Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

05-Bồ-tát Di-Lặc

25/10/201015:33(Xem: 4012)
05-Bồ-tát Di-Lặc

KINH VIÊN GIÁCGIẢNG GIẢI
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Thiền Viện Trúc Lâm 2000

Bồ-tát Di-Lặc
thưa hỏi

ÂM:

Ư thị Di-lặc Bồ-tát tại đại chúngtrung tức tùng tòa khởi, đảnh lễ Phật túc, hữu nhiễu tam táp, trường quì xoathủ, nhi bạch Phật ngôn:

- Ðại bi Thế Tôn, quảng vị Bồ-tátkhai bí mật tạng, linh chư đại chúng thâm ngộ luân hồi, phân biệt tà chánh,năng thí mạt thế, nhất thiết chúng sanh vô úy đạo nhãn, ư đại Niết-bàn, sanhquyết định tín. Vô phục, trùng tùy luân chuyển cảnh giới, khởi tuần hoàn kiến.Thế Tôn, nhược chư Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh dục du Như Lai đại tịch diệt hải,vân hà đương đoạn luân hồi căn bản, ư chư luân hồi hữu kỷ chủng tánh, tu PhậtBồ-đề, kỷ đẳng sai biệt, hồi nhập trần lao, đương thiết kỳ chủng giáo hóaphương tiện, độ chư chúng sanh, duy nguyện bất xả cứu thế đại bi, linh chư tuhành nhất thiết Bồ-tát cập mạt thế chúng sanh tuệ mục túc thanh chiếu diệu tâmkính, viên ngộ Như Lai vô thượng tri kiến.

Tác thị ngữ dĩ, ngũ thể đầu địa. Như thị tam thỉnhchung nhi phục thủy.

DỊCH:

Khi ấy Bồ-tát Di-lặc ở trong đạichúng liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu bên phải bavòng, quì gối chấp tay bạch Phật rằng:

- Thế Tôn đại bi, rộng vì cácBồ-tát mở bày kho bí mật khiến cho đại chúng phân biệt tà chánh, thâm ngộ được lýluân hồi, hay bố thí cho tất cả chúng sanh đời sau được đạo nhãn vô úy, đối vớèại Niết-bàn sanh lòng tin quyết định, không còn khởi kiến chấp, không trở lạicảnh giới luân hồi. Bạch Thế Tôn, nếu các vị Bồ-tát và chúng sanh đời sau muốndạo chơi trong biển đại tịch diệt Như Lai, làm sao đoạn được cội gốc luân hồi?Ðối với luân hồi có bao nhiêu chủng tánh? Tu đạo Bồ-đề của Phật có bao nhiêubậc khác nhau? Khi trở vào trong trần lao lập bao nhiêu thứ phương tiện giáohóa để độ chúng sanh? Cúi mong đức Thế Tôn chẳng bỏ lòng đại bi cứu thế, khiếncho tất cả Bồ-tát chúng sanh đời sau tu hành mắt tuệ trong sáng, chiếu diệugương tâm, viên ngộ được Tri kiến vô thượng Như Lai.

Thưa lời đây rồi năm vóc gieoxuống đất, thưa thỉnh như vậy ba lần rồi trở lui.

GIẢNG:

Bồ-tát Di-lặc(Maitreya) là ngài Từ Thị. Từ Thị là lòng đại bi. Vì Ngài khởi lòng đại bi độkhắp chúng sanh nên hỏi các phương tiện tường tận để Phật dạy kỹ lưỡng cho mọi ngườiđều có thể tu được. Chủ yếu của đoạn này là Bồ-tát Di-lặc hỏi về cội gốc luânhồi. Trong bốn câu hỏi của Ngài nêu ở trên, câu hỏi thứ nhất là then chốt rấtquan trọng, liên hệ đến sự tu hành của chúng ta.

1- Làm sao đoạnđược cội gốc luân hồi.

2- Luân hồi cóbao nhiêu chủng tánh.

3- Tu đạo Bồ-đềcủa Phật có mấy hạng người.

4- Những hàngBồ-tát đi vào trong cõi trần lao lập bao nhiêu thứ phương tiện để độ chúngsanh.

Câu hỏi chót thìkhông liên hệ với chúng ta hiện tại, vì hỏi chuyện Bồ-tát trở lại trần lao độsanh. Chúng ta thì chưa phải Bồ-tát, chỉ là người bị nghiệp lôi vào trần lao chớkhông phải trở lại trần lao vì hạnh nguyện. Hiểu bốn câu hỏi đó, chúng ta mớihiểu câu trả lời của đức Phật.

ÂM:

Nhĩ thời Thế Tôn cáo Di-lặc Bồ-tát ngôn:

- Thiện tai, thiện tai! Thiện nam tử, nhữ đẳng nãi năng vị chưBồ-tát cập mạt thế chúng sanh thỉnh vấn Như Lai thâm áo bí mật vi diệu chinghĩa, linh chư Bồ-tát khiết thanh tuệ mục, cập linh nhất thiết mạt thế chúngsanh vĩnh đoạn luân hồi, tâm ngộ Thật tướng, cụ vô sanh nhẫn, nhữ kim đế thính,đương vị nhữ thuyết.

Thời Di-lặc Bồ-tát phụng giáo hoan hỉ, cập chư đại chúng, mặcnhiên nhi thính.

DỊCH:

Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo Di-lặc Bồ-tát rằng:

- Lành thay, lành thay! Này thiện nam, các ông hay vì các Bồ-tátvà chúng sanh đời sau thưa hỏi Như Lai nghĩa thâm áo bí mật vi diệu, khiến chomắt tuệ của các Bồ-tát được trong sáng, và khiến cho tất cả chúng sanh đời sauhằng đoạn được luân hồi, tâm ngộ được Thật tướng, đầy đủ pháp vô sanh nhẫn. Cácông hãy lắng nghe, ta sẽ vì các ông mà nói.

Khi ấy, Bồ-tát Di-lặc hoan hỉ� vâng lời dạy cùng chư đại chúngyên lặng lắng nghe.

GIẢNG:

Phật khenBồ-tát Di-lặc khéo nêu lên những câu hỏi, để Phật chỉ dạy cho các vị Bồ-táthiện tại mắt trí tuệ được sáng và chúng sanh đời sau được ra khỏi luân hồi.Phật dặn đại chúng nên lắng nghe.

ÂM:

- Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh tùng vô thủy tế, do hữuchủng chủng ân ái tham dục, cố hữu luân hồi. Nhược chư thế giới nhất thiếtchủng tánh: noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh giai nhân dâm dục nhichánh tánh mạng, đương tri luân hồi, ái vi căn bản. Do hữu chư dục trợ phát ái tánh,thị cố năng linh sanh tử tương tục.

DỊCH:

- Này thiện nam, tất cả chúng sanh từ vô thủy do các thứ ânái tham dục nên có luân hồi. Tất cả chủng tánh trong thế giới như noãn sanh,thai sanh, thấp sanh, hóa sanh đều nhân dâm dục mà có thân mạng. Nên biết sựluân hồi, ái dục là cội gốc. Do có dục giúp phát sanh tánh ái, thế nên khiếncho sanh tử nối tiếp.

GIẢNG:

Ðoạn nàyPhật chỉ thẳng ái là cội gốc của sanh tử luân hồi để trả lời câu hỏi thứ nhất.

Ở trên đức Phậtđã nói rõ tất cả chúng sanh từ vô thủy đến giờ do ân ái tham dục mà có sanh tửluân hồi. Chữ ái ở đây đức Phật chỉ nghĩa ái mạng - ái ngã - cái ái này nặngnhất. Ái ngã tức là yêu mình, bởi yêu mình nên bỏ thân này muốn tạo thân khác,bởi yêu mình mới có những tham dục khác. Vì nhân ái ngã rồi có dục phát sanh,vậy dục trợ phát cho tánh ái. Thế nên ái dục là gốc sanh tử luân hồi tiếp nốikhông dứt. Chỗ này trong kinh Tạp A-hàm đức Phật dùng một ví dụ thật rõ nói vềtánh ái, ái còn thì sanh mạng còn, ái hết thì sanh mạng hết. Ngài ví dụ một bầytrẻ con đang chơi ngoài vườn. Ðang say sưa chơi với nhau, đứa cất chòi đứa nấunướng. Nếu có người lớn tới hất bỏ, chúng sẽ khóc la. Khi người lớn đi rồi, chúnglại làm lại. Chỉ khi nào chúng tự chán, tự hất bỏ chừng đó mới yên chuyện. Cáithích của bọn trẻ con đức Phật dụ là ái, chúng sanh là bọn trẻ con. Như thếđang trong luân hồi, đức Phật lại bảo các ông đừng làm chuyện đó để luân hồi,nhất định chúng sanh cãi Phật liền vì còn đang thích. Chỉ khi nào tự chúng tasợ, tự chúng ta chán, chúng ta mới bỏ việc luân hồi của mình. Khi sanh tử luân hồithì có các loại như thai sanh, thấp sanh, noãn sanh, hóa sanh. Bốn loại này đềutừ ân ái tham dục mà có. Muốn hết luân hồi sanh tử cứ ngay gốc ái dục mà đào.Nếu không biết manh mối sanh tử luân hồi từ đâu thì không thể dứt trừđược.

Trongkinh Pháp Cú đức Phật có dạy: Ðốn cây mà không đào gốc thì tược nhánh nảy sanhhoài, ái dục không trừ dứt thì khổ não vẫn theo ta mãi. Do dục giúp phát sanhtánh ái rồi tiếp nối sanh tử. Thân này vừa mất thì muốn có thân khác, dục giúpcho tánh ái mạnh đưa chúng ta tới chỗ thọ sanh, nó dẫn đi mãi trong vòng sanhtử.

ÂM:

- Dục nhân ái sanh, mạng nhân dục hữu, chúng sanh ái mạng, hoàny dục bản, ái dục vi nhân, ái mạng vi quả.

DỊCH:

- Dục nhân ái sanh, thân mạng nhân nơi dục mà có. Chúngsanh ái thân mạng, lại y nơi dục làm gốc, ái dục là nhân, ái mạng là quả.

GIẢNG:

Ðức Phậtphân tích cho chúng ta thấy rõ: Dục nhân ái mà có, dục từ ái mà sanh ra, ái làyêu mến, bởi yêu mến cho nên có dục. Nhân dục mà có sanh mạng, khi có sanh mạngrồi trở lại ái mạng. Do dục mà có thân, có thân rồi ái thân. Chúng ta thấynhiều người có phước thân tốt đẹp khỏe mạnh, thì họ ái thân họ đành đi. Cònnhững người vô phước họ có ái thân họ không? Họ vẫn ái thân họ như thường. Cóthân là có ái. Bởi ái thân nên muốn thân ăn cho ngon, muốn thân mặc cho đẹp,muốn thân được người ta khen, cái gì cũng muốn cho thân mình được. Từ cái ái màmuốn thỏa mãn mọi nhu cầu, nhu cầu nào thiếu là bực bội. Chúng ta nói chúng tathương người này mến người kia, kỳ thật tất cả cái mến thương gốc từ thươngmình mà ra. Người nào thương mình nhiều là thương người nhiều. Tại sao vậy? Bởithương mình nhiều cho nên người nào giúp mình mình thương họ ghê lắm, mong họtiếp tục giúp mình nữa để được lợi cho mình. Còn người nào không thương mìnhthì ai giúp, mình cũng lơ là. Bệnh đó là bệnh nặng của chúng sanh. Mới nhìn quathì thấy người nào biết lo cho người này người kia là tốt, nhưng mà lo chongười này người kia là vì mình mà lo, chớ ít có vì người mà lo lắm. Hiểu chỗ đórồi thì mới thấy từ dục mà có thân, có thân rồi ái thân, muốn đời khác cũng cóthân nữa. Cứ tiếp tục đời này sang đời khác không bao giờ cùng tận. Vì vậy nóiái là gốc của luân hồi. Bây giờ muốn không có thân đời sau thì phải dứt ngaygốc ái.

Qua lý này chúngta mới hiểu tại sao trước tiên Phật cấm người xuất gia dâm dục. Mục đích củangười xuất gia là dứt sanh tử, nên Phật nhắm thẳng vào đích, bắt phải đào gốc áidục trước rồi lần lần phá ngã chấp, ngã chấp phá rồi thì luân hồi sanh tử theođó mà hết. Như thế chúng ta mới thấy rõ được thâm ý của đức Phật dạy, từ giới luậtcho tới kinh điển trước sau chỉ có một chủ đích. Vậy sanh tử luân hồi, ái dụcvà ái mạng làm nhân làm duyên nối tiếp nhau không cùng. Bây giờ nhìn ngay nơitâm niệm của chúng ta xem ái ngã còn nhiều hay ít? Nếu ái ngã nhiều thì dòngsanh tử khó mà dứt được.

ÂM:

- Do ư dục cảnh khởi chư vi thuận, cảnh bối ái tâm nhi sanh tắngtật, tạo chủng chủng nghiệp, thị cố phục sanh địa ngục ngạ quỉ. Tri dục khả yểm,ái yếm nghiệp đạo, xả ác nhạo thiện, phục hiện thiên nhân. Hựu tri chư ái khả yểmác cố, khả ái nhạo xả hoàn tư ái bản tiện hiện hữu vi tăng thượng thiện quả,giai luân hồi cố bất thành Thánh đạo. Thị cố chúng sanh dục thoát sanh tử miễnchư luân hồi, tiên đoạn tham dục cập trừ ái khát.

DỊCH:

- Do cảnh dục mà khởi thuận nghịch, cảnh trái với tâm ái thìsanh ra ganh ghét, tạo các thứ nghiệp nên sanh nơi địa ngục ngạ quỉ. Biết dụcđáng chán, thích cái chán nghiệp đạo, bỏ ác ưa lành thì được sanh ở cõi ngườicõi trời. Biết ái nhiễm là ác đáng chê chán, song bỏ ái mà thích "cáibỏ", trở lại nuôi dưỡng thêm gốc ái, nên sanh ở cõi thiện hữu vi cao hơn,đều là luân hồi nên không thành Thánh đạo. Thế nên chúng sanh muốn thoát sanhtử khỏi luân hồi thì trước phải đoạn tham dục và trừ tâm khát ái.

GIẢNG:

Do áidục mà có thân người, sanh trong cõi người. Dục tức là lòng tham muốn, do thammuốn nên khởi ra hai thứ thuận nghịch. Gặp thuận thì ái, gặp nghịch thì tắng.Chỉ tại chúng ta ưa thích mà gặp cảnh trái với sự ưa thích của mình nên bực bộilàm những điều ác điều dữ. Thí dụ như tham muốn mà không được thì sanh trộmcắp, khi trộm cắp bị ngăn chặn thì sanh ra sát hại, đó là cái nhân của địa ngụcngạ quỉ. Ðó là chiều đi xuống, đi trong ba đường ác.

Trong kinh, Phậtnói người chạy theo ngũ dục thì chẳng khác nào như kẻ khát mà uống nước muối,càng uống càng khát. Nếu được như ý, nó cứ tăng thêm không chỗ cùng. Tất cả thếgian về tay mình hết, không biết mình vừa chưa. Còn muốn mười điều nhưng chỉđược có một, càng muốn thì càng khổ. Có người thấy sự yêu thương thế gian là tạm bợ, được thì vui, mấtthì buồn nên đâm ra chán ghét ái dục ởthế gian. Bỏ ái dục nhưng chỉ thích làm lành để đời sau được phước an vui tốtđẹp hơn, như thế cũng còn tư dưỡng gốc tham ái nên sanh về cõi hữu vi cao hơnlà cõi Sắc và Vô sắc. Mặc dù chúng ta chán bỏ ái dục nhưng còn thích xả, nên Phậtnói còn yêu thích thì còn tạo nghiệp nhưng nghiệp thiện, chớ chưa phải là viênmãn; vì nghiệp lành hay nghiệp dữ cũng là nghiệp.

Thế nên đức Phậtdạy chúng sanh muốn thoát khỏi luân hồi thì phải dứt hết tham dục và trừ tâmkhát ái, chớ bỏ cái này lại thích cái kia cũng chưa thoát khỏi vòng luânhồi.

ÂM:

- Thiện nam tử, Bồ-tát biến hóa thị hiện thế gian, phi ái vibản, đản dĩ từ bi linh bỉ xả ái, giả chư tham dục nhi nhập sanh tử.

DỊCH:

- Này thiện nam, Bồ-tát hóa hiện thân ở thế gian chẳngphải do ái làm gốc mà là do lòng từ bi mượn tham dục mà vào trong sanh tử khiếnchúng sanh bỏ ái dục.

GIẢNG:

Nghe đứcPhật nói có thân ở thế gian này là do ái làm gốc, như vậy chúng ta sẽ hiểu lầmvà thắc mắc "những vị Bồ-tát có thân để độ chúng sanh ở cõi này cũng do áidục nữa sao"? Ở đây Phật giải thích, những vị Bồ-tát thị hiện giáo hóachúng sanh ở thế gian không phải gốc từ nơi ái dục, mà do lòng từ bi các ngàimuốn độ chúng sanh bỏ khát ái, các ngài mới tạm mượn ái dục mà vào trong sanhtử.

ÂM:

- Nhược chư mạt thế nhất thiết chúng sanh năng xả chư dục cậptrừ tắng ái vĩnh đoạn luân hồi, cần cầu Như Lai Viên giác cảnh giới, ư thanhtịnh tâm, tiện đắc khai ngộ.

DỊCH:

- Nếu tất cả chúng sanh đời sau bỏ được các dục và trừ tâmyêu ghét thì hằng đoạn được luân hồi, siêng cầu cảnh giới Viên giác Như Lai,tâm thanh tịnh liền được khai ngộ.

GIẢNG:

Phật dạymuốn tu để giải thoát sanh tử thì phải xa lìa ngũ dục thế gian, trừ tâm yêughét nơi mình, nơi người và phải cầu cảnh giới Viên giác Như Lai. Gốc luân hồiphải đoạn và trở về sống với tánh giác thì tâm thanh tịnh được khai ngộ.

ÂM:

- Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh do bản tham dục, phát huyvô minh, hiển xuất ngũ tánh sai biệt bất đẳng y nhị chủng chướng nhi hiện thâmthiển.

DỊCH:

- Này thiện nam, tất cả chúng sanh do gốc tham dục mà pháthuy thêm vô minh, hiển bày ra năm tánh sai biệt chẳng đồng, y theo hai thứchướng mà hiện có cạn sâu.

GIẢNG:

Ðây đứcPhật trả lời câu hỏi: Chúng sanh có bao nhiêu chủng tánh? Ngài trả lời có nămchủng tánh. Sở dĩ có năm chủng tánh là do gốc tham dục là vô minh làm sung mãnthêm, nên năm chủng tánh có sai khác.

ÂM:

- Vân hà nhị chướng? Nhất giả lý chướng, ngại chánh tri kiến.Nhị giả sự chướng, tục chư sanh tử.

DỊCH:

- Thế nào là hai chướng? Một là lý chướng làm ngại chánh trikiến, hai là sự chướng khiến tiếp nối sanh tử.

GIẢNG:

Sự chướnglà phiền não, chỉ cho cái chướng do ngũ dục ở thế gian, vì có nó nên trở ngạisự thoát ly sanh tử. Người còn bị kẹt trong năm dục là còn tiếp nối sanh tử. Lýchướng là chỉ cho vô minh, vô minh là gốc làm chúng ta không thấy đúng nhưthật. Do nhận hiểu lý đạo lệch lạc sai lầm cho nên chướng ngại chánh tri kiến.Ví dụ như có người cho rằng tu thiền là phải xuất hồn đi trong hư không để tìmPhật, hoặc được Phật phóng hào quang điểm đạo. đó là hiểu không đúng với lờiPhật dạy trong kinh, nên chướng ngại chánh tri kiến. Do hai cái chướng đó khiếncho chúng sanh có sai biệt. Chướng của ngũ dục thì khiến chúng sanh sanh trongcác loài, còn cái chướng của sự hiểu lệch lạc về lý đạo thì sanh làm quỉ thầnhoặc các vị tu chứng ở trong vòng hữu lậu.

ÂM:

- Vân hà ngũ tánh? Thiện nam tử, nhược thử nhị chướng, vị đắcđoạn diệt danh vị thành Phật. Nhược chư chúng sanh vĩnh xả tham dục, tiên trừsự chướng, vị đoạn lý chướng, đản năng ngộ nhập Thanh văn Duyên giác, vị năng hiểntrụ Bồ-tát cảnh giới.

DỊCH:

- Thế nào là năm tánh? Này thiện nam, nếu hai chướng nàychưa được đoạn diệt thì nói chưa thành Phật. Nếu các chúng sanh hằng xả thamdục, trước trừ sự chướng, chưa đoạn lý chướng, chỉ hay ngộ nhập cảnh giới Thanhvăn, Duyên giác chưa trụ được cảnh giới Bồ-tát.

GIẢNG:

Người bỏđược tham dục thế gian là hết ái dục, mà hết ái dục thì dòng sanh tử luân hồicũng dứt luôn. Song, dứt được tham dục thì chỉ trừ được sự chướng chớ lý chướngvẫn còn, nên chỉ vào được hàng Thanh văn Duyên giác, không vào được hàngBồ-tát. Tại sao hàng Thanh văn Duyên giác chỉ mới trừ được sự chướng? Vì cácngài do tu Tứ đế, thấy Khổ đế và Tập đế cần phải đoạn trừ, nên các ngài ứngdụng Ðạo đế đoạn trừ, khi đoạn trừ xong thì gọi là Diệt đế. Như vậy là mới đoạntrừ xong mầm sanh tử chớ chưa thấy được Pháp thân. Dứt sanh tử thì nhập Niết-bàncho nên mới trừ được sự chướng, chớ chưa trừ được lý chướng. Bậc Duyên giáccũng vậy, các ngài do thấy cảnh lá rụng, cây cối héo xàu mà nghĩ đến thân ngườicũng vô thường như thế, nên các ngài tỉnh giác. Hoặc các ngài thấu rõ lý nhânduyên, thân này do đất nước gió lửa hợp lại mà có, khi duyên hết thì thân tanrã, các ngài chán thân, không còn ái dục, cho nên các ngài chỉ chứng được quảDuyên giác chớ chưa thấy được Pháp thân, nên nói còn bị lý chướng làm ngại, đólà hai chủng tánh.

ÂM:

- Thiện nam tử, nhược chư mạt thế nhất thiết chúng sanh dụcphiếm Như Lai Ðại viên giác hải; tiên đương phát nguyện cần đoạn nhị chướng.Nhị chướng dĩ phục tức năng ngộ nhập Bồ-tát cảnh giới. Nhược sự lý chướng dĩvĩnh đoạn diệt, tức nhập Như Lai vi diệu Viên giác, mãn túc Bồ-đề cập ÐạiNiết-bàn.

DỊCH:

- Này thiện nam, nếu các chúng sanh đời sau muốn dạo biển Ðạiviên giác Như Lai, trước phải phát nguyện siêng đoạn hai chướng. Hai chướng đãnép phục thì ngộ nhập được cảnh giới Bồ-tát. Nếu sự chướng lý chướng đã đoạn diệthẳn thì ngộ nhập tánh Viên giác vi diệu Như Lai, viên mãn quả Bồ-đề và ÐạiNiết-bàn.

GIẢNG:

Chủng tánhthứ ba là chủng tánh Bồ-tát. Chúng sanh phàm phu thì bị hai thứ phiền nãochướng và sở tri chướng làm chướng đạo Bồ-đề, nên đi trong luân hồi sanh tử.Trải qua thời gian tu hành hai chướng ấy nép phục thì chúng sanh bước lên địavị Bồ-tát. Khi lên địa vị Bồ-tát, tiếp tục tu đoạn lìa phiền não chướng và sởtri chướng mới chứng được Pháp thân. Vì vậy nên nói Bồ-tát tùy phần giác, nghĩalà Bồ-tát thấy được một phần Pháp thân thì phá được một phần lý chướng. Lýchướng ngăn che không thấy được Pháp thân, khi hoàn toàn hết lý chướng thì viênmãn gọi là thành Phật. Nên ở đây nói muốn vào biển Ðại viên giác Như Lai thìphải đoạn sự và lý chướng.

ÂM:

- Thiện nam tử, nhất thiết chúng sanh giai chứng Viên giác, phùngthiện tri thức y bỉ sở tác nhân địa pháp hạnh, nhĩ thời tu tập tiện hữu đốntiệm, nhược ngộ Như Lai Vô thượng Bồ-đề, chánh tu hành lộ, căn vô đại tiểu,giai thành Phật quả.

DỊCH:

- Này thiện nam, tất cả chúng sanh đều chứng Viên giác,gặp thiện tri thức y nơi pháp hạnh nhân địa mà vị ấy đã tu, bấy giờ tu tậptheo, liền có đốn và tiệm. Nếu gặp được pháp tu hành chân chánh Vô thượng Bồ-đềcủa Như Lai thì đều thành Phật quả, căn cơ không chia lớn nhỏ.

GIẢNG:

Ðây Phậtnói tầm quan trọng của thiện tri thức đối với người tu. Tất cả chúng sanh đềucó Tánh giác, chớ không dành riêng cho một người nào được chứng. Nhưng tu đốnhay tiệm là do gặp thiện tri thức, rồi y nơi pháp hạnh của thiện tri thức đó màtu. Khi tu tập liền có chia đốn tiệm. Như cũng thuyết pháp dạy tu, nhưng mỗi vịthầy hướng dẫn tu không giống nhau. Nếu khi phát tâm tu mà chúng ta gặp vị thầytu tiệm giáo thì người dạy chúng ta tu theo tiệm giáo. Nếu gặp vị thầy tu đốngiáo thì dạy chúng ta tu theo đốn giáo. Tu trở thành đốn hay tiệm là do thiệntri thức hướng dẫn, phải hiểu rõ như vậy. Nếu không rõ thì quí vị nghĩ thầy nàocũng dạy mình tu, chọn lựa làm chi? Nghĩ như vậy sẽ không được lợi ích lớn.Người biết chọn thầy và pháp môn tu cho thích hợp với căn cơ của mình mới đượclợi ích. Còn nếu gặp Phật, y theo đạo Vô thượng Bồ-đề của đức Phật để tu thìđược vào thẳng tánh Viên giác, chớ không có đốn tiệm lớn nhỏ. Lúc đức Phật còntại thế không chia đốn tiệm, đức Phật nói pháp, người nghe tu đúng pháp đều đắcquả A-la-hán. Sau này đệ tử Phật tùy theo mỗi vị có công hạnh tu riêng, mà chiara nhiều tông phái khác nhau. Như vậy, thiện tri thức đối với người tu rất quantrọng chớ không phải thường, tu tiến nhanh hay chậm do ảnh hưởng thiện tri thứcrất nhiều. Ðó là chủng tánh thứ tư, chủng tánh bất định.

ÂM:

- Nhược chư chúng sanh tuy cầu thiện hữu ngộ tà kiến giả, vị đắcchánh ngộ, thị tắc danh vi ngoại đạo chủng tánh, tà sư quá mậu, phi chúng sanhcữu, thị danh chúng sanh ngũ tánh sai biệt.

DỊCH:

- Nếu các chúng sanh tuy cầu bạn lành, lại gặp người tà kiếnchưa được chánh ngộ, ấy gọi là chủng tánh ngoại đạo. Ðây là do lỗi lầm của tàsư, chớ không phải lỗi nơi chúng sanh ấy. Ðó là năm chủng tánh sai biệt củachúng sanh.

GIẢNG:

Ðoạn nàytrả lời câu hỏi thứ ba, có những người tu cũng tìm thiện hữu tri thức, nhưnglại gặp thầy tà, thầy tà sẽ dẫn họ đi đường tà, ấy là chủng tánh ngoại đạo. Lỗiđó tại ai? Lỗi tại người thầy chớ không phải tại người học đạo, người học đạođâu có biết gì, tại ông thầy hướng dẫn, lúc sơ phát tâm họ như tờ giấy trắng inhình gì thì ra hình đó.

Như vậy, chúng tathấy chúng sanh nào cũng có tánh Viên giác, nhưng tại chúng ta gặp thầy hướngdẫn tu khác nhau, nên kết quả cũng khác nhau. Ví dụ như có người phát tâm xuấtgia, nhưng kém phước lại gặp ông thầy dạy: "Ðem tiền đây ta cúng cho, nămnay con bị mắc tam tai rồi đó!" Cứ như vậy, năm này qua năm khác, thángnày qua tháng khác, cúng hoài rồi quen với quỉ thần, chớ không dạy đạo lý gìhết, như thế là lạc vào đường tà. Lại có người phát tâm tu nhưng có duyên gặpđược thầy thông đạo lý, đem giáo lý Phật giảng giải cho hiểu để biết đường lốitu hành chân chánh. Như vậy, đồng thời phát tâm tu như nhau, nhưng khi gặp thầykhác nhau thì tu ít năm kết quả cũng khác nhau. Khác là tại thiện hữu tri thức,chớ không phải tại họ có chủng tánh khác. Tuy nhiên nói vậy không phải phủ nhậncái duyên của họ, có duyên với tà nên dễ gặp tà. Gặp người tà nói mơ mơ màngmàng linh ứng thế này linh ứng thế nọ thì họ thích và theo. Người có duyên vớichánh pháp thì đến với đạo bằng trí tuệ chớ không phải bằng niềm tin.

ÂM:

- Thiện nam tử, Bồ-tát duy dĩ đại bi phương tiện nhập chư thếgian khai phát vị ngộ, nãi chí thị hiện chủng chủng hình tướng nghịch thuậncảnh giới, dữ kỳ đồng sự hóa linh thành Phật, giai y vô thủy thanh tịnh nguyệnlực.

DỊCH:

- Này thiện nam, Bồ-tát chỉ dùng lòng đại bi, mà phươngtiện vào các thế gian khai phát những người chưa ngộ, cho đến thị hiện nhiềuhình tướng hoặc cảnh giới nghịch hay thuận, họ đồng sự để giáo hóa khiến chothành Phật, đều y nơi nguyện lực thanh tịnh từ vô thủy.

GIẢNG:

Câu hỏithứ tư là Bồ-tát vào thế gian này có bao nhiêu thứ phương tiện? Phật trả lờiBồ-tát do lòng đại bi và hạnh nguyện độ sanh, nên phương tiện vào trong thếgian hiện các thứ hình tướng, như cảnh giới thuận nghịch để hóa độ chúng sanh,chớ không phải bị nghiệp ái dục lôi vào. Bồ-tát dùng phương tiện hiện hìnhtướng để độ sanh như hiện tướng Bồ-tát, tướng Tỳ-kheo, tướng cư sĩ, vua, quan.Thị hiện cảnh giới thuận là Bồ-tát xuất gia tu hành ngộ đạo, giáo hóa đúng vớiđạo lý của Phật dạy. Cảnh giới nghịch là Bồ-tát hiện ra cảnh dầu sôi lửa bỏng, ngưuđầu mã diện. để người ác sợ, thức tỉnh hồi tâm tu hành. Hoặc các ngài vào trongcảnh khổ làm những nghề xấu xa để dẫn dắt chúng sanh, khi vào trong đó phảiđồng sự với họ, sống chung với họ. Mọi người thấy không tin là Bồ-tát, nhưngcác ngài âm thầm làm hạnh Bồ-tát. Trong cảnh đó thì khó làm, ở trong cảnh giớithuận thì dễ, vì giữ giới hạnh đàng hoàng và nói đạo lý dạy tu nên dễ tin hơn.Còn ở trong chỗ mọi người xem thường chê bai mà nói pháp mới thật là khó. Tấtcả hạnh thuận nghịch đều chỉ vì lòng từ bi và nguyện lực thanh tịnh, chớ không cóđộng lực nào khác.

Như vậy thì chungquanh chúng ta rất nhiều Bồ-tát. Vì chúng ta tìm Bồ-tát có hào quang nên dễ bịma gạt. Quí vị phải lặng tâm mà xét thì thấy chung quanh mình rất nhiều Bồ-tát,chớ không phải ít đâu. Kinh Phật nói, Phật ra đời có những vị Bồ-tát trợ hóa.Khi Phật không ra đời cũng có rất nhiều Bồ-tát lẫn lộn trong nhân gian để đánhthức chúng sanh. Bồ-tát là người gỡ cho chúng ta bớt nhiễm, gỡ cho chúng ta bớtđắm trước. Giả sử họ tỏ ra rất tầm thường không có gì cao quí đáng phục, nhưnghọ biết chận những nhiễm ái, những tội lỗi cho chúng ta thì đó cũng là hiện thâncủa Bồ-tát.

ÂM:

- Nhược chư mạt thế nhất thiết chúng sanh, ư Ðại viên giác khởităng thượng tâm đương phát Bồ-tát thanh tịnh đại nguyện, ưng tác thị ngôn:Nguyện ngã kim giả trụ Phật Viên giác, cầu thiện tri thức mạc trị ngoại đạo cậpdữ Nhị thừa, y nguyện tu hành tiệm đoạn chư chướng, chướng tận nguyện mãn tiệnđăng giải thoát thanh tịnh pháp điện, chứng Ðại viên giác diệu trang nghiêmvực.

DỊCH:

- Nếu các chúng sanh đời sau đối với Ðại viên giác, khởi tâmtăng thượng, nên phát lời đại nguyện, thanh tịnh của Bồ-tát như thế này: Connguyện ngày nay được trụ trong Viên giác Phật, xin gặp thiện tri thức, chẳnggặp ngoại đạo cùng với Nhị thừa. Con y theo nguyện tu hành lần lần đoạn trừ cácchướng. Chướng dứt, nguyện được viên mãn, liền lên pháp điện thanh tịnh giảithoát, chứng được cảnh giới trang nghiêm vi diệu Ðại viên giác.

GIẢNG:

Ðoạn nàyđức Phật dạy chúng ta phát nguyện, người tu muốn khỏi rơi vào đường tà và khỏilạc vào Nhị thừa phải hằng phát nguyện: Ðời này con ở mãi trong Viên giác Phật,nguyện chẳng gặp ngoại đạo và Nhị thừa, y theo đạo lý Ðại thừa mà tu hành, lầnlần đoạn các chướng ngại, vào cảnh giới Viên giác Diệu trang nghiêm. Ðó là đứcPhật đã chỉ rõ đường lối tu, để cho chúng ta được kết quả như ý nguyện. Hạtgiống Bồ-đề của chúng ta nếu gặp đất tốt sẽ tăng trưởng rất nhanh, nếu khôngthì đường tu của chúng ta sẽ bị chướng ngại và lần lần chán nản rồi bỏ tu luôn.Chúng ta phải khéo tu làm sao để mình đi hoài trên con đường chân chánh khôngbị sai lệch.

ÂM:

Nhĩ thời Thế Tôn dục trùng tuyên thử nghĩa, nhi thuyết kệ ngôn:

Di-lặc nhữ đương tri

Nhất thiết chư chúng sanh

Bất đắc đại giải thoát

Giai do tham dục cố

Ðọa lạc ư sanh tử

Nhược năng đoạn tắng ái

Cập dữ tham sân si

Bất nhân sai biệt tánh

Giai đắc thành Phật đạo

Nhị chướng vĩnh tiêu diệt

Cầu sư đắc chánh ngộ

Tùy thuận Bồ-tát nguyện

Y chỉ Ðại Niết-bàn

Thập phương chư Bồ-tát

Giai dĩ đại bi nguyện

Thị hiện nhập sanh tử

Hiện tại tu hành giả

Cập mạt thế chúng sanh

Cần đoạn chư ái kiến

Tiện qui Ðại viên giác.

DỊCH:

Bấy giờ đức Phật muốn lặp lại nghĩa này, nói kệ rằng:

Di-lặc ông nên biết:

Tất cả các chúng sanh,

Không được đại giải thoát,

Ðều do ở tham dục,

Ðọa lạc vào sanh tử.

Nếu hay đoạn yêu ghét,

Cùng với tham sân si,

Chẳng do tánh sai biệt

Ðều được thành Phật đạo.

Hai chướng tiêu diệt hẳn,

Cầu thầy được chánh ngộ,

Thuận theo nguyện Bồ-tát,

Y nơi Ðại Niết-bàn.

Mười phương các Bồ-tát,

Ðều do nguyện đại bi,

Thị hiện vào sanh tử.

Hiện tại người tu hành,

Và chúng sanh đời sau,

Siêng đoạn các ái kiến,

Trở về Ðại viên giác.

GIẢNG:

Bài trùngtụng này đức Phật dạy chúng ta tu hành thì phải đoạn yêu ghét và tham sân simới được giải thoát. Vì vậy phải cầu minh sư khai ngộ, rồi y theo hạnh nguyệncủa Bồ-tát mà đoạn dứt hai chướng và cầu được an trụ nơi Ðại Niết-bàn của Phật.

Các vị Bồ-tát ởmười phương đều do lòng đại bi, phát nguyện thị hiện trong sanh tử trần lao,không sợ ô nhiễm không ngại gian lao, để độ chúng sanh dứt hết ái hoặc, trở vềvới tánh Viên giác.

Tóm lại, chúng tachỉ cần nhớ những câu hỏi trong chương này là hiểu trọn được ý nghĩa.

1. Cái gì là cộigốc của luân hồi sanh tử?

- Ái dục là cộigốc của luân hồi sanh tử.

2. Trong luân hồisanh tử có bao nhiêu loài?

- Có hai mươi lămloài, nghĩa là mười nghiệp ác cộng mười nghiệp thiện, cộng năm ấm mà sanh rahai mươi lăm loài.

3. Có bao nhiêuchủng tánh?

- Có năm chủngtánh sai biệt.

4. Bồ-tát vào thếgian có bao nhiêu thứ phương tiện?

- Do lòng đại biphát nguyện vào trong thế gian để độ chúng sanh.

Chúng ta hiểu rõbốn câu hỏi và lời đáp của đức Phật thì thâm nhập được phần này.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn