm, không phải là đọc ra tiếng. Nhưng sự đọc ra tiếng nhuần nhuyễn mới giúp cho thuộc lòng được, cho nên trước tiên hành giả học đọc tên, kế đến mới nhẫm thuộc lòng. Cũng với cách xuôi ngược: Tóc, lông, móng, răng, da - da, răng, móng, lông, tóc ... sự thuộc làu như vậy sẽ là điều kiện để hành giả thâm nhập tính chất của đề mục.

Biết màu sắc thể trược, tức là hành giả phải tìm hiểu và định rõ mỗi thể trược có màu sắc thế nào, tất nhiên là thể trược trong thân này, như tóc có màu đen hoặc bạc hay hoe, lông màu đen, móng có màu trắng đục hay màu trắng hồng ...

Biết hình dáng thể trược, tức là định rõ mỗi vật thể có hình dáng ra sao. Thí dụ như tóc có hình sợi dài ...

Biết định hướng thể trược, tức là hành giả định rõ mỗi thể trược ấy ở về hướng trên hay hướng dưới của thân. Trong thân này từ rốn trở lên gọi là hướng trên, từ rốn trở xuống gọi là hướng dưới.

Biết định vị thể trược, tức là hành giả định rõ mỗi thể trược ấy vị trí ở đâu trong thân. Thí dụ: tóc mọc trên da đầu, trước mọc tới trán, phía sau mọc tới ót, hai bên mọc tới vành tai ...

Biết giới hạn của thể trược, tức là hành giả ghi nhận sự giới hạn của thể trược, như tóc mọc cắm vào da, chân tóc ghim dưới da, ngọn tóc chỉa vào khoảng không ... hoặc giới hạn rằng tóc không phải là lông, lông không phải là tóc ...

Khi đã thông thuộc bảy điều ấy rồi, hành giả nên tìm đến một trú xứ thích hợp với thiền tịnh, và từ bỏ những chướng ngại nhỏ làm phân tâm như y phục bẩn thỉu, thân thể cáu ghét, giường ghế không sạch ...

Hành giả ngồi lại và bắt đầu nhẩm đọc 6 nhóm thể trược, từng nhóm đọc xuôi rồi đọc ngược như sau:

"Tóc, lông, móng, răng, da / da, răng, móng, lông, tóc". Nếu đọc được Pāli càng tốt.

"Thịt, gân, xương, tủy, thận / thận, tủy, xương, gân, thịt".

"Tim, gan, màng ruột, dạ dày, phổi / phổi, dạ dày, màng ruột, gan, tim".

"Ruột già, ruột non, vật thực, phẩn, óc / óc, phẩn, vật thực, ruột non, ruột già".

"Mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ / mỡ, mồ hôi, máu, mủ, đàm, mật".

"Nước mắt, dầu da, nước miếng, nước mũi, nước nhớt, nước tiểu / nước tiểu, nước nhớt, nước mũi, nước miếng, dầu da, nước mắt".

Hành giả đọc nhẩm như vậy qua nhiều lượt để rà soát những phần nào hiện rõ và không hiện rõ, phần nào trong 6 nhóm thể trược đọc qua mà không hiện rõ thì loại bỏ, dần dần chỉ còn một nhóm hiện rõ. Hành giả chú tâm ghi nhận tướng của nhóm thể trược ấy một cách thứ tự, thí dụ "Tóc, lông, móng, răng, da / da, răng, móng, lông, tóc". Cần lưu ý khi ghi nhận thứ tự, hành giả không nên lướt qua nhanh hay quá chậm.

Đồng thời phải tránh sự phân tâm đi ra ngoài đề mục, vì đây là đề mục có khả năng đắc thiền, nếu hành giả phân tâm khỏi đề mục thì việc thiền định bị thối thất.

Một điều quan trọng khác nữa là phải vượt qua khái niệm về danh từ. Nghĩa là vị hành giả lúc ban đầu niệm thể trược dựa trên danh từ như "Tóc ... lông ... móng ... răng ... da ...", nhưng sau đó phải bỏ qua khái niệm danh từ, và nhận thức ở khía cạnh "Bất tịnh" đáng ghê tởm của nó. Như vậy mới thật sự có mãnh lực chế ngự các phiền não như tham dục ...

Nếu hành giả có đủ duyên lành thì trong lúc "đọc" tên thể trược cũng có thể nhập tâm và an trụ thiền định được; nếu hành giả đã "đọc" qua như thế mà vẫn chưa an trú tâm được thì phải áp dụng phương pháp chủ ý thể trược qua nhận định màu sắc, hình dáng, phương hướng, vị trí, và giới hạn của thể trược ấy. Thí dụ niệm đến "Tóc", phải chủ tâm đến: "Tóc màu đen" "Hình dáng như sợi chỉ", mọc ở phía trên cùng của thân", "Vị trí mọc nơi da đầu" "Giới hạn chân tóc cắm vào da đầu, ngọn tóc tiếp giáp khoảng không".

Về ý nghĩa năm khía cạnh nhân định về thể trược, hãy học hỏi ở vị thiền sư, hoặc tham khảo kinh sách (Thanh Tịnh Đạo, chương VIII, đoạn 42 - 144).

Lợi ích của sự tu tập niệm thân, một vị chuyên tu tập thân hành niệm này là vị ấy khắc phục được tâm ái nhiễm, vị ấy sống chinh phục được tâm sợ hãi khiếp đảm, vị ấy có khả năng kham nhẫn chịu đựng với các cảm thọ, vị ấy có thể đạt được bốn thiền sắc giới, dù không như thế, khi tu tập khởi thiện tâm, với tâm thiện này sẽ thành tựu quả dị thục đặc biệt cho vị ấy khi tái sanh.

Niệm hơi thở (Ānāpānassati)

Đề tài hơi thở là một pháp môn tu tập quan trọng; có thể là một đề mục thiền chỉ, có thể là một đề mục thiền quán.

Pháp môn tu tập niệm hơi thở này thích hợp cho mọi cá tính (carita) hành giả.

Đề mục hơi thở được tu tập thuần thục sẽ đem lại nhiều kết quả. Trước nhất, sự tu tập niệm hơi thở sẽ làm cho tâm trở nên an tịnh (S.v, 231), kế đến, sự tu tập niệm hơi thở sẽ làm cho tâm đình chỉ tầm tư, tức là dẹp trừ sự tán loạn phóng tâm (A.IV,353). Lại nữa, một lợi ích lớn của sự tu tập niệm hơi thở theo khuynh hướng thiền quán là đạt đến minh và giải thoát, đó là điều kiện căn bản cho sự viên mãn minh và giải thoát (M.III, 82). Một lợi ích khác nữa, người tu tập niệm hơi thở thuần thục sẽ biết trước và định được thời chết của mình (M.I, 425-426); một vị đắc A la hán nhờ tu tập đề mục nào khác thì vị ấy có thể tiên định được, cũng có thể không tiên định được thọ mạng của mình còn bao lâu; nhưng với vị đắc quả do tu tập đề mục niệm hơi thở thì luôn luôn định được thời viên tịch của mình (Vism.243).

Đó là những lợi ích của sự tu tập niệm hơi thở.

Phương pháp tu tập: Một người muốn tu tập đề mục niệm hơi thở, sau khi đã học thông thạo cách thức đề mục từ nơi vị thầy có nhiều kinh nghiệm, hãy đi đến một trú xứ yên tịnh để sống độc cư, đến thời hành thiền hãy ngồi kiết già hoặc bán già, giữ lưng ngay thẳng, thư giãn toàn thân, và trước hết hành giả nên làm cho tâm phấn chấn bằng cách tưởng niệm những đức tính đặc biệt của ba ngôi báu. Sau đó, hành giả khởi sự chú ý niệm hơi thở bằng cách "đếm".

Đếm hơi thở (số tức) là tác ý khi hơi thở ra vào đếm 1, rồi 2, rồi 3 ... đếm số tùy thuộc hơi thở nhanh hay chậm tự nhiên; chớ không nên điều khiển hơi thở theo số đếm, điều tức như vậy sẽ làm hành giả bị mệt.

Khi đếm, hành giả không nên dừng lại dưới 5 hay đi quá số 10 hay làm bất cứ một sự gián đoạn nào. Nếu dừng lại dưới 5 thì tâm vị ấy trở nên nóng nảy trong khoảng giới hạn chật hẹp. Nếu đi quá số 10 thì tâm hành giả sẽ bị chi phối bởi nhớ con số cặp. Nếu gián đoạn thì hành giả sẽ hoang mang vì không biết đề mục thiền đã đạt đến hoàn tất chưa. Bởi thế, hành giả nên đếm hoi thở đừng có những lỗi trên.

Hành giả đếm 1, 2, 3, 4, 5; rồi 1, 2, 3, 4, 5, 6; rồi 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7; rồi 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8; rồi 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9; rồi 1, 2 ... 9, 10. Rồi trở lại đếm như từ đầu ... cứ vậy cho đến khi nào tâm gắn chặc vào hơi thở ra - hơi thở vào, mặc dù không đếm mà niệm vẫn an trú. Đếm chỉ là một phương tiện để trú niệm, chấm dứt sự phân tán lúc đầu.

Sau khi tác ý đến hơi thở bằng cách đếm đã tập trung được rồi, bấy giờ hành giả nên tác ý hơi thở bằng cách "theo dõi" không đếm nữa.

Theo dõi hơi thở là tác ý đến sự chạm xúc của gió nơi chót mũi; hơi thở vào là cảm giác "gió mát", hơi thở ra là cảm giác "gió ấm". Hành giả không nên theo dõi hơi thở theo cách tác ý chặng đầu, chặng giữa, và chặng cuối của hơi thở (hơi thở vào, chặng đầu là mũi, chặng giữa là ngực, chặng cuối là rốn; hơi thở ra, chặng đầu là rốn, chặng giữa là ngực, chặng cuối là mũi). Nếu hành giả niệm hơi thở ra - hơi thở vào mà theo dõi chặng đầu, chặng giữa, chặng cuối như thế thì tâm vị ấy bị phân tán, rối loạn, dao động, cả thân lẫn tâm vị ấy bị bất an (Ps.I,165).

Hành giả chỉ nên chánh niệm, tâm dán chặc ở "cửa" mũi và nhận biết "Đây là hơi thở vô" "Đây là hơi thở ra"; do cảm xúc "gió mát" ở cửa mũi lâu hoặc mau mà nhận biết "Đây là hơi thở vô dài" hay "Đây là hơi thở vô ngắn"; do cảm xúc "gió" ấm ở cửa mũi lâu hoặc mau mà nhận biết "Đây là hơi thở ra dài" hay "Đây là hơi thở ra ngắn".

Trong một giai đoạn nào đó do chú tâm lâu thân thể hành giả có sự rung chuyển dao động, ngã tới, ngã lui, nghiêng qua, nghiêng lại ... hành giả phải luyện tập làm cho an tịnh, ngưng lại các thân hành dao động ấy. Phải tác ý: "an tịnh thân hành thở vô, an tịnh thân hành thở ra" ... và khi thân hành không còn dao động ngã tới ngã lui nữa, hành giả cũng tác ý: "tịnh chỉ thân hành thở vô, tịnh chỉ thân hành thở ra" ...

Cần lưu ý rằng khi chánh niệm hơi thở chỉ nên ghi nhận và tác ý "hơi ra", "hơi vào, "hơi dài", "hơi ngắn", chớ không phải là "đọc thầm" câu nói "ta thở vô, ta thở ra" ...

Hành giả nên tinh tấn nỗ lực, thực hành liên tục; nhờ sự nỗ lực đó vị ấy sẽ đạt được kết quả, từ bỏ được những kiết sử (sự trói buộc), đoạn trừ các phiền não tiềm miên (phiền não ngũ ngầm).

Người cư sĩ cũng có thể hành thiền với đề mục niệm hơi thở như vậy để Tăng trưởng trí tuệ và tìm thấy sự an lạc.

Niệm tịch tịnh (upasamānussati)

Trạng thái tịch tịnh hay tĩnh lặng (upasama), ám chỉ Níp bàn, vì Níp bàn vắng lặng hoàn toàn sự náo động của phiền não, tịnh chỉ các pháp hữu vi.

Niệm tịch tịnh là suy niệm về đặc tính Níp bàn như là vô nhiễm, ly tham, đoạn diệt tập khởi, chấm dứt khổ đau, kết thúc tái sanh ...

Ở đây, vấn đề là sự chứng nghiệm trạng thái Níp bàn chỉ được viên mãn ở một vị thánh đệ tử đã chứng đắc tâm siêu thế; tuy vậy, đối với một phàm nhân có trí tuệ và thiết tha với mục đích giải thoát, chỉ bằng sự nghe nói học hiểu về Níp bàn, người ấy cũng có thể nhờ nghĩ đến đặc tính của Níp bàn mà làm cho phát sanh hỷ lạc tín tâm và đạt được nhiều lợi ích vì an trú tâm thiện. Bởi thế một phàm nhân cũng có thể niệm Níp bàn như là một đề tài tu tiến.

Một người muốn tu tập niệm tịch tịnh này, hãy đi đến chỗ độc cư, ngồi xuống hoặc bước đi kinh hành. Bắt đầu bằng sự suy xét đến trạng thái hệ lụy phiền toái của phiền não, của thân đây, của đời sống tử sanh ... Rồi vị hành giả nhớ tưởng đến các đặc tính thù diệu của Níp bàn, như sau:

"Níp bàn là sự bài trừ hệ lụy - ālayasamugghāto"
"Níp bàn là sự cắt đứt luân hồi - vaṭṭtūpacchedo"
"Níp bàn là sự đoạn tận tham ái - taṇhak-khayo".
"Níp bàn là sự vô nhiễm - virāgo"
"Níp bàn là sự đoạn diệt - nirodho"
"Níp bàn là sự không còn liên hệ với khát ái - nibbāna"
"Níp bàn là an ổn các khổ ách - yogakkhemaṃ"
"Níp bàn là bất tử - amataṃ"
"Níp bàn là tịnh lạc - santi" ...

Khi hành giả tưởng đến tịch tịnh với những đức tính đặc biệt như thế, ngay lúc ấy tâm hành giả không bị tham chi phối, không bị sân chi phối, không bị si chi phối, do đó hành giả trú trong niềm an lạc hoan hỷ. Nhưng vì hành giả bận tâm tưởng niệm nhiều đức tính khác nhau nên không khởi lên thiền chứng mà chỉ đạt đến mức cận định thôi.

Một vị tu tập chuyên tâm tưởng đến tính cách của Níp bàn như vậy, thường ngủ trong an lạc, thức dậy trong an lạc, các căn tĩnh lặng tâm tư bình an, thường có tàm quý, có niềm tin có sự tha thiết với mục đích phạm hạnh; và dù ngay kiếp này không chứng nhập được quả vị gì cao siêu, ít nhất cũng hướng đến một thiện thú.

Dứt phần tu tiến với đề tài tùy niệm

TU TIẾN VỚI ĐỀ TÀI BỐN PHẠM TRÚ (Brahmavihāra)

Bốn phạm trú là an trú tâm từ, an trú tâm bi, an trú tâm hỷ, và an trú tâm xả. Bốn đức tính từ, bi, hỷ, xả này được gọi là phạm trú vì là bốn pháp an trú cao cả, tốt đẹp, và vô nhiễm; lại cũng có nghĩa là hành giả an trú với bốn đặc tính này, ngang hàng với các vị trời phạm thiên, bởi các vị phạm thiên cũng trú với tâm vô nhiễm tốt đẹp (Vism.IX, 106).

Bốn phạm trú là đề tài thiền chỉ, đưa đến đắc chứng định. Nếu không như vậy cũng sẽ mang lại nhiều lợi lạc về phước đức cho người tu tập. Người cư sĩ nên tu tập và an trú với bốn phạm trú này.

Tu tập tâm từ (Mettā)

Tâm từ là trạng thái không hận, không sân, hiền hòa mát mẻ đối với chúng sanh. Tâm từ phá tan sự bực tức nóng giận, nhưng không phải là thái độ luyến ái yêu thương ích kỷ.

Một người muốn tu tập tâm từ, trước hết phải ổn định tâm lý. Sau khi đi đến chỗ yên tĩnh thoải mái hãy suy xét sự nguy hiểm của lòng sân hận và sự lợi lạc của tâm hiền hòa. Nếu hành giả ngay lúc ấy đang bực bội trong tâm thì không thể tiến hành tu tập tâm từ được, nếu không thấy sự lợi lạc của tâm vô sân thì chẳng có hứng thú tu tập.

Hành giả nên thăm dò nội tâm: "giờ đây tâm này có sân hay không có sân? ta đang thoải mái hay bực bội ưu phiền? ". Nếu dò xét như vậy hành giả cảm nhận tâm mình đang thoải mái thì tiếp tục tiến hành niệm "tâm từ"; bằng như cảm nhận được mình đang có sân giận ưu phiền thì hãy suy nghĩ đến sự tai hại của tâm sân: "thật là khổ sở khi sống với tâm sân! thật là khó chịu khi bị sân tâm chi phối! thật là nguy hiểm khi con người bị ám ảnh bởi sân!" rồi hành giả hãy nên đình chỉ sân tư duy bằng cách nhẫn nại và tác ý đến một thiện pháp hoặc tác ý niệm hơi thở. Sau khi đã thật sự có tâm yên bình thoải mái trở lại mới bắt đầu tiến hành niệm "tâm từ".

Hành giả tiến hành niệm tâm từ như sau:

Thoạt đầu, hành giả nên trú tâm từ với chính bản thân, bằng cách lập đi lập như sau: "mong rằng ta được an lạc, thoát khỏi hận thù, không buồn khổ, âu lo". Đó là bước sơ khởi trú niệm tâm từ. Đến khi nội tâm thật sự an lạc, không sân, không hận thì hành giả tưởng đến chúng sanh khác với ước mong.

"Mong cho chúng sanh được an lạc, thoát khỏi hận thù, không buồn khổ âu lo". Thỉnh thoảng hành giả trải tâm từ đến chính mình để làm cho tâm dễ chịu rồi tiếp tục trải tâm từ đến các chúng sanh khác như thế.

Nên nhớ rằng, đôi khi hành giả nghĩ đến bao quát chúng sanh sẽ làm cho tâm hành giả dửng dưng, bởi thế phải trải tâm từ tuần tự; nhưng phải bắt đầu từ những vị thầy khả kính, tiếp đến là những bạn rất thân, tiếp tục là những người thương, tiếp tục nữa là những người xa lạ, rồi sau cùng là những người đối nghịch. Người đối nghịch ở đây là những người ác xấu không đồng chí hướng chớ không phải là kẻ mình thù ghét, bởi vì đối với hành giả tu tâm từ thì không thấy ai là kẻ thù. Sở dĩ phải trải tâm từ tuần tự hạng chúng sanh như vậy là vì để dẫn dắt tâm dễ dàng trú trong niềm an lạc, không bị những cú sốc tâm lý.

Người tu tập tâm từ sẽ có được mười một điều lợi ích: ngủ an vui, thức an vui, không chiêm bao ác mộng, được người khác yêu mến, được phi nhân yêu mến, được chư thiên hộ trì, không bị lửa hay khí giới hoặc thuốc độc làm hại, tâm người ấy dễ định tỉnh, nét mặt khinh an, khi chết tâm không rối loạn, nếu còn tái sanh sẽ sanh vào phạm thiên giới. Những lợi lạc này sẽ có đến ai tu tập an trú liên tục trong tâm từ.

Tu tập tâm bi (Karuṇā)

Tâm bi là trạng thái tâm trắc ẩn trước những chúng sanh đang đau khổ, phận sự của tâm bi là muốn chúng sanh thoát khổ, sự biểu hiện của tâm bi là không tàn nhẫn. Sự bạo tàn là thái độ tương phản của tâm bi; nhưng tâm bi cũng không phải là thái độ lụy phiền vì người khác.

Một người muốn tu tập tâm bi, trước hết cần phải ổn định tâm lý bằng cách quán sát sự nguy hiểm của sự tàn bạo, và suy xét lợi ích của tâm bi mẫn. Đây là trường hợp phải làm đối với hành giả sơ cơ mới bắt đầu tu tập, vị ấy còn phiền não dễ khởi tâm não hại; nếu khởi lên hại tư duy sẽ làm trở ngại tu tập tâm bi; nếu không thấy lợi lạc của tâm trú bất hại thì sẽ không hứng thú tu tiến.

Hành giả tác ý dò xét nội tâm "giờ đây tâm ta còn oán hận não hại chăng?" Nếu biết tâm còn u ẩn niềm hận thù, hãy suy nghĩ đến nỗi khổ tâm phiền toái, mất hạnh phúc, do ôm ấp hận thù; nghĩ đến điều tổn đức do sống trong hận thù; nghĩ đến thiệt hại lớn do lòng hận thù gây nên ... nghĩ như vậy cho đến khi hành giả cảm thấy nhẹ nhàng thoải mái vì không còn ám ảnh bởi hận thù, bắt đầu hành giả niệm bi tâm.

Đối tượng của tâm si là chúng sanh đang đau khổ hoặc sẽ đau khổ.

Bởi thế trước hết hãy nghĩ đến một chúng sanh đang đau khổ nhưng không phải là kẻ thù, rồi khởi lên tâm bi mẫn đối với nạn nhân ấy như sau:

"Khổ thay cho chúng sanh này, mong sao chúng sanh ấy thoát khỏi khổ đau!". Nếu hành giả thấy một người đang bất hạnh chịu nhiều thống khổ thì cũng hãy khởi tâm bi mẫn đối với người ấy bằng cách như vậy.

Thấy một kẻ thù đang đau khổ, hành giả phải làm lắng dịu hiềm hận rồi mới khởi tâm bi được.

Một trường hợp khác, hành giả có thể khởi tâm bi mẫn đối với một kẻ làm ác mặc dù họ vẫn đang vui vẻ; bằng cách là suy nghĩ rằng: "chúng sanh này mặc dù đang vui vẻ nhưng vì nó đã tạo ác nghiệp nên chắc chắn nó sẽ bị khổ trong cảnh địa ngục. Thật đáng thương!". Trường hợp này giống như mình thấy một kẻ tử tù đang ăn bữa ăn ngon ân huệ để rồi bị xử tử vậy.

Hoặc hành giả có thể khởi tâm bi mẫn đối với tất cả chúng sanh bằng cách nghĩ rằng: "Vì chưa thoát khỏi luân hồi, nên các chúng sanh này sẽ phải bị khổ do sự già, bệnh, chết, hoành hành. Thật sự đáng thương!"

Hành giả tu tập tâm bi cần giữ thái độ bình đẳng và khách quan đối với chúng sanh. Nếu không, sẽ bị nhức nhói khi thấy người thân bất hạnh hoặc sẽ mãn nguyện khi thấy kẻ thù bất hạnh. Hãy nghĩ rằng "chúng sanh này ..."

Hành giả tu tập tâm bi sẽ có được mười một lợi lạc như tu tâm từ vậy.

Tu tập tâm hỷ (Muditā)

Tâm hỷ là trạng thái vui thích, hài lòng với sự thành đạt của người khác, đặc tính của tâm hỷ là không ganh tỵ, sự biểu hiện của tâm hỷ là xua tan sự bất mãn.

Thái độ ganh ghét sự hạnh phúc của chúng sanh khác là thái độ tương phản của tâm hỷ; nhưng thái độ tán thành sự xa hoa trụy lạc hay hạnh phúc bất chánh của người khác, cũng không phải đúng nghĩa của tâm hỷ.

Một người muốn tu tập tâm hỷ, trước hết trải rộng tâm bằng cách dẹp bỏ ý niệm tự hào về mình, tự hào về người thân của mình, bởi khi tự hào như thế mà thấy người dưng thành đạt hạnh phúc thì tâm hành giả sẽ thấy khó chịu bực bội.

Nếu hành giả có tánh hay ganh tỵ thì hãy suy xét hậu quả tệ hại của lòng tật đố, như sau: "chỉ có người tâm ích kỷ nhỏ mọn mới ganh tỵ kẻ khác", hay "người khác có tâm ganh tỵ sẽ bị quả báo sanh ra ở đời làm người thua sút thế cô" (M.III, kinh Tiểu nghiệp phân biệt).

Và để mở rộng thêm tấm lòng, hãy suy xét đến lợi lạc an vui của tâm hỷ, như sau: "người không ganh tỵ sẽ sống thoải mái" hay "sống không ganh tỵ là một đức độ khiến cho người có địa vị cao" v.v...

Sau khi đã làm cho tâm hân hoan trải rộng, hành giả trước tiên hãy biến mãn tâm hỷ với một người bạn tốt, vì người bạn tốt không làm cho hành giả chi phối niềm vui ích kỷ mà cũng không làm cho tâm hành giả gượng gạo miễn cưỡng. Khi thấy hay nghe một người bạn thân được hạnh phúc thành đạt, hành giả khởi lên tâm hỷ như sau: "thật là vui cho người này! người này đã được hạnh phúc, mong rằng người này luôn luôn lợi lạc".

Sau khi khởi tâm hỷ đối với người bạn tốt, hành giả có thể hướng tâm ấy tuần tự đến một người thân, rồi đến một người dưng (không thân không thù), và cuối cùng là hướng tâm hỷ với một người thù.

Nếu khi nhớ đến kẻ thù mà tâm hỷ không có được, trái lại niềm hận khởi lên, thì hành giả nên làm cho nó lắng xuống theo cách đã nói trong phần niệm tâm từ (mettā).

Hành giả nên phá rào ngăn tâm bình đẳng các đối tượng, nghĩa là bằng cách nào cho tâm thoải mái nghĩ đến sự hạnh phúc của người khác như đã thoải mái với hạnh phúc của chính mình.

Do tu tập, đào luyện tướng tâm ấy thường xuyên, hành giả có thể tăng cường định cho đến tam thiền, tứ thiền được.

Dù chưa đạt đến định của thiền, nhưng hành giả tu tập biến mãn tâm hỷ như vậy cũng sẽ có những lợi lạc như "ngủ an vui, thức an vui" v.v...

Tu tập tâm xả (Upekkhā)

Tâm xả phạm trú không phải là thọ xả phi khổ phi lạc; xả đây là trạng thái quân bình của tâm, không chi phối bởi ưa và ghét, dễ chịu và khó chịu.

Vị hành giả muốn tu tập tâm xả, cần phải trải qua cảm nghiệm từ, bi và hỷ, vì khi đã quen thuộc với cảm giác bị động tâm bởi sự hạnh phúc hay đau khổ của chúng sanh, bấy giờ hành giả mới thấy được sự an bình lợi lạc vi tế trong xả phạm trú được.

Do đó, hành giả tu tập xả với chúng sanh, bằng cách nhìn với tâm thản nhiên, nghĩ rằng: "Tất cả chúng sanh có nghiệp riêng, chúng sanh thừa hưởng quả của hành động mà chính họ đã tạo, có vui có khổ là do duyên nghiệp". Bằng cách đó hành giả sẽ trú với tâm bình thản khi trông thấy chúng sanh khác, dù họ đang hạnh phúc hay đau khổ.

Trước đây, hành giả đối với một người dưng, không thân không thù, thì tâm nhìn người ấy thản nhiên, chẳng có gì bận tâm dù người ấy đang vui hay khổ. Nay tu tập tâm xả, hành giả cũng nên khơi dậy tâm xả ấy với một người thân, một kẻ thù ... nhìn bất cứ ai cũng với trạng thái thản nhiên như thể đã đối với người dưng, vì thấy rõ nghiệp lực ở mỗi người.

Tại sao, hành giả phải tiến đến tu tập tâm xả?

Trong chú giải thanh tịnh đạo có thí dụ, cũng như một người mẹ có bốn đứa con, một đứa còn bé, một đứa bị bệnh tật, một đứa đang thành đạt, và một đứa đã nên danh phận. Người mẹ sẽ tưng tiu làm vui đứa con bé nhỏ, sẽ chăm nom an ủi đứa con bệnh tật, sẽ vui mừng với đứa con đang thành đạt, và sẽ không bận tâm gì nữa với đứa con đã nên danh phận. Đây là thí dụ cho tâm của hành giả tuần tự an trú từ, bi, hỷ, xả đối với chúng sanh.

Về lợi lạc, hành giả trú biến mãn với tướng tâm xả một cách thuần thục sẽ đạt đến tứ thiền (nói bốn bậc) hay ngũ thiền (nói năm bậc), một trạng thái thiền xả niệm thanh tịnh. Cho dù không đạt đến thiền chứng chăng nữa thì với tâm trú xả biến mãn như vậy cũng làm cho hành giả được nhiều lợi lạc như "ngủ an vui, thức an vui" v.v...

Dứt phần tu tiến với đề tài bốn phạm trú.

TU TIẾN VỚI ĐỀ TÀI QUÁN TƯỞNG (Paccavekkhana)

Đức Phật dạy:

"Này chư tỳ kheo, có năm sự kiện này cần được thường xuyên quán tưởng bởi người nam hay người nữ, bởi người tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm? "Ta phải bị già, không thoát khỏi già" "Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh". Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết". "Đối với ta, phải lìa bỏ, phải ly biệt tất cả người vật thân ái"; Ta có nghiệp là sở hữu, nghiệp là của thừa hưởng, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa; nghiệp thiện hay ác nào ta đang làm, ta sẽ lãnh chịu nghiệp ấy" (A.III,71).

Đối với một đệ tử xuất gia hay tại gia, nếu không có tu tiến thiền định gì thì ít ra trong một ngày cũng phải tu tập quán tưởng năm điều này để giảm thiểu được nguyên nhân phát sanh thân ác, khẩu ác và ý ác.

Bởi do kiêu mạn với tuổi trẻ là nhân khiến thân làm ác, khẩu nói ác và ý nghĩ ác, nên cần phải thường xuyên quán tưởng "Ta phải già, không thoát khỏi già" để đoạn trừ hay giảm thiểu sự kiêu mạn với tuổi trẻ.

Bởi do kiêu mạn với sức khỏe là nhân khiến thân làm ác, khẩu nói ác và ý nghĩ ác, nên cần phải thường xuyên quán tưởng "Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh" để đoạn trừ hay giảm thiểu sự kiêu mạn với sức khỏe.

Bởi do kiêu mạn với sự sống là nhân khiến thân làm ác, khẩu nói ác và ý nghĩ ác, nên cần phải thường xuyên quán tưởng "Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết" để đoạn trừ hay giảm thiểu sự kiêu mạn với sự sống.

Bởi do tham muốn quyến luyến với các người vật thân ái là nhân khiến thân làm ác, khẩu nói ác, ý nghĩ ác, nên cần phải thường xuyên quán tưởng "Đối với ta, phải lìa bỏ, phải biệt ly tất cả người vật thân ái" để đoạn trừ hay giảm thiểu lòng tham luyến vật khả ái.

Bởi chúng sanh dễ làm thân ác, nói khẩu ác, suy nghĩ ý ác, do vậy chịu quả đắng cay, nên cần phải thường xuyên quán tưởng "Ta có nghiệp là sở hữu, nghiệp là của thừa hưởng, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa, nghiệp thiện hay ác nào ta đang làm, ta sẽ lãnh chịu nghiệp ấy;" quán tưởng như vậy để đoạn trừ hay giảm thiểu các hành vi ác hạnh.

Vì do duyên lợi ích như vậy nên năm sự kiện này cần phải thường xuyên quán tưởng.

Một người muốn tu tập quán tưởng năm sự kiện này, có thể thực hành bất cứ ở đâu, bất cứ oai nghi nào, bất cứ lúc nào, vì sự quán tưởng là để đình chỉ tà tư duy nên khi nào có tâm kiêu mạn ỷ lại sanh khởi thì khi ấy khởi tâm quán tưởng để dẹp bỏ kiêu mạn ấy.

Phải thực hành quán tưởng theo cách như sau, suy tư rằng:

"Ta phải bị già, không thoát khỏi già. Nhưng không phải chỉ một mình ta bị già mà tất cả các chúng sanh có đến, có đi, có sanh, có diệt, cũng đều bị già, không thoát khỏi già".

"Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh. Nhưng không phải chỉ một mình ta bị bệnh mà tất cả các chúng sanh có đến, có đi, có sanh, có diệt, cũng đều bị bệnh, không thoát khỏi bệnh".

"Ta phải lìa bỏ phải biệt ly tất cả người vật thân ái. Nhưng không phải chỉ một mình ta chịu ly biệt với người vật thân ái mà đối với tất cả các chúng sanh có đến, có đi, có sanh, có diệt, cũng đều phải ly biệt người vật thân ái".

"Ta có nghiệp là sở hữu, phải lãnh chịu quả của nghiệp đã làm. Nhưng không phải chỉ một mình ta phải lãnh chịu quả của nghiệp đã làm, mà tất cả chúng sanh cũng đều có nghiệp là sở hữu, phải lãnh chịu quả của nghiệp họ đã làm".

Nên học thuộc ý nghĩa này và suy tư như vậy thường xuyên mỗi ngày.

Do thường xuyên quán tưởng các sự kiện ấy, nên con đường hiện ra, sử dụng con đường ấy tu tập làm cho sung mãn nên các kiết sử được đoạn tận, các tùy miên được chấm dứt.

Dứt phần tu tiến với đề tài quán tưởng

DỨT CHƯƠNG III






I.6. VAI TRÒ CƯ SĨ TRONG PHẬT GIÁO

Đức Phật có tâm đại bi với chúng sanh, Ngài thuyết pháp vừa theo trình độ và hoàn cảnh của mỗi người, để họ có thể thực hành theo giáo pháp hầu được an vui hạnh phúc và giải thoát khỏi khổ luân hồi như Ngài.

Giáo pháp của Đức Phật ứng dụng cho cả hai giới xuất gia và tại gia.

Người cư sĩ trong Phật giáo cũng có trách nhiệm nặng nề đối với việc tồn vong của chánh pháp.

Đức Phật có thuyết rằng:

"Ở đây, sau khi Như Lai nhập diệt, các tỳ kheo, các tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống tôn trọng và qui thuận bậc Đạo Sư, sống tôn trọng và qui thuận giáo pháp, sống tôn trọng và qui thuận Tăng chúng, sống tôn trọng và qui thuận học giới, sống tôn trọng và qui thuận lẫn nhau. Đây là nguyên nhân chánh pháp được tồn tại lâu dài sau khi Như Lai viên tịch" (A.III.247).

Người cư sĩ Phật giáo, đúng nghĩa là cận sự nam và cận sự nữ không phải là người chi đến với Phật giáo như một học giả nghiên cứu triết học Đông phương. Mà phải nhận thức rõ vai trò của mình đối với Phật pháp, phải thiết tha sống theo tinh thần lời dạy của Đức Phật để hướng tìm mục đích giải thoát, thành tựu hạnh phúc thật sự.

Người cư sĩ chân chánh trong Phật giáo có hai vai trò:

1. Vai trò người hộ pháp (Dhammarakkhaka).
2. Vai trò người thừa tự pháp (Dhammadāyadaka).

Vai trò hộ pháp

Hộ pháp tức là hộ trì Tam bảo: hộ trì Phật bảo, hộ trì Pháp bảo, hộ trì Tăng bảo.

Hộ trì Phật bảo, gọi là hộ pháp. Vì rằng Đức Phật là bậc giác ngộ chân lý, bậc đã tìm ra pháp giải thoát, bậc kính trọng chánh pháp. Do vậy, sự hộ trì Phật bảo cũng gọi là hộ pháp.

Hộ trì Pháp bảo, gọi là hộ pháp. Vì rằng giáo lý của Đức Phật là pháp đem đến sự an vui cho chúng sanh thiết thực hiện tại, lợi ích tương lai, và thoát khỏi luân hồi. Giữ vững giáo pháp cho đúng tinh thần chánh pháp, không để bị mai một, bị sai lệch văn cú ý nghĩa lời dạy của Đức Phật. Đó gọi là hộ pháp.

Hộ trì Tăng bảo, gọi là hộ pháp. Vì rằng Tăng chúng là những vị đệ tử thừa hành giáo lý của Đức Phật, truyền thừa Phật pháp tồn tại trong thế gian ngay khi Đức Phật còn tại thế và sau khi Đức Phật níp bàn. Tăng chúng còn là Giáo pháp còn, do đó sự hộ trì Tăng bảo cũng là hộ pháp.

a) Hộ trì Phật Bảo

Người cư sĩ hộ trì Phật bảo bằng bốn hình thức sau đây:

1- Giữ vững niềm tin đối với Đức Phật, không có hoài nghi sự giác ngộ của Ngài.
2- Hằng tán dương Đức Phật và hoan hỷ người khác tán dương Đức Phật.
3- Thường xuyên lễ bái Đức Phật qua hình, tượng, xá lợi.
4- Xây dựng đền tháp, tôn thờ Phật cảnh trang nghiêm để tôn vinh Đức Phật. Nếu không có khả năng tự mình làm thì ủng hộ người khác cùng làm.

Việc thờ phụng Đức Phật, người cư sĩ làm vai trò ấy là hợp lý hơn các vị xuất gia. Khi Đức Thế Tôn sắp viên tịch, tôn giả Ānanda đã bạch hỏi Ngài về việc xử sự đối với thân Xá Lợi của Thế Tôn phải như thế nào? Đức Phật bảo rằng:

"Này Ānanda, các ngươi chớ bận lo việc thờ phượng Xá Lợi của Như Lai; hãy tinh tấn tự lợi, hãy chuyên cần tự lợi, hãy sống nỗ lực nhiệt tâm, không dể duôi. Này Ānanda, có các hiền trí Sát đế lỵ, các hiền trí Bà la môn, các hiền trí gia chủ tín ngưỡng Như Lai, những người ấy sẽ thờ phượng thân xá lợi của Như Lai" (D.II.141).

b) Hộ trì Pháp bảo

Người cư sĩ hộ trì Pháp bảo bằng năm hình thức sau đây:

1- Giữ vững niềm tin đối với giáo pháp, không có hoài nghi về hiệu năng hướng thượng của Giáo pháp.
2- Siêng năng học hỏi giáo pháp, thọ trì đúng chánh pháp, không mê tín dị đoan, không xu hướng ngoại đạo.
3- Hoan hỷ cúng dường đến các vị tỳ kheo, sa di là bậc đa văn, những vị học pháp, hành pháp và duy trì giáo pháp.
4- Có sự ưu tư trong việc chấn hưng Phật pháp khi thấy có dấu hiệu bi suy thoái, bị phá hoại.
5- Tùy khả năng của mình, hỗ trợ chư Tăng kết tập kinh điển, in ấn sách kinh, mở trường lớp Phật học v.v...

Từ thời Đức Phật đã có những tấm gương cư sĩ hộ pháp như ông Anāthapiṇḍika, bà Visākhā, vua Pasenadi, sau này có vua Asoka ... chẳng những họ cúng dường vật chất hộ độ Đức Phật và Tăng chúng mà họ còn rất quan tâm để hộ trì chánh pháp, cũng cố Phật pháp, làm sao cho giáo pháp hưng thịnh.

Người cư sĩ hộ trì chánh pháp nổi bậc nhất là đức vua Asoka (A Dục vương). Với quyền hành của mình, nhà vua đã cố gắng học Phật pháp cho thông suốt để sàng lọc ra những vị tu sĩ giả danh gây xáo trộn trong Phật giáo, nhà vua cũng đã nhiệt tâm hộ độ chư Tăng kết tập kinh điển lần thứ ba, nhà vua cũng tận tâm giúp đỡ chư Tăng đi hoằng pháp mở mang Phật giáo đến các nước lân bang ...

c) Hộ trì Tăng bảo

Người cư sĩ hộ trì Tăng bảo bằng năm hình thức sau đây:

1- Có niềm tin vững chắc nơi Tăng chúng, không vì lý do một vài phần tử cá nhân xấu mà mất niềm tin với Tăng chúng.
2- Thường xuyên hộ độ cúng dường các nhu cầu vật chất đến chư tăng.
3- Luôn luôn bảo vệ uy tín và thanh danh cho Tăng chúng.
4- Quan tâm đến sự an nguy thịnh suy của Tăng chúng, đồng vui cộng khổ với chư tăng.
5- Đối xử với Tăng chúng bằng sự kính trọng và nhu thuận.

Các cư sĩ thời Đức Phật như ông Jīvakakomārabhacca, bà Visākhā, vua Pasenadi ... là những người hộ Tăng tiêu biểu, vừa hộ độ thực phẩm, vừa bảo vệ thanh danh chư tăng, vừa khéo góp ý nhắc nhở những vị có hành vi sai trái để chấn chỉnh giáo hội tốt đẹp.

Vai trò thừa tự pháp

Thừa tự (dāyada) là sự kế thừa, thừa hưởng, như là thừa tự tài sản, thừa hưởng gia sản v.v... thừa tự pháp là kế thừa Giáo pháp của Đức Phật.

Trong kinh Trung Bộ, Đức Thế Tôn có dạy rằng: "Này các tỳ kheo, các ngươi hãy là người thừa tự pháp của ta, đừng là người thừa tự tài vật - Dhamma-dāyādā me bhikkhave bhavatha mā āmisadāyādā" -- (M.I.12).

Ở vai trò thừa tự pháp, người cư sĩ có ba phận sự:

- Học hỏi giáo lý
- Thực hành giáo pháp
- Duy trì Phật giáo

a) Học hỏi giáo lý

Để lãnh hội những tinh hoa Phật pháp và có được chánh kiến, người cư sĩ phải siêng năng học hỏi giáo lý, ưa thích tìm hiểu Phật pháp. Sự học hỏi giáo lý cho thông suốt, gọi là thừa tự pháp. Ví như một người con kế thừa sự nghiệp của ông cha, là phải biết được giá trị những gì mà ông cha đã để lại, cũng vậy, giáo pháp mà đấng từ phụ đã để lại, đệ tử xuất gia hay tại gia phải chuyên cần học tập để biết được giá trị của giáo pháp ấy, như thế mới đáng gọi là đệ tử thừa tự pháp.

Người cư sĩ học hỏi giáo lý bằng nhiều phương tiện, có thể bằng cách nghe chư Tăng thuyết Phật pháp.

Hoặc có thể học hỏi bằng cách nghiên cứu tham khảo kinh sách Phật giáo.

Hoặc có thể học hỏi bằng cách tìm gặp nhau để đàm luận Phật pháp.

Các cư sĩ thời xưa khi đến viếng thăm Đức Phật hay các vị Tỳ kheo, bao giờ họ cũng hoan hỷ nghe pháp, thiết tha học giáo pháp, như vua Pasenadi, ông Anāthapiṇḍika, bà Visākhā v.v... Có vậy mới xứng đáng gọi là cư sĩ thừa tự pháp.

b) Thực hành giáo pháp

Người cư sĩ không phải chỉ đơn thuần là người có tín ngưỡng tôn giáo, là người theo đạo Phật. Người cư sĩ phải sống theo pháp, thực hành giáo pháp, chấp nhận giáo pháp ứng dụng vào đời sống như là một nhu cầu không thể thiếu. Người cư sĩ có thực hành như vậy mới hưởng được hương vị tuyệt vời của giáo pháp, như khi có nếm qua món ăn rồi mới thưởng thức được hương vị của món ăn đó. Gọi là người cư sĩ thừa tự pháp, phải thật sự cảm nhận được sự đặc thù của chánh pháp qua kinh nghiệm tu tập.

Người cư sĩ ngoài việc học hỏi giáo lý thông suốt, còn phải thực hành nữa. Khi nào còn người thực hành theo giáo pháp thì khi đó Phật pháp còn tồn tại, bởi thế vai trò thừa tự pháp của người cư sĩ cũng rất quan trọng.

Sự thực hành giáo pháp, tức là hành theo ba điều căn bản:

"Không làm các điều ác" (Sabbapāpassa akaraṇaṃ). Nghĩa là người cư sĩ sống né tránh không làm điều tội lỗi như sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói chia rẽ, nói độc ác, nói vô ích, tham lam, sân hận và tà kiến.

"Thực hiện các việc lành" (Kusalassa upasampadā). Nghĩa là người cư sĩ thiết tha làm những điều thiện như bố thí, trì giới, tu tiến, cung kính, phục vụ, thính pháp, nói pháp, hồi hướng phước, tùy hỷ phước và cải chánh tri kiến.

"Thanh lọc nội tâm" (Sacittapariyodapanaṃ). Nghĩa là người cư sĩ tinh tấn thiền định để rèn luyện nội tâm, làm cho tâm trong sạch không bị ô nhiễm bởi phiền não tham, sân, si.

Sự tu tập của người cư sĩ theo ba điều trên, gọi là người cư sĩ thực hành giáo pháp.

c) Duy trì Phật giáo

Người cư sĩ thừa tự pháp, ngoài hai phận sự là học hỏi giáo lý và thực hành giáo pháp, còn có một phận sự nữa cũng rất quan trọng, đó là duy trì Phật giáo.

Phật giáo được tồn tại lâu dài là nhờ vào tứ chúng: tỳ kheo, tỳ kheo ni, cận sự nam và cận sự nữ hết lòng phụng sự duy trì chánh pháp. Trong tứ chúng ấy, tỳ kheo và tỳ kheo ni là hàng xuất gia; cận sự nam và cận sự nữ thuộc hàng tại gia cư sĩ. Bậc xuất gia đóng vai trò chính trong phận sự duy trì Phật pháp vững bền; còn đối với hàng cư sĩ chỉ là vai trò phụ.

Tuy người cư sĩ đối với phận sự duy trì Phật pháp là vai trò phụ nhưng không phải là không quan trọng. Vì nếu người cư sĩ không xuất gia hoặc cư sĩ cha mẹ không hoan hỷ cho con cháu xuất gia thì làm sao có tỳ kheo, tỳ kheo ni để duy trì Phật pháp? Lại nữa, nếu người cư sĩ không ủng hộ cúng dường hoặc bảo vệ Tăng chúng Phật giáo thì làm sao các vị tỳ kheo, tỳ kheo ni có điều kiện thuận lợi làm phận sự duy trì Phật pháp?

Bởi thế, người cư sĩ cũng có phận sự duy trì Phật giáo là gián tiếp. Và người cư sĩ duy trì Phật giáo được gọi là người thừa tự giáo pháp.

Một thời, khi đức vua Asoka (A Dục vương) trở thành Phật tử, đức vua đã ra sức xây cất 84.000 chùa tháp để tôn thờ Xá lợi Đức Phật. Đức vua bạch hỏi chư Thánh Tăng: Sự đại thí như vầy, không biết có ai đã từng làm chưa?

Trưởng lão Moggalliputtatissa thay mặt chư Tăng đã trả lời rằng:

"Thưa Đại vương, dù khi Đức Thế Tôn còn hiện tiền và cho đến nay cũng chưa có một ai làm được việc đại thí như thế này. Chỉ có Đại vương là nguời duy nhất làm được việc đại thí này thôi".

Đức vua Asoka lắng nghe trưởng lão Moggalli-puttatissa trả lời, lòng tràn ngập phỉ lạc. Vua đã suy nghĩ, nếu ta là người đã làm được đại thí này chắc hẳn ta là người thừa kế Phật giáo (Dāyādo sāsanassa) chăng? Nghĩ vậy, Đức vua bèn bạch hỏi vị trưởng lão nữa.

"Kính bạch Tôn giả, trẫm đã làm được đại thí như thế, vậy trẫm có phải là người kế thừa của Phật giáo chăng?"

Trưởng lão đáp:

"Thưa đại vương, người chỉ bố thí bốn món vật dụng, dù có là đại thí chăng nữa cũng chỉ gọi là thí chủ vật dụng (paccayadāyaka), chứ chưa phải là người kế thừa Phật giáo (sāsanadāyada).

Đức vua liền hỏi vị trưởng lão, người thế nào mới gọi là kế thừa Phật giáo. Trưởng lão đáp:

"Những người cha mẹ nào hoan hỷ cho phép con của mình xuất gia trở thành tỳ kheo trong Phật giáo, như vậy, người cha mẹ ấy mới được gọi là người kế thừa Phật giáo."

Đức vua Asoka nghe vậy khởi tâm tịnh tín bèn cho phép hai người con là hoàng tử Mahinda và công chúa Saṅghamittā xuất gia làm tỳ kheo và tỳ kheo ni trong Phật giáo. Sau khi xuất gia, cả hai vị đều đắc quả A la hán, và chính Đại Đức Mahinda đã mở đầu công cuộc hoằng hóa giáo pháp tại xứ Tích Lan.

Các bậc xuất gia duy trì Phật pháp bằng cách hoằng pháp, còn đối với người cư sĩ thì duy trì Phật pháp bằng cách hộ độ chư Tăng hoằng pháp, và tạo người nối truyền hoằng pháp, tức là nếu con em có ý muốn xuất gia thì mình khích lệ, động viên, và hoan hỷ cho phép.

DỨT CHƯƠNG I

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn