Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Chương I: Dẫn nhập Tứ diệu đế

15/12/201017:21(Xem: 4638)
Chương I: Dẫn nhập Tứ diệu đế

Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV
TỨ DIỆU ĐẾ
NỀN TẢNG NHỮNG LỜI PHẬT DẠY

Nhà Xuất Bản Tôn Giáo
Nguyên tác: The Four Noble Truths (1997)
Bản dịch Anh ngữ: Geshe Thupten Jinpa - Hiệu chỉnh: Dominique Side
Bản dịch Việt ngữ: Võ Quang Nhân - Hiệu đính: Nguyễn Minh Tiến

Chương I: Dẫn nhập Tứ diệu đế

Bây giờ, chúngta nói về giáo pháp Tứ diệu đế của đạo Phật. Nghi vấn đầu tiên có thể là: Tạisao các chân lý này lại được xem là cơ bản nhất, và tại sao, sự thật là đức Phậtđã dạy những chân lý này trong tất cả các kinh điển?

Để trả lời đượcvấn đề này, ta phải liên hệ giáo pháp Tứ diệu đế với kinh nghiệm của chính tatrong kiếp người. Một sự thật hoàn toàn tự nhiên trong cuộc sống là: Mỗi ngườichúng ta đều có một khát vọng bẩm sinh luôn tìm kiếm hạnh phúc và muốn vượt quakhổ đau. Đây là một bản năng sẵn có, nên ta không cần phải chứng minh sự tồn tạicủa nó. Hạnh phúc là điều mà tất cả chúng ta đều khao khát muốn đạt được, và dĩnhiên chúng ta có quyền đáp ứng sự khao khát đó. Cũng vậy, khổ đau là điều mà aicũng mong muốn tránh khỏi, và chúng ta cũng có quyền nỗ lực để vượt qua đaukhổ. Nếu như sự khát khao đạt được hạnh phúc và vượt qua đau khổ là bản chấtsẵn có của mọi sinh vật, và cũng là một nhu cầu tự nhiên, vậy thì vấn đề làchúng ta phải nỗ lực như thế nào để đáp ứng sự khao khát đó.

Vấn đề này đưata đến với giáo pháp Tứ diệu đế; vì giáo pháp này giúp ta hiểu được mối quan hệgiữa hai loại sự kiện: nguyên nhân và kết quả. Một mặt, ta phải gánh chịu khổđau, nhưng khổ đau không phải tự nhiên mà có, nó sinh khởi từ các nguyên nhânvà điều kiện của chính nó. Mặt khác, ta được huởng hạnh phúc, thì hạnh phúccũng có được từ những nguyên nhân và điều kiện của chính nó.

Trong đạo Phật,khi nói đến hạnh phúc ta không chỉ hiểu một cách giới hạn như một trạng tháicảm xúc. Chắc chắn sự tịch diệt (trạng thái chấm đứt hoàn toàn mọi đau khổ) khôngphải là một trạng thái của cảm xúc, nhưng ta có thể nói rằng tịch diệt là dạngcao tột nhất của hạnh phúc. Bởi vì, theo định nghĩa thì tịch diệt là hoàn toànthoát khỏi mọi khổ đau. Nhưng trạng thái tịch diệt, hay hạnh phúc chân thật,lại cũng không phải tự nhiên xuất hiện hay hoàn toàn không có nguyên do. Dĩnhiên, đây là một điểm hết sức tinh tế, vì theo quan điểm Phật giáo thì tịchdiệt không phải là một sự kiện duyên sinh, nên không thể nói là nó được tạothành hay gây ra bởi bất cứ điều gì. Thế nhưng, sự hiện thực hóa hay đạt tớitịch diệt lại quả thật là phụ thuộc vào con đường tu tập và nỗ lực của cá nhân.Bạn không thể đạt tới trạng thái tịch diệt nếu không có sự nỗ lực. Do đó, trongý nghĩa này ta có thể nói rằng con đường dẫn tới tịch diệt là nguyên nhân củatịch diệt.

Giáo pháp Tứdiệu đế phân biệt một cách rõ ràng hai loại nguyên nhân và kết quả: nhữngnguyên nhân gây ra đau khổ và những nguyên nhân tạo ra hạnh phúc. Bằng cách chỉra cách phân biệt những nguyên nhân này trong cuộc sống, mục đích của giáo phápnày không gì khác hơn là giúp ta đáp ứng khát vọng sâu xa nhất của mình - đạtđược hạnh phúc và vượt qua đau khổ.

Khi đã nhậnhiểu được lý do đức Phật truyền giảng giáo pháp Tứ diệu đế, có thể chúngta sẽ tiếp tục tự hỏi về lý do của việc sắp xếp các chân lý đó theo một trìnhtự đặc biệt: Tại sao Tứ diệu đế được dạy theo một trật tự nhất định, bắt đầu vềsự khổ (Khổ đế) rồi tiếp tục với nguyên nhân của sự khổ (Tập khổ đế)... Về điểmnày, ta nên hiểu rằng trình tự giảng dạy giáo pháp Tứ diệu đế không liên quangì đến trình tự sinh khởi của sự vật trong thực tại. Đúng hơn thì trình tự đó liênquan đến việc một người nên khởi đầu như thế nào để thực hành đạo Phật và đạttới sự chứng ngộ nhờ vào sự thực hành đó.

Trong Tốithượng luận,[16] ngài Di-lặc (Maitreya) cho rằng có bốn giai đoạn để chữamột chứng bệnh:

Cũng giống nhưmột căn bệnh cần được chẩn đoán, những nguyên nhân gây bệnh cần được loại trừ,một trạng thái khoẻ mạnh cần đạt tới và phương pháp chữa trị cần được áp dụng;cũng vậy, sự đau khổ cần phải được nhận biết, các nguyên nhân gây ra đau khổcần phải được loại trừ, sự chấm dứt của đau khổ cần phải đạt tới và con đường tutập để dứt khổ cần phải được thực hành. [17]

Ngài Di-lặc đãsử dụng sự tương tự của một người bệnh để giải thích phương cách đạt được sựgiác ngộ dựa trên giáo pháp Tứ diệu đế. Để một bệnh nhân được lành bệnh, trướchết người đó phải biết mình đang mang bệnh, nếu không thì sẽ không có mong muốnchữa bệnh. Một khi đã nhận biết mình có bệnh, thì tất nhiên là bạn sẽ cố tìmbiết những nguyên nhân gây bệnh và những gì làm cho bệnh nặng thêm. Khi đã xácđịnh được những điều này, bạn sẽ biết được liệu căn bệnh có thể chữa khỏi haykhông, và bạn sẽ khởi lên ước muốn được khỏi bệnh. Thật ra cũng không chỉ đơnthuần là một ước muốn, vì một khi đã nhận biết được các điều kiện đã dẫn đến cănbệnh, niềm khao khát được khỏi bệnh sẽ càng mạnh mẽ hơn nhiều vì sự nhận biếtđó mang lại cho bạn sự an tâm và tin chắc rằng sẽ vượt qua được căn bệnh. Với lòngtin chắc đó, bạn sẽ sẵn lòng dùng đến tất cả các loại thuốc men và phương phápđiều trị cần thiết.

Cũng giống nhưvậy, ngay từ đầu niềm khao khát được thoát khỏi sự khổ đau sẽ không sinh khởitrừ phi bạn nhận biết được là mình đang đau khổ. Bởi vậy, sự thực hành trước tiêncủa người Phật tử là nhận biết trạng thái hiện thời của mình là khổ đau, thấtvọng và không thỏa mãn, trong tiếng Phạn gọi là duhkha. Chỉ khi đó bạn mới muốnnhìn vào các nguyên nhân và điều kiện đã gây ra đau khổ.

Điều rất quantrọng là phải hiểu được bối cảnh mà trong đó Phật giáo nhấn mạnh tới việc nhậnra rằng tất cả chúng ta đều ở trong trạng thái khổ đau, nếu không thì sẽ có nguycơ hiểu nhầm quan điểm của Phật giáo, cho rằng đó là những tư tưởng u ám, mộtchủ nghĩa bi quan về cơ bản và gần như là một nỗi ám ảnh về sự khổ đau trongthực tại.

Lý do mà đứcPhật hết sức nhấn mạnh vào việc phát triển một hiểu biết sâu sắc về bản chấtcủa khổ đau là vì còn có một khả năng thay thế - có một lối thoát, và chúng tathật sự có khả năng tự giải thoát khỏi mọi khổ đau. Đây là lý do vì sao việcnhận biết được bản chất của khổ đau là hết sức thiết yếu. Bởi vì, sự thấu hiểu vềkhổ đau càng vững vàng và sâu sắc thì sự khao khát được giải thoát khỏi khổ đausẽ càng mạnh mẽ hơn. Do vậy, sự nhấn mạnh của Phật giáo về bản chất khổ đau nênđược nhìn trong bối cảnh rộng hơn như thế, với sự đánh giá cao về khả năng hoàntoàn giải thoát khỏi khổ đau. Nếu ta không nghĩ đến sự giải thoát, thì việcdành nhiều thời gian để quán chiếu về khổ đau cũng là hoàn toàn vô nghĩa.

Chúng ta có thểnói rằng, hai loại nguyên nhân và kết quả mà tôi vừa đề cập trên đây, một mặtchỉ đến tiến trình của những chúng sinh chưa giác ngộ, liên quan đến chuỗi nhânquả giữa khổ đau và nguồn gốc của nó; mặt khác lại chỉ đến tiến trình của nhữngchúng sinh giác ngộ, gắn liền với những liên kết nhân quả giữa con đường tu tậpvà sự tịch diệt hoàn toàn. Khi đức Phật diễn giải chi tiết về hai quá trìnhnày, Ngài đã chỉ dạy giáo pháp về Thập nhị nhân duyên, trong tiếng Phạn gọi là12 nidana. [18]

Các nidana làmười hai mối liên hệ trong chu kì của cuộc sống đi từ vô minh [19] đếnhành (hay “tác ý”), [20] đến thức... và tiếp tục cho đến già và chết (lão tử).Khi tiến trình nhân quả của một chúng sinh chưa giác ngộ được mô tả chi tiết -nghĩa là một đời sống trong vòng đau khổ và những nguyên nhân của đau khổ - thìtrình tự của 12 nhân duyên bắt đầu từ vô minh, tiếp tục với hành, thức... vânvân. Trình tự này mô tả cách thức một chúng sinh, do nơi những nguyên nhân vàđiều kiện nhất định, phải rơi vào tiến trình của một đời sống mê muội.

Mặc dù vậy,cũng một chúng sinh đó, nếu có thực hành những sự tu tập tâm linh nào đó, thìcó thể làm đảo ngược tiến trình này, và trình tự ngược lại đó chính là trình tựcủa tiến trình dẫn tới giác ngộ. Chẳng hạn, nếu chuỗi tương tục của vô minh kếtthúc thì chuỗi tương tục của các hành vi tác ý cũng sẽ dừng. Nếu những hành viđó đã dừng lại, thì chỗ dựa của những hành vi ấy là thức cũng sẽ dừng lại, vàcứ tiếp tục như vậy...

Bạn có thể thấyrằng, trong một ý nghĩa nào đó, giáo pháp Thập nhị nhân duyên là một sự trìnhbày chi tiết về hai loại nguyên nhân và điều kiện đã được mô tả trong Tứ diệu đế.

Thap_Dhamekh-content

Hình 1
Tháp Dhamekh cao34m được xem là đánh dấu nơi đức Phật Thích-ca chuyển Pháp luân (giảng Pháp)lần đầu tại vườn Lộc Uyển nay thường gọi là Thánh địa Sarnath. Nội dung truyềngiảng trong đó bao gồm Tứ diệu đế, Duyên khởi và Bát chánh đạo.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn