Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Chương 3

12/10/201007:26(Xem: 4080)
Chương 3

CHƯƠNG 3
BỐN ĐIỀU LÀM LÙI MẤT
TRÍ HUỆ CỦA BỒ TÁT

3. Bốn Điều Làm Lùi Mất Trí Huệ Của Bồ Tát

“Vào ngày ấy, Đức Thế Tôn dạy bảo Trưởng Lão Mahakasyapa (Ma Ha Ca Diếp) rằng: Này Đại Ca Diếp! Có bốn điều khiến cho trí huệ của một Bồ Tát bị sút giảm hoặc bị đánh mất. Bốn điều này là bốn điều gì? Đây là bốn điều làm thối thất, làm lùi mất đi trí huệ của một Bồ Tát:

1. Không tôn kính Phật Pháp và không kính trọng những vị Pháp sư, những bậc thầy dạy Phật Pháp;

2. Giữ lại Phật Pháp thâm sâu bí ẩn mà mình đã thụ lãnh và không chịu khai mở cho người khác một cách trọn vẹn;

3. Làm chướng ngại tinh thần những kẻ vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách gây tạo những nhân duyên lý lẽ làm cho họ hoang mang nản lòng;

4. Có lòng tự cao, tự đại, kiêu ngạo, ngạo mạn, và khinh thường những kẻ khác hay miệt thị những kẻ khác.

Đó là bốn pháp làm thối thất lùi mất trí huệ của Bồ Tát”.

Con người bình thường không thể nào so sánh được với bậc Bồ Tát; chỉ có những kẻ phi thường xuất chúng mới tiến lên gần gũi đôi chút với trí huệ Bồ Tát. Nhưng trí huệ của Bồ Tát cũng được thể hiện trong nhiều cấp bậc khác nhau từ địa thứ nhất (hoan hỷ địa) cho đến địa thứ mười (pháp vân địa). Những bậc Bồ Tát còn ở những giai đoạn thấp phải thường trực thức tỉnh, giữ gìn tâm thức trong sáng và trong sạch trọn vẹn để khỏi phải đánh mất trí huệ phi thường của mình. Đức Phật đã chỉ dạy bốn điều vô cùng quan trọng cho tất cả chúng ta, mỗi khi chúng ta muốn dấn bước vào con đường Bồ Tát Hạnh, chỉ khi nào lên tới bất động địa (địa thứ tám) thì mới hẳn là bất thối chuyển. Phải tu chứng bao nhiêu kiếp khó khăn mới may ra được lên địa đầu tiên thứ nhất (hoan hỷ địa). Tất nhiên, khi đã là bậc Bồ Tát ở sơ địa, ở địa thứ nhất (hoan hỷ địa), bốn pháp làm thối thất trí huệ không hẳn không còn tác động một cách vi tế, âm thầm lặng lẽ, khó nhận thấy dễ dàng.

Do đó, đức Phật đã dạy bảo Bồ Tát ngay từ đầu bốn điều cực trọng:

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình không kính trọng Phật Pháp và không kính trọng sư phụ.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình cố tình giữ giấu đạo lý bí ẩn thâm sâu mà mình đã được và không chịu mở bày, truyền đạt, giảng giải cho kẻ khác để đem lợi phúc cho họ.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình gây chướng ngại cho những kẻ vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách cho họ những lý do duyên cớ để họ chán nản, thoái chí thất vọng trong việc hành đạo.

Mình sẽ đánh mất đi sự thông minh của mình, mỗi khi mình nỗi lên lòng kiêu mạn, kiêu ngạo và kiêu hãnh, tự cao, tự phụ, khinh thường kẻ khác, không biết quý trọng kẻ khác.

Thế nào là không kính trọng Phất Pháp? Có nhiều dạng thái dễ nhận thấy, nhưng có nhiều hình thái khác rất khó nhận ra, nhưng rất nguy hiểm, như những trường hợp sau đây:

Bên ngoài lộ vẻ kính trọng Phật Pháp, nhưng bên trong tận đáy lòng thì vẫn dửng dưng thờ ơ;

Tách rời Phật Pháp với bản thân, với tâm thức của mình; có thái độ nhị tướng(phân ra hai thực thể tách biệt với nhau), một bên là Phật Pháp và một bên là bản thân tâm thức của mình;

Coi Phật Pháp như một môn ở trường ốc để biến thành đề tài hý luận, để khoa trương sở học “uyên bác” của mình;

Không thực hành Phật Pháp, không tu hành Phật Pháp vẫn là hình thức rõ rệt nhất về việc bất tôn trọng Phật Pháp; tuy là hình thức rõ rệt nhất nhưng vẫn khó nhận ra nhất, vì sự tu hành chỉ được thể hiện trong chiều kín đáo nhất và sâu thẳm bí mật nhất của tâm thức mình.

Thế nào là không kính trọng Pháp sư? Tất cả những thầy dạy Phật Pháp đều là những Pháp sư của mình, dù có vị chỉ dạy một chữ duy nhất thôi hay chỉ dạy bằng cách mỉm cười hay bằng một cái nhìn đầy từ bi hay bằng sự im lặng liên tục từ năm này qua năm khác. Kính trọng Sư phụ là luôn luôn nhìn Sư phụ với cái nhìn trong sạch(chữ Tây Tạng gọi là “dag snang” mà người Anh Mỹ dịch là “pure vision”, “pure perception”, tức là coi tất cả chúng sinh đều là trong sạch, hoàn thiệntự bản lai nguyên ủy).

Trong Kinh Ứng Hiện Về Tịnh Kiến(Dag snang sprul pa’i legs bam) Bồ Tát Thánh Tăng Shabkar của Phật giáo Tây Tạng đã giải thích về việc cần phải khai triển cái nhìn trong sạchtrong việc tin tưởng và tôn trọng kính ngưỡng tất cả những bậc Đạo sư, dù có những bậc Đạo sư không từ bỏ ngũ dục và đã sử dụng ngũ dục như là sự trang nghiêm cho mật hạnh của họ. Mình không là Phật và không được có cái nhìn dơ bẩn về những bậc Đạo sư thọ hưởng ngũ dục này và phải luôn kính trọng hoàn toàn tất cả bậc Đạo sư, không phân biệt gì cả. (Tất nhiên, khi mới bắt đầu học đạo thì cần phải biết phân biệt đâu là minh sư, đâu là tà sư, nhưng sau khi đã tu hành sâu rộng hơn thì tất cả mọi sự đều là cảnh hoạt hiện huyễn ảo của Đạo sư và tất cả hoàn cảnh xấu tốt đều trở thành bậc Thầy dạy đạo cho chính bản thân, cho chính tâm thức lưu chuyển vô tận của mình).

Tuy nhiên, một Đạo sư chân chính không bao giờ vướng kẹt vào ngũ dục, không bao giờ nô lệ vào sắc, thanh, hương vị và xúc. Một Đạo sư đúng nghĩa chẳng bao giờ bị trói buộc bởi tiền tài, danh vọng, sắc dục, ăn uống và ngủ nghĩ. Một Đạo sư đáng kính không bao giờ chỉ trích tấn công những Đạo sư khác một cách trực tiếp, một cách gián tiếp hay một cách mỉa mai ám muội.

Một trong những điểm nổi bật nhất dễ nhận thấy nơi một Đạo sư là lòng từ bi tự nhiên, tự phát và không có tính cách thảm kịch theo điệu tình cảm thường nhân.

Điểm sáng rực nhất ở một Đạo sư là sự khiêm tốn lạ lùng nhất và lòng kiên nhẫn phi thường nhất, đồng thời thể hiện sự đồng nhất dị thường siêu việt giữa Phật Pháp và Pháp sư. Không bao giờ có sự dị biệt hay tách rời mảy may giữa Phật Pháp và người dạy Phật Pháp. Mỗi một cử chỉ của bậc Thầy làm sống lại tất cả cử chỉ của chu Phật và chư Đại Bồ Tát. Mỗi một bậc Thầy là một vị Phật di động tự tại giữa sinh tử luân hồi. Do đó, kính trọng Phật Pháp cũng đồng nghĩa với việc kính trọng những vị Pháp sư, và kính trọng những vị Pháp sư cũng chính là tôn trọng Phật Pháp.

Điều thứ hai nêu ra ở trên: “nhận thọ giáo pháp thâm sâu bí ẩn mà chẳng nói hết cho những kẻ khác biết tới để tu hành”, “ôm lại những pháp môn thâm sâu bí ẩn mà mình đã lãnh thọ và không chịu khai mở truyền lại cho người khác một cách trọn vẹn”, điều này không có nghĩa rằng lúc nào cũng cần phải rao giảng, lúc nào cũng giảng nghĩa Phật Pháp, vì tất cả đều tùy thuộc vào thời, vào tiết, vào nhân và vào duyên. Phải có đủ bốn yếu tô hiện diện đồng lúc (thời, tiết, nhân và duyên) thì mới khai mở được trọn vẹn bất cứ việc gì trên đời này; hơn nữa, tùy thuộc vào căn cơ và tập khí từng người mà sự tương giao liên hệ mới được thiết lập một cách hữu hiệu tốt đẹp. Điều thứ hai ở đây chỉ nói lên lòng Bố Thí bao la của bậc Bồ Tát, và tất nhiên sự Bố Thí lớn lao nhất là Bố Thí Phật Pháp, bố thí hiến dâng tất cả giáo lý pháp môn của Phật Pháp toàn diện cho tất cả chúng sinh, vì lợi phúc hưng thịnh vô tận cho tất cả chúng sinh để long thịnh Phật chủng.

Điều thứ ba: “Làm chướng nạn cho những người ưa thích tu hành vì nói ra những lý lẽ giải thích khả dĩ gây ra sự chán nản thất vọng cho việc tu hành của họ”, “làm chướng ngại tinh thần những kẻ vốn vui sướng tu hành Phật Pháp bằng cách bày biện những duyên cớ lý do khiến cho họ hoang mang nản chí…”

Xin cử ra đây một trường hợp thường xảy ra: có những bậc chân tu lại bị trói buộc vào “chủ nghĩa khoa học vạn năng” (scientism) hoặc bị ảnh hưởng bởi một cách nông cạn bởi thuyết “triệt tiêu thần thoại” (demythologization) hay “phá hủy huyền thoại” theo điệu thần học Tin Lành của nhà thần học Rudolf Bultmann (gọi là “Ent-mythologisierung” trong Đức ngữ mà người Anh Mỹ gọi là “dethologizing” hay “religion without myth”, “tôn giáo không cần thần thoại”, loại bỏ huyền thoại”), họ liền đề nghị một thứ đạo Phật không còn thần thoại hay linh thoại gì cả. Họ đả kích những lời lẽ trong kinh Phật có liên hệ tới những điều khó hiểu như việc đức Phật sinh ở nách hay hông của hoàng hậu mẫu thân hay như 32 tướng của đức Phật, và họ tự cho rằng “ người đời sau tự ý bày đặt thêm vào những điều thần thoại như việc đức Phật hiện thân làm con voi trắng sáu ngà vào thai mẹ , đức Phật từ hông của mẹ mà nhập thai, 32 tướng tốt của đức Phật, vân vân, nghĩa là người đời sau làm interpolation, vân vân…”

Dù với thiện chí cao cả nào đi nữa trong việc “canh tân” hay “hiện đại hóa” giáo lý Phật Giáo, những việc làm vừa nêu ra ở trên của những bậc chân tu (hay những bậc “thiền sư hiện đại”) đều vô tình phô bày ra những hiện trạng quái lạ sau đây:

Gây ra nỗi hoang mang, lòng bối rối ngờ vực hoài nghi trong tinh thần yếu đuối của những Phật tử thuần thành chất phác.

Khiến cho họ trọng vọng những tiêu chuẩn nhất thời của những khoa học hữu hạn thuộc phạm vi thế tục, hơn là sống hồn nhiên trọn vẹn vào trong cõi bí mật linh thiêng của thế giới tâm linh.

Ngờ vực hoài nghi là điều rất tốt để tránh khỏi tất cả mê tín dị đoan, nhưng có khả năng biết ngờ vực, biết hoài nghi đúng chỗ là điều vô cùng khó khăn, không dễ thực hiện được, nếu chúng ta không ý thức được trọn vẹn giới hạn của ngôn ngữ, của lý trí và của sự hiểu biết.

Hơn nữa, sau đây là đôi điều đáng lưu ý:

Không phải tất cả những thần thoại đều là “hoang đường” hay đều là “huyền thoại”, mỗi một thần thoại đều chứa đựng những ý nghĩa bí ẩn siêu việt vô cùng phong phú khả dĩ nuôi dưỡng chiều tâm linh sâu thẳm nhất của linh thức con người (tất cả sự nghiệp khảo cứu của Joseph Campbell đều nói lên điều đáng nói này);

Đối với Phật Pháp, tất cả đều giống như mộng, huyễn, bào, ảnh, vân vân và tất cả đều nằm trong tinh thần “bản lai vô nhất vật” của Lục Tổ Huệ Năng, do đó, không thể lấy tiêu chuẩn và lý do từ những “cái có thực” để giải trừ những “cái không có thực”, khi tất cả những gì người ta cho rằng “có thực” đều bị Phật Pháp phủ nhận rằng tất cả những cái ấy đều không có thực. Vì ngay đến cả bản thân của con người chỉ là sự giả hợp của ngũ uẩn, tức là sự giả hợp của năm loại “thần thoại” khủng khiếp nhất: “thần thoại” do sắctạo ra, “thần thoại” do thọtạo ra, do tưởng, hành, và thứctạo ra; “thần thoại” do năm uẩn tạo ra đồng lúc. Và chính những danh từ như sắc, thọ, tưởng, hành, thứcđều là những “giả danh” hay “những thần thoại”, “những huyễn thoại” của ngôn ngữ vọng niệm và của vọng tưởng.

Không thể áp dụng phương pháp thần học Tin Lành hay thần học Thiên Chúa Giáo vào trong lãnh vực Phật Giáo, vì một lý do dễ hiểu nhất là thần học đặt trọng tâm vào cái Hữu(viết hoa) và cái hữu(viết thường) đang khi Phật giáo đã phủ nhận hữuvà phủ nhận từ bước đầu, mặc dù do lòng Đại Bi mà không bao giờ bỏ quên tục đếhay thế đế, thế mà vẫn vô ngại chứng nhập đệ nhất nghĩa đế(Trí Tuệ Khôn Tính, Trí Tuệ Bát Nhã vô tự tính) và đồng hóa thuyết duyên khởi với Không Tính siêu việt. Vào lúc cuối đời, nhà thần học Tin Lành Paul Tillich đã muốn áp dụng cái nhìn của Phật giáo vào nên thần học của mình, sau khi ông đã được gặp gỡ thảo luận với những thiền sư Nhật Bản, đang khi ấy, những thiền sư của Việt Nam lại làm chuyện ngược và lạ lùng: áp dụng Thần Học Tin Lành vào Phật Giáo!

Do duyên cớ gì mà Đức Phật hiện thân tợ bạch tượng sàu ngà vào thai mẹ?”, “Do duyên cớ gì Bồ tát từ hông của mẹ mà nhập thai”,vân vân, đều được giải đáp cặn kẽ một cách viên thông trong kinh Đại Thừa Phương Tiện Hội(Kinh 38, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh 310, trang 594-607), chúng ta chỉ cần tụng đọc lại đầy đủ kinh luận thích ứng thì tránh được cái tội đổ oan cho “người sau bày đặt thêm thắt vào” (“interpolation”).

Còn riêng về 32 tướng của Đức Phật thì cần đọc tụng lại Tổ Sư Long Thọ (Nagarjuna) nơi luận Rājaparikathā-ratnamāla(đoạn thi kệ thứ 176 cho đến đoạn thi kệ thứ 200). Nơi những đoạn thi kệ này, Tổ sư Long Thọ đã giải thích những nhân duyên nào lại tạo ra 32 tướng của Chuyển Luân Thánh Vương và của chư Phật. Đồng thời ngài cũa cho ta thấy được ý nghĩa siêu việt diệu tướng của 32 tướng của tất cả chư Phật.

Tất cả kinh điến Phật giáo đều liệt kê 32 tướng của chư Phật, nhưng vì sợ chấp tướng và hiểu sai ý nghĩa “vô tướng” trong Phật Giáo; vì hiểu sai câu kinh “Như Lai sở thuyết thân tướng tức phi thân tướng” hoặc mấy câu kinh “Như Lai thuyết tam thập nhị tướng tức thị phi tướng, thị danh tam thập nhị tướng” của Kinh Kim Cương Bát Nhã; vì chỉ giữ lại “tức phi” và “tức nhị phi” mà không đồng lúc giữ lại luôn “thị danh”; hoặc vừa giữ vừa bỏ đồng lúc; hoặc chỉ nhấn mạnh “sắc bất dị không” mà bỏ quên “không bất dị sắc” cho nên các nhà thiền sư hiện đại lại thoải mái hoạt hiện thái độ “tẩy trừ thần thoại” (demythologizing) theo điệu thần học Tin Lành Rudolf Bultmann vào lòng kinh điển Phật Giáo! Đây là điều ngộ nghĩnh, rất tức cười, nhưng chúng ta không nên cười, chỉ cần mỉm cười nhẹ nhàng, vì không nên bao giờ bỏ quên điều thứ tư mà đức Phật đã dạy chúng ta: “Kiêu mạn tự cao và khinh thường kẻ khác là điều thứ tư làm cho thối thất trí huệ Bồ Tát.”

Chúng ta thường lầm lẫn ý nghĩa đích thực của sự phê bình với thái độ chỉ trích hạ thấp người khác. Phê bình đúng nghĩa là để cho ánh sáng được là ánh sáng và để cho bóng tối được là bóng tối, dù không thể làm cái việc “để cho…” thì chỉ tỏ cho kẻ khác nhìn thấy đâu là sáng và đâu là tối, đâu là trưa, đâu là chiều và hoàng hôn, vân vân. Có những thế lực vô minh mà mình không thể đồng lõa được. Cần nói lên những điều cần nói với tất cả khiêm tốn và khiêm hạ đúng mức, và không giả vờ khiêm tốn để tự cao kiêu mạn một cách vi tế kín đáo. Một người bình thường chỉ im lặng cho lắng xuống tận đáy lòng chừng vài ba phút thì đủ thấy tất cả sự tối tăm lù mù của tâm thức mình và không thể nào tự dám lường gạt với dáng điệu kiêu căng ngạo mạn hay dám khinh thường bất cứ ai trên đời này. Trí huệ của Bồ Tát sẽ tắt ngay lập tức nếu Bồ Tát móng lên một ý tưởng mảy may khinh thường bất cứ chúng sinh nào.

Khinh thường người khác chính là tự khinh thường mình, vì mình là tất cả người khác, tất cả chúng sinh khác. Kiêu mạn và tự cao chỉ là ảo ảnh của mình về vị thế “độc lập” của tự thể: Phật giáo phá vỡ những cái gọi là “độc lập” của “tự thể”, của “bản thể” và của “hữu thể”. Tất cả những cái gọi là “thể” đều là giả danh, đều không có “tự tính”. Bồ Tát còn phiền não lay động từ “bản thể” và “tha thể” thì liền đánh mất Trí Huệ siêu thể và bị trói buộc vào nhị tướng (tướng phân hai).

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn