Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Lược khảo

25/10/201015:20(Xem: 4306)
Lược khảo

KINH VIÊN GIÁCGIẢNG GIẢI
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Thiền Viện Trúc Lâm 2000

A. LƯỢC KHẢO

Kinh Viên Giác nói đủ là "Ðại Phương QuảngViên Giác Tu-đa-la Liễu Nghĩa". Tên kinh rất dài, nhưng gần đây chúng tathường đọc gọn là Viên Giác. Kinh này nguyên văn chữ Phạn, khi truyền sangTrung Hoa được dịch ra chữ Hán.

I. PHIÊN DỊCH PHẠN - HÁN

1. Ngài La-hầu-mặc-kiện dịch tại đạo tràng BảoVân ở Ðàm Châu, đời Ðường niên hiệu Trinh Quán thứ hai mươi mốt (647), nhằmngày 15 tháng 7 năm Ðinh Mùi. Thuyết này căn cứ theo Viên Giác Ðại Sớ của ngàiKhuê Phong.

2. Ngài Phật-đà-đa-la (Buddhatràta) Trung Hoadịch là Giác Cứu, người Kế Tân (Yết-thấp-di-la) Bắc Ấn, dịch tại chùa Bạch Mã ởÐông Ðô, đời Ðường niên hiệu Trường Thọ thứ hai (693). Bấy giờ Võ Tắc Thiên đổinhà Ðường thành nhà Chu.

Trong hai bản dịch thì bản dịch của ngài Phật-đà-đa-lađược phổ biến, còn bản dịch của ngài La-hầu-mặc-kiện chỉ thấy ngài Khuê Phongnêu lên trong Viên Giác Ðại Sớ, ít phổ biến.

II. CHÚ GIẢI

Theo Ðại sư Thái Hư thì kinh Viên Giác được chúgiải rất nhiều. Các tông phái ở Trung Hoa thời bấy giờ đều có chú giải, phầnlớn là Thiền tông và Hoa Nghiêm tông.

Ðời Ðường có các ngài: ngài Duy Phát, ngài ÐạoTuyên, ngài Khuê Phong. Ngài Khuê Phong chú giải thành hai bản, một bản đề LượcSớ, một bản đề Ðại Sớ.

Ðến đời Nam Tống có ngài Nguyên Túy làm Tập Chú.Trong bản này gom hết lời chú giải của những nhà chú giải trước thành một tập.

Gần đây, Ðại sư Thái Hư giảng giải đề tựa làViên Giác Lược Thích.

III. DỊCH HÁN - VIỆT

1. Ngài Huyền Cơ dịch Kinh Viên Giác, xuất bảnnăm 1951.

2. Hòa thượng Thích Thiện Hoa dịch đề tựa làKinh Viên Giác (phiên dịch và lược giải) được in trong bộ Phật Học Phổ Thông,quyển 8, Hương Ðạo xuất bản năm 1958.

3. Hòa thượng Trí Hữu dịch Kinh Viên Giác, tôikhông nhớ năm xuất bản.

4. Hòa thượng Trung Quán dịch Kinh Viên Giác làmhai quyển, tôi cũng không nhớ năm xuất bản.

5. Cư sĩ Ðoàn Trung Còn dịch Kinh Viên Giác.

Kinh Viên Giác đã được dịch ra tiếng Việt, lýđáng chúng ta học bản tiếng Việt. Nhưng vì tôi nhắm vào Tăng Ni, nên tôi giảng thẳngbản chữ Hán, để quí vị dò theo cho quen cách dịch nghĩa, sau này đọc kinh chữHán cho dễ.

B. GIẢNG ÐỀ KINH

Về đề kinh, ở chương 12, Bồ-tát Hiền Thiện Thủhỏi Phật tên kinh này. Phật trả lời đến năm tên:

1. Ðại Phương Quảng Viên Giác Ðà-la-ni.

2. Tu-đa-laLiễu Nghĩa.

3. Bí MậtVương Tam-muội.

4. Như LaiQuyết Ðịnh Cảnh Giới.

5. Như Lai Tàng Tự Tánh Sai Biệt.

Năm tên này được rút gọn lại là Ðại Phương QuảngViên Giác Tu-đa-la Liễu Nghĩa.

ÐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC

Theo ngài Khuê Phong Tông Mật thì mỗi chúng sanhcó thểchân thật rộng lớn trùm khắp pháp giới, nên gọi là Ðại. Thểchân thật ấy hay gìn giữ tất cả quỹ tắc, và hay sanh khởi ra muôn pháp, nên gọilà Phương. Theo chân thật ấy có đầy đủ diệu dụng không thể nghĩlường, nên gọi là Quảng.

Theo ngài Thái Hư thì Ðạilà chỉ cho cái thểtuyệt đối, vượt ngoài các pháp đối đãi. Ðạikhông có nghĩa là lớn đốivới tiểu là nhỏ. Phươngchỉ cho phương sở, Thể tuyệt đối ấy rộng lớnkhông ngằn mé, vượt khỏi không gian và thời gian. Quảnglà rộng lớnkhông thể nghĩ lường.

Ðại Phương Quảngchỉ cho nghĩa của Viên giác. Viên là tròn, giác là giácngộ; giác ngộ một cách viên mãn gọi là Viên giác. Viên giác chỉ cho cảnh giớiPhật. Kinh Phật giản trạch: Phàm phu thì bất giác, ngoại đạo thì tà giác, Nhịthừa thì chánh giác, Bồ-tát thì phần giác, Phật thì Viên giác. Chỉ có Phật mớigiác ngộ viên mãn. Phàm phu vì bất giác nên không thấy được tánh Phật. Ngoạiđạo thì tà giác, tuy biết nhưng biết lệch lạc sai lầm. Hàng Nhị thừa tuy đượcchánh giác nhưng giác chưa rộng lớn. Bồ-tát tuy thấy tánh Phật nhưng thấy từngphần nên gọi là phần giác. Hành giả dụng tâm tu hành, công phu viên mãn, tánhPhật hiển hiện tròn đầy gọi là Viên giác. Như vậy Ðại Phương Quảng Viên Giác làtánh Viên giác tròn đầy rộng lớn không ngằn mé, trùm khắp pháp giới, vượt ngoàikhông gian và thời gian, là nguồn gốc sanh ra muôn pháp, diệu dụng không thểnghĩ lường.

TU-ÐA-LA LIỄU NGHĨA

Tu-đa-la (Sùtra)nguyên là chữ Phạn, Trung Hoa dịch là Kinh. Phàm những lời Phật dạy được kếttập lại có hệ thống gọi là Kinh. Kinh có kinh liễu nghĩa và kinh bất liễunghĩa. Trong kinh Ðại Bảo Tích có những đoạn Phật nói với ngài Xá-lợi-phất:

- Nói những việc thế gian là bất liễu nghĩa, nóivề thắng nghĩa là liễu nghĩa.

- Nói mà tạo nghiệp phiền não là bất liễu nghĩa,nói để nghiệp phiền não sạch là liễu nghĩa.

- Nói mà chán lìa sanh tử tìm cầu Niết-bàn làbất liễu nghĩa, nói sanh tử Niết-bàn không hai là liễu nghĩa.

- Nói về các thứ văn cú sai biệt là bất liễunghĩa, nói pháp sâu xa khó thấy khó giác là liễu nghĩa.

Qua bốn đoạn Phật giản trạch về liễu nghĩa vàbất liễu nghĩa, thì kinh Viên Giác thuộc về kinh liễu nghĩa, vì kinh Viên Giác nóitột lý cứu kính không qua một phương tiện nào.

Về hình thức, kinh Viên Giác có chỗ gom thànhmột quyển, có chỗ chia ra hai quyển, gồm mười hai chương mục, mỗi chương có mộtvị Bồ-tát đại diện đứng ra thưa hỏi và được Phật trả lời hướng dẫn tu rất rõràng.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn