Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Phẩm 6: Thọ ký

23/10/201015:38(Xem: 3844)
Phẩm 6: Thọ ký

PHẨM 6

THỌ KÝ

GIẢNG:

Thọ ký có nghĩa là trao nhận. Tức là đức Phật biết người đệ tử công hạnhtu hành sắp viên mãn Ngài liền thọ ký cho vị đó sẽ thành Phật. Tùy theo cônghạnh và thời gian tu hành dài hoặc ngắn mà Phật thọ ký có sai biệt. Việc thọ kýcủa Phật giống như Thiền sư truyền tâm ấn cho đệ tử. Khi trò ngộ đạo, chỗ thấybiết của trò ngang bằng chỗ thấy biết của thầy, thầy thấy như thế nào trò thấynhư thế ấy, ngang đây thầy ấn chứng cho trò. Tôi ví dụ để quí vị tạm hiểu, ôngcha có một đứa con đi học, đứa bé thông minh học giỏi thường đứng đầu lớp, mỗinăm học mỗi lên lớp, hết cấp tiểu học lên trung học rồi lên đại học. Nếu nóchuyên ngành khoa học và vẫn học giỏi dẫn đầu lớp, có người hỏi con ông chừngnào ra trường, ông trả lời bốn năm nó sẽ tốt nghiệp Cử nhân khoa học. Nếu nóchuyên ngành Y khoa và cũng đứng đầu lớp thì ông cũng trả lời bảy năm nó sẽ tốtnghiệp Tiến sĩ y khoa. Sở dĩ ông cha dám nói như vậy là vì ông biết khả năngcủa con mình. Ngược lại nếu đứa con học bình thường, hay ngồi lại lớp thì ôngcha không dám nói khẳng định như thế. Cũng vậy, ở đây hàng đệ tử Phật đã trìnhbày chỗ thấu suốt lý Phật dạy, phiền não đã sạch và đã chứng A-la-hán. Bấy giờcác ngài hướng về Phật, nhận ra Tri kiến Phật để tu, không còn nghi ngờ nênngang đây đức Phật thọ ký cho sẽ thành Phật.

Phẩm Tựa nói tổng quát toàn bộ kinh. Phẩm Phương Tiện, Phật nêu lên bảnhoài của Phật ra đời là Khai Thịchúng sanh Ngộ NhậpTri kiếnPhật. Bấy giờ hội chúng chỉ có hàng thượng căn bậc thượng như ngài Xá-lợi-phấtnhận ra Tri kiến Phật, còn hạng thượng căn bậc trung thì chưa nhận được. Vì vậymà phẩm Thí Dụ, Phật dẫn dụ một cách rõ ràng chủ đích của Phật ra đời, thì hàngthượng căn bậc trung như ngài Ca-diếp, Tu-bồ-đề... mới ngộ được Phật tri kiến.Nên đến phẩm Tín Giải thì các ngài ra trình sở ngộ lên đức Phật. Đáng lý tớiđây là Phật thọ ký, nhưng vì Phật thấy số người còn lại chưa thâm nhập nổi, nênNgài nói thêm phẩm Dược Thảo Dụ, để cho thấy rõ thâm ý của Phật là bình đẳng giáohóa, đưa mỗi người tiến tới chỗ cứu kính là thành Phật, chớ không để bất cứ mộtai dừng ở một quả vị thấp nào. Rồi sau đó,Phật mới thọ ký cho những đệ tử trình sở ngộ như ngài Ma-ha Ca-diếp,Tu-bồ-đề... sẽ thành Phật.

CHÁNH VĂN:

1.- Lúcbấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế này:

- ÔngMa-ha Ca-diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các đứcPhật Thế Tôn, cúng dường cung kính, tôn trọng, ngợi khen, rộng nói vô lượng đạipháp của các đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang MinhNhư Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, VôThượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại Trang Nghiêm. Phật thọ mười haitiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp. Tượng pháp cũng trụ hai mươitiểu kiếp. Cõi nước tốt đẹp, không có các thứ dơ xấu, ngói sỏi gai góc cùng đồtiện lợi chẳng sạch. Cõi đó bằng thẳng không có cao thấp, hầm hố gò nổng, đấtbằng lưu-ly, cây báu thẳng hàng, vàng ròng làm dây để giăng bên đường, rải cáchoa báu khắp nơi sạch sẽ.

Bồ-tát trong nước đó đông vô lượng nghìn ức, các chúng Thanh văn cũnglại vô số. Không có việc ma, dầu là có ma và dân ma, nhưng đều hộ trì Phậtpháp.

Bấy giờ, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2.-

Bảo các Tỳ-kheo rằng:
Ta dùng mắt của Phật
Thấy ông Ca-diếp này
Ở nơi đời vị lai
Quá vô số kiếp sau
Sẽ được thành quả Phật,
Mà ở đời vị lai
Cúng dường và kính thờ
Đủ ba trăm muôn ức
Các đức Phật Thế Tôn.
Vì cầu trí huệ Phật
Mà tịnh tu phạm hạnh
Cúng dường đấng Tối thượng
Nhị Túc Tôn xong rồi
Tu tập trọn tất cả
Trí huệ bực Vô thượng
Ở nơi thân rốt sau
Được chứng thành làm Phật.
Cõi đó rất thanh tịnh
Chất lưu-ly làm đất
Nhiều thứ cây bằng báu
Thẳng hàng ở bên đường
Dây vàng giăng ngăn đường
Người ngó thấy vui mừng
Thường thoảng ra hương thơm
Rải các thứ hoa đẹp
Các món báu kỳ diệu
Dùng để làm trang nghiêm
Cõi đó đất bằng thẳng
Không có những gò hầm.
Các hàng chúng Bồ-tát
Đông không thể xưng kể
Tâm các vị hòa dịu
Đến được thần thông lớn
Phụng trì các kinh điển
Đại thừa của các Phật
Các hàng chúng Thanh văn
Vô lậu thân rốt sau
Là con của Pháp vương
Cũng chẳng thể kể hết
Nhẫn đến dùng thiên nhãn
Cũng chẳng thể đếm biết.
Phật đó sẽ sống lâu
Tuổi mười hai tiểu kiếp
Chánh pháp trụ ở đời
Đủ hai mươi tiểu kiếp
Tượng pháp trụ ở đời
Cũng hai mươi tiểu kiếp
Đức Quang Minh Thế Tôn
Việc của Ngài như thế.

GIẢNG:

Sau khi các Tôn giả Ma-ha Ca-diếp, Tu-bồ-đề... trình sở ngộ, đức Phậtliền thọ ký cho các ngài thành Phật. Trước thọ ký cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp đờivị lai sẽ được thành Phật đầy đủ mười hiệu và đủ ba mươi hai tướng tốt. Ngàiphụng thờ ba trăm muôn ức đức Phật mới thành Phật. Chúng ta thấy thời gian tuhành của ngài Ca-diếp quá lâu, mà Ngài được thọ ký là vui mừng thấy mình đượcđiều chưa từng có. Điều này nói lên tâm hạnh của Bồ-tát có khác với tâm hạnhcủa phàm phu.

Sau khi thành Phật, tuổi thọ của Ngài đến mười hai tiểu kiếp, một tiểukiếp là 16.800.000 năm. Tính ra đến 201.600.000 năm. Sống quá lâu! Còn cõi nướcthì đất bằng phẳng trang nghiêm đẹp đẽ toàn bằng đồ báu không có dơ bẩn, khôngcó cực khổ. Đồ đệ toàn là hàng Bồ-tát, La-hán nhiều vô lượng vô biên. Sở dĩ Tôngiả Ca-diếp khi thành Phật mà được chánh báo y báo tốt đẹp lớn lao như vậy, lànhờ công phu tu hành giáo hóa chúng sanh lâu dài và nhiều vô kể. Nhân thế nàothì quả thế ấy, nhân lớn thì quả phải to.

Phật thọ ký cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp sau khi thành Phật, số Bồ-tát Ngàiđộ được có tới ngàn muôn ức, Thanh văn cũng vô số. Một vị Bồ-tát khi thànhPhật, không có đơn độc ở một mình, như đức Thích-ca khi thành Phật bên cạnhNgài có rất nhiều Bồ-tát, La-hán, Thanh văn. Những đồ đệ đó đều là những ngườiđã có túc duyên nhiều đời nhiều kiếp với Ngài, chớ không phải chỉ có duyên mộtđời này. Như vậy những đệ tử Bồ-tát, Thanh văn, La-hán trước kia là những ngườiphàm, khi Phật còn làm Bồ-tát giáo hóa họ tu; thầy tiến lên thành Phật, tròcũng tiến lên thành Bồ-tát, La-hán.

Chúng ta thấy tất cả Bồ-tát được Phật thọ ký, vị nào cũng có đồ đệ đôngnhư vậy. Vì rằng một vị tu hành từ khi mới phát tâm tu, cho tới ngày thànhPhật, là đời đời giáo hóa chúng sanh và cũng tiếp tục gặp lại nhau ở nơi nàyhay ở nơi khác, những người này là hàng Bồ-tát, hàng Thanh văn câu hội về quốcđộ của Phật. Như vậy, không có nghĩa tu một đời tâm hạnh bị mất, nếu phát tâmchân chánh, tu hành đứng đắn thì đời này mới tu duyên phước còn mỏng thì độ ít,đời sau tiếp tục tu nữa và giáo hóa nhiều hơn, đời sau nữa tiếp tục công hạnhcũ, như thế mà tiếp tục cho đến khi thành Phật, thì quyến thuộc là Bồ-tát,Thanh văn cũng đông vầy. Thế nên chúng ta không thể lo tu một mình để cầu mauthành Phật, thiếu phần giác tha thì công hạnh chưa viên mãn làm sao thành Phậtđược. Để thấy tinh thần kinh Pháp Hoa là Bồ-tát đời đời thực hiện bản nguyệnnối tiếp thắp sáng ngọn đuốc Phật pháp cho chúng sanh, đến khi công hạnh viênmãn mới thành Phật, và chúng sanh được giáo hóa cũng thành Bồ-tát và La-hán câuhội về quốc độ của các ngài. Phần trùng tụng lặp lại ý trên.

CHÁNH VĂN:

3.- Lúc bấy giờ, ngài Đại Mục-kiền-liên, ngài Tu-bồ-đề, ngài ĐạiCa-chiên-diên v.v... thảy đều run sợ một lòng chắp tay chiêm ngưỡng dung nhancủa Phật, mắt không hề tạm rời, liền đồng tiếng nhau nói kệ rằng:

Thế Tôn rất hùng mãnh
Pháp vương trong dòng Thích
Vì thương xót chúng con
Mà ban giọng tiếng Phật.
Nếu rõ thâm tâm con
Được Phật thọ ký cho
Như dùng cam lồ rưới
Từ nóng được mát mẻ.
Như từ nước đói đến
Bỗng gặp cỗ tiệc vua
Còn ôm lòng nghi sợ
Chưa dám tự ăn liền
Nếu lại được vua bảo
Vậy sau mới dám ăn,
Chúng con cũng như vậy
Hằng nghĩ lỗi Tiểu thừa
Chẳng biết làm thế nào
Được huệ Vô thượng Phật,
Dầu nghe giọng tiếng Phật
Nói chúng con thành Phật
Còn ôm lòng lo sợ
Như chưa dám tự ăn
Nếu được Phật thọ ký
Mới là khoái an vui
Thế Tôn rất hùng mãnh
Thường muốn an thế gian
Xin thọ ký chúng con
Như đói cần bảo ăn.

GIẢNG:

Còn ba vị chưa được thọ ký là ngài Ma-ha Mục-kiền-liên, Tu-bồ-đề, Ma-haCa-chiên-diên nên các Ngài run sợ, chấp tay một lòng chiêm ngưỡng dung nhan củaPhật. Vì bốn vị cùng là bạn, trình độ học tu ngang nhau, một trong bốn vị được thọký thành Phật, lúc đó ba người còn lại cả mừng hóa thành hoảng hốt, bởi hoảnghốt nên run sợ. Thế nên các Ngài mới trình bày tâm trạng của các Ngài:

Nếu rõ thâm tâm con
Được Phật thọ ký cho
Như dùng cam lồ rưới
Từ nóng được mát mẻ.

Tâm các Ngài đang nóng nảy, hồi hộp, lo sợ không biếtcó được Phật thọ ký không. Nếu bấy giờ được Phật thọ ký thì như được rưới nướccam lồ khiến cho tâm các Ngài được mát mẻ, êm ả, không còn hồi hộp lo sợ nữa.

Kế đến các Ngài lại nói thêm:

Như từ nước đói đến
Bỗng gặp cỗ tiệc vua
Còn ôm lòng nghi sợ
Chưa dám tự ăn liền
Nếu lại được vua bảo
Vậy sau mới dám ăn.

Các Ngài dụ các Ngài như ở nước đói đến gặp tiệc vua ban đủ thức ăn sangtrọng bày la liệt trên bàn, lòng còn lo sợ chưa dám ăn liền, vì chưa được mờiăn. Nếu được vua bảo, thì các Ngài mới dám ăn. Thí dụ này nói lên ý nghĩa cácNgài đã được cái thấy biết mà huynh đệ các ngài như Tôn giả Xá-lợi-phất, Ma-haCa-diếp đã được, nhưng chưa dám tin rằng mình sẽ được thọ ký thành Phật. Naynếu được Phật thọ ký thì tâm các Ngài mới an, mới tin chắc.

Các Thiền sư cũng có tâm trạng như các Tôn giả ở đây. Như ngài Vĩnh GiaHuyền Giác do xem kinh Duy-ma-cật mà ngộ đạo, Ngài biết rõ mình đã thông suốtđược lý Thiền, nhưng chưa được bậc Tôn túc nào ấn chứng, nên thể theo lời đềnghị của Thiền sư Huyền Sách đến Lục Tổ cầu xin ấn chứng. Sau khi được Lục Tổấn chứng, Ngài mới dám nói lên chỗ chứng đạo của mình qua bài Chứng Đạo Ca. Nếuchưa được ấn chứng vẫn còn hồ nghi. Đó là tâm niệm của người xưa và người gầnđây không khác nhau. Những đồ đệ của đức Phật khi xưa khao khát được Phật thọký như thế nào, thì các Thiền sư sau này khao khát được thầy ấn chứng cũng nhưvậy. Vì vậy sau khi các Thiền sư ngộ đạo rồi, đi tìm thiện hữu tri thức trìnhsở ngộ và cầu xin ấn chứng để an ổn mà tiến tu.

CHÁNH VĂN:

4.- Lúc bấy giờ, Thế Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn, bảo cácthầy Tỳ-kheo rằng:

- Ông Tu-bồ-đề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm muôn ức na-do-thađức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh,đủ đạo Bồ-tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu: Danh Tướng Như Lai, ỨngCúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Kiếp đó tên Hữu Bửu, nước đó tên là Bửu Sanh. Cõi đóbằng thẳng, đất bằng lưu-ly, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát,sỏi, gai, chông cùng tiện lợi dơ dáy, hoa báu trải khắp nơi sạch sẽ, nhân dâncõi đó đều ở đài báu và lầu gác quí đẹp. Hàng đệ tử Thanh văn đông vô lượng vôbiên, tính kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ-tát đông vô số nghìnmuôn ức na-do-tha.

Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểukiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp, đức Phật đó thường ở trên hưkhông vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ-tát cùng chúng Thanh văn.

Khi đó, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

5.-

Các chúng Tỳ-kheo này!
Nay ta bảo các ông
Đều nên phải một lòng
Lóng nghe lời ta nói
Đệ tử lớn của ta
Là ông Tu-bồ-đề
Rồi sẽ được làm Phật
Hiệu gọi là Danh Tướng
Sẽ phải cúng vô số
Muôn ức các đức Phật
Theo hạnh của Phật làm
Lần lần đủ đạo lớn
Thân rốt sau sẽ được
Ba mươi hai tướng tốt
Xinh lịch đẹp đẽ lắm
Dường như núi báu lớn
Cõi nước của Phật đó
Trang nghiêm sạch thứ nhứt
Chúng sanh nào được thấy
Không ai chẳng ưa mến.
Phật ở trong cõi đó
Độ thoát vô lượng chúng.
Trong pháp hội của Phật
Các Bồ-tát đông nhiều
Thảy đều bực lợi căn
Chuyển pháp luân bất thối.
Cõi nước đó thường dùng
Bồ-tát để trang nghiêm
Các chúng Thanh văn lớn
Chẳng có thể đếm kể
Đều được ba món minh
Đủ sáu thứ thần thông
Trụ tám pháp giải thoát
Có oai đức rất lớn.
Đức Phật đó nói pháp
Hiện ra vô lượng món
Pháp thần thông biến hóa
Chẳng thể nghĩ bàn được.
Các hàng trời, nhân dân
Số đông như hằng sa
Đều cùng nhau chắp tay
Lóng nghe lãnh lời Phật
Đức Phật đó sẽ thọ
Tuổi mười hai tiểu kiếp
Chánh pháp trụ lại đời
Đủ hai mươi tiểu kiếp
Tượng pháp trụ ở đời
Cũng hai mươi tiểu kiếp.

GIẢNG:

Đức Phật thọ ký cho ngài Tu-bồ-đề sau này sẽ thànhPhật hiệu là Danh Tướng, kiếp tên Hữu Bửu, cõi nước tên Bửu Sanh, cõi đó bằngthẳng, đất bằng lưu-ly, cây báu trang nghiêm, hàng đồ đệ toàn là Thanh văn,Bồ-tát đông vô số không thể tính kể. Sự kiện này cho chúng ta thấy, làm việclợi sanh được phần công đức là tích tụ thành một hạt lưu-ly, làm vô số công đứcthanh tịnh trải qua nhiều đời nhiều kiếp, thì tụ thành cả quốc độ toàn làlưu-ly thanh tịnh theo như công hạnh tu hành của mình. Đó là do tinh thần độsanh không giới hạn, nếu công hạnh viên mãn thì thành Phật. Nếu công hạnh chưaviên mãn mà muốn thành Phật sớm thì cõi nước không thanh tịnh, tuổi thọ khônglâu dài, đồ đệ chưa phải là hàng Thánh. Ở đây đức Phật nói “Phật Danh Tướngthường ở trên hư không vì chúng nói pháp độ thoát được vô lượng Bồ-tát cùngchúng Thanh văn”. Tại sao Phật Danh Tướng lại nói pháp ở trên hư không? Nhưchúng ta biết, ngài Tu-bồ-đề tu hạnh quán lý Không, nên được Phật khen là Giảikhông bậc nhất trong hội chúng. Do ngộ được lý Không nên khi nói pháp Ngài nóivề lý Bát-nhã Chân không. Vì vậy mà nói Ngài ở trên hư không vì chúng sanh nóipháp.

CHÁNH VĂN:

6.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo các chúng Tỳ-kheo:

- Ta nay nói với các ông, ông Đại Ca-chiên-diên này ở đời sẽ tới, dùngcác đồ cúng mà cúng dường phụng thờ tám nghìn ức Phật cung kính tôn trọng. Saukhi các đức Phật diệt độ, ông đều dựng tháp miếu cao một nghìn do-tuần, ngangrộng ngay bằng năm trăm do-tuần, tháp miếu đó dùng bảy món báu vàng, bạc,lưu-ly, xa-cừ, mã não, trân châu và mai khôi hiệp lại thành cúng dường thápmiếu bằng các thứ hoa, chuỗi ngọc, hương hoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu,tràng phan v.v...

Sau thời kỳ đó sẽ lại cúng dường hai muôn ức Phật cũng như trước, cúngdường các đức Phật đó rồi, đủ đạo Bồ-tát sẽ được làm Phật hiệu: Diêm-phù-na-đềKim Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế GianGiải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Cõi đó bằng thẳng, đất bằng pha lê, cây báu trang nghiêm, vàng ròng làmdây để giăng bên đường, hoa đẹp trải đất khắp nơi sạch sẽ. Người được thấy đềuvui mừng, không có bốn đường dữ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh và a-tu-la. Cáctrời cùng người rất đông, các chúng Thanh văn và Bồ-tát vô lượng muôn ức trangnghiêm nước đó. Đức Phật đó thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời haimươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ hai mươi tiểu kiếp.

Lúc đó Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

7.-

Các chúng Tỳ-kheo này!
Đều nên một lòng nghe
Như lời của ta nói
Chân thiệt không khác lạ.
Ông Ca-chiên-diên này
Sau sẽ dùng các món
Đồ cúng dường tốt đẹp
Mà cúng dường các Phật.
Các đức Phật diệt rồi
Dựng tháp bằng bảy báu
Cũng dùng hoa và hương
Để cúng dường xá-lợi.
Thân rốt sau của ông
Được trí huệ của Phật
Thành bực Đẳng Chánh Giác
Cõi nước rất thanh tịnh
Độ thoát được vô lượng
Muôn ức hàng chúng sanh
Đều được mười phương khác.
Thường đến kính cúng dường,
Ánh sáng của Phật đó
Không ai có thể hơn
Đức Phật đó hiệu là:
Diêm-phù Kim Quang Phật
Bồ-tát và Thanh văn
Dứt tất cả hữu lậu
Đông vô lượng vô số
Trang nghiêm cõi nước đó.

GIẢNG:

Ngài Ma-ha Ca-chiên-diên cũng được Phật thọ ký. Do tu hạnh Bồ-tát cungkính cúng thờ tới tám ngàn ức Phật, sau Phật diệt độ lại xây tháp miếu cúngdường. Sau lại cúng dường hai muôn ức Phật cũng như trước, công hạnh viên mãnsẽ thành Phật hiệu Diêm-phù-na-đề Kim Quang, quốc độ bằng phẳng, đất bằng phalê, trang nghiêm bằng cây báu... Sở dĩ Bồ-tát ra đời gặp Phật là vì các ngài tuhạnh Bồ-tát, mà Bồ-tát là nhân mà Phật là quả, nên ra đời đều gặp Phật. Nơi nàocó Phật là có các ngài gần gũi tôn trọng cúng dường và tu học. Trải qua thờigian lâu dài công hạnh viên mãn, thì thành Phật cõi nước đẹp đẽ trang nghiêm.

CHÁNH VĂN:

8.- Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn lại bảo trong đại chúng:

- Ta nay nói với các ông, ông Đại Mục-kiền-liên đây sẽdùng các món đồ cúng, cúng dường tám nghìn các đức Phật, cung kính tôn trọng.Sau khi đức Phật diệt độ đều dựng tháp miếu cao một nghìn do-tuần, ngang rộngthẳng bằng năm trăm do-tuần, dùng bảy món báu: vàng, bạc, lưu-ly, xa-cừ, mãnão, trân châu và mai khôi hiệp lại thành. Đem các thứ hoa, chuỗi ngọc, hươngxoa, hương bột, hương đốt, lọng nhiễu và tràng phan để cúng dường tháp.

Sau lúc ấy lại sẽ cúng dường hai trăm muôn ức các đức Phật cũng nhưtrước, rồi sẽ được thành Phật hiệu: Đa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Như Lai, ỨngCúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Kiếp đó tên là Hỉ Mãn, nước tên là Ý Lạc, cõi đó bằng thẳng, chất pha lêlàm đất, cây báu trang nghiêm, rải hoa trân châu khắp nơi sạch sẽ, người đượcthấy đều vui mừng. Các hàng trời người rất đông, Bồ-tát và Thanh văn số nhiềuvô lượng, đức Phật đó thọ hai mươi bốn tiểu kiếp, chánh pháp trụ lại đời bốnmươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ bốn mươi tiểu kiếp.

Khi đó đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

9.-

Đệ tử của ta đây
Là Đại Mục-kiền-liên
Bỏ thân người nầy rồi
Sẽ được gặp tám nghìn
Hai trăm muôn ức vị
Các đức Phật Thế Tôn.
Ông vì cầu Phật đạo
Nên cúng dường cung kính
Ở nơi các đức Phật
Thường tu trì phạm hạnh
Ở trong vô lượng kiếp
Phụng trì pháp của Phật.
Các đức Phật diệt rồi
Xây tháp bằng bảy báu
Tháp vàng rất cao rộng,
Dùng hoa hương kỹ nhạc
Để dùng dưng cúng dường
Tháp miếu các đức Phật.
Lần lần được đầy đủ
Đạo hạnh Bồ-tát rồi
Ở nơi nước Ý Lạc
Mà được thành quả Phật
Hiệu là Đa-ma-la
Bạt Chiên-đàn Hương Phật
Đức Phật đó thọ mạng
Hai mươi bốn tiểu kiếp
Thường vì hàng trời, người
Mà diễn nói đạo Phật
Chúng Thanh văn vô lượng
Như số cát sông Hằng
Đủ ba minh, sáu thông
Đều có oai đức lớn
Bồ-tát đông vô số
Chí bền lòng tinh tấn
Ở nơi trí huệ Phật
Đều không hề thối chuyển.
Sau khi Phật diệt độ
Chánh pháp sẽ trụ đời
Đủ bốn mươi tiểu kiếp
Tượng pháp cũng như thế.

10.-

Các đệ tử của ta
Bực oai đức đầy đủ
Số đó năm trăm người
Ta đều sẽ thọ ký
Ở nơi đời vị lai
Đều được chứng thành Phật
Ta cùng với các ông
Đời trước kết nhân duyên
Ta nay sẽ thuật nói
Các ông khéo lóng nghe.

GIẢNG:

Ngài Ma-ha Mục-kiền-liên được Phật thọ ký sau này sẽ thành Phật hiệu làĐa-ma-la-bạt Chiên-đàn Hương Như Lai, kiếp tên Hỉ Mãn, nước tên Ý Lạc... cũngdo tu hạnh Bồ-tát, phụng thờ vô số đức Phật công hạnh viên mãn mới được thànhPhật.

Sau khi thọ ký cho bốn vị đại đệ tử xong, Phật hứa rằng năm trăm vị đạiđệ tử của Phật tuần tự sẽ được thọ ký. Không riêng gì đối với đệ tử lớn mànhững vị nhỏ, có khả năng tin thọ lời Phật dạy là được Phật bình đẳng thọ kýcho. Đây là một lối ấn chứng cho đệ tửđủ lòng tin mà an tâm tiến tu không lui sụt.

Qua phẩm Thọ Ký chúng ta thấy cõi nước của các vị Phật tương lai, cõinào cũng bằng phẳng, đất thì bằng vàng, bằng lưu-ly, trang nghiêm bằng bảy báu,đồ đệ là hàng Bồ-tát, Thanh văn vô số. Tuổi thọ của Phật thì rất lâu, chánhpháp, tượng pháp cũng lâu... Rồi chúng ta nghiệm lại đức Bổn sư Thích-ca Mâu-nicũng là một vị Phật, tại sao cõi Ta-bà của Ngài toàn là gò nổng, đất bùn sìnhnhơ nhớp, chúng sanh ở cõi này thì nhiều khổ đau phiền não, đồ đệ thuộc hàngBồ-tát, Thanh văn chỉ có một ngàn hai trăm năm mươi vị? Còn tuổi thọ của Ngàichỉ có tám mươi tuổi, chánh pháp của Ngài trụ thế có năm trăm năm, tượng phápmột ngàn năm?

Đức Phật Thích-ca sanh ở cung vua Tịnh Phạn xứ Ấn Độ giáo hóa cõi Ta-bànày là Phật ứng thân; chúng sanh ở cõi Ta-bà này vô minh nghiệp chướng sâu dày,phước mỏng, thì chánh báo và y báo của họ dĩ nhiên là thô xấu bất tịnh. Phật vìtừ bi tùy duyên ứng thân ở cõi này để cứu độ họ. Ví dụ như người ở thủ đô giàucó, ăn cao lương mỹ vị, ở nhà lầu đi xe hơi, sống rất sung túc sang trọng.Người đó thấy dân miền sơn cước quê dốt, thiếu ăn thiếu mặc, tình nguyện đến đóđể hướng dẫn dân miền này biết chữ, biết nghề nghiệp làm cho đủ cơm ăn áo mặc.Khi người thủ đô đến miền sơn cước ở thì đời sống của họ cũng đạm bạc khôngtiện nghi, vì chỗ ở này là chỗ ở tạm. Cũng vậy, đức Thích-ca ra đời ở cõi Ta-bànày là một chặng Hóa thân của Ngài để hóa độ. Cõi này là cõi tạm, Ngài ở mộtthời gian ngắn Ngài đi, nên tuổi thọ không dài. Còn cõi nước không thanh tịnhtrang nghiêm, vì chúng sanh cõi này đa phần phước mỏng nghiệp dày nên cũng cócác y báo chung như thế.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn