Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

08-Bồ-tát Biện Âm

25/10/201015:36(Xem: 3647)
08-Bồ-tát Biện Âm

KINH VIÊN GIÁCGIẢNG GIẢI
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Thiền Viện Trúc Lâm 2000

Bồ-tát Biện Âm
thưa hỏi

ÂM:

Ư thị Biện Âm Bồ-tát tại đại chúngtrung, tức tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp trường quì xoathủ nhi bạch Phật ngôn:

- Ðại bi Thế Tôn như thị pháp môn thậm vi hi hữu. ThếTôn thử chư phương tiện nhất thiết Bồ-tát ư Viên giác môn hữu kỉ tu tập. Nguyệnvị đại chúng cập mạt thế chúng sanh phương tiện khai thị linh ngộ thật tướng.

Tác thị ngữ dĩ ngũ thể đầu địa, như thị tam thỉnhchung nhi phục thủy.

DỊCH:

Khi ấy Bồ-tát Biện Âm ở trong đạichúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải bavòng, quì gối chấp tay bạch Phật rằng:

- Ðức Thế Tôn đại bi, pháp mônnhư vậy thật là ít có. Bạch Thế Tôn, các phương tiện này, tất cả Bồ-tát đối vớimôn Viên giác có bao nhiêu pháp tu tập? Xin vì đại chúng và chúng sanh đời sauphương tiện chỉ bày, khiến cho ngộ được Thật tướng.

Thưa lời đây rồi năm vóc gieoxuống đất, thưa thỉnh như vậy lặp lại ba lần.

GIẢNG:

Chương này Bồ-tát Biện Âm đứng rathưa hỏi. Biện là biện biệt rành rẽ, Âm là tiếng, tức là phân biệt rành rẽ âmthanh. Theo nghĩa ở đây là ý nghĩa chia chẻ tỉ mỉ để người sau tùy căn cơ trìnhđộ ai hợp pháp nào dùng pháp đó mà tu.

Ở trước ngài Oai Ðức Tự Tại thưahỏi Phật về phương tiện tu hành, Phật chỉ ba pháp môn là phương tiện. Ở đâyBồ-tát Biện Âm nêu lên câu hỏi như Phật dạy ở trước, pháp môn đó rất là ít cótức là pháp môn Chỉ, Quán, Thiền, với ba phương tiện đó muốn bước vào cửa Viêngiác thì có bao nhiêu pháp tu tập, xin Phật chỉ dạy chi tiết rõ ràng.

ÂM:

Nhĩ thời Thế Tôn cáo Biện Âm Bồ-tát ngôn:

- Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng vị chưđại chúng cập mạt thế chúng sanh, vấn ư Như Lai như thị tu tập. Nhữ kim đếthính đương vị nhữ thuyết.

Thời Biện Âm Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ cập chư đại chúng mặcnhiên nhi thính.

- Thiện nam tử, nhất thiết Như Lai Viên giác thanh tịnh, bản vôtu tập cập tu tập giả. Nhất thiết Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh, y ư vị giác,huyễn lực tu tập. Nhĩ thời tiện hữu nhị thập ngũ chủng thanh tịnh địnhluân.

DỊCH:

Lúc đó, đức Thế Tôn bảo Bồ-tát Biện Âm rằng:

- Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông vì đại chúng và chúngsanh đời sau thưa hỏi Như Lai về sự tu tập. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ôngnói.

Khi ấy Bồ-tát Biện Âm vâng lời dạy vui vẻ cùng đại chúng yênlặng lắng nghe.

- Này thiện nam, tất cả Viên giác thanh tịnh Như Lai vốn không tutập và người tu tập. Tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời sau y nơi chưa giác dùngsức huyễn mà tu tập. Khi ấy mới có hai mươi lăm thứ thanh tịnh định luân.

GIẢNG:

Trước khi dạy các phương tiện khác, đức Phật lặp lại chủ yếu làtánh Viên giác không có pháp để tu tập và người tu tập, vì nguyên nó là cái thểkhông sanh diệt nên không do tu tập mà được, tánh Viên giác chính là mình chonên nói không có người tu tập. Tất cả Bồ-tát và chúng sanh đời sau y nơi chưagiác dùng sức huyễn mà tu tập. Khi ấy mới có hai mươi lăm thứ thanh tịnh địnhluân.

Hai mươi lăm thứ thanh tịnh định luân là những pháp tu Chỉ, Quánvà Thiền hoặc là đơn hoặc là ghép: tu Chỉ hay tu Quán riêng từng môn gọi làđơn, tu một lượt hai môn hoặc ba môn gọi là ghép, đổi tới đổi lui thành ra haimươi lăm luân. Nhưng thật ra chỉ có ba môn căn bản là Chỉ, Quán và Thiền.

ÂM:

- Nhược chư Bồ-tát duy thủ cực tĩnh, do tĩnh lực cố vĩnh đoạnphiền não, cứu kính thành tựu, bất khởi ư tòa, tiện nhập Niết-bàn. Thử Bồ-tátgiả, danh đơn tu Xa-ma-tha.

DỊCH:

- Nếu chư Bồ-tát chỉ giữ tâm vắng lặng do sức vắng lặng mà đoạncác phiền não, thành tựu rốt ráo, không rời khỏi chỗ ngồi liền vào Niết-bàn. VịBồ-tát này gọi là riêng tu pháp Chỉ.

GIẢNG:

Bồ-tát hằng giữ tâm ở trạng thái thật tịch tĩnh, nên phiền não khôngsanh khởi, nhờ thế mà được thành tựu đạo quả rốt ráo, lúc đó ở ngay chỗ ngồi màvào Niết-bàn. Vị Bồ-tát này riêng tu pháp Chỉ.

ÂM:

- Nhược chư Bồ-tát duy quán như huyễn, dĩ Phật lực cố biến hóathế giới chủng chủng tác dụng, bị hành Bồ-tát thanh tịnh diệu hạnh, ư Ðà-la-nibất thất tịch niệm cập chư tĩnh tuệ. Thử Bồ-tát giả, danh đơn tuTam-ma-bát-đề.

DỊCH:

- Nếu Bồ-tát chỉ tu pháp quán như huyễn, dùng Phật lực biến hóara thế giới, khởi các diệu dụng, thực hành đầy đủ công hạnh thanh tịnh của Bồ-tát,đối với Ðà-la-ni không mất niệm tịch tĩnh và tuệ lặng lẽ. Vị Bồ-tát này gọi làriêng tu pháp Quán.

GIẢNG:

Bồ-tát khi dụng quán là y theo lời Phật dạy trong kinh để vậndụng tâm quán, tùy bệnh mà chiếu phá nên nói rằng có các thứ biến hóa, các thứtác dụng. Nghĩa là do sức Phật chỉ dạy rồi nương theo đó quán chiếu. Thí dụ ápdụng quán bằng trí Bát-nhã thì tùy quán riêng từng uẩn hoặc quán chung năm uẩn,quán một trần hoặc quán sáu trần. có khi chung lại có khi chia ra biến hóa vôcùng. Bởi do khéo chuyển biến tu hành, lần lần diệu hạnh thanh tịnh của Bồ-tátđược đầy đủ. Ðầy đủ rồi tổng nhiếp tất cả. Như vậy Bồ-tát này chuyên quánhuyễn, nương nhờ sức biến hóa của chư Phật ứng dụng trong sự tu hành, thấy rõcác pháp như huyễn cho nên không mất niệm tịch tĩnh. Ðà-la-ni là tổng trì,nghĩa là đối với các pháp đều thấy nó như huyễn, do đó có tuệ, được lặng lẽ,nên nói Bồ-tát này riêng tu pháp Quán.

ÂM:

- Nhược chư Bồ-tát duy diệt chư huyễn bất thủ tác dụng, độc đoạnphiền não, phiền não đoạn tận, tiện chứng thật tướng. Thử Bồ-tát giả danh đơntu Thiền-na.

DỊCH:

- Nếu Bồ-tát chỉ diệt các pháp huyễn mà không chấp thủ tác dụng,riêng đoạn phiền não, phiền não đoạn hết liền chứng được Thật tướng. Vị Bồ-tátnày gọi là riêng tu pháp Thiền-na.

GIẢNG:

Bồ-tát chuyên tu đoạn diệt các tướng huyễn hóa, và không chấp thủpháp tu, chỉ một bề lo đoạn trừ phiền não. Bởi vì các tướng thân tâm và ngoạicảnh đều là huyễn hóa cho nên không mắc kẹt. Ðây là dùng trí thấy rõ nó là hưdối nên không kẹt, không cần quán hay chỉ. Khi phiền não sạch rồi thì chứngđược Tướng chân thật nên gọi Bồ-tát này riêng tu pháp Thiền-na.

ÂM:

- Nhược chư Bồ-tát tiên thủ chí tĩnh, dĩ tĩnh tuệ tâm chiếu chưhuyễn giả, tiện ư thị trung khởi Bồ-tát hạnh. Thử Bồ-tát giả danh tiên tu Xa-ma-tha,hậu tu Tam-ma-bát-đề.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tĩnh tuệ cố, chứng chí tĩnh tánh, tiệnđoạn phiền não, vĩnh xuất sanh tử. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Xa-ma-tha, hậutu Thiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch tĩnh tuệ phục hiện huyễn lực chủngchủng biến hóa độ chư chúng sanh, hậu đoạn phiền não nhi nhập tịch diệt. ThửBồ-tát giả, danh tiên tu Xa-ma-tha trung tu Tam-ma-bát-đề, hậu tuThiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực, đoạn phiền não dĩ, hậu khởiBồ-tát thanh tịnh diệu hạnh độ chư chúng sanh. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tuXa-ma-tha, trung tu Thiền-na, hậu tu Tam-ma-bát-đề.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực, tâm đoạn phiền não, phục độchúng sanh kiến lập thế giới. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Xa-ma-tha, tề tuTam-ma-bát-đề Thiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực tư phát biến hóa, hậu đoạnphiền não. Thử Bồ-tát giả, danh tề tu Xa-ma-tha Tam-ma-bát-đề, hậu tuThiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ chí tĩnh lực dụng tư tịch diệt, hậu khởitác dụng, biến hóa thế giới. Thử Bồ-tát giả danh tề tu Xa-ma-tha Thiền-na, hậutu Tam-ma-bát-đề.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực, chủng chủng tùy thuận nhithủ chí tĩnh. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Tam-ma-bát-đề, hậu tuXa-ma-tha.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực, chủng chủng cảnh giới nhithủ tịch diệt. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Tam-ma-bát-đề, hậu tuThiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực nhi tác Phật sự an trụ tịchtĩnh, nhi đoạn phiền não. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Tam-ma-bát-đề, trung tuXa-ma-tha, hậu tu Thiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực vô ngại tác dụng, đoạn phiềnnão cố, an trụ chí tĩnh. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Tam-ma-bát-đề, trung tuThiền-na, hậu tu Xa-ma-tha.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực phương tiện tác dụng, chítĩnh tịch diệt nhị câu tùy thuận. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Tam-ma-bát-đề,tề tu Xa-ma-tha Thiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực, chủng chủng khởi dụng tư ưchí tĩnh, hậu đoạn phiền não. Thử Bồ-tát giả, danh tề tu Tam-ma-bát-đềXa-ma-tha, hậu tu Thiền-na.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ biến hóa lực tư ư tịch diệt, hậu trụ thanhtịnh vô tác tĩnh lự. Thử Bồ-tát giả, danh tề tu Tam-ma-bát-đề Thiền-na, hậu tuXa-ma-tha.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực nhi khởi chí tĩnh trụ ưthanh tịnh. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Thiền-na, hậu tu Xa-ma-tha.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực nhi khởi tác dụng ư nhấtthiết cảnh tịch dụng tùy thuận. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Thiền-na, hậu tuTam-ma-bát-đề.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực chủng chủng Tự tánh an ưtĩnh lự nhi khởi biến hóa. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Thiền-na, trung tuXa-ma-tha, hậu tu Tam-ma-bát-đề.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực vô tác tự tánh khởi ư tácdụng thanh tịnh cảnh giới qui ư tĩnh lự. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Thiền-na,trung tu Tam-ma-bát-đề, hậu tu Xa-ma-tha.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực chủng chủng thanh tịnh nhitrụ tĩnh lự, khởi ư biến hóa. Thử Bồ-tát giả, danh tiên tu Thiền-na, tề tuXa-ma-tha Tam-ma-bát-đề.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực, tư ư chí tĩnh nhi khởi biếnhóa. Thử Bồ-tát giả, danh tề tu Thiền-na Xa-ma-tha, hậu tu Tam-ma-bát-đề.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ tịch diệt lực tư ư biến hóa nhi khởi chítĩnh thanh minh cảnh tuệ. Thử Bồ-tát giả, danh tề tu Thiền-na Tam-ma-bát-đề,hậu tu Xa-ma-tha.

- Nhược chư Bồ-tát dĩ Viên giác tuệ, viên hợp nhất thiết ư chưtánh tướng vô ly Giác tánh. Thử Bồ-tát giả, danh vi viên tu tam chủng Tự tánhthanh tịnh tùy thuận.

- Thiện nam tử, thị danh Bồ-tát nhị thập ngũ luân. Nhất thiếtBồ-tát tu hạnh như thị. Nhược chư Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh, y thử luân giảđương trì phạm hạnh tịch tĩnh tư duy cầu ai sám hối, kinh tam thất nhật, ư nhịthập ngũ luân, các an tiêu ký, chí tâm cầu ai tùy thủ kết thủ, y kết khai thịtiện tri đốn tiệm. Nhất niệm nghi hối tức bất thành tựu.

DỊCH:

- Nếu chư Bồ-tát trước giữ tâm thật lặng lẽ, do tâm lặng lẽ nêntrí tuệ chiếu soi các pháp như huyễn, liền khởi hạnh Bồ-tát. Gọi vị Bồ-tát nàytrước tu Chỉ sau tu Quán.

- Nếu Bồ-tát dùng trí tuệ yên tĩnh, chứng được Thể tánh thậtlặng lẽ, liền đoạn các phiền não, thoát khỏi sanh tử. Gọi vị Bồ-tát này trướctu Chỉ sau tu Thiền.

- Nếu Bồ-tát dùng trí tuệ lặng lẽ lại hiện ra mọi sức biến hóađộ chúng sanh, sau mới đoạn phiền não, rồi vào chỗ tịch diệt. Gọi Bồ-tát nàytrước tu Chỉ, giữa tu Quán sau tu Thiền.

- Nếu các vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ đoạn các phiền não,sau khởi các diệu hạnh thanh tịnh để độ chúng sanh. Gọi Bồ-tát này trước tuChỉ, giữa tu Thiền, sau tu Quán.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ tâm đoạn phiền não,sau lại dựng lập thế giới độ chúng sanh. Gọi Bồ-tát này trước tu Chỉ đồng thờitu Quán và Thiền.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ giúp phát khởi biếnhóa, sau đoạn phiền não. Gọi vị Bồ-tát này đồng tu Chỉ và Quán, sau mới tuThiền.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng lực dụng thật lặng lẽ để giúp cho sựtịch diệt, sau khởi ra tác dụng, biến hóa thế giới. Gọi Bồ-tát này đồng thời tuChỉ và Thiền, sau mới tu Quán.

- Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa ra các thứ tùy thuận chúngsanh mà vẫn giữ (tâm) thật lặng lẽ. Gọi Bồ-tát này trước tu Quán, sau tuChỉ.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng sức biến hóa các thứ cảnh giới mà vẫngiữ tịch diệt. Gọi Bồ-tát này trước tu Quán, sau tu Thiền.

- Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các Phật sự, an trụtrong lặng lẽ mà đoạn phiền não. Gọi Bồ-tát này trước tu Quán, giữa tu Chỉ vàsau tu Thiền.

- Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các việc vô ngại, đoạncác phiền não rồi an trụ chỗ thật lặng lẽ. Gọi Bồ-tát này trước tu Quán, giữatu Thiền và sau tu Chỉ.

- Nếu các vị Bồ-tát dùng sức biến hóa làm các phương tiện tácdụng rất lặng lẽ tịch diệt, cả hai đều tùy thuận. Gọi Bồ-tát này trước tu Quán,đồng thời tu Chỉ và Thiền.

- Nếu những Bồ-tát dùng sức biến hóa khởi các công dụng giúp chotâm thật lặng lẽ, sau mới đoạn phiền não. Gọi Bồ-tát này đồng tu Quán và Chỉ,sau mới tu Thiền.

- Nếu các Bồ-tát dùng sức biến hóa giúp cho tịch diệt, rồi sautrụ chỗ thanh tịnh mà không khởi tĩnh lự. Gọi Bồ-tát này đồng tu Quán và Thiền,sau mới tu Chỉ.

- Nếu các vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt mà khởi hạnh thật lặnglẽ, rồi an trụ nơi thanh tịnh. Gọi Bồ-tát này trước tu Thiền, sau mới tuChỉ.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt mà khởi tác dụng, ởtrong tất cả cảnh lặng lẽ khởi dụng tùy thuận. Gọi Bồ-tát này trước tu Thiền,sau mới tu Quán.

- Nếu các Bồ-tát dùng sức thật lặng lẽ, các thứ Tự tánh, an trụnơi tĩnh lự mà khởi pháp biến hóa. Gọi Bồ-tát này trước tu Thiền, giữa tu Chỉ,rồi sau mới tu Quán.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt của Tự tánh vô tác, ởcảnh giới thanh tịnh khởi tác dụng, rồi trở về chỗ tĩnh lự. Gọi Bồ-tát nàytrước tu Thiền, giữa tu Quán, sau mới tu Chỉ.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng các thứ thanh tịnh của sức tịch diệtmà trụ ở chỗ tĩnh lự, rồi khởi biến hóa. Gọi Bồ-tát này trước tu Thiền đồngthời tu Chỉ và Quán.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt giúp cho thật lặng lẽrồi khởi biến hóa. Gọi Bồ-tát này đồng thời tu Thiền và Chỉ, sau đó mới tuQuán.

- Nếu những vị Bồ-tát dùng sức tịch diệt giúp cho biến hóa màkhởi trí tuệ lặng lẽ trong sáng. Gọi Bồ-tát này đồng thời tu Thiền và Quán, sauđó tu Chỉ.

- Nếu các vị Bồ-tát dùng tuệ Viên giác, viên hợp tất cả nơi cáctánh tướng không lìa Tánh giác. Gọi Bồ-tát này viên tu ba thứ Tự tánh thanhtịnh tùy thuận.

- Này thiện nam, như thế gọi là hai mươi lăm luân của Bồ-tát. Tấtcả Bồ-tát nên như thế mà tu hành. Nếu các Bồ-tát và chúng sanh đời sau y theonhững luân ấy, gìn giữ phạm hạnh, lặng lẽ tư duy thành tâm sám hối, trải quahai mươi mốt ngày, nơi hai mươi lăm luân này, mỗi cái ghi ra để trên bàn chítâm nguyện cầu, rồi tay bốc lên một cái, tùy theo cái đó mở ra, liền biết (căncơ) mình thuộc đốn hay tiệm. Nếu còn một niệm nghi hối thì chẳng thànhtựu.

GIẢNG:

Tất cả chúng ta muốn được giác ngộ giải thoát, không tu pháp nàokhác hơn là ba môn Chỉ, Quán và Thiền. Ðó là ba pháp tu then chốt. Tùy theo căncơ sai biệt của mỗi người mà ứng dụng, người thì ứng dụng Quán trước, người thìứng dụng Chỉ trước, người thì ứng dụng Thiền trước. Tùy theo khả năng và đểthích nghi với hoàn cảnh của mình, mà linh động ứng dụng ba pháp tu ấy trướchay sau.

Như có người tu Chỉ muốn được lặng lẽ thôi, nên không quán, lạicó người thấy lặng lẽ buồn, quán các pháp như huyễn vui hơn. Do đó nên đức Phậtmới chia ra hai mươi lăm luân này. Chúng ta tu ứng dụng Chỉ hay Quán đều tốt,miễn tâm chúng ta an định là được rồi. Chớ không nói buông hết niệm là đúng hayQuán mới đúng. Ví dụ tâm chúng ta vừa dấy niệm nhớ người nhớ cảnh, chúng ta liềnbuông không theo thì vọng niệm tự lặng mất tạm gọi là Chỉ. Nhưng lại có ngườikhông chịu tu như vậy, họ nói kinh Bát-nhã Phật dạy quán chiếu ngũ uẩn khôngthật, sáu trần huyễn hóa, nên đi đâu lúc nào cũng quán như vậy. Do quán nhưthế, nên không dính mắc với cảnh, tâm tự an định. Người buông vọng niệm thì tâmcũng an định, người quán các pháp như huyễn tâm cũng an định. Dù Chỉ, Quán hayThiền mà tâm yên lặng thanh tịnh là được. Vì tu phải dứt hết vọng niệm thì Thểchân thật mới hiện tiền. Tuy tu ba môn nhưng trở về có một chỗ là lặng vọngtưởng và Tánh giác hiện tiền. Nhưng vì căn cơ của mỗi người khác nhau, nên Phậtmới phân chia ra cho dễ thích ứng.

Có người tu Chỉ cứ đăm đăm nhìn xuống để buông vọng tưởng nênmặt buồn xo, bèn đổi sang Quán nhìn mây nhìn trời thấy tất cả đều là huyễn hóacười chơi cho vui. Như vậy là trước tu Chỉ sau tu Quán, quán một thời gian vọngtưởng hết, đến chỗ tịch diệt đó là Thiền.

Tùy căn cơ ứng dụng hoặc chuyên tu một pháp tới nơi tới chốn, hoặcgồm cả hai pháp hoặc kiêm luôn ba pháp; hoặc tu pháp này trước pháp kia sau,hay pháp kia trước pháp này sau, đổi tới đổi lui thế nào miễn ổn định sự tuhành là tốt. Cốt yếu là sự tu hành được ổn định và tinh tấn đúng pháp. Phật dạytùy theo căn cơ của chúng sanh mà ứng dụng tu chớ không cố định. Ví dụ nhưngười ít phiền não tu theo pháp tri vọng, hễ dấy niệm liền buông, thực hành mộtthời gian thì thanh tịnh. Còn người phiền não nhiều, loạn tưởng lăng xăng khôngbao giờ an ổn, nên phải dùng quán mà công kích, quán thân này duyên hợp tạm có,quán cảnh là huyễn hóa thấy mọi sự việc xảy ra với mình không thật. Quán mộtthời gian phiền não mỏng dần thì tâm mới thanh tịnh. Người tu phải biết linhđộng chớ không nên cố chấp một là một, hai là hai, nếu không biết linh động tukhông tiến.

Phật nói hai mươi lăm luân này, sợ chúng sanh mờ mịt không biết làmsao tu, không biết căn cơ hợp với pháp nào, nên tiếp theo Phật dạy cho phươngtiện để chọn pháp tu. Kinh dạy lấy giấy ghi hết hai mươi lăm luân, mỗi luân vàomột miếng giấy vo tròn, đặt vào trong dĩa đem để trên bàn Phật rồi trì giớithanh tịnh, thành tâm sám hối xong bốc lấy một thăm. Trúng pháp nào thì chếtsống với pháp đó mà tu, chớ không nghi ngờ gì nữa hết; coi như Phật dạy mình tutheo luân đó. Như vậy là tu tiến, nếu dấy niệm nghi thì tu không tiến. Có phảiPhật tới chứng minh cho chúng ta bốc thăm không? Thật ra hai mươi lăm luân mànắm lấy một luân chết sống để tu, không nghi ngờ không thối chuyển thì có kết quả.Phật muốn cho chúng ta đầy đủ đức tin nên dạy phương tiện như thế.

Cũng như ở đây nhiều người đồng thời tới học đạo, tôi dạy cónhiều cách khác nhau, có người tôi dạy biết vọng tưởng rồi buông, có người tôidạy đếm hơi thở, có người tôi dạy quán ngũ uẩn giai không. Tại sao vậy? Vì tùytheo căn cơ và hoàn cảnh, chẳng hạn người đang ở trong hoàn cảnh bận bịu, bảohọ buông vọng tưởng, họ buông không được thì làm sao tu? Nên phải dạy họ quánđể phá vỡ các phiền não đang bao vây họ. Còn người căn cơ quá thấp, đem giáo lýThượng thừa nói với họ, họ không lãnh hội được, nên phải dạy họ dùng phươngtiện đếm hơi thở để dừng tạp niệm. Phương tiện rất nhiều mà cứu kính chỉ cómột, chúng ta hiểu rồi thì hế�t nghi ngờ.

ÂM:

Nhĩ thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệngôn:

Biện Âm nhữ đương tri

Nhất thiết chư Bồ-tát

Vô ngại thanh tịnh tuệ

Giai y Thiền định sanh

Sở vị Xa-ma-tha

Tam-ma-đề, Thiền-na

Tam pháp đốn tiệm tu

Hữu nhị thập ngũ luân

Thập phương chư Như Lai

Tam thế tu hành giả

Vô bất nhân thử pháp

Nhi đắc thành Bồ-đề

Duy trừ đốn giác nhân

Tinh pháp bất tùy thuận

Nhất thiết chư Bồ-tát

Cập mạt thế chúng sanh

Thường đương trì thử luân

Tùy thuận cần tu tập

Y Phật đại bi lực

Bất cửu chứng Niết-bàn.

DỊCH:

Khi ấy Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này, nói kệ rằng:

Biện Âm, ông nên biết

Tất cả các Bồ-tát

Tuệ thanh tịnh vô ngại,

Ðều y Thiền định sanh

Gọi là Xa-ma-tha

Tam-ma-đề, Thiền-na

Ba pháp đốn tiệm tu

Chia hai mươi lăm luân

Mười phương các Như Lai

Ba đời người tu hành

Ai chẳng nhân pháp này

Mà được thành Bồ-đề

Chỉ trừ người đốn giác

Cùng pháp chẳng tùy thuận

Tất cả các Bồ-tát

Và chúng sanh đời sau

Thường gìn giữ luân này

Tùy thuận siêng tu hành

Nương đại bi của Phật

Không lâu chứng Niết-bàn.

GIẢNG:

Chỉ, Quán và Thiền là ba pháp cội nguồn của chư Phật thành Phật.Chúng ta hiện nay muốn y theo Phật mà tu, muốn được giác ngộ như Phật cũng theoba pháp đó mà tu. Chỉ có khác là căn cơ có đốn có tiệm. Người đốn dùng một phápcó thể đi tới nơi, người tiệm thì dùng hai, ba pháp. Người đốn là căn cơ lanhlợi, nghe một pháp liền ứng dụng cùng tột được. Còn tiệm là căn cơ không lanhlợi, ý chí yếu đuối dùng một pháp Chỉ không thành công phải nhờ pháp Quán phụ.

Bài trùng tụng này tôi chỉ thêm vài điểm quan trọng cho quí vịhiểu. Nói Trí tuệ thanh tịnh vô ngại của Bồ-tát đều y nơi Thiền định mà sanh.Vậy Thiền định gồm chung cả Chỉ, Quán và Thiền. Không người nào tu được trí tuệmà không từ Thiền định sanh. Vì nếu vọng tưởng không lặng thì không bao giờ cótrí tuệ. Không khi nào không gian sáng khi mây còn đen dày dù mặt trăng vẫn cótrên hư không, bầu trời chỉ sáng khi nào mây tan hết. Cũng vậy, trí tuệ thanh tịnhvô ngại phát sáng khi vọng tưởng lặng hết. Vọng tưởng còn lăng xăng mà muốngiác ngộ, đó là cái muốn rỗng. Thế nên Phật dạy chúng ta muốn được trí tuệthanh tịnh thì phải y theo ba pháp Chỉ, Quán và Thiền mà ứng dụng tu. Sở dĩ Ngàinói mười phương chư Phật ba đời và những người tu hành không ai chẳng nhân phápnày mà thành đạo Bồ-đề là để biết rằng ngoài ba pháp này không có pháp nào kháctu cho viên mãn giác ngộ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn