Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

22-Chữ TỨC trong đạo Phật

28/01/201109:41(Xem: 3905)
22-Chữ TỨC trong đạo Phật

BƯỚCÐẦU HỌC PHẬT

HòathượngThích Thanh Từ
PhậtLịch 2541-1998

ChữTỨC trong đạo Phật

Ngườiđời và những người mới học đạo đều nhìn sự vậtvới tính cách cố định. Nói ác hẳn là ác, nói thiện hẳnlà thiện, phải hẳn là phải, quấy hẳn là quấy, có hẳnlà có, không hẳn là không... họ không hiểu nổi lối nói"cái này tức là cái kia", trong kinh điển Ðạithừa. Họ cho lối nói này ỡm ờ mờ ám không chấp nhậnđược. Song với tinh thần Ðại thừa Phật giáo, nhìn sựvật thấy rõ không có bản chất cố định, không ngoài nhau.Vì thế, trong kinh nói "Sắc tức là Không, Không tức là Sắc",hay "Phiền não tức Bồ-đề", hoặc "Sanh tử tức Niết-bàn".Chỉ một chữ "Tức" làm sáng tỏ nghĩa không cố định, khôngngoài nhau của các Pháp.

SẮCTỨCLÀ KHÔNG, KHÔNG TỨC LÀ SẮC

Câunày xuất phát từ kinh Bát-nhã. Chữ Sắc ở đây là chỉcho Sắc uẩn. Dưới con mắt đức Phật, thân này do năm uẩnkết hợp thành. Sắc uẩn là phần vật chất; thọ uẩn, tưởnguẩn, hành uẩn, thức uẩn là phần tinh thần. Chẳng riênggì sắc uẩn tức là không, mà thọ, tưởng, hành, thức cũngnhư thế. Bởi vì bản chất mọi uẩn không tự có, do duyênhòa hợp thành. Ðã do nhân duyên hòa hợp thì làm sao cố địnhđược. Trước khi nhân duyên hòa hợp nó không có, sau khinhân duyên ly tán, nó cũng không, chính khi duyên đang hợp phântích ra cũng không có thực thể của nó. Ví như nắm tay, trướckhi co năm ngón lại, không có nắm tay, sau khi buông năm ngónra không có nắm tay, đang khi co năm ngón lại nếu phân tíchtừng ngón cũng không có nắm tay. Thế thì, nắm tay chỉ làcái tên tạm gọi khi co năm ngón lại, chớ không có thựcthể cố định của nắm tay. Sắc uẩn không cố định nênnói "sắc tức là không"; không, khi đủ duyên hợp thành sắcnên nói "không tức là sắc", sắc chẳng ngoài tính chất khôngcố định, không cố định chẳng ngoài sắc, nên nói "sắctức là không, không tức là sắc"! Thấu triệt lý các pháptùy duyên biến chuyển, không đứng yên, không tự thành, làthông suốt câu "sắc tức là không, không tức là sắc".

PHIỀNNÃO TỨC BỒ-ÐỀ

Câunày bàng bạc trong các kinh Ðại thừa. Phiền não là si mêbực bội đau khổ. Bồ-đề là giác ngộ yên tĩnh an vui. Haithứ bản chất trái ngược nhau, tại sao lại nói cái nàytức cái kia? Bởi phiền não bản chất không cố định, khibiết chuyển hoặc biết xả liền thành Bồ-đề. Cái độngkhông ngoài cái tịnh, dừng động tức là tịnh. Cái sángkhông ngoài cái tối, hết tối tức là sáng. Chúng ta cứ quenchạy tìm cái giác ở ngoài cái mê, tìm an vui ngoài đau khổ.Sự thật không phải thế, hết mê tức là giác, dứt khổtức là vui. Thiền sư Tư Nghiệp người Trung Hoa, khi chưa xuấtgia làm nghề hàng thịt. Một hôm mổ heo, bỗng dưng ông thứctỉnh, bỏ nghề đi xuất gia. Khi xuất gia, ông làm bài kệ:

Tạcnhật dạ-xoa tâm
KimtriêuBồ-tát diện
Bồ-tátdữDạ-xoa
Bấtcáchnhất điều tuyến.
Dịch:
Hômqua tâm dạ-xoa,
Ngàynaymặt Bồ-tát
Bồ-tátcùngDạ-xoa
Khôngcáchmột sợi chỉ.
Biếtdừng phiền não tức Bồ-đề, không phải nhọc nhằn tìmkiếm đâu xa. Bồ-đề đã sẵn có nơi mình, do phiền nãodấy khởi phủ che nên Bồ-đề bị ẩn khuất. Một khi phiềnnão lắng xuống thì Bồ-đề hiện tiền. Chúng ta ôm đầymột bụng phiền não chạy tìm Bồ-đề, dù chạy cùng ngànsông muôn núi tìm vẫn không thấy Bồ-đề. Chỉ khéo ngồiyên lại cho phiền não lắng xuống thì Bồ-đề hiện tiền.

Nhưkhitrời đổ mưa to, nước mưa từ hư không mưa xuống làtrong sạch, song rơi đến mặt đất lôi cuốn bụi bặm bùnđất chảy xuống ao hồ, thấy toàn nước đục. Có ngườic?n nước trong xài, ra ao hồ nhìn thấy toàn nước đục khôngbiết làm sao. Gặp người thông minh bảo: nước đục tứclà nước trong, anh ta ngẩn ngơ không hiểu, ông này bảo: Anhcứ gánh về đổ vào lu, lấy ít phèn quậy nhiều vòng chonước cuồn lộn lên, rồi để yên vài tiếng đồng hồ,cặn bụi lắng xuống nước sẽ trong. Anh chàng kia làm đúngnhư người thông minh dạy, kết quả anh được nước trong.

Bởivì nước mưa nguyên là trong, do bụi đất cuốn theo và hòatan trong nước nên trở thành đục. Kẻ khờ thấy nước đụckhác với nước trong, tưởng chừng như nước trong ngoài nướcđục mà có, nên khi cần nước trong thấy nước đục làthất vọng, không biết phải tìm nước trong ở đâu. Ngườitrí biết nước mưa vẫn trong, do bụi đất hòa lẫn nên đục,chỉ cần lóng bụi đất trở thành nước trong. Vì thế, khithấy nước đục, họ vẫn quả quyết nói "nước đục tứclà nước trong". Chữ tức ở đây để chỉ nước trong khôngcố định trong, do duyên hợp thành đục; nước đục khôngcố định đục, do duyên lóng thành trong. Nước đục khôngngoài nước trong mà có; nước trong không thể bỏ nước đụcmà tìm. Bồ-đề và phiền não cũng thế, phiền não khôngcố định phiền não, do duyên hợp thành phiền não, Bồ-đềkhông cố định Bồ-đề, do duyên lóng sạch thành Bồ-đề.Bồ-đề không ngoài phiền não mà có, phiền não không ngoàiBồ-đề mà sanh. Bỏ phiền não chạy tìm Bồ-đề như ngườilưới cá trên không, bẫy chim đáy biển, rốt cuộc chỉ phícông vô ích.

Nướcđục lóng thành nước trong, trẻ con thấy mới được nướctrong, người lớn biết nước trước nguyên trong, nay lóngtrở lại trạng thái cũ, có gì là "được". Nếu trước nướcvốn đục, nay lóng mấy cũng không trở thành trong. Cũng vậy,nếu tất cả chúng sanh không có sẵn tánh giác, dù có tu hànhđến đâu cũng không thể giác được. Chư Phật, Bồ-táttrước cũng là chúng sanh, các Ngài tu hành đã giác ngộ được,tất cả chúng ta nếu biết tu hành chắc chắn sẽ giác ngộnhư các Ngài. Vì thế, chư Phật thấy rõ tất cả chúng sanhđều có tánh giác, vì vô minh phiền não che đậy trở thànhmê, một khi khéo tu lóng sạch vô minh phiền não liền trởlại giác. Từ mê sang giác, chúng sanh tưởng là mới được,nên thấy có chứng có đắc. Chư Phật biết rõ chỉ trởlại tánh giác sẵn có, nên nói vô chứng vô đắc. Vô chứngvô đắc không có nghĩa là không ngơ, mà không còn mê, hằngsống lại tánh giác của mình. Cái đã sẵn có, trở lạivới nó có gì thêm bớt mà nói chứng đắc. Tuy không chứngđắc mà hằng giác chẳng mê, làm sao nói không ngơ được?

Biếttrong nước đục vốn là nước trong, nước đục khéo lóngsẽ thành nước trong, đó là cái thấy của người thông minh.Ðức Phật cũng thế, Ngài thấy tất cả chúng sanh đều sẵncó tánh giác, dù đang mê tánh giác cũng không mất, nên nói"ta thấy tất cả chúng sanh đã thành Phật". Lại có khi Ngàinói "Ta là Phật đã thành, các ông là Phật sẽ thành". Bởichúng ta đã sẵn tánh giác, một khi thức tỉnh huân tu tánhgiác sẽ hiển hiện, việc này không có gì là lạ. Câu Phậtnói trước có vẻ khó hiểu, đã thành Phật tại sao chúngsanh vẫn mê muội loạn cuồng. Bởi vì Phật cũng là mộtchúng sanh như chúng ta, Ngài khéo lóng vô minh phiền não chìmlặng trở thành giác ngộ. Nếu không có tánh giác sẵn, dùNgài tu đến muôn a-tăng-kỳ cũng không ngộ, nói gì ba a-tăng-kỳ.Thấy chúng sanh sẵn có tánh giác, nói "đã thành Phật" thìcó lỗi gì? Có sẵn tánh giác mà cứ quên, mải tạo nghiệpđi trong sanh tử luân hồi, càng luân hồi càng tạo nghiệp,nghiệp mê chồng chất nên thành mê muội loạn cuồng. Mộtphen thức tỉnh, dừng bước luân hồi, nghiệp mê băng hoại,mới tin "ta là Phật sẽ thành".

SANHTỬ TỨC NIẾT-BÀN

Chúngsanh mải trôi lăn, lặn hụp trong biển luân hồi sanh tử,dừng sanh tử được an lành là Niết-bàn. Sanh tử là khổđau. Niết-bàn là an lạc. Sự khổ đau an lạc dường nhưhai mà không phải hai. Như người đi trên vai gánh một gánhnặng đi xa, họ cảm nghe nhọc nhằn vô kể, để gánh nặngxuống nghỉ, họ cảm thấy nhẹ bổng an vui. Cái nhọc nhằnvà an vui người này cảm giác được, dường như hai mà khôngphải hai. Chẳng qua, khi gánh nặng còn đè trĩu trên vai làđau khổ, để gánh nặng xuống thì an vui. Do hết khổ gọilà vui, chớ không có cái vui từ đâu đem đến. Niết-bànvà sanh tử cũng thế, do hết sanh tử gọi là Niết-bàn, khôngcó Niết-bàn ngoài sanh tử.

Chúngsanh tạo nghiệp, lại do nghiệp dẫn chúng sanh loanh quanh lẩnquẩn, không có ngày cùng. Chúng ta vì sự sống tạo nghiệp,nghiệp lại dẫn chúng ta qua lại trong tam giới, lên xuốngtrong sáu đường, không biết bao giờ ra khỏi. Nếu khéo tudừng nghiệp thì bánh xe luân hồi sẽ theo đó mà dừng. Theonghiệp trôi lăn là sanh tử, dừng nghiệp lặng yên là Niết-bàn.Vì thế, cần được Niết-bàn, chúng ta phải dừng nghiệp.Có nhiều người tưởng Niết-bàn là một cảnh giới xa xôiđẹp đẽ như cảnh Cực Lạc chẳng hạn. Họ cố cầu xinPhật, Bồ-tát cho họ được Niết-bàn hoặc tìm minh sư đạtđạo nhờ truyền pháp hay điểm đạo cho họ được Niết-bàn.Họ không ngờ sạch nghiệp tức là Niết-bàn. Nghiệp lạido mình tạo, chỉ cần tìm ra động cơ chủ yếu tạo nghiệp,bắt nó dừng lại thì Niết-bàn hiện tiền. Tâm thức lăngxăng của chúng ta là chủ động tạo nghiệp, khéo tu dừnglặng nó thì Niết-bàn xuất hiện. Dừng ngắn thì đượcNiết-bàn ngắn, dừng lâu thì được Niết-bàn lâu, dừnghẳn thì được Niết-bàn viên mãn.

Sởdĩ có Niết-bàn là do đối với sanh tử mà lập, một khisanh tử dứt sạch thì Niết-bàn cũng không còn chỗ đứng.Kinh có câu "Niết-bàn sanh tử đồng như hoa đốm trong không".Ðã là hai danh từ đối đãi mà lập thì đều không thật.Không có sanh tử thì không có Niết-bàn; không có Niết-bànthì nói gì là sanh tử. Như không có khổ thì không có vui,không có vui thì làm sao biết khổ. Niết-bàn và sanh tử khôngriêng lập và không ngoài nhau, nên nói "Sanh tử tức Niết-bàn".

Sẽcó người bảo, sanh tử là do nghiệp dẫn là pháp sanh diệt,hư dối là phải, Niết-bàn là dứt sạch nghiệp là chân thật,tại sao lại nói hư dối? Quả thật Niết-bàn không hư dối,song danh từ Niết-bàn là hư dối. Thực thể Niết-bàn khôngcó hình dáng để diễn tả, không có ngôn ngữ để nói bàn,nó vượt ngoài pháp đối đãi thế gian. Ngôn ngữ chúng tasử dụng để diễn đạt tâm tư đều nằm trong đối đãikhông thật. Dù là ngôn ngữ Niết-bàn, cũng chỉ là lớp mâyphủ núi, chớ không phải là núi, đứng về núi mà nhìn thìnó là cái hư dối bên ngoài không đáng kể. Thế nên nói"như hoa đốm trong hư không" mà thực thể chẳng phải không.

THIỆNTỨC ÁC, ÁC TỨC THIỆN, PHẢI TỨC QUẤY, QUẤY TỨC PHẢI

Tacó thể nói rộng ra "thiện tức ác, ác tức thiện" hay "phảitức quấy, quấy tức phải"... chẳng hạn. Bởi vì, dù làviệc thiện mà chúng ta cố chấp liền trở thành ác. Ví nhưngười theo tôn giáo A tự thấy là hay là lợi ích, liền khuyênbà con thân quyến cùng theo với mình. Nếu những người thânkhông bằng lòng theo, tức thì sanh tâm giận ghét. Thế khôngphải chấp thiện thành ác là gì? Tuy là việc ác, chúng taý thức được liền bỏ là trở thành thiện. Như anh A nghetheo bạn bè làm việc trộm cắp, gặp người tốt nhắc nhởgiải thích cho A biết việc làm ấy là xấu xa, tội lỗi,A liền bỏ nghề trộm cắp. Quả thật ác biết bỏ liềntrở thành thiện.

Phảiquấy cũng không có tiêu chuẩn cố định, nếu ta chấp vàocái phải của mình liền trở thành quấy. Bao nhiêu việc cãivã chửi lộn đánh lộn đâu không phải do chấp phải màra. Có người nào sau khi đánh lộn, bị người hỏi, dám nhậnlà tôi quấy đâu. Mọi người đều thấy mình phải nên cóẩu đả. Ngược lại, người ý thức việc làm của mìnhlà quấy tự bỏ, liền trở thành phải. Những người lầmđường lạc lối, khi họ thức tỉnh xoay trở lại đườnglành liền trở thành người tốt. Mọi sự việc trong đốiđãi đều như thế cả, không có một sự việc gì là cốđịnh. Cái phải của A không phải là cái phải của B. Cáiphải của nhóm C không phải là cái phải của nhóm D. Cáiphải của xứ này không phải là cái phải của xứ khác.Cái phải của thời gian trước không phải là cái phải củathời gian sau. Thế thì, lấy đâu làm tiêu chuẩn mà chấpphải quấy! Chấp chặt phải quấy là ngu xuẩn là khổ đau.Biết buông xả linh động tùy thời là người khôn ngoan anổn.

CHỮTỨC ÐỐI TRONG VẠN VẬT

Tađi xa hơn ra ngoại giới, với mọi sự vật dùng chữ TỨCvẫn đúng lẽ thật. Như nói "thể lỏng tức là thể hơi"hoặc nói "thể hơi tức là thể lỏng". Nước là thể lỏngđun nóng bốc lên thành hơi, hơi nước lên cao gặp khí lạnhđọng lại rơi xuống thành nước thể lỏng. Cũng có thểnói "thể lỏng tức là thể cứng, thể cứng tức là thểlỏng". Nước là thể lỏng khi để vào tủ lạnh cô đọngthành nước đá thể cứng; nước đá đem để ngoài nắngtan thành nước thể lỏng. Ngoài nước ra, các loại chì, đồng,sắt..., từ thể cứng để vào lò nấu sức nóng lên đến1.000 độ C trở lên sẽ chảy thành thể lỏng, thể lỏngđó đem ra để nguội trở thành cứng... Vì thế, thấu hiểuchữ TỨC là thấy đúng lẽ thật, cũng là thấy tột cùnglý tùy duyên chuyển biến của các pháp. Môn hóa học hiệntại chứng minh sự vật không tự tồn tại, không có cá thểđộc lập, không giữ nguyên một vị trí. Một vật thể nàybị thay đổi chất liệu liền biến thành vật thể khác.Thế nên, con người có thể dùng các thứ nguyên liệu khoahọc đã tìm được, biến chế thành những sản phẩm hữuích cung ứng cho nhân loại cần dùng. Mọi vật thể kết hợpkhông phải đơn thuần, mà sự cấu tạo rất phức tạp. Biếtđược sự cấu tạo của vật thể, người ta sẽ tạo điềukiện biến nó thành những vật theo nhu cầu của mình. Sựbiến hóa đổi thay trong mỗi vật thể đã là bằng chứnghùng hồn về lý không cố định của sự vật. Thấy đượclý không cố định là thấy tột bản tánh của sự vật.Những nguyên tố hợp thành sự vật tuy nhiều song chẳng lắm,do sự kết hợp tăng giảm biến thành muôn vàn sự vật cóđủ thiên hình vạn trạng trên thế gian này. Quả là trongvật này có những nguyên tố của vật khác, trong vật kháccó những nguyên tố của vật này. Thế nên, nói "A tức B,B tức A" là đúng lẽ thật đâu có sai ngoa.

HIỆUDỤNG CHỮ "TỨC" TRONG SỰ TU HÀNH

Hiểurõ chữ TỨC có công hiệu rất lớn trong việc tu hành. A tứclà B, thì A không thật A, B tức là A thì B không thật B. Muônvật tùy duyên thay hình đổi dạng, có cái gì cố định màchấp. Bệnh lớn của con người là cố chấp, chấp càng nặngthì khổ càng nhiều. Mỗi người chấp theo cái thấy, cáinghe, cái sở học, cái suy nghĩ, cái tưởng tượng của mìnhhoặc của nhóm người thân mình, nếu người khác thấy đồngcái thấy của mình, nhóm mình thì thân; thấy khác cái thấycái chấp của mình, nhóm mình thì thù. Ðây là gốc đấutranh gây ra đau khổ cho nhân loại. Sự vật là một dòng biếnthiên, mà mình nhìn theo cái chấp cố định thì làm sao thấyđược lẽ thật, làm sao đem lại sự an bình. Con người khủngkhiếp hãi hùng khi nghe tin mình sắp chết. Sợ chết vì chấpthân là chắc thật lâu dài, bỗng dưng nó sắp tan hoại nênhoảng sợ. Sự nghiệp tài sản cũng chấp cố định bềnlâu, xảy ra tai nạn hỏa hoạn, binh đao, trộm cướp... khiếnphải tan hoại, người ta sẽ đau khổ vô hạn. Tình cảm bạnbè, thân hữu..., chấp mãi mãi không đổi thay; một khi gặpcảnh đổi thay, người ta sẽ thảm sầu vô kể.

Ngườinắm vững nguyên tắc "các pháp không cố định", mọi cốchấp trên từ từ tan rã, khổ đau, sầu thảm, hoảng sợ,hãi hùng dần dần tan biến theo mây khói. Thân sắp chết,sự nghiệp tan vỡ, bạn bè chia lìa... cũng là lẽ đươngnhiên trong dòng biến thiên của vạn vật. Chúng ta chưa canđảm cười trước cảnh ấy, song cũng can đảm nhìn chúngtrôi qua với tâm niệm an bình. Bởi người tu hành là huântập phát minh những lẽ thật ấy. Sở dĩ hiện nay có lắmngười tu khi gặp hoàn cảnh tang thương biến cố liền hoảngsợ bất an, do họ không phát minh những lẽ thật này. Họnghĩ rằng tụng kinh nhiều, niệm Phật lắm, cúng kính hậulà đầy đủ công phu tu hành. Tu bằng cách nhắm ra ngoài,chạy theo hình thức làm sao đạt được lẽ thật, mà làmsuy giảm khổ đau. Họ càng tu thì chấp càng nặng, chấp nặngthì đau khổ càng nhiều. Thế là, tu chỉ tăng khổ, chớ khônghết khổ.

A tứclà B, thì A không thật là A, B tức là A, thì B không thậtlà B, hai bên đều không cố định. Ðã không cố định thìlàm sao dám bảo là thật. Hai bên đều không thật thì khôngthể thành hai. Bởi không thể thành hai là tiến thẳng vào"Pháp môn bất nhị". Thấy vạn vật đối đãi không thật,còn gì để lý giải luận bàn. Vừa phát ra ngôn ngữ là nằmtrong đối đãi, đối đãi thuộc hai bên. Muốn chỉ chỗ cứukính của "Pháp môn bất nhị", ngài Duy-ma-cật chỉ còn cáchlên tòa ngồi lặng thinh. Chính thế mà Bồ-tát Văn-thù tánthán không tiếc lời.









Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn