Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phẩm 26: Đà-la-ni

23/10/201016:07(Xem: 3643)
Phẩm 26: Đà-la-ni

PHẨM 26

ĐÀ-LA-NI

(Dhârani)

Dhârani là tiếng Phạn, nghĩa là tổng trì, là gom lại tất cả để gìn giữ,cũng là thần chú. Chủ yếu phẩm này là phá Hành ấm, vào Thất địa và Bát địaBồ-tát. Hành ấm là niệm rất vi tế không hiện rõ như Tưởng ấm, nên phải dùngthần chú để phá.

Thần chú là những lời nói nhiệm mầu, khi nghe hay đọc chúng ta không thểkhởi niệm suy tư về ý nghĩa của thần chú được. Nên khi đọc thần chú tâm bìnhthản an nhiên, gọi là trừ cái lặng lẽ vi tế của Hành ấm. Thông thường người tukhi phá Tưởng ấm, hết vọng tưởng ngỡ rằng tâm mình đã thanh tịnh không có ýtiến lên, bèn an trú trong đó. Hàng Nhị thừa cho đó là Niết-bàn. Thiền tôngbiểu trưng trạng thái này qua bức tranh thứ tám trong mười bức tranh chăn trâu,người chăn và trâu không còn, gọi đó là đầu sào trăm trượng, mút đầu sào phảinhảy qua mới là người anh kiệt. Nếu kẹt ở đó là bị chìm trong cái lặng lẽ. Vìngười tu tới đây hay bị kẹt, không biết làm sao tiến nữa nên phải nhờ sức giahộ của Phật và Bồ-tát để vượt qua chỗ này. Thần chú là biểu trưng cho sức giahộ của Phật và Bồ-tát để phá Hành ấm. Nếu không hiểu mà cho rằng thần chú đểcứu nạn cứu khổ thì không đúng.

CHÁNH VĂN:

1.- Lúc bấy giờ, ngài Dược Vương Bồ-tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịcháo bày vai hữu chấp tay hướng Phật mà bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân hay thọ trì được kinh PhápHoa này, hoặc đọc tụng thông lẹ, hoặc biên chép quyển kinh, được bao nhiêuphước đức?

Phật bảo ngài Dược Vương:

- Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân cúng dường tám trăm muôn ứcna-do-tha hằng hà sa các đức Phật. Ý ông nghĩ sao? Người đó được phước đức cónhiều chăng?

- Thưa Thế Tôn! Rất nhiều.

Phật nói:

- Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân ở nơi kinh này có thể thọ trì nhẫnđến một bài kệ bốn câu đọc tụng giải nghĩa, đúng như lời mà tu hành thời côngđức rất nhiều.

GIẢNG:

Đây lặp lại một lần nữa, người trì kinh Pháp Hoa haysống với Tri kiến Phật, thì công đức không thể tính kể, nếu sánh với người làm phướchữu lậu, thì phước hữu lậu không thể sánh bằng. Nên nói rằng đọc tụng thọ trìchừng bốn câu và giải nghĩa, đúng như lời mà tu hành thì công đức không thểtính kể. Đó là mở màn Phật và Bồ-tát ủng hộ người nói kinh Pháp Hoa.

CHÁNH VĂN:

2.- Lúc đó, ngài Dược Vương Bồ-tát bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Con nay sẽ cho người nói kinh Pháp Hoa chú Đà-la-ni để giữgìn đó.

Liền nói chú rằng:

“An nhĩ, mạn nhĩ, ma nễ, ma ma nễ, chỉ lệ, già lê đệ, xa mế, xa lý, đa vĩ chuyên đế, mụcđế mục đa lý, ta lý, a vĩ ta lý tang lý, ta lý xoa duệ, a xoa duệ, a kỳ nhịchuyên đế, xa lý, đà la ni, a lư dà bà ta ky dá tỳ xoa nhị, nễ tỳ thế, a tiệnđa la nễ lý thế, a đàn đá ba lệ thâu địa, âu cứu lệ, mâu cứu lệ, a la lệ, ba lalệ, thủ ca sai, a tam ma tam lý, Phật đà tỳ kiết lợi điệt đế, đạt ma ba lợi saiđế, tăng già niết cù sa nễ, bà xá bà xá thâu địa, mạn đá lã, mạn đá lã xoa dạđa, bưu lâu đá, bưu lâu đá kiêu xá lược, ác xoa lã, ác xoa dã đa dã, a bà lư, ama nhã na đa dạ.”

- Thế Tôn! Thần chú Đà-la-ni này là của sáu mươi hai ứchằng hà sa các đức Phật nói. Nếu có người xâm hủy vị Pháp sư này, thời là xâmhủy các đức Phật rồi.

Lúc đó, đức Thích-ca Mâu-ni Phật khen Dược Vương Bồ-tát rằng:

- Hay thay! Hay thay! DượcVương! Ông thương xót muốn ủng hộ vị Pháp sư đó, nên nói chú Đà-la-ni này, đượcnhiều lợi ích ở nơi các chúng sanh.

GIẢNG:

Thần chú này là của chư Phậtchớ không phải của Bồ-tát, vì thương xót và ủng hộ vị Pháp sư mà nói thần chúđể giúp cho người tu phá Hành ấm không còn mắc kẹt trong chỗ lặng lẽ, vượt quakhỏi Thất địa và Bát địa.

CHÁNH VĂN:

3.- Lúcbấy giờ, ngài Dõng Thí Bồ-tát bạch Phật rằng:

- ThếTôn! Con cũng vì ủng hộ người đọc tụng thọ trì kinh Pháp Hoa mà nói chúĐà-la-ni. Nếu vị Pháp sư đó được chú Đà-la-ni này, hoặc dạ-xoa, la-sát hoặcphú-đơn-na, hoặc kiết-giá, hoặc cưu-bàn-trà, hoặc ngạ quỉ v.v... rình tìm chỗdở của Pháp sư không thể được tiện lợi.

Liền ởtrước Phật mà nói chú rằng:

“Toalệ, ma ha toa lệ, úc chỉ, mục chỉ, a lệ, a la bà đệ niết lệ đệ, niết lệ đa bàđệ, y trí nỉ, vi trí nỉ, chỉ trí nỉ, niết lệ trì nỉ, niết lệ trì bà để.”

- ThếTôn! Thần chú Đà-la-ni này của hằng hà sa các đức Phật nói, cũng đều tùy hỉ.Nếu có người xâmhủy vị Pháp sư nàythời là xâm hủy các đức Phật đó rồi.

GIẢNG:

Bồ-tát Dõng Thí nói chúĐà-la-ni để ủng hộ, khiến cho những loài dị nhân không tìm được khuyết điểm củaPháp sư.

CHÁNH VĂN:

4.- Bấy giờ, Tỳ-sa-mônthiên vương, vị trời hộ đời, bạch Phật rằng:

- Thế Tôn! Con cũng vìthương tưởng chúng sanh ủng hộ vị Pháp sư đó mà nói Đà-la-ni này.

Liền nói chú rằng:

“A lê, na lê, nâu na lê ana lư, na lý, câu na lý.”

- Thế Tôn! Dùng thần chúnày ủng hộ Pháp sư, con cũng tự phải ủng hộ người trì kinh này, làm cho trongkhoảng trăm do-tuần không có các điều tai hoạn.

GIẢNG:

Tỳ-sa-mônthiên vương nói chú để ủng hộ Pháp sư khiến cho Pháp sư không có các điều taihoạn.

CHÁNH VĂN:

5.- Bấygiờ, Trì Quốc thiên vương ở trong hội này cùng với nghìn muôn ức na-do-thachúng càn-thát-bà cung kính vây quanh đến trước chỗ Phật, chấp tay bạch Phậtrằng:

- Thế Tôn! Con cũng dùng thần chú Đà-la-ni ủnghộ người trì kinh Pháp Hoa.

Liềnnói chú rằng:

“A dà nể, dà nể, cù lợi,càn đà lợi, chiên đà lợi, ma đẳng kỳ thường cầu lợi, phù lầu tá nỉ, ác đế.”

- Thế Tôn! Thần chúĐà-la-ni này là của bốn mươi hai ức các đức Phật nói, nếu có người xâm hủy vịPháp sư này thời là xâm hủy các đức Phật đó rồi.

GIẢNG:

Trì Quốc thiên vương nói chúủng hộ Pháp sư.

CHÁNH VĂN:

6.- Bấygiờ, có những la-sát nữ: một tên Lam-bà, hai tên Tỳ-lam-bà, ba tên Khúc Xỉ, bốntên Hoa Xỉ, năm tên Hắc Xỉ, sáu tên Đa Phát, bảy tên Vô Yểm Túc, tám tên TrìAnh Lạc, chín tên Cao Đế, mười tên Đoạn Nhứt Thiết Chúng Sanh Tinh Khí. Mườivị la-sát nữ đó cùng với quỉ Tử Mẫu, convà quyến thuộc đều đến chỗ Phật, đồng tiếng bạch Phật rằng:

- ThếTôn! Chúng con cũng muốn ủng hộ người đọc tụng, thọ trì kinh Pháp Hoa, trừ sựkhổ hoạn cho người đó. Nếu có kẻ rình tìm chỗ dở của Pháp sư, thời làm chochẳng được tiện lợi.

Liền ởtrước Phật mà nói chú rằng:

“Y đềlý, y đề dẫn, y đề lý, a đề lý, y đề lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, nê lý, lâuhê, lâu hê, lâu hê, lâu hê, đa hê, đa hê, đa hê, đâu hê, nâu hê.”

- Thà trèo lên đầu chúngcon chớ đừng não hại Pháp sư, hoặc dạ-xoa, hoặc la-sát, hoặc ngạ quỉ, hoặcphú-đơn-na, hoặc kiết-giá, hoặc tỳ-đà-la, hoặc kiền-đà, hoặc ô-ma-lặc-dà, hoặca-bạt-ma-la, hoặc dạ-xoa kiết-giá, hoặc nhân kiết-giá, hoặc quỉ làm bệnh nóng,hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, cho đến bảy ngày,hoặc làm bệnh nóng luôn, hoặc hình trai, hoặc hình gái, hoặc hình đồng nam,hoặc hình đồng nữ, nhẫn đến trong chiêm bao cũng lại chớ não hại.

Liền ở nơi trước Phật mànói kệ rằng:

Nếu chẳng thuận chú ta
Não loạn người nói pháp
Đầu vỡ làm bảy phần
Như nhánh cây a-lê
Như tội giết cha mẹ
Cũng như họa ép dầu
Cân lường khi dối người
Tội Điều Đạt phá Tăng
Kẻ phạm Pháp sư đây
Sẽ mắc họa như thế.

Nhữngla-sát nữ nói kệ đó rồi, bạch Phật rằng:

- ThếTôn! Chúng con cũng sẽ tự mình ủng hộ người thọ trì đọc tụng tu hành kinh này,làm cho được an ổn, lìa các sự khổ hoạn, tiêu các thuốc độc.

GIẢNG:

Những la-sát nữ nói chú ủng hộPháp sư khiến cho Pháp sư an ổn lìa các sự khổ hoạn, tiêu các thuốc độc.

Người tu nếu đến chỗ lặng lẽ,rồi ưa thích chìm trong đó, Thiền tông cho sự thích ưa cái lặng lẽ đó là chìmtrong biển độc. Tương tợ, đây nói tiêu các thuốc độc.

CHÁNH VĂN:

7.- Phật bảo các la-sát nữ:

- Hay thay! Hay thay! Các người chỉ có thể ủng hộ người thọ trì tên kinhPháp Hoa phước chẳng thể lường được rồi, huống là ủng hộ người thọ trì toàn bộcúng dường quyển kinh, hoa hương, chuỗi ngọc, hương bột, hương xoa, hương đốt,phan lọng, kỹ nhạc, thắp các thứ đèn: đèn nến, đèn dầu, các thứ đèn dầu thơm,đèn dầu bông tô-ma-na, đèn dầu bông chiêm-bặc, đèn dầu bông bà-sư-ca, đèn dầubông ưu-bát-la, nghìn trăm thứ cúng dường như thế.

Cao Đế! Các người cùng quyến thuộc phải nên ủng hộ những Pháp sư như thế.

Lúc nói phẩm “Đà-la-ni” này, có sáu muôn támnghìn người đượcVô sanh pháp nhẫn.

GIẢNG:

Khi tu tới đệ Thất địa và đệ Bát địa là giai đoạn phá Hành ấm. Tuy đãyên tĩnh nhưng chưa phải là sự tĩnh lặng tuyệt đối. Nên lầm cho là Niết-bàn,rồi an trú trong đó không thoát ra được. Vì vậy phải có sự gia hộ của Phật vàBồ-tát để tiến lên khỏi chỗ lặng lẽ đó. Nên ở đây Bồ-tát nói chú Đà-la-ni đểủng hộ.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn