Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   

Sách: Nghệ Thuật Diễn Giảng

05/04/201421:04(Xem: 3904)
Sách: Nghệ Thuật Diễn Giảng


NgheThuatDienGiang_ThichPhuocThai


Nghệ Thuật Diễn Giảng

*****

Lời giao cảm

I.- Lý tưởng Hoằng Pháp

  1. Đức Phật là bậc Thầy gương mẫu
  2. Chủng duyên Phật pháp sâu dầy
  3. Chủng tánh Đại Thừa
    1. Trưởng tử Như Lai
    2. Tục Phật Huệ Đăng
    3. Trách vụ cao thượng
    4. Đầu tàu lịch sử truyền thừa

II.- Trau giồi kiến thức: Phật pháp và thế pháp

  1. Nỗ lực nghiên tầm giáo lý.

  1. Đối tượng học hỏi:

2.1 Kinh điển

2.2 Sách ngoại điển

2.3 Năng đọc sách

2.4 Báo chí

2.5 Điện toán

2.6 Thầy bạn trực tiếp

2.7 Trường đời

2.8 Trường đạo

2.9 Xã hội

III.- Rèn luyện khả năng.

  1. Rèn luyện trí nhớ
  2. Thái độ.
  3. Cử chỉ.
  4. Điệu bộ.
  5. Giọng nói
  6. Sức khoẻ
  7. Thu thập tài liệu
  8. Chọn đề tài
  9. Phương pháp làm dàn bài

IV.- Trau giồi Đạo Đức

  1. 1. Tự thân:

  1. Trau giồi giới đức
  2. Tri hành hợp nhất
  3. Sống đúng chánh pháp.
  4. Nghiêm túc sửa sai.

2.Tha nhân:

2.1 Ứng dụng Tứ nhiếp pháp

2.2 Lễ độ khiêm cung

2.3 Cung cách trong tứ oai nghi

2.4 Khoan dung, rộng mở cõi lòng

2.5 Tinh thần từ bi và vị tha

2.6 Luôn giữ nụ cười trên môi

2.7 Tránh nói lỗi chỉ trích phê bình người khác

2.8 Nhẫn nại vượt qua mọi nghịch cảnh

V. Hành Bồ Tát Đạo.

  1. Phục vụ nhân sinh
  2. Cải hóa xã hội
  3. Gieo rắc hạnh phúc
  4. Phật pháp hóa nhơn gian
  5. Vô trụ tướng

Lời Kết

Lời giao cảm

Khi biên soạn tập tài liệu nhỏ nầy, mục đích chính của chúng tôi là nhằm giúp thêm tài liệu cho quý tăng ni học chúng tại Tổ Đình Phước Huệ. Từ trước tới nay trong mỗi mùa an cư tại Tổ Đình, quý tăng ni học chúng đều có học qua các môn: Kinh, Luật và Luận. Ngoài ra, họ còn phải học thêm các bộ môn khác như: lịch sử, nghi lễ, hành chánh v.v... đặc biệt nhất là phần nghệ thuật diễn giảng. Riêng trong mùa an cư của năm 2007, Hòa thượng Tông Trưởng có sai bảo chúng tôi, nên biên soạn tài liệu để hướng dẫn giúp cho học chúng về vấn đề nghệ thuật diễn giảng. Hòa thượng thường nói với chúng tôi, người xuất gia muốn làm giảng sư, không phải chỉ có kiến thức Phật pháp không thôi là đủ, mà nó còn đòi hỏi phải có nhiều khía cạnh khác, nhất là phần nghệ thuật diễn giảng. Hòa thượng cũng thường khuyến khích khuyên bảo học chúng: “sống trong thời đại mới nầy, các vị nên cố gắng trau giồi thêm về những kiến thức ngoại điển để có thể thích nghi với trào lưu tư tưởng của nhơn loại trong việc hoằng hóa”. Nhờ sự khuyến tấn của Hòa thượng nên trong mùa an cư năm 2007, chúng tôi mới có cơ hội cố gắng biên soạn tập tài liệu nhỏ nầy. Tôi thường nói với học chúng: “ngày xưa, các bậc Thầy Tổ của chúng ta trước khi đi diễn giảng Phật pháp, các ngài cũng phải trải qua học một khóa huấn luyện giảng sư. Ngày nay, nếu chúng ta muốn trở thành một giảng sư trong hiện tại, hoặc tương lai, thì chúng ta cũng cần phải biết qua một số vấn đề thiết yếu có liên quan đến việc thuyết giảng.”

Cần nói rõ, những đề mục trong tập tài liệu nhỏ nầy, thật ra không phải chỉ có bấy nhiêu đó là đủ để hoàn thành vai trò của một giảng sư. Chẳng qua nó chỉ giúp phần nào để cho quý vị nương đó mà triển khai thêm. Ngoài ra, còn có sự sáng kiến linh động của mỗi vị. Chúng tôi chỉ gợi ý cho quý vị có thêm chút ít tư liệu căn bản, để khi ra thật hành không còn bị bỡ ngỡ trở ngại khó khăn lắm.

Vẫn biết, bản thân chúng tôi chưa phải là người có đủ khả năng trong lãnh vực chuyên môn nầy, nhưng vì Hòa thượng sai bảo, nên chúng tôi buộc lòng phải vâng lời làm theo mà thôi. Trong tinh thần học hỏi trao đổi kinh nghiệm cho nhau, chúng tôi biết được tới đâu, thì chúng tôi sẵn sàng trao đổi giúp cho quý vị tới đó. Mong sao quý vị hiểu và cảm thông cho.

Điều quan yếu mà chúng tôi muốn nhấn mạnh và trao đổi cùng quý học chúng ở đây là, như quý vị đã biết, trong nhiều năm qua, Hòa thượng đã hết lòng đào tạo và mong mỏi chúng ta phải thực hiện cho kỳ được vai trò của một giảng sư, giáo thọ sư hay trụ trì v.v… Đó là điều mong muốn thiết tha của Hòa thượng. Là người đệ tử, chúng ta đã thọ ân sâu dầy của Ngài, Ngài đã bỏ ra rất nhiều công sức dạy dỗ chúng ta, thì không gì một lý do gì mà chúng ta lại làm phụ lòng Hòa thượng đã tận tâm ân cần quan hoài chiếu cố.

Hơn nữa, việc làm nầy là bổn phận trách nhiệm của người tăng sĩ:"Tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự". Hay “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi bản hoài” . Vì vậy, chúng ta không thể nào thờ ơ xao lãng trong vai trò trách nhiệm hoằng pháp lợi sinh nầy được. Để đáp đền phần nào công lao của Thầy Tổ dạy dỗ, mỗi người chúng ta cần phải cố gắng quyết tâm thực hiện cho kỳ được việc làm nầy. Đó cũng là điều tha thiết mong mỏi của chúng tôi.

Trong thâm tình huynh đệ, chúng tôi chỉ xin có đôi lời tâm sự bày tỏ cùng chư huynh đệ. Chúng tôi kỳ vọng trong khóa an cư năm nay (2007), là cơ hội tốt để quý vị trau giồi học hỏi thêm nhiều kiến thức Phật pháp trong ý nguyện "hạnh giải tương ưng". Được thế, thì chẳng những Hòa thượng ân sư của chúng ta vui mà tất cả chúng ta cũng đều vui, vì đã đạt được kết quả như ý muốn vậy.

Điều sau cùng, chúng tôi mong mỏi quý vị đọc cho thật kỹ qua từng đề mục của tập tài liệu bé nhỏ nầy, từ đó, quý vị có thể triển khai rộng thêm và góp thêm ý kiến cùng chúng tôi, để cho tập tài liệu căn bản nầy được dồi dào phong phú hơn.

Đó là những lời tâm tình giao cảm của chúng tôi đối với quý tăng ni học chúng. Lẽ ra tập tài liệu nầy sẽ được in ấn lưu hành nội bộ sau đó, nhưng vì thiếu cơ duyên nên mãi đến hôm nay mới đủ thuận duyên để ấn hành. Dù đây là tài liệu mang tính lưu hành nội bộ, nhưng nếu nó được nằm trong tay của quý độc giả nào có hứng thú tìm hiểu, thì đó cũng là một niềm hân hạnh quý báu của soạn giả. Tuy đã có cố gắng trong khi biên soạn, nhưng không sao tránh khỏi những lỗi lầm thiếu sót. Kính mong quý học chúng và quý độc giả lượng tình thứ lỗi bỏ qua cho những điều thiếu sót đó. Soạn giả xin hết lòng lắng nghe sự góp ý và chỉ giáo của quý vị.

Xin chân thành cám ơn quý vị.

Kính chúc quý vị chóng đạt thành sở nguyện.

Thân ái trân trọng kính chào.

Ngày đầu an cư năm 2014.

Thích Phước Thái.

I.- LÝ TƯỞNG HOẰNG PHÁP

1. Đức Phật là bậc Thầy gương mẫu

Hoằng pháp là một lý tưởng nghĩa vụ thiêng liêng vô cùng cao cả. Hoằng pháp là mở rộng tâm thức tự ngã và tha nhân. Thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ chiếu soi phá tan màn vô minh tăm tối của ta và người, đó là trách vụ của người hoằng pháp. Có thắp sáng như thế, thì ta và người mới thực sự có nhiều lợi lạc.

Biểu trưng cho việc hoằng pháp cao tột nầy là đức Phật. Sau ngày thành đạo, đức Phật đã đem nguồn tuệ giác, ánh sáng giác ngộ soi sáng khắp nhân gian. Ròng rã suốt 49 năm, Ngài đã vân du hóa đạo khắp xứ Ấn Độ. Việc hoằng hóa của Ngài quả là một tấm gương sáng chói đáng để cho chúng ta noi theo.

Trên bước đường giáo hóa, Ngài đã gặp rất nhiều chướng duyên thử thách, từ trong nội bộ tăng đoàn cho đến hàng ngoại đạo. Nhưng Ngài chưa bao giờ chùn bước trước những khó khăn gian lao thử thách đó. Với tấm lòng Từ bi, Vị tha cao cả, Ngài đã bất chấp mọi gian lao chướng ngại. Không có một trở lực nào đủ sức làm cho Ngài chùn chân nản chí. Vì Ngài đã tự trang bị cho mình một ý chí sắt đá sáng ngời bất khuất; một lý tưởng chỉ hướng cao siêu, chỉ vì một mục đích duy nhất: “Mở bày Tri Kiến Phật cho tất cả chúng sanh”. Ngài đã từng nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Câu nói đó, phải chăng Ngài đã đề cao con người lên đến chỗ tột đỉnh của sự tự do bình đẳng tuyệt đối. Giá trị phẩm cách nhân bản đích thực của con người là ở chỗ đó.

Hơn nữa, Ngài cũng đã từng tuyên bố: “Ta chỉ là một bậc Đạo Sư, tức là một ông Thầy chỉ đường”. Phác họa một lộ trình hướng thượng theo chiều hướng giác ngộ giải thoát. Đồng thời Ngài cũng nêu rõ một lộ trình hướng hạ theo chiều hướng vô minh tạo nghiệp trầm luân sanh tử. Qua hai lộ trình đó, tùy chúng sanh chọn lựa khởi hành. Nhiệm vụ ra đời của đức Phật có mặt với nhân sinh chỉ ngần ấy sự việc mà thôi.

2. Chủng duyên Phật pháp sâu dầy

Việc thăng tòa thuyết pháp không phải ai cũng có được cái thắng duyên hy hữu nầy. Nếu như đời trước, ta không gieo trồng thiện căn sâu dầy với Phật pháp, thì đời nay làm gì ta có thể gặp được Phật pháp? Đã gặp được Phật pháp mà lại còn được thế phát xuất gia sống trong một môi trường lý tưởng hướng thượng, gần gũi các bạn đồng hạnh thiện tri thức và với một bậc Thầy có đầy đủ đức độ trí tuệ để thường xuyên trau giồi học hỏi, thì đây quả là một duyên phúc căn lành của chúng ta rất lớn vậy.

Có người, tuy cũng có nhân duyên với Phật pháp, nhưng không sâu dầy, nên chủng tánh học hỏi Phật pháp của họ rất là nông cạn, thậm chí còn không có. Có người tuy xuất gia ở chùa nhưng họ không chịu học hỏi Phật pháp. Nếu có người khuyên nhắc họ thì họ lại viện dẫn đủ mọi lý do để trốn tránh. Hạng người nầy tuy có nhân duyên xuất gia mà họ thiếu nhân duyên học Phật. Nên hôm nay họ không mấy thích nghe Phật pháp. Có người đến chùa, chỉ thích làm công quả, bảo đâu làm đó, họ không từ nan bất cứ điều gì, nếu xét thấy khả năng của họ có thể làm được. Nhưng bảo họ đi nghe pháp, thì họ lại tìm cách trốn tránh ngay.

Có người vì nể thầy, nể bạn, cũng vào giảng đường nghe giảng, nhưng họ không quan tâm theo dõi mà họ hết nói chuyện người nầy sang nói chuyện người khác, hoặc giả không ai nói với họ thì họ lại ngủ gà ngủ gật. Hạng người nầy, quả thật căn lành Phật pháp của họ quá kém cỏi cạn cợt. Hơn nữa, chủng tánh nghe pháp của họ không có, thì làm sao mà thâm hiểu được giáo lý? Thật là đáng thương xót lắm thay!

Hôm nay, chúng ta được cái duyên lành rất lớn là được học hỏi chánh pháp, có thầy, có bạn hướng dẫn chỉ giáo, thì đây quả là một điều phúc báo rất lớn lao hy hữu. Được như thế, thì tại sao ta lại tự phụ cái căn lành sâu dầy của mình, mà không chịu cố gắng học hỏi để hoàn thành sứ mạng của một người tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức? Vì vậy, chúng ta nên nỗ lực nghiên tầm học hỏi để trau giồi thêm cho việc hoằng pháp lợi sinh vậy.

3. Chủng tánh Đại thừa

Đã có cái chủng nhân xuất gia, nhưng được nghe học hỏi giáo pháp Đại thừa cũng không phải là chuyện dễ. Cần phải có chủng tánh Đại thừa mới có thể nghe và tiếp nhận được. Vì giáo pháp Đại thừa quá cao siêu, vượt ngoài trí năng hiểu biết thường tình của con người.

Đối với giáo lý Tiểu thừa (Nguyên thủy), Phật còn tùy cơ thuyết giáo để đối trị, như vị lương y tùy theo mỗi bệnh nhân mà cho thuốc, thì người học còn dễ hiểu đôi chút. Ngược lại, đối với giáo lý Đại thừa (Phát triển), thì Phật không còn áp dụng phương pháp đối cơ nữa, mà những lời Phật dạy nằm trong phạm trù khế lý. Phật chỉ bày cái chân lý tuyệt đối nơi mỗi con người, đó là Phật tánh hay Chơn như. Thể tánh nầy là bản thể của muôn pháp. Ở nơi loài hữu tình, thì gọi là Phật tánh, ở nơi loài vô tình thì gọi là pháp tánh. Cái thực thể nầy nó vượt ngoài mọi phạm trù đối đãi, nhân duyên. Do đó, nên thật là khó hiểu khó nhận.

Điều khó đó, mà hôm nay chúng ta lại có. Có nghĩa là chúng ta đang tu học và hành trì theo giáo lý Đại thừa thì quả là trong quá khứ chúng ta cũng đã từng gieo hạt giống Đại thừa vào trong tâm điền, nên nay mới có đủ cơ duyên để nghe và học hỏi như thế nầy.

4. Trưởng tử Như Lai

Người xuất gia, sau khi thọ đại giới được coi như là trưởng tử trong hàng tứ chúng. Dù Tăng hay Ni cũng thế. Đã là trưởng tử, người con lớn của Phật, tất nhiên phải có trọng trách gánh vác thay Phật tuyên dương chánh pháp.

Phật pháp được truyền bá lâu dài, cũng do hàng trưởng tử nầy. Vai trò và trọng trách của hàng trưởng tử nầy được Phật giao phó rất nặng nề. Phật pháp hưng thạnh hay suy vi cũng do hàng trưởng tử nầy. Vì vậy, chúng ta được mệnh danh là con đầu lòng của chánh pháp, là trưởng nam, trưởng nữ của lịch sử truyền thừa, thì chúng ta cần phải làm sao cho xứng danh với việc phó chúc của Phật, cũng như hàng Phật tử tại gia, họ đang đặt hết tin tưởng kỳ vọng ở nơi chúng ta.

Phật tử tại gia họ ủng hộ tứ sự cúng dường cho ta, cũng chỉ vì một niềm tin kỳ vọng duy nhứt là muốn cho ta có đủ phương tiện tu học, có đủ tài đức mà đảm đang gánh vác việc truyền bá chánh pháp của Phật được bền bỉ lâu dài. Tam Bảo có được duy trì trường cửu ở thế gian, thì nhơn loại mới giảm bớt đi sự khổ đau. Bằng vắng bóng sự tu học truyền bá nầy, thì thế gian thật là tràn đầy đau khổ! Bấy giờ tà giáo lộng hành, thì con người không biết sẽ đi về đâu?! Ý thức được trọng trách nầy chúng ta cần phải cố gắng tu học để xứng đáng là trưởng tử, là chúng trung tôn của đấng Điều Ngự vậy.

5. Tục Phật huệ đăng

Cụm từ nầy nói lên cái trách nhiệm của người xuất gia, ở vào thế hệ đàn anh. Nghĩa là người đi trước phải có nhiệm vụ dẫn dắt đào tạo người đi sau. Nếu người đi trước mà thờ ơ xao lãng vai trò bổn phận của mình, thì người đi sau sẽ không có nơi nương tựa học hỏi. Vì vậy mà ta cần phải hướng dẫn chỉ dạy cho những thế hệ xuất gia trong tương lai. Muốn thế, thì hiện tại ta cần phải gia công nghiên tầm học hỏi. Nhất là đối với những vị xuất gia còn trẻ đang theo học chương trình ngoại điển, càng phải cố gắng hơn nữa trong việc nghiên tầm nội điển hầu để có đủ kiến thức Phật pháp mà hướng dẫn giảng dạy cho thế hệ hậu lai. Có tiếp nối ánh sáng như thế, thì Phật pháp mới có cơ hội để phát triển lâu dài trên thế gian nầy.

Nếu như thế hệ Tăng Ni sinh trẻ hôm nay thiếu ý thức cơ bản nầy, thì những thế hệ trẻ mai sau sẽ không làm sao thâm hiểu được Phật pháp. Thế nên cái nhiệm vụ tục Phật huệ đăng tức nối lửa tiếp đèn rất là thiết yếu. Nó rất thiết yếu, khác nào như hơi thở duy trì mạng sống vậy.

6. Trách Vụ Cao Thượng.

Trong tất cả các pháp bố thí, bố thí pháp là hơn hết. Trong tất cả các pháp cúng dường chư Phật, chỉ có phục vụ chúng sanh, mới thực sự là cúng dường chư Phật. Trong ngàn cách báo ân, chỉ có thuyết pháp khuyên chúng sanh tu hành đúng theo chánh pháp, đó mới thực sự là báo ân chư Phật.

Nêu ba vấn đề hệ trọng trên, để chúng ta thấy rằng, trách vụ của người hoằng pháp thật là cao thượng. Cao thượng ở chỗ, người hoằng pháp hy sinh tất cả, chỉ có một mục đích duy nhất là mang ánh sáng giác ngộ của đạo Phật đến cho mọi người, để mọi người nhận chân được giá trị của cuộc đời là phù du tạm bợ hư ảo. Mà trực nhận được cái thực thể Chơn thường bất sanh bất diệt. Từ đó, họ sẽ hướng thượng thăng hoa trong cuộc sống, và đời họ sẽ cảm thấy hoàn toàn an vui hạnh phúc. Nhưng, muốn được sự cao thượng đó, người hoằng pháp trước hết phải tự trang bị cho mình có đủ chất liệu Phật chất, tức là phải giác ngộ, tuy không được toàn phần như Phật, Bồ tát, nhưng ít ra cũng phải có giác ngộ từng phần. Có giác ngộ, chúng ta mới có cái nhìn sắc bén thấu đáo sâu sắc vào vạn pháp. Hằng sử dụng Trí Bát nhã để quán chiếu thật tướng của sự vật, tất cả chỉ là duyên sanh hư giả. Có thường xuyên quán chiếu và sống đúng với chân lý như thế, thì mọi sự chấp trước đắm nhiểm theo vật dục thế gian của chúng ta sẽ dần dần tan biến không còn có tác dụng gây ra thảm họa đau khổ nữa.

7. Đầu Tàu Của Lịch Sử Truyền Thừa.

Dù ở bất cứ thời đại nào, vai trò hoằng pháp của người Tăng sĩ cũng phải được xem như là đầu tàu của lịch sử. Sở dĩ ngày nay chúng ta còn biết đến giáo pháp của Phật, còn có được nếm chút ít mùi vị Phật pháp và có được sự lợi lạc ở nơi bản thân, tất cả đều nhờ công lao truyền bá của các bậc Tăng già trong quá khứ cũng như trong hiện tại.

Các Ngài luôn đóng vai trò then chốt trong việc truyền thừa chánh pháp. Mạng mạch của Phật giáo trong hiện tại và mai sau, có được duy trì và phát triển truyền bá sâu rộng phổ cập hay không, tất cả đều do trọng trách của hàng Tăng sĩ. Trọng trách đó, hiện tại là tất cả chúng ta. Thiếu hay vắng đi sự truyền thừa tiếp nối nầy, thì đạo Phật sẽ chỉ còn lại là một cái xác ướp khô cứng. Khác nào như những món đồ cổ quý giá được trưng bày trong bảo tàng viện, không làm lợi lạc gì cho ai cả. Mọi giá trị sinh lực linh hoạt của Phật giáo sẽ không còn nữa. Vì vậy, sứ mạng của chúng ta là cần phải nỗ lực tiếp nối cái đầu tàu lịch sử truyền thừa nầy. Như thế, chúng ta mới thực sự là con của đấng Pháp Vương Điều Ngự, là trưởng tử của Như Lai. Bằng ngược lại, thì thật là tủi hổ với danh xưng hàng Thích tử.

II.- TRAU GIỒI KIẾN THỨC: PHẬT PHÁP VÀ THẾ PHÁP

1. Nỗ lực nghiên tầm giáo lý

Nhu cầu không khí đối với con người thật không thể nào thiếu được. Ta có thể thiếu ăn, thiếu mặc không sao. Nhưng nếu thiếu không khí để hít thở, thì đời ta sẽ hóa ra người thiên cổ. Cũng thế, nhu cầu học hỏi nghiên tầm giáo lý đối với người tu xuất gia của chúng ta cũng không thể nào thiếu được. Biết rằng, so sánh như thế có hơi quá đáng. Nhưng có so sánh như thế để chúng ta thấy rằng việc học hỏi Phật Pháp rất là hệ trọng. Bởi vì, người xuất gia mà không thông hiểu giáo lý, thì còn gì là ý nghĩa của sự xuất gia tu hành. Giống như một người mù đi trong đêm tối. Đã mù mà còn đi trong đêm tối, thì tránh sao khỏi cảnh sa hầm sụp hố.

Có học hỏi giáo lý, ta mới hiểu được lời Phật dạy, biết rõ đường lối tu hành mà ứng dụng thật hành mới không bị sai lạc. Thế nên, dù ở bất cứ hạng tuổi nào, nhất là đối với thế hệ tăng ni sinh trẻ, chúng ta cần phải gia công nỗ lực học hỏi không ngừng. Có thế, thì mới nói đến việc độ mình, độ người. Bằng không, thì việc xuất gia tu hành của ta chỉ là một con số không rổng tuếch. Tổ Qui Sơn dạy: “ Giáo lý chưa từng để lòng, thì chỗ huyền đạo, do đâu mà được khế ngộ?” (Giáo lý vị thường thố hoài, huyền đạo vô nhơn khế ngộ).

Ngoài việc nghiên tầm nội điển ra, ta còn cần phải học những môn học ngoại điển, theo chương trình đời. Chương trình đời, nó cũng giúp cho ta mở mang thêm kiến thức. Sống giữa thời đại văn minh tân tiến vượt bực ngày nay, ta không thể nào không lưu tâm học hỏi. Ta không thể thu hình trong ốc đảo chủ quan mà cần phải khách quan để tìm hiểu. Nếu không, thì ta sẽ trở thành lạc hậu mất. Nhất là đối với ngành điện toán, nó giúp ích cho ta rất nhiều trong việc truyền bá chánh pháp. Tuy nhiên, khi sử dụng nó, ta phải hết sức thận trọng. Nên có tâm niệm, nó chỉ là phương tiện. Bởi vì, loại máy móc nầy, nó có sức hút hấp lực rất mãnh liệt. Nếu không khéo, ta sẽ trở thành một kẻ nô lệ cho nó hoàn toàn. Nó là con dao hai lưỡi, khéo biết dùng nó, thì rất có lợi cho việc nghiên cứu học hỏi, bằng ngược lại, thì rất là tai hại.

Có người, họ đam mê đến nỗi quên hết mọi việc, không còn biết trời trăng mây nước là gì. Họ đã bị nó khống chế làm chủ sai khiến hoàn toàn. Trên đây, chúng tôi nêu ra một cách tổng quát về việc nghiên tầm học hỏi qua hai lãnh vực : nội điển và ngoại điển. Giờ đây, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về những đối tượng của việc học hỏi nầy.

2. Đối tượng học hỏi

2.1. Kinh Điển.

Kinh điển của Phật giáo, nếu nói về Hán tạng thì có quá nhiều. Nhiều đến nỗi mà một người bỏ ra cả đời để đọc cũng không thể nào hết được. Kinh điển của Phật giáo có Nhị tạng và Tam tạng. Nhị tạng, tức Thanh văn tạng và Bồ tát tạng. Nói rõ hơn là Tạng Kinh Tiểu Thừa và Tạng Kinh Đại Thừa. Đây là hai hệ thống Kinh điển: Pali và Sanscrit đã được lưu truyền từ xưa đến nay.

Tạng Pali thì được lưu truyền rộng rãi ở các nước Phật giáo Nguyên Thủy, như Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan v.v…Tạng Kinh Sanscrit khi truyền sang Trung Hoa đã được chư Tổ dịch ra Hán văn. Đây là Tạng Kinh Đại Thừa đã được lưu truyền rộng rãi ở các nước thuộc Đại Thừa Phật giáo như Trung Hoa, Nhật Bổn, Đại Hàn, Việt Nam v.v… Mỗi Tạng đều có đầy đủ ba phần: Kinh, Luật, Luận. Riêng Hán tạng, hiện nay, người ta đã và đang nỗ lực dịch sang Việt ngữ. Hy vọng trong tương lai không xa, chúng ta sẽ có bộ Đại Tạng Kinh bằng Việt ngữ. Riêng về Đại tạng Kinh Pali đã được Hoà thượng Thích Minh Châu dịch sang tiếng Việt.

Tuy nhiên, đối với ba Tạng Kinh, ta phải khéo chọn lựa những loại nào phù hợp với trình độ của ta để ta nghiên cứu. Có người mới học một vài quyển Kinh, hoặc nghe lõm bõm một số băng Kinh, rồi tự mãn cho là đủ, không cần tìm hiểu học hỏi nữa. Người tự mãn như thế, thật không bao giờ tiến bộ. Đó là ta mắc phải cái bệnh "Sở tri chướng" khá nặng vậy.

Đối với chúng ta, muốn trở thành một giảng sư trong hiện tại và mai sau, ta không thể nào có cái tâm tự mãn đó. Phải luôn luôn cầu tiến học hỏi. Phải trang bị đầu tư cho mình nhiều kiến thức về giáo lý. Càng học, đọc nhiều Kinh, Luật, Luận, ta càng mở mang thêm kiến thức.

Tuy nhiên, đối với Phật giáo học và hành phải đi đôi với nhau. Nếu chỉ biết một bề nghiên cứu học hỏi không thôi, thì có khác gì là cái tủ để chứa sách. Ngược lại, nếu chỉ có hành mà không học, thì sự tu hành đó dễ bị sai lạc rơi vào con đường tà kiến vô lối thoát. Thế nên, mới có câu nói: “Tu mà không học là tu mù, còn học mà không tu là đãy sách”. Là Tăng sĩ Phật giáo ta cần phải tri hành hợp nhất. Như thế, mới có thể lợi mình và lợi người. Và có như thế, thì sự chuẩn bị của ta mới tương đối diễn giảng được.

2.2. Sách ngoại điển

Chưa bao giờ chúng ta có được cái cơ hội may mắn tốt như ngày nay. Phương tiện sách vở để cho chúng ta học hỏi nghiên cứu quá nhiều. Vào những thư viện lớn, ta thấy có đủ loại sách và đủ mọi thứ ngôn ngữ. Nhờ thế, mà đối với việc nghiên cứu về bất cứ ngành học chuyên môn nào, người ta cũng ít gặp trở ngại khó khăn. Ngược lại, thời xưa, khi phương tiện kỹ thuật máy móc in ấn còn thô sơ, nên việc ấn hành kinh sách không được phổ cập rộng rãi như ngày nay. Do đó, nên việc nghiên cứu học hỏi của người xưa có giới hạn và rất khó khăn. Hiện nay, nếu người nào học hỏi biết nhiều thứ ngoại ngữ, thì người đó sẽ tiện bề nghiên cứu thu thập kiến thức rộng rãi nhiều hơn.

2.3. Năng đọc sách

Người xưa nói: “Sĩ phu ba ngày không đọc sách, nhìn mặt mũi bụi bám lem luốc thấy phát ghét”. Câu nói đó thật là chí lý. Chí lý ở chỗ là cổ nhân khuyên chúng ta nên thường xuyên đọc sách. Sách vở ngày nay quá nhiều, đủ loại. Ngoài sách Việt ngữ ra, còn không biết bao nhiêu loại sách ngoại ngữ. Những vị nào đã khá thông thạo Anh ngữ, thì rất thuận lợi cho việc nghiên cứu tìm hiểu về Phật học bằng sách tiếng Anh.

Ta hãy tập cho ta có một thói quen đọc sách. Không có cái thú vị nào bằng cái thú vị đọc sách. Vì đọc sách là ta gián tiếp nói chuyện với người xưa. Người đọc sách sẽ không thấy buồn chán, là vì người đó đã khéo chọn loại sách thích hợp với khả năng, trình độ và sở thích của mình. Tuy nhiên, đọc sách cũng cần phải có phương pháp. Vì đọc sách cũng là phương cách tự học. Do đó, ta cần đọc cho có phương pháp hữu ích. Đọc sách nghiên cứu, nó khác hơn là đọc sách giải trí. Nếu ta đọc như đọc tiểu thuyết, thì nó sẽ không thu thập lợi ích bao nhiêu. Vì thế, trong vai trò trách nhiệm của một giảng sư, ta cần phải đọc sách thật nhiều.

Dĩ nhiên, là ta chọn những loại sách lành mạnh. Ta có thể đọc nhiều thể loại, nhiều bộ môn, nhiều ngành khoa học, nhưng sở trường của một vị giảng sư vẫn là văn chương. Vì khi giảng thuyết, nó đòi hỏi ta phải có rất nhiều từ để diễn đạt. Nếu như ta quá nghèo nàn về từ ngữ, thì làm sao ta có thể diễn đạt, trình bày cho người khác hiểu được. Do đó, việc chọn sách và đọc sách rất là thiết yếu cho việc luyện tập diễn giảng.

Muốn trở thành một giảng sư giỏi có khả năng thuyết giảng hóa độ mọi người, mọi giới, ta không thể nào xem thường, bỏ qua việc đọc sách nầy. Chúng tôi tha thiết kêu gọi và thành thật khuyên tất cả quý vị, có ý muốn trở thành một giảng sư trong tương lai, thì hiện tại nên cố gắng đọc sách cho thật nhiều.

2.4. Báo Chí

Báo chí cũng giúp cho ta rất nhiều trong việc diễn giảng. Giúp ở phương diện nào ? Hằng ngày có biết bao nhiêu sự việc xảy ra, mà ta không thể nào biết hết được. Những việc xảy ra đó, phần nhiều là hiện tướng của tham, sân, si. Nào là nơi nầy xảy ra vụ chém giết, nơi kia xảy ra vụ cướp bóc, hiếp dâm v.v… Khi giảng, ta nên dẫn chứng những gì xảy ra có liên quan đến đề tài hay câu chuyện mà ta đang nói.

Kinh nói: “Tất cả pháp thế gian đều là Phật pháp” (Nhứt thiết thế gian pháp, giai vi Phật pháp). Nếu ta khéo biết ứng dụng, thì tất cả đều là Phật pháp cả. Tại sao? Vì khi ta nêu ra những vấn đề đó, người nghe họ thức tỉnh rồi họ lo tu niệm, như thế, thì rất là hữu ích lợi lạc cho họ. Như vậy, không phải Phật pháp là gì ? Tất cả những việc xảy ra đó, nó rất sống động và thực tế. Vì vậy, nếu ta khéo biết lợi dụng khai thác đưa vào đề tài của ta để dẫn chứng, thì rất có lợi cho bài giảng của ta. Do đó, việc thu thập tài liệu hay những dữ kiện xảy ra trên báo chí, đó là vấn đề rất thiết yếu cho việc diễn giảng của ta vậy.

2.5. Điện Toán

Như trên đã nói, môn học nầy rất hữu ích cho ta trong việc mở mang kiến thức cả đời lẫn đạo. Vì hiện nay, có biết bao nguồn tài liệu đạo, đời đều nằm ở trong mạng lưới internet. Do đó, ta có thể nghiên cứu học hỏi, thu thập tài liệu rất dồi dào. Tuy nhiên, khi sử dụng nó, ta phải nên thận trọng và luôn đề cao cảnh giác. Nếu không, ta sẽ sa vào mạng lưới mê hồn trận. Nó sẽ làm cho ta mất hết thời giờ tu học. Vì nếu chỉ nghiên cứu về vấn đề có lợi ích bổ túc cho việc diễn giảng của ta không thôi, thì điều đó quá tốt và đáng được khích lệ khuyến tấn.

Ngược lại, nếu ta khai thác qua những lãnh vực khác…(không nhằm vào việc học hỏi của ta) thì chính nó sẽ làm cho ta thất điên bát đảo và rồi ta sẽ không còn là ta nữa, mà ta sẽ trở thành một cái máy computer thứ hai. Thế là thay vì có lợi mà trở thành có hại.Vấn đề nầy, đối với những vị còn trẻ tuổi cần phải hết sức thận trọng.

2.6. Thầy bạn trực tiếp

Đây là một nguồn tài liệu rất cụ thể và rất sống động. Vì thầy bạn là những người mà ta cận kề để học hỏi. Khi nghiên cứu Phật pháp, vấn đề nào ta chưa hiểu rõ, ta nên trực tiếp nhờ thầy hoặc bạn giúp hộ giải quyết cho ta. Xin đừng ngần ngại rụt rè khi thưa hỏi. Học mà không có tư duy thắc mắc để thưa hỏi, thì sự học của ta còn phiến diện, hay nói cách khác là không thể tiến bộ.

Là người đang có một ước vọng cao thượng, muốn đem chánh pháp ban khắp cho mọi người, thì ta không nên có những thái độ tự mãn, tự cao. Mà ta cần phải nương thầy hiền bạn tốt để mà học hỏi. Với đức tánh khiêm cung cầu tiến, thì chắc chắn ta sẽ gặt hái nhiều điều hay ý đẹp qua những lời giảng dạy chỉ bảo của thầy hoặc những điều trao đổi rất chơn tình của bạn. Vì vậy, việc học hỏi trực tiếp ở nơi thầy bạn là điều rất cần thiết cho hành trang kiến thức của ta. Mong sao tất cả nên ý thức mà thật tâm cầu học.

2.7. Trường Đời

Trường đời ở đây tức là những trường học ở Úc. Những vị còn trẻ, tất nhiên còn cần phải đi học để thu thập những kiến thức qua những môn học đời. Việc diễn giảng, kiến thức ta càng rộng, thì càng tốt. Sống trong một xã hội đa văn hóa như ở Úc, ta không thể nào đóng khung trong ngành Phật học không thôi. Vì thời đại ta đang sống là thời đại văn minh tân tiến, nhứt là ngành khoa học kỹ thuật điện tử.

Đạo Phật từ ngàn xưa lúc nào cũng thích nghi với mọi thời đại. Thích nghi để sống, để hòa mình với xã hội, với một ý thức trong sáng, chớ không phải bị đồng hóa theo trào lưu văn minh vật chất của xã hội. Đó là một yếu lý sinh tồn hài hòa mà không lỗi thời của đạo Phật. Ta học để rút ra những điều hay lẽ phải, những nét đẹp hương hoa tinh túy của mọi nền văn hóa dị biệt. Đó là thái độ của con ong tìm hoa hút mật mà không làm tổn hại đến những cánh hoa. Đó là thái độ khôn khéo học hỏi của ta. Nên nhớ cái yếu lý "Hòa nhi bất đồng" hay "Tùy duyên bất biến", đó là tinh hoa của người khôn khéo biết sống và biết bảo tồn những gì tốt đẹp nhứt của ta.

2.8. Trường Đạo

Trường đạo mà chúng tôi muốn nói ở đây là những ngôi chùa thỉnh thoảng có mở ra những khóa tu học ngắn hạn. Thực ra, ở Úc hiện nay, ta thấy chưa có nơi nào có mở ra một Phật HọcViện chánh thức để chuyên đào tạo tăng tài. Bởi có nhiều lý do khó khăn mà Giáo Hội không thể thực hiện được. Trong nhiều năm qua, tại Tổ Đình Phước Huệ đã mở ra nhiều khóa tu học xuất gia ngắn hạn, cũng như các khóa huấn luyện trụ trì và tổ chức hành chánh dành cho chư tăng, ni trong Tông môn. Mục đích là để tạo cho chúng ta có một số kiến thức căn bản về Phật học cũng như về những phương diện hành chánh, điều hành, tổ chức những buổi lễ trong chùa hoặc làm trụ trì của một ngôi chùa.

Những khóa tu học đặc biệt nầy, thường được khai giảng lồng trong ba tháng an cư. Ngoài ra, còn có huấn luyện diễn giảng và nghệ thuật nói trước công chúng. Vấn đề nầy thật rất quan trọng cho một sứ giả Như Lai. Do đó, nên việc mở ra những khóa huấn luyện nầy, nếu ta lơ là không chịu cố gắng học tập, thì ta đã tự phụ bản thân ta và cũng phụ công lao, lòng thương xót chiếu cố quan hoài của người có trách nhiệm khai giảng. Như thế, quả ta là người đắc tội trong vai trò và trách nhiệm mà ta đang mang. Mong sao mỗi năm khóa tu học mở ra như thế nầy, chúng ta phải hết lòng tham dự học hỏi. Có thế, thì vừa có lợi ích thiết thực cho ta mà cũng vừa báo ân Phật Tổ vậy.

2.9. Xã Hội

Xã hội là một đề tài rất to lớn và phong phú đa dạng. Với khả năng của một người không thể nào am hiểu hết được. Vì nó là một môn học chuyên ngành khá rộng rãi. Tuy nhiên, là giảng sư ta không thể không nghiên cứu biết đến. Vì chính bản thân ta cũng là một nhân tố trong xã hội. Cho nên những gì xảy ra trong xã hội đều có liên quan mật thiết đến với ta. Do đó, ta cần phải tìm hiểu để có thêm kiến thức rộng rãi.

Đề tài giảng của ta, dù dưới dạng thức nào, cũng không thể không phản ánh xã hội. Ta nên nhớ, tất cả pháp thế gian đều là Phật pháp. Nói cách khác, Phật pháp không ngoài thế gian pháp mà tồn tại. Như vậy, khi giảng ta cần khai thác và dẫn chứng về những gì xảy ra trong thực trạng xã hội mà ta đang sống. Đó là những hình ảnh gần gũi thân thiết nhứt của quần chúng. Càng gợi lại những biến động thực trạng cụ thể về hai mặt: xấu và tốt của xã hội, thì bài giảng của ta sẽ có kết quả cao trong khi trình bày, vì dẫn chứng những điều rất thực tế phù hợp với trình độ của đại đa số quần chúng.

Tuy nhiên, đó cũng chỉ là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện mà ta khéo dẫn dụ. Xin đừng lầm lẫn giữa phương tiện và cứu cánh. Nói cụ thể hơn, đó chỉ là phần phụ, giúp cho phần chánh đề tài Phật pháp của ta đang trình bày thêm phần hứng thú hấp dẫn dễ hiểu mà thôi. Có thế, thì sự hoằng pháp của ta mới đạt được nhiều kết quả tốt đẹp.

III. RÈN LUYỆN KHẢ NĂNG

  1. Rèn luyện trí nhớ.

Trí nhớ của con người không phải ai cũng nhớ giỏi, nhớ dai. Có người trí nhớ của họ rất kém, không bén nhạy, dù họ còn trẻ tuổi. Đối với những người trọng tuổi, tất nhiên, trí nhớ của họ không còn minh mẫn nữa. Ngược lại, có người có trí nhớ rất siêu đẳng. Cái gì nhìn qua một lần là họ không bao giờ quên. Đầu óc của họ như là bộ “Bách Khoa Tự Điển”. Hạng người nầy, thật hiếm có. Người ta thường nói: Trời phú cho họ có một thiên tánh thông minh như thế. “Thông minh vốn sẵn tính trời” (Truyện Kiều ) . Có người nói: họ là “thần đồng”.

Với cái nhìn của Phật giáo thì nói khác. Vì Phật giáo nhìn sự vật qua lý nhân quả. Sở dĩ ngày nay họ thông minh nhớ dai xuất chúng như thế, là vì họ đã trải qua nhiều đời học hỏi mới có được. Ngoài cái chủng nhân học hỏi ra, họ còn có cái chủng nhân khác nữa, đó là do nhiều đời và hiện đời họ không uống rượu và không xử dụng những chất kích thích như hút á phiện, xì ke, ma túy v.v…. vì những chất nầy nó có tác dụng làm hại thần kinh rất lớn. Cho nên, những người nghiện ngập những thứ độc tố nầy, thì trí nhớ của họ không còn minh mẫn nữa.

Ngoài hạng người “Bẩm tánh thông minh xuất chúng” nầy ra, còn lại tất cả đều phải có sự luyện tập trí nhớ. Về phương pháp luyện tập có nhiều cách và tùy sở thích của mỗi người mà luyện tập. Nhưng dù cách nào, nó cũng đòi hỏi người luyện tập phải có sự chú ý rất lớn. Nếu không, thì không thể nào nhớ được.

Thí dụ: có người không biết coi bản đồ mà lái xe không lạc đường là do đâu. Do vì họ tập trung ý thức vào một điểm nổi bật nào đó. Họ lấy đó làm cái móc điểm để họ nhớ. Nhờ vậy mà họ thành công.

Cũng thế, nếu ta muốn nhớ một vấn đề nào đó, thì ta phải chịu khó tập trung tư tưởng lại, chỉ chú ý một vấn đề duy nhứt đó thôi. Đồng thời ta thường lặp đi lặp lại nhiều lần trong tâm tưởng, nhờ tô đậm nét như thế, nên vấn đề trở nên khó phai. Nếu ta không phải là một thiên tài, thì chỉ còn có cách là ta phải chịu khó luyện tập trí nhớ mà thôi. Không còn cách nào khác hơn.

2. Thái Độ

Là một tăng sĩ, ta không thể khinh thường oai nghi tế hạnh. Chư Tổ thường dạy: “Có oai khá sợ, có nghi khá kính”. Người xuất gia mà cách đi, đứng, nằm, ngồi lăng xăng, líu xíu, vụt chạt, ngồi đứng không yên, tới lui trái phép v.v… thì đâu ra thể thống của một ông thầy. Người xuất gia phải là người mô phạm. Người đời họ kính nể ta là vì ta có nhiều cung cách oai nghi đường đường tăng tướng hơn họ.

Một giảng sư dù cho có giảng hay đến đâu, nhưng nếu thiếu cung cách, thái độ nghiêm trang, thì người ta cũng không mấy kính phục. Ta nên nhớ, người đời, phải nói đa số là họ nhìn bề ngoài hơn là bên trong. Thái độ là hiện tướng bên ngoài. Nhứt là trong khi lên bục giảng, ta cần phải hết sức cẩn thận, đi đứng nghiêm trang tề chỉnh. Khi ngồi xuống đứng lên, ta đều phải cẩn thận. Không nên có thái độ bộp chộp, lính quýnh, giống như gà mắc đẻ, thế là nguy to.

Nên nhớ, lúc nầy, có biết bao nhiêu cặp mắt chú ý đến ta. Nếu ta sơ ý một chút, thì coi như thời thuyết giảng của ta sẽ bị người ta đánh giá giảm đi. Điều quan trọng, càng tự nhiên chừng nào là càng tốt chừng nấy. Có nhiều người vì lần đầu ra quân, quá phập phồng lo sợ, nên mất hết tự nhiên, cả người đều rung lên, nói năng lặp cặp, thế là hỏng rồi. Khi thăng tòa, ta phải hết sức bình tĩnh và hãy tự trấn an mình bằng cách nên có quan niệm coi thường thính giả, (có người nói đùa cứ coi thính giả như mèo) nghĩ rằng mình là thầy họ (không phải ngã mạn) để trấn áp nỗi sợ hãi của ta.

Tóm lại, thái độ của một giảng sư trước khi giảng cũng như trong khi giảng, ta phải cố gắng giữ gìn cẩn thận: “Mọi cử chỉ, hành động, nói năng v.v…” nhứt nhứt đều phải lưu tâm. Không nên chủ quan hời hợt xem thường!

3. Cử chỉ

Cử chỉ là hiện tướng ngoại diện. Chúng ta được cảm tình hay mất cảm tình của quần chúng phần lớn là do những cử chỉ của ta. Thái độ và cử chỉ tuy hai mà một. Vì hai điều nầy rất quan trọng về mặt cung cách oai nghi của người tu, nhứt là đối với các vị giảng sư.

Ngoài cung cách của một người xuất gia ra, ta còn là một giảng sư nữa. Một giáo sư ngoài đời, dù họ không biết tu hành là gì, nhưng họ vẫn phải luôn giữ cung cách của họ. Họ luôn tâm niệm, họ là một người thầy giáo, tất nhiên phải là người mô phạm gương mẫu cho mọi người. Dù một giáo sư dạy có hay đến đâu, nhưng nếu thiếu cung cách, thái độ, cử chỉ, của một nhà giáo, thì họ cũng không thể thành công được. Vì họ không thể làm mô phạm gương mẫu cho ai. Lời nói và việc làm của họ tương phản nhau. Đó là mắc vào cái lỗi lớn là ngôn hạnh tương vi. Tất nhiên, người học thiếu sự kính nể ở nơi họ. Từ đó, dẫn đến gây cho người học có một thái độ khinh thường. Thế là việc học của họ sẽ không được tiếp thu tiến bộ.

Là một thầy giáo ngoài đời mà họ còn phải giữ cung cách, thái độ, cử chỉ đúng đắn, đàng hoàng như thế, hà tất gì chúng ta là một tăng sĩ, hơn thế nữa, lại là một giảng sư. Lý đương nhiên, bắt buộc ta phải gìn giữ oai nghi hơn họ nhiều. Với cái nhìn tự nhiên, hòa ái bằng một ánh mắt trong sáng hiền từ, gây cho người nhìn ta có một thiện cảm ngay từ lúc đầu. Nụ cười nhẹ nhàng, thân thiện, cởi mở cũng là một yếu tố quan trọng để đưa ta đến thành công. Không một ai có thiện cảm với con người có bộ mặt nhăn nhó, quạu quọ, gắt gỏng như ai ăn hết của của ta. Nhìn gương mặt thấy mất cảm tình ngay, nói chi đến chuyện diễn giảng. Vui vẻ mà không quá trớn, lịch sự mà không khôi hài, thân thiện mà không sỗ sàng … đó là những yếu lý mà ta cần phải ghi nhớ.

4. Điệu bộ

Điệu bộ cũng là điều khá quan trọng trong khi diễn giảng. Khi trình bày một vấn đề nào đó, ta có quyền dùng đôi mắt, gương mặt, đôi tay v.v… để diễn tả tùy theo câu chuyện mà ta đang nói. Mục đích là để tăng thêm sự chú ý của mọi người.

Song, có điều ta phải giữ vừa phải không nên quá lố lăng. Nếu không khéo, thì ta sẽ trở thành lố bịch và làm trò cười cho thiên hạ. Nhứt là với đôi tay, khi giảng ta nhờ đến nó rất nhiều. Một ca sĩ, dù có ca hay đến đâu, mà thiếu điệu bộ diễn tả, thì cũng trở thành sống sượng, trơ trẽn và kém sự chú ý của mọi người. Một nghệ sĩ tài ba là nhờ họ quá điêu luyện nghệ thuật diễn tả bằng những điệu bộ ăn khách hấp dẫn. Do đó, điệu bộ cũng giúp cho ta một phần thành công tốt trong khi diễn giảng. Luôn giữ nụ cười tươi trên môi. Khi giảng tránh quơ tay múa chân và không nên cười lớn tiếng quá cỡ.

5. Giọng nói

Trong khi giảng, giọng nói rất là quan trọng. Buổi giảng của ta về phần nội dung, tuy có sâu sắc, mạch lạc đến đâu, nhưng nếu thiếu giọng nói lôi cuốn, thì cũng làm giảm đi sự thành công. Giọng nói, ngoài thiên phú tự nhiên ra, ta còn phải chịu khó luyện tập. Đại đa số những nhà hùng biện, họ thành công trên diễn đàn là nhờ họ có một giọng nói rất lôi cuốn thính giả. Họ biết cách điêu luyện giọng nói lên xuống, trầm bổng, hùng hồn, nhẹ nhàng, êm ái, dịu ngọt v.v…

Điểm đặc biệt chú ý nhứt là khi giảng, giọng nói của ta phải rõ ràng, khúc chiết. không được bắt chước giọng nói của những miền khác. Như người miền Nam cứ tự nhiên nói theo giọng điệu miền Nam, không nên bắt chước theo giọng điệu miền Trung hay miền Bắc. Nguợc lại, cũng thế. Vì mỗi miền có một giọng nói đặc biệt. Đó là điều tối kỵ ta phải nhớ. Vì khi bắt chước sẽ mất đi tính tự nhiên và không giống ai. Người nghe chối lỗ tai và mất cảm tình với mình ngay.

Tóm lại, ba điều trên đối với một giảng sư không thể thiếu được. Thái độ trầm tĩnh, cử chỉ thân thiện, giọng nói rõ ràng minh bạch. Tất cả đều phải trau giồi luyện tập, nếu muốn trở thành một giảng sư hiện tại và tương lai.

  1. 6. Sức khỏe

Vấn đề giữ gìn sức khỏe cũng rất quan trọng cho việc diễn giảng. Sức khỏe có liên hệ đến giọng nói của ta rất nhiều. Muốn có được sức khỏe bền bỉ dẻo dai tốt, thì ta cần phải thường xuyên năng tập thể dục. Câu nói: “Một linh hồn minh mẫn trong một thân thể tráng kiện”. Lời nói nầy thật là chí lý, như là một câu châm ngôn mà ta cần phải khắc sâu ghi nhớ. Một người có đầy đủ sức khỏe năng lực dồi dào thì mới có giọng nói và hơi hám tốt. Nếu giọng nói và hơi hám yếu ớt, thì nó có ảnh hưởng đến thời giảng pháp của ta rất nhiều. Vì vậy, ta cần phải bảo trọng và nên chuẩn bị cho ta có được một sức khỏe năng lực khỏe mạnh dồi dào. Muốn thế, ngoài việc năng luyện tập thể dục, thể thao ra, ta cũng cần phải thường xuyên đi bộ. Đi bộ là một phương pháp rất tốt cho sức khỏe của ta. Thỉnh thoảng, ta cũng cần đi dạo ở bãi biển để hứng gió và hít thở không khí mát mẻ trong lành. Điều quan trọng ta cần nên lưu ý là, trước khi giảng ta nên tránh dùng những thức ăn cay và đồ chiên xào nhiều dầu. Vì những thứ nầy không tốt cho sức khỏe của ta. Nó có thể gây ra làm ảnh hưởng đến giọng nói âm thanh của ta. Nếu khi lên bục giảng mà giọng nói của ta bị khàn, cổ họng bị khô, thì giọng nói của ta phát âm sẽ không được trong trẻo rõ ràng. Như thế sẽ làm cho thính giả hơi khó nghe. Điều đó sẽ không tốt cho buổi giáng pháp của ta. Nói chung, trước khi lên bục giảng ta cần phải cẩn trọng lưu ý đến việc ăn uống và ngủ nghỉ. Cần phải điều hòa sự ăn uống theo đúng phương pháp vệ sinh. Đồng thời ta cũng không nên thức khuya lắm mà cần phải nghỉ ngơi cho đúng giờ giấc. Có thế, thì tinh thần của ta khi thuyết giảng mới được minh mẫn sáng suốt vậy.

Tóm lại, sức khỏe là điều tối ư hệ trọng vì chính nó quyết định mọi việc trong vấn đề thuyết giảng của ta. Bởi vậy, là giảng sư ta cần phải bảo trọng hết sức cẩn thận về vấn đề nầy.

7. Thu thập tài liệu

Phần nầy rất quan trọng. Không ai tài nào nhớ hết mọi vấn đề đã được học hỏi, ngoại trừ những thiên tài thuộc dạng thần đồng. Ngoài ra, đều phải cần thu thập tài liệu. Muốn có được tài liệu dồi dào, thì lúc bình thường ta nên đọc sách cho nhiều. Và khi đọc, ta nên chịu khó xếp phân loại. Ta chia từng loại ra: Đạo học. Triết học, Khoa học, Xã hội, Văn học, Sử học v.v… Đây là ta chia từng loại đại thể. Sau đó, ta phân loại chi tiết hơn.

Thí dụ: như trong phần Đạo học, ta phân loại ra các Tôn giáo lớn, nhỏ. Riêng trong lãnh vực Phật giáo, thì chúng ta cũng phải sắp xếp theo từng loại: Vô thường, Vô ngã, Nhân duyên, Nhân quả, Luân hồi v.v… Sở dĩ ta phân chia từng loại như thế, để khi cần ta không phải tìm kiếm lâu. Vì trong khi đọc sách, ta thấy những câu nào hay, những lời nào đáng ghi nhớ, ta đều phải ghi lại để lưu trử. Để chi? để khi ta cần đến là có để xử dụng ngay. Và như thế, cũng là cách giúp cho ta nhớ được nhiều hơn.

Việc làm nầy rất khoa học và rất thực tế. Cho nên, muốn trở thành một giảng sư, việc thu thập tài liệu rất quan trọng. Quan trọng như chúng ta phân lượng thực phẩm ăn uống hằng ngày thích hợp cho cơ thể, để cho cơ thể ta được dồi dào sinh lực, khỏe mạnh. Trong đời sống, ai không muốn mình được khỏe mạnh. Có khỏe mạnh mới vui tươi yêu đời và làm lợi ích cho đời. Việc tra cứu học hỏi, thu thập tài liệu để trở thành một giảng sư hoằng pháp, giúp ích cho đời và cho đạo, cũng phải giống như chọn lựa thức ăn bổ dưỡng lợi ích cho ta vậy.

8. Chọn đề tài.

Chọn đề tài giảng, tùy theo mỗi hoàn cảnh, bối cảnh khác nhau. Ta phải lựa chọn một đề tài cho thích hợp. Thí dụ: người ta mời mình đến giảng một buổi lễ ăn khánh thành chùa chẳng hạn, tất nhiên, khi chọn đề tài giảng phải có liên quan đến buổi lễ. Nhứt là không thể thiếu việc nói đến ý nghĩa của ngôi chùa và công trình xây dựng. Trong trường hợp nầy, nếu ta chọn đề tài Luân Hồi hay Nhân Quả chẳng hạn, thì nó sẽ không phù hợp với khung cảnh của buổi lễ và cũng không nói lên được cái ý nghĩa mà mọi người đang mong mỏi hướng về để nghe ta thuyết giảng.

Tuy rằng đề tài ta chọn xét về mặt giáo lý thì không phải là sai, nhưng không phù hợp về mặt thực tế của buổi lễ. Thế là dù ta có giảng hay về giáo lý, nhưng sẽ mất đi tính chất ý nghĩa của buổi lễ. Và như thế, nếu người có chút ít hiểu biết, người ta sẽ đánh giá ở nơi trình độ nhận thức hiểu biết của mình. Thế nên, việc chọn lựa đề tài, cần phải cho thích hợp với khung cảnh và đặc biệt là của buổi lễ cũng như phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

Ngoài ra, những buổi giảng định kỳ hay thường lệ thì có khác. Nhưng muốn cho những đề tài mình giảng không bị trùng hợp dễ chán, thì ta cũng phải sắp xếp chọn lựa cho có thứ tự và phải phù hợp với trình độ người nghe. Trong trường hợp dài hạn, thì ta có thể chọn những đề tài căn bản từ thấp lên cao. Tức phải dựa theo tinh thần Ngũ thừa Phật giáo mà sắp chọn đề tài.

Tóm lại, khi chọn đề tài giảng, ta phải khéo chọn cho thích hợp: Cơ, cảnh, và tình. Nói cách khác phải hội đủ ba yếu tố: Thiên thời (hoàn cảnh buổi lễ), Địa lợi (Sự sinh hoạt của địa phương đó như thế nào) và Nhơn hòa (nhơn tâm, tức trình độ chung về mức độ hiểu Phật pháp như thế nào). Tất cả phải chọn lựa cho thích nghi phù hợp.

9. Phương pháp làm dàn bài

Dù cho một giảng sư đại tài, cũng không thể không làm dàn bài trước khi lên bục giảng. Nếu ta không sắp xếp dàn bài sẵn, đến khi lên bục, thì ta trình bày không theo thứ lớp. Có khi ta nói bắt quàng, theo kiểu đầu Ngô mình Sở. Đầu đuôi trái ngược nhau. Do đó, sau khi chọn đề tài rồi, kế tiếp là ta phải sắp xếp làm dàn bài.

Khi làm dàn bài, ta phải sắp xếp cho có mạch lạc. Chia ra phần chính và phần phụ rõ ràng. Khi triển khai, ta nhắm vào phần chính nhiều hơn. Thêm vào đó, ta cũng cần thêm một vài câu chuyện hay một vài bài thơ có liên quan thích hợp với đề tài. Điều nầy rất cần thiết và rất ăn khách hấp dẫn. Nếu giảng mà thiếu hai phần nầy, thì thời giảng của ta rất nhạt nhẽo và không gây sự chú ý ở nơi người nghe lắm. Tâm lý con người, dù trí thức hay bình dân, ai cũng thích nghe chuyện và thơ văn. Giống như người làm bếp nấu thức ăn, dù vật liệu có chất lượng, nhưng nếu khi nấu mà quên không thêm gia vị vào, thì thử hỏi thức ăn đó như thế nào? Có còn thích khẩu vị người ăn hay không? Hay là họ sẽ chê rậm rề rậm rệt, nấu ăn gì mà dở quá! Do đó, việc biên soạn làm dàn bài, theo một trình tự ăn khớp, liền lạc với nhau cũng rất là quan trọng. Ta nên cẩn thận và chú ý việc làm nầy.

IV. TRAU GIỒI ĐẠO ĐỨC

1. Tự Thân.

1.1. Trau Giồi giới đức.

Đối với người xuất gia, là phải gìn giữ nghiêm trì giới luật. Thiếu phần căn bản nầy, thì không thể nào nói đến những chuyện gì khác. Giới luật là ông thầy trực tiếp hướng dẫn ta trên bước đường tu và hành đạo. Một giảng sư dù phần giáo lý có uyên thâm đến đâu, mà thiếu sự hành trì giới luật nghiêm minh, tất nhiên, sẽ không còn ai tin tưởng ta nữa. Cho nên đối với bản thân, không phải đợi đến hay chỉ có làm giảng sư mới giữ giới, mà là tăng sĩ Phật giáo, thì điều nầy không thể thiếu được.

Ngoài bổn phận của một người xuất gia ra, nó còn thêm bổn phận của một người hoằng pháp. Sứ mệnh hoằng pháp, thật là một trách vụ quý giá thiêng liêng cao cả, như trước đã có nói sơ qua. Đây là sứ mệnh thay Phật tuyên dương chánh pháp, thật là quan trọng. Thế nên, một giảng sư phải đầy đủ hai yếu tố cơ bản là: “Hạnh” và “Giải” phải tương ưng. Dù phần giải có dung thông đến đâu, nhưng nếu thiếu hạnh, thì cũng không thể cảm hóa được chính mình nói chi đến cảm hóa kẻ khác.

Thường người ta hay nói người đó có giới hạnh. Nhờ giới mà có hạnh; thiếu giới thì không có hạnh. Hạnh là cái thể hiện bên ngoài qua hình tướng. Chúng ta đừng quên, việc giáo hóa người ta hướng về với đạo Phật để tu hành, ngoài khẩu giáo ra, nó còn có thân giáo nữa. Thân giáo thuộc về hạnh. Từ hạnh mà hiển lộ toát ra cái đức. Đức là cái sức huân tu bên trong. Người nào, trong tâm bớt phiền não, thì tâm ít trạo cử. Nhờ tâm ít trạo cử, nên hiện ra bên ngoài cái tướng oai nghi điềm đạm. Con người điềm đạm là con người vững chãi cả thân lẫn tâm. Ai nhìn thấy họ cũng có cảm tình và cung kính ở phần đạo đức của họ ngay. Câu nói: “tâm ư trung, xuất hành ư ngoại” là thế. Nghĩa là trong tâm thế nào, thì nó hiện ra cái tướng bề ngoài thế ấy. Thế nên, vấn đề thân giáo đối với một vị giảng sư cũng khá quan trọng. Muốn được thân giáo, thì không gì hơn là phải hành trì giới luật một cách nghiêm minh vậy.

1.2. Tri hành hợp nhất.

Tri là hiểu biết, hành là làm theo. Hợp nhất là hai thứ hợp lại thành một. Nghĩa là "Biết" và "Làm"phải đi đôi với nhau hợp lại thành một. Điều nầy, nói thì dễ mà làm thì thật khó. Lý thuyết bao giờ nó cũng đi trước phần thật hành rất xa. Người ta thường nói tu học. Tu là hành, học là phần lý thuyết. Học là bổ túc cho hành. Hành là làm sáng tỏ nghĩa lý cho học. Nói cách khác, phải biến nhận thức thành hành động cụ thể. Như vậy, học là ngọn đuốc soi sáng đường đi, giống như người có đôi mắt sáng. Hành là bước đi từng bước của đôi chân vững mạnh. Có đôi mắt thật sáng mà không có đôi chân, thì cũng chỉ ngồi một chỗ mà nhìn thôi.

Ngược lại, có đôi chân thật cứng chắc vững mạnh, mà không có đôi mắt sáng, thì cũng không thể đi tới đâu được. Bởi vậy, cả hai đều có sự hỗ tương mật thiết cho nhau. Thiếu một trong hai điều nầy, thì khó mà thành công trong sự tu học. Tuy nhiên, phần lý thuyết bao giờ cũng đóng vai trò quan trọng hơn. Tại sao? Bởi vì, giả sử chúng ta đến một thành phố lạ, mà không có bản đồ chỉ dẫn hoặc có mà chúng ta không rành sự chỉ dẫn trong bản đồ như thế nào, thì thử hỏi làm sao chúng ta biết đâu mà đi. Nếu đi bướng, thì chỉ có nước lạc đường mà thôi. Tốt hơn hết, là chúng ta nên biết rõ bản đồ trước đã, rồi sau đó, chúng ta sẽ bắt đầu khởi hành.

Khi khởi hành, chúng ta được cái lợi là không còn nghi ngờ sợ sệt bị lạc đường. Vì thế, nên việc học thật quan trọng cho việc tu. Dĩ nhiên, đôi mắt bao giờ cũng thấy xa hơn đôi chân nhiều. Đôi mắt có thể nhìn thấy xa hằng mấy cây số, trong khi đó, thì đôi chân vẫn phải lần dò từng bước một. Vì vậy, phần thật hành bao giờ cũng đi sau phần lý thuyết. Cho nên câu nói tri hành hợp nhất, nó chỉ đúng một phần nào đó thôi, chớ không bao giờ đúng trọn vẹn ý nghĩa hết được.

Trong đời chưa có ai làm đúng hoàn toàn một trăm phần trăm như câu nói đó. Trừ phi các bậc thánh nhơn. Tuy nhiên, đối với người tu, nhứt là trong vai trò của một giảng sư, thì lời nói không quá xa việc làm. Điều nầy, thiết nghĩ, ta cũng cần biện biệt cho rõ để khỏi phải ngộ nhận. Đứng về phương diện học thuật, khi giải bày một vấn đề nào đó, thì ta cần phải giảng giải cho cặn kẽ rõ ràng khúc chiết phần lý giải. Khi giảng giải, tất nhiên, nó phải có chỗ cao thâm. Mục đích là để cho người nghe nhận được phần sâu xa của lời Phật dạy. Cho nên, không vì thế mà ta đánh giá người đó năng thuyết bất năng hành. Năng thuyết bất năng hành là khi nào ta khuyên người khác ăn chay mà mình ăn mặn, như thế, thì nên đánh giá người đó là đúng. Trong đạo Phật có câu nói : đốn ngộ nhưng phải tiệm tu. Khác nào như người đứng từ xa thấy rõ ngôi nhà mình sẽ đến, nhưng thấy chưa phải là tới mà cần phải đi từng bước vững chắc mới tới. Tuy nhiên đã có đi là phải có tới. Điều nầy nó có cái lợi là chắc chắn thiết thực là không bị sai lệch mục đích nhắm tới vậy.

1.3. Sống đúng chánh pháp.

Ngày xưa, thời đại của Phật, Phật và các hàng Thánh chúng nuôi thân bằng cách đi xin ăn từng nhà. Hạnh nầy, tuy khó làm mà thật là giải thoát. Đời sống của Phật và những vị đệ tử, chỉ có một bình bát và ba chiếc y để che thân. Về chỗ ở, các Ngài không ở một nơi nào cố định cả. Cho nên mới có câu nói: « Nhựt trung nhứt thực, thọ hạ nhứt túc ». Ngày ăn một bữa vào giữa ngọ. Đêm thì ngủ dưới gốc cây. Thậm chí trong Kinh còn nói, khi các Ngài rời khỏi gốc cây, không được trở lại lần thứ hai dưới gốc cây đó. Vì sợ sanh tâm ái trước. Gốc cây thôi mà còn sợ sanh tâm nhiễm trước như thế, hà tất gì đối với những việc khác. Đời sống cứ thế, rày đây mai đó. Như vậy không giải thoát là gì ?

Đời nay, đôi khi chúng ta lấy cớ phải hợp thời đại, đành rằng như thế, nhưng xét kỹ, đôi khi chúng ta đã đi quá đà, trở thành biến chất mất gốc. Đời sống tu hành của chúng ta hiện nay, phải công tâm thành thật mà nói, cách xa với nếp sống thời Phật quá nhiều, nếu không muốn nói chỉ còn lại trên hình thức của một cái đầu tròn áo vuông mà thôi. Nói thế không có nghĩa là chúng ta quơ đủa cả nắm. Dĩ nhiên, cũng có người sống một đời sống phạm hạnh Tam thường bất túc. Mọi nhu cầu vừa đủ trong nếp sống giản dị kham khổ tu hành. Đó là noi theo hạnh « Đầu Đà » của sơ Tổ Ca Diếp. Thời Trần ở nước ta, cũng có một vị Thiền Sư tu theo hạnh đầu đà khổ hạnh, đó là sơ Tổ Trúc Lâm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tôn. Nhưng thử hỏi trong thời đại chúng ta số người nầy được bao nhiêu ? Chúng ta nên quán chiếu lại nếp sống hiện tại của chính mình. Chúng ta có thực sự sống đúng với chánh pháp chưa ? Và chúng ta có thực sự tôn trọng sư thật không ? Ngoài hình thức ra, phẩm chất nội dung trong đời sống tu hành của chúng ta ra sao ? Là người biết chút ít tu hành, thiết nghĩ, chúng ta cần phải phản quan tự kỷ và tôn trọng sự thật. Có quán chiếu thẩm xét lại chính mình như thế để chúng ta cố gắng tập sống đúng theo con đường chánh pháp mà Phật Tổ đã đi qua. Hơn thế nữa, là một người có trách nhiệm hoằng pháp lợi sanh, chúng ta nên vâng theo lời Phật dạy trong Kinh Di Giáo, quyết không nuôi sống bằng cách tà mạng hướng dẫn Phật tử đi vào con đường tà kiến mê tín dị đoan. Như những việc làm coi ngày, bói quẻ, xem tay, coi tướng v.v… Điều nầy trong Kinh Di Giáo đức Phật đã cấm tuyệt đối người xuất gia không được làm. Người xuất gia là phải an bần thủ đạo, duy tuệ thị nghiệp. Nhất quyết không nuôi dưỡng bằng kế sống theo con đường tà mạng nầy vậy.

1.4. Nghiêm túc sửa sai.

Làm người không ai lại không có lỗi lầm. Khổng Tử nói: “Nhơn vô thập toàn”. Nghĩa là mang kiếp làm người không ai chu toàn hết được. Vì chúng ta hiện đang sống trong vòng vô minh nghiệp thức, mọi hành vi cử chỉ, nói năng, hành động, đều do nghiệp thức chủ động gây nên. Do đó, thử hỏi làm sao chúng ta tránh khỏi lỗi lầm? Tuy nhiên, khi chúng ta phạm lỗi lầm sai trái, được người khác khuyến nhắc chỉ bày mà chúng ta thực sự biết hoán cải sửa sai, thì đó mới là điều quan trọng.

Là người có trách nhiệm hướng dẫn đại chúng tu học đúng theo Chánh pháp, chúng ta phải luôn quán chiếu soi sáng lại nội tâm mình. Phải luôn gìn giữ phẩm chất tác phong đạo đức. Nếu vì một vấn đề bất như ý nào đó, mà chúng ta không kềm chế được tâm sân hận bực tức, lỡ thốt nên lời khiếm nhã, thiếu lễ độ, hay có hành vi sai trái, ta liền ăn năn hối cải sửa đổi ngay. Nếu cần, ta cũng nên sám hối lỗi lầm trước mọi người. Và ta phải thành tâm chừa bỏ lỗi lầm nầy. Hơn nữa, nếu khi trình bày một vấn đề nào đó, mà chúng ta nhớ không rõ, dẫn chứng sai lầm, sau đó, lập tức ta phải điều chỉnh cải chính ngay. Đối với người xuất gia, không gì quan trọng hơn là đức tánh tàm quý và thành thật. Tàm quý và thành thật với chính mình cũng như với tha nhân. Chúng ta không nên có thái độ tốt khoe xấu che. Như thế thì không bao giờ tiến bộ trong việc tu hành được.

  1. Tha nhân:

2.1. Ứng dụng Tứ nhiếp pháp.

Tứ nhiếp pháp là bốn phương pháp hành hóa của Bồ tát. Bốn phương pháp gồm có: “bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự”. Là giảng sư hay giáo thọ sư, ta cần phải nghiêm túc nghiên cứu tường tận về bốn phương pháp nhiếp hóa nầy. Trong bốn cách nhiếp hóa nầy, cách nào cũng rất quan trọng. Tất cả đều nhắm vào một mục đích chung, đó là lợi tha. Tuy nhiên, trước hết, chúng ta cần phải lo tự lợi cho chính mình. Nếu phần tự lợi hay tự giác của mình không vững chắc, thì rất khó thực hiện được tinh thần lợi tha vậy.

2.2. Lễ độ khiêm cung.

Đây là một đức tánh khá quan trọng mà người tu, nhất là đối với người xuất gia chúng ta cần phải có. Đối với những bậc trưởng thượng ta cần phải biết lễ độ hạ mình để cầu học. Không ai thích những kẻ kiêu căng ngạo mạn, khinh người dưới mắt bao giờ. Khi đến một nơi nào thuyết giảng hay hướng dẫn khóa tu học, ta cần phải tỏ thái độ khiêm cung trân kính mọi người. Nhất là đối với những vị trụ trì hay viện chủ của một tự viện mà ta được mời đến để hướng dẫn giảng dạy. Dù người đó là người lớn, bằng, hoặc nhỏ hơn ta cũng thế. Tuyệt đối, ta không nên có ý ngạo mạn khinh thường. Ta trân quý kính trọng người, thì người mới trân quý kính trọng ta. Luật tắc cư xử giao tiếp thường tình với nhau là như thế.

Lễ độ khiêm cung là bước đầu để ta gây cảm tình với mọi người. Từ đó, việc làm của ta sẽ ít gặp phải khó khăn và rất dễ được mọi người chú ý cảm tình thương mến ủng hộ giúp đỡ ta. Khiêm cung không có nghĩa là rụt rè nhút nhác sợ hãi, mà khiêm cung có nghĩa là nhúng nhường, là hạ mình, tức hạ thấp cái bản ngã của mình xuống, dù biết rằng mình có khả năng hơn người. Khổng Tử nói: “Đặt mình ngồi sau, tức mình ngồi trước”. Ta nên nhớ rằng, mình giỏi thì có người sẽ giỏi hơn. Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị. Hay núi cao hơn núi, người cao hơn người. Do đó, việc lễ độ khiêm cung đối với người có trách nhiệm hoằng pháp lợi sinh rất là quan trọng. Việc thuyết giảng hay hướng dẫn tu học của chúng ta được thành công hay thất bại, phần lớn là do chúng ta có hay không có đức tánh nầy.

2.3. Cung cách trong tứ oai nghi.

Cổ đức nói: “có oai khá sợ, có nghi khá kính”. Như đã nói qua ở trên, người xuất gia cần phải gìn giữ oai nghi tế hạnh. Một giảng sư hay giáo thọ sư mà thiếu oai nghi, thì người ta sẽ khinh thường. Đã khinh thường, tất nhiên, người ta không còn cung kính. Không cung kính, thì dù mình có thuyết giảng hay cách mấy đi nữa, người ta cũng không còn chú tâm để ý nghe theo. Vì đa số người đời, họ nhìn người xuất gia qua cung cách hình tướng bên ngoài. Nhất là ta phải cẩn thận ở nơi lời nói.

Khi cần tiếp xúc với Phật tử, ta chỉ nói những gì cần nói. Ngoài ra, ta không nên nói những chuyện phù phiếm tạp nhạp bù khú không đâu. Nhất là ta nên tránh việc bàn luận thế sự thời cuộc hay những việc thị phi thế gian. Người ta sẽ đánh giá qua cung cách nói chuyện của mình. Khi chuyện trò, dĩ nhiên, ta được phép vui cười, nhưng không nên quá trớn. Đi, đứng và ngồi, phải giữ nghiêm trang. Ta nên nhớ, thân giáo cũng rất là quan trọng. Ngày xưa, Phật Tổ ngoài việc thăng tòa thuyết giảng ra, các Ngài thường dùng thân tướng để giáo hóa mọi người. Người ta học hỏi mình, không phải chỉ học hỏi ở nơi phần giảng huấn không thôi, mà họ còn học hỏi ở nơi thân giáo của ta nữa. Do đó, Ta cần phải gìn giữ oai nghi tác phong đạo đức của một người có trách nhiệm hướng dẫn, giáo hóa.

2.4. Khoan dung rộng mở cõi lòng.

Người hay cố chấp là người rất đau khổ. Bản chất của đạo Phật là hỷ xả, bao dung rộng mở. Vạn vật là sinh diệt vô thường. Đã thế, thì tội gì ta phải chấp nhứt chi cho thêm khổ. Ta cần phải mở rộng không gian tâm thức. Càng mở rộng cõi lòng chừng nào, thì ta càng an lạc chừng nấy. Thế nên, trên bước đường hành hóa, khi gặp những chướng duyên thử thách, thì ta nên noi theo tấm gương công hạnh của Ngài Phú Lâu Na. Hơn thế nữa, là phải noi theo tấm gương cao cả nhẫn nại hỷ xả bao dung của đức Phật. Khi gặp chướng ngại ta quyết không bao giờ nản chí chùn bước. Ta phải luôn luôn giữ vững lập trường kiên định dù phải tán thân mất mạng. Ta nên nhớ nhẫn nhục không phải là hèn nhát mà đó là một sức mạnh hùng tráng vô song. Bi, Trí Dũng là ba đức tánh cao cả tuyệt vời mà ta cần phải học hỏi trang bị cho mình đầy đủ. Noi gương hạnh hỷ xả của Bồ tát Di Lặc mà an nhẫn, hỷ xả để vượt qua khó khăn. Đối với ba đức: Trí đức, Đoạn đức và Ân đức ta luôn tâm niệm và áp dụng. Có trí đức ta mới soi sáng ý nghĩ, lời nói và việc làm của ta. Có đoạn đức ta mới chặt đứt những thứ dây mơ rễ má phiền não. Có ân đức ta mới mở rộng cõi long độ lượng khoan dung tha thứ. Có thế, thì việc tự hành hóa tha của ta mới có lợi ích. Bằng không, đụng đâu chấp đó, rắc rối, khó khăn đủ thứ, thì chẳng những mình tự chuốc khổ hành hạ lấy mình, mà còn làm cho mọi người phải chuốc thêm đau khổ. Vì không ai ưa và chịu nỗi cái tánh khó khăn chấp nhứt của mình. Từ đó, họ sẽ tìm cách xa lánh mình. Như thế, thì việc hành hóa của mình sẽ không có hiệu quả tốt đẹp nữa.

2,5. Tinh thần từ bi vị tha.

Đạo Phật là đạo từ bi ban vui cứu khổ. Phật ra đời cũng chỉ vì mục đích lợi tha, mang hạnh phúc đến cho mọi người, đó là trách nhiệm của đạo Phật. Chúng sanh còn khổ, đạo Phật vẫn còn có nhiệm vụ. Là người có trọng trách trong việc hoằng hóa, chúng ta không thể thờ ơ khinh suất coi thường vấn đề nầy. Tuy nhiên, muốn cho việc lợi tha có hiệu quả, thì trước tiên, chúng ta phải lo phần tự lợi. Có biết bơi lội giỏi ta mới nghĩ đến việc cứu vớt người. Bằng trái lại, thì ta và người tất đều bị chết chìm cả hai.

Xưa kia, trước khi ra hoằng hóa, đức Phật đã phải khổ tu không ngừng. Mãi đến đạt được giác ngộ giải thoát hoàn toàn, bấy giờ, đức Phật mới bắt đầu hành hóa. Đó là tấm gương sáng chói mà chúng ta cần phải noi theo. Do đó, muốn thể hiện tinh thần từ bi vị tha nói trên, trước hết, chúng ta cần phải nỗ lực gắng sức tu hành cho có kết quả, dù không được hoàn toàn, nhưng ít ra, bản thân ta phải có được chút ít lợi lạc. Ta có hạnh phúc an lạc, thì ta mới truyền đạt cái hạnh phúc an lạc đến cho mọi người. Bằng không, thì chỉ là lời nói suông trên đầu môi chót lưỡi và ăn toàn bánh vẽ mà thôi.

2.6. Luôn giữ nụ cười trên môi.

Nhờ có tâm hồn rộng mở bao dung, mà ta mới có được cái nụ cười tươi nở trên môi. Nụ cười sẽ đem lại cho ta và người rất nhiều lợi lạc. Không ai thích những người có gương mặt cau có, gắt gỏng, quạu quọ, lúc nào cũng nhăn nhó khó coi, như ai ăn hết của mình. Người như thế, thì làm sao có cảm tình để gần gũi với mọi người? Ai thấy cũng sợ sệt và tìm cách tránh xa. Ta phải cố gắng tu tập cho ta có một niềm vui thực sự. Niềm vui đó phải được toát ra từ một nội tâm hùng tráng hoan hỷ và an lạc. Dù gặp hoàn cảnh khó khăn thử thách đến đâu, ta cũng phải cố gắng vui cười an nhẫn để vượt qua. Phải chứng tỏ đạo lực huân tu của mình. Ta nên ý thức rằng, trên đời nầy không có gì là quan trọng. Bản thân ta, là thứ không ra gì, thì còn có gì phải lo âu sợ hãi. Thất tình lục dục, chỉ là những thứ giả trá, hư ảo bèo bọt. Nhờ quán chiếu sâu lắng như thế, nên đối với mọi cảnh duyên, ta không còn phải bận tâm lo lắng ưu phiền. Đó là cách hay nhất mà ta giữ được nụ cười chánh niệm trên môi. Người đời thường nói, một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ. Thật vậy, khi tâm ta có an lạc toát ra nụ cười hoan hỷ thì những tế bào trong cơ thể ta đều sảng khoái tươi mát. Nụ cười không mất tiền mua mà lại rất có hiệu nghiệm, vì nó mang lại cho ta có nhiều an lạc hạnh phúc trong đời sống.

2.7. Tránh nói lỗi chỉ trích phê bình người khác.

Ở đời, không ai thích người khác chê mình. Dù vẫn biết việc chê khen là không thật có. Nhưng thử hỏi có mấy ai không bận lòng! Chúng ta quá lệ thuộc vào việc thị phi, đôi khi ta mất hết tự chủ. Ta thích được mọi người khen ta, dù rằng, ta là kẻ không ra gì. Cho nên, việc chê khen, hay nói lỗi người nầy, phê bình chỉ trích người khác, vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết, đối với người tu, nhất là đối với một vị giảng sư hay giáo thọ sư, thì đây là một điều tối kỵ. Ta luôn tâm niệm qua lời dạy của đức Lục Tô: “Bằng thật người tu đạo, không thấy lỗi thế gian, vì thấy lỗi thế gian, thì lỗi mình sẽ đến bên”. Bởi ngậm máu phun người thì dơ miệng mình trước ( hàm huyết phún nhơn tiên ô tự khẩu ). Ta nên nhớ bài thơ Quét Lá Sân Lòng:

Tôi lo quét lá sân lòng

Tôi không quét lá bao đồng thế gian

Lá lòng còn quá ngổn ngang

Ngày đêm lo quét mới an tấm lòng

Bao giờ hết lá thong dong

Chỉ còn sân trống mới hòng thảnh thơi

Bấy giờ mới thật vui chơi

Bấy giờ mới thật thảnh thơi an nhàn.

Khi giảng pháp, ta không nên dùng lời phê bình chỉ trích bất cứ ai. Và tối kỵ nhất là không được nói xấu người nào. Ta không nên nêu bày những lỗi lầm của người khác ra. Mình nói xấu, chê bai người khác, là ngầm ý muốn khoe khoang bày cái tốt, cái hay cái đẹp của mình. Đó là một thái độ rất dở của người tu. Dù mình có hay ho đến đâu, cứ để cho người ta đánh giá, chớ mình không nên tự khoe khoang phô bày cái bản ngã đáng ghét của mình. Và như thế, càng làm cho người ta thêm ghét mình mà thôi. Đây là cái bệnh mà đại đa số người tu chúng ta đều mắc phải. Hạ thấp người xuống, vinh danh mình lên, đó là hành động bất hảo, thuộc hạng tiểu nhơn mà ta cần phải tránh.

2.8. Nhẫn nại vượt qua mọi nghịch cảnh.

Trên đời nầy không ai hơn Phật. Thế mà Phật còn phải bị nhiều chướng nạn trong khi hành hóa. Ngoài sự quậy phá trong nội bộ ra, Phật còn phải đương đầu với biết bao nhiêu chướng nạn do ngoại đạo gây ra. Nhưng tất cả Phật đều vượt qua. Chẳng những vượt qua thôi, mà trái lại, Phật còn cảm hóa độ lại họ. Thế mới biết, sức nhẫn nại của Phật không ai sánh kịp. Ta thử hỏi Phật được thế do đâu? Do vì Phật không còn vô minh phiền não vọng chấp. Nói cách khác là Phật đã được hoàn toàn giác ngộ giải thoát. Phật không còn vướng mắc như ta. Nhờ đó, mà không có gì làm trở ngại trên bứớc đường hành hóa của Ngài. Ngày nay, đối với chúng ta thì có khác. Gặp thuận duyên tốt đẹp, thì ta lại hay sanh tâm kiêu mạn. Khi gặp nghịch cảnh, thì ta lại buồn nản chán chường. Ta muốn phó mặc buông xuôi mọi việc. Ta thiếu kiên nhẫn để vượt qua. Bất cứ ai, khi dấn thân làm việc, dù việc đời hay việc đạo, ít nhiều gì, ai cũng gặp phải những chướng ngại khó khăn. Những khó khăn ngoại tại, ta không đáng lo ngại bằng cái khó khăn do trong nội bộ gây ra.

Bên ngoài có gây phá rối ta, ta còn biết để phòng ngừa chống đỡ, còn trong nội bộ thì thật là khó đề phòng. Họ thấy ta làm được việc, thì sanh tâm ganh tỵ đố kỵ tìm cách nói xấu hãm hại ta. Nếu ta không đủ sức kiên nhẫn, tất nhiên sẽ gây ra lắm chuyện thị phi phiền phức. Sư tử trùng thực sư tử nhục, thời nào cũng có. Nhưng ta đừng quên rằng, một cái cây đứng vững chắc là nhờ nó cấm rễ sâu vào lòng đá. Đá tuy cứng chắc, nhưng một khi cây đã cấm rễ sâu vào rồi, thì phong ba bão tố, khó có thể làm lung lay trốc gốc nó được. Sức kiên nhẫn của chúng ta cũng thế. Người có sức nhẫn nại chịu đựng khá là nhờ gốc rễ đạo đức cấm sâu vào mảnh đất tâm linh. Nên dù có gặp những chướng ngại khó khăn, họ cũng cương quyết vượt qua tất cả.

V. HÀNH BỒ TÁT ĐẠO

1. Phục vụ nhân sinh.

Đạo Phật là đạo vị nhân sinh. Bởi đức Phật vốn là một con người, nhưng là một con người vượt hơn người thường. Vượt hơn ở chỗ Ngài quyết tâm tu hành thành Phật. Vì là con người, nên Ngài hiểu rất rõ về con người. Bản thân Ngài đã trải nghiệm những vui khổ trong cuộc đời. Ngài biết rõ mỗi người đều sẵn có tánh giác sáng suốt như Ngài. Sau khi thành tựu đạo quả, Ngài đã thốt ra một câu nói khẳng định, mà Kinh Hoa Nghiêm đã ghi lại: “ Lạ lùng thay! tất cả chúng sanh đều sẵn có đầy đủ đức tướng của Như Lai”. Mở đầu Ngài đã tuyên bố xác định như thế. Rồi đến trước khi vào Niết bàn, Ngài cũng đã minh xác một lần nữa, mà Kinh Niết Bàn đã ghi chép: “ Nhứt thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Phật tánh hay đức tướng Như lai cũng thế.

Kinh Pháp Hoa, một bộ kinh đại thừa viên đốn, Phật đã thuyết minh khẳng quyết rõ ràng về việc ra đời của Phật. Phật ra đời chỉ có một mục đích duy nhất là: Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật tri kiến cho tất cả chúng sanh, mà trước hết là con người. Chứng minh cụ thể cho những lời dạy đó, là suốt cuộc đời của đức Phật chỉ làm có một việc duy nhất, đó là khai thông nguồn tuệ giác cho mỗi người. Noi theo hạnh nguyện từ bi cao cả đó, từ xưa đến nay, trải qua bao nhiêu thế hệ liệt vị Tổ sư của chúng ta cũng chỉ thực hiện một con đường lợi mình lợi người. Đó là con đường mà người con Phật dù xuất gia hay tại gia cũng đều phải đi qua. Tuy nhiên, đối với người xuất gia thì Phật giao phó trọng trách một vai trò phục vụ nhân sinh nặng hơn. Vì phục vụ nhân sinh là cúng dường chư Phật vậy.

2. Cải hóa xã hội.

Xã hội loài người hôm nay quả là một xã hội có nhiều biến động tang thương đầy hệ lụy. Những tệ nạn xã hội xảy ra khắp nơi trên thế giới. Những tệ nạn nầy, bắt nguồn từ động lực vô minh. Mà vô minh vọng khởi là từ ở nơi tâm thức. Thế nên, muốn chuyển hóa xã hội cho có hiệu quả tốt đẹp, thì trước tiên cần phải chuyển hóa lòng người. Vì tâm là nguồn gốc tạo tác tất cả. Tâm ta ví như người họa sĩ vẽ ra thiên hình vạn trạng. Nếu không cải thiện nội tâm, thì xã hội không thể nào cải hóa được. Đó là một yếu lý hệ trọng mà mỗi cá nhân cần phải suy tư chuyển hóa. Vì mỗi cá nhân là đơn vị gốc của xã hội. Xã hội có tốt đẹp hay không đều do trách nhiệm của mỗi cá nhân góp vào. Xã hội là phản ánh trung thực của con người.

Đối với những nhà giáo dục cũng như những nhà lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo, đều có trách nhiệm lớn lao trong vấn đề giáo dục chuyển hóa con người. Nếu không chuyển hóa con người có một đời sống đạo đức nhân bản hướng thượng, thì nhơn loại sẽ còn chuốc lấy những thảm họa ách nạn khổ đau dài dài. Bản chất của con người vốn là thánh thiện. Nhưng con người vì thiếu môi trường sống tốt, thiếu sự đào tạo giáo dục đạo đức cơ bản tốt, nên từ đó, con người dễ buông lung thả trôi theo cuộc sống trụy lạc sa đọa và rồi gây ra không biết bao nhiêu điều tội ác.

Bao lâu xã hội loài người còn đảo điên thác loạn, thì bấy lâu con người vẫn còn phải được giáo dục chuyển hóa. Đó là trách nhiệm lớn lao của những người hoằng pháp, cụ thể nhất là chúng ta hôm nay. Nhưng chúng ta đừng quên rằng, muốn chuyển hóa tha nhân, thì trước tiên ta phải chuyển hóa thân tâm của ta trước. Có thể, thì việc lợi mình, lợi người mới mong được hoàn thành tốt đẹp vậy.

3. Gieo rắc hạnh phúc.

Đời người là một chuỗi dài đau khổ. Ai cũng muốn có một cuộc sống hạnh phúc ấm êm. Vật chất đầy đủ chưa hẳn là hạnh phúc. Có những nhà tỷ phú, suốt đời họ chưa bao giờ có được một giây phút hạnh phúc. Đầu óc của họ luôn căng thẳng quay cuồng theo những con số tính toán lời lổ tiền bạc. Có lúc họ như người điên. Họ ngồi thơ thẩn một mình như ngây như dại. Trông thấy họ thật là thê thảm tội nghiệp! Quả đúng như lời Phật dạy, giàu sang chưa phải là hạnh phúc. Có những người ở địa vị cao, quyền uy tột đỉnh, nhưng tinh thần họ không có phút giây nào yên tỉnh thoải mái. Họ là người có nhiều bức xúc căng thẳng hơn ai hết. Thế thì, một đời sống mà không có hạnh phúc, thì đời sống đó cũng bằng thừa. Đời sống càng tham muốn nhiều thì càng hệ lụy khổ đau nhiều.

Ngược lại, đời sống càng đơn giản, thì càng có nhiều hạnh phúc. Bằng chứng, đời sống của đức Phật cũng như của các hàng Thánh chúng đệ tử, các Ngài đã đạt được tuyệt đỉnh của hạnh phúc. Hạnh phúc của các Ngài là thứ hạnh phúc chân thật, không phải thứ hạnh phúc giả trá bề ngoài của thế nhân. Hạnh phúc của thế nhân là thứ hạnh phúc tạm bợ, vui đó rồi khổ đó. Chính vì hiểu rõ nỗi thống khổ của nhơn sinh, nên suốt cuộc đời của đức Phật, Ngài luôn mang tình thương gieo rắc hạnh phúc cho muôn loài. Gieo rắc bằng cách thuyết giảng cho mọi người nhận chân được chân lý khổ đau, mà sớm hồi đầu tỉnh giác. Một khi đã nhận thức rõ thực chất của cuộc đời, người ta sẽ không còn mê muội say đắm theo con đường hệ lụy trần tục nữa.

Từ đó, họ có một hướng đi rõ rệt. Một hướng đi giác ngộ và giải thoát. Là người mang sứ mạng trọng trách hoằng pháp, chúng ta cũng phải noi gương sáng của đức Phật mà mang ánh sáng Phật pháp gieo rắc gây chủng nhân hạnh phúc giải thoát đến cho mọi người.

4. Phật pháp hóa nhơn gian.

Phật pháp là một phương pháp hướng dẫn chúng sanh tiến thẳng trên lộ trình giác ngộ giải thoát. Chuyển hóa Ta bà thành Tịnh độ, đó là ý nguyện thiết tha của người con Phật. Hiện tại nhơn loại đang trên đà chạy đua tranh giành vật chất. Khoa học kỹ thuật phát minh sáng tạo nhiều thứ máy móc tinh vi, nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu tiện lợi cho đời sống con người. Đó là xét về mặt tiện lợi. Nhưng nó cũng là một tai hại, khi con người đam mê tranh chấp sử dụng quá đà. Tất nhiên, nó khêu gợi lòng tham lam của con người nổi lên một cách rất mãnh liệt. Đó là một hệ quả của sự đau khổ không lối thoát.

Tham, sân, si là những độc tố có sức mạnh tàn phá mãnh liệt. Nếu con người không biết hạn chế dừng lại, thì thảm họa diệt vong sẽ không sao tránh khỏi. Đó là một viễn tượng mà nhơn loại không thể không lo sợ. Muốn hãm bớt tốc độ lòng tham dục của con người, thì mỗi người cần phải học tập giáo pháp của Phật. Phật pháp có công năng chận đứng và tiêu diệt “Tam độc” bằng ánh sáng trí tuệ. Muốn thế, thì sứ mệnh của người hoằng pháp phải truyền bá Phật pháp rộng khắp nhơn gian.

Ngày nay, với hệ thống truyền thông, giao lưu văn hóa qua mạng lưới internet toàn cầu, thì việc truyền bá chánh pháp thật là một tiện lợi rất tốt đẹp. Chỉ cần mỗi người có quyết tâm phục vụ cao, thì việc phổ biến Phật pháp không còn là một vấn đề trở ngại lớn lao

nữa. Mọi người sẽ được thấm nhuần mưa pháp và từ đó họ có một đời sống hạnh phúc cao đẹp hơn. Là người có trách nhiệm, chúng ta cần thiết lập đẩy mạnh tạo phương tiện cho việc truyền thông nầy. Đó là phương cách Phật pháp hóa nhơn gian thật vô cùng tiện lợi tốt đẹp.

5. Vô trụ tướng.

Bản chất của đạo Phật là vô ngã. Làm mọi việc ích lợi cho mọi người mà không thấy có mình và công việc mình làm. Làm với một tâm tư vô dục, vô cầu, vô chấp. Vô chấp là không dính mắc vào việc làm. Không dính mắc, thì làm gì có phiền não. Hình ảnh của người vô chấp là hình ảnh của con chim bay qua hư không mà không lưu lại dấu vết. Làm với một tư thái ung dung tự tại. Khen hay chê, đó là thói thường của một con người còn quá nhiều trần tục hệ lụy, trói buộc.

Người tăng sĩ mang sứ mệnh trọng trách hoằng pháp lợi sinh, phải trang bị cho mình một tâm hạnh hành xả. Làm đâu buông đó. Việc đến thì làm, qua rồi thì thôi. Không mong cầu, cũng không hoài vọng hư danh lợi dưỡng. Tất cả đều là hư ảo, là trò đùa trên sân khấu trường đời. Phải có tâm địa của một con người: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”. Đó là câu châm ngôn chỉ đạo cho người hành hóa. Ý thức trách nhiệm dấn thân, không màng danh lợi. Hãy nhìn đời như mộng huyễn, giả dối, thế thì, thử hỏi có gì mà phải tranh chấp hơn thua?!

Thân ta và thân người có khác gì bọt nước. Dù bọt lớn hay bọt nhỏ, cuối cùng, cũng phải tan thôi! Không ai có thể duy trì bọt nước lâu dài. Mọi thứ trên đời cũng chỉ là cái bóng, chợt có liền không. Thấy đó rồi mất đó, không có gì tồn tại lâu dài. Cuối cuộc đời, ai rồi cũng phải gởi thân ba nơi: “Lò, Gò và Hũ”. Thế thì, có gì mà phải bận tâm tranh chấp. Quan niệm rằng, sống chơi, làm chơi, chết chơi, rồi ra mọi việc chỉ là mộng ảo. Cõi đời là quán trọ dừng chân. Tạm nghỉ chân rồi sẽ tiếp tục lên đường. Không ai lại không lên đường. Lên đường để tiếp nhận quả báo lành hoặc dữ mà ta đã gây tạo trong hiện tại.

Biết thế, khi ra làm Phật sự, ta phải coi đó khác nào như hoa đốm giữa hư không hay như bóng trăng dưới nước. Không ai dại khờ gì phải chịu vất vả mò trăng dưới nước hay nắm bắt hoa đốm giữa hư không. Ta không nên để tâm dính mắc vào những thứ ấy. Hễ còn dính kẹt vào ngã tướng, thì mọi hệ lụy không sao thoát khỏi. Làm với tinh thần vô trụ tướng, đó mới thực sự là tâm hành Bồ tát đạo vậy.

Lời Kết.

Qua một số đề mục tiêu biểu mà chúng tôi đã nêu trên, chỉ có tánh cách gợi ý để cho quý vị triển khai thôi. Mục đích, là để giúp cho quý tăng ni sinh có thêm tư liệu trong khi thực tập diễn giảng. Việc làm nầy, chúng tôi chỉ muốn đóng góp, trao đổi chút ít phần nào qua kinh nghiệm trong lãnh vực chuyên môn. Đồng thời, đó cũng là vai trò trọng trách của người tăng sĩ chúng ta. Thiết nghĩ, đây cũng là những điều rất bổ ích cho quý vị trong việc học hỏi triển khai nghiên tầm. Hy vọng sau nầy có cơ hội tốt, quý vị sẽ biên soạn hay hơn chúng tôi.

Sau khi đã được huấn luyện thực tập, mỗi vị sẽ là những vị giảng sư gương mẫu để góp phần truyền bá xiển dương chánh pháp. Đó là trọng trách lớn lao của hàng tăng sĩ chúng ta. Và đó cũng là hoài bảo hy vọng của các bậc Thầy Tổ chúng ta. Các Ngài đã đặt hết hoài vọng tin tưởng ở nơi chúng ta. Muốn báo ân Phật Tổ, chỉ có việc truyền bá chánh pháp mới có thể đáp đền công ơn lớn lao của Phật và Thầy Tổ trong muôn một mà thôi.

Là người có trách nhiệm hướng dẫn, chúng tôi không mong gì hơn, chỉ mong sao quý vị trong khi học tập cũng như sau nầy, nên xem tập tài liệu bé nhỏ nầy là người bạn đồng hành hầu giúp quý vị có thêm chút ít kinh nghiệm trong công việc hoằng pháp lợi sinh. Kinh dạy: “trong các pháp cúng dường, chỉ có phục vụ chúng sinh mới đích thực là cúng dường chư Phật”. Trân kính nhắc lại: “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sinh vi bản hoài”, đó là sự nghiệp và cũng là trọng trách cao quý của hàng tăng sĩ chúng ta.

Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho toàn thể quý vị được dồi dào sức khỏe, có đầy đủ nghị lực vượt qua mọi chướng duyên khó khăn thử thách để hoàn thành sứ mệnh: "Tác Như Lai sứ hành Như lai sự", trong khung trời cẩm thạch giáo pháp của đức Như Lai.

Soạn giả cẩn chí

Thích Phước Thái.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn